Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Hiện nay, nước ta đã tham gia Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), đế DNNN tận dụng tốt các cơ hội phát triển, tiếp tục khẳng định vị thế, cần có những nghiên cứu, đánh giá hiệu quả hoạt động, đưa ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh phát triển mới. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn vào đời sống quốc tế, với vị thế và trách nhiệm mới – thành viên thứ 150 của WTO và là ủy viên không thường trực của Liên hợp quốc, nhiều thời cơ, thuận lợi mới sẽ xuất hiện đồng thời với những khó khăn thách thức lớn. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp nhà nước vẫn bộc lộ những nhược điểm, tồn tại và thiếu sót. Điều đáng chú ý là cho đến nay nhiều doanh nghiệp Nhà nước vẫn chưa thực sự tự chủ trong sản xuất kinh doanh, vẫn trông chờ ỷ lại vào sự bao cấp của nhà nước, hoặc còn độc quyền trong kinh doanh dẫn đến năng suất, chất lượng, hiệu quả thấp, không những không giữ được vị trí then chốt trong nền kinh tế mà còn gây ra những “hiệu ứng” rất bất lợi về phương diện chính trị – xã hội. Như vậy, những vấn đề quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính Nhà nước về doanh nghiệp nhà nước nói riêng hiện vẫn đang là vấn đề hệ trọng trong đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước ta. Xuất phát từ vị trí, ý nghĩa cấp bách về lý luận, thực tiễn của vấn đề này, em xin chọn đề tài với nội dung: “Hoạt động quản lý hành chính Nhà nước tại Nhà máy in Ba Đình – Bộ Công an” làm báo cáo thực tập.
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong hơn ba mươi năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiềuquyết sách và tập trung chỉ đạo thực hiện nhiều biện pháp tổ chức, sắp xếp lại và đổimới hệ thống doanh nghiệp nhà nước Công việc quan trọng này gắn liền với mục đíchđổi mới cơ chế quản lý để doanh nghiệp nhà nước tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hợp tác
và cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, đặc biệttrong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hơn Dướitác động của những chính sách, cơ chế quản lý mới, hệ thống doanh nghiệp nhà nước
đã có những chuyển biến tích cực và thu được những kết quả nhất định, cùng với cácthành phần kinh tế khác góp phần ổn định kinh tế, chính trị- xã hội của đất nước Doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng vàphát triển kinh tế Hiện nay, nước ta đã tham gia Hiệp định đối tác kinh tế xuyên TháiBình Dương (TPP) và Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), đế DNNN tận dụng tốt các
cơ hội phát triển, tiếp tục khẳng định vị thế, cần có những nghiên cứu, đánh giá hiệuquả hoạt động, đưa ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
nhà nước trong bối cảnh phát triển mới Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam ngày
càng hội nhập sâu hơn vào đời sống quốc tế, với vị thế và trách nhiệm mới – thànhviên thứ 150 của WTO và là ủy viên không thường trực của Liên hợp quốc, nhiều thời
cơ, thuận lợi mới sẽ xuất hiện đồng thời với những khó khăn thách thức lớn Trongbối cảnh đó, các doanh nghiệp nhà nước vẫn bộc lộ những nhược điểm, tồn tại vàthiếu sót Điều đáng chú ý là cho đến nay nhiều doanh nghiệp Nhà nước vẫn chưathực sự tự chủ trong sản xuất kinh doanh, vẫn trông chờ ỷ lại vào sự bao cấp của nhànước, hoặc còn độc quyền trong kinh doanh dẫn đến năng suất, chất lượng, hiệu quảthấp, không những không giữ được vị trí then chốt trong nền kinh tế mà còn gây ranhững “hiệu ứng” rất bất lợi về phương diện chính trị – xã hội
Như vậy, những vấn đề quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính Nhànước về doanh nghiệp nhà nước nói riêng hiện vẫn đang là vấn đề hệ trọng trongđường lối phát triển của Đảng và Nhà nước ta Xuất phát từ vị trí, ý nghĩa cấp bách về
lý luận, thực tiễn của vấn đề này, em xin chọn đề tài với nội dung: “Hoạt động quản
lý hành chính Nhà nước tại Nhà máy in Ba Đình – Bộ Công an” làm báo cáo thực
tập
Trang 2CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm quản lý hành chính nhà nước
Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước Quản lý nhànước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội củamỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử Ngày nay quản lý nhà nước bao gồm hoạtđộng lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành pháp của Chính phủ và hoạtđộng tư pháp của cơ quan tư pháp
