1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích, đánh giá và ví dụ minh họa đối với các qui định về quyền nhân thân trong BLDS 2015

14 244 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 35,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự gắn kết giữa xã hội và tự do cá nhân đã trở thành những điều kiện bắt buộc của tiến bộ xã hội. Xuất phát từ đó, cần thiết phải làm rõ những tiêu chí bắt buộc mà một xã hội công dân và cá nhân hướng tới địa vị tự do cần phải tuân thủ. Nhà nước thực hiện chức năng của mình thông qua một trong những công cụ quan trọng – đó chính là pháp luật. Tương ứng, cần phải có một chế định điều chỉnh và bảo vệ sự độc lập xã hội của con người cũng như việc cá thể hoá con người với tư cách là một thành viên của xã hội công dân - một cá nhân. Xác lập và bảo đảm mức độ tự do của các nhân đồng nghĩa với điều kiện sinh tồn và nhu cầu phát triển của xã hội. Việc xác lập và bảo đảm này có thể đạt được thông qua những cấp độ khác nhau: cấp độ pháp luật chung, cấp độ pháp lụât tư và ở cấp độ từng cá nhân con người riêng biệt. Công cụ điều chỉnh ở cấp độ thứ nhất chính là bản thân hệ thống luật tư, công cụ điều chỉnh ở cấp độ thứ hai – đó chính là phạm trù năng lực chủ thể và ở cấp độ thứ ba – là phạm trù các quyền chủ thể về nhân thân hay còn gọi là quyền nhân thân. Việt Nam cũng không nằm ngoài thực tế khách quan đó. Quyền nhân thân là một trong những chế định quan trọng của BLDS, là sự cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân về dân sự. Để làm hiểu sâu sắc và rõ ràng hơn vấn đề này, em xin chọn đề tài: “Phân tích, đánh giá và ví dụ minh họa đối với các qui định về quyền nhân thân trong BLDS 2015.”

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

1 Khái niệm và phân loại các quyền nhân thân 1

2 Xác lập, thực hiện quyền nhân thân 2

3 Nhóm các quyền nhân thân cụ thể 3

3.1 Nhóm các quyền cá biệt hoá chủ thể 3

3.2 Nhóm các quyền liên quan đến thân thể của cá nhân 5

3.3 Nhóm các quyền liên quan đến giá trị tinh thần của chủ thể 6

3.4 Nhóm các quyền liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình của cá nhân .7

3.5 Nhóm các quyền đối với hình ảnh 8

4 Đánh giá các qui định của BLDS năm 2015 về quyền nhân thân 9

KẾT LUẬN 10 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

MỞ ĐẦU

Sự gắn kết giữa xã hội và tự do cá nhân đã trở thành những điều kiện bắt buộc của tiến bộ xã hội Xuất phát từ đó, cần thiết phải làm rõ những tiêu chí bắt buộc mà một xã hội công dân và cá nhân hướng tới địa vị tự do cần phải tuân thủ Nhà nước thực hiện chức năng của mình thông qua một trong những công

cụ quan trọng – đó chính là pháp luật Tương ứng, cần phải có một chế định điều chỉnh và bảo vệ sự độc lập xã hội của con người cũng như việc cá thể hoá con người với tư cách là một thành viên của xã hội công dân - một cá nhân Xác lập

và bảo đảm mức độ tự do của các nhân đồng nghĩa với điều kiện sinh tồn và nhu cầu phát triển của xã hội Việc xác lập và bảo đảm này có thể đạt được thông qua những cấp độ khác nhau: cấp độ pháp luật chung, cấp độ pháp lụât tư và ở cấp độ từng cá nhân con người riêng biệt Công cụ điều chỉnh ở cấp độ thứ nhất chính là bản thân hệ thống luật tư, công cụ điều chỉnh ở cấp độ thứ hai – đó chính là phạm trù năng lực chủ thể và ở cấp độ thứ ba – là phạm trù các quyền chủ thể về nhân thân hay còn gọi là quyền nhân thân Việt Nam cũng không nằm ngoài thực tế khách quan đó Quyền nhân thân là một trong những chế định quan trọng của BLDS, là sự cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân về dân sự

Để làm hiểu sâu sắc và rõ ràng hơn vấn đề này, em xin chọn đề tài: “Phân

tích, đánh giá và ví dụ minh họa đối với các qui định về quyền nhân thân trong BLDS 2015.”

