51 2.5 Đánh giá chung về công tác quản lý đầu tư công đối với Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại tỉnh Điện Biên .... thực tế trên nên tác giả đã lựa chọn đề tài c
Trang 1L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác./
Tác gi ả luận văn
Nguy ễn Đắc Hưng
Trang 2học tập, nghiên cứu để tác giả hoàn thành đề tài
Tác giả xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo, cán bộ trường Đại học
Thủy lợi trong suốt khoá học đã trang bị cho tác giả nhiều kiến thức bổ ích cũng như
tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành khoá học cũng như hoàn thành luận văn
tốt nghiệp
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ cung cấp tài liệu và tư vấn chuyên môn để tác giả có điều kiện hoàn thành đề tài luận văn của mình
Mặc dù đã nỗ lực hết mình trong quá trình học tập và nghiên cứu nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiết sót, khuyết điểm Tác giả kính mong nhận được
những góp ý của các thầy cô và đồng nghiệp để luận văn của tác giả được hoàn thiện hơn nữa
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2016
H ọc viên
Nguy ễn Đắc Hưng
Trang 3M ỤC LỤC
DANH M ỤC HÌNH VẼ vi
DANH M ỤC BẢNG BIỂU vii
DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
M Ở ĐẦU ix
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ CHƯƠNG TRÌNH NƯỚC S ẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN 1
1.1 Tổng quan về đầu tư công và quản lý đầu tư công 1
1.1.1 Khái niệm và vai trò của đầu tư công trong nền kinh tế quốc dân 1
1.1.2 Đầu tư công ở Việt Nam và tăng trưởng kinh tế 3
1.1.3 Cơ cấu đầu tư công ở Việt Nam trong những năm qua 5
1.1.4 Nội dung quản lý đầu tư công 9
1.1.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đầu tư công trong chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 10
1.2 Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn10 1.2.1 Giới thiệu chương trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 10 1.2.2 Thực tế thực hiện Chương trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 14
1.2.3 Thực trạng quản lý đầu tư công trong chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 20
1.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý đầu tư công trong cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 22
1.3.1 Kiểm soát chi phí đầu tư dự án 25
1.3.2 Kiểm soát tiến độ dự án 26
1.3.3 Kiểm soát chất lượng dự án 27
1.3.4 Kiểm soát quản lý vận hành 27
1.3.5 Khả năng tiếp cận của người dân, tham gia và giám sát từ phía người dân29 Kết luận chương 1 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH M ỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN 30
Trang 42.1 Giới thiệu khái quát về tỉnh Điện Biên 30
2.1.1 Vị trí địa lý 30
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 31
2.1.3 Điều kiện về kinh tế - xã hội 33
2.2 Thực trạng về đầu tư công cho chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại tỉnh Điện Biên 37
2.3 Thực trạng quản lý đầu tư công cho chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại tỉnh Điện Biên 40
2.4 Hiệu quả đạt được về quản lý đầu tư công cho chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại tỉnh Điện Biên 43
2.4.1 Hiệu quả kiểm soát chi phí đầu tư dự án 43
2.4.2 Hiệu quả kiểm soát chất lượng dự án 46
2.4.3 Hiệu quả kiểm soát quản lý vận hành 49
2.4.4 Khả năng tiếp cận của người dân 51
2.5 Đánh giá chung về công tác quản lý đầu tư công đối với Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại tỉnh Điện Biên 53
2.5.1 Những kết quả đạt được 53
2.5.2 Những tồn tại cần khắc phục 54
2.5.3 Nguyên nhân của những tồn tại 56
Kết luận chương 2 59
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN 60
3.1 Định hướng quản lý đầu tư công đối với chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại tỉnh Điện Biên 60
3.1.1 Định hướng phát triển chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn của tỉnh Điện Biên 60
3.1.2 Định hướng phát triển hệ thống cấp, thoát nước của tỉnh Điện Biên 60
3.1.3 Công tác chỉ đạo điều hành chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Điện Biên 61 3.2 Nguyên tắc đề xuất các giải pháp cho chương trình nước sạch và vệ sinh môi
Trang 5trường nông thôn 62
3.2.1 Nguyên tắc trách nhiệm của các bên có liên quan đến chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 62
3.2.2 Nguyên tắc phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại và định hướng phát triển trong tương lai 63
3.2.3 Nguyên tắc xã hội hóa trong chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 63
3.2.4 Nguyên tắc tuân thủ luật định 65
3.2.5 Nguyên tắc tính hiệu quả và khả thi 66
3.2.6 Nguyên tắc phát triển bền vững 67
3.2.7 Nguyên tắc khoa học 68
3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả quản lý đầu tư công trong chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 69
3.3.1 Giải pháp về vốn đầu tư ban đầu và áp dụng công nghệ 69
3.3.2 Giải pháp về lập dự án 71
3.3.3 Giải pháp về quản lý chi phí đầu tư xây dựng 71
3.3.4 Giải pháp về quản lý chất lượng trong thi công xây dựng 77
3.3.5 Giải pháp về lựa chọn mô hình quản lý vận hành bền vững 77
3.3.6 Giải pháp về nguồn nhân lực 81
3.3.7 Giải pháp thông tin, giáo dục truyền thông 82
3.3.8 Các giải pháp hỗ trợ 85
Kết luận chương 3 87
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6DANH M ỤC HÌNH VẼ
Hình 1 1: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 1985 đến nay qua chỉ tiêu GDP 3 Hình 1 2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của Việt Nam so với các nước trong khu
vực trong giai đoạn 2000-2012 4
Hình 2 1: Phân bổ diện tích giữa các huyện trực thuộc tỉnh Điện Biên năm 2016 30
Hình 2 2: Phân bổ các bản tại tỉnh Điện Biên năm 2016 31
Hình 2 3: Cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 2010-2015 tại tỉnh Điện Biên 33
Hình 2 4: Tổng sản lượng lương thực giai đoạn 2010-2015 tại tỉnh Điện Biên 34
Hình 2 5: Tình hình thu ngân sách tại địa phương giai đoạn 2010-2015 35
Hình 2 6: Diện tích nước tưới thực tế so với thiết kế của một số công trình tại tỉnh Điện Biên 44
Hình 2 7: Dung tích các hồ tại tỉnh Điện Biên 47
Hình 2 8: Ước tính chi phí sữa chửa hồ tại tỉnh Điện Biên 48
Hình 3 1: Sơ đồ tổ chức mô hình cấp nước sạch nông thôn do HTX quản lý 80
Trang 7DANH M ỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Tốc độ tăng trưởng các nguồn vốn đầu tư công (giá so sánh 1994) 5
Bảng 1 2: Cơ cấu đầu tư công tại Việt Nam giai đoạn 2010-2013 5
Bảng 1 3: Kết quả thực hiện mục tiêu chương trình quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 2015 19
Bảng 2 1: Công suất thực tế so với công suất thiết kế của của các mô hình quản lý khác nhau tại các địa phương ở nước ta 41
Bảng 2 2: Tỷ lệ về số hộ sử dụng nước thực tế với số hộ sử dụng nước theo thiết kế
của của các mô hình quản lý khác nhau tại các địa phương ở nước ta 42
Trang 8ODA Nguồn vốn hổ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoảng viện trợ
và cho vay với điều kiện ưu đãi
TTNS Trung tâm nước sạch
VSMT Vệ sinh môi trường
UBND Ủy ban nhân dân
UNICEF Qu ỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc
Trang 9M Ở ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Trong tiến trình đổi mới thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, hàng năm nhà nước đã giành một lượng vốn rất lớn từ nguồn ngân sách để đầu tư vào các lĩnh vực công nhằm hoàn thiện cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ bản, phát triển kinh tế xã
hội, tăng phúc lợi cho người dân, phát triển kinh tế bền vững, đảm bảo an sinh xã hội
và an ninh quốc phòng, nâng cao dân trí và chất lượng cuộc sống Việc đầu tư và quản
lý sử dụng nguồn vốn này đang nảy sinh nhiều vấn đề Chính vì vậy mà việc chống
thất thoát, lãng phí, tiêu cực, tham nhũng đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước hết
sức quan tâm
Huy động, quản lý và sử dụng nguồn vốn trong đầu tư công một cách có hiệu quả là
một vấn đề lớn, phức tạp và nhạy cảm, đặc biệt trong môi trường pháp lý hiện nay còn nhiều bất cập, các cơ chế chính sách quản lý kinh tế còn chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng
bộ và luôn thay đổi như ở nước ta
Bên cạnh đó công tác đầu tư công hiện nay vẫn còn nhiều bất cập như: chất lượng công tác quy hoạch yếu, quản lý lỏng lẻo, trong khi nguồn vốn rất có hạn nhưng trên
thực tế thì đầu tư lại dàn trải, hiệu quả đầu tư thấp, tình trạng thất thoát lãng phí đang
diễn ra hết sức phức tạp, chi phí giải phóng mặt bằng cao, năng lực quản lý vốn còn kém, tình trạng thiếu vốn trong đầu tư dẫn đến dự án phải dừng, hoãn, giãn tiến độ còn nhiều dẫn đến thời gian đầu tư kéo dài, các nguồn vốn đã đa dạng hơn trước nhưng vẫn còn hạn chế trong sự kết hợp giữa nhà nước với tư nhân, việc phân bổ nguồn vốn vẫn còn mang nặng tính “xin - cho” giữa Trung ương với các địa phương,
giữa các quận huyện trong từng địa phương
Nước ta nông nghiệp nông thôn vẫn chiếm một tỷ trọng lớn và quan trọng, từ lâu vấn
đề phát triển nông thôn, thúc đẩy kinh tế, nâng cao đời sống nông dân đã được Đảng
và nhà nước quan tâm trong đó vấn đề cấp nước sạch cho nông thôn và vệ sinh môi trường luôn là vấn cấp bách và thu hút nhiều sự quan tâm Xuất phát từ những vấn đề
Trang 10thực tế trên nên tác giả đã lựa chọn đề tài chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao
hi ệu quả quản lý đầu tư công trong chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn t ại Điện Biên” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế
Tài nguyên với hy vọng đưa ra các giải pháp để huy động, sử dụng quản lý vốn trong lĩnh vực đầu tư công một cách có hiệu quả
2 M ục tiêu nghiên cứu
- Tổng quan về đầu tư công và công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
- Đánh giá thực trạng về đầu tư công tại Việt Nam cho chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
- Đưa ra những giải pháp nhằm huy động, sử dụng quản lý có hiệu quả nguồn vốn đầu
tư công vào Chương trình trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại Điện Biên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu: các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công từ nguồn vốn
Ngân sách Trung ương và địa phương, nguồn vốn đầu tư cho Chương trình nước sạch
và vệ sinh môi trường nông thôn tại Điện Biên
b Ph ạm vi nghiên cứu: giai đoạn từ 2010-2015, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp
nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư trong Chương trình nước
sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại Điện Biên tính đến năm 2020, và định hướng đến năm 2030
4 Cách ti ếp cận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích là phương pháp dùng để chia cái toàn
thể hay một vấn đề phức tạp ra thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố đơn
giản hơn để nghiên cứu và làm sáng rõ vấn đề Tổng hợp là phương pháp liên kết,
thống nhất lại các bộ phận, các yếu tố, các mặt đã được phân tích, vạch ra mối liên hệ
giữa chúng nhằm khái quát hóa vấn đề trong sự nhận thức tổng thể
Trang 11Phương pháp so sánh: được áp dụng nhằm phát hiện ra những điểm giống nhau và khác nhau của các nghiên cứu cùng đối tượng là công tác quản lý đầu tư công, đồng
thời xác định những nguyên nhân dẫn đến sự đồng nhất hay khác biệt đó Có thể so sánh bằng các chỉ tiêu tương đối hoặc tuyệt đối, định lượng hoặc định tính theo thời gian và phạm vi nghiên cứu cụ thể
Phương pháp thống kê: bao gồm việc thu thập, xử lý, phân tích, giải thích và trình bày các dữ liệu tình hình quản lý đầu tư công tại chương trình mục tiêu quốc gia về nước
sạch và vệ sinh môi trường nông thôn dựa trên nguồn dữ liệu thống kê về kinh tế, xã
hội tại các cơ quan chức năng của tỉnh Điện Biên hoặc các báo cáo được công bố và
thừa nhận
Phương pháp khác như tổng quan tư liệu từ các nguồn sách báo, đề tài, bài viết các điều tra hoặc nghiên cứu của các chuyên gia về vấn đề quản lý đầu tư công
N ỘI DUNG LUẬN VĂN
Ngoài các phần mở đầu, lời cảm ơn, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về đầu tư công và chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Chương 2 Thực trạng quản lý đầu tư công trong chương trình mục tiêu quốc gia
v ề nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại tỉnh Điện Biên
Chương 3 Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý đầu tư công trong chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tại tỉnh Điện Biên
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ CHƯƠNG TRÌNH NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN
1.1 T ổng quan về đầu tư công và quản lý đầu tư công
1.1.1 Khái ni ệm và vai trò của đầu tư công trong nền kinh tế quốc dân
a) Khái ni ệm về Đầu tư công
Kinh tế học định nghĩa đầu tư công là việc đầu tư để tạo năng lực sản xuất, cung ứng hàng hóa công cộng và chi tiêu chính phủ, là các khoản chi của chính phủ để cung ứng hàng hóa công cộng như xây dựng đường xá, trường học, dịch vụ khám chữa bệnh, an ninh, quốc phòng
Còn trong Luật Đầu tư công năm 2014 có giải thích “đầu tư công” là hoạt động đầu tư
của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội “Nhà nước” trong khái niệm trên là gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, và
tổ chức chính trị xã hội
Cách định nghĩa như trên của Luật Đầu tư công chỉ bao hàm lại khái niệm của kinh tế
học và chỉ nêu góc nhìn ở khía cạnh mục đích, nghĩa là hoạt động đầu tư nhằm phục
vụ việc gì, ở đây là phục vụ việc phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Các nhà kinh tế còn định nghĩa theo khía cạnh tính sở hữu
của đầu tư công như sau: “Đầu tư công là các khoản đầu tư do chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước tiến hành”, nghĩa là nguồn vốn đầu tư thuộc về nhà nước Trong Luật Đầu tư công năm 2014 đã gián tiếp đề cập đến khía cạnh sở hữu thông qua các quy định về “vốn đầu tư công” và nội dung “quản lý và sử dụng vốn đầu
tư công”, theo đó: “vốn đầu tư công gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư.” Tác giả cho rằng việc tiếp cận ở cả góc độ mục đích và góc độ sở hữu của đầu
Trang 14tư công sẽ giúp giải thích mối quan hệ của đầu tư công với mục đích phát triển kinh tế
- xã hội và việc sử dụng hiệu quả vốn đầu tư công sẽ trình bày ở những phần tiếp theo
của luận văn
b) Vai trò c ủa Đầu tư công trong nền kinh tế
Các nhà kinh tế thông qua các cơ sở lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm đều thống
nhất với nhau rằng “vốn đầu tư công là một thành phần quan trọng trong tổng vốn đầu
tư của toàn xã hội, và là một nhân tố tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”
Tăng trưởng kinh tế: Đầu thế kỷ 18, tác giả Adam Smith đã cho rằng “việc tăng vốn
đầu tư sẽ dẫn đến tăng sức lao động và tăng công cụ sản xuất cả về số lượng và chất lượng, từ đó mở rộng sản xuất, hay nói cách khác đầu tư tác động đến tăng trưởng kinh
tế biểu hiện ở cả hai mặt tổng cung và tổng cầu” Trên cơ sở kế thừa các lý thuyết về
vốn đầu tư, tác giả Cobb và Douglas đã mô hình hóa vai trò của vốn thông qua hàm
sản xuất Tiếp đó, tác giả Keynes cho rằng “tổng sản lượng của nền kinh tế hình thành
nhờ vào việc hiện thực hóa những quyết định chi tiêu như tiêu dùng của hộ gia đình, đầu tư mở rộng kinh doanh của doanh nghiệp, khoản chi của chính phủ và chi tiêu ròng của nền kinh tế bên ngoài đối với sản phẩm nội địa” Các tác giả đều cho rằng
“gia tăng đầu tư sẽ làm cho tổng cầu tăng trong điều kiện là các yếu tố khác không đổi
Sự thay đổi tổng cung, tổng cầu được phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế Từ đó suy ra khi thay đổi quy mô vốn đầu tư dẫn tới việc thay đổi tốc độ tăng trưởng kinh
tế.”