Có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tínhquyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của conngười trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhànước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định
và phát triển của xã hội
Quản lý hành chính nhà nước có phạm vi hẹp hơn so với quản lý nhà nước vì:
- Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp, tức làhoạt động chấp hành và điều hành;
- Chủ thể quản lý hành chính nhà nước là các cơ quan, cán bộ, công chức hànhchính nhà nước trong hệ thống hành chính từ Trung ương đến cơ sở
Như vậy, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành phápnhằm tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quátrình xã hội và hành vi của công dân do các cơ quan trong hệ thống hành chính nhànước từ Trung ương đến cơ sở thực hiện để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhànước, phát triển kinh tế - xã hội, duy trì trật tự an ninh, thỏa mãn nhu cầu hàng ngàycủa nhân dân.1
Khái niệm trên có ba điểm cần lưu ý:
Một là, quản lý hành chính nhà nước có tính quyền lực nhà nước;
Hai là, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực hiện hàng ngày, tổ chức
và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân bằng việc ra cácquyết định quản lý hành chính và thực hiện các hành vi hành chính
1
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hành chính, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, 2015,
tr.116;
Trang 3Ba là, quản lý hành chính nhà nước được thực hiện bởi các pháp nhân công
quyền Trong hệ thống này đứng đầu là Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, các
cơ quan hành chính nhà nước Trung ương, các cấp quản lý hành chính nhà nước địaphương
2 Đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước
Đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước là những nét đặc thù của quản lýhành chính nhà nước để phân biệt với các dạng quản lý xã hội của các chủ thể quản lýkhác
Để xây dựng nền hành chính phát triển, hiện đại của một nhà nước "của dân, dodân và vì dân", để có một hệ thống tổ chức và quản lý của bộ máy nhà nước có hiệulực và hiệu quả, điều cần thiết là phải xác định rõ những đặc điểm chủ yếu của quản lýhành chính nhà nước ở nước ta Những đặc tính này vừa thể hiện đầy đủ bản chất vànét đặc thù của Nhà nước Việt Nam, đồng thời kết hợp những đặc điểm chung củaquản lý hành chính nhà nước theo xu hướng chung của thời đại Với ý nghĩa đó, quản
lý hành chính Nhà nước Việt Nam có những đặc điểm chủ yếu sau:
Quản lý hành chính nhà nước mang tính quyền lực nhà nước
Quản lý hành chính nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao vàtính mệnh lệnh đơn phương của Nhà nước Quản lý hành chính nhà nước mang tínhquyền lực nhà nước để phân biệt hoạt động quản lý hành chính nhà nước với các hoạtđộng quản lý khác (quản lý doanh nghiệp, quản lý bệnh viện, trường học )
Quản lý hành chính nhà nước có mục tiêu chiến lược, có chương trình, kế hoạch để thực hiện mục tiêu
Mục tiêu của quản lý hành chính nhà nước là mục tiêu tổng hợp, bao gồm: chínhtrị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao Các mục tiêu này mangtính trước mắt và lâu dài
Để đạt được mục tiêu, hành chính nhà nước cần xây dựng các chương trình, dự
án và hệ thống kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn
Quản lý hành chính nhà nước có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt
Tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt này được thể hiện trong việc điều hành,phối hợp, huy động mọi lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp để quản lý các lĩnhvực của đời sống xã hội theo đúng chức năng, thẩm quyền
Quản lý hành chính nhà nước có tính liên tục, tương đối ổn định và thích ứng
Trang 4Nhiệm vụ của hành chính nhà nước là phục vụ xã hội và công dân Đây là côngviệc hàng ngày, thường xuyên và liên tục vì các mối quan hệ xã hội và hành vi côngdân được pháp luật điều chỉnh diễn ra thường xuyên, liên tục Chính vì vậy, nền hànhchính nhà nước phải đảm bảo tính liên tục, ổn định để đảm bảo các hoạt động không
bị gián đoạn trong bất kỳ tình huống nào
