1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực giám sát_unprotected

89 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến nay, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sỹ với đề tài luận văn: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực giám sát chất lượng các công trình thủy lợi tron

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của GS.TS Vũ Thanh Te cùng sự giúp đỡ của các thầy cô giáo Trường Đại học Thủy lợi; Ban giám đốc và các phòng ban chuyên môn Công ty TNHH MTV Thủy lợi

Nam Nghệ An; sự tham gia góp ý của các nhà quản lý, bạn bè, đồng nghiệp và cùng sự

nỗ lực của bản thân Đến nay, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sỹ với đề tài luận

văn: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực giám sát chất lượng các công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công tại Công ty TNHH một thành viên Thủy lợi Nam Nghệ An” chuyên ngành Quản lý xây dựng

Tác giả cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Vũ Thanh Te, đã dành nhiều thời gian, công sức cũng như tâm huyết hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích, chia sẻ với tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn

Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp chia sẻ những kinh nghiệm và đóng góp ý kiến

để Luận văn được hoàn thiện hơn

Một lần nữa tác giả xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng 08 năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Thế Phi

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây

Hà Nội, ngày tháng 08 năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Thế Phi

Trang 3

MỤC LỤC

L ỜI CẢM ƠN i

L ỜI CAM ĐOAN ii

PH ẦN MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2

5 Nội dung luận văn 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH TH ỦY LỢI 4

1.1 Tổng quan về tình hình phát triển các công trình thủy lợi ở Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Nghệ An 4

1.1.1 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi ở Việt Nam 4

1.1.2 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Nghệ An 8

1.2 Sự cần thiết của công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi ở Việt Nam hiện nay 18

1.2.1 Vai trò của ngành thủy lợi trong quá trình phát triển của đất nước 18

1.2.2 Tình hình chất lượng xây dựng công trình thủy lợi nói chung hiện nay ở nước ta 20

1.3 Những mặt đã đạt được trong công tác nâng cao chất lượng xây dựng công trình thủy lợi ở nước ta 22

1.4 Những bất cập về vấn đề chất lượng xây dựng công trình thủy lợi hiện nay 23

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình Thủy lợi 25

1.5.1 Nhóm nhân tố khách quan 25

1.5.2 Nhóm nhân tố chủ quan 27

Kết luận chương 1 29

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG TRONG GIAI ĐOẠN THI CÔNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 30

2.1 Quản lý chất lượng công trình 30

2.1.1 Quản lý chất lượng 30

Trang 4

2.1.2 Các nguyên tắc trong Quản lý chất lượng 31

2.1.3 Khái niệm quản lý chất lượng công trình 33

2.1.4 Nội dung cơ bản của hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng 35

2.1.5 Nội dung công tác giám sát thi công xây dựng 37

2.2 Các cơ sở pháp lý trong giám sát chất lượng xây dựng 41

2.2.1 Các văn bản trong giám sát chất lượng xây dựng 41

2.2.2 Căn cứ tiêu chuẩn, quy chuẩn trong giám sát chất lượng xây dựng 41

2.3 Các mô hình giám sát chất lượng công trình 43

2.3.1 Mô hình giám sát chủ đầu tư 44

2.3.2 Mô hình tư vấn giám sát độc lập 47

2.3.3 Mô hình giám sát cộng đồng 48

2.4 Một số phương pháp giám sát chất lượng công trình 49

2.4.1 Phương pháp quan sát 49

2.4.2 Phương pháp thực nghiệm 50

2.4.3 Phương pháp kiểm tra bằng thí nghiệm 51

2.5 Công tác giám sát chất lượng công trình ở một số quốc gia trên thế giới [6] 52

Kết luận chương 2: 55

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC GIÁM SÁT CH ẤT LƯỢNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRONG GIAI ĐOẠN THI CÔNG T ẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THỦY LỢI NAM NGHỆ AN 57

3.1 Giới thiệu khái quát về Công ty TNHH một thành viên Thủy lợi Nam Nghệ An 57

3.2 Thực trạng công tác giám sát các dự án đầu tư xây dựng công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công và bộ máy giám sát tại Công ty TNHH một thành viên Thủy lợi Nam Nghệ An 60

3.3.1 Những kết quả đạt được 64

3.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 65

3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực giám sát chất lượng các công trình trong giai đoạn thi công tại công ty TNHH MTV Thủy lợi Nam Nghệ An 67

3.4.1 Giải pháp về nhân lực 67

Trang 5

3.4.3 Xây dựng quy trình giám sát 75

Kết luận chương 3 78

K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

1 Kết luận 80

2 Kiến nghị 81

DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 6

DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU

Hình 1.1 Các nhân tố tác động đến chất lượng công trình 25

Hình 2.1 Quản lý chất lượng theo các giai đoạn của dự án đầu tư xây dựng công trình 34

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy Công ty TNHH MTV Thủy lợi Nam 58

Hình 3.2 Sơ đồ quy trình giám sát thi công 76

Bảng 3.1 Phân tích nguyên nhân của các hạn chế trong giai đoạn thi công 67

Trang 7

DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, các công trình thủy lợi ngày càng được Đảng và nhà nước quan tâm đầu tư mạnh mẽ Nhiều công trình lớn đòi hỏi kỹ thuật cao về thiết kế, đòi

hỏi công nghệ thi công mới đã được sử dụng mà không cần sự trợ giúp từ nước ngoài Các công trình thủy lợi như hồ đập, kênh mương được xây dựng mới đã thấy rõ sự quan tâm của Đảng và nhà nước trong vấn đề phục vụ nông nghiệp

Bên cạnh những kết quả to lớn đó, một vấn đề được tất cả các cấp, ngành quan tâm đó

là chất lượng thi công các công trình, đặc biệt là công tác giám sát chất lượng trong quá trình thi công xây dựng Công tác khảo sát, thiết kế kỹ thuật ngày nay đã được ứng

dụng các phần mềm tính toán rất nhiều, có nhiều chương trình tính toán vừa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, vừa mang tính thẩm mỹ cao Nhưng trong giai đoạn thi công, máy móc chỉ giải phóng được một phần công việc nặng nhọc, còn những công việc liên quan mật thiết đến chất lượng công trình, yếu tố con người vẫn đóng vai trò chủ

chốt Giám sát thi công xây dựng là yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng, công trình xây dựng không đảm bảo chất lượng sẽ có nguy hại đến đời sống xã hội của mọi người, không ít công trình do không đảm bảo chất lượng đã sụt lún, vỡ đập gây nguy

hiểm đến tính mạng con người, nhiều công trình có chất lượng không đảm bảo cũng gây mất mỹ quan giảm độ bền vững của công trình, gây lãng phí, tốn kém

Tăng cường công tác giám sát chất lượng thi công xây dựng đã và đang được Đảng và nhà nước quan tâm trong những năm gần đây Nhà nước đã ban hành Luật Xây dựng, chính phủ đã ban hành các Nghị định, các ban ngành đã có các thông tư hướng dẫn công tác giám sát chất lượng công trình xây dựng

Tuy nhiên, chất lượng công trình xây dựng trong giai đoạn thi công vẫn đang là vấn đề

bức xúc hàng đầu trong xây dựng công trình, giám sát thi công công trình còn mang tính chủ quan, đối phó, chưa quyết liệt dẫn đến hiện tượng rút ruột công trình vẫn đang

xảy ra

Trang 9

Trong những năm qua, Công ty TNHH MTV Thủy lợi Nam Nghệ An được UBND

Tỉnh Nghệ An quan tâm đầu tư nhiều dự án cải thiện hệ thống kênh mương, hồ đập do công ty quản lý, bên cạnh những kết quả đạt được từ các dự án, vẫn còn nhiều mặt hạn

chế, thiếu sót, đặc biệt là công tác giám sát chất lượng công trình trong giai đoạn thi công

Với mục đích tìm ra giải pháp để nâng cao công tác giám sát chất lượng các công trình trong giai đoạn thi công, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề

xu ất một số giải pháp nâng cao năng lực giám sát chất lượng các công trình thủy

l ợi trong giai đoạn thi công tại Công ty TNHH một thành viên Thủy lợi Nam Nghệ An” để làm luận văn tốt nghiệp của mình, với mong muốn có những đóng góp thiết

thực trong việc nâng cao năng lực giám sát chất lượng công trình thủy lợi tại Công ty TNHH MTV Thủy lợi Nam Nghệ An

2 Mục đích nghiên cứu

Từ thực trạng và dựa trên cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực giám sát chất lượng các công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công tại Công ty TNHH

một thành viên Thủy lợi Nam Nghệ An

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác giám sát chất lượng các công trình thủy

lợi

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác giám sát các công trình trong giai đoạn thi công tại Công ty TNHH MTV Thủy lợi Nam Nghệ An

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây: Phương pháp khảo sát; Phương pháp thống kê, kinh nghiệm; Phương

Trang 10

pháp tổng hợp, so sánh; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp phân tích tính toán và một số phương pháp kết hợp khác

5 Nội dung luận văn

Nội dung luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị gồm 3 chương chính như sau:

- Chương 1: Tổng quan về công tác quả lý chất lượng công trình thủy lợi

- Chương 2: Cơ sở khoa học và phương pháp giám sát chất lượng trong giai đoạn thi công các công trình thủy lợi

- Chương 3: Thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực giám sát chất lượng các công trình thủy lợi trong giai đoạn thi công tại Công ty TNHH MTV Thủy lợi Nam Nghệ An

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

1.1 Tổng quan về tình hình phát triển các công trình thủy lợi ở Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Nghệ An