NỘI DUNG

1 Khái niệm và phân loại các quyền nhân thân

Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“1.Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật Dân sự (BLDS) là quyền gắn liền với mỗi cá nhân không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác,

2 Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó

Trang 3

khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc theo quyết định của Toà án.

Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con thành niên của người đó: trong trường hợp không có người này thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.

Quyền nhân thân gắn liền với mỗi chủ thể nhất định và về nguyên tắc quyền không thể chuyển giao cho các chủ thể khác Quyền nhân thân không xác định được bằng tiền, quyền nhân thân và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương nên không thể trao đổi ngang giá Trong trường hợp quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm (xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của

cá nhân…) thì chủ thể chịu trách nhiệm phải bồi thường cho cá nhân một khoản tiền Bản chất của khoản tiền này là nhằm bù đắp những mất mát, tổn thương đã gây ra cho người bị thiệt hại về danh dự, uy tín, nhân phẩm…mà không phải là việc quy đổi quyền nhân thân bị xâm phạm ra tiền

Có rất nhiều cách thức khác nhau để phân loại quyền nhân thân, trong đó cách thức phân loại quyền nhân thân phổ biến là dựa vào đối tượng của quyền nhân thân Theo cách thức phân loại này thì quyền nhân thân phổ biến là dựa vào đối tượng của quyền nhân thân Theo cách thức phân loại này thì quyền nhân thân được phân thành 5 nhóm: (1) Nhóm các quyền cá biệt hoá chủ thể; (2) Nhóm các quyền liên quan đến thân thể của cá nhân; (3) Nhóm các quyền liên quan đến giá trị tinh thần của chủ thể; (4) Nhóm các quyền liên quan đến quan

hệ hôn nhân và gia đình của cá nhân; (5) Nhóm các quyền đối với hình ảnh

2 Xác lập, thực hiện quyền nhân thân

Cá nhân tự thực hiện các hành vi để xác lập, thực hiện các quan hệ nhân thân cho chính mình Đối với người chưa thành niên, người mất năng lực hành

vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người này phải

Trang 4

được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý hoặc theo quyết định của Toà án

Ví dụ:Trẻ sơ sinh được cha mẹ hoặc những người thân thích thực hiện việc đăng kí khai sinh, quy định này xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích chính đáng của các cá nhân khi mà khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của họ không đầy đủ.

Đối với người bị tuyên bố mất tích, người bị tuyên bố là đã chết, việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân phải được sự đồng

ý của vợ, chồng hoặc con đã thành niên của người đó hoặc cha, mẹ của họ Những cá nhân bị tuyên bố mất tích hoặc bị tuyên bố là đã chết thì năng lực chủ thể của họ bị tạm dừng hoặc chấm dứt nên những vấn đề liên quan đến nhân thân của những người này không thể thực hiện được thông qua người đại diện giống như những cá nhân không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Bởi vậy, người thân thích trong gia đình sẽ là người quyết định vấn đề xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của các cá nhân này

3 Nhóm các quyền nhân thân cụ thể

3.1 Nhóm các quyền cá biệt hoá chủ thể

Thứ nhất, đối với quyền xác định, xác định lại dân tộc qui định tại Điều 29

BLDS 2015

Xác định dân tộc tức là việc xác định lần đầu tiên dân tộc cho một cá nhân (áp dụng đối với trẻ sơ sinh khi làm thủ tục đăng ký khai sinh); còn xác định lại dân tộc là việc xác định dân tộc cho những cá nhân đã được thừa nhận một dân tộc trước đó

