Do vậy công tác Quản lý chất lượng công trình xây dựng thực chất là công tác giám sát, đây là nhiệm vụ của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao
Trang 1B ẢN CAM ĐOAN
Đề tài luận văn thạc sĩ kỹ thuật “Nghiên cứu xây dựng hệ thống quản lý chất lượng công trình xây d ựng cho dự án cải tạo, nâng cấp và mở rộng mặt đê hữu sông Phó Đáy”, của học viên đã được Nhà trường giao nghiên cứu theo quyết định số 1321/QĐ-
ĐHTL ngày 10/8/2015 của Trường Đại học Thủy Lợi
Học viên xin cam đoan công trình nghiên cứu trên là của riêng học viên Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Kết quả nêu trong luận văn
là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
Hà N ội, ngày 18 tháng 08 năm 2016
Học viên
NGUY ỄN TRUNG HUY
Trang 2Học viên xin trân trọng cảm ơn thầy giáo PGS.TS Nguyễn Quang Cường đã trực tiếp
hướng dẫn, giúp đỡ để học viên hoàn thành tốt nhiệm vụ của luận văn đặt ra
Học viên cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Ban giám hiệu trường Đại học Thủy Lợi; các thầy cô giáo trong Khoa Công trình, Bộ môn Công nghệ và
Quản lý xây dựng đã giảng dạy, hướng dẫn tận tình học viên trong suốt quá trình học
tập tại trường và đã tạo điều kiện để học viên hoàn thành tốt luận văn này Cuối cùng,
học viên xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã giúp đỡ, động viên, khích lệ trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn, chắc chắn khó tránh khỏi những sai sót Học viên mong muốn nhận được sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn nữa
Xin chân thành cảm ơn!
Hà N ội, ngày 18 tháng 08 năm 2016
Học viên
NGUY ỄN TRUNG HUY
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH 3
1.1 Tình hình xây dựng nói chung và trong khu vực nghiên cứu 3
1.1.1 Tình hình xây dựng trên thế giới hiện nay 3
1.1.2 Tình hình xây dựng tại Việt Nam hiện nay 3
1.1.3 Tình hình xây dựng tại Vĩnh Phúc 4
1.2 Tổng quan về chất lượng công trình và quản lý chất lượng công trình 5
1.2.1 Khái niệm về công trình xây dựng, dự án đầu tư xây dựng 5
1.2.2 Chất lượng công trình xây dựng 6
1.2.3 Tổng quan về quản lý chất lượng 8
1.2.4 Tổng quan về hệ thống quản lý chất lượng 9
1.2.5 Quản lý chất lượng công trình xây dựng 10
1.2.6 Nội dung cơ bản của hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng 10
1.2.7 Ý nghĩa của việc nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng 13
1.3 Các vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng công trình 14
1.3.1 Yếu tố chủ quan 14
1.3.2 Yếu tố khách quan 15
1.4 Những tồn tại, bất cập trong quản lý chất lượng công trình 16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 19
CHƯƠNG 2 CÁC CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH ĐÊ ĐIỀU 20
2.1 Đặc điểm công trình đê điều 20
2.1.1 Giới thiệu chung 20
2.1.2 Đặc điểm hệ thống đê sông Việt Nam 22
Trang 42.1.3 Mặt cắt ngang đặc trưng của đê sông 23
2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng công trình đê điều 24
2.2.1 Những ảnh hưởng bất lợi 25
2.2.2 Những ảnh hưởng tích cực 25
2.3 Cơ sở khoa học và pháp lý trong quản lý chất lượng công trình đê điều 25
2.3.1 Những căn cứ pháp lý để quản lý chất lượng công trình 26
2.3.2 Trách nhiệm cụ thể về quản lý chất lượng công trình 37
2.3.3 Quy định, yêu cầu trong giai đoạn thi công xây dựng công trình đê điều 41
2.4 Nội dung hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng theo các giai đoạn của dự án 53
2.5 Các hình thức quản lý dự án đê điều 54
2.5.1 Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án 54
2.5.2 Chìa khóa trao tray 56
2.5.3 Chủ nhiệm điều hành dự án 57
2.5.4 Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CHO DỰ ÁN CẢI TẠO, NÂNG CẤP MỞ RỘNG MẶT ĐÊ HỮU SÔNG PHÓ ĐÁY 60
3.1 Giới thiệu chung về dự án 60
3.1.1 Vị trí địa lý vùng công trình trong bản đồ tỉnh Vĩnh Phúc 60
3.1.2 Sự cần thiết phải đầu tư và mục tiêu chính của dự án 61
3.1.3 Quá trình xây dựng và nghiên cứu lập dự án 62
3.2 Đặc thù và các nhân tố ảnh hưởng chất lượng dự án 63
3.2.1 Đặc điểm kỹ thuật của dự án 63
3.2.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo khu vực xây dựng 64
3.2.3 Đặc điểm khí tượng thủy văn 65
3.2.4 Các vấn đề về dân sinh, kinh tế 65
3.2.5 Cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội 66
3.3 Hiện trạng công tác quản lý chất lượng dự án của Chủ đầu tư 66
3.3.1 Mô hình quản lý chất lượng của Chủ đầu tư (Chi cục Đê điều và PCLB tỉnh Vĩnh Phúc) 66
Trang 53.3.2 Công tác quản lý dự án 69
3.3.3 Tình hình xử lý, phản hồi thông tin 71
3.3.4 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện dự án 71
3.3.5 Đánh giá công tác quản lý chất lượng của dự án 72
3.4 Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng của Chủ đầu tư cho dự án 75
3.4.1 Mô hình Ban quản lý dự án của Chủ đầu tư 75
3.4.2 Quy trình quản lý dự án của Ban QLDA 77
3.4.3 Hệ thống quản lý chất lượng của Ban QLDA trong giai đoạn thi công và mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia 86
3.4.4 Quy trình quản lý chất lượng thi công công trình cải tạo, nâng cấp mặt đê hữu sông Phó Đáy của Ban QLDA 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 106
Trang 6DANH M ỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Chất lượng công trình xây dựng 6
Hình 2.1 Một cảnh đắp đê thời Trần 21
Hình 2.2 Các đê sông trong vùng đồng bằng sông Hồng 22
Hình 2.3 Mặt cắt ngang đặc trưng của đê sông 24
Hình 2.4 Quản lý chất lượng theo các giai đoạn dự án đầu tư xây dựng công trình 53
Hình 2.5 Hình thức QLDA Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án 56
Hình 2.6 Hình thức QLDA Chìa kháo trao tay 57
Hình 2.7 Hình thức QLDA Chủ nhiệm điều hành dự án 58
Hình 2.8 CĐT thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án 59
Hình 3.1 Vị trí vùng công trình trong bản đồ tỉnh Vĩnh Phúc 61
Hình 3.2 Mặt cắt ngang điển hình tuyến đê hữu sông Phó Đáy 63
Hình 3.3 Mô hình quản lý chất lượng hiện trạng của Chủ đầu tư 67
Hình 3.4 Mô hình tổ chức Ban Quản lý dự án hiện trạng của Chủ đầu tư 67
Hình 3.5 Mô hình Ban QLDA đề xuất của Chủ đầu tư 77
Hình 3.6 Quy trình quản lý chất lượng 78
Hình 3.7 Hệ thống quản lý chất lượng của Ban QLDA 88
Hình 3.8 Hệ thống quản lý chất lượng thi công công trình đê điều của Ban QLDA 94
Trang 7DANH M ỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Cơ sở pháp lý áp dụng để thi công 41
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ
QLDAĐT Quản lý dự án đầu tư
Trang 9M Ở ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Chất lượng công trình và công tác quản lý chất lượng công trình luôn là vấn đề được đặc biệt coi trọng trong bối cảnh các công trình xây dựng hiện nay đang ngày càng lớn
về quy mô, nhiều về số lượng và có độ phức tạp ngày càng cao Công trình xây dựng
là một sản phẩm có tính đơn chiếc và không cho phép có phế phẩm bởi vì chất lượng công trình không chỉ liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an toàn cộng đồng,
hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình mà còn là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Chất lượng công trình xây dựng không chỉ đảm
bảo an toàn về mặt kỹ thuật mà còn phải thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng có
chứa đựng các yếu tố xã hội và kinh tế Ở Việt Nam nói riêng cũng như trên thế giới nói chung, chất lượng công trình luôn là mục tiêu hướng tới của pháp luật về xây
dựng
Hiện tại hệ thống văn bản pháp luật về xây dựng và quản lý chất lượng xây dựng đã tương đối hoàn chỉnh nhưng do vận dụng văn bản chưa chính xác vì vậy người thực
hiện khó thực thi đúng dẫn đến không đảm bảo được chất lượng công trình Chính vì
thế, đề tài: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng cho d ự án Cải tạo, nâng cấp mở rộng mặt đê hữu sông Phó Đáy” là sự cần thiết nhằm
