1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định đấu thầu các dự án đầu tư_unprotected

120 47 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà thầu danh tiếng trên thế giới- họ là những người sẵn sàng và có khả năng tham gia vào tất cả các hoạt động của các quốc gia, thông qua đó họ sẵn sàng chuyển giao công nghệ, chia

Trang 1

1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây

Tác giả luận văn

Kiều Quang Minh

Trang 2

2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian hoàn thành luận văn thạc sỹ tác giả đã nhận được sự giúp đỡ

và tạo điều kiện rất nhiều của Ban Giám hiệu nhà trường, các cán bộ và giảng viên của trường Đại học Thủy lợi Hà Nội

Đầu tiên, tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn

Xuân Phú đã dành nhiều thời gian và hướng dẫn rất tận tình, chu đáo cho tác giả trong quá trình làm luận văn

Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa sau đại học Trường Đại học Thủy lợi Hà Nội đã quan tâm và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập tại trường

Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể Lãnh đạo Ban CPO, Lãnh đạo Phòng Thẩm định chế độ, dự toán và các cán bộ thuộc Ban Quản lý Trung ương các

Dự án Thủy lợi đã giúp đỡ nhiệt tình để tác giả có tư liệu viết luận văn một cách tốt nhất

Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, những người bạn đã hỗ trợ tác giả rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành luận văn Với sự nỗ lực và làm việc nghiêm túc, tác giả đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp cao học này, tuy nhiên vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những nhận xét, góp ý quý báu của các thầy cô và các bạn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 29 tháng 04 năm 2016

Tác giả luận văn

Kiều Quang Minh

Trang 3

3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU i

1 Tính cấp thiết của đề tài i

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài: ii

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: ii

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu ii

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài iii

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU 1

VÀ THẨM ĐỊNH ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN ODA THỦY LỢI 1

1.1 Dự án đầu tư xây dựng Thủy lợi sử dụng vốn ODA 1

1.1.1 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng 1

1.1.2 Khái niệm về ODA, Các hình thức cung cấp ODA 2

1.2 Khái niệm về đấu thầu và thẩm định đấu thầu 5

1.2.1 Khái niệm về đấu thầu 5

1.2.2 Mục tiêu của đấu thầu 7

1.2.3 Khái niệm về thẩm định đấu thầu 8

1.3 Vai trò, và tầm quan trọng của đấu thầu 9

1.3.1 Vai trò của đấu thầu 9

1.3.2 Tầm quan trọng của đấu thầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế kinh tế quốc tế 11

1.4 Vai trò của thẩm định đấu thầu 13

1.5 Tình hình đấu thầu các dự án thủy lợi bằng nguồn vốn ODA trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2015 13

1.5.1 Kết quả chung 13

1.5.2 Tình hình phổ biến, quán triệt việc thực hiện Luật Đấu thầu 2013 và Nghị định 63/2014/NĐ-CP và các quy định mới của Nhà tài trợ: 14

1.5.3 Tình hình phân cấp trong đấu thầu và năng lực của đội ngũ cán bộ tham gia hoạt động đấu thầu: 15

1.5.4 Những sai sót, tồn tại thường thấy qua công tác kiểm tra: 16 1.5.5 Tỷ lệ giảm giá, năng lực và tiến độ triển khai các gói thầu của các Nhà thầu trúng thầu 16

Trang 4

4

1.6 Công tác thẩm định đấu thầu đối với các gói thầu sử dụng nguồn vốn từ nhà

tài trợ thuộc các dự án ODA Thủy lợi 17

1.7 Công tác thẩm định đấu thầu đối với các gói thầu sử dụng vốn đối ứng (trong nước) thuộc các dự án ODA Thủy lợi 18

1.8 Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của quốc tế 19

1.8.1 Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của nước Nga 19

1.8.2 Kinh nghiệm đấu thầu của Hàn Quốc 20

1.8.3 Kinh nghiệm đấu thầu của Campuchia 21

1.8.4 Kinh nghiệm đấu thầu của Ngân hàng Thế giới (WB) 21

1.8.5 Kinh nghiệm đấu thầu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) 24

1.8.6 Kinh nghiệm đấu thầu của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản 25

Kết luận chương 1 26

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẤU THẦU 27

VÀ THẨM ĐỊNH ĐẤU THẦU 27

2.1 Tính tất yếu của hoạt động đấu thầu 27

2.2 Hình thức, phương thức đấu thầu và trình tự thực hiện theo quy định của Việt Nam 32

2.2.1 Hình thức đấu thầu 32

2.2.2 Phương thức đấu thầu 35

2.2.3 Trình tự thực hiện 37

2.3 Đấu thầu theo quy định của Ngân hàng Thế giới (WB) 39

2.3.1 Những nguyên tắc về đấu thầu mua sắm của Ngân hàng thế giới 39

2.3.2 Tính hợp lệ 39

2.3.3 Những phương pháp đấu thầu mua sắm 40

2.4 Các yêu cầu về thẩm định đấu thầu 46

2.5 Các văn bản pháp lý về đấu thầu và thẩm định đấu thầu 46

2.5.1 Hệ thống các văn bản pháp lý về đấu thầu của Việt Nam 47

2.5.2 Các Văn bản pháp lý về đấu thầu của Nhà tài trợ 50

2.6 So sánh một số điểm khác nhau giữa quy định của WB và của Việt Nam trong lĩnh vực đấu thầu 52

2.6.1 Về đánh giá tính hợp lệ 52

Trang 5

5

2.6.2 Về Phương pháp đấu thầu ưu tiên 53

2.6.3 Về thời gian tối thiểu đối với sơ tuyển và chuẩn bị hồ sơ sự thầu 54

2.6.4 Về thời hạn nộp HSDT/ Mở thầu 54

2.6.5 Về đánh giá HSDT 55

2.6.6 Về thương thảo, hoàn thiện hợp đồng 56

2.6.7 Về chỉ định thầu 57

2.7 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thẩm định đấu thầu 57

2.7.1 Chất lượng thẩm định đấu thầu 57

2.7.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định đấu thầu 58

Kết luận chương 2 65

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH ĐẤU THẦU CÁC GÓI THẦU THUỘC DỰ ÁN ODA THỦY LỢI TẠI BAN QUẢN LÝ TRUNG ƯƠNG CÁC DỰ ÁN THỦY LỢI 66

3.1 Giới thiệu về Ban Quản lý Trung ương các dự án Thủy lợi 66

3.1.1 Giới thiệu chung 66

3.1.2 Cơ cấu tổ chức 68

3.1.3 Tình hình thực hiện các dự án 71

3.2 Thực trạng công tác thẩm định đấu thầu tại ban CPO 73

3.2.1 Giới thiệu về bộ phận thẩm định đấu thầu của Ban CPO 73

3.2.2 Quy trình thẩm định đấu thầu các dự án ODA Thủy lợi tại Ban Quản lý Trung ương các dự án Thủy lợi 77

3.2.3 Ví dụ quá trình thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu của một gói thầu cụ thể tại Ban CPO 81

3.2.4 Đánh giá thực trạng công tác thẩm định đấu thầu tại Ban Quản lý 86

3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định đấu thầu tại Ban CPO 94

3.3.1 Các nguyên tắc và căn cứ đề xuất giải pháp 94

3.3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định đấu thầu 95 Kết luận chương 3 104

KẾT LUẬN 105

KIẾN NGHỊ 106

Trang 6

6

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Vòng đời của một dự án 1

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức Ban CPO 69

Hình 3.2 Giao Diện Google Drive online 101

Hình 3.3 Bảng phân công công việc trên Google Drive online 102

Hình 3.4 Lãnh đạo có thể Quản lý nhân viên theo thư mục cá nhân trên điện thoại di động 102

Hình 3.5 Lãnh đạo có thể đọc báo cáo công việc của nhân viên trên điện thoại di động mọi lúc mọi nơi 103

Trang 7

7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các văn bản pháp lý về đấu thầu của Việt Nam 47

Bảng 2.2 Các văn bản pháp lý về đấu thầu của các Nhà tài trợ 50

Bảng 2.3 So sánh sự khác nhau về tính hợp lệ trong đấu thầu 52

Bảng 2.4 So sánh sự khác nhau về phương pháp đấu thầu ưu tiên 53

Bảng 2.5 So sánh về thời gian tối thiểu trong đấu thầu 54

Bảng 2.6 So sánh về thời hạn nộp HSDT/Mở thầu 54

Bảng 2.7 So sánh về đánh giá HSDT 55

Bảng 2.8 So sánh về thương thảo, hoàn thiện hợp đồng 56

Bảng 2.9 So sánh về chỉ định thầu 57

Bảng 3.1 Tổng hợp các dự án đang thực hiện 71

Bảng 3.2 Tổng hợp các dự án đang chuẩn bị 72

Bảng 3.3 Tổng hợp năng lực trình độ cán bộ phòng Thẩm định 74

Bảng 3.4 Thẩm định về thời gian trong đấu thầu 84

Bảng 3.5 Thẩm định về đăng tải thông tin trong đấu thầu 85

Bảng 3.6 Thẩm định về nội dung đánh giá HSDT 85

Trang 8

8

CÁC TỪ VIẾT TẮT

ODA Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

WB Ngân hàng Thế giới

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á

JICA Cơ quan hợp tác Quôc tế Nhật bản

ICB Đấu thầu cạnh tranh Quốc tế

LIB Đấu thầu Quốc tế hạn chế

NCB Đấu thầu cạnh tranh trong nước

QCBS Lựa chọn nhà thầu trên cơ sở chất lượng và giá QBS Lựa chọn nhà thầu trên cơ sở chất lượng