Đầu tư công là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triển
khoa h ọc công nghệ của một quốc gia Các nhà kinh tế cho rằng: “Mỗi quốc gia ở một
trình độ phát triển nhất định sẽ sử dụng một trình độ khoa học công nghệ tương ứng
Để chuyển từ trình độ công nghệ hiện tại sang trình độ công nghệ cao hơn, đòi hỏi
quốc gia phải chi những khoản đầu tư đủ lớn để đảm bảo quá trình chuyển đổi diễn ra thành công Do đó, đầu tư công tác động tới việc đổi mới công nghệ
Đầu tư công cũng giúp giải quyết những mất cân đối về phát triển kinh tế, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của vùng, giữa các vùng và đưa các vùng này thoát khỏi tình trạng kém
phát triển, phát huy các lợi thế so sánh của vùng
Trang 15Đầu tư công cũng tác động đến các nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân (cả trong và ngoài nước) Cụ thể: tác động này biểu hiện thông qua việc đầu tư công vào các phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, tạo cơ sở tiền đề để thúc đẩy việc giải ngân các nguồn
lực đầu tư từ khu vực tư nhân vào các hoạt động sản xuất, thương mại, xây dựng, và dân sự
1.1.2 Đầu tư công ở Việt Nam và tăng trưởng kinh tế
Đầu tư công ở Việt Nam từ sau “Chính sách Đổi mới” đến nay, đặc biệt từ năm 2000 đến nay đã góp phần quan trọng trong việc phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội và các yếu tố nền tảng quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế, hỗ trợ
và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của khu vực nhà nước nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung Để có được thành quả về phát triển GDP như trong Hình 1.1 là phần lớn nhờ vào kết quả của đầu tư công ở Việt Nam Song so với các nước trong khu vực thì chúng ta còn ở mức thấp (Hình 1.2) Điều đó cho thấy đầu tư công vẫn còn nhiều bất cập như hiệu quả đầu tư thấp, cơ cấu đầu tư bất hợp lý và cơ chế xin cho vẫn hiện hữu, cơ chế đầu tư ngày càng tỏ ra thiếu
khả năng đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển và thiếu bền vững Tác giả Nguyễn Ngọc Sơn và Lê Thị Ngọc Diệp (2014) đã đề xuất việc tái cơ cấu đầu tư, đặc
biệt đầu tư công, là một trong những đột phá chiến lược cho giai đoạn 2011-2020
nhằm thúc đẩy tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế
Hình 1 1: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ năm 1985 đến nay qua chỉ tiêu GDP
Trang 16Nguồn: Ngân hàng thế giới
Hình 1 2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của Việt Nam so với các nước trong khu
vực trong giai đoạn 2000-2012
Nguồn: Ngân hàng thế giới Hai tác giả nêu trên cho thấy: “Tăng trưởng kinh tế của nước ta trong suốt giai đoạn
vừa qua gắn liền với tăng mạnh vốn đầu tư, thể hiện qua tỷ lệ đầu tư so với GDP tăng liên tục từ 18,1% năm 1990 lên 42,4% năm 2010 Trung bình giai đoạn 2001-2010 tỷ
lệ đầu tư so với GDP đạt 40,5%”
Trang 17Bảng 1.1: Tốc độ tăng trưởng các nguồn vốn đầu tư công (giá so sánh 1994)
1.1.3 Cơ cấu đầu tư công ở Việt Nam trong những năm qua
Bảng 1 2: Cơ cấu đầu tư công tại Việt Nam giai đoạn 2010-2013
Trang 18(Ngu ồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2014)
Đầu tư công ở Việt Nam hiện có vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ thống kết
cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế và xã hội, tạo động lực thúc đẩy phát triển đất nước Phần
vốn này được Nhà nước giao cho các bộ, ngành và các địa phương, các đơn vị thuộc
lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị và chính trị - xã hội quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật
Tính chung trong giai đoạn 2001 - 2005, tổng vốn đầu tư công đạt khoảng 286 nghìn tỉ đồng, chiếm trên 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trong giai đoạn 2006 - 2010 ước đạt trên 739 nghìn tỉ đồng, khoảng trên 24% tổng vốn đầu tư toàn xã hội Như vậy, tỷ
trọng vốn nhà nước đầu tư cho các dự án công, các chương trình mục tiêu là rất lớn Chính vì vậy, việc quản lý và sử dụng có hiệu quả phần vốn đầu tư này là rất quan
trọng và cần thiết
Trong thời gian qua, bên cạnh những thành công và đóng góp tích cực vào quá trình phát triển đất nước không thể phủ nhận, đầu tư công của Việt Nam còn nhiều hạn chế,
nhất là về hiệu quả đầu tư Đầu tư công luôn đi cùng với lãng phí và tốn kém, thậm chí
với mức độ ngày càng nặng nề Việc Tập đoàn Kinh tế nhà nước Vinashin bỏ 1.000 tỉ đồng để mua tàu vận tải biển tuyến Bắc - Nam, nhưng chỉ chạy mấy chuyến rồi dừng, đang được nhắc đến như một điển hình cho sự lãng phí của đầu tư công Hay việc đầu
tư cảng biển dọc 600km ở bờ biển miền Trung quá dày đặc (cứ khoảng 30 - 40km lại
có 1 cảng), song các cảng biển này lại không hoạt động hết công suất
Trang 19Đầu tư công và quản lý đầu tư công kém hiệu quả không chỉ khiến hiệu quả đầu tư xã
hội bị hạn chế, mà còn làm gia tăng nhiều hệ quả tiêu cực và kéo dài khác, như tăng
sức ép lạm phát trong nước, mất cân đối vĩ mô trong đó có cân đối ngành, sản phẩm, cán cân xuất - nhập khẩu, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối và tích lũy - tiêu dùng, cũng như làm hạn chế sức cạnh tranh và chất lượng phát triển của nền kinh tế trong hội
nhập
Đặc biệt, đầu tư công kém hiệu quả làm tăng gánh nặng và tác động tiêu cực của chiếc
bẫy nợ nần lên đất nước, do làm tăng nợ chính phủ, nhất là nợ nước ngoài Về tổng
thể, mô hình tăng trưởng theo chiều rộng của Việt Nam nhờ gia tăng đầu tư công đã lên tới đỉnh Nếu không điều chỉnh mà càng thúc đẩy tăng trưởng dựa vào động lực mở
rộng quy mô vốn, giá trị gia tăng thấp và sự khai thác thái quá tài nguyên, lao động rẻ thì nền kinh tế càng mất khả năng cạnh tranh, thậm chí, càng tăng trưởng đất nước và người dân càng bị nghèo đi và thiếu bền vững
Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công
Ở Việt Nam, đầu tư công đang duy trì ở mức cao Theo Bộ Tài chính, tính đến ngày 31-12-2010, tỷ lệ nợ Chính phủ là 45,7% GDP, nợ nước ngoài là 42,2%, nợ công là 57,3% Năm 2011, nợ công của Việt Nam ước sẽ là 54,6% và năm 2012 là 58% GDP Năm 2011, dịch vụ nợ công chiếm 12,5% tổng thu ngân sách nhà nước và năm 2012 con số này sẽ lên tới 13,5% Cơ cấu vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào khu vực kinh tế nhà nước, tiếp sau đó mới đến khu vực kinh tế tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) Điều đáng lo ngại là trong khi khu vực nhà nước được hưởng nhiều nguồn lợi nhất thì hiệu quả đầu tư lại thấp nhất
Ngoài ra, ở nước ta hiện có 194 khu công nghiệp (với tổng diện tích gần 46.600 ha), cùng với 1.643 cụm công nghiệp (với diện tích gần 73.000 ha) do Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch đến năm 2020 Với tỷ lệ lấp đầy diện tích các khu công nghiệp hiện đạt 50% - 60%, thì cần ít nhất 10 - 15 năm nữa và số vốn đầu tư cần ít
nhất là 50 tỉ USD mới lấp đầy 100% diện tích đang có Chính phủ cũng đã phê duyệt
15 dự án khu kinh tế ven biển với tổng diện tích 662 nghìn héc-ta (chiếm 2% diện tích
Trang 20tự nhiên của Việt Nam) Như vậy, ước tính sẽ cần 2.000 tỉ USD (bằng toàn bộ đầu tư
cả nước trong 50 năm nữa) để đầu tư
Với tình hình như vậy và thực trạng sử dụng vốn đầu tư công hiện nay thì rất cần phải quan tâm nhiều hơn đến chất lượng sử dụng loại vốn này Cụ thể, để nâng cao hiệu quả đầu tư công trong thời gian tới, cần quán triệt một số nguyên tắc sau:
Thứ nhất, phối hợp bố trí vốn đầu tư công trên cơ sở quy hoạch đầu tư công được xây
dựng bảo đảm chất lượng cao và ổn định Một mặt, cần coi trọng nâng cao chất lượng
và giữ ổn định các quy hoạch đầu tư phát triển các loại được lập cả ở cấp quốc gia, ngành, cũng như địa phương, coi đây như một căn cứ chủ yếu định hướng đầu tư công,
hạn chế và tiến tới không đầu tư công ngoài quy hoạch, phá vỡ quy hoạch hay bất chấp quy hoạch Mặt khác, sự điều chỉnh và hoàn thiện các quy hoạch đầu tư đã lập cũng là
cần thiết, cần được tiến hành nghiêm túc, có căn cứ xác đáng, có quy trình và thời gian
nhằm hạn chế thấp nhất những thiệt hại cho các bên liên quan
Thứ hai, phối hợp hài hòa các mục tiêu, lợi ích và tính đến tác động hai mặt của dự án đầu tư công Cần xây dựng bộ tiêu thức phù hợp và chuẩn hóa để tạo căn cứ lựa chọn
và thông qua các dự án đầu tư công theo lĩnh vực và yêu cầu đầu tư, mục tiêu kinh tế -
xã hội, môi trường, cũng như các lợi ích của quốc gia và địa phương, ngành, ngắn hạn
và dài hạn, có phân biệt hai loại mục tiêu và hai loại tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư công - đầu tư vì lợi nhuận và đầu tư phi lợi nhuận
Thứ ba, phối hợp tăng cường tái cơ cấu đầu tư công, phân cấp và đa dạng hóa phương
thức, nguồn vốn đầu tư theo yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư xã hội Về dài hạn, cần
chủ động giảm thiểu dần đầu tư công, tăng đầu tư ngoài ngân sách nhà nước trong tổng đầu tư xã hội, tiết giảm việc cấp vốn ngân sách cho nhu cầu đầu tư của khối các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước và chuyển trọng tâm đầu tư công ra ngoài lĩnh vực kinh tế, để tập trung vào phát triển các lĩnh vực hạ tầng và xã hội Khuyến khích các
chủ đầu tư huy động vốn ngoài ngân sách nhà nước để đầu tư theo phương thức “chìa khóa trao tay”, có đặt cọc bảo hành, bảo đảm chất lượng công trình
Thứ tư, phối hợp tuân thủ các quy chuẩn về thủ tục và quy trình đầu tư, thực hiện đấu
thầu thực chất và rộng rãi cho mọi thành phần kinh tế với các nguồn đầu tư công, tăng
Trang 21cường giám sát, phản biện và kiểm tra, tố giác, xử lý kịp thời và nghiêm khắc các vi
phạm đầu tư công bằng các công cụ chế tài về tài chính và hành chính
Về tổng thể, cần giảm quy mô đầu tư và đầu tư công cho phù hợp với khả năng của
nền kinh tế, từ bỏ mô hình tăng trưởng “nóng”, dựa chủ yếu vào tăng vốn đầu tư và gia công sản xuất, chuyển sang mô hình phát triển theo chiều sâu Tái cơ cấu thu, chi ngân sách, thay đổi cơ cấu chi tiêu ngân sách theo hướng giảm bớt chức năng “nhà nước kinh doanh” và đồng thời tăng cường chức năng “nhà nước phúc lợi” Đổi mới phân
bổ đầu tư công, gắn với tài chính công, và tái cấu trúc nền kinh tế bắt đầu từ chính sách tài khóa Điều quan trọng nhất là kỷ luật tài khóa và việc nâng cao chất lượng công tác quy hoạch trên cơ sở tôn trọng tính tự phát triển của địa phương, nhưng cũng
cần hướng về sự phát triển tổng thể nền kinh tế, tăng cường hơn vai trò tổng cân đối chung của Chính phủ
1.1.4 N ội dung quản lý đầu tư công
a) Khái niệm về quản lý đầu tư công
Quản lý đầu tư công là một hệ thống tổng thể, bắt đầu từ việc hình thành những định hướng lớn trong chính sách đầu tư công cho đến việc thẩm định, lựa chọn, lập ngân sách, thực thi, và đánh giá các dự án đầu tư cụ thể, với mục đích là đảm bảo hiệu quả
và hiệu lực của đầu tư công, quá đó đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển chung
của nền kinh tế [1]
b) Nội dung quản lý đầu tư công
Gồm các nội dung: ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về đầu
tư công, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch, quy hoạch,
giải pháp, chính sách đầu tư công, theo dõi, cung cấp thông tin về quản lý và sử dụng
vốn đầu tư công, đánh giá hiệu quả đầu tư công, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư công, việc tuân thủ quy hoạch, kế hoạch đầu tư công,
xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư công, khen thưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thành tích trong
hoạt động đầu tư công, hợp tác quốc tế về đầu tư công [10]
Trang 221.1.5 Nh ững nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đầu tư công trong chương trình nước
s ạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đầu tư công trong chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn bao gồm các nhóm [20]
Văn hóa - xã hội gồm: trình độ dân trí chung, hành vi vệ sinh sức khỏe, mức độ tham gia của cộng đồng, tính tự chủ, năng động, bình đẳng giới, các nhân tố văn hóa - xã
hội, trình độ kỹ thuật, thái độ chi trả, khả năng chi trả
Kỹ thuật công nghệ: chi phí đầu tư công nghệ, định mức đầu tư của chính phủ và các nhà tài trợ, khả năng vận hành, khả năng cung cấp dịch vụ, phụ kiện thay thế sẵn có, tính đồng bộ, chi phí vận hành bảo dưỡng
Môi trường tự nhiên: trữ lượng nguồn nước, chất lượng nguồn nước, độ chênh nguồn theo mùa, việc bảo vệ môi trường, việc quản lý nguồn nước ngọt, việc quản lý nguồn
thải, thiên tai
Kinh tế: chi trả khi sử dụng, thu đủ bù chi, khả năng tiếp cận hệ thống tín dụng, nước
sạch được xem là hàng hóa
Khung chính sách: chính sách dân chủ cơ sở, môi trường pháp lý hỗ trợ, mô hình quan
hệ đối tác công tư được khuyến khích phát triển, đa dạng hóa mô hình quản lý, truyền thông và đối thoại với cộng đồng
Các nhân tố này tác động lên sự hình thành và phát triển của những quy trình quản lý
cơ bản trong phát triển ngành, dẫn đến những thành công làm thay đổi diện mạo cho
mô hình cấp nước nông thôn, nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước
1.2 Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
1.2.1 Gi ới thiệu chương trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Trang 23Nâng cao điều kiện sống: các công trình cấp nước và vệ sinh hiện nay nếu được cải
tiến và nhân rộng sẽ đem lại tiện ích to lớn, nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn, làm giảm bớt sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn, góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
Giảm tình trạng ô nhiễm môi trường do phân người và phân gia súc, giảm đến mức
thấp nhất lượng phân người và phân gia súc chưa được xử lý làm ô nhiễm môi trường, gây mùi hôi thối, phát sinh ruồi muỗi, cũng như giảm ô nhiễm hữu cơ các nguồn nước Nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng về bảo vệ môi trường, vệ sinh
- Hầu hết dân cư nông thôn thực hành tốt vệ sinh cá nhân và giữ sạch vệ sinh môi trường làng xã nhờ các hoạt động Thông tin - Giáo dục - Truyền thông
- Từng bước hiện thực hóa Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020, cải thiện điều kiện cung cấp nước sạch, vệ sinh, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi vệ sinh và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, góp phần nâng cao sức
khỏe và chất lượng sống cho người dân nông thôn
1.2.1.3 Phương châm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
- Phát huy nội lực của dân cư nông thôn, dựa vào nhu cầu, trên cơ sở đẩy mạnh xã hội hóa trong đầu tư, xây dựng và quản lý, đồng thời tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong các dịch vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn Người sử dụng quyết định mô hình cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn phù hợp với khả năng cung cấp tài chính, tổ chức thực hiện và quản lý công trình Nhà nước đóng vai trò hướng dẫn và hỗ
Trang 24trợ, có chính sách giúp đỡ các gia đình thuộc diện chính sách, người nghèo, vùng dân
tộc ít người và một số vùng đặc biệt khó khăn khác
- Hình thành thị trường nước sạch và dịch vụ vệ sinh nông thôn theo định hướng của Nhà nước
- Đẩy mạnh xã hội hoá cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: vận động và tổ
chức, tạo cơ sở pháp lý để huy động sự tham gia đóng góp tích cực và nhiều mặt của
mọi thành phần kinh tế và cộng đồng dân cư trong đầu tư vốn, thi công xây lắp, sản
xuất thiết bị phụ tùng, các dịch vụ sửa chữa và quản lý vận hành Khuyến khích khu
vực tư nhân đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn, nhất là công trình cấp nước tập trung
1.2.1.4 Nguyên t ắc thực hiện của chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2005
- Nguyên tắc cơ bản là phát triển bền vững nghĩa là coi trọng sự phát triển vững chắc: làm đâu được đấy, hơn là sự phát triển nhanh nhưng nóng vội, làm xong lại hỏng phải làm lại, cuối cùng lại chậm và tốn kém hơn Đồng thời phải đảm bảo phát triển trước
mắt không làm tổn hại đến tương lai và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên nước Muốn đạt được sự bền vững thì phải: (1) đảm bảo có nguồn tài chính liên tục và kịp thời, không những chỉ để xây dựng mà còn để quản lý vận hành và thay thế khi công trình
hết thời hạn sử dụng (bền vững về tài chính), (2) phải có người chủ sở hữu rõ ràng để quan tâm bảo vệ giữ gìn công trình cũng như quan tâm đến việc sử dụng liên tục và kéo dài thời gian khai thác (bền vững về sử dụng), (3) đảm bảo khả năng hoạt động thường xuyên và lâu dài của công trình Tức là phải có bộ máy quản lý (dù là đơn
giản), có công nghệ thích hợp, có chăm sóc bảo dưỡng, có người biết vận hành, có
mạng lưới dịch vụ sửa chữa, có vật tư phụ tùng thay thế dễ kiếm (bền vững về hoạt động) Thực hiện nguyên tắc bền vững sẽ gặp nhiều khó khăn Kinh nghiệm quốc tế cho thấy chỉ khi nào người sử dụng - tức là các hộ nông dân trở thành người chủ thực
sự của công trình thì mới có được sự bền vững Muốn người sử dụng là chủ công trình thì phải thực hiện cách tiếp cận dựa trên nhu cầu và phải tuân thủ một số hướng dẫn cơ
bản chỉ đạo thực hiện
Trang 25Giai đoạn từ năm 2005 đến nay bổ sung thêm:
- Phát triển các công nghệ phù hợp với các vùng miền, bên cạnh việc phát triển các công nghệ tiên tiến cần quan tâm đến phát triển công nghệ cấp nước quy mô hộ gia đình cho những vùng còn khó khăn
- Tăng cường mục tiêu vệ sinh, thúc đẩy đầu tư vệ sinh hộ gia đình, trong đó đẩy mạnh các loại hình vệ sinh chi phí thấp thông qua tín dụng để tăng khả năng tiếp cận của người nghèo
- Tăng cường công tác thông tin - giáo dục - truyền thông, chuyển từ truyền thông nâng cao nhận thức sang truyền thông thay đổi hành vi
1.2.1.5 Cách ti ếp cận chung của chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
- Cách tiếp cận dựa trên nhu cầu: người sử dụng tự trả các chi phí và thực hiện xã hội hoá lĩnh vực cấp nước sạch & vệ sinh nông thôn Cách tiếp cận dựa trên nhu cầu thay
thế cho cách tiếp cận dựa vào cung cấp trước đây Có nghĩa là người sử dụng sau khi được tư vấn cần thiết sẽ: (1) Quyết định loại công trình cấp nước sạch & vệ sinh nông thôn mà mình mong muốn, cung cấp tài chính cho xây dựng công trình và tự tổ chức
thực hiện, (2) tự xây dựng hoặc thuê nhà thầu xây dựng công trình, (3) quản lý, vận hành và duy trì công trình Các cơ quan Nhà nước và các nhà tài trợ sẽ đóng vai trò tư
vấn hướng dẫn và hỗ trợ mà không làm thay Cách tiếp cận dựa trên nhu cầu chính là
nhằm phát huy nội lực cao nhất để toàn bộ lĩnh vực cấp nước sạch & vệ sinh nông thôn được thực hiện hoàn toàn dựa theo cơ chế của cách tiếp cận này
- Cách tiếp cận dựa vào việc trả các chi phí khi sử dụng: về nguyên tắc, người sử dụng
sẽ chịu toàn bộ chi phí xây dựng và vận hành các công trình cấp nước sạch & vệ sinh nông thôn Tuy nhiên, Nhà nước sẽ trợ cấp cho một số đối tượng người sử dụng và
một số loại hình công nghệ nhất định sau đây: (1) người nghèo, người rất nghèo và các gia đình thuộc diện chính sách ưu tiên có khó khăn về đời sống, (2) các hệ thống cấp nước tập trung được Nhà nước khuyến khích, (3) một số trường hợp đặc biệt Trong
mọi trường hợp người sử dụng sẽ trả toàn bộ chi phí vận hành và kiểm soát tất cả các khoản chi phí như chi phí xây dựng, vận hành và quản lý
Trang 26- Cách tiếp cận dựa vào việc Xã hội hóa lĩnh vực cấp nước sạch & vệ sinh nông thôn:
Xã hội hóa lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn là vận động và tổ chức, tạo cơ
sở pháp lý để huy động sự tham gia đóng góp tích cực và nhiều mặt của mọi thành
phần kinh tế và cộng đồng dân cư trong đầu tư vốn, thi công xây lắp, sản xuất thiết bị
phụ tùng, các dịch vụ sửa chữa và quản lý vận hành Khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch & vệ sinh nông thôn nhất là công trình cấp nước tập trung Cơ quan quản lý Nhà nước rút khỏi kinh doanh xây dựng công trình
cấp nước sạch và vệ sinh, công việc này giao cho các nhà thầu là doanh nghiệp Nhà nước hoặc công ty tư nhân đảm nhận thông qua đấu thầu cạnh tranh Hình thành thị trường các dịch vụ cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn theo định hướng của Nhà nước
1.2.1.6 Ph ạm vi thực hiện chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Bao gồm toàn bộ các vùng nông thôn trong cả nước Trong đó ưu tiên cho những vùng
cạn kiệt nguồn nước, vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn, các vùng có tỷ lệ dân
cư được cấp nước sạch và vệ sinh thấp hơn 60%, vùng ven biển, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số, vùng phát triển mạnh làng nghề
1.2.2 Th ực tế thực hiện Chương trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2005
Đại bộ phận dân cư nông thôn là những người nông dân làm ăn nhỏ, đa số sống trong các thôn xóm, làng bản tương đối tập trung, có tổ chức hành chính vững chắc và truyền thống cộng đồng lâu đời với cơ cấu hạt nhân là hộ gia đình bình quân có 5 người Nhưng mức sống còn thấp, một bộ phận đáng kể dân cư nông thôn thuộc diện nghèo, thu nhập chỉ đủ cho nhu cầu tối thiểu về ăn mặc không còn kinh phí cho các nhu cầu khác, nhận thức về cấp nước và vệ sinh môi trường còn rất hạn chế Do đó, từ năm 1997 Chính phủ đã đề ra Định hướng phát triển nông thôn bao gồm 5 nội dung cụ
thể: (1) đầu tư mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm, trồng rừng và khuyến khích phát triển ngành chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, (2) nâng cao tỷ lệ ngân sách Nhà nước, vốn viện trợ phát triển chính thức từ nước ngoài (ODA) và đóng góp của địa phương để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất và xã
hội, (3) tạo điều kiện thuận lợi hơn để phát triển các hoạt động kinh doanh vật tư và
Trang 27nông sản hàng hoá, khuyến khích sự liên kết giữa các doanh nghiệp Nhà nước với
những người buôn bán nhỏ và nông dân, (4) khuyến khích áp dụng trang thiết bị và công nghệ mới trong sản xuất và chế biến ở nông thôn, (5) hỗ trợ các hộ gia đình hợp tác trong cơ chế mới, thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cho thuê đất một cách linh hoạt hơn Đồng thời, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn triển khai nghiên cứu Chiến lược phát triển nông nghiệp - nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu cơ bản là “bảo đảm an ninh lương thực quốc gia với dân số lên tới 91 - 94 triệu người vào năm 2010 với cơ cấu và
chất lượng bữa ăn được cải thiện Phát triển toàn diện sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, nghề muối, công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ để tạo việc làm, tăng thu nhập cho dân cư nông thôn Phát triển y tế, giáo dục, văn hoá, xây dựng nông thôn mới văn minh hiện đại với bản sắc dân tộc, đảm bảo an toàn xã hội, thực hiện quy
chế dân chủ ở nông thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai để phát triển bền vững.”
Nhận định về tình hình nguồn nước trong giai đoạn này: nhìn chung nguồn nước của
Việt Nam hiện còn dồi dào Lượng mưa khá cao, một hệ thống sông ngòi kênh mương dày đặc, nước ngầm phong phú tại những vùng đất thấp Tuy nhiên, nguồn nước phân
bố không đều theo cả thời gian và không gian Một số vùng rất khan hiếm nước Các
vấn đề tồn tại chủ yếu là: sử dụng ngày càng nhiều nước mặt để tưới ruộng, nạn phá
rừng ảnh hưởng nghiêm trọng tới các nguồn nước, nước ngầm chứa nhiều sắt, gan phải xử lý tốn kém, các vùng đồng bằng và ven biển tương đối rộng lớn thì nguồn nước bị nhiễm mặn, sự ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt ngày càng tăng do chất
măng-thải công nghiệp và sinh hoạt Ngoài ra, hạn hán thường xảy ra cũng là một vấn đề cần
phải được quan tâm đầy đủ hơn
Nhận định về tình hình cấp nước sạch trong giai đoạn này: phần lớn các hộ nông thôn
sử dụng 2 nguồn nước, một nguồn để ăn uống thường là nước mưa và một nguồn để
tắm giặt Các hệ thống cấp nước công cộng bằng đường ống dùng chung cho nhiều hộ chưa phổ biến Các hộ thường có công trình cấp nước riêng như giếng đào, lu hay bể
chứa nước mưa Hơn 50% số hộ nông thôn dùng nước giếng đào, 25% dùng nước sông
Trang 28suối, hồ ao, và hơn 10% dùng nước mưa Bộ phận còn lại dùng nước giếng khoan và
rất ít hộ được cấp nước bằng hệ thống đường ống
Các giếng đào thường là những giếng ngoài trời theo truyền thống Nước mưa được
chứa trong bể hay lu thường không được che đậy, việc dùng gầu hay gáo để múc nước
là phổ biến Các giếng khoan có đường kính nhỏ và dùng bơm tay Chất lượng nước nói chung không đạt tiêu chuẩn vệ sinh Ước tính mới có khoảng 30% dân số có nguồn nước tương đối sạch, trong đó chỉ có khoảng 10% đạt tiêu chuẩn quốc gia về nước
sạch Một số vùng còn thiếu cả nước dùng cho sinh hoạt với số lượng tối thiểu chứ
chưa nói đến chất lượng nước như: vùng bị nhiễm mặn ở ven biển, hải đảo, vùng núi cao, các vùng sâu vùng xa, vùng biên giới, vùng đá vôi castơ và trong thời gian gần đây là các vùng bị hạn hán như Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Hoà Bình, Cao Bằng, Hà Giang
Nhận định về tình hình vệ sinh nông thôn giai đoạn này: ước tính khoảng 50% số hộ ở nông thôn không có nhà tiêu và đa số các hộ này đi vệ sinh ngoài trời, bộ phận còn lại
sử dụng hố xí của hàng xóm Trong 50% số hộ có nhà tiêu thì phần lớn là những hố xí
một ngăn hoặc hố xí đào không hợp vệ sinh, phân thường được lấy ra để bón ruộng mà không qua xử lý Loại nhà tiêu thông dụng nữa là hố xí 2 ngăn ở phía Bắc và cầu tiêu
ao cá ở phía Nam, mỗi loại có khoảng 10% số hộ sử dụng Bộ phận nhỏ còn lại dùng
hố xí thấm dội nước hoặc bể tự hoại Trong tổng số các loại hố xí chỉ có khoảng 20%
là hợp vệ sinh
Nhận định về tình hình sức khỏe giai đoạn này: đánh giá theo tỷ lệ chết của trẻ dưới 1
tuổi thì tương đối tốt so với 1 số nước láng giềng (như năm 1993 tỷ lệ chết của trẻ dưới 1 tuổi ở Việt nam là 42/1.000 so với Indonesia 56/1.000) Nhưng khi xem xét các
bệnh liên quan đến nước và vệ sinh thì tình hình lại trở nên xấu hơn Chẳng hạn bệnh tiêu chảy đã tăng từ 300 ca/100.000 dân năm 1990 lên 1.200 ca/100.000 dân năm 1996
và 1.265 ca/100.000 năm 1997 Các bệnh giun, đường ruột cũng là một vấn đề lớn, ở
một số vùng có tới 90% dân số nông thôn bị giun (vùng đồng bằng và trung du Bắc
bộ) Thực hành vệ sinh cá nhân ở nông thôn rất kém, nói chung người dân ít hiểu biết
và ít quan tâm về mối liên quan giữa nước - nhà tiêu - vệ sinh cá nhân và sức khỏe
Trang 29Nhận định về tình hình xây dựng công trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn: chỉ ghi nhận một chương trình lớn về cấp nước sạch & vệ sinh nông thôn của Chính phủ được UNICEF tài trợ đã hoạt động từ hơn 10 năm nay ở hầu hết các tỉnh là
một đóng góp quan trọng cho sự phát triển của lĩnh vực cấp nước sạch & vệ sinh nông thôn Hàng trăm ngàn giếng nước bơm tay UNICEF và các nhà vệ sinh đã được xây
dựng, đồng thời người dân đã tự đầu tư xây dựng số lượng công trình cấp nước sạch và
vệ sinh lớn hơn 2 - 3 lần số lượng công trình do chương trình UNICEF tài trợ, đã cải thiện một cách đáng kể điều kiện cấp nước sạch và vệ sinh cho các vùng nông thôn Tuy nhiên, tổng đầu tư của cả Nhà nước và nhân dân cho cấp nước sạch & vệ sinh nông thôn còn rất nhỏ bé so với yêu cầu cải thiện điều kiện cấp nước sạch & vệ sinh nông thôn ở nước ta
Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010
Chất lượng nước và chất lượng xây dựng các công trình cấp nước nhìn chung còn
thấp, chưa đạt các yêu cầu đặt ra (còn 38% dân số nông thôn chưa được tiếp cận với nước sinh hoạt hợp vệ sinh) Trong số 62% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp
vệ sinh thì chỉ có chưa đến 30% được tiếp cận với nguồn nước sạch đạt tiêu chuẩn ngành của Bộ Y tế Nhiều vùng đang diễn ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước do sự xâm
nhập mặn, do chất thải chăn nuôi, chất thải làng nghề, hoá chất sử dụng trong nông nghiệp ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt, sức khoẻ của nhân dân Bên cạnh đó, nhiều khu vực ở các vùng đồng bằng đã phát hiện hàm lượng Asen có trong nước ngầm khá cao so với tiêu chuẩn cho phép đang là một trong những thách
thức lớn đối với công nghệ xử lý và nguồn lực đầu tư
Tính đồng đều trong việc cấp nước sạch ở các vùng, miền còn nhiều hạn chế Trong khi 3 vùng sinh thái đã có số dân cư nông thôn được cấp nước sinh hoạt trên 60%, thì
ở 4/7 vùng còn lại chỉ có chưa đến 50% số dân được cấp nước sinh hoạt, nhiều vùng như: miền núi, vùng ven biển, vùng khó khăn về nguồn nước, người dân chỉ được sử
dụng bình quân dưới 20 lít/người/ngày Nhiều nơi tình trạng khan hiếm nước diễn ra
từ 5 đến 6 tháng trong năm như Nam Trung Bộ, Tây Nguyên
Tính bền vững của các thành quả đã đạt được về cấp nước chưa cao Số lượng và chất lượng nước cung cấp ở nhiều nơi hiện đang bị giảm sút, việc giám sát và kiểm tra chất
Trang 30lượng nước chưa đúng quy định đặc biệt là đối với các công trình cấp nước nhỏ lẻ
Quản lý bền vững công trình cấp nước tập trung sau xây dựng còn yếu, hầu hết do kinh phí chưa đủ đảm bảo duy trì quản lý, khai thác, tu sửa dẫn đến công trình bị
xuống cấp, thậm chí không tiếp tục hoạt động được Một số công trình do tư nhân hoặc
hợp tác xã nước sạch đầu tư và quản lý tuy có khá hơn nhưng cũng chỉ đảm bảo tái sản
xuất đơn giản
Phương pháp, công nghệ xử lý rác thải, nước thải tập trung ở nông thôn, đặc biệt là vùng làng nghề đang là vấn đề bức xúc, chưa có giải pháp hữu hiệu Chương trình
Mục tiêu Quốc gia giai đoạn 1999 - 2005 mới chỉ tập trung việc giải quyết nước sinh
hoạt cho người dân mà chưa quan tâm đầy đủ đến vệ sinh môi trường, xử lý nước thải,
xử lý rác thải, chất thải chuồng trại chăn nuôi và xử lý chất thải làng nghề do đó đây đang là vấn đề cản trở sự phát triển của các làng nghề và phát triển chăn nuôi ở nông thôn
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, tuy nhiên, vấn đề vệ sinh ở nông thôn vẫn chưa được chú
trọng như đối với cấp nước Tính đến nay, cả nước vẫn còn 50% số hộ gia đình chưa
có nhà tiêu hợp vệ sinh và đang phải sử dụng các loại nhà tiêu không hợp vệ sinh như nhà tiêu cầu, nhà tiêu đào, nhà tiêu ao cá hiện là nguy cơ cao gây nhiễm bẩn các nguồn nước mặt phục vụ cho sinh hoạt của cộng đồng Trong khi đó, nhận thức của các cấp chính quyền và người dân vẫn còn lệch lạc, coi trọng vấn đề cấp nước hơn vệ sinh, coi
trọng việc xây dựng mới hơn là phát huy hiệu quả những công trình hiện có
Tổng vốn đầu tư huy động của chương trình chưa đáp ứng được nhu cầu, cơ cấu phân
bổ vốn đầu tư chưa hợp lý Mặc dù Chương trình vẫn được ưu tiên phân bổ vốn năm sau cao hơn năm trước nhưng tổng ngân sách nhà nước cấp còn rất khiêm tốn so với nhu cầu đề ra (chỉ bằng 22% tổng toàn bộ nguồn vốn huy động được) Ngân sách nhà nước chủ yếu tập trung hỗ trợ cho các vùng khó khăn, các hộ gia đình chính sách, các
hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người và chủ yếu là cho xây dựng mới các công trình, ít đầu tư cho truyền thông và đào tạo nâng cao năng lực
Thị trường nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn chưa hình thành rõ ràng, các chính sách khuyến khích đầu tư và cơ chế tín dụng hiện có chưa thu hút được sự tham gia của các thành phần kinh tế trong xã hội, đặc biệt là khu vực tư nhân
Trang 31Theo báo cáo thống kê các bệnh truyền nhiễm năm 2003 của Cục Y tế dự phòng và Phòng chống HIV/AIDS – Bộ Y tế, 10/26 bệnh truyền nhiễm gây dịch được giám sát
có tỷ lệ mắc trên 100.000 dân cao nhất theo thứ tự là cúm, tiêu chảy, sốt rét, sốt xuất huyết, lỵ trực khuẩn, quai bị, lỵ amib, HIV/AIDS, viêm gan virus, thuỷ đậu Như vậy, khoảng một nửa các bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc cao nhất là những bệnh có liên quan tới nước sạch và vệ sinh môi trường Điều này cho thấy cần phải tập trung hơn
nữa cho việc cải thiện các điều kiện cấp nước và vệ sinh như là một trong các giải pháp đồng bộ nhằm từng bước khống chế và giảm tỷ lệ mắc của các bệnh dịch này Các công trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường trong các trường học, trạm y tế và các cơ sở công cộng khác ở nông thôn mặc dù đã được quan tâm nhưng kết quả đạt được vẫn còn khá khiêm tốn so với nhu cầu thực tế Nhiều trường học còn thiếu các công trình cấp nước và vệ sinh hoặc có nhưng không đáp ứng được nhu cầu, nhiều cơ
sở công cộng đang được xây dựng mới nhưng không có hạng mục xây dựng công trình
cấp nước và vệ sinh
Giai đoạn từ năm 2010 đến nay
Bảng 1 3: Kết quả thực hiện mục tiêu chương trình quốc gia về nước sạch và vệ sinh
môi trường nông thôn 2015
Nguồn: Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn
Trang 32Vấn đề quan tâm trọng tâm là “việc quản lý khai thác hiệu quả và bền vững công trình
cấp nước tập trung còn yếu, hầu hết không đủ kinh phí đảm bảo quản lý vận hành, duy
tu bảo dưỡng và sửa chữa dẫn đến công trình bị xuống cấp, thậm chí ngừng hoạt động” Những bất cập trên sẽ còn được thể hiện rõ nét hơn nếu không có những giải pháp tháo gỡ do yêu cầu về nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn sẽ càng
trở nên khắt khe hơn trong khi điều kiện phục vụ sẽ càng trở nên khó khăn hơn do hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu và thoái hóa môi trường
1.2.3 Th ực trạng quản lý đầu tư công trong chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Trong giai đoạn 2000-2015, hệ thống văn bản pháp lý về đầu tư công trong chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn ngày một hoàn thiện như:
- Quyết định 104/2000/QĐ-CP ngày 25/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về cấp nước và vệ sinh nông thôn giai đoạn đến năm 2020;
- Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp
và tiêu thụ nước sạch;
- Quyết định số 131/2009/QĐ-TTg ngày 02/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về một
số chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư và quản lý, khai thác công trình cấp nước
sạch nông thôn;
- Nghị định số 124/2011/NĐ-CP ngày 28/12/2011 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung
một số điều Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về sản
xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch;
- Quyết định 366/2012/QĐ-CP ngày 31/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình Mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012-2015;
- Thông tư số 54/2013/TT-BTC ngày 04/5/2013 của Bộ Tài Chính quy định việc quản
lý, sử dụng và khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung;
- Thông tư liên tịch số 37/2014/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHĐT ngày 31/10/2014 về
việc hướng dẫn thực hiện Quyết định số 131/2009/QĐ-TTg ngày 02/11/2009 của Thủ
Trang 33tướng Chính phủ về một số chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư và quản lý, khai thác công trình cấp nước sạch nông thôn;
- Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng
và bảo trì công trình xây dựng,
Cùng với sự phát triển của hệ thống cơ sở pháp lý của Nhà nước, tạo điều kiện cho tồn
tại nhiều mô hình quản lý khai thác hệ thống cấp nước tập trung khác nhau trên phạm
vi cả nước như:
- Mô hình cộng đồng quản lý: áp dụng cho những công trình có quy mô công suất rất
nhỏ (<50m3/ngày đêm) và nhỏ (từ 50-300m3/ngày đêm) với phạm vi cấp nước cho một xóm (đồng bằng), bản (miền núi) và thường áp dụng cho công trình cấp nước tự chảy
ở miền núi, vùng đồng bằng dân cư phân tán theo từng cụm nhỏ;
- Mô hình tư nhân quản lý: thường áp dụng cho những công trình có quy mô công suất
rất nhỏ (<50m3/ngày đêm) và nhỏ (từ 50-300m3/ngày đêm);
- Mô hình Hợp tác xã quản lý: thường áp dụng cho những công trình có quy mô công
suất nhỏ (từ 50-300m3/ngày đêm) và trung bình (300-500m3/ngày đêm) với phạm vi
cấp nước cho một thôn, liên thôn hoặc xã;
- Mô hình doanh nghiệp tư nhân: thường áp dụng cho những công trình có quy mô công suất trung bình (từ 300-500m3/ngày đêm) với phạm vi cấp nước cho một thôn, liên thôn, xã;
- Mô hình Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh quản lý: thường áp dụng cho những công trình có quy mô công suất trung bình (từ 300-500m3/ngày đêm) và lớn (>500m3/ngày đêm) với phạm vi cấp nước cho liên thôn, liên
bản, xã và liên xã;
- Mô hình Ủy ban nhân dân xã quản lý: thường áp dụng cho những công trình có quy
mô công suất nhỏ (từ 50-300m3/ngày đêm) và trung bình (từ 300-500m3/ngày đêm)
với phạm vi cấp nước cho một thôn, liên thôn hoặc xã
Trang 34- Mô hình Ban quản lý: thường áp dụng cho những công trình có quy mô công suất trung bình (từ 300-500m3/ngày đêm) và lớn (>500m3/ngày đêm) với phạm vi cấp nước cho một thôn, liên thôn, xã
Trong đó, 2 mô hình tổ chức quản lý hiệu quả được khuyến khích áp dụng cho các công trình cấp nước nông thôn tập trung:
Một là, Mô hình Trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn: trong đó, Trung tâm đóng vai trò là đại diện chủ sở hữu và đơn vị trực tiếp quản lý vận hành Trung tâm thường thành lập tổ/nhóm trực tiếp quản lý và vận hành từng công trình
Mô hình này đã được minh chứng là hoạt động tốt ở nhiều địa phương như ở Bắc Ninh, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Thuận, Bến Tre, Bạc Liêu, Vĩnh Long Quy mô vận hành sẽ giúp cải thiện hiệu quả vì khả năng bù chéo giữa công trình lớn và nhỏ, giữa vùng thuận lợi và vùng khó khăn
Hai là, Mô hình do doanh nghiệp quản lý: Mô hình này được chứng mình là có hiệu
quả ở những khu vực nông thôn tập trung đông dân cư và có thu nhập khá Công trình
có xu hướng bền vững về mặt tài chính mà có thể không cần tới trợ cấp từ ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, mô hình này không phù hợp với các hệ thống quy mô nhỏ ở vùng sâu, vùng xa Mô hình quản lý này xu hướng đảm bảo sự hài lòng của khách hàng vì động lực kinh doanh gắn kết với việc thu hút thêm khách hàng và khách hàng
sử dụng thêm nhiều nước Vì vậy, cơ quan quản lý phải phê duyệt mức giá và giám sát
hiệu quả hoạt động và tiêu chuẩn dịch vụ Doanh nghiệp không nhiệt tình đầu tư và
quản lý vận hành các công trình cấp nước tập trung nông thôn có quy mô nhỏ, những vùng kinh tế khó khăn, đời sống và thu nhập thấp vì rủi ro cao và khó đảm bảo cho tái
quả” hiểu theo nghĩa là làm “thất thoát, lãng phí”, còn lại thì dùng cụm từ “hiệu quả”
rất chung chung và không nêu được tiêu chí cụ thể Nghị định số 131/2015/NĐ-CP ngày 25/12/2015 của Chính phủ cũng chỉ hướng dẫn chung chung: “Đánh giá về hiệu
Trang 35quả đầu tư thông qua hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
và phát triển bền vững” và Nghị định số 136/2015/NĐ-CP ngày 31/12/2015 của Chính
phủ cũng chỉ nêu “hiệu quả tài chính” Tác giả cho rằng việc đề cao hiệu quả quản lý đầu tư công là điều kiện cần, điều kiện đủ là phải có một cơ chế xác định cụ thể, rõ ràng để nâng cao năng lực thực thi và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư công để
nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và tránh gây lãnh phí, thất thoát tài sản của Nhà nước Tác giả mạnh dạn đề cập đến một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
quả quản lý đầu tư công để làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng và kiến nghị ở
những phần tiếp theo của Luận văn
“Hiệu quả” của đầu tư công là một vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như của các chính phủ trên toàn thế giới Năm 1990, tác giả Barro [5]
giới thiệu nghiên cứu về điểm tối ưu đầu tư công Thông qua bằng chứng thực nghiệm, ông khẳng định tác động của đầu tư công có tác động lên tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên tác động này được chia làm 3 giai đoạn: (1) ở giai đoạn đầu tốc độ tăng trưởng kinh tế là rất rõ, (2) giai đoạn “bổ sung” ở giai đoạn này tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn còn tuy nhiên đã thấp hơn so với giai đoạn trước, (3) giai đoạn không hiệu quả khi càng đầu tư thì tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng không được cải thiện và có xu hướng
đi xuống trong dài hạn, hoặc còn gọi là “giai đoạn lấn át” Đây là một hàm ý chính sách mà các chính phủ cần quan tâm khi thực thi các chính sách liên quan đến đầu tư công nhằm tối đa hóa hiệu quả
Năm 1993, tác giả Easterly & Rebelo [6] nhận xét nghiên cứu của tác giả Barro có hạn
chế là kết luận của Barro không giải thích được cho giai đoạn 1960-1985 Họ đề nghị
phải mở rộng khái niệm đầu tư công bao gồm cả những khoản đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và cần phân loại mục đích đầu tư công trong các lĩnh vực khác nhau
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy đầu tư công có tác động lên tăng trưởng kinh tế và đặc biệt là đầu tư công trong lĩnh vực giao thông vận tải
Tuy nhiên, đây là những nghiên cứu thực nghiệm tại các nước phát triển trên thế giới, năm 1996 tác giả Mohsin S Khan [11].tiến hành nghiên cứu thực nghiệm dựa trên bộ
số liệu của 95 nước đang phát triển giai đoạn 1970-1990, ông nhận ra thêm rằng có sự khác biệt trong tác động của đầu tư công và đầu tư tư nhân lên tăng trưởng kinh tế,
Trang 36trong đó đầu tư tư nhân chiếm ưu thế hơn Tiếp đó, các tác giả Bukhari, Ali và Saddaquat năm 2007 [2].đã tiến hành nghiên cứu đầu tư công và tăng trưởng kinh tế ở
3 nước (Hàn Quốc, Singqpore, Đài Loan) được mệnh danh “con rồng châu Á” trong
thời kỳ 1971-2000, nghiên cứu đã tìm ra rằng đầu tư công, đầu tư tư nhân và chi tiêu khu vực công có tác động đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Năm 2011, các tác giả Nazima Ehali và Adiqua Kiani tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế ở Parkistan giai đoạn 1975-2009, kết quả cho thấy có tác động tích
cực từ đầu tư công lên tăng trưởng kinh tế cả trong ngắn và dài hạn, tuy nhiên vai trò
của đầu tư công không đáng kể so với đầu tư tư nhân vì sự kém hiệu quả của khu vực công Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đầu tư công có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế [9]
Tại nước ta, tác giả Ngô Lý Hóa [3] nghiên cứu tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Long An và chỉ ra rằng đầu tư công và đầu tư tư nhân đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh, tuy nhiên tác động của đầu tư tư nhân
là lớn hơn so với đầu tư công Năm 2011, tác giả Phan Thanh Tấn [22].trong nghiên
cứu lặp tìm hiểu tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình thuận cũng tìm thấy kết quả tương tự Tuy nhiên, tác giả Tô Trung Thành [16].cũng chỉ ra
một thực trạng là đầu tư công “lấn át” đầu tư tư nhân, tuy nhiên tác động của đầu tư công là thấp so với tác động của đầu tư tư nhân, và khuyến nghị cần giảm tỷ trọng đầu
tư công đồng thời nâng cao hiệu quả và chất lượng của đầu tư khu vực Nhà nước Năm
2014, các tác giả Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư và Lê Hoàng Phong [12] khi nghiên
cứu tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt nam lại cho thấy tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn không có ý nghĩa
thống kê, tuy nhiên có tác động thúc đẩy kinh tế trong dài hạn
Từ các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và Việt Nam, có thể nhận thấy đầu tư công thường có tác động lên tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, tuy nhiên các nghiên
cứu cũng chỉ lưu ý đến việc kém hiệu quả của khu vực đầu tư công và tính hiệu quả
của khu vực đầu tư tư nhân Tác giả đề xuất một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư công được sử dụng trong luận văn như sau:
Trang 371.3.1 Ki ểm soát chi phí đầu tư dự án
Khi chi phí dự án tăng hơn so với chi phí ước tính ban đầu thì dẫn tới vượt dự toán
Hậu quả của vượt dự toán gây ảnh hưởng khác nhau cho các bên tham gia vào dự án Đối với khách hàng, vượt dự toán làm gia tăng chi phí so với dự tính ban đầu Đối với đội ngũ chuyên gia, tư vấn, điều này dẫn tới mất uy tín và mất lòng tin từ khách hàng Đối với nhà thầu, điều này ảnh hưởng tới lợi nhuận và nguy cơ thua lỗ do khách hàng
hủy bỏ, chậm thanh toán hoặc yêu cầu thay thế nhà thầu Đối với Nhà nước, điều này
dẫn tới phải tăng cường cơ chế giám sát và tổ chức giám sát thường xuyên, phát sinh thêm nhiều chi phí quản lý Đối với người dân, vượt dự toán dẫn tới họ phải tiêu dùng các sản phẩm hoặc dịch vụ với mức giá cao hơn
Tác giả Võ Trọng Nhân đã tổng hợp nhóm yếu tố tác động đến chi phí khi đầu tư dự
án như sau [21]
Nhóm yếu tố chính sách: đây là nguyên nhân gây ra sự gia tăng chi phí đầu tư xây
dựng của dự án, chẳng hạn như tình hình chính trị không ổn định, hoặc việc thay đổi
cơ chế chính sách như chính sách thuế, chính sách tiền lương, chính sách giá, chính sách xây dựng, … [8]
Nhóm yếu tố kinh tế: lạm phát, sự khan hiếm của vật tư thiết bị thi công, sự thay đổi
của tỷ giá tiền tệ làm gia tăng chi phí đầu tư [19].[18]
Nhóm yếu tố năng lực các bên có liên quan: các bên có liên quan của dự án gây tác động rất lớn đến chi phí đầu tư của dự án như: năng lực của chủ đầu tư, năng lực của
tư vấn, năng lực của nhà thầu, năng lực của nhà cung cấp [7]
Nhóm yếu tố đặc trưng dự án: đặc trưng dự án là một trong những yếu tố làm tăng chi phí đầu tư [8]
Nhóm yếu tố về gian lận và thất thoát: gồm các yếu tố như gian lận trong thi công, sự thông đồng của các nhà thầu, hối lộ và trộm cắp vật tư ảnh hưởng đến chi phí đầu tư
của dự án [8]
Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên: gồm 3 yếu tố như thời tiết, địa chất, thiên tai, đây
là các yếu tố không lường trước được có thể làm tăng chi phí đầu tư [19]
Trang 381.3.2 Ki ểm soát tiến độ dự án
Khái niệm chậm tiến độ là khoảng thời gian giữa ngày hoàn thành được thỏa thuận trong hợp đồng và ngày thực tế hoàn thành Chậm tiến độ được phân thành các loại xét theo tiêu chí trách nhiệm thì: (1) chậm tiến độ có thể tha thứ (phải bồi thường cho chủ đầu tư hoặc không phải bồi thường cho chủ đầu tư), (2) chậm tiến độ không thể tha thứ
và (3) chậm tiến độ có thể tha thứ và chậm tiến độ không thể tha thứ diễn ra đồng thời
Hậu quả của chậm tiến độ gây ảnh hưởng khác nhau cho các bên tham gia vào dự án như mất thời gian, chi phí và khả năng dự án bị thu hồi Đối với chủ đầu tư, chậm tiến
độ đồng nghĩa với mất nguồn thu từ dự án và phải tiếp tục phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng
hiện hữu Đối với nhà thầu, chậm tiến độ sẽ dẫn tới phát sinh thêm chi phí chi trả cho trang thiết bị và người lao động, chậm thu hồi vốn ứng trước Đối với người dân, các
dự án xây dựng và các dự án cơ sở hạ tầng chưa được đưa vào sử dụng đúng theo quy
hoạch sẽ làm cho người dân phải tiếp tục sử dụng các cơ sở hạ tầng hiện hữu có chất lượng không đáp ứng nhu cầu thiết yếu Đối với Nhà nước, các nguồn thu do chậm đưa công trình vào sử dụng không đạt được kế hoạch đề ra Đối với bản thân dự án, điều này làm gia tăng chi phí của dự án Điều này có thể dẫn tới việc gia tăng tranh
chấp giữa các bên có lợi ích liên quan đến dự án, dẫn tới kiện tụng và đình trệ dự án
Nhóm yếu tố kỹ thuật: Sai lầm trong dự báo bao gồm việc tăng giá, thiết kế dự án không đầy đủ, dự toán không chính xác những thay đổi của dự án, tính không chắc
chắn khi lập dự án Cơ cấu tổ chức quản lý dự án không phù hợp Quy trình ra quyết định không chuẩn mực Quy trình lập kế hoạch không chuẩn mực
Nhóm yếu tố kinh tế: Cố ý đánh giá thấp các yếu tố của dự án do: thiếu sự động viên, khích lệ, thiếu nguồn lực, sử dụng không hiệu quả các nguồn lực, dự án dễ được chọn tài trợ, thiếu năng lực tài chính, chiến lược giá thấp sau đó tính phát sinh dự toán về sau
Nhóm yếu tố tâm lý: Lạc quan thiên vị giữa các quan chức địa phương Nhận thức sai
lệch về dự án Thận trọng đối với rủi ro
Trang 39Nhóm yếu tố chính trị: Cố ý đánh giá thấp chi phí Chỉnh sửa dự báo để chọn dự án vì
lý do chính trị hơn là do thực tế khách quan Vì lý do cá nhân mà cung cấp thông tin sai cho người quyết định dự án
1.3.3 Ki ểm soát chất lượng dự án
Chất lượng sản phẩm, dịch vụ thường được hiểu là khả năng đáp ứng hoặc vượt quá nhu cầu và kỳ vọng của khách hàng hoặc nhà tài trợ với mộ mức phí hợp lý trong một khoảng thời gian cho phép Quản lý chất lượng nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm,
dịch vụ đầu ra của dự án thông qua các yếu tố sau:
Nhóm yếu tố liên quan đến lập kế hoạch quản lý chất lượng: là việc xác định yêu cầu
chất lượng và/ hoặc tiêu chuẩn chất lượng của dự án và các sản phẩm bàn giao, lập tài
liệu về việc dự án sẽ thực hiện như thế nào để đạt được các yêu cầu chất lượng Lợi ích
của việc này là cung cấp hướng dẫn và định hướng cho việc chất lượng sẽ được quản
lý và công nhận trong suốt dự án
Nhóm yếu tố liên quan đến thực hiện đảm bảo chất lượng: là việc kiểm tra các yêu cầu
chất lượng và kết quả từ việc kiểm soát chất lượng có tương thích với các tiêu chuẩn
chất lượng đã được áp dụng hay không
Nhóm yếu tố liên quan đến kiểm soát chất lượng: là việc giám sát và lưu lại các kết
quả kiểm soát chất lượng nhằm đánh giá hiệu suất và đề nghị thay đổi khi cần thiết
Việc làm này nhằm xác định nguyên nhân của các quy trình kém hay sản phẩm kém
chất lượng để có hành động loại bỏ chúng, công nhận các sản phẩm bàn giao và các công việc đã đạt được các yêu cầu của các bên liên quan để nghiệm thu dự án
1.3.4 Ki ểm soát quản lý vận hành
Tác giả Nguyễn Trung Dũng [19] khi nghiên cứu mô hình quản lý vận hành hệ thống
cấp nước sạch nông thôn ở các tỉnh miền núi phía Bắc đề cập như sau: “Cấp nước sạch nông thôn còn đang ở vòng luẩn quẩn và hậu quả là hiệu quả công trình thấp, thời gian
sử dụng ngắn, lãng phí vốn đầu tư” và cho rằng một trong những yếu tố hiệu quả đánh giá cho chương trình cấp nước sạch là việc “quản lý vận hành”, cụ thể:
Trang 40Thực hiện chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn từ thập niên 80 đến nay đã đạt được những lợi ích lâu dài ở cấp toàn cầu: trong thập niên 80-90 triển khai công nghệ giếng khoan và bơm tay, giai đoạn 1990-2000 bổ sung việc cấp nước cho điểm dân cư tập trung hay đô thị nhỏ lẻ và từ năm 2000 đến nay phát triển thêm cả
loại hình tự cấp và bán tự cấp Những thành công của chương trình phải kể đến vai trò quan trọng của cộng đồng cùng với yếu tố công nghệ, vai trò của Chính phủ
Từ cuối thập niên 1990 đến nay cách tiếp cận truyền thống từ trên xuống và định hướng cung chuyển sang cách tiếp cận mới xem tài nguyên nước là một hàng hóa
Việc quản lý nước như là hàng hóa đòi hỏi phải quan tâm đến nhu cầu nước của người
tiêu dùng hay đáp ứng nhu cầu cả về lượng và chất cho người tiêu dùng với mức giá cho trước Nhu cầu cấp nước cho cộng đồng được coi là nhu cầu cục bộ Chính vì vậy, phương pháp đáp ứng cầu đòi hỏi phải có quyết định quản lý mang tính địa phương về các mặt như mức độ cung cấp dịch vụ, địa điểm, trang thiết bị, công nghệ, việc bù đắp chi phí quản lý và vận hành Chính phủ các nước sẽ tạo ra các nguyên tắc, quy định trong luật để thúc đẩy các địa phương thực hiện
Từ đó, công tác quản lý vận hành hệ thống cấp nước sạch là nhiệm vụ chính Các
thống kê cho thấy mặc dù số lượng người quản lý thì nhiều nhưng các công trình thực
sự được quản lý lại rất ít Từ đó, khả năng suy giảm lợi ích của hệ thống cấp nước sạch sau khi bàn giao công trình là cao Các yếu tố gây ra suy giảm khả năng hoạt động của
hệ thống cấp nước nông thôn ở các nước đang phát triển như sau: giá/ phí nước thấp
người sử dụng nước lãng phí sử dụng nước nhiều và thất thoát của hệ thống lớn làm tăng chi phí đầu tư sửa chữa chậm lại dịch vụ kém đi khách hàng không
muốn trả tiền dịch vụ hệ thống công trình sống dựa vào trợ cấp nhà nước người
quản lý mất quyền tự chủ và động cơ làm việc hiệu quả suy giảm thiếu trợ cấp
của nhà nước hệ thống không thể chi trả lương, chi phí và mở rộng hệ thống
mục đích và dịch vụ tiếp theo kém đi hệ thống hư hỏng hoàn toàn khủng hoảng
và chi phí khôi phục rất lớn Từ đó, có thể nhận thấy hiệu quả của dự án đầu tư công trong lĩnh vực nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là khả năng có thể duy trì và/ hoặc mở rộng lợi ích ở mức độ nhất định trong khoảng thời gian dài sau khi đã kết thúc các yếu tố đầu vào của dự án Về nghĩa hẹp, dự án là cơ sở hạ tầng vật chất sau