tăng cường quản lý chất lượng công trình từ các khâu khảo sát, thiết kế, xây lắp, nghiệm thu bàn giao, bảo hành xây lắp, bảo trì từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng công trình
2 M ục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng cải tạo nâng
cấp công trình đê điều từ đó có thể áp dụng trong thực tiễn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công trình xây dựng
Phạm vi nghiên cứu là quản lý chất lượng công trình xây dựng
Trang 104 Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận: Dựa trên cơ sở khoa học về quản lý chất lượng và tiếp cận thực tiễn công trình xây dựng
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích, kế thừa các nghiên cứu trước đây;
- Phương pháp nghiên cứu lí luận;
- Phương pháp so sánh, đánh giá;
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia và một số phương pháp khác liên quan
5 K ết quả dự kiến đạt được
Phân tích và áp dụng được cơ sở khoa học và pháp lý trong quản lý chất lượng công trình
Xây dựng được hệ thống quản lý chất lượng công trình cho dự án Cải tạo, nâng cấp
mở rộng mặt đê hữu sông Phó Đáy
Trang 11CHƯƠNG 1 T ỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH VÀ
tới tỷ suất lợi nhuận gộp của các doanh nghiệp
Tình hình chỉ mới được cải thiện trong những năm gần đây, do đó biên lợi nhuận của các doanh nghiệp chưa thể cải thiện trong ngắn hạn Tại khu vực Châu Âu, do tác động
của khủng hoảng kinh tế, biên lợi nhuận gộp của các nước Đức và Nga đã giảm mạnh trong giai đoạn 2011-2013 Còn ở Việt Nam do tác động của thị trường Bất Động Sản đóng băng, lợi nhuận trong lĩnh vực dân dụng cũng đã giảm từ 10% xuống còn 5% trong năm 2013 Ấn Độ là nước cải thiện nhiều nhất với biên lãi gộp lên tới 16% mức cao nhất trong các nước khảo sát, do những chính sách đổi mới và cải cách kinh tế của chính phủ hiện tại
Tình hình xây d ựng tại Việt Nam hiện nay
1.1.2
Sự phát triển của ngành Xây Dựng phụ thuộc nhiều vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và các chính sách vĩ mô Với vai trò là ngành hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế, tăng trưởng của ngành xây dựng phụ thuộc vào các yếu tố như tốc độ đô thị hóa, vốn đầu tư FDI, lãi suất cho vay và lạm phát Bên cạnh đó, xây dựng cũng là lĩnh vực tạo nên nền tảng cho phát triển cho những ngành khác và nền kinh tế nói chung Do đó,
việc chính phủ luôn duy trì một mức giải ngân vào lĩnh vực xây dựng, đặc biệt là cơ sở
hạ tầng Ngoài các chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ cũng có tác động trực tiếp tới ngành xây dựng Như trong giai đoạn 2011-2013, chính sách thắt chặt tiền tệ đã đẩy lãi
suất cho vay lên mức trên 20%/năm, khiến cho nguồn vốn đổ vào đầu tư xây dựng
giảm mạnh Do đó, chu kỳ của ngành xây dựng cũng chịu tác động mạnh từ chu kỳ
Trang 12của tăng trưởng kinh tế ước tính kéo dài khoảng 3-10 năm Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng của ngành sẽ có một độ lệch nhất định so với tốc độ tăng trưởng GDP
Trong giai đoạn 2016-2020, nhu cầu về đầu tư cho giao thông đường bộ khoảng 202,000 tỷ/năm và cho ngành điện là khoảng 125,000 tỷ/năm Do đó, áp lực về vốn đầu tư là rất lớn trong thời gian sắp tới Vì vậy, nếu những nổ lực cải thiện khung pháp
lý cho hình thức PPP phát huy tác dụng, thì việc thu hút vốn đầu tư tư nhân sẽ được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành xây dựng nói chung
Hiện nay, trên cả nước đang triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới Nhờ đó
mà giao thông nông thôn đang có những bước phát triển nhảy vọt, các con đường về thôn, xóm được nâng cấp chất lượng, tạo điều kiện phát triển văn hóa, xã hội và thu hút đầu tư về khu vực nông thôn, tạo công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo
án (giảm 31% so với cùng kỳ năm 2015), với 155 gói thầu, thông qua đấu thầu đã tiết kiệm được 2% so với giá trị phê duyệt trong kế hoạch đấu thầu Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng được quan tâm và đã giải phóng xong một số công trình quan trọng như: Đầu cầu Việt Trì Quốc lộ 2 tại xã Việt Xuân và Bồ Sao; đường song song đường sắt tuyến phía Bắc; giải phóng mặt bằng thêm 12ha khu A khu Công nghiệp Tam Dương 2,… Phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản được quán triệt theo đúng chỉ đạo của Chính phủ [1]
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ có hệ thống đê điều khá lớn được
nằm trên các con sông lớn như sông Hồng, sông Phó Đáy, sông Lô và nằm rải rác trên các huyện như Yên Lạc, Vĩnh Tường, Lập Thạch, Sông Lô…
Hàng năm ngoài ảnh hưởng do thiên tai hệ thống công trình đê điều còn ảnh hưởng
Trang 13trực tiếp do tác động của con người như lấn chiếm mặt đê, mái đê, hành lang bảo vệ
đê, đặc biệt là việc hút cát trái phép diễn ra như hiện nay, làm cho lòng sông diễn biến
phức tạp, gây ra hiện tượng sạt lở bãi sông, nguy hiểm cho thân đê, nền đê và một số công trình trong hệ thống đê điều Bên cạnh đó một số đoạn có địa chất rất kém, mặt
cắt đê tự nhiên chưa đủ mặt cắt đê hoàn chỉnh, những hiểm họa chưa phát hiện, một số
cống qua đê do xây dựng từ rất lâu nay đã bị xuống cấp nghiêm trọng, việc đảm bảo tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp cũng như công tác phòng chống lụt bão là rất khó khăn, ngoài ra một số vị trí điếm canh đê cũng bị xuống cấp, không còn đảm bảo nơi sinh hoạt cho lực lượng canh gác đê trong mùa mưa lũ
Căn cứ vào hiện trạng, chất lượng, khả năng chống lũ của hệ thống đê điều, việc đề nghị lập dự án đầu tư tu bổ đê điều địa phương tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016 là vấn đề hết
sức cần thiết và cấp bách không chỉ là vấn đề trước mắt còn mang tính lâu dài
T ổng quan về chất lượng công trình và quản lý chất lượng công trình
có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên
mặt nước, được xây dựng theo thiết kế CTXD bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng
Trang 14D ự án đầu tư xây dựng
1.2.1.2
Theo Luật Xây dựng “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản
phẩm/ dịch vụ trong một thời gian nhất định” Cụ thể là, phát hiện ra một cơ hội đầu
tư và muốn bỏ vốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó, trước hết nhà đầu tư phải tiến hành thu thập, xử lý thông tin, xác định điều kiện và khả năng, xác định phương án
tối ưu để xây dựng bản dự án [2]
Dự án đầu tư xây dựng công trình phải bảo đảm các yêu cầu chủ yếu sau đây:
+ Phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch xây dựng;
+ Có phương án thiết kế và phương án công nghệ phù hợp;
+ An toàn trong xây dựng, vận hành, khai thác, sử dụng công trình, an toàn phòng,
chống cháy, nổ và bảo vệ môi trường;
+ Bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án
Ch ất lượng công trình xây dựng
1.2.2
Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và
mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế [3]
Hình 1.1 Chất lượng công trình xây dựng
Chất lượng công trình xây dựng không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật mà còn
Hợp đồng
Ðảm bảo Phù hợp
Trang 15phải thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng có chứa đựng yếu tố xã hội và kinh tế
Có được chất lượng công trình xây dựng như mong muốn, có nhiều yếu tố ảnh hưởng, trong đó yếu tố cơ bản nhất là năng lực quản lý (của chính quyền, của chủ đầu tư) và năng lực của các nhà thầu tham gia các quá trình hình thành sản phẩm xây dựng
Từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người thụ hưởng sản phẩm sản phẩm xây
dựng, chất lượng công trình xây dựng được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: công năng, độ tiện dụng; tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật; độ bền vững, tin cậy; tính thẩm
mỹ; an toàn trong khai thác, sử dụng, tính kinh tế; và đảm bảo về tính thời gian (thời gian phục vụ của công trình) Rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng còn có thể và