LCS Lựa chọn nhà thầu theo giá thấp nhất

CQS Lựa chọn nhà thầu trên cơ sở năng lực của nhà thầu BMT Bên mời thầu

DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

Trang 9

i

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thẩm định đấu thầu là khâu xem xét, đánh giá kiểm tra chất lượng của quá trình lựa chọn Nhà thầu Đây là công tác phức tạp, đòi hỏi phải có trình độ, kinh nghiệm và sự phối hợp với nhiều bộ phận liên quan Có thể nói thẩm định đấu thầu được xem như một khâu không thể thiếu và là cơ sở để chủ đầu tư hoặc cấp có thẩm quyền đưa ra quyết định đúng đắn trong từng giai đoạn của quá trình lựa chọn Nhà

thầu Chất lượng công tác đấu thầu và thẩm định đấu thầu phụ thuộc vào rất nhiều

yếu tố do đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu

Với tầm quan trọng của công tác đấu thầu là nhằm quản lý việc chi tiêu, sử

dụng các nguồn tiền một cách có hiệu quả nên trên thế giới hiện nay các định chế tài chính từ lâu đã có các quy định về đấu thầu để giải ngân đối với các khoản tài trợ cho các quốc gia vay vốn Có thể kể đến các quy định trên thế giới về đấu thầu mua sắm như Luật mẫu về Đấu thầu của UNCITRAL (Liên hợp quốc), Hiệp định Mua sắm chính phủ của WTO, Hướng dẫn đấu thầu mua sắm của WB, ADB, JICA …Luật pháp về đấu thầu của quốc tế thường do một cơ quan ban hành thống nhất, đảm bảo tính đồng bộ, ngắn gọn nhưng có tính thực thi cao

Ở Việt Nam, hoạt động đấu thầu xuất hiện cùng với quá trình đổi mới cơ chế

quản lý phát triển kinh tế - xã hội của nước ta và đang được từng bước hoàn thiện và phát triển Tuy nhiên, hoạt động đấu thầu ở Việt Nam hơn 10 năm qua kể từ khi Luật đấu thầu đầu tiên ra đời năm 2005 so với các nước trên thế giới vẫn còn khá non trẻ,

thực trạng công tác đấu thầu, thẩm định đấu thầu, đặc biệt là đối với các dự án sử

dụng vốn ODA còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết, vướng mắc, hiệu quả vốn đầu tư mang lại chưa đáp ứng được yêu cầu Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh trong đấu thầu, Nhà thầu khai khống, làm hồ sơ giả mạo để tham gia đấu thầu, giảm giá quá

thấp trong đấu thầu…vẫn diến ra ở nhiều nơi Trong khi đó, hệ thống luật của Việt Nam trong lĩnh vực đấu thầu còn dài và chồng chéo nhau, có nhiều điểm khác biệt

với các quy định quốc tế, của các Nhà tài trợ khiến công tác đấu thầu và thẩm định đấu thầu gặp nhiều khó khăn

Trang 10

ii

Xuất phát từ thực tế trên, với những kiến thức chuyên môn trong qúa trình làm

việc và học tập, nghiên cứu, tác giả luận văn chọn đề tài “Nghiên cứu các giải pháp hoàn thi ện công tác thẩm định đấu thầu các dự án đầu tư xây dựng Thủy lợi sử

d ụng nguồn vốn ODA” làm đề tài luận văn của mình

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:

Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác thẩm định đấu thầu các dự án ODA

Thủy lợi tại Ban Quản lý Trung ương các dự án Thủy lợi trong khoảng thời gian từ 2012-2015, kết hợp với các nghiên cứu lý thuyết, đề tài đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định đấu thầu các gói thầu thuộc dự án ODA Thủy lợi tại Ban CPO

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

a Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các công tác thẩm định đấu thầu các dự án ODA Thủy lợi tại Ban Quản lý Trung ương các dự án Thủy lợi (CPO)

b Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về mặt không gian và nội dung nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu vào nội dung công tác thẩm định đấu thầu các dự án ODA Thủy lợi tại Ban Quản

lý Trung ương các dự án Thủy lợi (Ban CPO hiện nay quản lý nhiều dự án ODA

Thủy lợi từ nhiều Nhà tài trợ khác nhau như ADB, WB, KEXIM, JICA,…Trong luận văn này, tác giả đề cập chủ yếu đến các dự án của 02 Nhà tài trợ lớn là WB và ADB)

Về mặt thời gian luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích hoạt động đấu

thầu các dự án ODA Thủy lợi tại Ban Quản lý Trung ương các dự án Thủy lợi từ năm

2012 – 2015 và đề xuất các giải pháp tăng cường công tác thẩm định đấu thầu các

dự án ODA Thủy lợi cho thời gian tới

4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

a Cách tiếp cận

Nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực trạng công tác thẩm định đấu thầu các

Trang 11

iii

Dự án ODA Thủy lợi tại Ban Quản lý Trung ương các Dự án Thủy lợi

b phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích thống kê

Phương pháp phân tích tổng hợp kết hợp với tham khảo ý kiến chuyên gia

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

b Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu của đề tài sẽ được ứng dụng để hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác thẩm định đấu thầu các Dự án ODA Thủy lợi cùa Ban Quản lý trung ương các Dự án Thủy lợi trong thời kỳ phát triển cùng với chủ chương tái cơ cấu Ngành Nông nghiệp và vai trò của nguồn vốn ODA vẫn còn rất quan trọng trong các năm tiếp theo

Trang 12

1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐẤU THẦU

VÀ THẨM ĐỊNH ĐẤU THẦU CÁC DỰ ÁN ODA THỦY LỢI

1.1 D ự án đầu tư xây dựng Thủy lợi sử dụng vốn ODA

1.1.1 Khái niệm dự án đầu tư xây dựng

Theo định nghĩa của Luật Xây dựng số 50/2014/QH 13 ngày 18/6/2014 thì:

Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để

tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch

vụ trong thời hạn và chi phí xác định Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng,

dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng

Hình 1.1 Vòng đời của một dự án

Trang 13

2

1.1.2 Khái niệm về ODA, Các hình thức cung cấp ODA

1.1.2.1 Khái niệm về ODA

ODA (official development assistance) được hiểu là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức được cung cấp bởi các nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ

Theo cách hiểu chung nhất: Vốn ODA hay còn gọi là vốn hỗ trợ phát triển chính thức là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc vay với điều kiện ưu đãi (về lãi suất, thời gian ân hạn và trả nợ) của Chính phủ của các nước phát triển, các cơ

quan chính thức thuộc tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ

Ở Việt nam: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là một hình thức hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các tổ chức Chính phủ, các tổ chức quốc tế (UNDP, ADB, WB, IMF ) Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) gọi chung là các đối tác viện trợ hay các nhà tài trợ nước ngoài ODA được thực hiện thông qua việc cung cấp từ phía các nhà tài trợ cho Chính phủ Việt Nam các khoản viện trợ không hoàn lại, các khoản vay ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán

Trên thế giới, ODA đã được thực hiện từ nhiều thập kỷ gần đây, bắt đầu từ kế hoạch MacSall của Mỹ cung cấp viện trợ cho Tây Âu sau chiến tranh thế giới thứ 2 Tiếp đó là hội nghị Colombo năm 1955 hình thành những ý tưởng và nguyên tắc đầu tiên về hợp tác phát triển Sau khi thành lập, Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) năm 1961 và Uỷ ban hỗ trợ phát triển (DAC), các nhà tài trợ đã lập lại thành một cộng đồng nhằm phối hợp với các hoạt động chung về hỗ trợ phát triển Trong thời kỳ chiến tranh lạnh và đối đầu Đông - Tây, thế giới tồn tại ba nguồn ODA chủ yếu:

- Liên Xô và Đông Âu

- Các nước thuộc tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển

- Các tổ chức quốc tế và phi Chính phủ

Trang 14

3

Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc kêu gọi các nước phát triển dành 1% GDP để cung cấp ODA cho các nước đang phát triển

và chậm phát triển

Quốc tế hoá đời sống kinh tế là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phân công lao động giữa các nước Bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hợp tác giúp đỡ các nước chậm phát triển để mở rộng thị trường tiêu thu sản phẩm và thị trường đầu tư Đi liền với sự quan tâm lợi ích kinh tế đó, các nước phát triển nhất là đối với các nước lớn còn sử dụng ODA như một công cụ chính trị

để xác định vị trí và ảnh hưởng tại các nước và khu vực tiếp cận ODA Mặt khác, một số vấn đề quốc tế đang nổi lên như AIDS/ HIV, các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo,xoá đói giảm nghèo, biến đổi khí hậu đòi hỏi sự nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế không phân biệt giàu nghèo

Các nước đang phát triển đang thiếu vốn nghiêm trọng dễ phát triển kinh tế xã hội Vốn ODA là một trong các nguồn vốn ngoài nước có ý nghĩa hết sức quan trọng Tuy nhiên, ODA không thể thay thế được vốn trong nước mà chỉ là chất xúc tác tạo điều kiện khai thác sử dụng các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước ODA

có hai mặt: Nếu sử dụng một cách phù hợp sẽ hỗ trợ thật sự cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội, nếu không đó sẽ là một khoản nợ nước ngoài khó trả trong nhiều thế hệ Hiệu quả sử dụng ODA phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mà một trong số

đó là công tác quản lý và điều phối nguồn vốn này Việc cung ODA được thực hiện thông qua các kênh sau đây:

- Song phương:

+ Trực tiếp Chính phủ với Chính phủ (Nhật bản, Hàn Quốc,…)

+ Gián tiếp Chính phủ với Chính phủ thông qua các tổ chức phi chính phủ hoặc tổ chức quốc tế

- Đa phương:

+ Các tổ chức quốc tế (WB, ADB…) cung cấp ODA trực tiếp cho Việt Nam

Trang 15

4

+ Các tổ chức phi chính phủ cung cấp ODA trực tiếp cho Việt Nam

Hiện nay, khái niệm nguồn vốn ODA thường được hiểu sai, vậy ODA có phải

"Vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước; công trái quốc gia, trái

phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ;vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất

Thứ hai: Luật ngân sách 2002 định nghĩa về vốn ngân sách nhà nước như sau: Điều 1 Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm

để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước

Điều 4: Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp

có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân

Thứ ba : vốn nhà nước ngoài ngân sách được giải thích tại Nghị định số 59/2015/NĐ-CP Điều 2 khoản 14

" Vốn nhà nước ngoài ngân sách là vốn nhà nước theo quy định của pháp luật nhưng không bao gồm vốn ngân sách nhà nước "

Như vậy :

Trang 16

5

- Vốn ngân sách nhà nước là số vốn được quy định tại Điều 1, và Điều 4 Luật ngân sách nhà nước

- Vốn nhà nước ngoài ngân sách nhà nước là bao gồm các loại vốn được quy

đinh tại Khoản 44 Điều 4 Luật Đấu thầu 2013 (công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay

ưu đãi của các nhà tài trợ; vốn từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm bằng tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; giá trị quyền sử dụng đất.) trừ vốn ngân sách nhà nước