Tính liên tục và ổn định không loại trừ tính thích ứng Chính vì vậy, ổn định ởđây mang tính tương đối, không phải là cố định, không thay đổi Nhà nước là một sảnphẩm của xã hội Đời sống kinh tế - xã hội luôn biến chuyển không ngừng, do đó nềnhành chính nhà nước luôn phải thích ứng với thực tế trong từng thời kỳ, thích nghi với
xu thế của thời đại, đáp ứng được những nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội trong giaiđoạn mới
Quản lý hành chính nhà nước có tính chuyên môn hóa và nghề nghiệp cao
Quản lý hành chính luôn phải có căn cứ khoa học Quản lý hành chính nhà nước
là một khoa học vì nó có tính quy luật, có các nguyên lý và các mối quan hệ chặt chẽvới các khoa học khác (kinh tế, tài chính, kế hoạch, tâm lý ) Cùng với tính khoa học,quản lý hành chính nhà nước là nghệ thuật vì đối tượng quản lý của hành chính nhànước rất đa dạng với nhiều vùng, nhiều thành phần, dân tộc, văn hóa khác nhau Kếtquả quản lý phụ thuộc rất nhiều vào bản lĩnh, nhân cách, trí tuệ, kinh nghiệm củangười quản lý
Quản lý hành chính nhà nước có nội dung phức tạp và đa dạng đòi hỏi các nhàhành chính phải có kiến thức xã hội, kiến thức quản lý hành chính và kiến thứcchuyên môn sâu rộng Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, tiêu chuẩn vềnăng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức phải là tiêu chuẩn hàng đầu
Quản lý hành chính nhà nước có tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ
Nền hành chính nhà nước được xây dựng bởi một hệ thống định chế theo thứ bậcchặt chẽ và thông suốt từ Trung ương tới các địa phương, trong đó cấp dưới phục tùngcấp trên, nhận chỉ thị mệnh lệnh và chịu sự kiểm tra thường xuyên của cấp trên Mỗicấp mỗi cơ quan, mỗi cán bộ, công chức hoạt động trong phạm vi thẩm quyền đượcgiao Tuy nhiên, để tránh biến hệ thống hành chính thành hệ thống quan liêu, cứngnhắc, chính hệ thống thứ bậc cũng cần sự chủ động, sáng tạo của mỗi cấp, mỗi cơquan, mỗi công chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ
Quản lý hành chính nhà nước ở nước ta không có sự tách biệt tuyệt đối giữa người quản lý và người bị quản lý
Trang 5Trong chế độ ta, mọi công dân vừa là chủ thể vừa là khách thể của quản lý.Chúng ta chủ trương xây dựng nhà nước "của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân",nhân dân là chủ thể quản lý đất nước nên không có sự tách biệt tuyệt đối giữa ngườiquản lý và người bị quản lý.
Quản lý hành chính nhà nước không vì lợi nhuận
Quản lý hành chính nhà nước có nhiệm vụ phục vụ lợi ích công và lợi ích củatoàn xã hội Phải xây dựng một nền hành chính công tâm, trong sạch, không theo đuổimục tiêu lợi nhuận, không đòi hỏi người được phục vụ phải trả thù lao Đây cũngchính là một trong những điểm khác biệt cơ bản giữa mục tiêu hoạt động của cơ quanhành chính nhà nước và của một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh
Tuy nhiên, quản lý hành chính nhà nước không phải không quan tâm đến hiệuquả kinh tế Quản lý hành chính nhà nước phải đạt hiệu quả xã hội trên cơ sở tiết kiệmchi phí
Quản lý hành chính nhà nước mang tính nhân đạo
Bản chất của Nhà nước ta là nhà nước dân chủ, của nhân dân, do nhân dân và vìnhân dân Tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là xuất phát điểm của hệthống pháp luật, thể chế, quy tắc, thủ tục hành chính Cơ quan hành chính và đội ngũcán bộ, công chức không được quan liêu, cửa quyền hách dịch, gây phiền hà cho nhândân khi thi hành công vụ Hiện nay chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước và theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hơn lúc nào hết nềnhành chính nhà nước cần đảm bảo tính nhân đạo để hạn chế tối đa mặt trái của nềnkinh tế thị trường, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững
II HÌNH THỨC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm hình thức quản lý hành chính nhà nước
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình đối với xã hội, các chủthể quản lý hành chính nhà nước thực hiện rất nhiều hoạt động khác nhau và được thểhiện ra bên ngoài dưới những hình thức nhất định
Như vậy, hình thức quản lý hành chính nhà nước là sự biểu hiện ra bên ngoài cáchoạt động của chủ thể quản lý hành chính nhà nước trong việc thực hiện các chứcnăng, nhiệm vụ, thẩm quyền quản lý xã hội
Việc lựa chọn hình thức quản lý hành chính nhà nước phải đảm bảo các yêu cầudưới đây:
Phải phù hợp với chức năng hành chính
Trang 6Phải phù hợp với nội dung và tính chất của những vấn đề, nhiệm vụ cần giảiquyết.