cần được hiểu không chỉ từ góc độ của bản thân sản phẩm và người hưởng thụ sản
phẩm xây dựng mà còn cả trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó
Một số vấn đề cơ bản trong đó là:
- Chất lượng công trình xây dựng cần được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng
về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án, chất lượng khảo sát, chất lượng thiết kế…
- Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật
liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mục công trình
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị mà còn ở quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của đội ngũ công nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng
- Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác, sử dụng đối với người thụ hưởng công trình mà còn là cả trong giai đoạn thi công xây dựng đối với đội ngũ công nhân,
kỹ sư xây dựng
- Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình đã xây dựng có thể phục vụ
mà còn ở thời hạn phải xây dựng và hoàn thành, đưa công trình vào khai thác, sử dụng
Trang 16- Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư phải chi trả
mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà thầu thực hiện các hoạt động
và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng…
- Vấn đề môi trường: cần chú ý không chỉ từ góc độ tác động của dự án tới các yếu tố môi trường mà cả tác động theo chiều ngược lại, tức là tác động của các yếu tố môi trường tới quá trình hình thành dự án
T ổng quan về quản lý chất lượng
1.2.3
Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ đến nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý
một cách đúng đắn các yếu tố này Quản lý chất lượng là một khía cạnh của chức năng
quản lý để xác định và thực hiện chính sách chất lượng Hoạt động quản lý trong lĩnh
vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng [4]
Hiện nay đang tồn tại các quan điểm khác nhau về quản lý chất lượng:
- Theo GOST 15467-70: Quản lý chất lượng là xây dựng, đảm bảo và duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ thống, cũng như tác động hướng đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng tới chất lượng chi phí
- Theo A.G.Robertson, một chuyên gia người Anh về chất lượng cho rằng: Quản lý
chất lượng được xác định như một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và
sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất sao cho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả
nhất, đối tượng cho phép thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng
- Theo các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) xác định: Quản lý chất lượng là hệ
thống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiết kiệm hàng hóa có chất lượng cao hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng
- Theo giáo sư, tiến sĩ Kaoru Ishikawa, một chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quản lý
chất lượng của Nhật Bản đưa ra định nghĩa quản lý chất lượng có nghĩa là: Nghiên cứu
Trang 17triển khai, thiết kế sản xuất và bảo dưỡng một số sản phẩm có chất lượng, kinh tế nhất,
có ích nhất cho người tiêu dùng và bao giờ cũng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng
- Theo Philip Crosby, một chuyên gia người Mỹ về chất lượng định nghĩa quản lý chất lượng: là một phương tiện có tính chất hệ thống đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phần của một kế hoạch hành động
- Theo tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO 9000 cho rằng: quản lý chất lượng là một
hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ
- Quản lý chất lượng là hệ thống các hoạt động, các biện pháp (hành chính, tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, xã hội) Quản lý chất lượng là nhiệm vụ của tất cả mọi người, mọi thành viên trong xã hội, trong doanh nghiệp, là trách nhiệm của tất cả các cấp, nhưng
phải được lãnh đạo cao nhất chỉ đạo
T ổng quan về hệ thống quản lý chất lượng
1.2.4
Khái ni ệm
1.2.4.1
Hệ thống quản lý chất lượng là tổ chức, công cụ, phương tiện để thực hiện mục tiêu
và các chức năng quản lý chất lượng Đối với doanh nghiệp, HTQLCL là tổ hợp
những cơ cấu tổ chức, trách nhiệm, thủ tục, phương pháp và nguồn lực để thực hiện
Trang 18hiệu quả quá trình quản lý chất lượng HTQLCL của một tổ chức có nhiều bộ phận
hợp thành, các bộ phận này có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau
Vai trò
1.2.4.2
HTQLCL là bộ phận hợp thành của hệ thống quản lý tổ chức doanh nghiệp HTQLCL không chỉ là kết quả của hệ thống khác mà còn là yêu cầu đối với hệ thống khác HTQLCL đóng vai trò quan trọng trên các lĩnh vực sau:
- Tạo ra sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn yêu cầu của khách hàng;
- Đảm bảo cho tiêu chuẩn mà tổ chức đặt ra được duy trì;
- Tạo điều kiện cho các bộ phận, phòng ban hoạt động có hiệu quả, giảm thiểu sự
phức tạp trong quản lý;
- Tập trung vào việc nâng cao chất lượng, giảm chi phí,…
Qu ản lý chất lượng công trình xây dựng
1.2.5
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là hoạt động của nhà nước, chủ đầu tư, tư vấn
và các bên tham gia lĩnh vực xây dựng để công trình sau khi xây dựng xong đảm bảo đúng mục đích, đúng kỹ thuật và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Theo từng giai đoạn và các bước xây dựng công trình các bên liên quan sẽ đưa ra các biện pháp quản lý tối ưu
để kiểm soát nâng cao chất lượng công trình theo quy định hiện hành [5]
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp các hoạt động từ đó đề ra các yêu
cầu, quy định và thực hiện các yêu cầu và quy định đó bằng các biện pháp như kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ
thống Hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng chủ yếu là công tác giám sát
và tự giám sát của chủ đầu tư và các chủ thể khác
N ội dung cơ bản của hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng 1.2.6
CLCT là tổng hợp của nhiều yếu tố hợp thành, do đó để quản lý được CLCT thì phải
kiểm soát, quản lý được các nhân tố ảnh hưởng đến CLCT, bao gồm: con người, vật
tư, biện pháp kỹ thuật và áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến Bên cạnh đó QLCL còn gắn
liền với từng giai đoạn của hoạt động xây dựng và mỗi giai đoạn lại có những biện
Trang 19pháp riêng, đặc thù nhằm nâng cao CLCTXD [5]
Sản phẩm công trình xây dựng được đặt hàng bao tiêu sử dụng trước khi có sản phẩm cùng với đặc điểm nêu trên để đạt được một công trình xây dựng chất lượng tốt thì
từng công đoạn khảo sát, thiết kế, thi công; từng loại vật liêu; thiết bị, dây truyên công nghệ…con người thực hiện… đều phải tuân thủ quy chuẩn, tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành Để đảm bảo chắc chắn quá trình đầu tư xây dựng đã thoả mãn các yêu cầu về chất lượng cần phải thực hiện công tác giám sát trong suốt quá trình thực hiện để quản lý chất lượng công trình xây dựng Do
vậy công tác Quản lý chất lượng công trình xây dựng thực chất là công tác giám sát, đây là nhiệm vụ của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: Người quyết định đầu tư thông qua cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước chuyên ngành về đầu tư xây dựng, Chủ đầu tư, các nhà thầu, các tổ chức và
cá nhân liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng công trình
Giám sát là nhiệm vụ của chủ đầu tư và các chủ thể ký kết hợp đồng với chủ đầu tư
Có thể gọi chung công tác giám sát là giám sát xây dựng Nội dung công tác giám sát
tuỳ theo nội dung của thành phần công việc
Tự giám sát là nhiệm vụ của các chủ thể tham gia công tác khảo sát, thiết kết, xây lắp
và lắp đặt thiết bị công trình đã ký kết hợp đồng thực hiện công việc với chủ đầu tư
Cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành kiểm tra quá trình thực hiện công tác giám sát và tuân thủ luật pháp của chủ đầu tư và các chủ thể tham gia xây dựng công trình Theo nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 về quản lý chất lượng công trình xây
