Cùng với sự phát triển kinh tế là mức độ tiêu thụ nước ngày càng lớn, áp lực do khai thác sử dụng nguồn nước ngày càng tăng, cùng với việc quy hoạch, quản lý chưa đồng bộ, chưa thống nhấ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
NGUYỄN KIM ANH HIỀN
XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐỂ KHOANH VÙNG PHẢI ĐĂNG KÝ KHAI THÁC NƯỚC DƯỚI ĐẤT TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
NGUYỄN KIM ANH HIỀN
ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Kim Anh Hiền Mã số học viên: 1581440301003
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường Mã số: 608502
Tôi xin cam đoan tập luận văn được chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS
TS Lê Đình Thành và PGS.TS Đỗ Văn Bình với đề tài nghiên cứu trong luận văn:
“Xây dựng bộ tiêu chí để khoanh vùng phải đăng ký khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương”
Đây là đề tài nghiên cứu mới, không trùng lặp với các đề tài luận văn nào trước đây,
do đó, không phải là bản sao chép của bất kỳ một luận văn nào Nội dung của luận văn được thể hiện theo đúng quy định Các số liệu, nguồn thông tin trong luận văn là do tôi điều tra, trích dẫn và đánh giá Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung tôi đã trình bày trong luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Kim Anh Hiền
Trang 4ii
LỜI CÁM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo bộ môn Quản lý môi trường, trường đại học Thủy lợi đã giảng dạy tận tình, quan tâm, trau dồi kiến thức, động viên học viên không ngừng nỗ lực trang bị thêm nguồn kiến thức, kỹ năng tốt nhất để hoàn thành luận văn, sự giảng dạy và chỉ bảo không mệt mỏi của các thầy cô giáo trong suốt thời gian qua Đặc biệt là sự hướng dẫn ân cần, tỉ mỉ của PGS.TS Đỗ Văn Bình và sự giúp đỡ tận tâm của GS.TS Lê Đình Thành trong suốt thời gian từ khi tôi được nhận
đề tài Luận văn đã giúp đỡ và chỉ bảo cho tôi rất nhiều điều, trau dồi thêm kiến thức chuyên môn, cách thức hoàn thành luận văn và những kỹ năng sống mà tự tôi khó có thể hoàn thiện được
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới các cán bộ tại các phòng ban Đào tạo đại học và sau đại học, cán bộ tại văn phòng khoa Môi trường Trường Đại học Thủy lợi đã tạo điều kiện, cũng như cung cấp cho tôi những thông tin bổ ích và kịp thời để tôi có thể hoàn thành luận văn
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tời cha mẹ, chị em trong gia đình cũng tất
cả bạn bè, những người thân luôn động viên, ủng hộ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi học tập cũng như trong thời gian tôi thực hiện luận văn cao học
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Nội dung của đề tài 3
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU KHOANH ĐỊNH VÙNG PHẢI ĐĂNG KÝ KHAI THÁC NƯỚC 6
1.1 Tổng quan về nghiên cứu khoanh định nguồn nước dưới đất 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.1.3 Vấn đề khoanh định vùng đăng ký khai thác nước dưới đất ở Việt Nam 10
1.1.4 Tình hình nghiên cứu, khai thác, sử dụng nước dưới đất ở Việt Nam 11
1.2 Đặc điểm khu vực và những nghiên cứu về tài nguyên NDĐ tỉnh Hải Dương 12
1.2.1 Vị trí địa lý 12
1.2.2 Địa hình 14
1.2.3 Đặc điểm khí tượng thủy văn 15
1.2.4 Đặc điểm địa chất thủy văn 19
1.2.5 Mạng lưới sông ngòi 19
1.2.6 Đặc điểm kinh tế xã hội 20
1.3 Khoanh định vùng phải đăng ký khai thác NDĐ 21
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC DƯỚI ĐẤT TỈNH HẢI DƯƠNG 22
2.1 Đặc điểm các tầng nước dưới đất trong phạm vi tỉnh Hải Dương 22
2.1.1 Đặc điểm tầng chứa nước Holocen (qh) 22
2.1.2 Đặc điểm tầng chứa nước Pleistocen (qp) 26
2.1.3 Đặc điểm tầng chứa nước Neogen hệ tầng Vĩnh Bảo (n) 35
2.1.4 Đặc điểm tầng chứa nước khe nứt – lỗ hổng hệ tầng Tiên Hưng (n1th) 35
2.1.5 Đặc điểm tầng chứa nước khe nứt –karst tuổi Cacbon- Pecmi (C-P) 35
2.2 Các thể địa chất rất nghèo nước đến cách nước 36
2.3 Hiện trạng khai thác nước dưới đất tỉnh Hải Dương [8], [9] 36
2.3.1 Hiện trạng khai thác nước tầng chứa nước Holocen (qh) 37
2.3.2 Hiện trạng khai thác nước tầng chứa nước Pleistocen (qp) 39
2.3.3 Hiện trạng khai thác các tầng chứa nước khác 42
Trang 6iv
2.4 Một số hoạt động phát triển kinh tế, xã hội tác động đến việc khai thác nước
dưới đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương 42
2.4.1 Các hoạt động công nghiệp 42
2.4.2 Các hoạt động nông nghiệp 43
2.4.3 Các hoạt động khác 43
2.5 Việc thực hiện cấp phép khai thác sử dụng NDĐ ở tỉnh Hải Dương 44
2.5.1 Quy định của pháp luật hiện hành 44
2.5.2 Thực hiện cấp phép khai thác sử dụng NDĐ trong thực tế 46
2.5.3 Dự báo khai thác NDĐ trong tương lai của tỉnh 47
2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng, trữ lượng nước dưới đất 51
2.6.1 Địa chất – địa chất thủy văn 51
2.6.2 Khí tượng – thủy văn 53
2.6.3 Hoạt động kinh tế - xã hội 53
2.7 Những vấn đề tồn tại trong khai thác sử dụng tài nguyên nước dưới đất tỉnh Hải Dương 54
2.7.1 Một số kết quả trong công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất 54
2.7.2 Các biện pháp kỹ thuật và chính sách quản lý tài nguyên NDĐ 56
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ KHOANH ĐỊNH VÙNG PHẢI ĐĂNG KÝ KHAI THÁC NƯỚC DƯỚI ĐẤT 57
3.1 Sự cần thiết của việc xây dựng bộ tiêu chí 57
3.1.1 Giới thiệu chung về việc xây dựng bộ tiêu chí 57
3.1.2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của bộ tiêu chí 58
3.2 Cơ sở xây dựng tiêu chí và phương pháp xác định các tiêu chí 59
3.3 Phân tích xây dựng bộ tiêu chí 65
3.3.1 Tiêu chí 1 – Tiêu chí kỹ thuật 65
3.3.2 Tiêu chí 2 – Tiêu chí quản lý 71
3.4 Áp dụng bộ tiêu chí để khoanh định vùng phải đăng ký khai thác NDĐ 74
3.4.1 Cơ sở khoanh định 74
3.4.2 Đề xuất nguyên tắc thành lập bản đồ khoanh định 75
3.4.3 Phương pháp khoanh định và các bước tiến hành 76
3.5 Kết quả khoanh định vùng phải đăng ký khai thác nước dưới đất 77
3.5.1 Bản đồ khoanh định 77
3.5.2 Hướng dẫn sử dụng bản đồ khoanh định 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 84
Trang 7v
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương……… Hình 2.1 Sơ đồ hình thể phân bố các tầng chứa nước tỉnh Hải Dương……… Hình 2.2 Độ sâu mực nước tầng qh……… Hình 2.3 Diễn biến mực nước tại lỗ khoan Q.146 xã Tiền Tiến, huyện Thanh Hà Hình 2.4 Diễn biến mực nước tại lỗ khoan Q.147 xã Đại Đồng, huyện Tứ Kỳ… Hình 2.5 Mặt cắt thể hiện các tầng chứa nước khu vực Hải Dương [9]………… Hình 2.6 Mực nước tại lỗ khoan Q.145a Xã Thanh Hải, huyện Thanh Hà… Hình 2.7 Mực nước tại lỗ khoan Q.131b TT.Thanh Miện, huyện Thanh Miện… Hình 2.8 Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 12 năm 2014 tầng qp……… Hình 2.9 Biểu đồ gia tăng dân số tỉnh Hải Dương……… Hình 2.10 Sự phân bố các tầng chứa nước dưới đất khu vực Hải Dương… Hình 2.11 Xâm nhập của chất ô nhiễm từ bên ngoài vào tầng chứa nước……… Hình 3.1 Sơ đồ phân vùng phải đăng ký khai thác, vùng chưa đủ điều kiện để phân chia khai thác NDĐ khu vực tỉnh Hải Dương……… Hình 3.2 Bản đồ phân vùng đăng ký khai thác nước dưới đất khu vực Hải Dương (kèm chỉ dẫn)………