Phải phù hợp với những đặc điểm của đối tượng quản lý cụ thể
Phải phù hợp với điều kiện cụ thể
2 Các hình thức quản lý hành chính nhà nước
Đặc trưng của hình thức quản lý hành chính nhà nước là những hình thức pháp
lý liên kết chặt chẽ với nhau trên cơ sở sự thống nhất của chức năng chấp hành và điềuhành Ta có thể chia hình thức quản lý hành chính nhà nước thành hai loại cơ bản sau:
Các văn bản này là cơ sở trực tiếp để ban hành văn bản quy phạm pháp luật vàthường thể hiện dưới hình thức nghị quyết, quyết định Nó đảm bảo sự thống nhấttrong lãnh đạo của các cơ quan hành chính nhà nước
* Văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền banhành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhànước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hộichủ nghĩa
Thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ quan hành chính nhà nướcquy định những quy tắc xử sự chung trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước;những nhiệm vụ, quyền hạn và nghĩa vụ cụ thể của các bên tham gia quan hệ quản lýhành chính nhà nước; xác định rõ thẩm quyền và thủ tục tiến hành hoạt động của cácđối tượng quản lý
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp lý quan trọng nhất tronghoạt động của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước nhằm thực hiện chức năng,nhiệm vụ của mình
Trang 7* Văn bản cá biệt
Là loại văn bản do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành theochức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình để giải quyết những vụ việc cụ thể, đối vớinhững đối tượng cụ thể
Ban hành văn bản cá biệt là hình thức hoạt động chủ yếu của các cơ quan hànhchính nhà nước, đặc biệt là cấp cơ sở Nội dung của nó là áp dụng một hay nhiều quyphạm pháp luật vào một trường hợp cụ thể, trong những điều kiện cụ thể Việc banhành văn bản cá biệt làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quan hệ pháp luậthành chính cụ thể
* Văn bản hành chính thông thường
Là những văn bản mang tính thông tin, phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi,ghi chép công việc, đề xuất… của cơ quan, tổ chức nhà nước nói chung, bao gồm:thông báo, báo cáo, tờ trình, công văn hành chính, biên bản, công điện, giấy mời, giấy
đi đường…
Các hình thức quản lý mang tính pháp lý khác:
- Hoạt động cấp các loại giấy phép
- Hoạt động cấp các loại giấy chứng nhận
- Trưng dụng, trưng mua
- Tài trợ: là việc Nhà nước hỗ trợ cho một tổ chức, nhóm đối tượng hoặc cá nhân
để họ thực hiện một nhiệm vụ hoặc thỏa mãn nhu cầu nhất định thông qua các hìnhthức như: trợ giá, trợ cấp, miễn, giảm thuế
- Cung cấp dịch vụ công: là hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, cácquyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức do các cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiệnhoặc ủy quyền cho tổ chức phi nhà nước thực hiện
Những hình thức quản lý ít mang tính pháp lý
Những hình thức quản lý ít mang tính pháp lý được pháp luật quy định vềnguyên tắc, khuôn khổ chung để tiến hành chứ không quy định cụ thể về nội dung,trình tự, thủ tục Pháp luật cho chủ thể có quyền được lựa chọn biện pháp thực hiện để
Trang 8bảo đảm tính chủ động, sáng tạo của các cơ quan quản lý Hình thức quản lý ít mangtính pháp lý bao gồm:
* Hình thức hội nghị
Hình thức hội nghị có mục đích chủ yếu là để thống nhất ý kiến của tập thể lãnhđạo và điều phối công việc Hình thức hội nghị còn sử dụng để thông báo, truyền đạtchủ trương, chính sách và pháp luật, triển khai các kế hoạch, giáo dục và đào tạo vàgiải quyết những công việc chuyên môn
Hội nghị có nhiều hình thức như: hội nghị truyền thống, hội nghị chuyên môn,hội nghị chuyên đề, phổ biến, hội thảo
Trong hình thức hội nghị, điều quan trọng là chương trình nghị sự, nội dung vàcách chủ trì hội nghị phải được thực hiện theo phương pháp khoa học, người đứng ra
tổ chức hội nghị phải có kỹ năng tổ chức, điều hành
* Hình thức hoạt động điều hành bằng các phương tiện thông tin kỹ thuật hiện đại
Đó là việc các cơ quan hành chính nhà nước và các cán bộ, công chức hànhchính nhà nước sử dụng các phương tiện kỹ thuật vào hoạt động quản lý như: máyđiện thoại, máy Fax, mạng máy tính, chính phủ điện tử, chính phủ kỹ thuật số v.v…
Ưu điểm của hình thức này là nhanh chóng, kịp thời, song có nhược điểm làkhông đảm bảo được bí mật khi cần thiế và tốn kém
III PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm phương pháp quản lý hành chính nhà nước
Phương pháp quản lý hành chính nhà nước là cách thức tác động của chủ thểquản lý hành chính nhà nước lên đối tượng quản lý của hành chính nhà nước (cá nhân,
tổ chức) nhằm đạt được những mục tiêu xác định
Phương pháp quản lý hành chính nhà nước là biểu hiện cụ thể mối quan hệ qualại giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý hành chính nhà nước Sử dụng cácphương pháp vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Tính khoa học đòi hỏi phảinắm vững đối tượng quản lý với những đặc điểm vốn có của nó để tác động trên cơ sởnhận thức và vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với đối tượng quản lý đó.Tính nghệ thuật biểu hiện ở chỗ chủ thể quản lý biết lựa chọn và kết hợp các phươngpháp quản lý để đạt mục tiêu quản lý đề ra
Các phương pháp quản lý hành chính nhà nước phải đáp ứng được những yêucầu sau:
Trang 9- Các phương pháp quản lý hành chính nhà nước phải đa dạng và thích hợp đểtác động lên những đối tượng quản lý khác nhau.
