Tính c ấp thiết của đề tài Dự án đầu tư xây dựng được triển khai nhằm mục đích thực hiện mục tiêu đầu tư, phát triển, tạo cơ sở vật chất cho xã hội, đặc điểm của loại hình công trình nà
Trang 1L ỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành quản lý xây dựng với đề tài “Phương pháp xác định chi phí rủi ro trong xây dựng Công trình: Đường quy hoạch trung tâm Thị trấn Thanh Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang” được hoàn thành dưới sự cố gắng nỗ lực của tác giả, cùng sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn khoa học, các thầy cô giáo trong khoa công trình, bộ môn công nghệ và quản lý xây dựng, cùng các đồng nghiệp, và người thân
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý cơ quan, Quý thầy cô, đồng nghiệp
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo, Giáo sư – Tiến Sĩ Vũ Thanh Te đã hết sức tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện quan trọng để tác giả hoàn thành luận văn này
Xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã luôn động viên tác giả về mọi mặt trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu vừa qua
Tuy đã có những cố gắng nhất định xong do thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế, luận văn này không thể tránh khỏi thiếu sót Tác giả kính mong quý thầy cô, quý đồng nghiệp và bạn bè chỉ dẫn và góp ý xây dựng, tạo thêm thuận lợi để tác giả có thể tiếp tục học tập và hoàn thiện về đề tài nghiên cứu của mình
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn
La Th ị Thu Phương
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết
quả trong luận văn là hoàn toàn đúng với thực tế và chưa được công bố trong các công trình trước đây Tất cả các trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc
Hà n ội, ngày 10 tháng 3 năm 2016
Tác gi ả luận văn
La Th ị Thu Phương
Trang 3M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 3
1.1 Tình hình xây dựng công trình giao thông trên địa bàn nghiên cứu, những thay đổi về chi phí trong quá trình thực hiện 3
1.1.1 Đặc điểm thi công các công trình giao thông 3
1.1.2 Những thay đổi về Chi phí trong quá trình thực hiện dự án 5
1.2 Các loại rủi ro 6
1.2.1 Khái niệm về rủi ro 6
1.3 Ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến Chi phí của dự án 17
1.4 Kết luận chương 1 20
CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ RỦI RO VÀ XÂY DỰNG CHI PHÍ RỦI RO TRONG XÂY DỰNG 21
2.1 Phương pháp đánh giá rủi ro 21
2.1.1 Nội dung hoạt động xây dựng 21
2.1.2 Những hạng mục có khả năng rủi ro 21
2.1.3 Các rủi ro ở khâu tiến hành tổ chức thi công xây dựng 22
2.1.4 Rủi ro do các nguyên nhân xuất phát từ các chính sách, cơ chế tài chính 22
2.1.5 Đánh giá mức độ rủi ro 23
2.2 Phương pháp xác định các chi phí rủi ro trong xây dựng 29
2.2.1 Cơ sở xác định 29
2.2.2 Phương pháp xác định chi phí rủi ro 30
Trang 42.3 Vận dụng mô hình toán trong mô phỏng và thanh toán chi phí rủi ro (Phân tích
rủi ro bằng phần mềm mô phỏng Crystal ball) 38
2.3.1 Cơ sở Crystal ball 38
2.3.2 Quy trình lập bài toán mô phỏng Monte Carlo 43
2.3.3 Thiết lập và chạy mô phỏng Crystall ball 7.3.1 44
2.4 Kết luận chương 2 45
CHƯƠNG 3 XÁC ĐỊNH CHI PHÍ RỦI RO TRONG THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐƯỜNG QUY HOẠCH TRUNG TÂM THỊ TRẤN THANH SƠN, HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG 46
3.1 Giới thiệu về dự án 46
3.1.1 Thông tin chung của dự án 46
3.1.2 Quy mô, tiêu chuẩn kỹ thuật của công trình 47
3.1.3 Các hạng mục chính của công trình 48
3.2 Các giải pháp công nghệ cơ bản được sử dụng trong xây dựng công trình 48
3.2.1 Biện pháp tổ chức thi công công trình 48
3.3 Những rủi ro có thể gặp phải trong quá trình thi công công trình 57
3.3.1 Điều kiện địa chất 57
3.3.2 Công tác giải phóng mặt bằng 57
3.3.3 Kế hoạch bố trí vốn 58
3.4 Tính toán chi phí trước rủi ro 59
3.4.1 Dữ liệu đầu vào 59
3.4.2 Tính chi phí trước rủi ro 67
3.5 Xác định chi phí do rủi ro gây nên 75
3.5.1 Chi phí xác định do điều kiện địa chất 75
3.5.2 Công tác giải phóng mặt bằng 81
3.6 Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 5DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình1.1 Phân loại rủi ro 16
Hình 2.1 Mối quan hệ giữa nguy hiểm và rủi ro 23
Hình 2.2 Sơ đồ quản lý rủi ro 24
Hình 3.1 Thiết bị thi công cọc cát 76
Hình 3.2 Gia cố mái của khối đất đắp trên nền mềm bằng vải địa kỹ thuật 77
Hình 3.3 Sơ đồ cấu tạo xử lý nền đất yếu bằng kết hợp thoát nước thẳng đứng với gia tải ở phía trên 78
Hình3.4 Biểu đồ biến động giá thép 83
Hình3.5 Biểu đồ biến động giá xi măng 84
Hình3.6 Biểu đồ biến động giá vải địa kỹ thuật 84
Hình3.7 Biểu đồ biến động giá dầu Diezel 85
Trang 6DANH M ỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tần suất của hậu quả trong giai đoạn thi công 26
(Nguồn: PGS.TS Nguyễn Bá Kế: Hội cơ học đất và Địa kỹ thuật Việt Nam) 26
Bảng 2.2 Bảng phân cấp nguy hiểm và phân loại rủi ro 26
(Nguồn: PGS.TS Nguyễn Bá Kế: Hội cơ học đất và Địa kỹ thuật Việt Nam) 26
Bảng 2.3 Phân loại rủi ro 27
(Nguồn: PGS.TS Nguyễn Bá Kế: Hội cơ học đất và Địa kỹ thuật Việt Nam) 27
Bảng 2.4 Bảng xác định xác suất P xảy ra sạt lở 30
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu kỹ thuật chung của tuyến đường 47
Bảng 3.2 Khối lượng hạng mục đường giao thông 59
Bảng 3.3 Khối lượng hạng mục thoát nước 61
Bảng 3.4 Khối lượng hạng mục kè đá 64
Bảng 3.5 Chế độ tiền lương 66
Bảng 3.6 Giá nhiên liệu, năng lượng 66
Bảng 3.7 Chi phí xây dựng cho hạng mục giao thông 67
Bảng 3.8 Chi phí xây dựng cho hạng mục thoát nước 69
Bảng 3.9 Chi phí xây dựng cho hạng mục kè đá 73
Bảng 3.10 Bảng thống kê xác suất rủi ro P% 79
Bảng 3.11 Bảng thống kêoác suất xảy ra rủi ro của các hạng mục 81
Bảng 3.12 So sánh giá vật liệu chính của giá dự thầu công trình hạ tầng đường giao thông thị trấn Thanh Sơn, huyện Sơn Động năm 2014 với giáhuyện Sơn động năm 2010 82
Bảng 3.13 Giá thị trường vật liệu tỉnh Bắc Giang (Theo báo giá liên sở Tài chính) 83
Bảng 3.14 Bảng biến thiên giá vật liệu ảnh hưởng đến giá dự thầu (trong trường hợp giải phóng mặt bằng chậm 02 tháng) 85
Phụ lục 1.1 Chi phí xây dựng cho hạng mục giao thông xét đến biến động giá 1
Phụ lục 1.2 Chi phí xây dựng cho hạng mục thoát nước xét đến biến động giá 3
Phụ lục 1.3 Chi phí xây dựng cho hạng mục kè đá 8
Trang 7DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ODA Official Development Assistance
Trang 8M Ở ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Dự án đầu tư xây dựng được triển khai nhằm mục đích thực hiện mục tiêu đầu
tư, phát triển, tạo cơ sở vật chất cho xã hội, đặc điểm của loại hình công trình này là thường có thời gian tổ chức thực hiện dài, chịu tác động trực tiếp từ môi trường xung quanh như chính trị, kinh tế, xã hội, tự nhiên, pháp luật, công nghệ,…Trong đó rủi ro về chi phí là loại rủi ro thường gặp và liên quan đến mọi giai đoạn, mọi công việc của dự án Các loại rủi ro diễn ra trong giai đoạn lập dự án liên quan đến các thông tin cung cấp cho việc lựa chọn mục tiêu đầu tư, các phương án đầu tư, chất lượng công tác lập dự án lựa chọn, thẩm định dự án phục vụ cho công tác ra quyết định phê duyệt dự án Đặc biệt là vấn đề không chắc chắn trong việc đảm bảo thời gian
và giá cả trong công tác giải phóng mặt bằng, khảo sát thiết kế Những rủi ro trong lựa chọn nhà thầu, hợp đồng xây dựng và thi công xây dựng công trình với những vấn đề liên quan đến công tác giải ngân, chậm tiến độ, việc chậm trễ trong công tác nghiệm thu, thanh toán,… khiến việc đưa công trình vào khai thác bị chậm Ngoài ra còn có các rủi ro do các yếu tố như yếu tố thiên nhiên, giá cả, lạm phát, yếu tố thị trường xây dựng Rủi ro xuất hiện luôn gây thiệt hại cho hiệu quả đầu tư của dự án