dựng, công tác quản lý chất lượng xuyên suốt các giai đoạn từ khâu khảo sát, thiết kế đến thi công và khai thác công trình theo nguyên tắc: [5]
- Công tác khảo sát/thiết kế, thi công xây dựng công trình phải đảm bảo an toàn cho
bản thân công trình và các công trình lân cận; đảm bảo an toàn trong quá trình thi công xây dựng và tuân thủ các quy định của Nghị định của Nhà nước;
- Công trình, hạng mục công trình chỉ được nghiệm thu để đưa vào sử dụng khi đáp ứng được các yêu cầu của thiết kế, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn áp dụng
Trang 20cho công trình, chỉ dẫn kỹ thuật và các yêu cầu khác của chủ đầu tư theo nội dung của
hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan;
- Tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực phù
hợp với công việc thực hiện, có hệ thống quản lý chất lượng và chịu trách nhiệm về
chất lượng các công việc xây dựng do mình thực hiện trước chủ đầu tư và trước pháp
luật;
- Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng phù hợp với tính chất, quy mô
và nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình theo quy định của Nghị định;
- Người quyết định đầu tư có trách nhiệm kiểm tra việc tổ chức thực hiện quản lý chất lượng công trình xây dựng của chủ đầu tư và các nhà thầu theo quy định của Nghị định
và quy định của pháp luật có liên quan;
- Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý chất lượng của các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình; kiểm tra, giám định chất lượng công trình xây dựng; kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật
• Nội dung quản lý chất lượng công trình xây dựng
Nội dung hoạt động của các chủ thể giám sát và tự giám trong các giai đoạn của dự án xây dựng như sau:
- Giám sát chất lượng của chủ đầu tư: Lựa chọn các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực theo quy định để thực hiện giám sát thi công xây dựng công trình, thí nghiệm,
kiểm định chất lượng công trình và các công việc tư vấn xây dựng khác Thông báo về nhiệm vụ, quyền hạn của các cá nhân trong hệ thống quản lý chất lượng của chủ đầu
tư, nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình cho các nhà thầu có liên quan biết
để phối hợp thực hiện;
- Trong giai đoạn khảo sát: Chủ đầu tư thực hiện công tác giám sát với nội dung kiểm tra việc tuân thủ các quy định trong hợp đồng xây dựng của nhà thầu khảo sát xây
Trang 21dựng trong quá trình thực hiện khảo sát Nghiệm thu báo cáo kết quả khảo sát xây
dựng theo đề cương đã được phê duyệt Ngoài sự giám sát của chủ đầu tư, nhà thầu
khảo sát xây dựng có bộ phận chuyên trách tự giám sát công tác khảo sát;
- Trong giai đoạn thiết kế: nhà thầu tư vấn thiết kế bố trí đủ người có kinh nghiệm và chuyên môn phù hợp để thực hiện thiết kế; cử người có đủ điều kiện năng lực theo quy định để làm chủ nhiệm đồ án thiết kế, chủ trì thiết kế đồng thời có bộ phận tự giám sát
sản phẩm thiết kế theo các quy định và chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật
về chất lượng thiết kế xây dựng công trình Cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước chuyên ngành thực hiện công tác thẩm tra hoặc thuê đợn vị tư vấn có năng lực thẩm tra trước khi chủ đầu tư nghiệm thu sản phẩm thiết kế Chủ đầu tư phê duyệt thiết kế các giai đoạn và chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của các bản vẽ thiết kế giao cho nhà
thầu;
- Trong giai đoạn thi công xây dựng công trình: Nhà thầu thi công xây dựng công trình
lập hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với quy mô công trình, trong đó quy định trách nhiệm của từng cá nhân, từng bộ phận đối với việc quản lý chất lượng công trình xây dựng Chủ đầu tư thực hiện công tác giám sát hoặc thuê đơn vị tư vấn có đủ năng
lực thực hiện công tác giám sát từ vật liệu đầu vào, quá trình tổ chức thi công tới khi nghiêm thu công trình đưa vào vận hành khai thác Cùng giám sát với chủ đầu tư còn
của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình thực hiện nhiệm vụ giám sát tác giả và ở một
số dự án có sự tham gia giám sát của cộng đồng;
- Trong giai đoạn bảo hành công trình chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử
dụng công trình có trách nhiệm kiểm tra tình trạng công trình xây dựng, phát hiện hư
hỏng để yêu cầu sửa chữa, thay thế, giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục sửa
chữa đó;
Bên cạnh sự giám sát, tự giám sát của các chủ thể, quá trình triển khai xây dựng công trình còn có sự tham gia giám sát của nhân dân, của các cơ quan quản lý nhà nước về
chất lượng công trình xây dựng
Ý nghĩa của việc nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng 1.2.7
CLCTXD là một vấn đề sống còn được Nhà nước và cộng đồng hết sức quan tâm Nếu
Trang 22ta quản lý chất lượng công trình xây dựng tốt thì sẽ không có chuyện công trình chưa xây xong đã đổ do các bên đã tham ô rút ruột nguyên vật liệu hoặc nếu không đổ ngay thì tuổi thọ công trình cũng không được đảm bảo như yêu cầu Vì vậy việc nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng không chỉ là nâng cao chất lượng công trình mà còn góp phần chủ động chống tham nhũng, chủ động ngăn ngừa tham nhũng, ngăn ngừa thất thoát trong xây dựng Theo kết quả thực tế cho thấy, ở đâu tuân
thủ nghiêm ngặt những quy định của nhà nước về quản lý chất lượng công trình thì ở
đó chất lượng công trình tốt
Công trình xây dựng khác với sản phẩm hàng hoá thông thường khác vì công trình xây
dựng được thực hiện trong một thời gian dài do nhiều người làm, do nhiều vật liệu tạo nên chịu tác động của tự nhiên rất phức tạp Vì vậy, việc nâng cao công tác quản lý CLCTXD là rất cần thiết, bởi nếu xảy ra sự cố thì sẽ gây ra tổn thất rất lớn về người và
của, đồng thời cũng rất khó khắc phục hậu quả
Nâng cao công tác quản lý CLCTXD là góp phần nâng cao chất lượng sống cho con người Vì một khi CLCTXD được đảm bảo, không xảy ra những sự cố đáng tiếc thì sẽ
tiết kiệm được rất nhiều cho ngân sách quốc gia Số tiền đó sẽ được dùng vào công tác đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân, hoặc dùng cho công tác xóa đói giảm nghèo
Các v ấn đề ảnh hưởng đến chất lượng công trình
1.3
Do đặc điểm của công trình xây dựng có rất nhiều vấn đề ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng Luận văn chỉ xem xét các nhân tố này theo các nhóm yếu tố chủ quan và khách quan
Y ếu tố chủ quan
1.3.1
Bao gồm các yếu tố: Tổ chức quản lý sản xuất; yếu tố con người; máy móc thiết bị; nguyên vật liệu, yếu tố đầu vào
Chủ đầu tư: Sự kiên quyết của chủ đầu tư đối với chất lượng công trình là quan trọng
nhất nơi nào chủ đầu tư (hoặc giám sát của chủ đầu tư) nghiêm túc thực hiện đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật trong quá trình tổ chức giám sát thì nơi đó có sản
phẩm công trình xây dựng chất lượng tốt Thực tế cùng một công trình xây dựng tương
Trang 23tự với cùng một nhà thầu xây dựng vẫn con ngưới đó, dây chuyên thiết bị không thay đổi nếu Tư vấn giám sát là người nước ngoài thi công trình đó chất lượng tốt hơn tư
vấn giám sát là người Việt Nam
Nhà thầu xây dựng: nhà thầu thi công xây dựng đóng vai trò quyết định trong công tác
quản lý chất lượng công trình xây dựng Nếu lực lượng này không quan tâm đúng mức
chất lượng sản phẩm do mình làm ra, chạy theo lợi nhuận thì sẽ ảnh hưởng không tốt
tới chất lượng công trình
Công tác đấu thầu và lưa chọn nhà thầu: Quá trình tổ chức đấu thầu nếu lựa chọn được nhà thầu đủ năng lực, kinh nghiệm tổ chức thi công, có hệ thống quản lý chất lượng
thực hiện nghiêm túc theo tiêu chuẩn ISO, hệ quả là sẽ có công trình chất lượng tốt
Ngoài ra còn có các nhà thầu khảo sát, thiết kế, thí nghiệm, kiểm định…cũng là những đối tượng có tác động không nhỏ đến chất lượng công trình