Các phương pháp quản lý phải có tính khả thi, đem lại hiệu quả cao
Các phương pháp quản lý phải có tính sáng tạo và phải thường xuyên được đổimới, hoàn thiện
Các phương pháp quản lý phải phù hợp với pháp luật hiện hành, với cơ chế hiệnhành của nhà nước
2 Các phương pháp quản lý hành chính nhà nước
Các cơ quan hành chính nhà nước, trong tổ chức và hoạt động của mình sử dụngrất nhiều phương pháp quản lý Có những phương pháp của các ngành khoa học khác
mà khoa học quản lý vận dụng và có những phương pháp đặc thù của hành chính nhànước.2
- Phương pháp kế hoạch hóa:
Các cơ quan nhà nước sử dụng phương pháp này để xây dựng chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội, lập quy hoạch, dự báo xu thế phát triển, đặt chương trình, mụctiêu, xây dựng kế hoạch…
- Phương pháp thống kê:
Dùng phương pháp này để thu thập số liệu, khảo sát, phân tích, tổng hợp tìnhhình và nguyên nhân của các hiện tượng quản lý, làm căn cứ cho việc ra quyết địnhquản lý hành chính nhà nước
- Phương pháp tâm lý – xã hội:
Phương pháp này nhằm tác động vào tâm tư, tình cảm của người lao động, tạocho họ không khí phấn khởi, tạo động cơ làm việc, giải quyết những khó khăn, vướngmắc trong công việc
- Phương pháp sinh lý học:
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hành chính, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội, 2015,
tr.132.
Trang 10Bố trí nơi làm việc phù hợp với sinh lý của con người, tạo ra sự thoải mái trongkhi làm việc và tiết kiệm các thao tác không cần thiết nhằm nâng cao năng xuất laođộng, như bố trí phòng làm việc, vị trí ngồi, vị trí để điện thoại, tài liệu, màu sắc, ánhsáng trong phòng làm việc…
Nhóm phương pháp thứ hai:
- Phương pháp giáo dục
Phương pháp giáo dục là cách thức tác động vào nhận thức của con người trong
tổ chức, nhằm nâng cao tính tự giác và khả năng lao động của họ trong việc thực hiệnnhiệm vụ
Các phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật nhận thức củacon người Đặc trưng của các phương pháp này là tính thuyết phục, tức là giúp chocon người phân biệt được phải - trái, đúng - sai, lợi - hại, đẹp - xấu, thiện - ác Trên cơ
sở nhận thức đúng, họ sẽ hành động đúng, hành động có lương tâm, có trách nhiệmđối với công việc
- Phương pháp tổ chức
Phương pháp tổ chức là cách thức tác động lên con người thông qua mối quan hệ
tổ chức nhằm đưa con người vào khuôn khổ, kỷ luật, kỷ cương của tổ chức
Phương pháp này được áp dụng thông qua hai hướng Một là, các cơ quan hànhchính nhà nước thành lập các tổ chức hoặc cho phép thành lập các tổ chức và kiểmsoát hoạt động của các tổ chức này Hai là, trong từng cơ quan hành chính nhà nướcphải xây dựng nội quy, quy chế, quy trình hoạt động của cơ quan, bộ phận, cá nhân vàkiểm tra, xử lý kết quả thực hiện một cách dân chủ, công bằng
- Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế là cách thức tác động vào đối tượng quản lý thông qua cáclợi ích kinh tế, để cho đối tượng quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quảnhất trong phạm vi hoạt động của họ
Tác động thông qua lợi ích kinh tế chính là tạo ra động lực thúc đẩy con ngườitích cực làm việc Thực chất của các phương pháp kinh tế là đặt mỗi người, mỗi bộphận vào những điều kiện kinh tế để họ có khả năng kết hợp đúng đắn lợi ích củamình với lợi ích của tổ chức, cho phép mỗi người lựa chọn con đường có hiệu quảnhất để thực hiện nhiệm vụ của mình
Áp dụng phương pháp kinh tế thông qua sử dụng các đòn bẩy kinh tế như:tiềnlương, tiền thưởng, phụ cấp, giá cả, thuế, chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái
- Phương pháp hành chính
Trang 11Phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của các chủ thể hànhchính nhà nước lên đối tượng quản lý bằng các quyết định hành chính mang tính bắtbuộc.