Ví dụ: Chị Nguyễn Thị Hằng và anh Hoàng Văn Thắng kết hôn với nhau và sinh 1 bé trai đặt tên Hoàng Tuấn Đạt, khi làm thủ tục đăng ký khai sinh cho bé Đạt thì vợ chồng anh chị thoả thuận lựa chọn và xác định dân tộc của bé theo dân tộc của mẹ (dân tộc kinh), khi bé Đạt lên 8 tuổi thì anh chị muốn xác định lại dân tộc cho bé theo dân tộc của cha là dân tộc Tày Vậy việc xác định dân

Trang 5

tộc lần đầu tiên khi đăng ký khai sinh là xác định lại dân tộc, còn việc thay đổi

từ dân tộc kinh sang dân tộc Tày là việc xác định lại dân tộc.

Quyền xác định dân tộc của cá nhân phát sinh từ khi cá nhân được sinh ra, điều đó được hiện thực hoá trên giấy tờ nhân thân đó là giấy khai sinh và quyền xác định, xác định lại dân tộc là một quyền nhân thân được ghi nhận từ các BLDS trước đó, từ BLDS 1995, được kế thừa trong BLDS 2005 và đến nay là BLDS 2015, các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định 158/2005/NĐ-CP

về đăng ký và quản lý hộ tịch và luật chuyên ngành đó là Luật Hộ tịch năm

2014 Quyền xác định lại dân tộc là quyền nhân thân cơ bản của cá nhân, có từ khi cá nhân sinh ra và được áp dụng cho lần xác định dân tộc đầu tiên của một

cá nhân (cá nhân chưa có dân tộc nào trước đó) Theo BLDS 2005 thì dân tộc của một cá nhân được xác định theo dân tộc của cha hoặc mẹ, trong trường hợp cha đẻ và mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì con sinh ra được xác định theo tập quán hoặc theo thoả thuận Căn cứ xác định dân tộc theo tập quán hoặc theo thoả thuận được đặt ngang hàng nhau mà không có sự ưu tiên áp dụng trước, sẽ gây ra sự phức tạp nếu có tranh chấp liên quan đến viêc xác định lại dân tộc cho con trong những trường hợp sau này, khắc phục những điểm hạn chế đó, Điều

29 BLDS 2015 đã bổ sung thêm khoản 2 về việc xác định dân tộc đối với trẻ em được ghi nhận làm con nuôi và trẻ em bị bỏ rơi mà chưa xác định được cha đẻ,

mẹ đẻ

Thứ hai, đối với quyền xác định lại giới tính, Điều 36 BLDS 2015 quy

định:

“1 Cá nhân có quyền xác định lại giới tính.

Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính.

2 Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3 Cá nhân đã thực hiện việc xác định lại giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng

ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch, có quyền nhân thân

Trang 6

phù hợp với giới tính đã được xác định lại theo quy định của Bộ luật này và pháp luật khác có liên quan”.

Giới tính là những điểm riêng biệt tạo nên sự khác biệt giữa nam và nữ Cá nhân có quyền xác định lại giới tính nếu thoả mãn điều kiện: (1) giới tính của cá nhân bị khuyết tật bẩm sinh; hoặc (2) giới tính của cá nhân chưa định hình chính xác cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính

Nguyên tắc xác định lại giới tính, bảo đảm mỗi người đều được sống đúng với giới tính thật của mình, việc xác định lại giới tính phải được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, khách quan, trung thực, khoa học và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc xác định lại giới tính; giữ bí mật về các thông tin liên quan đến người được xác định lại giới tính, trừ trường hợp có văn bản của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu cung cấp hồ sơ phục vụ cho việc kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xet xử liên quan đến việc xác định lại giới tính Thủ tục đề nghị xác định lại giới tính được thưc hiện, người đề nghị xác định lại giới tính gửi hồ sơ để xác định lại giới tính đến cơ sở khám, chữa bệnh được phép và cơ sở khám, chữa bệnh phải trả lời lại đơn theo thời hạn luật định

Cơ sở khám, chữa bệnh đã thực hiện việc can thiệp y tế xác định lại giới tính cấp giấy chứng nhận y tế sau khi đã xác định lại giới tính cho người được can thiệp

y tế Giấy chứng nhận y tế là căn cứ để đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính UBND cấp huyện có trách nhiệm giải quyết việc đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch

3.2 Nhóm các quyền liên quan đến thân thể của cá nhân

Thứ nhất, đối với quyền sống, quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể, Điều 33 BLDS 2015 quy định: “Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể quyền được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật.”