Kết luận: Vốn ODA là vốn Nhà nước ngoài ngân sách Do đó quá trình lựa chọn nhà thầu ngoài việc phải tuân theo các quy định của nhà tài trợ còn phải tuân thủ các Quy định của Luật đấu thầu 2013

1.1.2.2 Các hì nh thức cung cấp ODA

ODA bao gồm ODA viện trợ không hoàn lại và ODA vốn vay:

a) ODA viện trợ không hoàn lại là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ;

b) ODA vốn vay là hình thức cung cấp ODA phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ với các điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc

1.2 Khái niệm về đấu thầu và thẩm định đấu thầu

1.2.1 Khái niệm về đấu thầu

“Đấu thầu” đã xuất hiện trong thực tế đời sống xã hội từ lâu, đã được vận dụng

ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam theo cơ chế cũ, chủ yếu quản lý bằng

phương pháp giao nhận thầu theo kế hoạch nên khó tránh khỏi việc thất thoát tiền bạc của nhà nước và chất lượng công trình cũng không được đảm bảo Chỉ từ những năm 1986 trở lại đây chủ trương đổi mới phát triển kinh tế của nhà nước được khai thông, “Đấu thầu” mới được sử dụng rộng rãi Nhận thức được vai trò của đấu thầu,

Trang 17

6

cùng với quá trình đổi mới phát triển kinh tế, Nhà nước ta chủ trương chuyển từ phương thức giao nhiệm vụ sang phương thức đấu thầu nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh trong các công trình xây dựng cũng như trong lĩnh vực cung cấp các dịch

vụ và hàng hoá Vì thế năm 1994, lần đầu tiên ở nước ta quy chế đấu thầu chính thức được ban hành và đưa vào áp dụng

Theo từ điển tiếng Việt (xuất bản năm 1998 do Viện ngôn ngữ học biên soạn) giải thích đấu thầu là việc “đọ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc cho bán hàng (một phương thức giao làm công trình hoặc mua hàng)” Quy chế Đấu thầu ra đời đánh dấu một bước tiến mới trong công tác quản lý của nước ta, nó tạo ra một hành lang pháp lý cho việc lựa chọn được các nhà thầu để thực hiện các dự án đầu tư, đồng thời góp phần nâng cao vai trò của chủ đầu tư và tăng cường trách nhiệm của nhà thầu

Trong đời sống kinh tế xã hội của nước ta nhiều năm trước đây, nói đến đấu thầu người ta chỉ nghĩ đến việc đó là đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng Chính vì lý

do đó, những quy định về đấu thầu ở nước ta, trước tiên cũng được đưa ra cho lĩnh vực xây dựng sau này hoàn thiện hơn, đi sâu vào các lĩnh vực kinh doanh khác của đời sống xã hội Thực chất, đấu thầu có phạm vi rộng hơn, bao trùm hơn Để hoàn chỉnh khái niệm về đấu thầu, người ta đã đưa ra các khái niệm theo các lĩnh vực mua sắm: khi mua sắm hàng hoá ta có khái niệm “đấu thầu hàng hoá”, khi mua sắm công trình xây lắp ta có khái niệm “đấu thầu xây dựng” và khi mua kiến thức lời khuyên của nhà thầu ta có khái niệm “đấu thầu tuyển chọn tư vấn”

Khái niệm “đấu thầu hàng hoá” tuy đã khái quát hoá hoạt động đấu thầu, nhưng lại dừng lại ở giác độ đấu thầu mua sắm hàng hoá Do vậy khái niệm này mới chỉ phù hợp với lĩnh vực kinh doanh thương mại Theo khái niệm trên, nhà thầu được đề cập đến mới chỉ là các thương nhân Họ chưa thực sự đại diện cho đông đảo những người cung cấp hàng hoá trên thị trường có thể tham gia vào hoạt động đấu thầu Có thể nhận thấy rằng khái niệm trên có một phần đúng khi nói về đấu thầu mua sắm hàng hoá, nhưng chưa thể được coi là khái niệm chung cho đấu thầu

Trang 18

7

Đấu thầu tư vấn: các nhà thầu cạnh tranh nhau thông qua việc thể hiện có năng lực kinh nghiệm tốt nhất; phương pháp luận, kế hoạch triển khai thực hiện và kế hoạch bố trí nhân sự hợp lý; cùng đội ngũ chuyên gia nhiều kinh nghiệm và giá bỏ thầu trong đề xuất tài chính hợp lý và uy tín của mình để thắng thầu

Theo định nghĩa của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH 13 ngày 26/11/2013 thì:

Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung

cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư,

dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch

và hiệu quả kinh tế Trong phạm vi của Luận văn này chỉ đề cập đến quá trình lựa chọn nhà thầu, không đề cập đến việc lựa chọn nhà đầu tư

Đấu thầu qua mạng là đấu thầu được thực hiện thông qua việc sử dụng hệ

thống mạng đấu thầu quốc gia

Đấu thầu quốc tế là đấu thầu mà nhà thầu, nhà đầu tư trong nước, nước ngoài

được tham dự thầu

Đấu thầu trong nước là đấu thầu mà chỉ có nhà thầu, nhà đầu tư trong nước

được tham dự thầu

1.2.2 Mục tiêu của đấu thầu

- Đảm bảo tính cạnh tranh: Thông qua đấu thầu đòi hỏi các nhà thầu phải phát

huy hết khả năng của mình về kinh nghiệm, trình độ khoa học kỹ thuật, áp dụng giải pháp công nghệ hợp lý, và tiềm năng sẵn có của mình hoặc cần thiết phải liên danh

để có lợi thế cạnh tranh với các nhà thầu khác

- Đảm bảo tính Công bằng: Qua tổ chức đấu thầu tạo cơ sở pháp lý để các nhà

thầu có tư cách hợp lệ đáp ứng đầy đủ điều kiện trong HSMT có được điều kiện bình đẳng như nhau tham gia dự thầu, không có sự phân biệt đối xử khác

- Đảm bảo tính minh bạch: Đấu thầu được tiến hành công khai trong suốt quá

trình từ mời thầu đến việc mở thầu, xét thầu và ký kết hợp đồng đều thực hiện có sự

Trang 19

8

kiểm tra thẩm định đánh giá của các cấp có thẩm quyền theo quy định của Luật đấu thầu và các Nghị định của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng

- Đảm bảo hiệu quả kinh tế: Đấu thầu tạo cơ hội cho chủ đầu tư thực hiện dự

án của mình với giá thành hạ đảm bảo được các yêu cầu về kỹ thuật, tiến độ thi công và chất lượng công trình tốt nhất

1.2.3 Khái niệm về thẩm định đấu thầu

Theo định nghĩa của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH 13 ngày 26/11/2013 thì:

Thẩm định trong quá trình lựa chọn nhà thầu (thẩm định đấu thầu) là việc

kiểm tra, đánh giá kế hoạch lựa chọn nhà thầu, hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu và kết quả mời quan tâm, kết quả sơ tuyển, kết quả lựa chọn nhà thầu, để làm cơ sở xem xét, quyết định phê duyệt theo quy định của Luật này

Theo quy định của các Nhà tài trợ họ sẽ tiến hành xem xét trước hoặc sau khi đấu thầu tuỳ thuộc vào giá trị gói thầu Quá trình xem xét của các Nhà tài trợ cũng xem như quá trình thẩm định đấu thầu

Thẩm định đấu thầu của phía Ngân hàng thế giới, hay các nhà tài trợ khác đối với các hoạt động đấu thầu mua sắm thường bao gồm 2 hình thức thẩm định: Thẩm định trước và thẩm định sau, nhằm đảm bảo rằng bên vay tuân thủ chặt chẽ các quy trình đấu thầu đã được nhất trí trong Hiệp định vay vốn được ký bởi hai bên

Thẩm định trước yêu cầu Bên vay đệ trình các tài liệu đấu thầu tại mỗi bước cho Ngân hàng để xem xét trước khi tiến hành các bước tiếp theo Nếu Nhà tài trợ thoả mãn với các quyết định của bên vay, họ sẽ phát hành thư không phản đối cho phép bên vay tiếp tục tiến hành Nếu Nhà tài trợ thấy rằng các quyết định của bên vay chưa phù hợp với Hiệp định vay vốn, họ sẽ có ý kiến và yêu cầu điều chỉnh thích hợp Khi

đó bên vay cần sửa đổi các tài liệu và đệ trình lại để Nhà tài trợ xem xét

Trong trường hợp thẩm định sau, bên vay có thể tiến hành công tác đấu thầu không cần có thư không phản đối của Nhà tài trợ cho mỗi bước Tuy nhiên, bên vay

Trang 20

9

cần lưu trữ toàn bộ các tài liệu có liên quan tại văn phòng dự án để Nhà tài trợ xem xét đánh giá trong quá trình kiểm tra, giám sát

1.3 Vai trò, và tầm quan trọng của đấu thầu

1.3.1 Vai trò của đấu thầu

Đấu thầu là một hoạt động của nền kinh tế thị trường, nó tuân theo các quy luật khách quan của thị trường như quy luật cung- cầu, quy luật giá cả- giá trị Thông qua hoạt động đấu thầu, những người mua (BMT) có nhiều cơ hội để lựa chọn những người bán phù hợp với mình, mang lại hiệu quả cao nhất- xứng với giá

trị của đồng tiền mà người mua sẵn sàng bỏ ra Đồng thời những người bán (nhà thầu) có nhiều cơ hội để cạnh tranh nhằm đạt được các hợp đồng, có thể cung cấp các hàng hóa sản xuất ra, cung cấp các kiến thức mà mình có hoặc các dịch vụ mà mình có khả năng đáp ứng nhằm tối đa hóa lợi nhuận

Thông qua đấu thầu, các hoạt động kinh tế đều được kích thích phát triển như các ngành sản xuất trực tiếp, các ngành công nghiệp phụ trợ, chế biến Với việc nhiều nhà thầu đứng vai trò tổng thầu để kết hợp được các nhà chế tạo, nhà sản xuất, các chuyên gia tư vấn nhằm thực hiện các gói thầu quy mô lớn, tổng hợp nhiều lĩnh vực đã làm cho hoạt động kinh tế được diễn ra theo hướng chuyên môn hóa sâu và đa phương hóa rộng

Hoạt động đấu thầu được áp dụng vào Việt Nam trong khoảng thời gian trên 10 năm trở lại đây, kể từ khi hoạt động viện trợ của các định chế tài chính được nối lại Thông qua đấu thầu, các CĐT đã lựa chọn được những nhà thầu đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện các dự án, gói thầu làm thay đổi diện mạo kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội của đất nước Hàng loạt các con đường, cây cầu, bến cảng, sân bay, nhà máy điện, xi măng, các công trình cấp nước, thoát nước, dầu khí… đã được xây dựng, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển Thông qua đấu thầu, các nhà thầu trong nước từ khi chỉ làm thầu phụ cho các nhà thầu nước ngoài đến nay đã lớn mạnh có thể tham gia đấu thầu cạnh tranh bình đẳng với nhà thầu nước ngoài để dành được các hợp đồng lớn Ngoài ra, các CĐT, BMT đã được

Trang 21

- Là một công cụ quan trọng của kinh tế thị trường, giúp người mua (BMT) và người bán (nhà thầu) gặp nhau thông qua cạnh tranh;

- Phát triển các ngành sản xuất theo hướng chuyên môn hoá sâu và hợp tác hoá rộng đồng thời phát triển thị trường đấu thầu Thông qua đấu thầu đã phát triển được thị trường người bán, nhiều doanh nghiệp nhà thầu lớn mạnh, nhiều doanh nghiệp được thành lập mới hoặc đặt chân vào thị trường đấu thầu, kích thích thị trường trong nước phát triển chống được sự độc quyền tự nhiên Các CĐT, BMT cũng được tăng cường về năng lực, họ có thêm kiến thức, thông tin và trở thành những người mua ngày một thông thái hơn Bên cạnh đó, hoạt động đấu thầu góp phần tạo động lực cho sự phát triển nhờ tăng cường sự công khai, minh bach, công bằng, hiệu quả và thúc đẩy cạnh tranh các hoạt động mua sắm bằng nguồn vốn của Nhà nước cho các công trình công cộng;

- Là một công cụ quan trọng giúp các chính phủ quản lý chi tiêu, sử dụng các

nguồn vốn của Nhà nước sao cho có hiệu quả và chống thất thoát, lãng phí Đó là những khoản tiền được chi dùng cho đầu tư phát triển mà có sự tham gia của các tổ chức nhà nước, DNNN ở một mức độ nào đó, cũng như cho mục tiêu duy trì các hoạt động của bộ máy Nhà nước;

- Cùng với pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, pháp luật về tham phòng- chống tham nhũng tạo thành công cụ hữu hiệu để chống lại các hành vi gian lận, tham nhũng và lãng phí trong việc chi tiêu các nguồn tiền của Nhà nước, góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội nhờ thực hiện các hoạt động mua sắm công theo đúng luật pháp của Nhà nước;

Trang 22

11

- Thúc đẩy chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm giữa các quốc gia, các tổ chức phát triển với các quốc gia đang phát triển Hoạt động đấu thầu không chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp mà được diễn ra trên toàn thế giới Các nhà thầu danh tiếng trên thế giới- họ là những người sẵn sàng và có khả năng tham gia vào tất cả các hoạt động của các quốc gia, thông qua đó họ sẵn sàng chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm;

- Việc chi tiêu, sử dụng tiền của Nhà nước thông qua đấu thầu sẽ giúp các cơ quan quan lý có điều kiện xem xét, quản lý và đánh giá một cách minh bạch các khoản chi tiêu do quá trình đấu thầu phải tuân thủ các quy trình chặt chẽ với sự tham gia của nhiều bên;

- Tạo điều kiện để thúc đẩy tiến trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp, cơ chế “xin”, “cho” sang cơ chế cạnh tranh;

- Thực hiện dân chủ hóa nền kinh tế, khắc phục những nhược điểm của những

tế, các quốc gia nhằm đảm bảo cho quy định của pháp luật về đấu thầu của Việt Nam phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện phát triển kinh tế- xã hội và dân trí của Việt Nam Tuy vậy, trong quá trình phát triển, những quy định đó sẽ ngày càng được điều chỉnh cho phù hợp với thông lệ quốc tế song thích hợp với điều kiện trong

Trang 23

12

nước Trong bối cảnh đó, hoạt động đấu thầu có tầm quan trọng nhất định trong quá trình toàn cầu hoá Cụ thể như sau:

- Thứ nhất, bên cạnh việc chúng ta là thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế

khu vực Châu á Thái Bình Dương (APEC) và cũng đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nên Luật Đấu thầu của Việt Nam ra đời thay thế cho Quy chế đấu thầu trước đây cho phép công tác tổ chức đấu thầu của Việt Nam dễ dàng hơn khi họ tổ chức đấu thầu quốc tế Và do đó các nhà thầu Việt Nam cũng đỡ tốn công sức khi tham dự các gói thầu quốc tế do các nước thành viên của APEC, WTO tổ chức, vì những quy định đó ngày càng phù hợp hơn với các quy định đấu thầu của các nước thành viên APEC, WTO Ngược lại, các nhà thầu quốc tế là thành viên của các tổ chức APEC, WTO cũng thuận lợi hơn khi họ tham

dự đấu thầu quốc tế các gói thầu do Việt Nam mời thầu

- Thứ hai, với các tổ chức quốc tế lớn như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân

hàng Phát triển Châu á (ADB), Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), việc thông qua Luật Đấu thầu của Việt Nam đảm bảo việc mua sắm công của nước ta tiến sát hơn với những quy định của các tổ chức này Việc đấu thầu đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu của các tổ chức này càng làm tăng uy tín và tạo niềm tin của các

tổ chức đó đối với Việt Nam Quá trình đấu thầu càng ngày càng được minh bạch hơn, công bằng hơn, hiệu quả hơn là cơ sở để thu hút ngày càng nhiều các khoản tín dụng ưu đãi và cả các nguồn tài trợ không hoàn lại cho công cuộc phát triển đất nước của các tổ chức trên

Thực tế, trong nhiều năm qua, WB, ADB và JBIC đã không ngừng tăng cường

hỗ trợ quá trình cải cách và đổi mới của Việt Nam bằng cả vật chất và tư vấn luật pháp làm cho công tác đấu thầu của Việt Nam ngày càng hiệu quả hơn, minh bạch hơn và do đó tăng được lòng tin của Thế giới vào tiến trình đổi mới và cải cách của Việt Nam Điều này dòi hỏi việc xây dựng, hoàn thiện Luật Đấu thầu và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng như việc phổ biến truyền, nghiên cứu, học tập để quán triệt và thi hành tốt Luật Đấu thầu là một đòi hỏi cấp thiết

Trang 24

13

1.4 Vai trò của thẩm định đấu thầu

Đối với chủ đầu tư: Thẩm định đấu thầu là cơ sở để Chủ đầu tư xem xét đưa ra các quyết định phê duyệt trong từng giai đoạn của quá trình đấu thầu Thẩm định đấu thầu giúp tham mưu cho Chủ đầu tư trong việc quản lý đấu thầu đảm bảo chất lượng, đúng quy trình thủ tục và đáp ứng tốt nhất tiến độ dự án

Đối với Bên mời thầu: Thẩm định đấu thầu kiểm tra, phát hiện những sai sót kịp thời trao đổi để Bên mời thầu điều chỉnh đảm bảo quát trình đấu thầu tuân thủ đúng các thủ tục chính sác theo quy định hiện hành

Đối với chuyên môn nghiệp vụ: Qua quá trình thẩm định đấu thầu rút ra được những bài học kinh nghiệm để trao đổi thống nhất với các đơn vị liên quan giúp hoạt động đấu thầu ngày càng phát triển, đảm bảo chất lượng, rút ngắn được thời gian và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật

1.5 Tình hình đấu thầu các dự án thủy lợi bằng nguồn vốn ODA trong thời

gian từ năm 2012 đến năm 2015

1.5.1 Kết quả chung

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về cơ bản, công tác lựa chọn nhà thầu của các chủ đầu tư dự án được tổ chức thực hiện tuân thủ trình tự, thủ tục pháp luật hiện hành của Nhà nước và Nhà tài trợ, không vi phạm pháp luật về đấu thầu, không xảy ra khiếu kiện Kết quả lựa chọn nhà thầu đảm bảo tính cạnh tranh, minh bạch, lựa chọn được nhà thầu có năng lực thật sự, thực hiện gói thầu đạt chất lượng, tiết kiệm chi phí xây dựng công trình

Bên cạnh những mặt tích cực đáng ghi nhận, vẫn tồn tại hiện tượng vi phạm pháp luật về đấu thầu ở một số dự án, gói thầu; một số chủ đầu tư để xảy ra tình trạng thông thầu, cạnh tranh không lành mạnh; một số nhà thầu lợi dụng kiến nghị trong đấu thầu để cản trở quá trình đấu thầu, khai khống, giả mạo tài liệu trong hồ

sơ dự thầu hoặc thuê các đối tượng ngoài xã hội cản trở quá trình mua, nộp hồ sơ dự thầu; một số chủ dự án, chủ đầu tư phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu nhưng không kiên quyết xử lý, chưa kịp thời báo cáo Bộ NN&PTNT và đề xuất biện pháp xử lý vi phạm về đấu thầu theo quy định của pháp luật

Trang 25

14

Thống kê số liệu trong năm 2015, các dự án do Bộ Nông nghiệp và PTNT quản lý, tổng số gói thầu được lựa chọn nhà thầu là:1.343 gói thầu với tổng giá trị trúng thầu: 9.184,553 tỷ đồng; tiết kiệm: 328,094 tỷ đồng Trong đó, riêng lĩnh vực xây lắp là: 628 gói thầu với tổng giá trị trúng thầu: 8.216,291 tỷ đồng, tiết kiệm qua đấu thầu: 285,775 tỷ đồng (tương ứng tỷ lệ giảm giá: 3,4 %)

Các dự án sử dụng vốn trong nước: 848 gói thầu; tổng giá gói thầu: 4.833,51

tỷ đồng; tổng giá trúng thầu: 4.737,697 tỷ đồng; tiết kiệm: 98,816 tỷ đồng (tương ứng tỷ lệ giảm giá: 2,04 %) Trong đó, đấu thầu rộng rãi: 283 gói thầu; tổng giá gói thầu: 2.333,55 tỷ đồng; tổng giá trúng thầu: 2,266,37 tỷ đồng; tiết kiệm: 67,18 tỷ đồng (tương ứng tỷ lệ giảm giá: 2,9%)

Các dự án sử dụng vốn ODA: 403 gói thầu; tổng giá gói thầu: 4.392,002 tỷ đồng; tổng giá trúng thầu: 4.165,701 tỷ đồng; tiết kiệm: 226,301 tỷ đồng (tương ứng

tỷ lệ giảm giá: 5,15%)

1.5.2 Tình hình phổ biến, quán triệt việc thực hiện Luật Đấu thầu 2013 và Nghị

định 63/2014/NĐ-CP và các quy định mới của Nhà tài trợ:

Ngay khi Luật Đấu thầu 2013 và Nghị định 63/2014/NĐ-CP có hiệu lực thi hành, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức Hội nghị để triển khai với sự tham gia của Cục Quản lý đấu thầu (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) để giới thiệu, phổ biến các quy định mới trong công tác lựa chọn nhà thầu Các cán bộ tham gia công tác đấu thầu cũng thường xuyên được cử tham gia các lớp đào tạo của các Nhà tải trợ (WB, ADB ) để nâng cao trình độ và cập nhật các chính sách mới

Công tác tổ chức các lớp tập huấn, phổ biến việc thực hiện các quy định trong công tác quản lý đầu tư xây dựng được lồng ghép việc giới thiệu các nội dung mới, quán triệt thực hiện Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, Nghị định số 63/2014/NĐ-

CP, Chỉ thị của Thủ tướng về công tác đấu thầu được Bộ giao cho các đơn vị Tổng cục, Cục, Vụ có quản lý dự án chủ động tổ chức tại một số khu vực cho các đối tượng liên quan

Để tăng cường quản lý công tác đấu thầu, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành các Chỉ thị: số 2069/CT-BNN-TTr ngày 06/7/2012 về chấn chỉnh việc thực

Trang 26

15

hiện hoạt động đấu thầu sử dụng vốn nhà nước và các quy định của pháp luật có liên quan, các quy định của nhà tài trợ về công tác đấu thầu, số 4339/CT-BNN-XD ngày 05/12/2013 về việc tăng cường quản lý công tác đấu thầu các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) do Bộ Nông nghiệp và PTNT quản lý

và số 8084/CT-BNN-XD ngày 08/10/2014 về việc đẩy nhanh tiến độ thi công, giải ngân và tăng cường công tác quản lý lựa chọn nhà thầu Bộ Nông nghiệp và PTNT

đã chỉ thị cho các đơn vị trực thuộc quán triệt, thực hiện nghiêm túc các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ: số 1315/CT-TTg ngày 03/8/2011 về chấn chỉnh việc thực hiện hoạt động đấu thầu sử dụng vốn nhà nước, nâng cao hiệu quả đấu thầu

Để tăng cường quản lý công tác đấu thầu, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Thông tư số 39/2015/TT-BNNPTNT ngày 20/10/2015 quy định một số nội dung về công tác lựa chọn nhà thầu các dự án đầu tư sử dụng vốn đầu tư công do

Bộ Nông nghiệp và PTNT quản lý, đang triển khai xây dựng chỉ thị của Bộ về việc tăng cường công tác quản lý tư vấn trong dự án ODA Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng đã chỉ thị cho các đơn vị trực thuộc quán triệt, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 37/CT-TTg ngày 30/12/2014 về việc chấn chỉnh công tác quản lý đấu thầu, thương thảo, ký kết và thực hiện hợp đồng trong các dự án sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ

1.5.3 Tình hình phân cấp trong đấu thầu và năng lực của đội ngũ cán bộ tham

gia hoạt động đấu thầu:

Phân cấp trong đấu thầu được thực hiện tuân thủ các quy định, văn bản hướng dẫn của Nhà nước và Luật Đấu thầu Các tổ chức thẩm định thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao, Chủ đầu tư tổ chức đấu thầu theo kế hoạch lựa chọn nhà thầu được người quyết định đầu tư phê duyệt, thực hiện đúng chức năng và trách nhiệm được phân cấp trong công tác lựa chọn nhà thầu

Người quyết định đầu tư phê duyệt kế hoạch đấu thầu của dự án và xử lý kiến nghị trong đấu thầu thuộc thẩm quyền (nếu có), hoặc các tình huống phức tạp có khiếu kiện trong đấu thầu Giúp cho người quyết định đầu tư quản lý công tác đấu thầu của từng dự án là các Tổng cục, Cục, Vụ quản lý chỉ đạo thực hiện dự án được

Bộ trưởng giao

Trang 27

16

Đội ngũ cán bộ tham gia công tác đấu thầu của chủ đầu tư các dự án thuộc Bộ đều có chứng chỉ tham gia khóa học đấu thầu theo quy định Hàng năm, theo nhu cầu, các đơn vị đều tiếp tục cử cán bộ tham gia các lớp tập huấn về đấu thầu để nâng cao năng lực, nghiệp vụ trong công tác đấu thầu Dù vậy, năng lực, kinh nghiệm của tổ chuyên gia đấu thầu do một số các chủ đầu tư thành lập vẫn còn hạn chế (đặc biệt là đối với các cơ quan, tổ chức không có chuyên môn về đầu tư, xây dựng), thiếu am hiểu về các lĩnh vực chuyên môn của từng gói thầu, từng nội dung đánh giá do đó việc đánh giá hồ sơ dự thầu còn nhiều thiếu sót Đặc biệt đối với dự

án ODA một số cán bộ tham gia công tác đấu chưa có đủ trình độ tiếng anh đáp ứng được yêu cầu công việc theo vị trí nhiệm vụ được giao

1.5.4 Những sai sót, tồn tại thường thấy qua công tác kiểm tra:

- Thời gian lựa chọn nhà thầu chưa đúng với kế hoạch lựa chọn nhà thầu được duyệt Đây cũng là một tồn tại khách quan do việc tổ chức đấu thầu phụ thuộc vào nguồn vốn được phân bổ

- Chất lượng hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu chưa tốt do năng lực của tư vấn lập HSMT còn yếu, việc tiếp cận quy định mới chưa đầy đủ, dập khuôn máy móc trong soạn thảo hồ sơ mời thầu, điều kiện cụ thể hợp đồng nêu trong hồ sơ mời thầu chưa

rõ ràng hoặc còn chung chung dẫn đến lúng túng trong đánh giá, trong thương thảo,

ký hợp đồng, trong xử lý các phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng

- Việc tổ chức đánh giá hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất đối với một số chủ đầu tư chưa thực sự tốt do tổ chuyên gia còn thiếu, yếu về năng lực, kinh nghiệm

1.5.5 Tỷ lệ giảm giá, năng lực và tiến độ triển khai các gói thầu của các Nhà

thầu trúng thầu

Theo thống kê từ năm 2004 đến 2012, tỷ lệ tiết kiệm trong đấu thầu đối các dự

án trong ngành thường nằm trong phạm vi từ 4% ÷ 7% so với giá dự toán được duyệt Năm 2013 tỷ lệ tiết kiệm trong đấu thầu là 18,51% so với giá dự toán được duyệt, năm 2014 tỷ lệ tiết kiệm trong đấu thầu là 9,17%, năm 2015 tỷ lệ tiết kiệm trong đấu thầu là 3,4% (vốn trong nước) và 5,15% (vốn ODA)

Trang 28

17

Các gói thầu được tổ chức đấu thầu có tính cạnh tranh cao, việc tỷ lệ giảm giá qua đấu thầu đang giảm dần, giá trúng thầu sát với giá dự toán gói thầu được phê duyệt có nguyên nhân chính từ các nhà thầu hiện nay không dám giảm giá quá thấp như năm 2013 do có thể dẫn đến rủi ro thua lỗ trong thực hiện gói thầu

1.6 Công tác thẩm định đấu thầu đối với các gói thầu sử dụng nguồn vốn từ

nhà tài trợ thuộc các dự án ODA Thủy lợi

Theo Khoản 3, Khoản 4 Điều 3 của Luật đấu thầu 43/2013/QH13: Đối với việc lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư thuộc dự án có sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi phát sinh từ điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế giữa Việt Nam với nhà tài trợ thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc tế đó Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó

Trước đây công tác thẩm định đấu thầu đối với các gói thầu thuộc dự án ODA Thủy lợi gặp nhiều khó khăn Nguyên nhân có phần do cơ chế chính sách nhà nước Việt Nam có nhiều thay đổi, nhưng chưa tương thích với nhà tài trợ Thủ tục về đấu thầu đối với dự án dùng nguồn vốn ODA, nhà tài trợ luôn có xu hướng lựa chọn 01 Tập đoàn có khả năng về kỹ thuật và tài chính mạnh hoặc các Tổng Công ty lớn thực hiện thi công các hạng mục của Dự án nên phải áp dụng phương thức đấu thầu rộng rãi Quốc tế (ICB) Việc đầu thầu ICB mất thời gian hơn (khoảng từ 06-09 tháng) và ít chọn được nhà thầu có khả năng về kỹ thuật và tài chính mạnh trên thế giới vào tham gia dự thầu ở Việt Nam (đặc biệt trong lĩnh vực Thủy lợi thường có những gói thầu xây lắp hoặc mua sắm thiết bị khoảng 05 triệu USD), các nhà thầu của Việt Nam thì không đáp ứng được yêu cầu của nhà tài trợ nên thường xuyên phải điều chỉnh lại kế hoạch đấu thầu dẫn đến mất nhiều thời gian Nhiều khi thủ tục trình duyệt qua nhiều cấp dẫn đến quá trình tuyển chọn nhà thầu kéo dài dẫn đến tình trạng khi kết quả đấu thầu được phê duyệt, có khi giá dự thầu không còn phù hợp do trượt giá, đặc biệt với những gói thầu xây lắp Mặt khác yêu cầu của nhà tài trợ về tư cách pháp nhân của đơn vị dự thầu không phụ thuộc hệ thống quản lý của chủ đầu tư (ADB có xem xét đến các thành viên là cổ đông của Công ty Cổ phần),

Trang 29

18

đây là điểm khó cho các Công ty Cổ phần có cổ đông liên quan đến chủ đầu tư và khó cho các tổ chức vừa nghiên cứu (dùng vốn ngân sách) vừa triển khai chuyển giao khi tham gia đấu thầu hoặc các trường hợp đặc thù như rà phá bom mìn chỉ do các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng có chức năng thực hiện Việc phải xem xét đánh giá quy trình thủ tục đấu thầu trên cơ sở hài hòa giữa Luật trong nước và các quy định của Nhà tài trợ mât nhiều công sức, và phải cân nhắc kỹ lưỡng để đưa ra quyết định, đông thời cũng đòi hỏi cán bộ tham gia hoạt động đấu thầu trong đó có cán bộ thẩm định đấu thầu phải có kiến thức sâu rộng về quy định của trong nước và của cả nhà tài trợ

Hiện nay Nhà nước đã có những thay đổi bước đầu tích cực về chính sách trong lĩnh vực đấu thầu và có xu hướng hội nhập quốc tế, và đã có những thay đổi hài hòa hơn với các thủ tục của các nhà tài trợ Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã làm việc cùng với các Nhà tài trợ lớn như WB, ADB để dần đân đưa ra những quy trình thủ tục hài hòa giữa quy định trong nước và quy định của Nhà tài trợ Việc quy định về đấu thầu trong nước dần có xu thế hội nhập với các quy định quốc tế trong thời gian tới sẽ giúp việc đánh giá, xem xét quá trình lựa chọn nhà thầu được dễ dàng và nhanh chóng hơn rất nhiều

1.7 Công tác thẩm định đấu thầu đối với các gói thầu sử dụng vốn đối ứng (trong nước) thuộc các dự án ODA Thủy lợi

Công tác thẩm định đấu thầu đối với các gói thầu sử dụng vốn trong nước có

nhiều thuận lợi hơn so với vốn ODA do chỉ phải tuân theo các quy định trong nước Tuy quy trình thủ tục theo quy định trong nước nhưng những gói thầu này vẫn chịu tác động chung vì cùng nằm trong dự án ODA, đặc biệt là với những gói thầu mà tiến độ thực hiện có liên quan chặt chẽ đến tiến độ thực hiện các gói thầu theo vốn ODA (ví dụ: quá trình đấu thầu gói tư vấn giám sát theo nguồn vốn trong nước sẽ chịu ảnh hướng từ quá trình đấu thầu Xây lắp theo vốn ODA vì khi tuyển được nhà thầu xây lắp thì mới cần huy động nhà thầu tư vấn giám sát Do đó nhiều khi quá trình đấu thầu phải kéo dài và có nhiều thay đổi về quy trình thủ tục nên làm quá trình thẩm định khó khăn hơn và mất nhiều thời gian hơn)

Trang 30

19

Mặt khác với hệ thống pháp luật về đấu thầu của Việt Nam còn ít kinh nghiệm

so với pháp luật của quốc tế, luật trong nước vẫn rất dài Có nhiều thay đổi và chồng chéo lẫn nhau, gây ra những tranh cãi và khó trong quá trình thực hiện lựa chọn nhà thầu và thẩm định đấu thầu

Tình hinh đấu thầu trong nước cũng có nhiều phức tạp, mặc dù các quy định về đấu thầu qua mạng đã một phần được công bố tuy nhiên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia vẫn còn đang trong giai đoạn xây dựng chưa được triển khai, nguồn thông tin của các nhà thầu vẫn chủ yếu là do tự khai do đó các nhà thầu có nhiều hành vi khai khống

hồ sơ dự thầu, thông thầu, gây cản trở quá trình đấu thầu làm cho quá trình lựa chọn nhà thầu và thẩm định đấu thầu gặp nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian

1.8 Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của quốc tế

Xuất phát từ sự khác nhau về các đặc điểm đặc thù, trình độ tổ chức đấu thầu của các nước, các tổ chức quốc tế, các quy định về đấu thầu và kinh nghiệm tổ chức đấu thầu của các nước, các tổ chức quốc tế, hoạt động đấu thầu xây dựng của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và của các nước như Nga, Hàn Quốc thể hiện tính phong phú đa dạng của hoạt động đấu thầu xây dựng Nghiên cứu hoạt động đấu thầu xây dựng của các nước như Nga, Hàn Quốc và Campuchia, một số tổ chức quốc tế như Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) để tổng hợp những kinh nghiệm quý báu đó làm những bài học cho các hoạt động đấu thầu xây dựng nói chung, đấu thầu xây dựng các công trình xây dựng ở Việt Nam nói riêng và từ đó góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động đấu thầu

và thẩm định đấu thầu

1.8.1 Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của nước Nga

Ở Nga, để quản lý hoạt động đấu thầu, Tổng thống Nga ban hành Nghị định kèm theo quy chế đấu thầu về mua sắm hàng hoá, xây lắp công trình, dịch vụ cho các nhu cầu quốc gia Một trong những kinh nghiệm tổng quan chi phí hoạt động đấu thầu của nước Nga là sự phù hợp cao của quy chế đấu thầu quốc tế Nó đảm bảo cho các hoạt động đấu thầu quốc tế diễn ra ở nước Nga không phải tốn nhiều công

Trang 31

20

sức vào việc nghiên cứu tìm hiểu các quy định của các tổt chức quốc tế trước khi tiến hành chúng Do vậy, đây là một trong những căn cứ quan trọng góp phần thực hiện một trong những yêu cầu của nâng cao chất lượng đấu thầu là tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của chủ đầu tư và tạo sự dễ dàng cho quá trình thực hiện Cơ chế quản lý, giám sát, xử phạt nghiêm minh các hành vi tiêu cực trong các hoạt động đấu thầu ở nước Nga đảm bảo chấm dứt tình trạng lạm dụng quyền lực của các quan chức chính phủ trong việc đấu thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp và dịch vụ cho các nhu cầu quốc gia Có thể nói, ở Nga, chính sách xử phạt thích đáng những cá nhân, tổ chức vi phạm quy chế đấu thầu đã thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu công bằng, bình đẳng trong đấu thầu; hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng thiếu minh bạch, thiếu vô tư của những người làm công tác xét thầu Đây là một kinh nghiệm quý báu chúng ta có thể nghiên cứu học tập để nâng cao chất lượng đấu thầu xây dựng nói chung và các công trình giao thông nói riêng

1.8.2 Kinh nghiệm đấu thầu của Hàn Quốc

Theo quy định của Hàn Quốc, “Luật hợp đồng” mà trong đó Nhà nước là bên tham gia là luật điều chỉnh các hoạt động đấu thầu Luật này quy định những nguyên tắc cơ bản và thủ tục mua sắm công Trên cơ sở luật đó Tổng thống, Thủ tướng ban hành các hướng dẫn để thực hiện Bộ Kinh tế và Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Hệ thống mua sắm của Hàn Quốc là hệ thống tập trung thống nhất cao Hàn Quốc có một cơ quan tập trung có tên viết tắt là Sarok có một số lượng cán bộ chuyên gia lớn lên tới hàng ngàn người có nhiệm vụ tổ chức thực hiện đấu thầu tất cả các nhu cầu mua sắm công lớn của đất nước Tuy nhiên, những nhu cầu mua sắm có giá trị nhỏ cũng được phân cấp Có thể nói nhiều nhà thầu Việt Nam đang có kỳ vọng đề nghị Chính phủ xem xét áp dụng kinh nghiệm này, vì việc tổ chức đấu thầu rất phân tán hiện nay ở nước ta có thể đã đẩy hoạt động này đi theo chiều hướng tạo thuận lợi cho các tệ nạn phát sinh như cục bộ, địa phương chủ nghĩa, áp dụng thiếu thống nhất, thiếu nhất quán giữa các địa phương, các ngành

Trang 32

21

1.8.3 Kinh nghiệm đấu thầu của Campuchia

Campuchia là một nước có diện tích nhỏ, ở cạnh nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc trong thời gian qua Hơn nữa, Campuchia vừa mới gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), do vậy nghiên cứu Quy chế đấu thầu của Campuchia cũng có ý nghĩa đối với Việt Nam Cũng dễ nhận thấy rằng, Quy chế quản lý đấu thầu Nhà nước của Campuchia khá đơn giản, ngắn gọn Nó chỉ bao gồm 9 điều với độ dài không quá 10 trang khổ giấy A4, quy chế này quy định một cách khái quát các hình thức đấu thầu, quy trình đấu thầu tổng quát và quản lý, giám sát hoạt động đấu thầu Việc tổ chức đấu thầu ở Campuchia được tiến hành một cách tập trung thông qua một Hội đồng Có thể nói rằng, tính đơn giản, gọn nhẹ và

tập trung là điểm nổi bật trong Quy chế Đấu thầu xây dựng ở Campuchia Điều này giải thích tại sao, các quy chế quản lý của Campuchia mặc dù rất đơn giản nhưng hiệu lực rất cao

1.8.4 Kinh nghiệm đấu thầu của Ngân hàng Thế giới (WB)

Ngân hàng Thế giới là một tổ chức quốc tế quản lý các khoản cho vay với 185 nước thành viên Để quản lý các hoạt động mua sắm, Ngân hàng Thế giới ban hành hai văn bản quy định riêng rẽ Những quy định này được các nhà lập pháp Việt Nam tham khảo nhiều trong quá trình xây dựng quy chế đấu thầu và điều hành hoạt động đấu thầu ở Việt Nam từ những ngày đầu tiên cho đến bây giờ hai quy định riêng rẽ đó gồm:

- Hướng dẫn mua sắm bằng vốn vay IBRD (Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế và tín dụng IDA (Hiệp hội Phát triển quốc tế) của Ngân hàng Thế giới đối với hàng hoá và xây lắp

- Hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới về tuyển dụng chuyên gia tư vấn Việc ban hành riêng rẽ hai loại hoạt động đấu thầu có nhiều điểm riêng biệt của Ngân hàng Thế giới cũng là một trong những kinh nghiệm đầu tiên có thể xem xét trong điều kiện của nước ta vì những quy định về đấu thầu của nước ta hiện nay quá dài, hơn nữa các quy định đó lại thay đổi thường xuyên nên có thể gây nhiễu khi áp dụng

Trang 33

22

Kinh nghiệm thứ hai có thể xem xét trong bối cảnh của nước ta là việc quy định rõ tính hợp lệ của Nhà thầu Một trong những nhân tố quan trọng để Nhà thầu được phép tham dự thầu với tư cách một Nhà thầu độc lập là nó phải tự chủ về tài chính Có như vậy các Nhà thầu khi tham gia đấu thầu mới tránh được sự chỉ đạo, điều hành của các cơ quan quản lý trực tiếp hoặc tránh bị lệ thuộc vào một cấp quản

lý nhất định Điều này đặt ra câu hỏi lớn ở Việt Nam là các Công ty, doanh nghiệp trực thuộc ngành của một Bộ chủ quản có được tham gia đấu thầu các gói thầu do các Bộ đó tổ chức, giám sát, quản lý hay không? Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo đảm yêu cầu vô tư, công bằng, bình đẳng giữa các Nhà thầu Ngân hàng Thế giới quy định rõ các hình thức đấu thầu gồm đấu thầu cạnh tranh Quốc tế (ICB)

và các cách mua sắm khác, như Đấu thầu Quốc tế hạn chế (LIB), Đấu thầu cạnh tranh trong nước (NCB), Chào hàng cạnh tranh (Quốc tế và Trong nước); Hợp đồng trực tiếp hoặc tự làm Việc lựa chọn hình thức nào phải trên nguyên tắc đảm bảo phát huy khả năng có cạnh tranh đủ rộng về giá, gồm các Nhà thầu có đủ khả năng kết hợp, kinh tế và hiệu quả các hình thức đấu thầu được áp dụng cho từng gói thầu được xác định theo thoả thuận giữa ngân hàng và bên vay

Kinh nghiệm thứ ba có thể học tập từ quy định cũng như thực hành đấu thầu của Ngân hàng Thế giới yêu cầu việc đấu thầu cạnh tranh quốc tế (ICB) phải thông báo mời thầu công khai trên tờ báo “Kinh doanh phát triển” của Liên Hợp Quốc (Development Business) Ngân hàng Thế giới quy định:Việc thông báo đúng lúc về các cơ hội đấu thầu cực kỳ quan trọng trong đấu thầu cạnh tranh Đối với các dự án mua sắm theo thể thức ICB, bên vay phải chuẩn bị và nộp cho Ngân hàng một dự thảo Thông báo chung về mua sắm (General Procurement Notice) Ngân hàng sẽ thu xếp việc đăng thông báo đó trên báo Kinh doanh Phát triển của LHQ Hướng dẫn này còn quy định rõ: “Mọi người dự thầu đều phải được cung cấp những thông tin như nhau và phải cùng được bảo đảm cơ hội bình đẳng trong việc nhận thông tin

bổ sung kịp thời Bên vay phải tạo điều kiện thuận lợi cho những người có thể dự thầu đến thăm địa điểm dự án” Ngân hàng Thế giới cũng yêu cầu tránh nói đến tên nhãn hiệu trong hồ sơ mời thầu để tăng cường tính cạnh tranh trong đấu thầu:” Yêu cầu kỹ thuật phải dựa trên cơ sở các đặc tính kỹ thuật và hoặc yêu cầu về tính năng

sử dụng Cần tránh nói đến các tên nhãn hiệu, số catalo hoặc các cách phân loại

Trang 34

23

tương tự Nếu cần phải trích dẫn tên nhãn hiệu hoặc số catalo của một nhà sản xuất nào đó thì mới nêu rõ và đầy đủ yêu cầu kỹ thuật được thì phải, nói thêm “hoặc tương đương sau đó” Những quy định rõ ràng về ngôn ngữ sử dụng, đồng tiền sử dụng và cách quy đổi từ các loại đồng tiền khác nhau về một đồng tiền chung theo

tỷ giá hối đoái do cơ quan nào phát hành và thời điểm xác định tỷ giá chung là cơ sở thống nhất cho việc đánh giá các hồ sơ dự thầu Đây được xem là nhân tố quan trọng trong việc bảo đảm tính công bằng, minh bạch và hiệu quả Tiêu chuẩn lựa chọn Nhà thầu trúng thầu để trao hợp đồng dựa trên tiêu chuẩn năng lực và có đơn

dự thầu được xác định là: (i) về cơ bản đáp ứng hồ sơ mời thầu: và (ii) có giá chào thầu được đánh giá là có chi phí thấp nhất” Người dự thầu sẽ không bị đòi hỏi phải chịu trách nhiệm về các công việc không mâu thuẫn nêu trong hồ sơ mời thầu hay buộc phải sửa đổi đơn dự thầu khác đi so với khi nộp lúc đấu thầu như là một điều kiện để được trúng thầu Trong quy định của mình, Ngân hàng Thế giới cũng dành một chương mục cho việc quy định ưu đãi đối với Nhà thầu trong nước và hàng hoá sản xuất trong nước Theo Ngân hàng Thế giới, Đối với hợp đồng xây dựng được trao trên cơ sở ICB, khi được Ngân hàng đồng ý, các bên vay trong điều kiện đủ tiêu chuẩn hợp lệ có thể dành một mức ưu đãi 7,5% cho các Nhà thầu trong nước Điều đó có nghĩa là cộng thêm 7,5% vào giá dự thầu của Nhà thầu nước ngoài, với điều kiện các Nhà thầu trong nước có sở hữu trong nước chiếm đa số Ngân hàng Thế giới quy định rõ chính sách của Ngân hàng đối với những mua sắm sai quy định và gian lận tham nhũng trong đấu thầu “Chính sách của Ngân hàng là huỷ bỏ phần vốn vay phân bổ cho những hàng hoá và công trình xây lắp đã mua sắm sai quy định” Chính sách của Ngân hàng Thế giới là rất rõ ràng đối với hành động gian lận và tham nhũng, ví dụ: Ngân hàng sẽ bác bỏ đề nghị trao hợp đồng nếu Ngân hàng xác định được rằng người dự thầu được kiến nghị để trao hợp đồng có hành vi tham nhũng hoặc gian lận trong khi cạnh tranh giành hợp đồng đó; Ngân hàng sẽ huỷ bỏ phần vốn vay đã phân cho hợp đồng hàng hoá hoặc công trình nếu bất kỳ khi nào xác định được rằng đại diện của Bên vay hoặc người hưởng lợi từ vốn vay có hành động tham nhũng hoặc gian lận trong quá trình mua sắm hoặc thực hiện hợp đồng mà Bên vay không có hành động kịp thời và phù hợp để chấn chỉnh tình hình thoả mãn được yêu cầu của Ngân hàng

Trang 35

24

1.8.5 Kinh nghiệm đấu thầu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)

Cũng giống như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng có hai quy định riêng rẽ cho hai lĩnh vực mua sắm là tuyển dụng tư vấn và mua sắm (hàng hoá và công trình xây lắp) Hướng dẫn của Ngân hàng Phát triển châu Á về tuyển dụng chuyên gia tư vấn (Guidelines on the use of consultants by Asian Development Bank and its Borrowers) Hướng dẫn của Ngân hàng Phát triển

châu Á về mua sắm (Guidelines for Procurement under Asian Development Bank Loans) Ngân hàng Phát triển châu Á cũng quy định các hình thức mua sắm gồm: Đấu thầu cạnh tranh Quốc tế rộng rãi (ICB) và các hình thức mua sắm khác như Chào hàng cạnh tranh Quốc tế (International Shopping), đấu thầu cạnh tranh trong nước (NCB), đấu thầu hạn chế (Limited Tendenring or Repeat Order), mua sắm trực tiếp Theo quy định của Ngân hàng Phát triển châu Á việc áp dụng hình thức mua sắm nào đó đều phải được sự chấp thuận của Ngân hàng Đây là một trong những ràng buộc đảm bảo cho việc sử dụng vốn vay của Ngân hàng Phát triển châu Á được xem là cách kỹ lưỡng trước khi công khai Cũng giống như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á cũng quy định rõ việc chống tham nhũng và gian lận trong đấu thầu Ngân hàng Phát triển châu Á cũng sẽ từ chối trao hợp đồng nếu

bị phát hiện có hành động tham nhũng và gian lận trong quá trình cạnh tranh giành hợp đồng Ngân hàng Phát triển châu Á cũng đình chỉ cấp vốn đối với phần vốn vay

đã phân bổ cho hợp đồng ở bất kỳ thời gian nào phát hiện ra có tham nhũng và gian lận trong suốt quá trình mua sắm và thực hiện hợp đồng xây dựng công trình sau khi đã nhận được ý kiến góp ý của Ngân hàng nhưng vẫn không có gì thay đổi nhằm đáp ứng những đòi hỏi của Ngân hàng Ngân hàng cũng sẽ thực hiện việc tuyên bố công khai danh tính của các công ty không đủ tư cách hợp lệ vĩnh viễn hoặc trong một thời hạn về thời gian nhất định Khác với Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á không có chương trình mục riêng cho việc thực hiện ưu đãi đối với Nhà thầu trong nước khi tham gia đấu thầu, nhưng việc ưu đãi các Nhà thầu vẫn được áp dụng cho từng trường hợp và được quy định rõ trong Hồ sơ mời thầu của các trường hợp đó Về quảng cáo và thông báo mới thầu phải đảm bảo cơ hội cạnh tranh cho các Nhà thầu thuộc tất cả các nước thành viên của ADB và do đó phải được thu xếp để đăng tải công khai trên tạp chí “Cơ hội kinh doanh ADB” của

Trang 36

25

Ngân hàng (ADB business Opportunties) cũng giống như một tờ báo lưu hành rộng rãi trong nước của Bên vay (ít nhất trên một tờ báo tiếng Anh, nếu có

1.8.6 Kinh nghiệm đấu thầu của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản

Điểm giống nhau cơ bản giữa hướng dẫn đấu thầu của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) và Ngân hàng WB và ngân hàng ADB là đều ban hành hai loại văn bản tách rời nhau:

Hướng dẫn tuyển dụng tư vấn của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) (Guidelines for the Employment of Consultants under JBIC ODA Loans) Hướng dẫn mua sắm của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) (Guidelines for Procurement under JBIC ODA Loans) Một trong những kinh nghiệm quan trọng nhất được quy định thành điều khoản trong hướng dẫn mua sắm hàng hoá và công trình là của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) là : “Ngân hàng cho rằng trong hầu hết các trường hợp đấu thầu, Hình thức Đấu thầu cạnh tranh Quốc tế ICB là giải pháp tốt nhất để thoả mãn các yêu cầu mua sắm hàng hoá và dịch vụ cho các dự án đã được đề cập ở trên Ngân hàng, vì vậy, thông thường yêu cầu bên vay mua sắm hàng hoá, công trình và dịch vụ thông qua đấu thuầ cạnh tranh quốc tế ICB phù hợp với các thông lệ được trình bày hướng dẫn ”

Điều thứ hai có thể được coi là thông tin tham khảo là việc Ngân hàng JBIC không có quy định nào và cũng không thực hiện chế độ ưu đãi nào đối với Nhà thầu trong nước khi tham gia đấu thầu Đây là điểm khác cơ bản với những quy định của Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) Đây là sự thể hiện cao nhất yêu cầu đảm bảo sự công bằng bình đẳng trong đấu thầu của JBIC Tóm lại, nghiên cứu những kinh nghiệm trong việc xây dựng tổ chức hoạt động đấu thầu xây dựng của một số nước, một số tổ chức quốc tế có ý nghĩa rất lớn để góp phần hoàn thiện quy chế đấu thầu ở nước ta cũng như tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động phổ biến này Qua những kinh nghiệm nêu trên, tác giả thấy nổi lên một số điểm chính là: (i) có thể nghiên cứu xây dựng các quy quy định về đấu thầu tách rời giữa đấu thầu mua sắm hàng hoá dịch vụ và công trình xây dựng với đấu thầu tuyển chọn tư vấn; (ii) nghiên cứu áp dụng tổ chức hoạt động đấu thầu tập trung trên phạm vi toàn quốc dần dần tiến tới phạm vi quốc tế để tăng tính

Trang 37

26

khách quan, vô tư, công bằng bình đẳng; (iii) áp dụng cơ chế giám sát, xử phạt nghiêm minh các tổ chức, cơ quan và cá nhân vi phạm trong đấu thầu và thực hiện các hợp đồng Ngoài ra còn có một số điểm khác nữa sẽ được nghiên cứu để áp dụng vào hoàn cảnh của nước ta

Kết luận chương 1

Thẩm định đấu thầu là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác đấu thầu ngày nay Đặc biệt là đối với những dự án ODA Thủy lợi lớn, phức tạp và đòi hỏi nhiều kiến thức đa dạng Để có thể đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ông tác thẩm định đấu thầu đáp ứng yêu cầu chất lượng kỹ thuật và phù hợp với nguồn vốn đề ra, trước hết trong chương 1 tác giả đã làm rõ các khái niệm, kiến thức chung về đấu thầu và thẩm định đấu thầu, đồng thời cũng đưa ra những đánh giá sơ bộ về hoạt động đấu thầu và thẩm định đấu thầu trong thời gian những năm gần đây của các dự án ODA Thủy lợi do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý, những kinh nghiệm đấu thầu trên thế giới

Trang 38

27

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẤU THẦU

VÀ THẨM ĐỊNH ĐẤU THẦU

2.1 Tính tất yếu của hoạt động đấu thầu

Hàng năm, các nước trên thế giới nói chung cũng như Việt Nam nói riêng,

Chính phủ đều phải đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ thuật cho đất nước Đó cũng là yếu tố để đánh giá sự phát triển kinh tế của một đất nước về kinh

tế trong hiện tại và tương lai

Việc xây dựng công trình là một trong những khâu quan trọng của một dự án đầu tư xây dựng, để xây dựng được một công trình đáp ứng tốt các đòi hỏi về kỹ thuật, chất lượng, thời gian thực hiện, tiết kiệm chi phí và hạn chế tới mức thấp nhất những tranh chấp có thể gây thiệt hại về vật chất hoặc về uy tín của các bên hữu quan thì ngày nay, phương pháp đấu thầu theo nguyên tắc chuẩn mực, thông dụng trên thị trường Quốc tế (hướng dẫn của tổ chức FIDIC là liên đoàn kỹ sư tư vấn Quốc tế) tỏ ra có nhiều ưu điểm và ngày càng được áp dụng phổ biến

Đối với các dự án lớn, phức tạp, dự án của các Công ty nhiều Chủ sở hữu và đặc biệt là các dự án thuộc khu vực Nhà nước, dự án có sự tài trợ của Quốc tế thì việc xây dựng công trình qua đấu thầu là cách duy nhất để tránh những sơ hở, sai lầm có thể gây thiệt hại về vật chất và uy tín cho các bên có liên quan

Mặt khác, trên thế giới việc xây dựng công trình không chỉ eo hẹp trong một quốc gia mà nó còn phải được sự giúp đỡ về khảo sát thiết kế, thi công xây dựng , của các nước khác tiên tiến hơn, đảm bảo hơn Do vậy nếu không có phương thức đấu thầu thì không thể tìm kiếm được các Nhà thầu phù hợp cho bất kỳ một nước nào khi mà dự án đó vượt ra khỏi tầm kiểm soát cũng như xây dựng của quốc gia Đối với Việt Nam chúng ta, vấn đề quản lý vốn đầu tư XDCB đang là vấn đề nan giải bao lâu nay Hàng năm gây ra sự lãng phí cho Nhà nước 30-40% tổng vốn đầu tư Nhiều công trình xây dựng số vốn thực bỏ ra hơn số vốn dự toán đã phê duyệt tới 20-25% mà vẫn không được đưa vào bàn giao sử dụng đúng tiến độ Theo

số liệu thống kê từ năm 1994-1997 có tới 60% số công trình xây dựng vượt dự toán

Trang 39

28

ban đầu phải điều chỉnh lại Nếu tính toán toàn bộ các khoản chi thêm đó trong cả nước thì số tiền vốn lãng phí thuộc sở hữu Nhà nước là rất lớn Quá trình thất thoát này cứ diễn ra liên tục và ngày càng có quy mô, số lượng lớn, làm ảnh hưởng trực tiếp tới giá trị của công trình, chất lượng của công trình bị giảm xuống và lúc đó hiệu quả của nó cũng bị ảnh hưởng theo Bên cạnh đó là sự nảy sinh những phức tạp trong việc giao thầu, nhận thầu của các đơn vị kinh tế về giá cả, thời gian thi công, chất lượng công trình gây ra sự ảnh hưởng đến công trình (nhiều Chủ đầu tư tự lựa chọn tổ chức nhận thầu để giao thầu và tự thoả thuận về giá cả xây dựng công trình

kể cả nguồn vốn Ngân sách và các nguồn khác) Từ thực tế đó, các hiện tượng tiêu cực trong quan hệ giao nhận thầu trở nên đa dạng và phức tạp thêm

Trước tình hình quản lý trong đầu tư XDCB có nhiều yếu kém, thất thoát lãng phí như vậy, nền kinh tế nước ta khi chuyển sang nền kinh tế thị trường dưới tác động của các quy luật kinh tế như quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung cầu , muốn cho các công trình xây dựng trở thành hàng hoá trên thị trường và tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước về XDCB, cải tiến công tác đơn giá dự toán, chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng, tiêu cực thì việc thực hiện phương thức đấu thầu xây lắp công trình là một đòi hỏi cấp thiết, là một hướng tích cực có nhiều ưu thế hơn hẳn phương thức giao thầu theo kế hoạch trước đây của chúng ta

Cần phải nhìn nhận một cách đúng đắn rằng đấu thầu là một phương pháp hình thành từ sự kết hợp nhuần nhuyễn và tinh tế giữa các yếu tố pháp lý, kỹ thuật

và tài chính với các nguyên lý của khoa học quản lý tổ chức, với tính chất là một phương pháp phổ biến có hiệu quả cao, đấu thầu ngày càng được nhìn nhận như một điều kiện thiết yếu để đảm bảo thành công cho các Nhà đầu tư dù họ thuộc khu vực Nhà nước hay tư nhân, dù họ đầu tư ở trong nước hay nước ngoài

Thực chất của đấu thầu:

Trong tình hình hiện nay, việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật là rất cần thiết cho sự phát triển tổng thể của nền kinh tế quốc dân Để thực hiện một dự án đầu tư xây dựng cơ bản theo cơ chế mới người ta có thể áp dụng một trong ba phương thức chủ yếu là: Tự làm, Chỉ định thầu và Đấu thầu Trong đó, phương thức đấu thầu

Trang 40

29

đang được áp dụng rộng rãi với hầu hết các dự án đầu tư xây dựng cơ bản Nếu đứng ở mỗi góc độ khác nhau sẽ có những cách nhìn khác nhau về đấu thầu trong xâydựng cơ bản

- Đứng trên góc độ chủ đầu tư: đấu thầu là một phương thức cạnh tranh trong xây dựng nhằm lựa chọn người nhận thầu đáp ứng được yêu cầu kinh tế kĩ thuật đặt

ra cho việc xây dựng công trình

- Đứng trên góc độ của nhà thầu: đấu thầu là một hình thức kinh doanh mà thông qua đó nhà thầu nhận được cơ hội nhận thầu khảo sát thiết kế, mua sắm máy móc thiết bị và xây lắp công trình

- Đứng trên góc độ quản lí nhà nước: đấu thầu là một phương thức quản lí thực hiện dự án đầu tư mà thông qua đó lựa chọn được nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu

Từ những góc độ trên có thể thấy thực chất của đấu thầu thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, đấu thầu là việc tổ chức hoạt động cạnh tranh trên hai phương diện:

- Cạnh tranh giữa bên mời thầu (chủ đầu tư) và nhà thầu (các đơn vị xây lắp)

- Cạnh tranh giữa các nhà thầu

Các quan hệ cạnh tranh này xuất phát từ quan hệ mua bán (cung - cầu) bởi vì

đấu thầu thực chất là một hoạt động mua bán và ở đây người mua là chủ đầu tư và người bán là các nhà thầu

Tuy nhiên, hoạt động mua bán này khác với hoạt đông mua bán thông thường

ở chỗ tính chất hàng hoá của sản phẩm xây dựng thể hiện không rõ do việc tiêu thụ

diễn ra trước khi có sản phẩm và thực hiện theo dự toán (chứ không phải giá thực tế) Theo lí thuyết hành vi thì trong một vụ mua bán bao giờ người mua cũng cố

gắng để mua được hàng hoá với mức giá thấp nhất ở chất lượng nhất định, còn người bán lại cố gắng bán được mặt hàng đó ở mức giá cao nhất có thể Do đó, nảy

sinh sự cạnh tranh giữa người mua (chủ đầu tư) và người bán (các nhà thầu) Mặt

Ngày đăng: 07/07/2020, 12:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w