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Nhiệt độ trung bình năm tỉnh Hải Dương từ năm 2010 đến năm 2014 16
Bảng 1.2 Lượng mưa các tháng từ năm 2010 đến năm 2014 (mm) 17
Bảng 1.3 Độ ẩm TB năm trên địa bàn tỉnh Hải Dương từ năm 2010 đến năm 2014 17
Bảng 2.1 Bảng thống kê chiều dày tầng qh (m) ở một số lỗ khoan [9] 22
Bảng 2.2 Bảng thống kê chiều dày tầng qp2 (m) 288
Bảng 2.3 Các thông số địa chất thủy văn tầng qp2 28
Bảng 2.4 Bảng thống kê chiều dày lớp qp1 299
Bảng 2.5 Độ sâu mực nước tầng qp (m) [10] 311
Bảng 2.6 Tổng hợp số liệu về hiện trạng khai thác tầng chứa nước qh 388
Bảng 2.7 Tổng hợp số liệu về hiện trạng khai thác tầng chứa nước qp 40
Bảng 2.8 Dân số và cơ cấu dân số tỉnh Hải Dương qua các năm……… 49
Bảng 2.9 Diễn biến số lượng cây trồng và vật nuôi của tỉnh Hải Dương qua các năm49 Bảng 2.10 Nhu cầu sử dụng nước và nguồn nước tỉnh Hải Dương (2025)………… 50
Bảng 3.1 Nhu cầu nước cấp và lượng nước thải của một số ngành công nghiệp 733
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BTNMT : Bộ Tài nguyên và Môi trường
CT : Chỉ thị ĐCTV : Địa chất thủy văn KCN : Khu công nghiệp
LK : Lỗ khoan NĐ-CP : Nghị định Chính phủ NDĐ : Nước dưới đất
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
QĐ : Quyết định TCXDVN : Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TNN : Tài nguyên nước
TP : Thành phố
TT : Thông tư UBND : Ủy ban nhân dân
CHỮ VIẾT TẮT CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC
BOD : Biochemical oxygen Demand – nhu cầu oxy sinh hoá COD : Chemical Oxygen Demand – nhu cầu oxy hóa học
M : Tổng khoáng hóa
n : Hệ tầng Neogen
qh : Hệ tầng Holocen
qp : Hệ tầng Pleistocen
Trang 111
MỞ ĐẦU
Nước là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống
và môi trường Thực tế có thể nói nước chính là cuộc sống của tất cả các loài sinh vật trên trái đất Tài nguyên nước của Việt Nam nói chung và nước dưới đất đang chịu những sức ép nặng nề từ việc khai thác, sử dụng thiếu hợp lý trong bối cảnh và chịu tác động của biến đổi khí hậu đang gia tăng Sự tăng dân số cùng việc tăng trưởng kinh
tế với tốc độ cao cũng là tác nhân quan trọng gây áp lực cho nguồn nước Chính vì vậy việc khoanh định vùng đăng ký khai thác nước dưới đất là rất cần thiết để đảm bảo khai thác sử dụng nước bền vững và bảo vệ môi trường nước không bị suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm
Để phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên nước trên địa bàn mỗi tỉnh đảm bảo quy định của Luật Tài nguyên nước năm 2012 cần thiết phải có sự tham gia phối hợp của chính các
Sở, ban, ngành, đoàn thể nhằm quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước hợp lý
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quản lý, thăm dò khai thác sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, việc nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của công tác quản lý thăm dò, khai thác, bảo vệ tài nguyên nước; ý thức chấp hành pháp luật về tài nguyên nước của một bộ phận dân cư, cơ quan, tổ chức còn hạn chế; nguồn nước biểu hiện suy giảm, cạn kiệt Chất lượng nguồn nước mặt, nước dưới đất một số nơi bị ô nhiễm cục bộ, nước thải đô thị, bệnh viện, hoạt động dịch vụ thương mại, du lịch chưa được thu gom, xử lý triệt để; việc hành nghề khoan thăm dò và khai thác nước dưới đất hiện nay đang diễn ra Tỉnh Hải Dương là một trong những tỉnh vẫn mang nhiều những đặc điểm hạn chế, tồn tại sự bất cập và cần có hướng giải quyết khắc phục tình trạng nêu trên
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hải Dương là tỉnh nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, có tài nguyên nước mặt và nước dưới đất khá phong phú Qua điều tra cho thấy trong phạm vi toàn tỉnh có 6 tầng chứa nước, trong đó tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Holocen (qh) và tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Pleistocen (qp) là đối tượng khai thác chủ
Trang 122
yếu phục vụ các hoạt động sản xuất, phát triển khinh tế xã hội Những nghiên cứu mới đây cho thấy chất lượng nước trong tầng qh biến đổi rất phức tạp, khu vực trung tâm tỉnh và tỉnh Hải Dương ranh giới mặn nhạt gần như đan xen và dễ bị nhiễm bẩn Riêng đối với tầng chứa nước qp nằm phía dưới, trữ lượng phong phú hơn và có thể khai thác với quy mô công nghiệp Diện phân bố của tầng này tập trung chủ yếu ở khu vực Sao Đỏ - Chí Linh, huyện Nam Sách và thành phố Hải Dương Các kết quả nghiên cứu trước đây đã sơ bộ xác định được ranh giới mặn, nhạt của tầng chứa nước này, khu vực mặn thuộc các xã nằm ở phía bắc các huyện
Tứ Kỳ và Gia Lộc; phía Đông các huyện Bình Giang, Cẩm Giàng; toàn bộ thành phố Hải Dương, huyện Nam Sách kéo dài đến Ba Đèo của huyện Chí Linh
Cùng với sự phát triển kinh tế là mức độ tiêu thụ nước ngày càng lớn, áp lực do khai thác sử dụng nguồn nước ngày càng tăng, cùng với việc quy hoạch, quản lý chưa đồng
bộ, chưa thống nhất đã dẫn đến các ảnh hưởng tiêu cực như suy thoái, cạn kiệt nguồn nước kéo theo sự biến đổi về ranh giới nhiễm bẩn, nhiễm mặn …
Trong những năm gần đây, công tác nghiên cứu, điều tra tài nguyên nước dưới đất trên địa bàn tỉnh đã được quan tâm, tuy nhiên công tác này vẫn còn một số vấn đề chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, chưa bắt nhịp kịp với các quy định nêu trong Luật tài nguyên nước năm 2012; Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước Thông tư
số 27/2014/TT-BTNMT ngày 30/05/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường “Quy định việc đăng ký khai thác nước dưới đất, mẫu hồ sơ cấp, gia hạn, điều chỉnh, cấp lại giấy phép tài nguyên nước” Theo quy định của Thông tư: UBND tỉnh phải xác định khoanh vùng đăng ký khai thác NDĐ đối với những đối tượng không thuộc phải xin phép khai thác NDĐ, chính vì vậy cần xác định mới các vùng phải đăng ký khai thác NDĐ
Nhằm quản lý tài nguyên nước dưới đất thực sự hiệu quả, góp phần sử dụng hợp lý,
bảo vệ nguồn nước không bị cạn kiệt và ô nhiễm thì thực hiện đề tài nghiên cứu “Xây
dựng bộ tiêu chí để khoanh vùng phải đăng ký khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương” là rất cần thiết và cấp bách
Trang 133
2 Mục tiêu của đề tài
- Tổng hợp, cập nhật các tài liệu, thông số, thông tin liên quan đến hiện trạng tài nguyên nước, hiện trạng khai thác sử dụng nước, hiện trạng chất lượng nước, hiện trạng xả nước thải.v.v để khoanh định vùng phải đăng ký khai thác nước dưới đất
- Xây dựng được bản đồ về vùng phải đăng ký khai thác nước dưới đất phục vụ quản
lý và bảo vệ nguồn nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Tầng chứa nước Holecen (qh) và Pleistocen (qp) trên địa bàn tỉnh Hải Dương
- Phạm vi nghiên cứu: Diện tích khu vực phân bố tầng chứa nước Holocen và Pleistocen trên địa bàn tỉnh Hải Dương
4 Nội dung của đề tài
- Thu thập, cập nhật dữ liệu, thông tin về đặc điểm, tỉnh hình khai thác nước dưới đất, tình hình xả nước thải vào nguồn nước, tình hình sụt lún, biến dạng công trình do khai thác nước dưới đất gây ra, hiện tượng xâm nhập mặn…
- Rà soát, thống kê, đánh giá tính đầy đủ, mức độ tin cậy của các dữ liệu, thông tin thu thập; xác định nội dung thông tin, tài liệu cần điểu tra, thu thập bổ sung;
- Đánh giá hiện trạng khai thác nước dưới đất, hiện trạng xả nước thải vào nguồn nước, hiện trạng sụt lún, biến dạng do công trình khai thác nước dưới đất gây ra, hiện trạng xâm nhập mặn…
- Xây dựng tiêu chí khoanh vùng phải đăng ký khai thác nước đưới đất từ đó phân vùng phải đăng ký khai thác nước dưới đất
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
a/ Cách tiếp cận
T iếp cận thực tiễn, hệ thống, toàn diện và tổng hợp
Đối tượng nghiên cứu ở đây là tầng chứa nước Holocen và Pleistocen (qp) trên địa bàn tỉnh Hải Dương nằm trên một vùng lãnh thổ tương đối rộng lớn nên sự thay đổi về không gian, điều kiện địa hình, địa chất, những biến đổi về thời tiết khí hậu, khí tượng
Trang 144
- thủy văn rất phức tạp Đặc biệt, trong điều kiện nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng, tầng chứa nước bị xâm hại có nhiều nguy cơ ô nhiễm và suy giảm… Tất cả những yếu tố đó tác động lớn đến các tầng chứa nước khu vực, do đó đòi hỏi phải tiếp cận thực tiễn, hệ thống, toàn diện và tổng hợp trên toàn vùng mới giải quyết được mục tiêu nghiên cứu đề ra
Tiếp cận kế thừa tri thức, kinh nghiệm và cơ sở dữ liệu đã có một cách chọn lọc
Hệ tầng chứa nước tỉnh Hải Dương tương đối phong phú, đã có rất nhiều các đề tài nghiên cứu, bài báo khoa học đề cập đến vấn đề này Để có thể đánh giá một cách tổng quát và có hệ thống có thể áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế thì việc kế thừa những tri thức, kinh nghiệm và hệ thống cơ sở dữ liệu từ những người đi trước là hướng tiếp cận đúng đắn, cần thiết
Tiếp cận phương pháp quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường
Mục tiêu cuối cùng mà đề tài nghiên cứu đạt đến là một ứng dụng cho các nhà quản lý môi trường, quản lý tài nguyên nước Áp dụng thành quả nghiên cứu vào thực tế, làm căn cứ để hoạch định sự phát triển, tiềm năng khai thác NDĐ Đây là cách tiếp cận nhằm phòng tránh và giảm thiểu hiểm họa thiên tai phù hợp với tiềm lực kinh tế của đất nước còn nhiều hạn chế, khả năng đầu tư chưa cao, thiếu cơ sở vật chất và những đặc thù về văn hóa xã hội của vùng nghiên cứu
b/ Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được nhiệm vụ, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập tài liệu: Tiến hành thu thập các tài liệu liên quan về tài nguyên nước tỉnh Hải Dương như: Kinh tế xã hội; Địa chất – địa chất thủy văn; Khí tượng thủy văn; Chất lượng nước; Các bản đồ, bản vẽ liên quan…
- Phương pháp thống kê, phân tích, xử lý và tổng hợp tài liệu: Sử dụng phần mềm chuyên môn, mapinfo, aquifer test… để xử lý, lập bản đồ, tổng hợp các tài liệu về tài nguyên NDĐ khu vực nghiên cứu Tiến hành thống kê các thông tin liên quan về tầng chứa nước, hiện trạng khai thác nước, chất lượng nước, khả năng dễ bị ô nhiễm… làm
cơ sở cho việc đánh giá và khoanh vùng khu vực cần phải đăng ký khai thác NDĐ
Trang 155
- Phương pháp phân tích, chỉnh lý tài liệu: tiến hành thống kê các thông tin liên quan
về tầng chứa nước, hiện trạng khai thác nước, chất lượng nước, khả năng đáp ứng lưu
lượng khai thác của tầng, khu vực, khả năng dễ bị ô nhiễm… cơ sở cho việc đánh giá
và xây dựng cơ sở khoa học để khoanh vùng đăng ký khai thác
- Phương pháp kế thừa: Kế thừa kiến thức, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cả
về lý thuyết lẫn thực tế Kế thừa kết quả nghiên cứu thông qua các nhiệm vụ, công trình nghiên cứu khoa học đã được phê duyệt và công bố
- Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành khảo sát bổ sung một số công trình khai thác nước dưới đất và lấy mẫu phân tích đánh giá làm cơ sở cho việc khoanh định ranh vùng phải đăng ký khai thác
- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi, học tập từ các chuyên gia, các nhà khoa học và xin ý kiến góp ý, hướng dẫn, bổ sung kiến thức từ các nhà khoa học, chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu
- Phương pháp bản đồ: Tiến hành chập bản đồ để xác định vùng phải đăng ký khai thác, bao gồm các bản đồ địa chất, địa chất thủy văn, hiện trạng khai thác nước dưới
đất, bản đồ khả năng nhiễm bẩn…
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
+ Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần làm sáng tỏ đặc điểm phân bố và khoanh vùng khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất nhằm khai thác sử dụng nước hợp
lý và bảo vệ các tầng chứa nước
+ Cung cấp những cơ sở khoa học phục vụ quản lý việc khai thác nước bền vững
Trang 166
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU KHOANH ĐỊNH VÙNG
PHẢI ĐĂNG KÝ KHAI THÁC NƯỚC
1.1 Tổng quan về nghiên cứu khoanh định nguồn nước dưới đất
1.1.1 Trên thế giới
Khoanh định vùng phải đăng ký khai thác nước là khái niệm xuất hiện vào những thập niên cuối của thế kỷ 20 Do quá trình khai thác sử dụng nước không hợp lý mà nguồn tài nguyên nước dưới đất trở nên suy thoái, cạn kiệt và ô nhiễm, gây khó khăn trong khai thác bền vững nguồn nước Để đảm bảo khai thác lâu dài, bền vững nguồn nước, tránh những tác động do khai thác quá mức gây ra các nước đã tiến hành quy định đăng ký khai thác nước dưới đất Trên thế giới một số tác giả đã tiến hành nghiên cứu khoanh định vùng bắt buộc phải đăng ký khai thác nước dưới đất, vùng cấm không được khai thác và vùng hạn chế khai thác, tuy nhiên những tài liệu riêng rẽ về vấn đề này không nhiều
Tháng 9/2015 Aurelie Lame đã nghiên cứu Mô hình thủy văn của các tầng chứa nước tại Paris và tác động của các công trình khai thác Trong mô hình này tác giả đã đề cập đến ảnh hưởng của các công trình ngầm, công trình khai thác nước đến tầng chứa nước Việc khai thác nước hoặc xây dựng các công trình khai thác nước trong tầng chứa cần phải được đăng ký và được quản lý đồng bộ.[1]
Năm 2015 tập thể tác giả Yong-Xia Wu, Shui-Long Thần, Ye-Shuang Xu, và Zhen-Yu Yin đã có thí nghiệm quan trắc đặc điểm của quá trình thấm nước dưới đất với tường cắt ngang trong tầng chứa nước cuội sỏi ở Hàng Châu, Trung Quốc Qua đó tác giả cho thấy ảnh hưởng của các công trình đến tính thấm, tính dẫn nước của tầng và sự cần thiết phải có sự nghiên cứu đánh giá đồng bộ việc xây dựng công trình với khai thác nước và bảo vệ tầng chứa nước.[1]
Năm 2010 tập thể tác giả Tadanobu Nakayama, Masataka Watanabe, Kazunori Tanji…
đã nghiên cứu ảnh hưởng của các công trình đến suy giảm chất lượng nước ở môi trường ven biển khu vực đồng bằng Kanto – Nhật Bản Các công trình nghiên cứu đã
đề cập đến việc đăng ký xây dựng công trình, khai thác nước ngầm nhằm khai thác sử dụng tốt tài nguyên nước ngầm trong khu vực.[1]
Trang 177
Năm 2012 tập thể tác giả Y.S Xu, S.L.Shen, J.C.C đã nghiên cứu hiệu ứng cắt ngang quá trình thấm của các tầng chứa nước do có công trình ngầm ở Thượng Hải Kết quả cho thấy khi có công trình ngầm cắt qua tầng chứa nước, tính thấm nước có sự thay đổi và do đó ảnh hưởng đến lưu lượng của nước tới công trình khai thác, gây ảnh hưởng đến môi trường tầng chứa nước.[1]
Năm 2014 tập thể tác giả Guanyong Luo, Hong Cao, Hong Pan đã có các nghiên cứu phân tích số học các tác động của công trình ngầm đối với dòng chảy ngầm ở Quảng Châu, Trung Quốc có trầm tích đệ tứ rất mỏng, với độ sâu khoảng 11m [1] Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra tác động của công trình ngầm và khai thác nước ngầm đến NDĐ trong tầng là:
+ Gây cản trở dòng chảy tự nhiên của nước ngầm, gây ảnh hưởng đến nguồn bổ cập; Phá
vỡ cấu trúc các tầng chứa nước, làm giảm thể tích chứa nước các tầng chứa nước; giảm tính thấm của các tầng chứa nước Như vậy gây suy giảm trữ lượng các tầng chứa nước + Sự rò rỉ chất bẩn (từ mạng lưới thoát nước, nước bị ô nhiễm, nhiễm bẩn bên trên) thấm xuống di chuyển đi vào các tầng chứa nước làm thay đổi chất lượng các tầng chứa nước; Trên thế giới đã sử dụng một số phương pháp để nghiên cứu những tác động này như: nghiên cứu cấu trúc ĐCTV; nghiên cứu quy trình thi công, khảo sát hiện trạng các công trình ngầm; quan trắc mực nước, mực áp lực, quan trắc chất lượng nước và sử dụng các
mô hình số học nước dưới đất được thực hiện để phân tích định lượng một cách chính xác Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên chưa đi sâu về các tiêu chí phân vùng đăng ký khai thác nước nhằm phục vụ việc quản lý và bảo vệ tài nguyên nước
1.1.2 Ở Việt Nam
Việt Nam đang trong giai đoạn hiện đại hóa, công nghiệp hóa nền kinh tế nên việc khai thác sử dụng lượng nước có chất lượng ngày càng nhiều Khai thác nước đã tác động đến các tầng chứa nước trong trầm tích Đệ tứ: Suy giảm trữ lượng các tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ, phá vỡ cấu trúc các tầng chứa nước; làm giảm thể tích chứa nước các tầng chứa nước; làm thay đổi động thái tự nhiên của nước dưới đất; gia tăng nguồn ô nhiễm tiềm năng đối với tầng chứa nước, giảm lượng bổ cập cho các tầng bên dưới, thay đổi chất lượng các tầng chứa nước trầm tích Đệ tứ, làm tăng khả năng di chuyển của nước bị ô nhiễm, nhiễm bẩn từ trên mặt thấm xuống di chuyển vào các tầng chứa nước
Trang 188
Để bảo vệ các tầng chứa nước đồng thời có khả năng khai thác sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nước ngầm, một số tác giả đã nghiên cứu và công bố các công trình, giúp các nhà quản lý thực hiện việc bảo vệ nguồn tài nguyên nước dưới đất Có thể nói việc khai thác nước dưới đất ở nước ta được tiến hành từ khá sớm Song việc khai thác tài nguyên nước dưới đất trên toàn quốc cũng mới diễn ra mạnh trong khoảng ba mươi năm trở lại đây Còn việc quản lý Tài nguyên nước dưới đất mới được tiến hành một cách chặt chẽ khoảng hai mươi năm trở lại đây Nhiều quy định về bảo vệ tài nguyên nước dưới đất đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường, các UBND tỉnh ban hành nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ tài nguyên nước và môi trường bền vững Một văn bản quan trọng, giúp các cơ quan chức năng quản lý thực hiện tốt việc bảo vệ, khai thác sử dụng tài nguyên nước ngầm là Quyết định số 15/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Văn bản này đã chính thức đưa ra các quy định và căn cứ để quy định vùng cấm, vùng hạn chế xây mới các công trình khai thác nước dưới đất và thêm nữa là việc cần thiết phải đăng ký khai thác
- Năm 2007, UBND Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định số 69/2007/QĐ-UBND ngày 03/5/2007 về ban hành Quy định hạn chế và cấm khai thác nước dưới đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Quy định này cũng dựa trên các tiêu chí về khả năng đáp ứng của hệ thống cấp nước hiện có, mực nước hạ thấp, khả năng gây tác động tới môi trường và tầng chứa nước, khả năng xâm nhập mặn cũng như nguy cơ ô nhiễm để xác định khu vực cấm khai thác, hạn chế khai thác, khu vực được phép khai thác
- Năm 2009, Nguyễn Trọng Hiền và Nguyễn Hồng Giang đã công bố kết quả nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xác định tiêu chí vùng khai thác, vùng hạn chế khai thác, vùng cấm khai thác cho thành phố Hồ Chí Minh Do khả năng cung cấp của tầng chứa nước là khác nhau, phụ thuộc vào cấu trúc địa chất thủy văn, loại đất đá, cửa sổ địa chất thủy văn… mà mỗi tầng chứa nước có mức độ giàu, nghèo nước khác nhau
Vì vậy nếu thiếu phần quản lý thì có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng trọng khai thác sử dụng nước không mong muốn như: i) Mực nước hạ thấp quá mức; ii) Suy thoái chất lượng nước (nhiễm bẩn, xâm nhập mặn, sụt lún bề mặt đất…) [2]
- Quyết định 161/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội ngày 09/01/2012 Quyết định nghiệm thu đề án “Điều tra, đánh giá khoanh định vùng cấm, vùng hạn chế và
Trang 199
vùng cho phép khai thác sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn thành phố Hà Nội” và danh mục “Vùng cấm, vùng hạn chế và vùng cho phép khai thác sử dụng các nguồn nước trên địa bàn thành phố Hà Nội”
- Năm 2014, Tập thể tác giả Trần Quang Tuấn, Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Kim Ngọc
đã đăng bài trong Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất với đề tài “Xác định chỉ tiêu khoanh định vùng cấm, vùng hạn chế và vùng được phép khai thác nước dưới đất
áp dụng cho tầng chứa nước Pleistocen ở thành phố Hà Nội” Kết quả của việc nghiên cứu thực tế và kết hợp với tổng hợp các tài liệu hiện có trong nước và trên thế giới, có thể đưa ra các chỉ tiêu để khoanh định các vùng cấm, vùng hạn chế và vùng được phép khai thác nước dưới đất như sau: (1) Chỉ tiêu về chất lượng nước dưới đất; (2) Chỉ tiêu
về trữ lượng nước dưới đất; (3) Chỉ tiêu về đảm bảo an toàn cho xã hội và môi trường; (4) Chỉ tiêu về khả năng xây dựng, hoạt động của các công trình khai thác nước dưới đất Dựa vào các chỉ tiêu trên, nghiên cứu này đã khoanh được các vùng khai thác nước dưới đất cho tầng chứa nước Pleistocen TP Hà Nội, trong đó vùng cấm khai thác nước dưới đất có diện tích khoảng 326,72km2, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất
có diện tích khoảng 2545,3km2và vùng được phép khai thác nước dưới đất chiếm diện tích khoảng 525km2 Kết quả này đã được TP Hà Nội ghi nhận và công bố áp dụng
- Ngày 10/12/2015, UBND tỉnh Bình Dương ban hành quyết định 3258/QĐ-UBND về việc ban hành danh mục vùng cấm, vùng hạn chế, vùng đăng ký khai thác nước dưới đất và bản đồ phân vùng khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Bình Dương Cụ thể, tuyên truyền, tập huấn công bố danh mục vùng cấm, vùng hạn chế và vùng phải đăng ký khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh trên các phương tiện truyền thông Tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn thực hiện quyết định này cho cán bộ quản lý tài nguyên và môi trường cấp huyện, cấp xã và các tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Phối hợp UBND cấp huyện, cấp xã tổ chức kiểm tra, hướng dẫn, tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân trong việc trám lấp các giếng khai thác không đúng quy định; các giếng hư hỏng, không sử dụng theo đúng quy trình kỹ thuật nhằm phòng tránh ô nhiễm nguồn nước dưới đất
Thực hiện thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong vùng cấm, hạn chế khai thác nước dưới đất Kịp
Trang 2010
thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định pháp luật về tài nguyên nước Tiếp tục mở rộng mạng lưới quan trắc tại các vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất nhằm theo dõi, phát hiện kịp thời những diễn biến xấu về mực nước, chất lượng nước làm cơ sở khoa học phục vụ điều chỉnh quy định vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất để bảo vệ, phát triển bền vững tài nguyên nước dưới đất
Việc phân vùng khai thác, đăng ký khai thác nước dưới đất mới chỉ được tiến hành rải rác trong một số đề tài nghiên cứu khoa học Vấn đề quy hoạch khai thác NDĐ đến nay cũng mới được một số địa phương tiến hành một cách sơ bộ để phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên NDĐ Do vậy để phục vụ tốt công tác quản lý NDĐ thì việc phân vùng phải đăng ký, được phép khai thác cần thiết phải thực hiện trên cơ sở các tiêu chí được thiết lập một cách khoa học
Ở Hải Dương, việc khai thác nước dưới đất đã được thực hiện từ lâu Nguồn nước
dưới đất khai thác chủ yếu lấy trong tầng chứa nước cuội sỏi hệ tầng Hà Nội, tuổi Pleistocen (qp) Tuy nhiên, tầng chứa nước này nhiều khu vực cũng đã phát hiện thấy
bị mặn (M >1g/l) nên không sử dụng được cho ăn uống, sinh hoạt và công nghiệp Các tầng chứa nước khác như tầng Holocen (qh) do nằm nông trữ lượng nhỏ nên chỉ có thể cung cấp cho quy mô nhỏ lẻ hộ gia đình Tầng chứa nước Neogen do nằm sâu nên chưa được chú trọng trong khai thác sử dụng.[3]
1.1.3 Vấn đề khoanh định vùng đăng ký khai thác nước dưới đất ở Việt Nam
Khoanh định vùng đăng ký nước dưới đất là hoạt động nhằm bảo vệ NDĐ phục vụ khai thác bền vững và bảo vệ môi trường Đó là những hoạt động nhằm phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu tới số lượng, chất lượng, giữ cho nguồn NDĐ không bị suy thoái, ô nhiễm, cạn kiệt Đồng thời việc làm này còn góp phần phục hồi, cải thiện nguồn NDĐ bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguồn NDĐ
Vì vậy khi thực hiện nhiệm vụ này cần thực hiện tốt các vấn đề:
+ Đánh giá đúng hiện trạng khai thác sử dụng nước thông qua các thông số: số công trình, đặc điểm các công trình, tổng lượng nước khai thác, chất lượng nước khai thác,
so sánh trữ lượng khai thác với khả năng đáp ứng của tầng chứa nước
Trang 2111
+ Đánh giá được đặc điểm các tầng chứa nước (sự phân bố, miền cung cấp, miền thoát, đặc điểm thủy động lực, chất lượng, trữ lượng)
+ Đánh giá, dự báo nhu cầu sử dụng nước hiện tại và trong tương lai kế tiếp
Trên cơ sở đó đưa ra được các tiêu chí để khoanh định khu vực phải đăng ký khai thác nước Từ những đánh giá đó đề xuất được vùng cấm khai thác, vùng khai thác hạn chế, vùng tiếp tục được khai thác Đối với những vùng vẫn còn khả năng khai thác thực hiện việc đăng ký khai thác để phục vụ đắc lực cho công tác quản lý Từ đó đưa ra giải pháp khai thác và đăng ký khai thác phù hợp
1.1.4 Tình hình nghiên cứu, khai thác, sử dụng nước dưới đất ở Việt Nam
Cùng với sự gia tăng nhanh chóng các đô thị trên toàn quốc là sự gia tăng dân số đô thị Theo đó, nhu cầu sử dụng nước không ngừng tăng Thống kê cho thấy, lượng nước khai thác sử dụng cho các đô thị từ vài trăm đến hàng triệu m3/ngày, trong đó khoảng 50% nguồn nước cung cấp cho các đô thị được khai thác từ nguồn nước ngầm, thậm chí chiếm phần lớn từ nước ngầm như Hà Nội Các nguồn nước ngầm được khai thác nằm ngay trong đô thị hoặc vùng ven đô thị Thế nên, theo thời gian, nhiều nguồn nước đã có biểu hiện cạn kiệt hoặc đang bị ô nhiễm bởi sự xâm lấn quá nhanh của đô thị Chỉ tính riêng Hà Nội, hiện mỗi ngày khai thác khoảng 800.000 m3 (khoảng 300 triệu m3/năm); TP.Hồ Chí Minh khai thác khoảng 500.000 m3 (khoảng 200 triệu
m3/năm) Các đô thị khu vực đồng bằng Nam bộ cũng đang khai thác khoảng 300.000
m3/ngày (110 triệu m3/năm) [4]
Ngay tại Hà Nội, tốc độ đô thị hóa quá nhanh, các nguồn cung cấp nước mặt chưa khai thác được, nhiều giếng khoan cũ bị suy giảm lưu lượng Kết quả quan trắc trong 15 năm qua cho thấy, diện tích vùng có cốt cao, mực nước 0m tăng lên 1,5 lần, vùng cốt cao mực nước -8m tăng 3 lần, vùng cốt cao mực nước -14m tăng lên 5 lần Mực nước
ở các lỗ khoan vùng nội đô giảm liên tục với tốc độ bình quân 0,4m/năm [5]
Hiện tượng suy giảm chất lượng nước cũng khá rõ, đặc biệt là ô nhiễm Asen và vật chất hữu
cơ, các hợp chất nitơ Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự nâng cao của nồng độ Asen trong nguồn nước ngầm không chỉ ở Hà Nội mà còn có ở các nơi khác như Hà Nam, TP.Hồ Chí Minh… Các thành phần hóa học khác như NH4, NO2 cũng có sự biến động rõ rệt [4]
Trang 2212
Các kết quả nghiên cứu quan trắc mới nhất cho thấy, tại một số đô thị lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Hòn Gai, Vinh, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu… nguồn nước dưới đất đang có những dấu hiệu cạn kiệt, ô nhiễm, nhiễm mặn Mực nước của các tầng chứa nước khai thác bị hạ thấp liên tục theo thời gian Điển hình như Hà Nội, mực nước tầng chứa Pleistocen hạ thấp với tốc độ 0,4m/năm; TP.Hồ Chí Minh là 0,6m/năm; Cà Mau là 1m/năm… Sự nhiễm bẩn nguồn nước ngầm quan sát được ở các thành phố Hà Nội, Lạng Sơn, Đồng Hới, TP.Hồ Chí Minh… lún sụt nền đất ở Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, vùng Hoài Đức (Hà Nội), Cam Lộ (Quảng Trị)…[4]
Tại khu vực miền núi phía Bắc, các đô thị khai thác nước từ tầng các thành tạo cacbonat Nguồn nước này có quan hệ chặt chẽ với nguồn nước mặt và các yếu tố khí tượng Nhưng các hoạt động công nghiệp đang ảnh hưởng nặng nề đến nguồn nước này Tại các thành phố Lạng Sơn, Thái Nguyên, hệ thống giếng khoan khu vực sông Kỳ Cùng, sông Cầu đang bị ô nhiễm nặng Tại Quảng Ninh, Hải Phòng, hàng loạt giếng khoan đang bị nhiễm mặn nặng nề do tốc độ khai thác quá nhanh trên cùng một địa tầng Ở nội thành Hải Phòng, nhiều giếng khoan bị nhiễm mặn và mực nước tụt sâu 1-2 m [5] Với các đô thị miền Trung, nước ngầm được khai thác ở độ sâu nhỏ (khoảng 10 -25m), lớp phủ bề mặt mỏng nên dễ bị ô nhiễm Qua khảo sát, phần lớn các nguồn nước này đều bị nhiễm vi sinh và một số chỉ tiêu vi lượng vượt mức cho phép nhiều lần Đáng quan ngại là tình trạng xuất hiện hàm lượng thủy ngân vượt quá giới hạn cho phép có nguyên nhân từ quá trình khai khoáng, sản xuất công nghiệp và phân bón…[4]
Nhìn chung khai thác sử dụng nước ở Việt Nam tăng lên không ngừng và tăng mạnh trong những năm vừa qua Việc tăng lượng khai thác nước dưới đất dẫn đến phát sinh những vấn
đề mới đối với môi trường nước là: cạn kiệt, ô nhiễm, xâm nhập mặn và sụt lún mặt đất Đây là một vấn đề luôn cần được quan tâm trong quá trình quản lý khai thác sử dụng nước
để bảo vệ nguồn nước và bảo vệ môi trường đặc biệt là tài nguyên nước dưới đất
1.2 Đặc điểm khu vực và những nghiên cứu về tài nguyên NDĐ tỉnh Hải Dương
1.2.1 Vị trí địa lý
Hải Dương là tỉnh có vị trí nằm ở trung tâm Đồng bằng sông Hồng, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Hải Dương là một
Trang 23Về vị trí địa lý, Hải Dương tiếp giáp với các tỉnh sau:
+ Phía đông giáp Thành phố Hải Phòng + Phía tây giáp tỉnh Hưng Yên
+ Phía nam giáp tỉnh Thái Bình + Phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang
Trang 2414
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương [15]
1.2.2 Địa hình
Địa hình Hải Dương được chia làm hai phần rõ rệt: Phần đồi núi thấp có diện tích 140
km2(chiếm 9% điện tích tự nhiên) thuộc hai huyện Chí Linh (13 xã) và Kinh Môn (10
Trang 2515
xã) Độ cao trung bình dưới 1000m Đây là khu vực địa hình được hình thành trên miền núi tái sinh cổ nền địa chất trầm tích Trung sinh Trong vận động tân kiến tạo, vùng này được nâng lên với cường độ từ trung bình đến yếu Hướng núi chính chạy theo hướng tây bắc – đông nam Tại địa phận bắc huyện Chí Linh có dãy núi Huyền Đính với đỉnh cao nhất là Dây Diều (618m), ngoài ra còn có Đèo Chê (533m), núi Đai (508m) Ở huyện Kinh Môn có dãy Yên Phụ chạy dài 14km, gần như song song với quốc lộ 5, với đỉnh cao nhất là Yên Phụ (246m) Vùng Côn Sơn – Kiếp Bạc tuy địa hình không cao, nhưng nổi lên một số đỉnh như Côn Sơn (gần 200m), Ngũ Nhạc (238m).[15]
Vùng đồi núi thấp phù hợp với việc trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và phát triển du lịch Vùng đồng bằng có diện tích 1521,2 km2(chiếm 91% diện tích tự nhiên) Vùng này được hình thành do quá trình bồi đắp phù sa, chủ yếu của sông Thái Bình và sông Hồng Độ cao trung bình 3-4m, đất đai bằng phẳng, màu mỡ, thích hợp với việc trồng lúa, cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày Địa hình nghiêng và thấp dần từ tây bắc xuống đông nam Phía đông của tỉnh có một số vùng trũng xen lẫn vùng đất cao, thường bị ảnh hưởng của thủy triều và úng ngập vào mùa mưa.[15]
1.2.3 Đặc điểm khí tượng thủy văn
Hải Dương là tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ nên có khí hậu cận nhiệt đới
ẩm Khí hậu chia thành bốn mùa rõ rệt: xuân, hạ, thu, đông Vào giai đoạn từ lập xuân đến tiết thanh minh (khoảng đầu tháng 2 - đầu tháng 4 dương lịch) có hiện tượng mưa phùn và nồm, đây là giai đoạn chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm
Theo tài liệu niên giám thống kê tỉnh Hải Dương [7], xuất bản năm 2015 cho thấy các đặc trưng của yếu tố khí tượng xuất hiện như sau:
a/ Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm của tỉnh Hải Dương từ năm 2010 đến năm 2014 dao động từ
230C đến 24,70C Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là 30,30C (tháng 6, 7 năm 2010) Nhiệt độ trung bình của Hải Dương từ năm 2010 đến năm 2014 được thể hiện trong bảng 1.1 dưới đây
Trang 26- Từ tháng 4 đến tháng 10, rải rác sang tháng 11 (tùy từng năm) nhưng chủ yếu tập trung vào các tháng 5, 6, 7, 8, 9
- Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Trong mùa khô có những tháng hầu như không mưa nhưng từ tháng 1 đến tháng 3 (mùa xuân) thời tiết lại có phần ẩm ướt
Lượng mưa trung bình đo được ở Trạm khí tượng thủy văn Hải Dương từ năm
2006-2012 được thể hiện trong bảng 1.2 dưới đây:
Trang 28ẩm cao thứ 2 đúng vào thời mưa nhiều từ tháng 7 đến tháng 9 Cả 2 thời kỳ đều có độ
ẩm trung bình hàng tháng khoảng 86 - 87% Thời kỳ độ ẩm thấp từ tháng 11 đến tháng
1 năm sau, độ ẩm trung bình từ 71 -77%
ô nhiễm và khu vực bị ô nhiễm cũng biến đổi theo
Tại khu vực Hải Dương, trong năm có 4 mùa xuân, hạ, thu, đông Mùa đông có gió hướng Bắc và Đông Bắc từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Mùa hè có gió hướng Nam
và Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm Khu vực Hải Dương chịu ảnh hưởng của bão tương tự như vùng đồng bằng Bắc Bộ Hàng năm xảy ra 10 - 12 trận bão với tốc độ gió từ 20 - 30 m/s kèm theo mưa lớn và kéo dài
- Tốc độ gió trung bình trong năm: 2,5 m/s
- Tốc độ gió cực đại trong năm: 3,2 m/s
- Hướng gió thịnh hành mùa Hè: Đông Nam
- Hướng gió thịnh hành mùa Đông: Đông Bắc
Bão thường xuất hiện vào các tháng 7, 8, 9
e/ Bão và áp thấp nhiệt đới
Bão xuất hiện hàng năm không đều, năm nhiều, năm ít, tính trung bình trong 10 năm trở lại đây (tính từ năm 2004 – đến 2014), một năm tỉnh Hải Dương chịu ảnh hưởng
Trang 2919
của 02 đến 03 cơn bão và áp thấp nhiệt đới Có năm nhiều tới 06 cơn bão (năm 2009) Năm ít như năm 2013 có khoảng 02 cơn bão Mùa bão năm 2013, Việt Nam chịu ảnh hưởng của khoảng 14 cơn bão và 4 áp thấp nhiệt đới trong đó có những cơn bão mạnh cấp 12 trên cấp 12 mức độ mạnh, nhẹ khác nhau [7]
1.2.4 Đặc điểm địa chất thủy văn
Trong phạm vi tỉnh Hải Dương, nước phân bố trong các trầm tích Đệ tứ bở rời, mang các đặc trưng khác nhau tùy thuộc đặc điểm thạch học Về tính chất thủy lực, chúng thuộc loại chảy tầng, nên phần lớn hình thành những tầng chứa nước không áp hay áp lực yếu Về thực chất, các trầm tích bở rời Đệ tứ là một hệ thống thủy lực ngầm liên tục trong toàn tỉnh Đó là một thực thể bất đồng nhất bao gồm những vật liệu thấm và cách nước xen kẽ nhau Mực nước ngầm trong các trầm tích này không vượt quá 2m Các trầm tích Đệ tứ được cấu thành bởi: cuội, sỏi, cát, tảng ở phần dưới chuyển lên trên là cát, bột sét, sét
Về chất lượng nước: khá phức tạp theo cả chiều ngang và chiều thẳng đứng Dựa vào
độ tổng khoáng hóa có thể chia 2 loại [8]
Nước nhạt (tổng khoáng hóa M từ 0,1 đến < 1g/l) phân bố ở Thanh Miện, Cẩm Giàng, Chí Linh, Ninh Giang Nước mặn (tổng khoáng hóa M > 1g/l) ở các vùng còn lại Nguồn cung cấp là nước mưa, nước mặt và nước từ các dòng chảy bắt nguồn từ các dãy núi, đồi phía bắc tỉnh Nước thoát ra các sông, suối, bay hơi và phát tán thực vật
Độ giàu nước trong các tầng chứa nước lỗ hổng được phân biệt tương đối rõ ràng từ nghèo đến giàu nước Trong phạm vi tỉnh nước lỗ hổng được chia ra 2 tầng chứa nước
1.2.5 Mạng lưới sông ngòi
Mạng lưới sông ngòi khá dày và rải đều trên phạm vi toàn tỉnh Các dòng chính thuộc
hệ thống sông Thái Bình (vùng hạ lưu) có hướng chảy chủ yếu là Tây bắc – Đông nam Dòng chính Thái Bình chảy trong địa phận Hải Dương dài 63 km và phân thành
3 nhánh: sông Kinh Thầy, sông Gùa và sông Mía Nhánh chính Kinh Thầy lại phân tiếp thành 3 nhánh khác là Kinh Thầy, Kinh Môn và sông Rạng Sông Thái Bình thông với sông Hồng qua sông Đuống và sông Luộc [5]
Trang 3020
Sông Hồng chảy qua ở tỉnh phía Tây chiều dài khoảng 40km Lòng sông rộng 400 – 800m, mùa lũ lên đến 1000m Mực nước mùa khô từ 2 – 4m, mùa mưa từ 5 – 8m, cao nhất đạt 14m Lưu lượng trung bình mùa mưa biến đổi từ 2.000 – 6.000m3/s, lớn nhất đạt 22.200m3/s, nhỏ nhất 400m3/s Nước quanh năm đục, hàm lượng bùn sét từ 100 – 1800g/m3 M = 0,122g/l, HCO3-Ca [3]
Sông Thái Bình chảy qua vùng Nam Sách lòng sông rộng 300 – 400m, sâu 5 – 10m, mực nước trung bình 1,98m, QTB – 1405m3/s
Sông Luộc chảy ở phía Nam của tỉnh, sông Luộc là một chỉ lưu của sông Hồng, nó chuyển khoảng 8 – 10% dòng chảy của sông Hồng
Các sông này có đặc điểm là lòng sông rộng, độ dốc lòng sông nhỏ, có khả năng bồi đắp phù sa cho các cánh đồng, tưới nước cho cây trồng, là điều kiện tốt cho việc giao lưu hàng hóa bằng đường thủy giữa Hải Dương với các tỉnh khác ở vùng Đồng bằng sông Hồng Hải Dương còn có diện tích hồ, ao, đầm khá lớn như hồ Bến Tắm (35ha), hồ Tiên Sơn (50ha), hồ Mật Sơn (30ha), hồ Bình Giang (45ha) ở huyện Chí Linh; hồ Bạch Đằng (17 ha) ở thành phố Hải Dương, hồ An Dương (10 ha) ở huyện Thanh Miện… Những
hồ, đầm này nước còn sạch, nguồn thủy sản phong phú, cảnh quan xung quanh đẹp, không chỉ có tác dụng cung cấp nước cho sản kuất và đời sống, nguồn thủy sản lớn cho tỉnh, mà còn là những điểm du lịch, vui chơi, giải trí đầy hứa hẹn.[15]
Với điều kiện và đặc điểm tự nhiên của tỉnh như nêu ở trên cho thấy chúng ít nhiều có ảnh hưởng đến tài nguyên NDĐ cũng như việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này Nước dưới đất sẽ bị hạn chế nếu nguồn bổ cập chủ yếu là nước mưa và nguồn nước mặt từ các mạng lưới sông, ngòi, ao, hồ… suy giảm Chính vì vậy có thể thấy độ
ẩm, lượng mưa, chế độ gió – bão là những nhân tố ảnh hưởng đến trữ lượng và chất lượng nguồn tài nguyên NDĐ cũng như việc khai thác và sử dụng chúng
1.2.6 Đặc điểm kinh tế xã hội
Hải Dương có lợi thế về nhiều mặt kinh tế xã hội Theo tài liệu thống kê, hàng năm tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng cao, có năm tăng đến 10,5% (2008); Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,9%; Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng
Trang 31Đến nay, tỉnh Hải Dương đã quy hoạch 10 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.719
ha Với chính sách thông thoáng, ưu đãi các nhà đầu tư trong và ngoài nước, với lợi thế vị trí thuận lợi, Hải Dương đã thu hút nhiều nhà đầu tư vào khu công nghiệp [15]
1.3 Khoanh định vùng phải đăng ký khai thác NDĐ
Khoanh định đăng ký khai thác nước dưới đất là việc phân chia lãnh thổ khu vực thành những vùng theo những tiêu chí nhất định để người quản lý yêu cầu hoặc không yêu cầu người khai thác nước phải đăng ký hoặc không phải đăng ký
Đối với tỉnh Hải Dương, do phạm vi đối tượng nghiên cứu là tầng chứa nước Holocen
và tầng chứa nước Pleistocen nên các tiêu chí chính được sử dụng là vùng nước nhạt (ranh giới vùng mặn và vùng nhạt), trị số hạ thấp mực nước tại công trình khai thác, lưu lượng khai thác Các tiêu chí khác đóng vai trò hỗ trợ như nguồn thải, nghĩa trang, khu công nghiệp…
mặn-Trên cơ sở khoanh vùng từng tiêu chí hay tổ hợp các tiêu chí, bằng phương pháp chồng bản đồ sẽ phân chia ra được những khu vực không cần đăng ký, cần phải đăng ký khi khai thác sử dụng nước Việc phân chia được thực hiện riêng rẽ cho từng tầng chứa nước, trong
đó chú trọng tầng chứa nước nằm phía dưới là Pleistocen còn tầng chứa nước nằm trên Holocen do trữ lượng ít, bề dày nhỏ, mức độ khai thác không lớn nên ít có ý nghĩa hơn Việc khoanh định vùng khai thác nước dưới đất có ý nghĩa trong nghiên cứu đặc điểm
và khả năng đáp ứng cung cấp nước của từng đối tượng cho khu vực nghiên cứu, đồng
thời giúp các nhà quản lý tài nguyên nước lập kế hoạch quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên nước có hiệu quả nhất
Khoanh định vùng phải đăng ký còn giúp cho chúng ta lập kế hoạch bảo vệ môi trường
và phân phối tài nguyên nước một cách hợp lý cho đối tượng sử dụng nước
Trang 3222
CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG KHAI THÁC SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN
NƯỚC DƯỚI ĐẤT TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1 Đặc điểm các tầng nước dưới đất trong phạm vi tỉnh Hải Dương
Hải Dương là tỉnh có điều kiện phát triển kinh tế đa dạng nên việc khai thác cung cấp nước được thực hiện từ nhiều nguồn, bao gồm cả nước mặt và nước dưới đất
Nước dưới đất được khai thác từ nhiều tầng khác nhau ở những độ sâu khác nhau Theo thống kê, đến nay các tập thể và cá nhân trên địa bàn Hải Dương đang khai thác
ở 7 tầng chứa nước Theo thứ tự từ trẻ đến già, từ trên xuống dưới gồm: tầng chứa nước nằm trên cùng là tầng chứa nước Holocen (qh), tiếp đến tầng chứa nước Pleistocen (qp), tầng chứa nước Neogen (n), tầng chứa nước Trias (t), tầng chứa nước trong các trầm tích Cacbon-Pecmi (c-p), tầng chứa nước trong các thành tạo Devon (d)
và tầng chứa nước Ocdovic-Silua (o-s) (xem hình 2.1) Tuy nhiên phụ thuộc vào đặc điểm từng tầng chứa nước mà mức độ khai thác là rất khác nhau
2.1.1 Đặc điểm tầng chứa nước Holocen (qh)
Tầng chứa nước Holocen là tầng chứa nước nằm trên cùng, có tuổi trẻ nhất, phân bố khá rộng rãi trong vùng nghiên cứu Tầng này bị phủ bởi các trầm tích hệ tầng Thái Bình (QIV3tb) và phân hệ tầng Hải Hưng trên (QIV1-2hh2) Tầng chứa nước này có cấu tạo đất khá phức tạp đa nguồn gốc như sông – biển (am); biển - đầm lầy (bm) hoặc biển (m) Chiều dày của tầng thay đổi từ 2,2m đến 14,8m (xem bảng 2.1)
Bảng 2.1 Bảng thống kê chiều dày tầng qh (m) ở một số lỗ khoan [9]
Trang 3323
Hình 2.1 Sơ đồ hình thể phân bố các tầng chứa nước tỉnh Hải Dương [9]
Tầng chứa nước qh có mức độ chứa nước thuộc loại nghèo đến trung bình tỷ lưu lượng
q chỉ đạt từ 0,2 đến 0,39l/sm Mực nước trong tầng chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi các yếu
tố khí tượng thủy văn của vùng
Đây là tầng chứa nước nằm ngay trên mặt đất, phân bố trên toàn bộ diện tích đồng bằng của tỉnh Hải Dương, chiều dầy tăng dần về phía các con sông lớn như sông Thái Bình, sông Kinh Thầy, sông Sặt…và các thung lũng trước núi Chất lượng nước trong tầng này biến đổi rất phức tạp, nhưng nhìn chung các dải thung lũng trước núi và các dải dọc
theo các sông lớn thì đa phần là nước nhạt, nước thuộc loại Bicacbonat - Clorua; khu
Tầng chứa nước Triat
Các thành tạo địa chất cách nước Tầng chứa nước Pleistocen
Tầng chứa nước Holocen
Trang 3424
vực trung tâm tỉnh và thành phố Hải Dương ranh giới mặn nhạt gần như đan xen Các
kết quả nghiên cứu cho thấy đây là tầng chứa nước trên cùng dễ bị nhiễm bẩn, chiều dày
nhỏ, không có ý nghĩa trong điều tra, khai thác nước tập trung theo quy mô lớn và vừa,
mà chỉ có thể khai thác theo dạng đơn lẻ dùng trong gia đình sống dọc ven các sông
2.1.1.1 Vùng nước lợ đến mặn
Chiếm phần lớn diện tích đồng bằng Nước tàng trữ trong các trầm tích có nguồn gốc biển, biển-đầm lầy Thành phần thạch học là bột sét, bột cát, thấu kính cát màu xám tro, xám đen Nước trong tầng có chất lượng xấu chúng thường có màu vàng, vị tanh, mùi bùn thối Có ít công trình khoan nghiên cứu trong tầng này Kết quả nghiên cứu tại các giếng trong vùng Nam Sách cho kết quả như sau:
- Tổng khoáng hóa M thay đổi từ 0,6 đến 3,0g/l Nước cứng vừa đến cứng
- Mực thủy tĩnh thay đổi từ 0,2 đến 4,2m
- Tỷ lưu lượng qua tài liệu mực nước ở 4 lỗ khoan (15A, 16A, 18A, 22A) thay đổi từ 0,004l/sm đến 0,3l/sm
- Hệ số thấm K = 1,54 đến 4,14m/ng
Nước chịu ảnh hưởng trực tiếp với điều kiện khí tượng thủy văn và nước mặt, chúng
dễ dàng bị nhiễm bẩn bởi các nguồn phân bón, các chất thải sinh vật và công nghiệp Chất lượng nước không đảm bảo yêu cầu ăn uống, sinh hoạt Nước thuộc loại Bicarbonat Vùng này do nước mặn nên không khai thác sử dụng
34 3 58 273
0
)(Na K Ca pH Mg
Cl HCO M
+
Trang 35Theo tài liệu quan trắc của Trung tâm cảnh bảo và dự báo tài nguyên nước thì trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 năm 2014 có xu thế hạ thấp so với trung bình tháng 11 Giá trị hạ thấp nhất là 0,66m tại Xã Đại Đồng, huyện Tứ Kỳ (Q.147) Mực nước trung bình tháng nông nhất là 0,77m tại xã Kim Xuyên, huyện Kim Thành (Q.144M) và sâu nhất là 2,53m tại Xã Đại Đồng, huyện Tứ Kỳ (Q.147) Trong tháng 1
và tháng 2 năm 2015, mực nước có xu thế hạ thấp.[10] Chi tiết diễn biến mực nước tại một số điểm đặc trưng trong tầng qh thể hiện ở hình và biểu đồ dưới đây
Hình 2.2 Độ sâu mực nước tầng qh [10]
Trang 3626
Hình 2.3 Diễn biến mực nước tại lỗ khoan
Q.146 xã Tiền Tiến, huyện Thanh Hà [10] Hình 2.4 Diễn biến mực nước tại lỗ khoan Q.147 xã Đại Đồng, huyện Tứ Kỳ [10] Theo đồ thị hình 2.3 và 2.4 ta thấy, mực nước của tầng Holocen trong mùa khô có xu hướng giảm xuống Mực nước thực đo ở Q.146 giảm từ 2,0m xuống đến 2,6m, giảm 0,6
m trong 2 tháng 11 và tháng 12 và còn có xu hướng giảm tiếp trong mùa khô Mực nước
ở lỗ khoan Q.147 còn giảm nhanh hơn, từ 1,4m xuống đến 2,7m giảm 1,3m trong tháng
11 đến tháng 12 Như vậy mực nước giảm nhiều trong tầng về mùa khô Sở dĩ việc suy giảm như vậy là do tầng chứa nước không được bổ cập từ nước mưa vào mùa khô
Kết quả phân tích mẫu cho thấy chất lượng nước khá tốt Hàm lượng các kim loại nặng đều nằm dưới giới hạn cho phép, nước của tầng đạt tiêu chuẩn dùng cho ăn uống, sinh hoạt theo QCVN 01:2009/BYT trừ hàm lượng nitơ tổng Do vậy cần có sự xử lý trước khi dùng cho ăn uống Một vài nơi nước bị mặn không phù hợp với khai thác sử dụng cho ăn uống nhưng diện phân bố nhỏ, hẹp, không mang tính đại diện
2.1.2 Đặc điểm tầng chứa nước Pleistocen (qp)
Tầng chứa nước qp được chia làm 2 lớp là lớp chứa nước qp2 nằm phía trên và lớp chứa nước qp1 nằmphía dưới Giữa hai lớp nước ngày có sự ngăn cách yếu của lớp cách nước thuộc hệ tầng Vĩnh Phúc (QIII2vp2) (xem mặt cắt thể hiện các tầng chứa nước ở hình 2.5 dưới đây)
Tầng chứa nước qp nằm phủ trực tiếp trên tầng chứa nước Neogen (n) ở phía Đông huyện Chí Linh, phía Nam các huyện Nam Sách, Kinh Môn, Tứ Kỳ, Gia Lộc, Ninh Giang, Bình Giang và Cẩm Giàng Nằm phủ bất chỉnh hợp lên tầng Trias ở phía bắc các
Trang 3727
huyện Nam Sách, Chí Linh Tầng chứa nước này bị tầng chứa nước qh và các thành tạo địa chất không chứa nước phủ kín Các kết quả nghiên cứu cho thấy phương dòng ngầm của tầng chứa nước qp có hướng chảy từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Chất lượng nước trong tầng chứa nước qp từ nhạt đến nợ và mặn, đã sơ bộ xác định được ranh giới mặn, nhạt của tầng chứa nước này Mặn thuộc các xã nằm ở phía bắc các huyện Tứ Kỳ và Gia Lộc; phía Đông các huyện Bình Giang, Cẩm Giàng; toàn bộ thành phố Hải Dương, huyện Nam Sách đến Ba Đèo của huyện Chí Linh; dọc theo Quốc lộ 18, phía Tây các huyện Cẩm Giàng, Thanh Miện, Ninh Giang, phía nam các huyện Gia Lộc, Tứ Kỳ
Hình 2.5 Mặt cắt thể hiện các tầng chứa nước khu vực Hải Dương [9]
Trên mặt cắt chúng ta thấy tầng chứa nước qh nằm trên cùng có màu xanh nhạt, sau đó
là lớp cách nước hệ tầng Vĩnh Phúc có màu nâu, tiếp đến là tầng chứa nước qp và tầng chứa nước Neogen nằm dưới cùng Tầng chứa nước qp tuy chia làm 2 lớp theo thành phần thạch học nhưng có chung một mực nước nên bản chất vẫn là một tầng chứa nước thống nhất
2.1.2.1 Lớp chứa nước lỗ hổng Pleistocen trên (qp 2 )
Lớp chứa nước (qp2) thuộc phần dưới của hệ tầng Vĩnh Phúc (QIII
2
vp2) Cũng như tầng chứa nước qh, tầng chứa nước qp2cũng có diện phân bố rộng khắp trên toàn vùng
và có chiều dày từ 5,5 đến 22,5m, trung bình 14,25m Đất đá chủ yếu của tầng gồm phần dưới là các hạt cát thô có lẫn ít sạn, sỏi, chuyển lên trên là cát hạt trung đến hạt nhỏ, nguồn gốc sông Đây là một tầng chứa nước có áp yếu
Trang 38Nguồn: Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Miền Bắc [9]
Bảng 2.3 Các thông số địa chất thủy văn tầng qp2
Nguồn: Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước Miền Bắc [9]
Nước trong tầng thuộc loại nước nhạt với tổng độ khoáng hóa thay đổi từ 0,38g/l (LK6b) đến 0,57g/l (LKCG1B) Kiểu nước chủ yếu bicacbonat clorua natri Nhìn chung nước có hàm lượng sắt và mangan khá cao
Tầng chứa nước qp2 thích hợp cho khai thác để cung cấp nước cho nhiều mục đích với quy mô nhỏ, vừa bằng các công trình khai thác tập trung hay đơn lẻ Tầng này cũng có thể kết hợp khai thác đồng thời với tầng chứa nước qp1 (tầng sản phẩm cung cấp nước chính của vùng) để phục vụ cho khai thác tập trung với quy mô từ trung bình đến lớn
2.1.2.2 Lớp chứa nước lỗ hổng Pleistocen dưới (qp 1 )
Tầng này có diện phân bố rộng khắp trên toàn vùng nghiên cứu Đây là tầng chứa nước phong phú, giàu nước Đất đá chứa nước chủ yếu gồm phần trên là cuội, sỏi thô lẫn cát của hệ tầng Hà Nội (QII-IIIhn1)
Kết quả các lỗ khoan thăm dò đánh giá trữ lượng nước dưới đất cho thấy, tầng có chiều dày khá ổn định, từ 20,5 đến 51,0m, trung bình 34,66m, một số nơi có chiều dày lớn hơn (bảng 2.5)
Trang 3929
Tầng chứa nước này có mức độ chứa nước từ giàu đến rất giàu Tỷ lưu lượng lỗ khoan biến đổi từ 1,67m đến 26 l/sm Trị số hệ số dẫn nước Km biến đổi từ 1.426 đến 2.909,0m2/ng, trung bình 1.941m2/ng Chiều sâu mực nước của tầng qp1 thay đổi từ 0,24 – 2,6m, thuộc tầng chứa nước có áp lực mạnh
Dưới đây là bảng thống kê chiều dày lớp chứa nước lỗ hổng Pleistocen dưới (qp1)
Bảng 2.4 Bảng thống kê chiều dày lớp qp1
Theo kết quả quan trắc năm 2014 và 2015 về tầng chứa nước qp cho thấy:
Trong phạm vi tỉnh, mực nước trung bình tháng 12 năm 2014 có cả hai xu thế hạ thấp
và dâng cao không đáng kể so với trung bình tháng 11 Giá trị mực nước hạ thấp nhất
là 0,09m tại xã Kỳ Sơn huyện Tứ Kỳ (Q.148a) và dâng cao 0,01m tại xã Thanh Hải, huyện Thanh Hà (Q.145a).[11]
Mực nước trung bình tháng nông nhất là 3,47m tại xã Thanh Hải, huyện Thanh Hà (Q.145a) và sâu nhất là 4,72m tại TT.Thanh Miện, huyện Thanh Miện (Q.131b) Nhìn chung sự thay đổi mực nước tại Q.145a và Q131b không nhiều, chỉ từ 0,2-0,3 m tùy theo vị trí khu vực quan trắc (hình 2.6; 2.7 và 2.8).[10]
Trang 4030
Hình 2.6 Mực nước tại lỗ khoan Q.145a
Xã Thanh Hải, huyện Thanh Hà [10] TT.Thanh Miện, huyện Thanh Miện [10] Hình 2.7 Mực nước tại lỗ khoan Q.131b
Hình 2.8 Sơ đồ diễn biến mực nước tháng 12 năm 2014 tầng qp [10]