Vấn đề đặt ra để chúng ta nghiên cứu, giải quyết là sớm chủ động nhận dạng, phân tích, đánh giá, có biện pháp kiểm soát và giảm thiểu các tác động xấu của rủi ro là hết sức cần thiết nhằm đảm bảo khả thi, hiệu quả của dự án
Từ những lý do trên, Tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu Phương pháp xác định chi phí
rủi ro trong xây dựng công trình: Đường quy hoạch trung tâm Thị trấn Thanh Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang" làm luận văn tốt nghiệp
2 M ục đích của đề tài
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm phương pháp xác định Chi phí rủi ro trong xây dựng công trình
Trang 93 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tổng quan về phương pháp xác định chi phí rủi ro trong xây dựng công trình
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về phương pháp xác định chi phí rủi ro trong xây dựng công trình Từ đó áp dụng vào tính chi phí rủi ro trong xây dựng Công
trình đường quy hoạch vào trung tâm thị trấn Thanh Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
4 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Hướng tiếp cận:
- Tiếp cận trên cơ sở lý luận khoa học về quản lý chất lượng công trình
- Cách tiếp cận thực tế trên cơ sở những công trình đã gặp rủi ro dẫn đến phải thay đổi chi phí trong tổng mức đầu tư xây dựng công trình
Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu lý thuyết
- Kế thừa những nghiên cứu trước
- Thu thập phân tích tài liệu
5 K ết quả dự kiến đạt được
Đánh giá, xác định Chi phí rủi ro trong xây dựng công trình Đường quy hoạch trung tâm Thị trấn Thanh Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
Đề xuất một số ý kiến và phương pháp giải quyết rủi ro về chi phí trong xây
dựng công trình Đường quy hoạch trung tâm Thị trấn Thanh Sơn, huyện Sơn Động,
tỉnh Bắc Giang
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC LOẠI RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH
XÂY D ỰNG CÔNG TRÌNH 1.1 Tình hình xây d ựng công trình giao thông trên địa bàn nghiên cứu, những thay đổi về chi phí trong quá trình thực hiện
1.1.1 Đặc điểm thi công các công trình giao thông
Nhiều dạng công tác với khối lượng lớn và vừa: Để xây dựng công trình giao thông phải thực hiện nhiều dạng công tác khác nhau với khối lượng công tác đất đá, công tác đổ bê tông, công tác khoan phụt xi măng, khai thác cốt liệu…
Kết cấu công trình: Các công trình giao thông thường được xây dựng trong
những địa hình, địa chất, khí hậu thủy văn… trên mỗi địa điểm xây dựng hoàn toàn khác nhau với các thông số thiết kế như tần suất thiết kế, kết cấu áo đường, độ dốc ngang mặt đường, độ dốc dọc, vận tốc thiết kế Điều đó sẽ dẫn đến sự khác biệt về
kết cấu giữa các công trình Mặt khác ngay trong một công trình kết cấu của nó cũng
đa dạng, kích thước khác nhau và phức tạp
Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên: Các công trình giao thông được xây dựng ở
mọi địa hình từ đơn giản đến phức tạp để phục vụ nhu cầu đi lại, giao lưu văn hóa xã
hội và giao thương hàng hóa giữa các nơi trong vùng, vì vậy việc tổ chức thi công gặp
rất nhiều khó khăn, phức tạp và chịu ảnh hưởng rất lớn của các điều kiện tự nhiên trong vùng xây dựng như: điều kiện địa hình, điều kiện địa chất và thủy văn, điều kiện
thời tiết, khí hậu
Mức độ cơ giới hóa, công nghiệp hóa và tự động hóa trong xây dựng: Muốn hoàn thành xây dựng công trình giao thông với khối lượng thi công đúng thời hạn quy định thì phải tiến hành thi công với cường độ cao, sử dụng nhiều máy móc, thiết bị thi công có năng suất cao Đồng thời phải tiến tới công nghiệp hóa và tự động hóa trong
sản xuất và thi công với mức độ cần thiết có thể, nhất là đối với những công việc nặng
nhọc, khó khăn, nguy hiểm
Trang 11Hình thành khu dân cư và khu công nghiệp mới: Trên các công trường xây
dựng giao thông, tùy theo quy mô công trình thường phải xây dựng các cơ sở sản xuất
phụ trợ nhỏ vừa về nhiều mặt để phục vụ cho quá trình thi công và phải sử dụng một lượng lao động vừa đủ Tất cả những người lao động này cùng với gia đình của họ đã
tạo thành một khu vực dân cư vừa nhỏ
Từ những đặc điểm và tính chất phức tạp của việc thi công các công trình giao thông thì việc xác định Chi phí xây dựng công trình hợp lý là vô cùng quan trọng Tuy nhiên, trên địa bàn huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang thì giai đoạn triển khai thi công công trình giao thông chưa được chú ý đúng mức, giá cả một số loại vật tư xây dựng thay đổi, công tác giải phóng mặt bằng còn khó khăn ảnh hưởng đến kinh phí xây
dựng các công trình Bên cạnh đó trình độ nhân công, trình độ quản lý của nhân lực trong ngành xây dựng hiện nay cũng hạn chế, vẫn còn theo lề lối thủ công, không có tác phong làm việc và quản lý chuyện nghiệp dẫn đến việc quản lý và kiểm soát còn nhiều bất cập và bị động, các rủi ro thường gây ra những tổn thất đòi hỏi phải tốn kém
số loại vật tư xây dựng thay đổi ảnh hưởng đến kinh phí xây dựng các công trình Bên
cạnh đó trình độ nhân công, trình độ quản lý của nhân lực trong ngành xây dựng hiện nay cũng hạn chế, vẫn còn theo lề lối thủ công, không có tác phong làm việc và quản
lý chuyên nghiệp dẫn đến việc quản lý và kiểm soát còn nhiều bất cập và bị động, công tác giải phóng mặt bằng còn chậm tiến độ Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự
tồn tại rủi ro đối với quá trình xây dựng công trình giao thông Các rủi ro thường gây
Trang 12ra những tổn thất đòi hỏi phải tốn kém những khoản chi phí để khắc phục Công việc xây dựng thường tiến hành một cách tự phát không có ý đồ toàn cục, thường xảy ra
những lãng phí lớn về sức lao động, về hiệu suất sử dụng thiết bị, kéo dài thời gian thi công, tăng chi phí
1.1.2 Những thay đổi về Chi phí trong quá trình thực hiện dự án
Nhà thầu quan tâm đến giá dự thầu, giá hợp đồng giao nhận, giá đề nghị bổ sung, giá thanh toán, giá quyết toán, giá hạch toán nội bộ, giá ký kết hợp đồng giao nhận với nhà thầu phụ
Việc tính toán phải bắt đầu bằng việc nghiên cứu Hồ sơ mời thầu, tính tiến độ, nhu cầu chi phí cho tiến độ, dựa trên đơn giá các nguồn lực đem sử dụng, các định mức và chỉ tiêu tham khảo, dựa trên số liệu của các công trình đã thi công tương tự
Xác định giá dự thầu mang tính cá biệt và cạnh tranh đặc biệt trong điều kiện kinh
tế thị trường hiện nay Trong quá trình xác định giá dự thầu Nhà thầu căn cứ vào yêu cầu
Hồ sơ mời thầu, khả năng quản lý, năng lực thực tế, biện pháp tổ chức thi công xây dựng
để đề xuất giá dự thầu có khả năng cạnh tranh do có quá nhiều Nhà thầu mà sự lựa chọn của Chủ đầu tư vô cùng khắt khe
Nhà thầu trong tính toán luôn có các biện pháp giảm chi phí như:
Về chi phí vật liệu: Chọn nguồn mua, giá mua hợp lý, giảm chi phí vận chuyển, hao hụt vật tư, vật liệu xây dựng, chi phí bảo quản lưu kho
Về chi phí nhân công: Tổ chức lao động khoa học hợp lý, biện pháp thi công tổ chức thi công phù hợp, giảm thời gian ngừng chờ việc…
Về chi phí máy thi công: Sử dụng thời gian huy động máy thi công hợp lý, tăng năng suất máy thi công, lựa chọn phương án hợp lý giữa giải pháp thuê máy hoặc mua máy phù hợp với yêu cầu của gói thầu, giảm các chi phí hao hụt nguyên liệu, vật tư trong quá trình sử dụng máy, đồng thời cải tiến công tác lập thiết kế tổ chức thi công, biểu đồ tiến độ thi công, biểu đồ huy động các nguồn lực thực hiện gói thầu một cách khoa học hợp lý là yếu tố hết sức quan trọng để giảm chi phí trong giá thầu
Trang 13Về chi phí chung (chi phí quản lý dự án) có thể giảm thông qua các biện pháp như quản lý gọn nhẹ, sử dụng các phương pháp quản lý khoa học, điều hành xử lý các tình huống phát sinh kịp thời
Cạnh tranh giảm mức lãi trước thuế cũng là yếu tố để Nhà thầu cạnh tranh
Mặt khác giá trong thị trường xây dựng phụ thuộc rất lớn vào giá trong thị trường yếu tố sản xuất như thị trường vốn, vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị, công nghệ, năng lực thi công, lao động, bảo hiểm …Bất cứ biến động nào về giá trong thị trường yếu tố sản xuất nào đều tác động đến giá trong thị trường xây dựng, trong khi đó thời hạn thực hiện hợp đồng giao nhận thầu thường rất dài để những biến động về nhiều loại giá do tác động của cơ chế thị trường về cung cầu và cạnh tranh
Để đạt được mục đích này thì Nhà thầu luôn phải đối mặt với bài toán chi phí Mặc
dù vậy thời gian cho Nhà thầu xác định giá thầu rất ngắn nếu không có phương pháp ước toán nhanh và đúng đắn do các chuyên viên giá xây dựng có kinh nghiệm thực hiện thì rất khó đưa ra giá dự thầu và có độ tin cậy cao
Phương pháp phân tích rủi ro rất có ích cho Nhà thầu khống chế chi phí
Phân tích được rủi ro tốt có nghĩa là Nhà thầu phải biết phân tích tình huống thi công tốt, Nhà thầu có nhiều kinh nghiệm về phương pháp, kỹ thuật và giá cả xây dựng Nhà thầu có thể thu được lợi nhuận từ kinh nghiệm đó cũng như từ các hiểu biết cập nhật
về vật liệu, thiết bị, công nghệ thi công mới và lao động tại địa điểm công trường
1.2 Các lo ại rủi ro
1.2.1 Khái ni ệm về rủi ro
Rủi ro là những bất trắc xảy ra ngoài mong muốn của đối tượng sử dụng và gây
ra những thiệt hại về thời gian, vật chất, tiền của, sức khỏe, tính mạng con người
Quản lý rủi ro có thể được mô tả như "một cách có hệ thống nhìn vào lĩnh vực rủi ro
và có ý thức xác định như thế nào khi phải xử lý mỗi rủi ro Nó là một công cụ quản lý
nhằm xác định nguồn gốc rủi ro và sự không chắc chắn, xác định tác động của nó, và xây dựng sự ứng phó nhằm quản lý cho phù hợp "(Uher, 2003) Một quá trình có hệ
thống quản lý rủi ro đã được chia thành: phân loại rủi ro, xác định rủi ro, phân tích rủi
Trang 14ro và ứng phó với rủi ro Khi phải xử lý rủi ro thường chia thành bốn hành động là duy trì sự có mặt của rủi ro, làm giảm thiểu rủi ro, chuyển giao rủi ro cho đơn vị khác mà đơn vị khác có khả năng chống đỡ với rủi ro và làm cho rủi ro không xuất hiện (Berkeley et al, 1991; Flanagan và Norman, 1993) Một phương pháp quản lý rủi ro
hiệu quả là điều cần nghiên cứu để quản lý được rủi ro
Về khái niệm rủi ro: Cho đến nay chưa có được định nghĩa thống nhất về rủi ro
Những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai trường phái lớn: Trường phái truyền thống Trường phái hiện đại Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát, nguy hiểm Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảy đến Đó là
sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến Rủi
ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh,
sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm
hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể
xảy ra cho con người Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể mang đến những
tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ
hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng
ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai
Rủi ro phụ thuộc vào ngữ cảnh, nếu con người không có khái niệm hoặc không liên quan đến thì họ không có rủi ro Ví dụ trời mưa sẽ là rủi ro với người đi đường nhưng người ở trong phòng đóng kín cửa, không bị ảnh hưởng thì không có rủi ro Rủi
ro bao gồm 3 yếu tố: xác suất xảy ra, khả năng ảnh hưởng đến đối tượng và thời lượng ảnh hưởng Bản chất rủi ro là sự không chắc chắn, nếu chắc chắc (xác suất bằng 0%
Trang 15hoặc 100%) thì không gọi là rủi ro Quản lý rủi ro là một phần của Quản lý dự án Có
thể phân biệt Rủi ro theo các tiêu thức Rủi ro động và rủi ro tĩnh như sau:
- Rủi ro động là những rủi ro liên quan đến sự luôn thay đổi, đặc biệt là trong
nền kinh tế Đó là những rủi ro mà hậu quả của nó có thể có lợi, nhưng cũng có thể sẽ mang đến sự tổn thất (sự thay đổi về thị hiếu khách hàng có thể phù hợp với sản phẩm
mà doanh nghiệp đang kinh doanh hay không, sự thay đổi về công nghệ kĩ thuật có phù hợp với khả năng tài chính của doanh nghiệp hay không, sự thay đổi đó có quá nhanh hay không? )
- Rủi ro tĩnh là những rủi ro, mà hậu quả của nó chỉ liên quan đến sự xuất hiện
tổn thất hay không, chứ không có khả năng sinh lời, và không chịu sự ảnh hưởng của
những thay đổi trong nền kinh tế Những rủi ro tĩnh thường liên quan đến các đối tượng: tài sản, con người, trách nhiệm dân sự
1.2.2 Phân lo ại rủi ro
Việc phân loại rủi ro giúp cho ta định hình loại rủi ro nào tác động ảnh hưởng đến quá trình công việc của ta đang thực hiện hay theo dõi Từ nhận biết loại rủi ro sẽ
đề xuất giải pháp phòng ngừa hay xử lý
Để có thể nhận biết và quản lý các rủi ro một cách có hiệu quả, người ta thường phân biệt các rủi ro tuỳ theo mục đích sử dụng trong phân tích các hoạt động kinh tế
1.2.2.1 Theotính ch ất khách quan hay chủ quan của rủi ro, người ta thường chia ra: r ủi ro thuần tuý ( khách quan) và rủi ro chủ quan, do sự suy tính của con người (rủi ro suy đoán) (Pure Risks and Speculative Risks)
- Rủi ro thuần tuý là loại rủi ro tồn tại khi có nguy cơ tổn thất nhưng không có
cơ hội kiếm lời, đó là loại rủi ro xảy ra liên quan tới việc tài sản bị phá huỷ Thường thường, loại rủi ro này do thiên nhiên gây ra nhưng cũng nhiều khi con người gây ra Khi có rủi ro thuần tuý xảy ra có thể có ba tình huống : có tổn thất nhiều, có tổn thất ít
Trang 16hoặc không có tổn thất Hầu hết các rủi ro chúng ra gặp phải trong cuộc sống và thường để lại những thiệt hại lớn về của cải vật chất và có khi cả tính mạng con người đều là rủi ro thuần tuý Thuộc loại rủi ro này có rủi ro các vận động về trái đất như thiên tai, lụt, bão, hạn hán, động đất có thể do con người như hoả hoạn, vỡ đê, xập
cầu , …
- Rủi ro suy tính (rủi ro suy đoán) là rủi ro do con người hoạch định kế hoạch không phù hợp với thực tế, do hạn chế trình độ mà phán đoán sai thị trường, do con người dự báo chưa tốt, không phù hợp với thực tiễn Rủi to suy tính tồn lại khi có một nguy cơ tổn thất song song với một cơ hội kiếm lời Đó là loại rủi ro liên quan đến quyết định lựa chọn của con người Thuộc loại này là các rủi ro khi đầu tư vào sản
xuất kinh doanh (SXKD) trên thị trường
Người ta có thề dễ dàng chấp nhận rủi ro suy tính nhưng hầu như không có ai
sẵn sàng chấp nhận rủi ro thuần tuý
Phân biệt hai loại rủi ro này nhằm định hướng giải pháp phòng chống rủi ro
Với rủi ro thuần túy lại căn cứ vào phân loại mức thiệt hại để có giải pháp ứng phó thích hợp Giải pháp mua bảo hiểm là một trong những phương thức đối phó với rủi ro thuẩn túy Đối với rủi ro suy tính cũng có nhiều giải pháp ngăn ngừa, thí dụ dùng biện pháp Hedging ( quy tắc rào cản ) chẳng hạn
Tuy nhiên, hầu hết trong các rủi ro đều chứa cả hai yêu tố: thuần tuý và suy tính
và trong nhiều trường hợp ranh giới giũa hai loại rủi ro này còn mơ hồ Trong các hợp đồng kinh tế, rủi ro thuần túy thường có một điều khoản hợp đồng là bất khả kháng(
FM, Force Majeur) Bất khả kháng được coi là điều mà quá trình thực hiện hợp đồng