Thiết bị và dây chuyền công nghệ: Thiết bị và dây chuyên công nghệ hiện đại, tiên tiến cũng góp phần tạo ra công trình đảm bảo chất lượng
Vât tư, vật liệu đầu vào là yếu tố ảnh hưởng lớn đến chất lượng công trình, bởi vật tư,
vật liệu là thành phần tạo nên sản phẩm công trình xây dựng do vậy phải thực hiện tốt
từ khâu lựa chọn vật tư, vật liệu đến khâu thí nghiệm, kiểm định, bảo quản, sử dụng
Khí hậu: mưa, nắng, gió, bão, …ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ thi công công trình;
Điều kiện địa chất, thủy văn phức tạp cũng là các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình, đặc biệt là các hạng mục nền, móng công trình
Trang 24Nh ững tồn tại, bất cập trong quản lý chất lượng công trình
thủ nghiêm túc các quy định quản lý từ khâu khảo sát, lập dự án đầu tư đến thi công xây dựng và kiểm tra chứng nhận sự phù hợp chất lượng, nghiệm thu, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng Hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng từ tỉnh đến cơ
sở còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành Điều kiện năng lực của các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xây dựng chưa đáp ứng yêu cầu
Thực tế hoạt động và những vấn đề còn tồn tại của các chủ thể trực tiếp tham gia hoạt
động quản lý chất lượng công trình xây dựng trong các bước chuẩn bị đầu tư dự án
(lập dự án, lập nhiệm vụ, đề cương ), thiết kế công trình, thi công và nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng
a) Đối với chủ đầu tư: Chưa chấp hành đúng trình tự thủ tục xây dựng, phó mặc cho tư
vấn, nhà thầu thi công; Với việc thực thi pháp luật trong thực tế còn hạn chế, đặc biệt đối với dự án sử dụng vốn ngân sách, chủ đầu tư vẫn còn dễ bị hiểu là “Ông chủ hờ”
Họ chưa bị ràng buộc thật sự chặt chẽ về pháp luật và chưa thực hiện nghiêm túc chế
độ quản lý chất lượng, biết nhưng vẫn làm (cố tình lựa một số đơn vị tư vấn không đủ điều kiện năng lực hành nghề hoạt động xây dựng để ký kết hợp đồng; tìm những nhà
thầu thi công không đảm bảo điều kiện năng lực tài chính, chuyên môn vì lợi ích cá nhân nào đó)
b) Đối với các tổ chức tư vấn xây dựng:
Hiện nay thiếu các tư vấn chất lượng cao ở tầm vĩ mô trong việc đề xuất các chủ
Trang 25trương đầu tư xây dựng, quy hoạch, lập dự án, đề xuất các giải pháp kỹ thuật công nghệ chính xác, hợp lý, khả thi; Trong nhiều trường hợp đã để xảy ra các sai sót, phải điều chỉnh cho quá trình xây dựng gây tốn kém, lãng phí, ảnh hưởng lớn đến chất lượng công trình
Nhiều tổ chức tư vấn do đòi hỏi bức bách của công việc mà hình thành, chưa có những định hướng, chiến lược phát triển rõ rệt Các Công ty tư vấn xuất hiện tràn lan, đã bắt đầu có hiện tượng một số doanh nghiệp tư vấn về việc thực hiện dịch vụ theo kiểu môi
giới hoặc thuê mượn, thiếu thực lực gây hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trong
hoạt động tư vấn
Trong vài năm gần đây số lượng các công ty tư vấn phát triển tràn lan nhưng năng lực thì lại yếu kém, còn nhiều hạn chế và chưa làm tròn trách nhiệm, còn vi phạm nguyên
tắc quản lý đầu tư xây dựng Hầu hết các đơn vị tư vấn đều không có hệ thống quản lý
chất lượng; Trên thực tế cho thấy hầu hết các sai sót, khiếm khuyết trong xây dựng đều
có liên quan đến tư vấn xây dựng, nhất là trong thiết kế Sai sót của tư vấn thiết kế có
trường hợp dẫn đến hậu quả lâu dài khó khắc phục Tuy rằng kinh phí cho công tác tư
vấn xây dựng không nhiều nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn Những thiếu sót, sai lầm
của công tác tư vấn xây dựng thuộc phạm trù chất xám nên khó phát hiện nhưng điểm
lại các nguyên nhân dễ nhận thấy nhất đó là:
- Với tư vấn thiết kế: Phần lớn các đơn vị tư vấn thiếu các cá nhân chủ trì thiết kế theo đúng các chuyên ngành phù hợp, điều kiện năng lực hành nghề hoạt động xây dựng còn hạn chế (vẫn còn tình trạng mượn chứng chỉ: 01 ông kiến trúc sư có chứng chỉ thi ết kế có trong hồ sơ năng lực của nhiều công ty tư vấn); do thiếu về năng lực hành
nghề chuyên môn vì vậy thiết kế không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, dẫn đến chất lượng
sản phẩm hồ sơ rất kém (vì không có sự đầu tư nghiên cứu, chủ yếu là coppy từ các công trình tưng tự, điển hình; tác giả chủ yếu là những kỹ sư mới ra trường, chưa có kinh nghi ệm ); đa số các đơn vị tư vấn thiết kế không có bộ phận kiểm tra KCS; các
đơn vị tư vấn thiết kế thường không có sự giám sát tác giả
+ Trong bước thiết kế kỹ thuật (Thiết kế bản vẽ thi công): Công tác khảo sát điều tra địa chất, thủy văn không chính xác (Trong công tác này hầu hết lại không được Ban
Trang 26QLDA nghiệm thu tại hiện trường mà chỉ nghiệm thu trên hồ sơ) Các giải pháp thiết
kế đưa ra ở một số dự án không phù hợp, các công trình đang thi công dở dang phải thay đổi giải pháp kỹ thuật, phải tạm dừng để điều chỉnh thiết kế hoặc thiết kế bổ sung…
+ Các biểu hiện về chất lượng khi công trình thi công xong đưa vào sử dụng đã xảy ra
hiện tượng nứt, lún, sụt trượt, xử lý nước ngầm… như các dự án nêu trên Không thể nói chỉ do sai sót của đơn vị thi công mà còn là do sai sót của thiết kế gây ra
- Giám sát tác giả của tư vấn thiết kế:
+ Nhìn chung việc giám sát tác giả của Tư vấn thiết kế cũng chưa nghiêm túc, trách nhiệm về sản phẩm thiết kế chưa cao, chưa chịu trách nhiệm đến cùng đối với sản
phẩm thiết kế của mình
- Với tư vấn khảo sát: còn nhiều bất cập vẫn mang tính hình thức; có nhiều kết quả
khảo sát không phản ánh đúng thực tế; phương án khảo sát hầu như không có nhiệm
vụ khảo sát được phê duyệt; quá trình khảo sát không được nghiệm thu; có đơn vị
khảo sát lợi dụng báo cáo khảo sát của công trình lân cận để đưa ra kết quả khảo sát
hoặc chỉ khảo sát một hai vị trí sau đó nội suy cho các vị trí còn lại,
- Với tư vấn giám sát: Đây là khâu quan trọng trong hoạt động quản lý chất lượng, chất lượng công trình có được bảo đảm phụ thuộc nhiều vào đội ngũ TVGS TVGS thay
mặt Chủ đầu tư (Ban QLDA) để giám sát thi công; chấp nhận khối lượng, chất lượng
của nhà thầu thi công; chấp thuận biện pháp thi công để nhà thầu thực hiện; thay mặt
chủ đầu tư đề xuất quyết định việc xử lý kỹ thuật ở hiện trường Do vậy, ở những dự
án có chất lượng cao, thi công an toàn là những dự án TVGS đã làm đúng chức trách
của mình và ngược lại
+ Đánh giá về lực lượng TVGS: Lực lượng TVGS tuy đông về số lượng nhưng còn thiếu nhiều chuyên gia giỏi Nguyên nhân chủ yếu do năng lực của các kỹ sư tư vấn giám sát và chế độ chính sách của Nhà nước đối với công tác TVGS chưa được coi
trọng, chưa có cơ chế thu hút và chế độ đãi ngộ phù hợp với trách nhiệm và quyền hạn
của TVGS; Chưa có biện pháp quản lý chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát, kiểm soát
Trang 27năng lực hành nghề và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ tư vấn giám sát
+ Hoạt động giám sát chất lượng của Tư vấn được thực hiện chưa đầy đủ, TVGS chưa
thực hiện nghiêm túc chức trách, nhiệm vụ của mình, không kiểm soát được chất lượng công trình trong quá trình thi công của nhà thầu; không bám sát hiện trường để
kịp thời xử lý các phát sinh bất hợp lý, chưa kiên quyết xử ký các vi phạm về chất lượng trong quá trình thực hiện dự án
c) Đối với nhà thầu thi công xây dựng: Vẫn còn có nhà thầu không có cán bộ kỹ thuật, không có chỉ huy trưởng công trình theo quy định, hoặc bố trí cán bộ chỉ huy trưởng công trường không đúng với hồ sơ dự thầu đa số các nhà thầu chưa quan tâm đến
biện pháp thi công, hệ thống quản lý chất lượng nội bộ, không bố trí đủ cán bộ giám sát nội bộ, thậm chí khoán trắng cho đội thi công và tư vấn giám sát; Biện pháp thi công trong hồ sơ dự thầu chỉ là hình thức, chưa đưa ra được các biện pháp sát thực để
phục vụ thi công, chỉ đạo thi công một cách khoa học
Đây là những nguyên nhân tiềm ẩn làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng công trình xây