Quyền sống là một quyền nhân thân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm

2013, Điều 19 “Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bi tước đoạt tính mạng trái luật”.Điều 33 đã có các quy định

Trang 7

thể chế hoá tinh thần của Hiến pháp năm 2013, BLDS 2015, Điều 33 đã quy định

Giữa quyền sống và quyền bất khả xâm phạm về tính mạng có mối liên quan mật thiết với nhau Một cá nhân có quyền sống thì đương nhiên loại trừ các hành vi xâm phạm đến tính mạng, vi phạm đến quyền sống của cá nhân; ngược lại, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng là cơ sở, điều kiện quan trọng để cá nhân được bảo đảm quyền sống Mọi cá nhân trong xã hội, không phân biệt giới tính, giàu nghèo, địa vị xã hội đều được bình đẳng trước pháp luật trong việc bảo vệ tính mạng, thân thể, sức khoẻ của mình Việc xâm phạm đến những yếu

tố này gây ra thiệt hại cho người bị xâm phạm là cơ sở phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của người có hành vi xâm phạm

Ví dụ: theo Điều 590 và 591 BLDS 2015, khi một người gây thiệt hại trái pháp luật đến sức khoẻ, tính mạng của người khác thì có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại Trong trường hợp hành vi gây thiệt hại có tính chất nguy hiểm cho xã hội, đã đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì người gây thiệt hại còn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình.

Thứ hai, đối với quyền hiến bộ phận, quyền nhận bộ phận cơ thể người qui

định tại Điều 35 BLDS 2015

Cá nhân được quyền tự quyết đối với cơ thể mình và thi thể của họ sau khi chết Bên cạnh đó, cá nhân cũng có quyền nhận mô, bộ phận cơ thể của người khác để chữa bệnh cho mình Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học có quyền nhận bộ phận cơ thể người, lấy xác để chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác Nhận

mô, bộ phận cơ thể của người khác là quyền nhân thân thể hiện việc cá nhân được quyền chữa bệnh và quyền được sống Đây còn là quyền nhân thân của cơ

sở khám, chữa bệnh, pháp nhân có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học Các tổ chức này nhận bộ phận cơ thể người, lấy xác để thực hiện các hoạt động với mục đích: chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các nghiên cứu khoa học khác

Trang 8

3.3 Nhóm các quyền liên quan đến giá trị tinh thần của chủ thể

Thứ nhất, đối với quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín qui định

tại Điều 34 BLDS năm 2015

Danh dự, nhân phẩm, uy tín là những yếu tố nhân thân (quyền nhân thân) phi tài sản gắn liền với mỗi cá nhân cụ thể, con người cụ thể, thể hiện phẩm chất, nhân cách, đạo đức và giá trị của mỗi cá nhân Danh dự, nhân phẩm, uy tín của mỗi cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ Khi danh dự, nhân phẩm, uy tín của một cá nhân cụ thể nào đó bị xâm phạm thì cá nhân đó có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố bác các thông tin đã gây ảnh hưởng xấu đến cá nhân Cá nhân không chỉ được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín khi còn sống

mà ngay cả khi cá nhân đã chết thì pháp luật vẫn duy trì sự bảo hộ, điều đó được thể hiện bằng việc vợ, chồng hoặc con đã thành niên của người bị xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín; hoặc cha, mẹ của cá nhân này trong trường hợp

cá nhân không có vợ, chồng, con đã thành niên

Những thông tin gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ

bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó, nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được huỷ bỏ

Thứ hai, đối với quyền bí mật đời tư qui định tại Điều 38 BLDS năm 2015.