Vai trò của phương pháp hành chính trong quản lý rất to lớn, nó xác lập trật tự
kỷ cương làm việc trong hành chính nhà nước, kết nối các phương pháp quản lý khác
và giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý hành chính nhà nước rất nhanh chóng.Không có phương pháp hành chính thì không thể quản lý hệ thống có hiệu lực
Phương pháp này dựa trên mối quan hệ quyền lực - phục tùng, tức mối quan hệquyền hành trong tổ chức
Trong số các phương pháp này, theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hiệnnay thì phương pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức được đặt lên hàng đầu, phải làmthường xuyên, liên tục và nghiêm túc Biện pháp tổ chức là hết sức quan trọng, có tínhkhẩn cấp Phương pháp kinh tế là biện pháp cơ bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạtđộng quản lý hành chính nhà nước Phương pháp hành chính là rất cần thiết và khẩntrương, nhưng phải được sử dụng một cách đúng pháp luật
Trang 12CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TẠI
NHÀ MÁY IN BA ĐÌNH – BỘ CÔNG AN
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHÀ MÁY IN BA ĐÌNH
1 Giới thiệu về doanh nghiệp
Tên doanh nghiệp : CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN IN BA ĐÌNH
Tên tiếng anh : BADINH PRINTING ONE MEMBER COMPANY LIMITED
Tên gọi ngắn gọn : CÔNG TY IN BA ĐÌNH
Địa chỉ : Số 160 phố Thái Thịnh, phường Láng Hạ, Quận Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại : 043 5143 209
Fax : 043 5143 209
Mã số thuế : 0100110278
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
số 0100110278 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp lần đầu ngày
27/01/2011 thay đổi lần thứ 02 ngày 13/05/2015
2 Ngành nghề kinh doanh chính
In ấn: Các loại tài liệu, biểu mẫu, xuất bản phẩm phục vụ lực lượng Công an nhân dân và nhu cầu xã hội; các loại giấy tờ có giá trị
Sản xuất các loại giấy bảo mật
Sản xuất các loại tem chống hàng giả gồm đề can vỡ, hologram
Nhập khẩu các loại vật tư, thiết bị in và giấy
3 Quá trình hình thành và phát triển
Năm 1991: Xí nghiệp In Tổng hợp, tiền thân của Công ty TNHH MTV In Ba
Đình được thành lập
Ngày 26/10/1996: Bộ Nội Vụ ban hành Quyết định số 728/QĐ-BNV về việc
sáp nhật Xí nghiệp Giấy XZ 72 và Xí nghiệp In Tổng hợp thành Công ty In XZ 72
Tháng 12/1999: Bộ Công An ban hành Quyết địn số 819/1999/QĐ-BCA về
việc sáp nhập Công ty in XZ 72 và Xí nghiệp in tại TP Hồ Chí Minh thành Công ty in
Ba Đình Công ty In Ba Đình là doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích làm nhiệm
[12]
Trang 13vụ sản xuất giấy và in tài liệu phục vụ ngành Công an, với vốn hoạt động:
13.657.206.375 đồng
Tháng 02 năm 2010, Công ty in Ba Đình được công nhận là Công ty an ninh
theo QĐ số 488/QĐ-BCA của Bộ Công An ngày 08/02/2010
Ngày 23/09/2010: Bộ Công an ban hành Quyết định số 3787/QĐ-BCA về việc
chuyển Công ty in Ba Đình thành Công ty TNHH MTV In Ba Đình do Nhà nước làm chủ sở hữu, với vốn điều lệ 69.847.065.472 đồng
Ngày 26/10/2012: Công ty TNHH MTV In Ba Đình được công nhận là doanh
nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh theo Quyết định số 5286/QĐ-BCA
4 Các thành tựu đạt được
Qua quá trình xây dựng và phát triển, Công ty đã có bề dày kinh nghiệm 24 nămtrong lĩnh vực in và sản xuất các loại giấy có độ bảo mật cao, sản xuất tem chống giảhàng hóa Là doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Công an, Công ty đã phục vụ tốt nhiệm
vụ công tác an ninh được giao, mỗi năm Công ty in hàng tỷ trang in phục vụ cho BộCông an Ngoài ra, Công ty sản xuất các sản phẩm in ấn phục vụ thị trường Hiện nay,Công ty đang in 46 đầu báo các loại, tạp chí, sách và các loại tài liệu khác, sản xuấthàng triệu tem chống giả và 600 tấn giấy mỗi năm.3
5 Cơ cấu tổ chức
Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty :01 người
Ban điều hành bao gồm :
Giám đốc điều hành : 01 người (là Chủ tịch Công ty)
Phó Giám đốc : 03 người
Kế toán trưởng : 01 người
Các phòng ban chức năng bao gồm:
Văn phòng Công ty
Phòng Kế hoạch – Kỹ thuật
Phòng Tài chính – Kế toán
Các xí nghiệp thành viên gồm:
Xí nghiệp In I: Số 160 Thái Thịnh – Đống Đa – Hà Nội
Xí nghiệp In II: 258 Nguyễn Trãi, Quận 1, Hồ Chí Minh
Xí nghiệp XZ72: Xã An Hòa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc
3 http://inbadinh.vn/gioi-thieu/, ngày truy cập 11/5/2019.
[13]
Trang 14II NỘI DUNG CÁC HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Ở CÔNG TY TNHH MTV IN BA ĐÌNH
1 Hoạch định sự phát triển của công ty
Đó là việc xác định sứ mệnh, tầm nhìn chiến lựơc, chiến lược, quy hoạch, kếhoạch phát triển hệ thống doanh nghiệp nhà nước dựa trên phân tích cơ hội và tháchthức từ môi trường, phân tích tiềm năng, lợi thế về kinh tế của quốc gia, ngành kinh tế,vùng lãnh thổ, địa phương Việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triểndoanh nghiệp nhà nước phải thỏa mãn các yêu cầu về chính trị, kinh tế, an ninh, quốcphòng của đất nước
Sứ mệnh và tầm nhìn chiến lược về phát triển các doanh nghiệp nhà nước Doanhnghiệp nhà nước mang trên vai hai sứ mệnh: sứ mệnh chính trị và sứ mệnh kinh tế.Xác định tầm nhìn chiến lước về phát triển doanh nghiệp chính là định dạng hình ảnh
và viễn cảnh của các doanh nghiệp mà Nhà nước muốn đạt được trong tương lai nhằmthực hiện các sứ mệnh chính trị và kinh tế Để thực hiện sứ mệnh đó một cách có hiệuquả, Nhà nước phải tiếp tục sắp xếp đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạtđộng của doanh nghiệp nhà nước 4
Chiến lược phát triển các doanh nghiệp nhà nước là hệ thống các quan điểm cơbản, các mục tiêu dài hạn về phát triển hệ thống doanh nghiệp nhà nước, các giải phápchủ yếu được lựa chọn trên cơ sở huy động và sử dụng tối ưu các lợi thế nhằm đạtđược các mục tiêu đã đề ra
Chiến lược phát triển các doanh nghiệp nhà nước là cơ sở để xây dựng quy hoạch
và kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhà nước theo ngành, lĩnh vực kinh tế và vùnglãnh thổ Đây là công cụ quan trọng để Nhà nước phát triển doanh nghiệp theo địnhhướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Quy hoạch phát triển hệ thống doanhnghiệp nhà nước là tổng thể các mục tiêu và sự bố trí, sắp xếp các nguồn lực để thựchiện mục tiêu phát triển hệ thống doanh nghiệp nhà nước theo không gian và thời gian.Quy hoạch phát triển hệ thống doanh nghiệp nhà nước khi được nhà nước phêduyệt là căn cứ pháp lý để quyết định thành lập và bố trí không gian các doanh nghiệpnhà nước nhằm bảo đảm sự cân bằng hợp lý giữa các vùng, lãnh thổ, bảo đảm sự pháttriển nhanh chóng, ổn định, có trật tự và hòa hợp với môi trường của doanh nghiệp nhà
4 viet-nam.html, ngày truy cập 11/5/2019.
http://123doc.com/quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-doanh-nghiep-nha-nuoc-trong-dieu-kien-hoi-nhap-cua-[14]
Trang 15nước Kế hoạch trung hạn (thường là kế hoạch 5 năm) để cụ thể hóa các mục tiêu, giảipháp được lựa chọn trong chiến lược phát triển các doanh nghiệp nhà nước Kế hoạchhàng năm đối với doanh nghiệp là kế hoạch điều hành của nhà nước nhằm thưc hiện kếhoạch 5 năm về phát triển doanh nghiệp nhà nước Chức năng của kế hoạch này làphân phối các nguồn vật tư và tài chính nhằm bảo đảm hoạt động của các doanhnghiệp nhà nước, từng bước lượng hóa và điều chỉnh các nhiệm vụ hàng năm của kếhoạch 5 năm có tính đến tình hình kinh tế xã hội hiện tại Việc điều chỉnh nhữngnhiệm vụ hàng năm không được làm ảnh hưởng lớn đến mục tiêu cuối cùng của kếhoạch 5 năm về phát triển doanh nghiệp
Sứ mệnh, tầm nhìn và mục tiêu hoạt động của công ty in Ba Đình được quy địnhtại Quyết định số 116/QĐ-BCA ngày 10 tháng 1 năm 2011 của Bộ Công an về việcphê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty in Ba Đình và Quyết định số5286/QĐ-BCA của Bộ Công an về việc công nhận Công ty TNHH MTV in Ba Đình,
Bộ Công an là doanh nghiệp trực tiếp phục vụ quốc phòng an ninh Cụ thể như sau:
- Công ty TNHH MTV in Ba Đình, Bộ Công an là doanh nghiệp trực tiếp phục
vụ quốc phòng an ninh
- Tổ chức thực hiện đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ do Bộ trưởng Bộ Công an vàTổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật giao;
- Thực hiện hoạt động kinh doanh có hiệu quả và bảo toàn nguồn vốn được giao;
- Đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao động;
- Sản xuất sản phẩm đảm bảo chất lượng, uy tín đáp ứng yêu cầu của ngành Công
an và thị trường
2 Xây dựng pháp luật làm cơ sở cho công ty hoạt động
Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thực hiện của Trungương (Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng, Thông tư hướng dẫn củacác Bộ, Ngành, ) đã quy định rõ ràng, chi tiết về công tác quản lý nhà nước đối vớidoanh nghiệp nhà nước bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tếkhác
Đứng trước yêu cầu phải thành lập doanh nghiệp nhà nước nhằm giữ vị trí thenchốt trong một số lĩnh vực, quản lý hành chính Nhà nước cũng đặt ra yêu cầu phải xâydựng hệ thống pháp luật làm cơ sở cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động, nhằm quản
lý hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Nhà nước xây dựng một hệ thống pháp luật
[15]
Trang 16trong đó doanh nghiệp nhà nước là đối tượng Các văn bản pháp luật bao gồm luật,nghị định, thông tư, pháp lệnh … nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho doanhnghiệp nhà nước hoạt động và nhằm mục đích để Nhà nước giám sát được quá trìnhhoạt động đó của doanh nghiệp nhà nước.
Quy định về đầu tư vốn, quản lý tài sản và sử dụng vốn tại doanh nghiệp nhà nước: Chỉnh phủ đã ban hành Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 02 năm
2009 về việc Ban hành Quy chế quản lý tài chính của Công ty nhà nước và Quản lývốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp khác, Nghị định số 71/2013/NĐ-CP ngày 11tháng 7 năm 2013 về Đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính đốivới doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Đến năm 2010, Luật Doanhnghiệp nhà nước 2003 hết hiệu lực thi hành, Chính phủ đã ban hành Nghị định số25/2010/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2010 về Chuyển đổi Công ty nhà nước thànhcông ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và tổ chức quản lý công ty trách nhiệmhữu hạn một thành viên do nhà nước là chủ sở hữu, Nghị định số 91/2015/NĐ-CPngày 13 tháng 10 năm 2015 về Đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sửdụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp thay thế Nghị đinh số 09/2009/NĐ-CP và Nghị định
số 71/2013/NĐ-CP Trong Nghị định số 91/2015/NĐ-CP đã quy định rõ việc Đầu tưvốn vào doanh nghiệp nhà nước, Quản lý tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước,Quản lý vốn đối với doanh nghiệp nhà nước 5
Quy định về giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính: Căn cứ vào Nghị quyết số 42/2009/QH12 ngày 27 tháng 11 năm 2009 về
việc Nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật, quản lý, sử dụngvốn, tài sản nhà nước tại tập đoàn, tổng công ty nhà nước và việc Luật Doanh nghiệpnhà nước 2003 hết hiệu lực thi hành năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số61/2013/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2013 về việc Ban hành Quy chế giám sát tàichính và đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính đối với doanhnghiệp do nhà nước làm chủ sở hữu và doanh nghiệp có vốn nhà nước Ngày 06 tháng
10 năm 2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/2015/NĐ-CP về giám sát đầu tưvốn nhà nước vào doanh nghiệp; Giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và
5 NHA-NUOC-TREN-DIA-BAN-TINH-NGHE-AN-3581/, ngày truy cập 12/5/2019.
https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/QUAN-LY-NHA-NUOC-DOI-VOI-DOANH-NGHIEP-[16]