dựng, gây thất thoát, lãng phí, giảm hiệu quả vốn đầu tư
K ẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Với những quan điểm và lý luận thực tiễn về quản lý chất lượng công trình xây dựng cho ta thấy được đặc điểm, nội dung, phương pháp và yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng trong quá trình tạo ra một sản phẩm công trình xây dựng
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là vấn đề then chốt trong hoạt động xây dựng
và được thực hiện xuyên suốt trong quá trình triển khai dự án đầu tư xây dựng Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng ở nước ta nói chung đã có hiệu quả thiết
thực, chất lượng các công trình xây dựng ngày một nâng cao và được kiểm soát tốt hơn
Tuy nhiên trong quá trình quản lý chất lượng công trình đã xuất hiện một số vấn đề bất
cập cần phải nghiên cứu bổ sung sao cho phù hợp với yêu cầu thực tế
Trong chương 2 của Luận văn, tác giả sẽ nêu và phân tích các cơ sở khoa học trong
quản lý chất lượng công trình nói chung và công trình đê điều nói riêng làm cơ sở đưa
ra những đề xuất cho vấn đề nghiên cứu
Trang 28CHƯƠNG 2 CÁC CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH ĐÊ ĐIỀU
Đặc điểm công trình đê điều
2.1
Gi ới thiệu chung
2.1.1
Lịch sử ghi nhận quá trình hình thành hệ thống đê điều Việt Nam từ thời Lý - Trần,
vừa mới lên ngôi Lý Công Uẩn vị vua đầu tiên của một triều đại được đánh giá là "mở đầu công việc xây dựng đất nước bước vào quy mô lớn, đặt nền tảng vững chắc và toàn diện cho sự phát triển của dân tộc và của quốc gia phong kiến độc lập" Đắp đê trị
thủy đã trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của quốc gia không thể phó mặc cho sự tự phát cửa dân chúng Đến năm 1077 triều đình đứng ra chủ trương đắp những con đê quy mô lớn Theo Việt sử lược, thì năm ấy nhà Lý cho đắp đê sông Như Nguyệt (Sông
Cầu) dài 67.380 bộ (khoảng 30km) [6]
Sang đến đời Trần đã cho đắp thêm theo từng tuyến sông chính từ đầu nguồn ra đến
biển, tôn cao đắp to những đoạn đã có, đắp thêm những đoạn nối, cải tạo một số tuyến vòng vèo bất hợp lý Về cơ bản những tuyến đê đó gần giống như ngày nay, nhất là tuyến đê sông Hồng và sông Cầu Về kỹ thuật đắp đê thời kỳ này là bước một bước
nhảy vọt, tạo nên thế nước chảy thuận hơn mặt khác cũng phải có những tiến bộ kỹ thuật nhất định mới có thể xác định được tuyến đê, chiều cao đê từng đoạn cho phù
hợp với đường mặt nước lũ
Ngoài việc đắp đê nhà Trần còn rất coi trọng công tác hộ đê phòng lụt, đặt thành trách nhiệm cho chính quyền các cấp “Năm nào cũng vậy, vào tháng sáu, tháng bảy (mùa lũ) các viên đê sứ phải thân đi tuần hành, thấy chỗ nào non phải tu bổ ngay, hễ biếng nhác không làm tròn phận sự để đến nỗi trôi dân cư, ngập lúa mạ, sẽ tùy tội nắng nhẹ
mà khiển phạt”
Trang 29Hình 2.1 Một cảnh đắp đê thời Trần Các triều đại phong kiến sau này dựa vào đó mà tiếp tục phát triển hệ thống đê điều đã
có và phát triển tiếp lên Theo sách Đại Nam thực lục thì dưới triều Nguyễn năm đó
vua còn cho đắp bảy đoạn đê mới ở Bắc Bộ
Đến tháng 9 năm 1809, triều Nguyễn đã ban hành điều lệ về đê điều ở Bắc Bộ với các quy định rất chặt chẽ về việc kiểm tra, phòng chống lũ và gia cố hệ thống đê điều hàng năm
Thời kỳ Pháp thuộc, với tư cách là người thống trị, thực dân Pháp nhận thức ngay được tầm quan trọng và kinh tế chính trị Bắc Kỳ Vì vậy ngay từ những ngày đầu thiết
lập nền đô hộ, chính quyền Pháp cũng rất chú trọng đến tình hình đê điều và trị thuỷ
của Việt Nam Trong quá trình cai trị của mình chính quyền Pháp đã gặp phải không ít
những thiệt hại do thiên tai, lũ lụt gây ra, đặc biệt nghiêm trọng như trận lũ lịch sử năm
1915 gây thiệt hại rất nghiêm trọng về người và nhà cửa Sau trận lụt lịch sử đó, trước
áp lực của dư luận, chính quyền thực dân mới nghiên cứu thực hiện một kế hoạch đắp
đê Bắc bộ tương đối quy mô, trong đó có nhiều biện pháp mà ngày nay chúng ta vẫn còn nhắc tới như: Tái sinh rừng thượng nguồn để chậm lũ; xây dựng hồ chứa ở thượng nguồn để cắt lũ; đắp đê cao hơn mức lũ đặc biệt; củng cố đê hiện tại và tôn cao đến
mức an toàn tuyệt đối…
Hệ thống đê điều Việt Nam hiện nay có khoảng hơn 8.000 km đê, trong đó hơn 5.000
km là đê sông, còn lại là đê biển với khối lượng đất ước tính là 520 triệu m3 Sự hình thành hệ thống đê thể hiện sự đóng góp, cố gắng của nhân dân trong suốt nhiều thế kỷ
Trang 30qua Mặc dù tại một số nơi đê còn chưa đảm bảo tính ổn định cao đối với lũ lớn tuy
vậy vai trò bảo vệ của các tuyến đê sông hay hệ thống đê biển là rất to lớn và không
thể phủ định
Hàng năm, hệ thống đê này đều được đầu tư củng cố, nâng cấp, đặc biệt là đối với đê sông sau khi xảy ra lũ lớn đã từng bước củng cố vững chắc đáp ứng được yêu cầu
chống lũ đặt ra của từng thời kỳ
Hình 2.2 Các đê sông trong vùng đồng bằng sông Hồng
Đặc điểm hệ thống đê sông Việt Nam
Luộc, Trà Lý, Đào, Ninh Cơ và sông Đáy Đê thuộc hệ thống sông Thái Bình bao gồm
27 tuyến với tổng chiều dài khoảng 698 km dọc theo các sông: Cầu, Thương, Lục Nam, Thái Bình, Kinh Thầy, Lai Vu, Cà Lồ, Văn Úc, Lạch Tray, Hóa, Cấm, Bạch
Trang 31Đằng, Tam Bạc, Nam, Đá Bạch và sông Chanh
Các tuyến đê ở các tỉnh miền Trung bao gồm tuyến đê thuộc hệ thống sông Mã và sông Cả đây là hai hệ thống sông lớn ở Bắc Trung Bộ Hệ thống đê sông Mã, sông Cả
có tổng chiều dài là 381,47km, trong đó chiều dài đê thuộc hệ thống sông Mã, sông Chu là 316,1km; Chiều dài đê thuộc hệ thống sông Cả, sông La là 65,4km Thượng nguồn của hai hệ thống sông này chưa có hồ chứa để tham gia điều tiết lũ, vì vậy đê
vẫn là biện pháp công trình duy nhất và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chống lũ
Hiện tại tuyến đê thuộc hai hệ thống sông này chỉ còn khoảng 31 km đê thấp so với thiết kế, khoảng 164km có mặt cắt đê nhỏ, mái dốc chưa có cơ, thân đê còn nhiều khuyết tật, nền đê nhiều đoạn là nền cát hoặc bùn; lòng sông có độ dốc lớn và diễn
biến rất phức tạp, nhiều đoạn đê sát sông
Ở miền Nam hệ thống đê điều chủ yếu là đê biển và đê cửa sông, đê sông ở miền Nam
có kết cấu đơn giản, chủ yếu là đê bao, đê bối ngăn mặn
C ấu tạo thân đê
2.1.2.2
Thân đê được tôn cao, mở rộng trong quá trình hình thành và phát triển của hệ thống
đê Có cả một quá trình đắp thân đê từ các loại đất không được chọn lựa, việc đầm nện cũng không theo quy chuẩn Do vậy thân đê có tính không đồng nhất cao Ngoài ra thân đê còn chịu tác động xấu của các động vật đào hang (chuột, mối) tạo thành các
hốc hoặc lỗ rỗng trong đó Đây là một hiểm hoạ khó lường
S ự làm việc của đê sông
2.1.2.3
Khác với đập, đê là công trình làm việc theo mùa Nhiều đoạn đê trong mùa khô thực
chất chỉ là đường Đê chỉ làm việc ngăn và chắn nước trong mùa lũ Thời gian làm
việc trong năm của đê không nhiều Ngay trong mùa lũ, điều kiện làm việc của đê không chỉ phụ thuộc mực nước lũ mà còn phụ thuộc thời gian ngâm lũ dài hay ngắn
M ặt cắt ngang đặc trưng của đê sông
2.1.3
Từ những đặc điểm của đê đã nêu trên, có thể nêu ra một mặt cắt ngang đại diện của
đê như sau: [6]
Trang 32Hình 2.3 Mặt cắt ngang đặc trưng của đê sông Thân đê chịu tác dụng của cột nước H trong mùa lũ; chiều rộng đáy đê: B
- Mực nước sông mùa lũ (MNL) ngập trên bãi bồi
- Mực nước sông mùa kiệt (MNK), nói chung thấp dưới đáy lớp phủ
- Đất nền đê được tổng hợp thành 2 lớp:
+ Lớp phủ phía trên được đặc trưng bằng hệ số thấm K1 nhỏ hơn K2 (của lớp dưới),
gọi là lớp phủ ít thấm (hoặc lớp phủ), chiều dày lớp này t=1-6m, lớp này thường có các loại á sét, thành phần hạt có thể thay đổi Theo thành phần hạt có thể phân thành 2-
3 lớp nhỏ trong chiều dày chung t Theo mức độ thấm, có thể ghép các lớp nhỏ này thành 1 lớp với chiều dày t và kệ số thấm chung K1, ở phía sông chiều dài lớp phủ là L1, ở phía đồng chiều dài lớp phủ là L2