gặp phải trong khi soạn thảo hợp đồng không lường trước tình huống xấu sẽ xảy ra
Bất khả kháng có thể do thiên nhiên gây ra, có thể do con người gây ra Ở nước ta, nhiều khi người ta lợi dụng bất khả kháng làm cho quá trình thực hiện hợp đồng thiếu nghiêm túc Đổ tội tại trời thì dễ chấp nhận với những thiệt hại xảy ra Trong nhiều
hợp đồng nước ngoài, họ phân biệt hai loại bất khả kháng Nếu bất khả kháng do thiên
Trang 17nhiên gây ra là những tai biến thiên nhiên mà ít nhất 10 năm vừa qua tai biến ấy không
xảy ra trên địa bàn thực hiện hợp đồng mới được coi là bất khả kháng Nếu là những
hiện tượng thiên nhiên theo chu kỳ, đã thành kinh nghiệm địa phương thì việc xảy ra tai biến có thể lường trước được, không được coi là bất khả kháng, vì theo kinh nghiệm cũng như truyền thống, những tai biến này kháng được
Nếu tai biến do con người gây ra phải là do tác động của số đông người, mức
độ địa bàn phải từ quận, huyện trở lên Còn khó khăn do nhân lực không được trả lương đúng hạn, làm reo gây thiệt hại, là phạm vi của doanh nghiệp, không được coi là
bất khả kháng
Ta thử xem về vụ ngập úng tại Hà nội năm 2008, gây nhiều thiệt hại Về thời điểm thì vụ ngập xảy ra vào mùa khô ở các tỉnh phía Bắc, có thể chấp nhận là thiên tai Mưa liền khoảng 6 ngày , lượng mưa vừa ( 120 mm/ ngày đêm) chưa thể gọi là mưa to gây ngập úng Lượng nước gây ngập vì thời kỳ này đang thực hiện dự án thoát nước phía Nam Hà nội Lượng nước chưa đạt đến 60% khả năng bơm của trạm thoát nước Yên Sở ( nhiều máy bơm không đủ nước để bơm từ Yên Sở ra sông Hồng ) Không dám thoát lớn qua cửa cống Lên Mạc, sợ lượng nước thoát bằng kênh Liên Mạc gây
lụt cho khu vực thoát nước Hà nội chịu úng nhiều ngày nhờ mua mấy chục máy bơm
vắt nước qua đê sông Hồng mà giảm nước trong Hà nội Lý do chính là nước Nam Hà
nội không xuống được hồ điều hòa Yên Sở vì bị úng do nghẽn cổ chai Về nghề nghiệp, đây là do lập biện pháp thi công ngược với quy trình của tiêu chuẩn tổ chức thi công thoát nước khu vực Thiệt hại coi là thiên tai, ai bị ảnh hưởng người ấy tự gánh
chịu Một đất nước còn xa với công nghệ và khoa học hiện tại trên quốc tế Loại rủi ro này cần được phân định rõ ràng mới đề xuất được biện pháp chống rủi ro có kết quả
1.2.2.2 Theo h ậu quả để lại cho các hoạt động của con người, người ta chia thành r ủi ro số đông (rủi ro toàn cục, rủi ro cơ bản) và rủi ro bộ phận (rủi ro riêng
bi ệt)
Trang 18- Rủi ro số đông là các rủi ro gây ra các tổn thất khách quan theo nguồn gốc rủi
ro và theo kết quả gây ra Những tổn thất này không phải do cá nhân gây ra và hậu quả
của nó ảnh hưởng đến số đông con người trong xã hội Thuộc loại này bao gồm các rủi
ro do chiến tranh, lạm phát, thất nghiệp, động đất, lũ lụt
- Rủi ro bộ phận là các rủi ro xuất phát từ các biến cố chủ quan của từng cá nhân xét theo cả về nguyên nhân và hậu quả Tác động của loại rủi ro này ảnh hưởng
tới một số ít người nhất định mà không ảnh hưởng lớn đến toàn xã hội Thuộc loại này bao gồm các rủi ro do tai nạn (tai nạn giao thông, tai nạn lao động, hoả hoạn,…) do thiếu thận trọng trong khi làm việc cũng như trong cuộc sống (rủi ro do mất trộm )
Nhận xét: Việc phân biệt hai loại rủi ro này có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ
chức xã hội, nó liên quan đến việc có thể hay không thể chia sẻ bớt những rủi ro trong
cộng đồng xã hội Nếu một rủi ro bộ phận xảy ra, các tổ chức hay cá nhân khác có thể giúp đỡ bằng những khoản đóng góp vào các qũy trợ giúp nhằm chia sẻ bớt những rủi
ro nhưng khi rủi ro số đông xảy ra thì việc chia sẻ rủi ro bằng cách trên là không có tác
dụng
Tuy nhiên, việc phân loại rủi ro theo cách này cũng chưa được rõ ràng lắm vì
rủi ro có thể chuyển từ dạng này sang dạng khác tuỳ theo sự thay đổi của khoa học kỹ thuật và khung cảnh xã hội Ví dụ lũ lụt gây thiệt hại nghiêm trọng ở một quốc gia nào
đó là rủi ro số đông đối với quốc gia đó nhưng lại là rủi ro bộ phận đối với phạm vi toàn thế giới
1.2.2.3 Theo nguồn gốc phát sinh các rủi ro
Loại rủi ro này có các loại như sau:
- Rủi ro do các hiện tượng tự nhiên: đây là nguồn rủi ro cơ bản dẫn đến các rủi
ro thuần tuý và để lại những hậu quả rất nghiêm trọng đối với con người Nước lũ,
nắng nóng, hoạt động của núi lửa, Việc nhận biết các nguồn rủi ro này tương đối đơn
Trang 19giản nhưng việc đánh giá khả năng xảy ra cũng như mức độ xảy ra của các rủi ro xuất phát từ nguồn này lại hết sức phức tạp bởi vì chúng phụ thuộc tương đối ít vào con người, mặt khác khả năng biểu biết và kiểm soát các hiện tượng tự nhiên của con người còn hạn chế
- Rủi ro do môi trường vật chất: các rủi ro xuất phát từ nguồn này là tương đối nhiều, chẳng hạn như hoả hoạn do bất cẩn, cháy nổ
- Rủi ro do các môi trường phi vật chất khác: Nguồn rủi ro rất quan trọng và làm phát sinh rất nhiều rủi ro trong cuộc sống chính là môi trường phi vật chất hay nói
cụ thể đó là các môi trường kinh tê, xã hội, chính trị, pháp luật hoặc môi trường hoạt động của các tổ chức, Đường lối chính sách của mỗi người lãnh đạo của quốc gia ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế (ban hành các chính sách kinh tế, áp dụng các quy định và thuế, cắt giảm hoặc xóa bỏ một số ngành nghề…) Quá trình hoạt động của các tổ chức có thể làm phát sinh nhiều rủi ro
và bất định Việc thay đổi tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lãi suất tín dụng, quan hệ cung - cầu trên thị trường, giá cả thị trường diễn biến bất ổn, đều có thể đem lại rủi ro cho các tổ
chức SXKD Có rất nhiều rủi ro xuất phát từ môi trường phi vật chất này và các rủi ro
cứ nối tiếp nhau diễn ra, rủi ro này được bắt nguồn từ rủi ro khác, rủi ro bắt nguồn từ môi trường chính trị dẫn đến các rủi ro về mặt kinh tế hay xã hội (chẳng hạn rủi ro do môi trường chính trị không ổn định dẫn đến rủi ro về mặt tinh tế (sản xuất đình đốn, hàng hoá đắt đỏ) và sau đó dẫn đến rủi ro về mặt xã hội (thất nghiệp) Để nhận biết các nguồn rủi ro này cần có sự nghiên cứu, phân tích tỷ mỷ, chi tiết và thận trọng Mặt khác, việc đánh giá khả năng và mức độ xảy ra của các rủi ro xuất phát từ nguồn rủi ro phi vật chất cũng hết sức khó khăn với độ chính xác khác nhau, nó phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của người đánh giá
Nhận xét: Các tổn thất phát sinh từ các nguồn rủi ro là rất nhiều và rất đa dạng
Một số tổn thất có thể phát sinh từ cả hai nguồn rủi ro khác nhau, chẳng hạn rủi ro
Trang 20cháy một ngôi nhà có thể do bất cẩn khi đun bếp (môi trường vật chất) nhưng cũng có
thể do bạo động, đốt phá (môi trường chính trị)
Việc phân loại rủi ro theo các nguồn phát sinh giúp cho các nhà quán lý rủi ro tránh bỏ sót các thông rin khi phân tích đồng thời giúp cho việc lựa chọn các biện pháp phòng chống rủi ro sau này
1.2.2.4 Theo kh ả năng khống chế của con người:
Loại rủi ro này có thể chia ra rủi ro có thể khống chế đượcvà rủi ro không thể
khống chế được Một số loại rủi ro khi xảy ra, con người không thể chống đỡ nổi Thuộc loại này có các rủi ro do thiên tai, địch hoạ, Tuy nhiên, đa số các rủi ro con người có thể chống đỡ hoặc có những biện pháp nhằm hạn chế được thiệt hại nếu có
những nghiên cứu, dự đoán được khả năng và mức độ xây ra
1.2.2.5.Theo ph ạm vi xuất hiện rủi ro
Loại rủi ro này có thể chia ra rủi ro chung và rủi ro cụ thể
- Rủi ro chung là các rủi ro gắn chặt với môi trường chính trị, kinh tế và pháp luật
+ Các rủi ro chính trị gồm có rủi ro về hệ thống chính trị, rủi ro chính sách thuế;
rủi ro do cơ chế quản lý cấp vĩ mô; rủi ro về chế độ độc quyền; rủi ro do chính trị sách
hạn chế nhập khẩu; rủi ro do không đạt được hoặc không gia hạn hợp đồng;…
+ Các rủi ro thương mại quốc gia gồm có rủi ro do lạm phát; rủi ro do tỷ lệ lãi suất thay đổi; rủi ro do sản phẩm hàng hoá mất giá; rủi ro do chính sách ngoại hối và đặc biệt ở
Việt Nam còn có thể có rủi ro do không chuyển đổi được ngoại tệ;…
+ Các rủi ro gắn với môi trường pháp luật quốc gia gồm có rủi ro do thay đổi chính sách pháp luật và qui định; rủi ro về việc thi hành pháp luật; rủi ro do trì hoãn trong việc bồi thường;…
Trang 21- Rủi ro cụ thể là các rủi ro gắn liền với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh (SXKD) cụ thể hoặc lĩnh vực hoạt động khác
+ Đối với lĩnh vực SXKD xây dựng (XD) có thể có các rủi ro theo các giai đoạn
của quá trình đầu tư XD, các rủi ro đối với việc thực hiện và hoàn thành kế hoạch, các
rủi ro trong quá trình vận hành
+ Theo các giai đoạn của quá trình đầu tư và XD, một tổ chức SXKD XD có thể
gặp rủi ro vì đấu thầu; rủi ro về cấp phát vốn đầu tư (VĐT); rủi ro do sự phối hợp giữa
tổ chức thiết kế, giám sát, cung cấp trang thiết bị với đơn vị thi công, không theo đúng
kế hoạch tiến độ đã định; rủi ro trong thi công XD; rủi ro trong quá trình thanh quyết toán;
+ Đối với việc thực hiện và hoàn thành kế hoạch, tổ chức XD có thể gặp rủi ro
do sự chậm trễ trong thi công và cung ứng các yếu tố sản xuất; rủi ro do phải phá đi làm lại; rủi ro do các nguyên nhân bất khả kháng …
+Trong quá trình vận hành khai thác có thể có các rủi ro về trang bị cơ sở hạ
tầng; rủi ro về kỹ thuật và công nghệ thi công; rủi ro về quản lý; rủi ro do tăng chi phí lưu thông; rủi ro do trình độ cán bộ công nhân vận hành khai thác; rủi ru do các nguyên nhân bất khả kháng; rủi ro trách nhiệm;… Chúng ta có thể gặp rủi ro ở bất kỳ
hoạt động nào liên quan đến con người, do đó hàng ngày chúng ta phải đưa ra những quyết định để làm thế nào có thế giải quyết được những rủi ro đó Có thể có một số
biện pháp: Tránh hoàn toàn mọi rủi ro; Hạn chế rủi ro bằng cách tiến hành nhưng biện pháp phòng ngừa; Chuyển giao hoặc san sẻ rủi ro sang các cá nhân hay tổ chức khác
Với mọi biện pháp nhằm hạn chế rủi ro đều được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau Chúng ta biết rằng hầu hết các rủi ro xảy ra đều mang tính ngẫu nhiên và
bất ngờ đối với con người và sự vật, vì vậy việc chủ động tránh hoàn toàn mọi rủi ro là
hầu như không thể thực hiện được đối với các cá nhân hay một tổ chức Chẳng hạn, để tránh hoàn toàn rủi ro do tai nạn giao thông, một người nào đó có lúc không bao giờ đi
Trang 22ra đường cả nhưng điều đó lại hạn chế mọi hoạt động của người đó và có lẽ họ sẽ không thể thực hiện được việc tránh khỏi rủi ro bằng cách này Vì thế, để hạn chế rủi
ro người ta tìm cách quản lý các rủi ro đó, chủ yếu tập trung vào hai biện pháp: tiến hành các biện pháp phòng ngừa có thể hoặc san sẻ rủi ro sang các cá nhân hay tổ chức khác Vậy cá nhân có khả năng chấp nhận rủi ro khác nhau Một số người có khả năng
chấp nhận rủi ro cao và họ không tiến hành một biện pháp phòng ngừa nào cả vì họ tin
rằng có ít rủi ro xảy ra với họ và họ có thể chấp nhận được Một số người khác lại ít có
khả năng chấp nhận rủi ro hơn và do họ cố gắng tiến hành mọi biện pháp phòng ngừa
có thể như mua các loại bảo hiểm hoặc thực hiện mọi cách phòng ngừa rủi ro trong
cuộc sống Tuy nhiên, dù khả năng chấp nhận rủi ro của mỗi người khác nhau nhưng nói chung mọi người đều sợ rủi ro Vì thế, việc chúng ta cố gắng nhận biết được mọi
rủi ro có thể xảy ra và đánh giá được mức độ trầm trọng của rủi ro là việc làm hết sức quan trọng, hết sức cần thiết và không phải là một việc làm đơn giản Có thể tóm tắt các cách phân loại rủi ro như hình 1.1 dưới đây
Trang 23Hình1.1 Phân lo ại rủi ro
R ủi ro thuần túy là loại rủi ro tồn tại khi có
nguy cơ tổn thất nhưng không có cơ hội kiếm lời
R ủi ro suy tính là loại rủi ro tồn tại khi có nguy
cơ tổn thất song song với một cơ hội kiếm lời
R ủi ro số đông là loại rủi ro không phải do cá
nhân gây ra và hậu quả ảnh hưởng đến số đông
con người xã hội
R ủi ro bộ phận xuất phát từ các biến cố chủ
quan của từng cá nhân và tác động đến số ít trong
xã hội
R ủi ro do hiện tượng tự nhiên
R ủi ro do môi trường vật chất
R ủi ro do môi trường phi vật chất
R ủi ro có thể khống chế
R ủi ro không thể khống chế
R ủi ro chung là các rủi ro gắn chặt với môi
trường kinh tế, chính trị, pháp luật
R ủi ro cụ thể là các rủi ro gắn liền với lĩnh vực
kinh doanh cụ
Theo tính ch ất khách quan
g ốc phát sinh
Theo
kh ả năng khống
ch ế
Theo
ph ạm
vi xu ất hiện
PHÂN
R ỦI
RO
Trang 241.3 Ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến Chi phí của dự án
1.3.1 Những yếu tố liên quan đến tổng mức đầu tư
Đứng trên quan điểm quản lý xây dựng thì tổng mức đầu tư là cơ sở để chủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình Tổng mức đầu tư được lập ra ngay từ lúc lập thiết kế sơ bộ và kết thúc khi hoàn thành giai đoạn vận hành thử để bàn giao cho bên vận hành, quản lý khai thác công trình Như vậy các yếu tố có liên quan đến tổng mức đầu tư bao gồm những công việc chính như thiết kế, thi công xây dựng, lắp đặt, nghiệm thu, vận hành thử, bàn giao Trong mỗi công việc đó lại chia nhỏ như trong thiết kế còn có yếu tố khảo sát phục vụ thiết kế, tổ chức thiết kế, lập bản vẽ kỹ thuật, bản vẽ thi công lập dự toán thi công Trong thi công còn có công tác chuẩn bị như lập mặt bằng công trường, khai thác vật liệu, làm đường vận chuyển, xây dựng mạng lưới điện, hệ thống cấp nước, xây dựng nhà ở và nhà điều hành công trường, xây dựng các khu phụ trợ thi công, xây dựng những công trình tạm, thi công các hạng mục công trình… Tuy nhiên, nếu dựa trên sự phân chia các bên tham gia dự án thì có ghép thành hai yếu tố chính:
- Yếu tố về kỹ thuật – công nghệ, nhằm trực tiếp tạo ra khối lượng công trình, được thể hiện chủ yếu trong nhóm chi phí xây dựng Đó là những chi phí về vật liệu xây dựng, xe máy, thiết bị thi công, nhà xưởng phụ trợ, chi phí lao động và quản lý;
- Yếu tố về năng lực tài chính, đóng vai trò là nguồn lực về tài chính, được thể hiện trong nhóm chi phí thiết bị; chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn đầu tư xây dựng; chi phí khác Hai yếu tố trên có ảnh hưởng chính đến tổng mức đầu tư
1.3.2 Mức độ ảnh hưởng đến tổng mức đầu tư
Hai loại yếu tố trên ảnh hưởng rất đa dạng đến các hạng mục chi phí trong tổng mức đầu tư Trong nhóm chi phí xây dựng thì ảnh hưởng lớn nhất là sự biến động giá nguyên vật liệu Trong nhóm chi phí thiết bị cũng có biến động giá nhưng không lớn bằng chi phí vật liệu Ảnh hưởng của nhóm tài chính phụ thuộc nhiều yếu tố rõ rệt nhất là do lạm phát khiến giá đầu vào tăng lên Ảnh hưởng lớn thứ hai là thiếu hụt ngân sách, khối
Trang 25lượng hoàn thành không được thanh toán kịp thời, giải ngân chậm, buộc phải điều chỉnh lại tổng mức đầu tư tại thời điểm thanh toán để bù cho nhà thầu
1.3.3 Một số sai sót và rủi ro thường gặp trong thực hiện dự án
- Xác định tổng mức đầu tư không chính xác và không đủ cơ sở;
- Hồ sơ khảo sát không đầy đủ, chưa đủ căn cứ để thiết kế
- Nội dung hồ sơ thiết kế kỹ thuật và thiết kế thi công không đầy đủ theo quy định, sai lệch về quy mô, cấp công trình, vốn, diện tích đất sử dụng so với quyết định đầu tư
- Công tác dự toán: Tổng dự toán vượt tổng mức đầu tư, dự toán chi tiết vượt tổng
dự toán; vận dụng sai định mức, đơn giá, xác định giá đối với những công việc chưa có quy định về giá thiếu căn cứ
- Công tác đấu thầu: Hồ sơ mời thầu không đầy đủ, rõ ràng, chi tiết; phê duyệt hồ
sơ và kế hoạch đấu thầu không đúng thẩm quyền, không đủ số lượng nhà thầu tham dự tối thiểu, không chấp hành quy định về thời gian; mở thầu không đủ thành phần; xét thầu không công bằng, thiếu cơ sở
- Hợp đồng thi công không chặt chẽ, đầy đủ, đúng quy định
- Khối lượng phát sinh không có thiết kế, dự toán phê duyệt bổ sung, sửa đổi
- Thi công sai thiết kế được duyệt
- Không chấp hành đúng quy định về giám sát thi công, giám sát quyền tác giả của
- Hồ sơ nghiệm thu tổng thể không đầy đủ
- Hồ sơ hoàn công không đầy đủ, không đúng với thực tế
- Báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành chưa lập hoặc lập không đầy đủ, không đúng quy định
- Các thông tin, thông số làm căn cứ lập dự án đầu tư không phù hợp: các chỉ số kỹ thuật, các tiêu chuẩn kỹ thuật không phù hợp
Trang 26- Chưa xem xét tất cả các phương án đầu tư có thể có sự lựa chọn tối ưu
- Lựa chọn giải pháp xây dựng chưa lưu ý đến sự lạc hậu về công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Dự toán bị cắt giảm một cách không có căn cứ trong quá trình thẩm định và phê duyệt, sau này phải duyệt bổ sung
- Dự toán chi phí phát sinh được lập muộn, thậm chí khi đã thi công xong hạng mục, vì vậy không có tác dụng đối với việc quản lý chi phí
- Tiến độ bị kéo dài do nguyên nhân chủ quan, khách quan
- Do giám sát không chặt chẽ nên không phát hiện kịp thời các hạng mục có khiếm khuyết kỹ thuật, sử dụng nguyên vật liệu kém chất lượng
- Khi nghiệm thu các hạng mục phát hiện ra khiếm khuyết nhưng không kiên quyết yêu cầu đơn vị thi công khắc phục ngay
- Về đơn giá:
+ Áp dụng sai giá khu vực, giá trúng thầu hoặc đơn giá công trình
+ Áp dụng sai hệ số vận chuyển, hệ số điều chỉnh giá
+ Vật tư đưa vào công trình không đúng chủng loại quy định
+ Tính sai khối lượng vật liệu được tính chênh lệch do áp dụng sai định mức
+ Áp dụng sai thời điểm được tính chênh lệch giá
1.3.4 Phân tích và đánh giá
Qua các phân tích trên cho thấy tổng mức đầu tư xây dựng công trình tăng do 2 nhóm yếu tó rủi ro như sau:
- Rủi ro liên quan công nghệ: Thể hiện nhóm chi phí xây dựng
- Rủi ro liên quan tài chính: Thể hiện ảnh hưởng lạm phát không đủ năng lực vốn
để giải ngân
1.3.4.1 Rủi ro liên quan công nghệ
Liên quan nhóm công nghệ, ví dụ ở công trình Cửa Đạt do thiết kế đập đá đổ nên khối lượng khai thác đá rất lớn (trên 10 triệu m3) dẫn đến lượng thuốc nổ quá lớn (vài trăm nghìn tấn), trong nước không sản xuất đủ, phải mua ở nước ngoài Do đó khi thay đổi tỉ giá ngoại tệ nên giá trị tăng lên
Trang 27Trong những sai sót trên, có những việc thuộc về rủi ro như các chỉ số kỹ thuật Trong quá trình thực hiện dự án cụ thể sẽ được xem xét, ví dụ tràn thi công hồ chứa Cửa Đạt bị sự cố phần nào do lũ về nhanh quá so với thiết kế
1.3.4.2 Rủi ro liên quan tài chính
a) Trượt giá vật liệu xây dựng
Đây là rủi ro phổ biến nhất, liên quan chặt chẽ đến tiến độ thi công
b) Nguồn vốn không ổn định
Hiện ngay Nhà nước vẫn đang thực hiện phương châm “Nhà nước và Nhân dân cùng làm”, kết quả là vốn đầu tư xây dựng công trình được quy định theo rất nhiều nguồn vốn, có thể kể ra một số nguồn vốn như: Ngân sách tài chính hàng năm, đây là nguồn ổn định nhất, song chỉ đảm bảo ở mức thấp nhất từ 30% ~ 60%; nguồn thứ hai là trái phiếu Chính phủ, nguồn này cũng ổn định nhưng lệ thuộc vào kỳ phát hành trong năm; nguồn thứ ba là vay tín dụng có bảo lãnh của Chính phủ thì lãi suất cho vay thấp, tối đa 20%; nguồn thứ tư là vay tín dụng có thế chấp, lãi suất rất cao cũng tùy theo năm nếu không thanh toán Ngoài ra còn vốn ODA song rất khó giải ngân Như vậy các nguồn vốn không
ổn định, giải ngân chậm, lãi suất vay cao, tiến độ bị kéo dài dẫn đến phải điều chỉnh tổng mức đầu tư nhiều lần
1.4 K ết luận chương 1
Tổng mức đầu tư xây dựng công trình thường chịu tác động của 2 nhóm rủi ro như yếu tố kỹ thuật và yếu tố tài chính Hậu quả là khi thực hiện dự án tổng mức đầu
tư xây dựng công trình thường phải điều chỉnh nhiều lần và chi phí tăng lên
Trong xây dựng đường giao thông khối lượng đào đất đá là chủ yếu, vì thế việc tính toán chính xác chi phí tiềm ẩn khó có thể định lượng chính xác Trong đó điều
kiện địa chất thi công, công tác giải phóng mặt bằng, kế hoạch vốn đóng vai trò rất
lớn, địa chất quyết định quy mô, tiến độ công trình vì thế từng bước nghiên cứu phát triển để lường trước các yếu tố địa chất có thể ảnh hưởng đến quản lý chi phí của Nhà
thầu
Như vậy, để xác định những rủi ro ta phải xem xét ảnh hưởng các yếu tố địa
chất và công tác giải phóng mặt bằng
Trang 28CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ RỦI RO VÀ
XÂY D ỰNG CHI PHÍ RỦI RO TRONG XÂY DỰNG 2.1 Phương pháp đánh giá rủi ro
2.1.1 Nội dung hoạt động xây dựng
Theo luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 thì nội dung hoạt động xây
dựng gồm:
- Khảo sát xây dựng
- Thiết kế xây dựng công trình
- Giấy phép xây dựng công trình
- Giải phóng mặt bằng xây dựng công trình
- Thi công xây dựng công trình
- Giám sát thi công xây dựng công trình
- Lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng
- Hợp đồng trong hoạt động xây dựng
- Quản lý nhà nước về xây dựng
- Khen thưởng và xử lý vi phạm xây dựng
2.1.2 Những hạng mục có khả năng rủi ro
Thường xảy ra ở hạng mục phần móng, phần ngầm các loại công trình:
Hạng mục các công trình bị che khuất, ví dụ: Phần hầm, trụ cầu, nền đường của công trình giao thông, san lấp mặt bằng của công trình hạ tầng kỹ thuật, đê đập của công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn… Ví dụ công trình chống lũ Na Hang (Tuyên Quang) thì hạng mục rủi ro lớn như sau: Đổ bê tông dầm khung ô lắp ghép cấu
kiện sai ở chỗ sắt đai thiết kế buộc theo khoảng cách 20 cm, nhưng thực tế khoảng cách buộc của đơn vị thi công là 29 đến 30 cm Hoặc là theo thiết kế dầm dày 35 cm, nhưng khi thi công có chỗ chỉ dày 25cm thì sẽ dễ gãy khi chịu tải lúc có mưa lớn…
phần móng kè cũng có những vấn đề về kỹ thuật như không có bản vẽ thiết kế bổ sung nhưng đơn vị thi công cứ làm theo thực tế nên không thể đảm bảo Hiện nay phần móng, tường chân kè bị nước sông ngập hết… và nhiều vấn đề khác Ngoài ra rủi ro về tài chính như ảnh hưởng của lạm phát làm tăng giá lên về vật liệu, nhân công, vật tư;
Trang 29thay đổi tỉ giá ngoại tệ với nước ngoài (giá mua thiết bị tăng lên); chính sách thay đổi
tỷ lệ lãi suất vay và thời hạn vay khiến chủ đầu tư không đủ vốn để tiếp tục đầu tư xây
dựng
2.1.3 Các rủi ro ở khâu tiến hành tổ chức thi công xây dựng
Rủi ro do các yếu tố ngẫu nhiên tác động từ bên ngoài
- Rủi ro do các yếu tố ngẫu nhiên như môi trường, khí hậu: Do đặc điểm của ngành xây dựng chủ yếu là sản xuất ngoài trời trong thời gian dài nên các yếu tố thời
tiết, khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian thực hiện công trình, chất lượng và chi phí của dự án
- Rủi ro do những biến động bất ngờ của thị trường: Xây dựng là một trong những ngành kinh tế quan trọng và chiếm một lượng vốn đầu tư rất lớn của nền kinh tế quốc dân
Những biến động lớn và bất ngờ của thị trường trong và ngoài nước ảnh hưởng rất lớn đến các dự án xây dựng Các biến động này đem theo các rủi ro về mặt tài chính đối với dự án đồng thời ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án
2.1.4 Rủi ro do các nguyên nhân xuất phát từ các chính sách, cơ chế tài chính
- Rủi ro do sự thay đổi chính sách thuế làm thay đổi các khoản thu nhập cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
- Rủi ro do sự thay đổi hạn ngạch, thuế quan hoặc các giới hạn thương mại khác
- Rủi ro do sự thay đổi các quy định về quản lý và tuyển dụng lao động như thay đổi quy định mức lương tối thiểu, thay đổi chế độ làm việc (như thời gian làm
việc trong ca, số ngày làm việc trong tuần …)
- Rủi ro do sự thay đổi chính sách tiền tệ
- Trong thời gian thực hiện dự án, Chính phủ có thể đưa ra nhiều biện pháp sử
dụng lãi suất để quản lý và kiểm soát lạm phát và vấn đề này có thể làm phát sinh rủi
ro đối với các tổ chức tham gia thực hiện dự án
Rủi ro do sự thay đổi các quy định khác của Chính phủ về việc tài trợ hoặc bảo
trợ cho một ngành nào đó có quyền phát triển hoặc cơ hội kinh doanh; rủi ro do những quy định liên quan đến việc kiểm soát chất thải, quy trình sản xuất để bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe người lao động …
Trang 302.1.5 Đánh giá mức độ rủi ro
Việc đánh giá mức độ rủi ro là dựa trên thống kê số liệu thực tế mà tổng mức đầu tư bị tăng lên, và tính theo xác suất để lượng hóa mức độ rủi ro của từng yếu tố Trong đó tùy thuộc vào nguồn vốn đầu tư, kiến trúc quy hoạch và tổng giá trị dự án công trình Để đánh giá mức độ rủi ro cụ thể tác giả trình bày như sau:
Có 2 mức độ xem xét theo định nghĩa của quốc tế:
+ Rủi ro: là tập hợp các tần suất xuất hiện các biến cố ngoài ý muốn con người
Những điều vừa nêu có thể trình bày công thức và hình 1 dưới đây:
Rủi ro = khả năng gây nguy hiểm x hậu quả của nguy hiểm
Hình 2.1 M ối quan hệ giữa nguy hiểm và rủi ro
(Nguồn: PGS.TS Nguyễn Bá Kế: Hội cơ học đất và Địa kỹ thuật Việt Nam)
Các rủi ro trong xây dựng công trình cần dựa vào điều kiện tự nhiên, xã hội và năng lực của các bên liên quan mà có thể dự báo, theo dõi và quản lý theo sơ đồ như ở hình 2.2
Một số nguy hiểm khi xây dựng công trình là:
Tần suất xác su ất
Rủi ro Hậu quả
Trang 314 Sự liên quan đến bên thứ 3;
2 Những tình huống bất lợi không ngờ;
3 Thiết kế, chỉ dẫn kỹ thuật và kế hoạch không thích đáng;
4 Hư hỏng các thiết bị chủ yếu;
5 Không theo tiêu chuẩn, chậm chạp hoặc sai lệch không cho phép
Nhiệm vụ của phân tích rủi ro là nhận diện từ các nguy hiểm, xác suất xuất hiện
và hậu quả của chúng về mặt định tính và định lượng, thường xảy ra ở các khâu sau:
Chấp nhận
rủi ro
Trang 32- Những nguy hiểm liên quan đến tài chính;
- Sự chấp nhận của cộng đồng (xã hội) đối với công trình;
- Sự thay đổi/biến động điều kiện đất nền;
- Những nguy hiểm liên quan công nghệ thi công;
- Những nguy hiểm liên quan giao dịch hợp đồng;
- Những nguy hiểm liên quan môi trường;
- Những nguy hiểm liên quan vận hành khai thác
Ví dụ: Khi xem xét việc đánh giá dự án công trình giao thông gặp các nguy hiểm sau:
a Điều kiện địa chất công trình;
b Phương pháp/ công nghệ xây dựng: Phương pháp thủ công hay bằng máy;
c Biện pháp xử lý nền;
d Chuyển vị và lún của đất ở trên mặt ảnh hưởng đến công trình lân cận và ở dưới sâu ảnh hưởng đến công trình trên mặt đất;
e Bảo vệ môi trường (bụi, ồn, chấn động, giao thông…);
f Chi phí phát sinh, sức khỏe, an toàn và kế hoạch khác có quan hệ với dự án;
g Nguy hiểm của vật liệu dùng như hóa chất có ảnh hưởng đến sức khỏe và độ
bền lâu của công trình;
i Các nhân tố đặc biệt khác có tính chất địa phương, địa chất, môi trường
Từ những nguy hiểm trên có thể sinh ra các rủi ro cần phải được đánh giá định tính và định lượng
Khi đánh giá định tính cần phân tích để nhận dạng rủi ro, phân loại theo tần suất,
hậu quả và mức độ rủi ro từ các nguy hiểm được nhận dạng, chỉ ra các biện pháp giảm thiểu rủi ro, tư liệu hóa công tác quản lý rủi ro bằng cách ghi chép các rủi ro ấy
Khi đánh giá định lượng rủi ro (ví dụ) phải chỉ ra được và chọn các rủi ro lường được thiệt hại, có thể dựng được biểu đồ thể hiện tuần suất và hậu quả ít nhất và nhiều
nhất (tối thiểu và tối đa) thiệt hại do rủi ro gây ra, tính toán và biểu diễn biểu đồ phân
bố rủi ro
Để đánh giá và lượng hóa tiêu chí đánh giá người ta dùng các bảng dưới đây:
Trang 33B ảng 2.1 Tần suất của hậu quả trong giai đoạn thi công
(Nguồn: PGS.TS Nguyễn Bá Kế: Hội cơ học đất và Địa kỹ thuật Việt Nam)
B ảng 2.2 Bảng phân cấp nguy hiểm và phân loại rủi ro
(Nguồn: PGS.TS Nguyễn Bá Kế: Hội cơ học đất và Địa kỹ thuật Việt Nam)
Ma tr ận rủi ro Thảm khốc Khốc liệt H ậu quả Nghiêm
trọng Đáng kể
Không đáng kể
muốn
Không mong
muốn
Không mong
Trang 34B ảng 2.3 Phân loại rủi ro
(Nguồn: PGS.TS Nguyễn Bá Kế: Hội cơ học đất và Địa kỹ thuật Việt Nam)
Phân lo ại rủi ro Ví d ụ tác động cho từng cấp
Không chấp nhận Phải giảm rủi ro ít nhất đến cấp không
mong muốn theo quan điểm giá cả Không mong muốn Các biện pháp giảm thiểu rủi ro phải xác
định Các biện pháp này phải được thực hiện tuy không phải tỷ lệ nghịch với sự giảm thiểu rủi ro đạt được
trong suốt dự án Không bắt buộc phải xem xét giảm thiểu
rủi ro
nguy hiểm Trình bày chi tiết những thành phần chi phí theo Nghị định 32/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2015 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng có rủi ro trong việc quản lý thực hiện
dự án như sau:
1 Chi phí xây dựng gồm chi phí phá dỡ các công trình xây dựng, chi phí san
lấp mặt bằng xây dựng, chi phí xây dựng các công trình, hạng mục công trình, xây
dựng công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công Rủi ro trong chi phí này là
việc tăng giá vật liệu, chi phí nhân công
2 Chi phí thiết bị gồm chi phí mua sắm thiết bị công trình và thiết bị công nghệ; chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ (nếu có); chi phí lắp đặt, thí nghiệm,
hiệu chỉnh; chi phí vận chuyển, bảo hiểm; thuế và các loại phí, chi phí liên quan khác Trong đó Chi phí thiết bị được tính cho công trình, hạng mục công trình bao gồm: chi phí mua sắm thiết bị công nghệ (kể cả thiết bị công nghệ cần sản xuất, gia công); chi
Trang 35phí đào tạo và chuyển giao công nghệ; chi phí lắp đặt và thí nghiệm, hiệu chỉnh thiết bị
và các chi phí khác có liên quan Chi phí mua sắm thiết bị bao gồm: giá mua (kể cả chi phí thiết kế và giám sát chế tạo), chi phí vận chuyển từ cảng hoặc nơi mua đến công trình, chi phí lưu kho, lưu bãi (đối với các thiết bị nhập khẩu), chi phí bảo quản, bảo dưỡng tại kho bãi ở hiện trường, thuế và phí bảo hiểm thiết bị công trình
Rủi ro trong chi phí này là việc thay đổi tỉ giá ngoại tệ nên giá bán thiết bị từ nước ngoài cũng thay đổi theo (rủi ro thị trường)
3 Chi phí quản lý dự án gồm các chi phí để tổ chức thực hiện các công việc
quản lý dự án từ giai đoạn chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng
4 Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng gồm chi phí tư vấn khảo sát, lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có), lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, lập Báo cáo kinh tế -
kỹ thuật, chi phí thiết kế, chi phí tư vấn giám sát xây dựng công trình và các chi phí tư
vấn khác liên quan
5 Chi phí khác của công trình gồm chi phí hạng mục chung như quy định
Đối với các dự án có nhiều công trình thì chi phí khác của dự toán công trình không bao gồm chi phí rà phá bom mìn, vật nổ, chi phí kiểm toán, thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư, chi phí nghiên cứu khoa học công nghệ liên quan đến dự án;
vốn lưu động ban đầu đối với các dự án đầu tư xây dựng nhằm mục đích kinh doanh, lãi vay trong thời gian xây dựng;
Rủi ro trong nhóm này là thay đổi chính sách dẫn đến thay đổi định mức các chi phí
5 Chi phí dự phòng bao gồm: Chi phí dự phòng cho yếu tố khối lượng công
việc phát sinh chưa lường trước được và chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá trong