1.1.1 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi ở Việt Nam

Nằm ở vùng Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có lượng mưa và dòng chảy khá phong phú Lượng mưa bình quân hằng năm của

cả nước đạt gần 2000 mm Việt Nam có mật độ sông ngòi cao, có 2360 sông với chiều dài từ 10 km trở lên và hầu hết sông ngòi đều chảy ra biển Đông Tổng lượng dòng chảy bình quân vào khoảng 830 tỷ m3/năm, trong đó có 62% là từ lãnh thổ bên ngoài Phân bố mưa và dòng chảy trong năm không đều, 75% lượng mưa và dòng chảy tập trung vào 3 - 4 tháng mùa mưa Mùa mưa lại trùng với mùa bão nên luôn phải đối mặt với nhiều thiên tai về nước, đặc biệt là lũ lụt Ngoài ra, Việt Nam là quốc gia có nền nông nghiệp lúa nước, dân số đông Tổng diện tích đất nông nghiệp luôn được khai phá mở mang thêm nhưng đến năm 2007 mới chỉ đạt 8,5 triệu ha trong khi dân số là 85,1triệu người, mức bình quân đầu người chỉ đạt 0,4ha Nếu tính riêng diện tích trồng lúa cả nước có 4 triệu ha thì bình quân một nông dân ở nhiều vùng chỉ có 300-400m2/người Đây là mức thấp nhất trong khu vực, đồng thời cũng là mức thấp nhất thế giới Để đảm bảo lương thực cho đất nước có số dân đông trong điều kiện thiên tai

ác liệt, từ xa xưa, tổ tiên người Việt đã phải sớm xây dựng các công trình khai thác, điều tiết nguồn nước, dẫn nước, sử dụng nước từ nhỏ, thô sơ, tạm bợ, thời vụ cho đến các công trình có quy mô lớn Kế thừa truyền thống của cha ông, từ sau năm 1954 khi miền Bắc được giải phóng; Đảng, Nhà nước ta đã khôi phục nhanh chóng các hệ thống thủy lợi bị chiến tranh tàn phá, đẩy mạnh xây dựng các công trình thủy lợi từ nhỏ đến

lớn như hồ Cấm Sơn, Núi Cốc, hệ thống đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải, các hệ thống trạm bơm ở Bắc Hà Nam, Nam Định, Thái Bình… Năm 1975, sau khi nước nhà thống nhất với sự tăng cường của lực lượng cán bộ khoa học, kỹ thuật miền Bắc, công việc quy hoạch và xây dựng các hệ thống thủy lợi đã nhanh chóng được triển khai mạnh mẽ

ở miền Trung và miền Nam, tạo ra bước đột phát về phát triển thủy lợi trong phạm vi

cả nước

Trang 12

Ở Đồng bằng sông Cửu Long do có chủ trương kỹ thuật và bước đi thích hợp để cải tạo các vùng bị ngập lũ, chua phèn và xâm nhập mặn bằng các hệ thống kênh trục, kênh ngang, cống, đập, bờ bao… Nên đã tạo ra khả năng để chuyển vụ lúa mùa nổi năng suất thấp sang 2 vụ lúa đông xuân, hè thu có năng suất cao trên một vùng rộng lớn ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Tây Sông Hậu….Ở miền Đông Nam

Bộ, miền Trung, Tây Nguyên ngoài phát triển các hệ thống thủy lợi vừa và nhỏ đã xây dựng nhiều công trình hồ đập lớn như Dầu Tiếng, Kẻ Gỗ, Phú Ninh, Thạch Nham Đá Bàn, Sông Quao, Yaun, Krông Buk…Ở miền Bắc tiếp tục nâng cấp và làm mới các công trình tưới, tiêu úng và nâng cấp hệ thống đê điều

Thành quả chung của công tác thủy lợi đã đưa lại cho đất nước là rất to lớn và đã góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp và phòng chống thiên tai có bước phát triển mạnh mẽ, góp phần cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, và cải tạo môi trường Dưới đây là một số kết quả cụ thể:

Năm 1945 không kể ở đồng bằng sông Cửu Long, cả nước có 13 hệ thống thủy nông tập trung ở các tỉnh trung du, đồng bằng Bắc Bộ, khu Bốn cũ, Duyên hải miền Trung, đập Thác Huống trên sông Cầu, đập Bái Thượng trên sông Chu, đập Đô Lương trên sông Cả, đập Đồng Cam trên sông Ba…Tổng năng lực tưới của các công trình đập lớn cùng với 13 hệ thống thủy nông nói trên đã đảm bảo tưới cho 324.900 ha, tiêu cho 77.000 ha Từ năm 1956 đến năm 2009, cả nước đã xây dựng được trên 500 hồ đập thủy nông loại lớn và vừa, trong đó có những đập cao như: Cấm Sơn cao 40,5 m chứa

338 triệu m3, Kẻ Gỗ cao 40 m chứa 425 triệu m3, Phú Ninh cao 38 m chứa 425 m3,

Cửa Đạt cao 118 m chứa 1,5 tỷ m3, Dầu Tiếng cao 30 m chứa 1,45 tỷ m3 Tính đến cuối năm 2009, các hồ đập cùng các biện pháp công trình thủy lợi khác như trạm bơm, cống, kênh đã đảm bảo cho trên 7 triệu ha đất lúa được tưới, trong đó: vụ đông xuân 2,94 triệu ha, hè thu 2,3 triệu ha, vụ mùa 2,51 triệu ha Các công trình thuỷ lợi cũng đã tạo nguồn nước tưới cho 1,15 triệu ha; tiêu úng cho 1,8 triệu ha (trong đó 1,45 triệu ha đất ruộng trũng); ngăn mặn cho trên 800 nghìn ha ở ĐBSCL; cải tạo chua phèn cho 1,6

triệu ha Thành quả trên đã góp phần tăng sản lượng lúa từ 16 triệu tấn năm 1986 lên 19,2 triệu tấn năm 1990; 24,9 triệu tấn năm 1995; 32,5 triệu tấn năm 2000 và 38,7

Trang 13

triệu tấn Cùng với lúa, sản xuất ngô, các loại hoa mầu cây công nghiệp cũng phát triển nhanh chóng góp phần phát triển chăn nuôi gia súc và tạo vành đai thực phẩm ổn định cho các đô thị

Về công tác đê điều - phòng chống và giảm nhẹ thiên tai: Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và gần một trong 5 trung tâm bão lớn nhất của thế giới, hằng năm Việt Nam phải chịu hàng chục cơn bão lớn, thông thường bão đều kèm theo mưa lớn gây nên những thiệt hại lớn về người, tài sản và sản xuất nông nghiệp Ở miền Bắc và khu Bốn

cũ để chống bão lụt, ngăn nước biển dâng từ xa xưa ông cha ta đã đắp đê, làm kè nhưng mức đảm bảo không cao Chỉ riêng năm 1945 hệ thống đê sông Hồng đã có 79 đoạn bị vỡ, đê khu 4 cũ cũng luôn trong tình trạng không an toàn Từ 1956 đến nay, hệ thống đê sông luôn được củng cố Cùng với các giải pháp điều tiết hồ chứa khi có mùa

lũ và chỉ đạo phòng chống lụt bão kịp thời, đã góp phần bảo vệ dân cư, mùa màng, hạn chế được nhiều thiệt hại bởi thiên tai Ở đồng bằng sông Cửu Long nơi thường xuyên

bị ngập từ 1,2 - 1,6 triệu ha về mùa lũ và có đến 700 nghìn ha bị mặn xâm nhập Từ sau năm 1975 đã đắp hệ thống bờ bao ngăn lũ sớm, hạn chế xâm nhập mặn và nhiều công trình thoát lũ, hệ thống đê biển cũng từng bước được xây dựng ở nhiều địa phương, nhờ vậy đã bảo vệ được hầu hết diện tích gieo trồng lúa hè thu ở vùng lũ và lúa đông xuân ở vùng trũng không bị lũ sớm đe dọa và nước biển xâm nhập

Về cấp nước sinh hoạt, nước công nghiệp và nuôi trồng thủy sản: Các hệ thống thủy lợi được xây dựng trong nhiều năm liên tục được phân bổ rộng khắp trên mọi vùng của đất nước đã góp phần cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư xung quanh công trình, nhiều hồ còn cấp nước sinh hoạt cho các điểm công nghiệp và đô thị như hồ Song Ray (Bà Rịa - Vũng Tàu), hồ Mỹ Tân (Ninh Thuận), Hòa Sơn (Khánh Hòa), cụm hồ Thủy Yên - Thủy Cam (Thừa Thiên Huế), Ngàn Trươi - Cẩm Trang (Hà Tĩnh), Bản Mòng (Sơn La), Ia Keo - Nà Cáy (Lạng Sơn) Nổi bật nhất là đã xây dựng được các công trình cấp nước cho 30 vạn đồng bào vùng cao đặc biệt là những vùng núi đá vôi như Trà Lĩnh, Hà Quảng, Lục Khu (Cao Bằng) Yên Ninh, Quảng Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang)… nhiều huyện vùng cao ở Lào Cai, Lai Châu, Sơn La Thuỷ lợi cũng cấp nước cho nuôi trồng thủy sản, hàng vạn ha mặt nước của các ao hồ nuôi thủy sản đều dựa chủ yếu vào nguồn nước ngọt từ các hệ thống thủy lợi; đối với các vùng ven biển,

Trang 14

phần lớn các công trình thủy lợi đều ít nhiều đóng góp vào việc tạo ra môi trường nước

lợ, nước mặn để nuôi tôm và một số loài thủy sản quý hiếm, tạo điều kiện cho việc nuôi trồng thủy sản có bước phát triển mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân trong nước và xuất khẩu

Về đóng góp vào xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới: Nhiều vùng nông thôn Việt Nam, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa do ruộng đất ít, tập quán canh tác còn lạc hậu, dân số tăng nhanh, vì vậy cuộc sống gặp nhiều khó khăn, có nơi còn quá nghèo; các công trình thủy lợi nhỏ được xây dựng bằng nhiều nguồn vốn khác nhau đã giúp cho nông dân có nước để canh tác, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nhiều vùng rất khó khăn Nhiều công trình đã tạo ra nguồn nước để trồng trọt và định canh, định cư để xóa đói giảm nghèo và bảo vệ rừng, hạn chế được việc đốt nương rẫy Những công trình kênh mương ở đồng bằng sông Cửu Long thực sự là điểm tựa để làm nhà tránh lũ, phân bổ lại dân cư và tiến sâu vào khai phá những vùng đất còn hoang hóa Những công trình như 6 trạm bơm ở Bắc Hà Nam, Nam Định thực sự đã xóa đi cảnh “6 tháng

đi chân, 6 tháng đi tay” của người dân địa phương, đẩy lùi được căn bệnh đau mắt hột, bệnh chân voi của người dân nơi đây Về tác động của thủy lợi đối với môi trường: Trong những năm qua, thủy lợi đã góp phần quan trọng vào mở mang tài nguyên đất

và cải tạo môi trường đất Điều này có thể thấy rất rõ khi nghiên cứu về lịch sử phát triển của các đồng bằng đặc biệt là ở đồng bằng sông Cửu Long Tại đây, đã cho thấy thủy lợi đã có những đóng góp quan trọng để mở mang tài nguyên đất đai và cải tạo môi trường đất: Từ một cánh đồng phù sa lớn còn hoang sơ cách đây hơn 200 năm, sau khi nhà Nguyễn cho đào các kênh Rạch Rá - Hà Tiên, kênh Vĩnh Tế… đã có 520.000

ha đất hoang được khai phá, đưa vào trồng trọt, sau đó đưa tàu cuốc vào đào kênh thì diện tích đất đã được tăng lên nhanh chóng và đạt đến 1.170.000 ha (1890); 1.530.000

ha (1910), 1.930.000 ha (1920), 2.200.000 ha (1935) Các kênh khi mở ra đã là các điểm tựa làm nhà chống lũ, phân bổ lại dân cư để tiến sâu vào khai phá những vùng đất mới còn hoang hóa, tạo ra mạng lưới giao thông thủy thuận tiện cho phát triển kinh

tế, mở rộng giao lưu đời sống xã hội ở nông thônăối các đô thị trong vùng Với đặc điểm địa hình trũng thấp, chế độ lũ, triều phức tạp ở đồng bằng sông Cửu Long đã làm cho 1,6 triệu ha bị chua phèn, trên 80 vạn ha bị nhiễm mặn nhưng với các giải pháp

Trang 15

thống kênh cống, đập đã cải tạo dần được vùng đất phèn rộng lớn ở Đồng Tháp Mười,

Tứ giác Long Xuyên… và với nhiều con đập và cống lớn nhỏ được xây dựng ở các cửa sông để giữ ngọt, ngăn mặn xâm nhập và rửa mặn trên đồng ruộng đã cải tạo dần được hàng trăm ngàn ha đất bị nhiễm mặn, chua phèn Thủy lợi đã và đang cải tạo những vùng đất “chiêm khê mùa thối” chấm dứt được cảnh “sống ngâm da, chết ngâm xương” và các bệnh đau mắt hột ở các vùng chiêm trũng, tiêu thoát nước thải bẩn, nước gây ngập úng khi mưa và triều dâng cho nhiều đô thị

1.1.2 Tình hình phát triển các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Nghệ An

1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội

a) Vị trí giới hạn, diện tích tự nhiên:

Nghệ An có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước với 1.648.729 ha được giới hạn bởi:

- Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa

- Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh

- Phía Tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

- Phía Đông là biển

- Vùng đồng bằng 9 huyện thành, thị xã gồm: Diễn Châu, Yên Thành, Đô Lương, Quỳnh Lưu, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, thị xã Cửa Lò và thành phố Vinh, diện tích tự nhiên là 274.288 ha, dân số là 1.894.407 người

a) Những yếu tố thuận lợi:

Trang 16

- Có khoảng 200.000 ha đất nông nghiệp đại bộ phận tập trung thành các vùng lớn nằm ở ven sông gần nguồn nước Các vùng đất cần tưới hầu hết đã được khai thác thành ruộng đưa vào sản xuất, vùng chuyên canh lúa nước, rau màu tập trung vùng đồng bằng, vùng chuyên canh cây công nghiệp dài ngày nằm ven đường Hồ Chí Minh

- Tài nguyên nước:

+ Nguồn nước tương đối phong phú với lượng mưa trung bình năm vùng đồng bằng ven biển 1.800mm, vùng Tây Bắc 1.600mm, vùng Kỳ Sơn, Tương Dương 1200mm, vùng sông Giăng 2000mm, tổng lượng dòng chảy trên các lưu vực sông trung bình hàng năm trên 16 tỷ m3 nước

+ Sông Cả lưu vực 27.300 km2 nguồn nước dồi dào, nhiều nhánh lớn điều kiện địa hình, địa chất có thể xây dựng 1 số hồ chứa vừa 500MW, dung tích hồ lớn để cấp nước phục vụ lớn tạo nguồn điện năng từ 450 cho nhiều mục đích khác nhau Các công trình xây dựng trên hệ thống sông Cả ít bị chi phối bởi các vùng lãnh thổ láng giềng nên có điều kiện chủ động thực hiện

- Hệ thống khe suối phân bố dày tạo điều kiện xây dựng các hồ chứa và đập dâng tự giải quyết nước cho từng vùng độc lập Hiện tại đã xây dựng 1.478 công trình, trong

đó trên 600 hồ chứa, dung tích điều tiết 430 triệu m3 nước và còn có điều kiện xây dựng nhiều hồ chứa nhỏ, đập dâng tưới, giữ ẩm các tiểu vùng độc lập phân tán

- Nguồn vật liệu xây dựng: Nguồn vật liệu xây dựng các công trình thủy lợi là đá, cát,

gỗ, xi măng có nguồn địa phương

- Điều kiện giao thông

Hệ thống đường giao thông bao gồm tuyến Quốc lộ số 1, đường Hồ Chí Minh chạy theo hướng Bắc Nam, Quốc lộ số 7, số 46, số 48 chạy theo hướng Đông Tây nối từ đường số 1 lên các cửa khẩu Thông Thụ, Nậm Cắn, Thanhh Thủy Ngoài ra còn có các tuyến đường liên huyện, liên xã, đặc biệt có tuyến đường quốc phòng (biên giới) đang được xây dựng và hệ thống đường nông thôn đã được nhựa hóa, bêtông hóa giúp cho việc vận chuyển vật liệu xây dựng thuộc các huyện đồng bằng vùng núi thấp khá thuận

Trang 17

- Hệ thống điện lưới Quốc gia đã phủ 18 trên 19 huyện thành tạo thuận lợi cho việc xây dựng các trạm bơm

b) Những khó khăn thách thức:

- Điều kiện địa hình phức tạp, tỷ lệ đồi núi lớn chiếm trên 80% diện tích, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống khe suối mật độ dày, độ cao mặt đất chênh lệch lớn, hướng dốc đa chiều, tỷ suất đầu tư lớn

- Nền địa chất công trình đa dạng, phức tạp, dễ gây trượt, sạt lở mái, thấm qua nền, thay đổi dòng chảy sông suối gây bồi lấp cửa lấy nước, xói lở vùng bờ biển, cửa sông

- Diễn biến khí hậu thời tiết phức tạp:

+ Lượng mưa phân bố không đều không gian và thời gian: Tương Dương, Kỳ Sơn theo 1200 mm, các vùng thung lũng 1100 Kỳ Sơn 700, 900 mm, lượng mưa 3 tháng mùa lũ (tháng 9-11) chiếm 75%

+ Nhiệt độ, độ ẩm cao có biên độ dao động lớn

+ Chịu ảnh hưởng trực tiếp của nước dâng và bão từ biển Đông và gió khô nóng Tây Nam

Trên đây là những nguyên nhân trực tiếp gây hạn hán gay gắt, lụt lội ác liệt, lũ quét, sạt lở đất, xâm nhập mặn tác động xấu đến công tác phát triển thủy lợi, chi phí đầu tư thủy lợi cao đặc biệt là các huyện miền núi

- Điều kiện kinh tế Nghệ An gặp nhiều khó khăn, mức thu nhập đầu người thấp hơn bình quân cả nước

- Phân bố dân cư: Nghệ An có 10 huyện miền núi có 37,5% dân số cả tỉnh nhưng diện tích tự nhiên chiếm 83% diện tích cả tỉnh Có nhiều núi cao hiểm trở, dân ở rải rác, đặc biệt là các vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa ruộng đất ít, dân thưa thớt, dân trí thấp, công trình thủy lợi xây dựng phức tạp

Trang 18

- Cơ sở hạ tầng vùng núi cao thấp kém còn 144 xã đặc biệt khó khăn, năm 2004 còn 12

xã chưa có đường ôtô đến trung tâm, 22 xã ôtô chỉ vào trung tâm mùa khô Đặc biệt khó khăn là việc vận chuyển vật liệu xây dựng đến công trình

- Hầu hết các xã của 3 huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong chưa có điện đến xã

- Biên giới Nghệ An với nước Lào 419km đi qua vùng hiểm trở, dân ở thưa thớt, thủy lợi phục vụ công tác định canh, định cư, ổn định đời sống dân dọc biên giới, góp phần quan trọng trong bảo vệ Tổ Quốc là nhiệm vụ hết sức nặng nề

Nhiều năm qua được sự quan tâm của Trung ương, trực tiếp là Bộ Nông Nghiệp và PTNT, cùng với sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ và nhân dân trong tỉnh, thông qua nhiều chương trình phát triển, tranh thủ các nguồn vốn Quốc tế và phát huy nội lực, công tác đầu tư và phát triển thủy lợi ở Nghệ An đã đạt được những kết quả sau:

a Công trình cấp nước tưới

Toàn tỉnh đã xây dựng được 1.478 công trình bao gồm 684 hồ chứa lớn nhỏ, 339 đập dâng, 548 trạm bơm điện, ngoài ra còn có một số phai tạm, kiên cố hoá kênh mương 4.259 km, giải quyết tưới được 82.212 ha

Vùng đồng bằng có 563 công trình tưới được 58.118 ha lúa màu so với đất canh tác hàng năm 82.000 ha đạt 70,63%, cấp nước cho nuôi trồng thủy sản 7000 ha gồm tôm,

cá ao, cá ruộng lúa 10 huyện miền núi có 915 công trình hồ đập và trạm bơm, kiên cố hoá 1.114 km kênh tưới được 24.094 ha so với đất canh tác hàng năm 61.000 đạt 36,94%, tưới cho cây công nghiệp, cây ăn quả 1.485 ha

- Hệ thống Đô Lương, Diễn - Yên – Quỳnh:

Hệ thống thuỷ nông Đô Lương, Diễn - Yên - Quỳnh được đầu tư khôi phục bằng vốn vay ngân hàng Châu Á (ADB), các hạng mục công trình chính đã được sửa chữa khôi phục (làm thêm một cửa Tuy nen) lưu lượng lấy vào tăng, giải quyết nước tưới cơ bản cho diện tích lúa nước Tuy nhiên do nguồn vốn có hạn kênh chính còn 15.452m, kênh cấp 1 còn 88.078m, kênh cấp 2 còn 126.000m chưa được kiên cố, vì vậy nước về phần

Trang 19

cuối kênh cấp 1 như N13, N20, N18, N8, N24, N26, N2 gặp khó khăn trong một số năm hạn hán gay gắt Các vùng màu tập trung như Bãi ngang Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Cửa Lò thiếu công trình dẫn nước tưới Một vài vùng đã có kênh dẫn tạo nguồn đi qua nhưng chưa phát huy tác dụng, nguyên nhân là do vừa thiếu hệ thống kênh mặt ruộng vừa chưa có biện pháp tưới thuyết phục

Hiện nay hệ thống tưới tự chảy là 14.038 ha 133 trạm bơm lấy nước hệ thống và nước ngọt hoá sông Bùng kênh nhà Lê, trạm bơm Văn Tràng, 29 trạm lấy nước Khe Khuôn tưới 11.062 ha, đưa tổng diện tích vùng hệ thống được tưới 25.100 ha, diện tích tăng hơn trước khôi phục là 3.000 ha

Hiện tượng thay đổi dòng chảy, tạo bãi bồi Thượng đập Đô Lương ảnh hưởng đến khả năng lấy nước vào hệ thống

- Hệ thống thủy lợi Nam - Hưng – Nghi:

Hệ thống Nam - Hưng - Nghi được đầu tư khôi phục và nâng cấp bằng vốn vay ngân hàng thế giới WB đã sửa chữa khôi phục lại các công trình chính: cống Nam Đàn, cống Bến Thuỷ, nạo vét hệ thống kênh dẫn, tu sửa phần cơ điện đầu mối 30 trạm bơm

và kênh dẫn Làm thêm cống Nghi Quang tạo thành hệ thống ngọt hoá sông Bùng, sông Cấm góp phần giải quyết cấp nước cho 192 trạm bơm tưới vùng lúa nước tương đối ổn định 14.000 ha

Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, hiện tại hệ thống Nam - Hưng - Nghi còn một

- Các hồ chứa nước:

Trang 20

+ Vùng Bắc có 272 hồ chứa, lưu vực 1.290 km2, trữ 228, 2 triệu m3 nước tưới cho 11.128 ha

+ Vùng Nam - Hưng - Nghi: có 90 hồ, chắn lưu vực 157 km2trữ 53 triệu m3 nước tưới cho 2.860 ha

+ Vùng miền núi có 322 hồ chắn lưu vực 1.728 km2, trữ 154 triệu m3 nước tưới cho 9.301 ha

Vùng miền núi có 339 đập dâng nước tưới được 5.990 ha

Vùng miền núi có 140 trạm bơm tưới được 8.803 ha

Vùng đồng bằng có 81 trạm bơm lấy nước ven sông Lam và khe suối, tưới được 5.030

ha

- Đánh giá chung:

+ Các hồ chứa nước thiết kế qua nhiều thời kỳ tiêu chuẩn không thống nhất, so với hiện nay tiêu chuẩn thiết kế nhìn chung là thấp, công trình chưa an toàn Đặc biệt một

số công trình nhỏ nhiều công trình chất lượng thiết kế thi công thấp, một số công trình

do dân tự đắp rồi được nâng cấp nhiều lần chất lượng không đảm bảo

+ Một số hồ chứa loại vừa tưới hiệu quả thấp như Vực Mấu, Vệ Vừng, Khe Đá… Nguyên nhân chính là do hệ thống kênh xuống cấp chưa được kiên cố, công trình trên kênh hư hỏng, thiếu, gây lãng phí nước Mặt khác công tác quản lý nguồn nước và phân phối nước chưa tốt

+ Các hồ nhỏ, nhiều hồ đập tràn chưa được gia cố, cống hư hỏng không kín nước vừa không an toàn, vừa lãng phí nước

+ Đập dâng: toàn tỉnh có 339 đập dâng tưới cho 5.990 ha hầu hết là ở các huyện miền núi Trong 5 năm qua phần lớn các đập này đã được sửa chữa nâng cấp và một số làm

Trang 21

+ Các trạm bơm lấy nước ven sông: vùng đồng bằng có 81 trạm tưới cho 5030 ha, vùng miền núi có 140 trạm tưới 8803 ha Các trạm bơm hiện nay còn một số tồn tại sau:

Do thay đổi dòng sông, một số trạm bơm không hoạt động được như trạm bơm Nghĩa Hoàn, Thuận Sơn, một số trạm hoạt động khó khăn nhất là những năm kiệt nước như trạm bơm Lam Sơn, Trung Sơn, Hưng Xuân…

Một số trạm bơm chưa có hiệu quả như trạm Làng Rào, Đồng Cốc, Cây Khế

Công trình tiêu:

Song song với việc giải quyết nước, tỉnh ta đã được đầu tư xây dựng một số công trình tiêu lớn và đã đạt được hiệu quả như sau:

- Hệ thống tiêu úng Diễn Châu, Yên Thành (sông Bùng) tiêu 739 km2, trong đó 32.000

ha đất nông nghiệp bao gồm 3 kênh tiêu lớn: Sông Bùng, Vách Bắc, kênh Diễn Hoa có các cống ngăn mặn, giữ ngọt tiêu lũ và hệ thống đê sông dài 59, 26 km đã giải quyết tiêu ổn định cho 25.000 ha cây lúa Đông xuân, Hè thu

- Hệ thống tưới tiêu kết hợp Nam - Hưng - Nghi bao gồm gần 170 km kênh chính, các cống ngăn mặn giữ ngọt tiêu úng Bến Thủy, Nghi Quang giải quyết tiêu cho 643 km, trong đó có 32.000 ha đất nông nghiệp, giải quyết tiêu ổn định cho 16.000 ha diện tích cây lúa đông xuân và hè thu

- Một số vùng tiêu khác như Bắc Diễn Châu, Quỳnh Lưu và Đô Lương, Thanh Chương giải quyết tiêu cho 36.000 ha đất nông nghiệp trong đó có 10.000 ha lúa đông xuân và hè thu vùng thấp

- Tiêu cho vùng màu, đã được nghiên cứu lập dự án 3 vùng Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc tiêu 10.800 ha nhưng thiếu kinh phí, thực hiện khối lượng chưa đáng kể

- Một số tồn tại lớn hiện nay:

+ Hệ thống tiêu Diễn - Yên, Nam - Hưng - Nghi, Bắc Diễn Châu, Quỳnh Lưu đều là

hệ thống tưới tiêu kết hợp nên hiện tượng bồi lắng lòng kênh là phổ biến sẽ hạn chế việc tiêu nước kể cả tưới nước Điển hình là kênh nhà Lê nối liên sông Bùng, sông

Trang 22

Cấm, kênh Sơn Tĩnh (Diễn Châu) kênh Bình Sơn (Quỳnh Lưu), Khe Cái (Nghi Lộc) hàng năm thiếu kinh phí nạo vét, sữa chữa duy tu

+ Tổ chức việc quản lý hệ thống tiêu chưa được chú ý đúng mức, một số vị trí lấn chiếm khu vực bảo vệ công trình chưa được giải quyết triệt để, một số đang có nguy

cơ bị lấn chiếm phần lưu thông dòng chảy như vùng Thượng nguồn sông Cấm, 2 bên kênh nhà Lê

+ Giải quyết tiêu cho vùng màu thiếu nguồn kinh phí triển khai chậm, hiệu quả còn thấp, tiêu giải quyết môi trường đô thị chậm

Hệ thống đê:

Hiện nay toàn tỉnh có 444, 3 km đê bao gồm: đê cấp III (phía tả sông Lam) dài 67,6

km, đê cấp IV hai bên tả, hữu sông Lam dài 77,01 km, đê ngăn mặn dài 147,0km (trong đó đê trực tiếp biển 23,5 km), đê sông nội đồng dài 153,3 km

Đê tả Lam (đê cấp III):

Tuyến đê dài 104,2 km (trong đó đê thực đắp dài 67,6 km), thực trạng hiện nay như sau:

- Cao trình đỉnh đê toàn tuyến đạt tiêu chuẩn thiết kế đặt ra cao hơn mực nước lũ hoàn nguyên 1978 là 1m

- Mái đê phía sông m = 2, phía đồng m = 3 đạt tiêu chuẩn thiết kế

- Mặt đê đại bộ phận đạt thiết K25), 2,7 m kế, một số đoạn còn nhỏ trung bình đạt 2,6

m (đoạn Cẩm Thái K16 K90+744) Mặt đê đã được cứng hoá 10 km (đoạn Hưng Lợi K80)

- Cơ đê đảm bảo đủ rộng và đạt cao trình (tương đương mức báo động III) đã được rải nhựa 40,25 km, còn 39 km

Hiện nay đoạn từ cống Rào Đừng đến Nam Đàn đang được thi công đường du lịch ven sông Lam kết hợp đi theo đê Từ cống Rào Đừng đến cống Bến Thuỷ đường đi trên

Trang 23

mặt đê, từ cống Bến Thuỷ đến Nam Đàn đường đi theo cơ đê, mặt đường rộng 11 m được láng nhựa, các công trình qua đê được làm lại hoặc nâng cấp mở rộng

- Phía sông có 16 hệ thống kè lát mái dài 9.900 m, 45 mỏ hàn bảo vệ bờ các đoạn xung yếu đã phát huy lái dòng chảy có hiệu quả Tuy nhiên do biến đổi của dòng chảy lớn, một số vị trí kè bị xói như Phượng Kỷ, Cẩm Thái, Hồng Ong, Hưng Xuân, Hưng Lam Mùa lụt 2005 một số đoạn đê bị nứt dọc như đoạn Cẩm Thái, Hưng Châu

- Có 40 cống dưới đê, nhìn chung chất lượng còn tốt, một số cống bị hỏng như cống Hưng Xuân 1, cống Rào Đừng 1, Rào Đừng 2 đang được làm lại

Các tuyến đê cấp IV:

Tuyến đê cấp IV nằm ở 2 phía tả hữu sông Lam, với tổng chiều dài 74,6 km, bảo vệ cho 18.152 ha, 212.000 người dân Nhiệm vụ các tuyến đê này bảo vệ sản xuất vụ đông xuân và vụ hè thu với mức chống lũ báo động II, khi lũ cao đây là vùng chặn lũ

- Đô Lương có đê Nam Bắc Đặng dài 7 km, Thanh Chương có 7 tuyến đê dài 47,01

km, Nam Đàn có 3 tuyến dài 23, 32 km Các tuyến đê Nam Bắc Đặng, đê Nam Trung,

đê Năm Nam đã đắp ngang cao trình báo động III, thực tế cao hơn cao trình yêu cầu,

đê đắp chất lượng tương đối tốt, tuy nhiên các công trình bảo vệ đê chưa đầy đủ, chưa chủ động cho lũ tràn vào và tháo nước ra sau lũ

- Các tuyến đê Tả Lam Lương – Yên – Khai, Nam Thái được đầu tư bằng nguồn vốn

OX – PAM đảm bảo đủ mặt cắt chống lũ báo động II, chất lượng tương đối đảm bảo, sau thời gian sử dụng có một số đoạn bị sạt cần tu sửa lại, củng cố thêm các tràn sự cố qua đê

- Các tuyến đê vùng Hữu Ngạn Thanh Chương Thanh Lĩnh, Thanh Tiên, Thanh Thịnh, Thanh An, Thanh Chi đê thấp, mặt cắt nhỏ chưa đủ điều kiện chống lũ báo động II, các công trình bảo vệ đê, tiêu nước dưới đê còn thiếu

Các tuyến đê ngăn mặn:

Đê ngăn mặn có tổng chiều dài 176, 85 km bảo vệ tổng cộng 13.343 ha, 1.100ha muối, 1.303 ha tôm, 396.000 người được phân ra

Trang 24

- Các tuyến đê biển dài 23,55 km, trong đó có 12, 4 km đê Kim – Hải – Hùng chất lượng tương đối tốt, còn lại đê Rú Ói (Quỳnh Bảng) dài 700 m, đê Trung – Thịnh – Thành dài 8,5 km, đê La Vân 2km (Nghi Lộc) đê còn thấp, mái chưa được gia cố, đê chưa an toàn

- Đê cửa sông dài 153, 3 km Trong đó có 70, 5 km đã được nâng cấp sửa chữa bằng các dự án 4617, dự án đê muối, dự án đê Thuỷ sản, đê đạt cao trình đỉnh 3,3,5 m, mặt rộng 3 m, mái sông 3/1, mái đồng 2/1, mái và mặt đê phần lớn chưa được gia cố, 53

km đê còn lại bao gồm đê Quỳnh Lộc dài 5 km đang được đầu tư nâng cấp, 48 km thuộc vùng tả Hoàng Mai, hữu sông Thái, Đông sông Mơ, kênh nhà Lê, đê thấp, mặt cắt nhỏ chưa đáp ứng yêu cầu chống lũ

- 128, 5km đê sông nội đồng chống lũ hè thu

Kè bảo vệ bờ:

- Hiện nay đã xây dựng kè Nghi Hải dài 3 km bảo vệ bờ tả sông Lam

- Đang xây dựng kè Diễn Vạn bảo vệ bờ 2 bên hạ lưu cống Diễn Thành và bờ hữu cửa

ra cống Diễn Thành

Các tuyến đê nội đồng (đê nằm trong các công trình ngăn mặn):

Các tuyến đê này có tổng chiều dài 153,30 km, cụ thể như sau:

- Vùng Diễn - Yên - Quỳnh 59, 26 km đã được nâng cấp một số tuyến phía tả sông như đê Long Thành, Nhân Thành, Diễn Nguyên, Diễn Quảng, đê sông Dinh, đang được nâng cấp đê Khánh Thành Còn lại phần lớn các tuyến đê sông Bùng, đê nhánh

bờ hữu sông Bùng chưa được nâng cấp

- Vùng Nam - Hưng - Nghi có 69, 24 km dọc kênh Thấp sông Vinh, Hoàng Cần, kênh Gai sông Cấm, một số tuy hạ lưu sông Cấm như Nghi Quang, Nghi Yên, Nghi Tiến được nâng cấp theo dự án 4617, nhưng đã bị xuống cấp, các tuyến thượng lưu sông Cấm mới hình thành đê thấp, mặt cắt nhỏ Riêng tuyến đê kênh Thấp – sông Vinh (Hưng Nguyên) đang được đầu tư nâng cấp theo dự án đến 2007 hoàn thành

Trang 25

Một số tồn tại lớn

- Chưa có quy hoạch tổng thể hệ thống đê toàn tỉnh để làm cơ sở thực hiện hàng năm

- Các tuyến đê địa phương chưa có cơ chế tổ chức quản lý chuyên trách nên không được theo dõi, cập nhật diễn biến hư hỏng và không được duy tu, bảo dưỡng thường xuyên, vì vậy công trình xây dựng mau xuống cấp

- Nguồn vốn yêu cầu để đầu tư xây dựng đê rất lớn, nhất là đê và kè biển, hiện nay có một số vùng bị xói lở lớn như vùng Quỳnh Lưu, Cửa Lò uy hiếp đến đời sống dân cư nhưng thiếu nguồn vốn để thực hiện

1.2 Sự cần thiết của công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi ở Việt Nam hiện nay

1.2.1 Vai trò của ngành thủy lợi trong quá trình phát triển của đất nước

a, Những ảnh hưởng tích cực:

Nền kinh tế của đất nước ta là nền kinh tế nông nghiệp, độc canh lúa nước, phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên, nếu như thời tiết khí hậu thuận lợi thì đó là môi trường thuận lợi để nông nghiệp phát triển nhưng khi gặp những thời kỳ mà thiên tai khắc nghiệt như hạn hán, bão lụt thì sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với đời sống của nhân dân

ta đặc biệt đối với sự phát triển của cây lúa, bởi vì lúa là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nước ta Vì vậy mà hệ thống thuỷ lợi có vai trò tác động rất lớn đối với nền kinh tế của đất nước ta như:

Tăng diện tích canh tác cũng như mở ra khả năng tăng vụ nhờ chủ động về nước, góp phần tích cực cho công tác cải tạo đất

Nhờ có hệ thống thuỷ lợi mà có thể cung cấp nước cho những khu vực bị hạn chế về nước tưới tiêu cho nông nghiệp đồng thời khắc phục được tình trạng khi thiếu mưa kéo dài và gây ra hiện tượng mất mùa mà trước đây tình trạng này là phổ biến Mặt khác nhờ có hệ thống thuỷ lợi cung cấp đủ nước cho đồng ruộng từ đó tạo ra khả năng tăng

vụ, vì hệ số quay vòng sử dụng đất tăng từ 1,3 lên đến 2-2,2 lần đặc biệt có nơi tăng lên đến 2,4-2,7 lần Nhờ có nước tưới chủ động nhiều vùng đã sản xuất được 4 vụ Trước đây do hệ thống thuỷ lợi ở nước ta chưa phát triển thì lúa chỉ có hai vụ trong

Trang 26

một năm Do hệ thống thuỷ lợi phát triển hơn trước nên thu hoạch trên 1 ha đã đạt tới 60-80 triệu đồng, trong khi nếu trồng lúa 2 vụ chỉ đạt trên dưới 10 triệu đồng Hiện nay do có sự quan tâm đầu tư một cách thích đáng của Đảng và Nhà nước từ đó tạo cho ngành thuỷ lợi có sự phát triển đáng kể và góp phần vào vấn đề xoá đói giảm nghèo, đồng thời cũng tạo ra một lượng lúa xuất khẩu lớn và hiện nay nước ta đang đứng hàng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo…Ngoài ra, nhờ có hệ thống thuỷ lợi cũng góp phần vào việc chống hiện tượng sa mạc hoá

Tăng năng xuất cây trồng, tạo điều kiện thay đổi cơ cấu nông nghiệp, giống loài cây trồng, vật nuôi, làm tăng giá trị tổng sản lượng của khu vực

Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân nhất là những vùng khó khăn về nguồn nước, tạo ra cảnh quan mới

Thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác như công nghiệp, thuỷ sản, du lịch

Tạo công ăn việc làm, góp phần nâng cao thu nhập cho nhân dân, giải quyết nhiều vấn

đề xã hội, khu vực do thiếu việc làm, do thu nhập thấp Từ đó góp phần nâng cao đời sống của nhân dân cũng như góp phần ổn định về kinh tế và chính trị trong cả nước

- Thuỷ lợi góp phần vào việc chống lũ lụt do xây dựng các công trình đê điều từ đó bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và tạo điều kiện thuận lợi cho họ tăng gia sản xuất

Tóm lại thuỷ lợi có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của nhân dân nó góp phần vào việc ổn định kinh tế và chính trị tuy nó không mang lại lợi nhuận một cách trực tiếp nhưng nó cũng mang lại những nguồn lợi gián tiếp như việc phát triển ngành này thì kéo theo rất nhiều ngành khác phát triển theo Từ đó tạo điều kiện cho nền kinh

tế phát triển và góp phần vào việc đẩy mạnh công cuộc CNH-HĐH đất nước

b, Những ảnh hưởng tiêu cực :

- Mất đất do sự chiếm chỗ của hệ thống công trình, kênh mương hoặc do ngập úng khi xây dựng hồ chứa, đập dâng lên

Trang 27

Ảnh hưởng đến vi khí hậu khu vực, làm thay đổi điều kiện sống của người, động thực vật trong vùng, có thể xuất hiện các loài lạ, làm ảnh hưởng tới cân bằng sinh thái khu vực và sức khoẻ cộng đồng

Làm thay đổi điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn gây ảnh hưởng tới thượng, hạ lưu hệ thống, hoặc có thể gây bất lợi đối với môi trường đất, nước trong khu vực

Trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi cảnh quan khu vực, ảnh hưởng tới lịch sử văn hoá trong vùng

1.2.2 Tình hình chất lượng xây dựng công trình thủy lợi nói chung hiện nay ở nước ta

Công trình xây dựng [2] là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt phục vụ cho sản xuất và các yêu cầu của đời sống con người Hàng năm vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, của doanh nghiệp của người dân dành cho xây dựng là rất lớn, chiếm từ 25 – 30% GDP

Vì vậy, chất lượng công trình xây dựng là vấn đề cần được hết sức quan tâm, nó có tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, hiệu quả kinh tế, đời sống của con người Trong thời gian qua, cùng với việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp quy tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng, chúng ta đã xây dựng được nhiều công trình xây dựng công nghiệp, giao thông, thủy lợi… góp phần quan trọng vào hiệu quả của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, bên cạnh những công trình đạt chất lượng, cũng còn không ít công trình có chất lượng kém, không đáp ứng được yêu cầu sử dụng, công trình nứt, vỡ, lún sụt, thấm dột, bong dộp đưa vào sử dụng thời gian ngắn đã hư hỏng gây tốn kém, phải sửa chữa, phá đi làm lại Đã thế, nhiều công trình không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ làm giảm tuổi thọ công trình Cá biệt ở một số công trình gây sự cố làm thiệt hại rất lớn đến tiền của và tính mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư Thời gian qua, hàng loạt các công trình thủy điện tại Việt Nam gặp phải sự cố vỡ đập Như công trình thủy điện Đakrông

3 thuộc xã Tà Long, huyện Đak Rông, tỉnh Quảng Trị bị vỡ chỉ sau vỏn vẹn 15 ngày nghiệm thu Khi ấy người ta mới hay bên trong công trình hàng tỷ đồng lại chỉ toàn bê tông trộn đất và gỗ mục Đập thủy điện Sông tranh 2 xuất hiện một số dòng thấm chảy

về phía hạ lưu Công trình thủy điện Cửa Đạt bị vỡ đập ngay trong quá trình xây dựng Đập thủy điện Ia Krel 2 tại làng Bi, xã Ia Dom, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai cũng vỡ tung khi mới đưa vào sử dụng được hơn 1 tháng Con đập “kiên cố” của thủy điện Đăk

Trang 28

Mek 3 với hơn 700m3 bê tông đổ sập chỉ sau một vụ va chạm với xe ben Theo Cục Giám định nhà nước về chất lượng công trình xây dựng, năm 2011 có trên 50.000 CTXD được triển khai trên cả nước, nhưng những bất cập trong phân cấp quản lý khiến các cơ quan chức năng chỉ có thể kiểm tra chất lượng được khoảng 10% số CTXD hàng năm Điều này có nghĩa rằng còn tới 90% CTXD trong số tổng số hơn 50.000 công trình triển khai chưa được “sờ” tới vấn đề chất lượng Theo các chuyên gia xây dựng, kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, vấn đề đảm bảo chất lượng xây dựng phải luôn gắn liền với đảm bảo an toàn thi công xây dựng Nhưng ở nước ta hiện nay, chưa có sự quản lý thống nhất trong lĩnh vực này Do đó, khi công trình xảy ra sự cố liên quan đến an toàn trong thi công, chất lượng có vấn đề thì việc phân định trách nhiệm xử lý vụ việc đối với các bên liên quan không rõ ràng Bản thân Luật Xây dựng cũng có khá nhiều điểm thiếu rõ ràng Đơn cử như khâu lựa chọn nhà thầu, cơ quan chủ quản không đủ thông tin để đánh giá năng lực, kinh nghiệm nhà thầu khi tham gia xây dựng các công trình Phương thức lựa chọn nhà thầu chưa phù hợp, nhất là quy định việc lựa chọn đơn vị trúng thầu chủ yếu căn cứ vào giá

dự thầu thấp nhất mà chưa coi trọng đến năng lực quản lý CLCTXD của Nhà thầu Lực lượng quản lý xây dựng nói chung và quản lý CLCTXD nói riêng ở địa phương còn mỏng, chưa đáp ứng được yêu cầu Còn có sự chồng chéo và thiếu sự phối hợp trong thực hiện quản lý CLCTXD giữa tổ chức thanh tra và cơ quan quản lý nhà nước Bên cạnh đó, năng lực của chủ đầu tư cũng bị xem nhẹ Quy định về chủ đầu tư cũng vậy, dù không đảm bảo năng lực vẫn được giao làm chủ đầu tư CTXD, tất sẽ dẫn đến công tác quản lý dự án, quản lý chất lượng không đảm bảo Muốn công tác kiểm tra, giám sát CLCTXD có hiệu lực, hiệu quả phải phân giao trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng cho các đơn vị chức năng ở các cấp Bên cạnh đó, chế tài chưa đủ mạnh, chưa mang tính răn đe, phòng ngừa cao và chưa xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm

về CLCTXD nên chưa đảm bảo tính khả thi trong việc tuân thủ và đưa các quy định về

quản lý CLCTXD vào nề nếp Đó chính là những vấn đề mà Luật Xây dựng và các văn bản, nghị định ban hành kèm theo quy định chưa cụ thể hoặc chưa đáp ứng được Một mặt khác cũng đáng bàn, với tốc độ tăng nhanh của vốn đầu tư xây dựng hàng năm, hàng vạn dự án vốn của Nhà nước, và của các thành phần kinh tế, của nhân dân được triển khai xây dựng, do vậy các đơn vị tư vấn lập dự án, giám sát, thiết kế tăng rất

Trang 29

truyền thống, lâu năm, có đủ năng lực, trình độ, uy tín, còn nhiều tổ chức tư vấn khảo sát, thiết kế năng lực còn hạn chế, thiếu hệ thống quản lý chất lượng nội bộ

1.3 Những mặt đã đạt được trong công tác nâng cao chất lượng xây dựng công trình thủy lợi ở nước ta

Hiện nay, công tác nâng cao chất lượng xây dựng các công trình thủy lợi ở nước ta rất được chú trọng, các cấp, các ngành, nhất là các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước

về xây dựng, các đơn vị quản lý công trình xây dựng chuyên ngành đã tích cực tuyên truyền, phổ biến văn bản quy phạm pháp luật đến các chủ thể tham gia đầu tư xây dựng công trình; hướng dẫn quy trình quản lý chất lượng lập dự án, khảo sát, thiết kế cho các

chủ đầu tư, ban quản lý dự án và các tổ chức cá nhân liên quan tham khảo áp dụng Các đơn vị tư vấn chỉ thực hiện các công việc phù hợp với điều kiện năng lực của cấp có

thẩm quyền cho phép, chỉ giao việc chủ trì khảo sát, thiết kế cho cá nhân có chứng chỉ hành nghề và năng lực phù hợp với công việc theo quy định của pháp luật; kiện toàn bộ máy, tăng cường, bổ sung cán bộ chuyên môn, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm tư vấn và đặc biệt là giáo dục ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức

của cán bộ làm công tác tư vấn giám sát Cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành nhiều Quy chuẩn, tiêu chuẩn, yêu cầu nhằm nâng cao chất lượng các bên tham gia vào xây

dựng công trình Các văn bản về yêu cầu đối với chủ đầu tư, yêu cầu với đơn vị tư vấn giám sát, tư vấn thiết kế, đơn vị thi công ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ Bên cạnh

đó, nhà thầu thi công xây lắp luôn tăng cường trang thiết bị thi công, củng cố bộ máy,

lập hệ thống quản lý chất lượng phù hợp và thiết lập hồ sơ quản lý chất lượng công trình, tự tổ chức kiểm tra nghiệm thu vật tư, thiết bị trước khi xây dựng, tổ chức thi công đúng theo hồ sơ thiết kế được duyệt, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật, đảm

bảo chất lượng và an toàn công trình, chịu trách nhiệm với sản phẩm của mình làm ra

Về phía chủ đầu tư, Ban quản lý dự án thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện quản lý dự án đầu tư xây dựng Tổ chức quản lý dự án đầu

tư xây dựng đảm bảo yêu cầu về tiến độ, chất lượng, chi phí, an toàn và bảo vệ môi trường trong xây dựng Nêu cao vai trò trách nhiệm, quản lý chặt chẽ ngay từ khâu lập

dự án, khảo sát thiết kế, cho đến khi nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng

Lựa chọn nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công xây lắp có đủ năng lực theo quy định (thiết bị, máy móc, nhân sự, số năm kinh nghiệm, sản phẩm cùng loại đã thực hiện)

Trang 30

ngoài ra phải có kinh nghiệm, uy tín, có trách nhiệm Chỉ được khởi công khi có đủ điều kiện theo quy định Luật Xây dựng Các đơn vị quản lý công trình xây dựng chuyên nghành luôn nâng cao năng lực của các phòng, ban chuyên môn có chức năng

quản lý hoạt động xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng Hàng năm xây

dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra chất lượng công trình trong lĩnh vực mình quản lý

Ngoài ra, hiện nay trình độ của các kỹ sư trẻ ngày càng được nâng cao, ý thức về chất lượng công trình được xem xét nghiêm túc, công nghệ thi công ngày càng hiện đại, ứng dụng những công nghệ mới trên thế giới để thi công, nâng cao hiệu quả chất lượng các công trình

1.4 Những bất cập về vấn đề chất lượng xây dựng công trình thủy lợi hiện nay

Chất lượng công trình xây dựng [3] là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và

mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế Chất lượng công trình xây dựng không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật mà còn phải

thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng có chứa đựng yếu tố xã hội và kinh tế Bên

cạnh những mặt đã đạt được về quản lý chất lượng xây dựng công trình, hiện nay vẫn còn có nhiều yếu tố ảnh hưởng bất cập, hạn chế chưa được giải quyết mạnh mẽ, trong

đó vấn đề đáng chú ý nhất là năng lực quản lý (của chính quyền, của chủ đầu tư) và năng lực của các nhà thầu tham gia các quá trình hình thành sản phẩm xây dựng Từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người thụ hưởng sản phẩm xây dựng, chất lượng công trình xây dựng được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: công năng, độ

tiện dụng; tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật; độ bền vững, tin cậy; tính thẩm mỹ; an toàn trong khai thác, sử dụng, tính kinh tế; và đảm bảo về tính thời gian (thời gian

phục vụ của công trình) Rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng còn có thể và cần được hiểu không chỉ từ góc độ của bản thân sản phẩm và người hưởng thụ sản phẩm xây dựng mà còn cả trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó Một số vấn đề

cơ bản trong đó là:

- Chất lượng công trình xây dựng chưa được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng

về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án, chất lượng khảo sát, chất lượng

ết kế

Trang 31

- Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật

liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mục công trình Tuy nhiên, do nhiều yếu tố về giá cả, tiến độ, trách nhiệm, ý thức thức của các nhà thầu, của cán bộ giám sát mà chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện đưa vào công trình xây dựng còn có nhiều sai phạm

- Các tiêu chuẩn kỹ thuật thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu,

cấu kiện, máy móc thiết bị, quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công Tuy nhiên việc thí nghiệm, kiểm định chưa thật sự nghiêm túc và còn có yếu tố tác động dẫn đến các kết quả thí nghiệm, kiểm định không chính xác

- Về tiến độ xây dựng các công trình hiện nay, do nhiều yếu tố khách quan như biến động về giá cả nguyên vật liệu, các cơ chế chính sách thay đổi, hoặc các yếu tố chủ quan như yếu kém về khâu khảo sát thiết kế, yếu về khả năng thi công mà vẫn còn tồn

tại nhiều công trình chưa hoàn thành đúng tiến độ đề ra, hoặc do bị ép tiến độ mà nhiều công trình không đảm bảo về chất lượng

- Một số công trình sau khi thi công xong, bàn giao sử dụng cho đơn vị quản lý, sau

một thời gian ngắn đưa vào sử dụng, công trình đã xuống cấp, sụt lún, nứt nẻ…không đảm bảo an toàn nếu tiếp tục khai thác sử dụng Điều này vừa gây thiệt hại lớn về kinh

tế, vừa nguy hiểm cho đơn vị quản lý cũng như nhân dân gần khu vực có dự án

- Trang thiết bị hầu hết đã cũ, chắp vá không thể sản xuất được những sản phẩm yêu

cầu độ chính xác cao, không thể đáp ứng được thị hiếu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước Có đến 70% thiết bị máy móc thuộc thế hệ những năm 60- 70, trong đó có hơn 60% đã hết khấu hao, gần 50% máy móc cũ được tân trang lại để dùng, việc thay thế chỉ đơn lẻ từng bộ phận, chắp vá thiếu đồng bộ Tình trạng máy móc có tuổi thọ trung bình trên 20 năm chiếm khoảng 38% và dưới 5 năm chỉ chiếm

có 27% Do đầu tư thiếu đồng bộ nên nhiều doanh nghiệp tham gia dự án gặp rất nhiều khó khăn về phụ tùng thay thế, suất tiêu hao vật liệu, nhiên liệu trên một đơn vị sản

phẩm còn quá lớn, nhiều tiêu chuẩn định mức đã lỗi thời không còn phù hợp nhưng chưa sửa đổi Máy móc thiết bị cũ làm cho số giờ máy chết cao…Những điều này chính là nguyên nhân làm cho chất lượng nhiều công trình chưa cao

Trang 32

1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình Thủy lợi

Cũng như các lĩnh vực khác của sản xuất kinh doanh và dịch vụ, chất lượng và công tác quản lý CLCTXD ngành Thủy lợi nói riêng có nhiều nhân tố ảnh hưởng Có thể phân loại các nhân tố đó theo nhiều tiêu chí khác nhau Nhưng trong nội dung của luận văn này chỉ đề cập tới việc phân loại các yếu tố ảnh hưởng theo tiêu chí chủ quan và khách quan

Hình 1.1 Các nhân tố tác động đến chất lượng công trình

1.5.1 Nhóm nhân t ố khách quan

- Trình độ tiến bộ khoa học công nghệ: Trình độ chất lượng của sản phẩm xây dựng

không thể vượt qua giới hạn khả năng của trình độ tiến bộ khoa học – công nghệ của

một giai đoạn lịch sử nhất định Chất lượng sản phẩm xây dựng trước hết phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật và công nghệ để tạo ra nó Đây là giới hạn cao nhất mà chất lượng sản phẩm xây dựng có thể đạt được Tiến bộ khoa học – Công nghệ cao tạo ra khái niệm không ngừng nâng cao chất lượng xây dựng Tác động của tiến bộ khoa học công nghệ là không có giới hạn, nhờ đó mà sản phẩm xây dựng ngày càng hoàn thiện

và nâng cao hơn Tiến bộ khoa học – công nghệ tạo phương tiện điều tra, nghiên cứu khoa học chính xác hơn, trang bị những phương tiện đo lường, dự báo, thí nghiệm, thiết kế tốt hơn, hiện đại hơn Công nghệ, thiết bị mới ứng dụng trong thiết kế và thi

Trang 33

công nghệ làm xuất hiện các nguồn nguyên liệu mới tốt hơn, rẻ hơn nguồn nguyên liệu

sẵn có Khoa học quả lý phát triển hình thành những phương pháp quản lý tiên tiến

hiện đại góp phần nắm bắt nhanh hơn, chính xác hơn các rủi ro về chất lượng công trình, giảm chi phí sản xuất, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm xây dựng

- Cơ chế chính sách quản lý của nhà nước: Cơ chế chính sách của nhà nước có ý

nghĩa rất quan trọng trong quá trình thúc đẩy cải tiến, nâng cao chất lượng của công trình xây dựng Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trường kinh doanh nhất định, trong đó môi trường pháp lý với những chính sách và cơ chế

quản lý có tác động trực tiếp và to lớn đến việc tạo ra và nâng cao chất lượng công trình xây dựng, pháp chế hoá quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia đầu tư xây

dựng công trình Nó cũng tạo ra sức ép thúc đẩy các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng công trình thông qua các cơ chế khuyến khích cạnh tranh, bắt buộc các doanh nghiệp phải nâng cao tính tự chủ sáng tạo trong cải tiến chất lượng

- Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên có tác động mạnh mẽ đến việc bảo quản và

nâng cao chất lượng sản phẩm xây dựng, đặc biệt là đối với những nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều như Việt Nam Khí hậu, thời tiết, các hiện tượng tự nhiên như: gió, mưa, bão, sét…ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng thi công xây dựng, các nguyên vật liệu dự trữ tại các kho bãi Đồng thời, nó cũng ảnh hưởng tới hiệu quả

vận hành các thiết bị, máy móc, đặc biệt đối với các thiết bị, máy móc hoạt động ngoài

trời Yếu tố địa chất công trình: nếu như địa chất phức tạp, ảnh hưởng tới công tác

khảo sát dẫn đến nhà thầu, chủ đầu tư, thiết kế phải bàn bạc lại, mất thời gian do thay đổi, xử lý các phương án nền móng công trình > ảnh hưởng đến tiến độ chung của công trình Đối với các công trình yêu cầu tiến độ thì đây là một điều bất lợi Bởi lẽ công việc xử lý nền móng phải tốn một thời gian dài

- Tình hình th ị trường: Nói đến thị trường là đề cập tới các yếu tố: Cung, cầu, giá cả,

quy mô thị trường, cạnh tranh…Chất lượng sản phẩm xây dựng cũng gắn liền với sự

vận động và biến đổi của thị trường, đặc biệt là nhu cầu thị trường, tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Trên cơ sở nghiên cứu thị trường doanh nghiệp xác định được khách hàng của mình là đối tượng nào? Từ đó doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lược đầu tư xây dựng để có thể đưa ra những sản phẩm với mức chất lượng phù

Trang 34

hợp, giá cả hợp lý với nhu cầu và khả năng tiêu thụ ở những thời điểm nhất định Thông thường, khi mức sống xã hội còn thấp, người ta quan tâm nhiều đến giá thành

sản phẩm Nhưng khi đời sống xã hội tăng lên thì đòi hỏi về chất lượng cũng tăng theo Đôi khi họ chấp nhận mua sản phẩm với giá cao tới rất cao để có thể thoả mãn nhu cầu cá nhân của mình

1.5.2 Nhóm nhân t ố chủ quan

Là nhóm các nhân tố thuộc môi trường bên trong các doanh nghiệp tham gia hoạt động xây dựng, mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được Nó gắn liền với điều kiện của doanh nghiệp như: lao động, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, trình độ quản lý…Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp

- Trình độ lao động của doanh nghiệp: Con người là nhân tố trực tiếp tạo ra và quyết

định đến chất lượng sản phẩm Cùng với công nghệ, con người giúp doanh nghiệp đạt

chất lượng cao trên cơ sở giảm chi phí Chất lượng phụ thuộc lớn vào trình độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm, ý thức trách nhiệm và tinh thần hợp tác phối hợp với mọi thành viên và bộ phận trong doanh nghiệp Năng lực và tinh thần của đội ngũ lao động, những giá trị chính sách nhân sự đặt ra trong mỗi doanh nghiệp có tác động sâu

sắc toàn diện đến hình thành chất lượng sản phẩm tạo ra Chất lượng không chỉ thoả mãn nhu cầu của khách hàng bên ngoài mà còn phải thoả mãn nhu cầu của khách hàng bên trong doanh nghiệp Hình thành và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được những yêu cầu về thực hiện mục tiêu chất lượng là một trong những nội dung cơ bản của

quản lý chất lượng trong giai đoạn hiện nay

- Kh ả năng về máy móc thiết bị, công nghệ hiện có của doanh nghiệp: Mỗi doanh

nghiệp tiến hành hoạt động trong những điều kiện xác định về công nghệ Trình độ

hiện đại máy móc thiết bị và quy trình công nghệ của doanh nghiệp ảnh hưởng lớn đến

chất lượng xây dựng Trong nhiều trường hợp, trình độ và cơ cấu công nghệ đưa ra

những giải pháp thiết kế và thi công quyết định đến chất lượng sản phẩm tạo ra Công nghệ lạc hậu khó có thể tạo ra sản phẩm chất lượng cao, phù hợp các chỉ tiêu kinh tế -

kỹ thuật Sử dụng tiết kiệm có hiêu quả máy móc thiết bị hiện có, kết hợp giữa công nghệ hiện có với đổi mới để nâng cao chất lượng công trình là một trong những hướng

Trang 35

- Nguyên v ật liệu và hệ thống cung ứng nguyên vật liệu của doanh nghiệp: Một

trong những yếu tố đầu vào tham gia cấu thành sản phẩm và hình thành các thuộc tính

chất lượng là nguyên vật liệu Vì vậy, đặc điểm và chất lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến CLCTXD Với tình trạng nguyên vật liệu như hiện nay, chẳng hạn như: Xi măng, cát, đá, ngoài loại tốt, luôn luôn có một lượng hàng giả, hàng nhái với

chất lượng không đảm bảo hay nói đúng hơn là kém chất lượng, nếu có sử dụng loại này sẽ gây ảnh hưởng xấu tới CLCTXD, thậm chí nặng hơn là ảnh hưởng tới tính

mạng con người (khi công trình đã hoàn thành và được đưa vào sử dụng) Do vậy, trong quá trình thi công công trình, nếu không được phát hiện kịp thời, sẽ bị một số công nhân ý thức kem, vì mục đích trục lợi trộn lẫn vào trong quá trình thi công Cũng

vậy, đối với sắt, thép (phần khung công trình), bên cạnh những hàng tốt, chất lượng cao, có thương hiệu nổi tiếng, còn trôi nổi, tràn ngập trên thị trường không ít hàng nhái kém chất lượng Mỗi loại nguyên vật liệu khác nhau sẽ hình thành những đặc tính chất lượng khác nhau Tính đồng nhất và tiêu chuẩn hoá của nguyên vật liệu là cơ sở quan

trọng cho ổn định chất lượng sản phẩm để thực hiện các mục tiêu chất lượng đặt ra cần

tổ chức tốt hệ thống cung ứng, đảm bảo nguyên liệu cho quá trình sửa chữa Tổ chức

tốt hệ thống cung ứng không chỉ là đảm bảo đúng chủng loại, chất lượng, số lượng nguyên vật liệu mà còn đảm bảo đúng về mặt thời gian Một hệ thống cung ứng tốt là

hệ thống có sự phối hợp hiệp tác chặt chẽ đồng bộ giữa bên cung ứng và doanh nghiệp

sản xuất Trong môi trường kinh doanh hiện nay, tạo ra mối quan hệ tin tưởng ổn định

với một số nhà cung ứng là biện pháp quan trọng đảm bảo chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp

- Trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp: Các yếu tố sản xuất như nguyên

vật liệu, máy móc thiết bị, lao động…, dù có ở trình độ cao song không được tổ chức

một cách hợp lý, phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các khâu sản xuất thì cũng khó có

thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng Không những thế, nhiều khi nó còn gây thất thoát lãng phí nhiên liệu, nguyên vật liệu…, của doanh nghiệp

Do đó, công tác tổ chức sản xuất và lựa chọn phương pháp tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng Tuy nhiên, để mô hình và phương pháp tổ chức sản xuất được hoạt động có hiệu quả thì cần phải có năng lực quản lý

Trang 36

Trình độ quản lý nói chung và quản lý chất lượng nói riêng một trong những nhân tố

cơ bản góp phần cải tiến, hoàn thiện chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Điều này

gắn liền với trình độ nhận thức, hiểu biết của cán bộ quản lý về chất lượng, chính sách

chất lượng, chương trình và kế hoạch chất lượng nhằm xác định được mục tiêu một cách chính xác rõ ràng, làm cơ sở cho việc hoàn thiện cải tiến

Kết luận chương 1

Trong chương 1 này, học viên nêu lên tình hình phát triển của ngành Thủy lợi của Việt Nam nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng Trong đó nói rõ vai trò của ngành thủy lợi,

chất lượng các công trình thủy lợi hiện nay ở nước ta, từ đó có thể thấy được tổng quát

về công trình thủy lợi hiện nay, những tác động, ảnh hưởng của công trình thủy lợi đối

với ngành nông nghiệp cũng như đối với sự phát triển kinh tế, chính trị của đất nước Đồng thời, học viên nêu ra những yếu tố có ảnh hưởng đến chất lượng công trình thủy

lợi, các yếu tố khách quan và chủ quan Những vấn đề này là tổng quan tình hình công trình thủy lợi hiện nay ở Việt Nam, để từ đó nghiên cứu các cơ sở khoa học và các phương pháp giám sát chất lượng thi công trong giai đoạn thi công các công trình thủy

lợi

Trang 37

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG TRONG GIAI ĐOẠN THI CÔNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

2.1 Q uản lý chất lượng công trình

2.1.1 Quản lý chất lượng

Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả sự tác động của hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý

một cách đúng đắn các yếu tố này Quản lý chất lượng là một khía cạnh của chức năng

quản lý để xác định và thực hiện chính sách chất lượng Hoạt động quản lý trong lĩnh

vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng Hiện nay đang tồn tại các quan điểm khác nhau về quản lý chất lượng:

- Theo GOST 15467-70: Quản lý chất lượng là xây dựng, đảm bảo và duy trì mức chất lượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng Điều này được thực hiện bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ thống, cũng như tác động hướng đích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng tới chất lượng chi phí

- Theo A.G.Robertson, một chuyên gia người Anh về chất lượng cho rằng: Quản lý

chất lượng được xác định như một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và

sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất sao cho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả

nhất, đối tượng cho phép thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng

- Theo các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) xác định: Quản lý chất lượng là hệ

thống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiết kiệm hàng hóa có chất lượng cao hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng

- Theo giáo sư, tiến sĩ Kaoru Ishikawa, một chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quản lý

chất lượng của Nhật Bản đưa ra định nghĩa quản lý chất lượng có nghĩa là: Nghiên cứu triển khai, thiết kế sản xuất và bảo dưỡng một số sản phẩm có chất lượng, kinh tế nhất,

Trang 38

có ích nhất cho người tiêu dùng và bao giờ cũng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng

- Theo Philip Crosby, một chuyên gia người Mỹ về chất lượng định nghĩa quản lý chất lượng: là một phương tiện có tính chất hệ thống đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phần của một kế hoạch hành động

- Theo tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO 9000 cho rằng: quản lý chất lượng là một

hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ

- Quản lý chất lượng là hệ thống các hoạt động, các biện pháp (hành chính, tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, xã hội) Quản lý chất lượng là nhiệm vụ của tất cả mọi người, mọi thành viên trong xã hội, trong doanh nghiệp, là trách nhiệm của tất cả các cấp, nhưng

phải được lãnh đạo cao nhất chỉ đạo

2.1.2 C ác nguyên tắc trong Quản lý chất lượng

Doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểu những nhu cầu

hiện tại và tương lai của khách hàng để không chỉ đáp ứng mà còn vượt cao hơn sự mong đợi của họ Nguyên tắc đầu tiên của Quản lý chất lượng là phải hướng tới khách hàng và nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng Tăng cường các hoạt động trước

Trang 39

sản xuất và sau bán hàng đề lấy sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng làm trọng, là

mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp

Trong một tổ chức con người luôn đóng vai trò hàng đầu trong việc quyết định đến

hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, trong công tác quản lý chất lượng cần áp dụng biện pháp thích hợp để có thể phát huy hết tài năng của mọi người,

mọi cấp của công việc Lãnh đạo doanh nghiệp phải là người xây dựng chính sách và chiến lược phát triển doanh nghiệp đồng thời thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích và chính sách của doanh nghiệp của người lao động, của xã hội Lãnh đạo cần tạo

ra và duy trì môi trường nội bộ trong doanh nghiệp để hoàn toàn lôi cuốn mọi người tham gia và các hoạt động của doanh nghiệp

Quản lý chất lượng tức là quản lý tổng thể các hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, tổ

chức, xã hội có liên quan đến các hoạt động như nghiên cứu thị trường, xây dựng chính sách chất lượng, thiết kế chế tạo, kiểm tra, dịch vụ sau khi bán Nó cũng chính là

những kết quả, những cố gắng, nỗ lực chung của các ngành, các cấp, các địa phương

và từng con người Quản lý chất lượng toàn diện và đồng bộ sẽ giúp cho các hoạt động

của doanh nghiệp được khớp với nhau từ đó tạo ra sự thống nhất cao trong các hoạt động Từ việc quản lý chất lượng toàn diện giúp cho doanh nghiệp phát hiện ra vấn đề

một cách nhanh chóng từ đó có các biện pháp điều chỉnh

ch ất lượng

Đảm bảo và cải tiến chất lượng là hai vấn đề liên quan mật thiết với nhau Đảm bảo nó bao hàm việc duy trì mức chất lượng nhằm thỏa mãn khách hàng, còn cải tiến giúp cho

sản phẩm hàng hóa dịch vụ có chất lượng vượt trội mong đợi của khách hàng Đảm

bảo cải tiến chất lượng là sự phát triển không ngừng trong công tác quản lý chất lượng

Trang 40

Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn và các hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình Quản lý theo một quá trình tức là phải tiến hành hoạt động quản lý ở mọi khâu quản lý liên quan đến việc hình thành chất lượng

đó là khâu nghiên cứu nhu cầu khách hàng cho đến dịch vụ sau bán hàng Làm tốt việc này sẽ giúp doanh nghiệp ngăn chặn được sản phẩm kém đến tay khách hàng Đây chính là chính sách nâng cao khả năng cạnh tranh và giảm chi phí cho doanh nghiệp

Kiểm tra là khâu quan trọng trong bất kỳ hoạt động quản lý nào nếu như làm việc mà không có kiểm tra thì sẽ không biết được công việc sẽ tiến hành đến đâu Kiểm tra ở đây không đơn thuần là kiểm tra những sản phẩm xấu ra khỏi những sản phẩm tốt mà

thực chất nó là một bộ phận sử dụng các phương tiện kỹ thuật nhằm giải quyết vấn đề

chất lượng một cách hiệu quả

Trong 6 nguyên tắc trên thì nguyên tắc định hướng khách hàng là nguyên tắc quan

trọng nhất, nó là nền tảng xây dựng các khâu còn lại Tuy nhiên muốn quản lý chất lượng một cách hiệu quả cần thực hiện cả 6 nguyên tắc trên

2.1.3 Khái niệm quản lý chất lượng công trình

Quản lý chất lượng công trình xây dựng là nhiệm vụ của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình hình thành nên sản phẩm xây dựng bao gồm: Chủ đầu tư, nhà thầu, các

tổ chức và cá nhân có liên quan trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, bảo hành và bảo trì, quản lý và sử dụng công trình xây dựng

Theo Nghị định 46/2015 NĐ-CP ngày 12/5/2015 về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng, hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng xuyên suốt các giai đoạn từ khảo sát, thiết kế đến thi công và khai thác công trình

Ngày đăng: 07/07/2020, 12:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w