+ Dưới lớp phủ ít thấm là lớp thấm nước với hệ số thấm K2 (K2>K1) gọi là lớp thấm, chiều dày T = 20 - 60 m Đây thường là loại á cát, cát Thành phần hạt cũng thay đổi khá lớn Theo thành phần hạt cũng có thể chia lớp này thành nhiều lớp nhỏ Tuy nhiên xét về mức độ thấm có thể xếp chung vào 1 loại với hệ số thấm K1
Mặt cắt ngang đặc trưng của đê như trình bày trên mang tính chất đại diện Nó được xem như một sơ đồ để phân tích sự làm việc của đê
Các nhân t ố ảnh hưởng tới chất lượng công trình đê điều
2.2
Trang 33Ngoài những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng công trình đã nêu trong chương 2 thì
chất lượng công trình đê điều còn bị ảnh hưởng bởi những nhân tố sau:
Nh ững ảnh hưởng bất lợi
2.2.1
Do các công trình đê điều thường là những tuyến đê đã có nên thời gian thi công chủ
yếu vào mùa khô, vào mùa lũ sẽ hạn chế về thi công vì mực nước ngoài sông cao, mặt khác tuyến đê còn là đường giao thông vì vậy khi thi công cần lưu ý vấn đề giao thông
đi lại của dân cư trong khu vực Do đó cần có sợ phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị thi công và cơ quan quản lý mới đáp ứng được các yêu cầu: ít ảnh hưởng đến giao thông
đi lại, thi công đạt chất lượng và tiến độ
Công trình đê điều thường có khối lượng tương đối lớn, lại phải trải dài trên phạm vi
rộng nên phần nào tác động đến việc thi công công trình
Các công trình đê điều thường nằm trải dài trên địa giới hành chính của nhiều xã, nhiều huyện nên có nhiều khó khăn trong vấn đề đền bù và giải phóng mặt bằng
Các công trình đê điều được đầu tư xây dựng khi GPMB liên quan đến diện tích đất lúa phải chờ đợi thủ tục xin phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ nên mất rất nhiều thời gian ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình
Các dự án về đê điều thường rất lớn nên rất khó khăn về nguồn vốn
Nh ững ảnh hưởng tích cực
2.2.2
Do dự án đê điều thường là những dự án xử lý cấp bách nên rất được sự quan tâm chỉ đạo của Sở Nông nghiệp & PTNT, UBND tỉnh và phối hợp thực hiện của UBND huyện, thị xã UBND các xã, phường có công trình trong quá trình triển khai
Dự án đê điều được triển khai phù hợp với tâm tư nguyện vọng của chính quyền và nhân dân nên được nhân dân và chính quyền đồng lòng ủng hộ trong quá trình thực
Trang 34Nh ững căn cứ pháp lý để quản lý chất lượng công trình
2.3.1
Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng quy định, để quản lý chất lượng công trình xây dựng cần các căn cứ sau: [5]
- Hệ thống tiêu chuẩn xây dựng của Việt Nam bao gồm quy chuẩn xây dựng và tiêu chuẩn xây dựng;
- Quy chuẩn xây dựng là cơ sở để quản lý hoạt động xây dựng và là căn cứ để ban hành tiêu chuẩn xây dựng;
- Bộ Xây dựng ban hành quy chuẩn xây dựng; tiêu chuẩn xây dựng đối với các công trình xây dựng dân dụng bao gồm công trình công cộng và nhà ở, công trình công nghiệp và các công trình hạ tầng kỹ thuật;
Các Bộ có quản lý công trình xây dựng chuyên ngành căn cứ vào quy chuẩn xây dựng, ban hành tiêu chuẩn xây dựng công trình chuyên ngành thuộc chức năng quản lý của mình;
- Những tiêu chuẩn xây dựng của Việt Nam thuộc các lĩnh vực sau đây bắt buộc áp
dụng:
+ Điều kiện khí hậu xây dựng;
+ Điều kiện địa chất thủy văn, khí tượng thủy văn;
Trang 35Công trình xây dựng phải được kiểm soát chất lượng theo quy định của Nghị định 46/2015/NĐ-CP và pháp luật có liên quan từ chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng đến
quản lý, sử dụng công trình nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài sản, thiết bị, công trình và các công trình lân cận
Hạng mục công trình, công trình xây dựng hoàn thành chỉ được phép đưa vào khai thác, sử dụng sau khi được nghiệm thu bảo đảm yêu cầu của thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật cho công trình, các yêu cầu của hợp đồng xây dựng
và quy định của pháp luật có liên quan
Nhà thầu khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định, phải có biện pháp tự quản lý chất lượng các công việc xây dựng do mình thực
hiện, Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm quản lý chất lượng công việc do nhà thầu phụ thực hiện
Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng công trình phù hợp với hình
thức đầu tư, hình thức quản lý dự án, hình thức giao thầu, quy mô và nguồn vốn đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình theo quy định của Nghị định này
Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện các hoạt động xây dựng nếu đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật
Cơ quan chuyên môn về xây dựng hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý chất lượng
của các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình; thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng, tổ chức thực hiện giám định chất lượng công trình xây dựng; kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật
Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng chịu trách nhiệm về chất lượng các công việc do mình thực hiện
b) Quy định về việc áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng
Việc áp dụng tiêu chuẩn phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Tiêu chuẩn được áp dụng trong hoạt động xây dựng theo nguyên tắc tự nguyện, ngoại trừ các tiêu chuẩn được viện dẫn trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc có quy
Trang 36định bắt buộc phải áp dụng tại văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan;
- Phải phù hợp, với các yêu cầu của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng và các quy định của pháp luật khác có liên quan;
- Đảm bảo tính đồng bộ, tính khả thi của hệ thống tiêu chuẩn được áp dụng;
- Người quyết định đầu tư quyết định sử dụng các tiêu chuẩn chủ yếu áp dụng cho công trình Các tiêu chuẩn còn lại được quyết định bởi Chủ đầu tư;
- Khi áp dụng tiêu chuẩn nước ngoài, phải có bản gốc tiêu chuẩn kèm theo bản dịch
tiếng Việt cho phần nội dung sử dụng
Để thuận tiện cho công tác triển khai thi công, đơn vị thiết kế bắt buộc thực hiện lập chỉ dẫn kỹ thuật đối với công trình cấp đặc biệt, cấp I và cấp II Đối với cáccông trình còn lại, chỉ dẫn kỹ thuật có thể được lập riêng hoặc quy định trong thuyết minh thiết kế xây dựng công trình
c) Quy định về công khai năng lực của các tổ chức cá nhân hoạt động xây dựng
Các tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin về năng lực hoạt động xây dựng của mình gửi bằng đường bưu điện hoặc trực tiếp tới cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng (sau đây gọi là cơ quan chuyên môn về xây dựng) để đăng tải công khai trên trang thông tin điện tử do cơ quan này quản lý và trong thời gian 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin trên cơ quan quản lý nhà nước phải trách nhiệm xem xét và quyết định đăng tải thông tin
Các thông tin về năng lực hoạt động xây dựng do các tổ chức, cá nhân đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của cơ quan chuyên môn về xây dựng là cơ sở để lựa chọn tham gia các hoạt động xây dựng sau:
- Thẩm tra thiết kế xây dựng công trình;
- Thí nghiệm chuyên ngành xây dựng;
- Giám sát chất lượng công trình xây dựng;
- Kiểm định, giám định chất lượng công trình xây dựng;
Trang 37- Khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng công trình cấp đặc biệt, cấp I và công trình cấp
II được đầu tư xây dựng bằng vốn ngân sách nhà nước (đối với các nhà thầu chính) d) Quản lý chất lượng khảo sát công trình xây dựng
Trình tự thực hiện và quản lý chất lượng khảo sát xây dựng được thực hiện theo các bước sau đây:
- Lập và phê duyệt nhiệm vụ khảo sát xây dựng Nhiệm vụ khảo sát phải phù hợp với quy mô công trình, loại hình khảo sát, bước thiết kế được Nhà thầu thiết kế lập với nội dung gồm: Mục đích khảo sát xây dựng; phạm vi khảo sát xây dựng; phương pháp
khảo sát và tiêu chuẩn khảo sát xây dựng; khối lượng các loại công tác khảo sát xây