Quyền riêng tư là quyền của cá nhân đối với đời sống của mình mà không chịu bất kỳ sự can thiệp nào từ những người xung quanh khác; còn “bí mật cá nhân, bí mật gia đình” là những thông tin, tư liệu mà cá nhân không muốn công khai, bộc bạch, được giữ kín bằng các biện pháp thông thường hoặc biện pháp

kỹ thuật khác nhau

Việc thu thập, lưu trữ, sử dụng công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được bản thân cá nhân đó đồng ý Quy định này hoàn toàn phù hợp với mọi cá nhân trong đời sống, xã hội thể hiện sự tôn trọng pháp luật đối với đời sống riêng tư, bí mật đời tư của cá nhân

Trang 9

3.4 Nhóm các quyền liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình của cá nhân Thứ nhất, quyền kết hôn, là quyền nhân thân của cá nhân được pháp luật

thừa nhận, là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn Việc kết hôn phải được đăng

ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành, nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính

Thứ hai, quyền ly hôn: vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà

án giải quyết ly hôn Quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân của vợ, chồng, chỉ với tư cách là vợ, chồng mới có quyền ly hôn

Pháp luật thừa nhận và bảo hộ quyền ly hôn của vợ và chồng Tuy nhiên, quyền này cũng bị hạn chế trong một số trường hợp cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của người vợ và người con là trẻ sơ sinh: chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi (khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) Quy định này xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà mẹ, trẻ em, phụ nữ có thai và thai nhi Việc hạn chế quyền ly hôn này chỉ áp dụng với riêng người chồng mà không áp dụng đối với người vợ Theo quy định trên, dù người

vợ đang mang thai hoặc đứa trẻ sinh ra chưa đủ 12 tháng tuổi (tức là đứa trẻ không phải là con của người chồng mà có thể là con của bất kỳ người đàn ông nào) thì người chồng vẫn bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, trong trường hợp bị Toà án xử bác đơn yêu cầu ly hôn thì người vợ, chồng bị Toà án xử bác đơn yêu cầu ly hôn đó phải đợi sau thời hạn một năm mới được quyền yêu cầu ly hôn

Thứ ba, đối với quyền bình đẳng giữa vợ, chồng, Điều 17 Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, luật này và các luật khác có liên quan”.

Trang 10

Nguyên tắc vợ, chồng bình đẳng được ghi nhận đầu tiên trong sắc lệnh số

97 – SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật (Điều 5), đồng thời là một trong những nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình Nội dung của nguyên tắc này bảo đảm quyền bình đẳng của vợ chồng trong các quan hệ nhân thân và tài sản (được quy định từ Điều 17 đến Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) Các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của vợ chồng luôn gắn liền và được thực hiện tương ứng giữa vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân; không thể chuyển giao cho người khác và không thể thực hiện bằng nghĩa vụ khác

Thứ tư, quyền xác định cha, mẹ, con là quyền nhân thân đươc ghi nhận

trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Cụ thể, Điều 90 quy định về quyền nhận cha, mẹ: Con có quyền nhận cha, mẹ của mình, kể cả trường hợp cha, mẹ

đã chết; Con đã thành niên nhận cha, không cần phải có sự đồng ý của mẹ; nhận

mẹ, không cần phải có sự đồng ý của cha; Điều 91 quy định về quyền nhận con: cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trường hợp con đã chết; Trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ con; đặc biệt, Luật đã ghi nhận vấn đề mang thai

hộ vì mục đích nhân đạo (từ Điều 94 đến Điều 100), đây là quy định mới trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Thứ năm, quyền được nhận làm con nuôi và quyền nuôi con nuôi: Nuôi con

nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi (khoản 1 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010) Việc thực hiện quyền này trên thực tế phải tuân theo các điều kiện, trình tự, thủ tục do Luật Nuôi con nuôi quy định Luật cũng quy định các nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi, thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế, hệ quả của việc nuôi con nuôi và những căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi

Ngày đăng: 07/07/2020, 14:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w