thời gian xây dựng công trình
Rủi ro trong nhóm này là khi thiết kế công nghệ phải thay đổi, dẫn đến thay đổi
loại vật liệu, khối lượng
6 Đối với dự án có nhiều công trình xây dựng, chủ đầu tư có thể xác định tổng
dự toán của dự án để phục vụ cho việc quản lý chi phí Tổng dự toán của dự án được
Trang 36xác định bằng cách cộng các dự toán chi phí của các công trình và các chi phí có liên quan thuộc dự án
7 Đối với dự án sử dụng vốn ODA, dự toán công trình có thể được xác định
bằng dự toán các gói thầu đấu thầu quốc tế, dự toán các gói thầu đấu thầu trong nước
và dự toán các phần việc không tổ chức đấu thầu Tùy theo yêu cầu và phạm vi đấu
thầu, dự toán các gói thầu chỉ bao gồm chi phí xây dựng hoặc bao gồm cả chi phí xây
dựng, chi phí thiết bị và chi phí khác phân bổ cho từng gói thầu
Đối với dự án nghiên cứu thì tác giả chọn tất cả các chi phí trên để đưa vào tổng
để đánh giá mức độ rủi ro trong các dự án cụ thể
Khi ước tính chi phí có xét đến rủi ro đều liên quan đến xác suất xuất hiện rủi ro (xác suất xuất hiện không rủi ro) và được tính toán bằng cách nhân chi phí với xác suất
của sự xuất hiện của một sự kiện cụ thể:
B
P q q
C
P q q
=
∑ (2.2)
Trong đó: q= 1, m thể hiện sự cố có khả năng xảy ra
Bt/q và Ct/q là chi phí bình thường và chi phí rủi ro trong giai đoạn t do sự xuất
hiện của q
Trang 37E[Bt] và E[Ct] là chi phí bình thường và chi phí rủi ro trong giai đoạn
Khi áp dụng lý thuyết xác suất để phân tích rủi ro ta sử dụng công cụ chủ yếu:
Mô phỏng rủi ro, các tiêu chuẩn ra quyết định bỏ giá trong môi trường rủi ro, các quy
tắc để lựa chọn dự trong môi trường rủi ro Sau khi mô phỏng rủi ro ta sử dụng các tiêu chuẩn và quy tắc để lựa chọn và ra quyết định trong môi trường rủi ro
2.2.2 Phương pháp xác định chi phí rủi ro
Ct - tổng chi phí khi xét đến cả rủi ro và không rủi ro
C1 – Chi phí khi không rủi ro
C2 – Chi phí khi có rủi ro
P – Xác suất định lượng, (%) theo thực tế thi công
(1 – P) – Xác suất định lượng không gặp rủi ro (%)
Công thức tính xác suất P xảy ra sạt lở:
B ảng 2.4 Bảng xác định xác suất P xảy ra sạt lở Tên công trình Kh ối lượng bê tông bị sạt lở (m3) -
Trang 382.2.2.2 Chi phí xây d ựng trong điều kiện bình thường
Tổng mức đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước bao gồm:
* Tính theo khối lượng và giá xây dựng công trình
a Chi phí vật liệu, nhân công, máy thi công trong chi phí trực tiếp được xác định theo khối lượng và đơn giá xây dựng công trình hoặc giá xây dựng tổng hợp của công trình Khối lượng các công tác xây dựng được xác định từ bản vẽ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công, nhiệm vụ công việc phải thực hiện của công trình,
hạng mục công trình phù hợp với danh mục và nội dung công tác xây dựng trong đơn giá xây dựng công trình, giá xây dựng tổng hợp của công trình
Chi phí trực tiếp khác được tính bằng tỉ lệ phần trăm (%) trên tổng chi phí vật
liệu, chi phí nhân công, chi phí máy thi công tùy theo đặc điểm, tính chất của từng loại công trình
Đối với các công trình sử dụng vốn ODA đấu thầu quốc tế, chi phí trực tiếp khác được lập thành một khoản mục riêng thuộc chi phí xây dựng và được xác định
bằng dự toán hoặc định mức tỷ lệ tùy theo đặc điểm cụ thể của từng công trình và yêu
cầu của việc tổ chức đấu thầu quốc tế
Trang 39b Chi phí chung được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí trực tiếp hoặc
bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí nhân công trong dự toán theo quy định đối với
từng loại công trình
Trong trường hợp cần thiết nhà thầu thi công công trình phải tự tổ chức khai thác và sản xuất các loại vật liệu cát, đá để phục vụ thi công xây dựng công trình thì chi phí chung tính trong giá vật liệu bằng tỷ lệ 2,5% trên chi phí nhân công và máy thi công
Đối với các công trình sử dụng vốn ODA đấu thầu quốc tế thì chi phí chung được xác định bằng định mức tỷ lệ hoặc bằng dự toán hoặc theo thông lệ quốc tế
c Thu nhập chịu thuế tính trước được tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) trên chi phí
trực tiếp và chi phí chung theo quy định đối với từng loại công trình
Trường hợp cần thiết phải tự tổ chức khai thác và sản xuất các loại vật liệu cát,
đá để phục vụ thi công xây dựng công trình thì thu nhập chịu thuế tính trước tính trong giá vật liệu bằng 3% trên chi phí trực tiếp và chi phí chung
d Thuế giá trị gia tăng cho công tác xây dựng áp dụng theo quy định hiện hành
e Chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công
* Tính theo khối lượng hao phí vật liệu, nhân công, máy thi công và bảng giá tương ứng
a Chi phí vật liệu, nhân công, máy thi công trong chi phí trực tiếp có thể xác định theo khối lượng hao phí vật liệu, nhân công, máy thi công và bảng giá tương ứng
Tổng khối lượng hao phí các loại vật liệu, nhân công, máy thi công được xác định trên
cơ sở hao phí vật liệu, nhân công, máy thi công cho từng khối lượng công tác xây
dựng của công trình, hạng mục công trình
b Cách xác định chi phí trực tiếp khác, chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trước, thuế giá trị gia tăng, chi phí nhà tạm tại hiện trường để ở và điều hành thi công như hướng dẫn trên
* Tính trên cơ sở công trình có các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật tương tự đã và đang thực hiện
Trang 40Chi phí xây dựng của các công trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ thi công, các công trình thông dụng, đơn giản có thể được xác định dựa trên cơ sở chi phí xây
dựng của các công trình có chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật tương tự đã và đang thực hiện và quy đổi các khoản mục chi phí theo địa điểm xây dựng và thời điểm lập dự toán Các công trình có chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật tương tự là những công trình xây dựng có cùng
loại, cấp công trình, quy mô, công suất của dây chuyền thiết bị, công nghệ (đối với công trình sản xuất) tương tự nhau
* Tính theo suất chi phí xây dựng trong suất vốn đầu tư xây dựng công trình Chi phí xây dựng đối với các công trình nêu trên cũng có thể xác định trên cơ
sở diện tích hoặc công suất sử dụng và suất chi phí xây dựng trong suất vốn đầu tư xây
dựng công trình
Đối với các công trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ thi công, nhà tạm tại
hiện trường để ở và điều hành thi công, các công trình đơn giản, thông dụng khác thì chi phí xây dựng của các công trình trên có thể được xác định bằng định mức chi phí
tỷ lệ
2 Xác định chi phí thiết bị:
* Chi phí mua sắm thiết bị được xác định theo một trong các cách dưới đây:
- Đối với những thiết bị đã xác định được giá có thể tính theo số lượng, chủng
loại từng loại thiết bị hoặc toàn bộ dây chuyền công nghệ và giá một tấn, một cái hoặc toàn bộ dây chuyền thiết bị tương ứng
- Đối với những thiết bị chưa xác định được giá có thể dự tính báo giá của nhà cung cấp, nhà sản xuất hoặc giá những thiết bị tương tự trên thị trường tại thời điểm tính toán hoặc của công trình có thiết bị tương tự đã và đang thực hiện
Đối với các thiết bị công nghệ cần sản xuất, gia công thì chi phí này được xác định trên cơ sở khối lượng thiết bị cần sản xuất, gia công và giá sản xuất, gia công một
tấn (hoặc một đơn vị tính) phù hợp với tính chất, chủng loại thiết bị theo hợp đồng sản
xuất, gia công đã được ký kết hoặc căn cứ vào báo giá gia công sản phẩm của nhà sản
xuất được chủ đầu tư lựa chọn hoặc giá sản xuất, gia công thiết bị tương tự của công trình đã và đang thực hiện