dựng; thời gian thực hiện khảo sát xây dựng Trước khi phê duyệt Chủ đầu tư có thể thuê tổ chức tư vấn, chuyên gia góp ý hoặc thẩm tra Trong giai đoạn tìm kiếm địa điểm xây dựng, lập báo cáo, lập dự án đầu tư xây dựng công trình thì nhiệm vụ thiết kế
có thể do Nhà thầu khảo sát lập;
- Lựa chọn nhà thầu khảo sát xây dựng Trên cơ sở nhiệm vụ khảo sát tiến hành lập hồ
sơ mời thầu khảo sát xây dựng;
- Lập và phê duyệt phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng Phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng do Nhà thầu khảo sát xây dựng lập phải đáp ứng với nhiệm vụ khảo sát
đã phê duyệt, tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn áp dụng Nội dung phương án
kỹ thuật bao gồm: Thành phần, khối lượng công tác khảo sát xây dựng; phương pháp, thiết bị khảo sát và phòng thí nghiệm được sử dụng; tiêu chuẩn áp dụng; nội dung tổ
chức thực hiện và biện pháp tự kiểm soát chất lượng của nhà thầu; tiến độ thực hiện; các biện pháp bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật và các công trình có liên quan trong khu vực khảo sát; biện pháp bảo vệ môi trường (nguồn nước, tiếng ồn, khí thải); dự toán chi phí cho công tác khảo sát
- Thực hiện khảo sát xây dựng Nhà thầu khảo sát tiến hành công tác khảo sát theo phương án kỹ thuật khảo sát đã phê duyệt và tiến hành lập báo cáo kết quả khảo sát theo các nội dung sau: căn cứ thực hiện khảo sát; khái quát về vị trí, điều kiện tự nhiên
của khu vực khảo sát, đặc điểm, quy mô, tính chất công trình; khối lượng khảo sát xây
Trang 38dựng đã thực hiện; kết quả, số liệu khảo sát xây dựng sau khi thí nghiệm, phân tích; các ý kiến đánh giá, lưu ý, đề xuất; kết luận, kiến nghị; các phụ lục đi kèm;
- Giám sát công tác khảo sát xây dựng Giám sát khảo sát xây dựng (Chủ đầu tư) gồm các nội dung sau: kiểm tra năng lực thực tế của nhà thầu khảo sát xây dựng so với phương án khảo sát được duyệt và hợp đồng khảo sát (nhân lực, thiết bị tại hiện trường và phòng thí nghiệm); theo dõi, kiểm tra việc thực hiện khảo sát (gồm: vị trí
khảo sát; khối lượng khảo sát; quy trình thực hiện khảo sát, lưu trữ số liệu và mẫu thí nghiệm; kiểm tra thí nghiệm trong phòng, hiện trường; kiểm tra công tác đảm bảo an toàn lao động; an toàn môi trường.); Cùng với Chủ đầu tư, nhà thầu khảo sát thống
nhất về biểu mẫu, sổ nhật ký giám sát, biên bản nghiệm thu công tác khảo sát ngoài
hiện trường;
- Nghiệm thu kết quả khảo sát xây dựng Nghiệm thu kết quả khảo sát xây dựng là Nghiệm thu báo cáo kết quả khảo sát xây dựng theo các căn cứ là hợp đồng khảo sát xây dựng và nhiệm vụ khảo sát xây dựng, phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng được duyệt với thành phần là Người đại diện theo pháp luật của CĐT; Người giám sát khảo sát của CĐT; Người đại diện theo pháp luật của nhà thầu khảo sát; Chủ nhiệm khảo sát của nhà thầu khảo sát Nội dung nghiệm thu bao gồm: Kiểm tra chất lượng báo cáo theo nhiệm vụ khảo sát và phương án kỹ thuật đã được duyệt; Kiểm tra khối lượng công việc khảo sát thực hiện về quy cách, số lượng và các nội dung khác theo quy định
của hợp đồng khảo sát xây dựng; kết luận nghiệm thu Nội dung biên bản nghiệm thu báo cáo kết quả khảo sát xây dựng bao gồm: đối tượng nghiệm thu; thành phần trực
tiếp nghiệm thu; thời gian và địa điểm nghiệm thu; kết luận nghiệm thu (đạt yêu cầu
hoặc không đạt yêu cầu); chữ ký, họ tên, chức vụ người đại diện theo pháp luật và đóng dấu pháp nhân của các thành phần trực tiếp nghiệm thu;
- Lưu trữ kết quả khảo sát xây dựng
e) Quản lý chất lượng thiết kế công trình xây dựng
Trình tự thực hiện và quản lý chất lượng thiết kế xây dựng công trình được thực hiện theo các bước sau đây:
Trang 39- Lập nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình Nhiệm vụ thiết kế phải phù hợp với báo cáo đầu tư xây dựng công trình hoặc chủ trương đầu tư đã được phê duyệt được CĐT xác định hoặc thuê tư vấn lập Nhiệm vụ thiết kế là căn cứ để lập dự án đầu tư xây
dựng công trình, bao gồm: căn cứ lập nhiệm vụ thiết kế; mục tiêu xây dựng công trình; địa điểm xây dựng công trình; các yêu cầu về quy hoạch, cảnh quan và kiến trúc của công trình; các yêu cầu về quy mô và tuổi thọ của công trình, công năng sử dụng và các yêu cầu khác đối với công trình Nhiệm vụ thiết kế có thể được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với điều kiện thực tế để đảm bảo hiệu quả của dự án
- Lựa chọn nhà thầu thiết kế xây dựng công trình
- Lập thiết kế xây dựng công trình Nhà thầu thiết kế có trách nhiệm thực hiện chế độ
kiểm tra nội bộ đối với hồ sơ thiết kế xây dựng công trình bằng cách chỉ định cá nhận,
bộ phân trực thuộc tổ chức của mình hoặc thuê tổ chức, cá nhân khác thực biện việc
kiểm tra chất lượng thiết kế Người kiểm tra thiết kế phải ký tên, xác nhận trên bản vẽ thiết kế Trong khung tên từng bản vẽ phải có tên, chữ ký của người trực tiếp thiết kế,
chủ trì thiết kế, chủ nhiệm thiết kế, người đại diện theo pháp luật và dấu của nhà thầu thiết kế công trình Hồ sơ thiết kế bao gồm: thuyết minh thiết kế; bảng tính; bản vẽ thiết kế; tài liệu khảo sát xây dựng có liên quan; dự toán xây dựng công trình; quy trình bảo trì công trình
- Thẩm định thiết kế của chủ đầu tư, thẩm tra thiết kế của cơ quan chuyên môn về xây
dựng hoặc của tổ chức tư vấn;
- Phê duyệt thiết kế xây dựng công trình Người quyết định đầu tư phê duyệt thiết kế
bản vẽ thi công cùng với báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình đối với trường
hợp thiết kế 1 bước; Chủ đầu tư phê duyệt thiết kế kỹ thuật (thiết kế 3 bước) hoặc thiết
kế bản vẽ thi công (thiết kế 2 bước) hoặc thiết kế triển khai sau thiết kế cơ sở Thiết kế
bản vẽ thi công phải được CĐT xác nhận bằng chữ ký và đóng dấu phê duyệt vào từng
tờ bản vẽ trước khi đưa ra thi công
- Nghiệm thu hồ sơ thiết kế xây dựng công trình Công tác nghiệm thu với thành phần
là Người đại diện theo pháp luật của Chủ đầu tư, Người đại diện theo pháp luật của Nhà thầu thiết kế, Chủ nhiệm thiết kế xây dựng công trình dựa trên các căn cứ sau:
Trang 40hợp đồng giao nhận thầu thiết kế xây dựng công trình; nhiệm vụ thiết kế, hồ sơ thiết kế bước trước đã phê duyệt; quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn được áp dụng; hồ sơ thiết kế xây dựng đã được chủ đầu tư tổ chức thẩm định và phê duyệt Nội dung biên
bản nghiệm thu bao gồm: đối tượng nghiệm thu; thành phần trực tiếp tham gia nghiệm thu; thời gian và điạ điểm nghiệm thu; đánh giá số lượng, chất lượng hồ sơ thiết kế đối chiếu với yêu cầu kỹ thuật, yêu cầu của hợp đồng; kết luận nghiệm thu; chữ ký, họ trên, chức vụ người đại diện theo pháp luật và dấu pháp nhân
Căn cứ để lập thiết kế kỹ thuật:
- Nhiệm vụ thiết kế, thiết kế cơ sở trong dự án đầu tư xây dựng công trình được phê duyệt;
- Báo cáo kết quả khảo sát xây dựng bước thiết kế cơ sở, các số liệu bổ sung về khảo sát xây dựng và các điều kiện khác tại địa điểm xây dựng phục vụ bước thiết kế kỹ thuật;
- Các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng;
- Các yêu cầu khác của chủ đầu tư
Hồ sơ thiết kế kỹ thuật phải phù hợp với thiết kế cơ sở và dự án đầu tư xây dựng được duyệt, bao gồm:
- Thuyết minh gồm các nội dung theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về Quản
lý dự án đầu tư xây dựng công trình, nhưng phải tính toán lại và làm rõ phương án lựa
chọn kỹ thuật sản xuất, dây chuyền công nghệ, lựa chọn thiết bị, so sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, kiểm tra các số liệu làm căn cứ thiết kế; các chỉ dẫn kỹ thuật; giải thích những nội dung mà bản vẽ thiết kế chưa thể hiện được và các nội dung khác theo yêu cầu của chủ đầu tư;
- Bản vẽ phải thể hiện chi tiết về các kích thước, thông số kỹ thuật chủ yếu, vật liệu chính đảm bảo đủ điều kiện để lập dự toán, tổng dự toán và lập thiết kế bản vẽ thi công công trình xây dựng ;
- Dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình