Trong sự phát triển của ngành kinh tế thị trường, đất đai phải chịu áp lực từ nhiều phía như: sự phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; sự bùng nổ dân số và su hướn
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu, kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là hoàn toàn trung thực, nội dung của Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào trước đây
Tôi cam đoan mọi tài liệu tham khảo trích dẫn trong Luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả Luận văn
Nguyễn Như Nguyện
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Thủy lợi - Hà Nội, được sự giảng dạy và tận tình giúp đỡ của các thầy, cô giáo, tác giả đã trang bị thêm rất nhiều những kiến thức cơ bản về chuyên môn cũng như trong thực tế cuộc sống, củng cố thêm hành trang kiến thức trong quá trình công tác sau này
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Bá Uân đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng chí lãnh đạo, cán bộ của Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng đăng
ký quyền sử dụng đất, Phòng Kinh tế thị xã Chí Linh; lãnh đạo và cán bộ chuyên môn các xã, phường trên địa bàn; các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện
để tác giả thu thập số liệu và những thông tin cần thiết liên quan để thực hiện nghiên cứu hoàn thiện Luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng mảng nghiên cứu của đề tài rộng, thời gian ngắn, khả năng và kinh nghiệm có hạn nên Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong được các thầy, cô giáo, các đồng nghiệp góp ý để các nghiên cứu trong Luận văn này được áp dụng vào thực tiễn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Như Nguyện
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1
1.1 Một số vấn đề về quản lý sử dụng đất nông nghiệp 1
1.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 1
1.1.2 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới 12
1.1.3 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp 14
1.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và các chỉ tiêu đánh giá 26
1.2.1 Hiệu quả kinh tế và các chỉ tiêu đánh giá 28
1.2.2 Hiệu quả xã hội và các chỉ tiêu đánh giá 30
1.2.3 Hiệu quả môi trường và các chỉ tiêu đánh giá 31
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 33
1.3.1 Nhóm các yếu tố kỹ thuật 33
1.3.2 Nhóm các yếu tố tổ chức - quản lý 34
1.3.3 Nhóm các yếu tố xã hội - pháp lý 35
1.4 Kinh nghiệm về sử dụng đất nông nghiệp tại một số nước trên thế giới và Việt Nam 36
1.4.1 Kinh nghiệm sử dụng đất nông nghiệp ở một số nước trên thế giới 36
1.4.2 Kinh nghiệm sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 43
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ CHÍ LINH TRONG THỜI GIAN QUA 45
2.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thị xã Chí Linh 45 2.1.1 Điều kiện tự nhiên thị xã Chí Linh 45
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 49
2.2 Thực trạng việc sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Chí Linh 51
Trang 42.2.1 Tình hình biến động đất đai của thị xã Chí Linh những năm gần đây 51
2.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp năm 2014 53
2.2.3 Thực trạng quản lý, sử dụng đất nông nghiệp của thị xã 55
2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của thị xã Chí Linh 60
2.3.1 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất 63
2.3.2 Hiệu quả xã hội của việc sử dụng đất nông nghiệp 79
2.3.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp về mặt môi trường 81
2.4 Đánh giá chung 84
2.4.1 Những kết quả đạt được 84
2.4.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 87
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ CHÍ LINH 88
3.1 Định hướng phát triển nông nghiệp của thị xã Chí Linh trong thời gian tới 88
3.2 Nguyên tắc và căn cứ đề xuất các giải pháp 89
3.2.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 89
3.2.2 Căn cứ đề xuất các giải pháp 91
3.3 Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Chí Linh 95
3.3.1 Nhóm giải pháp về quy hoạch sử dụng đất 95
3.3.2 Nhóm giải pháp về áp dụng kỹ thuật công nghệ 98
3.3.3 Nhóm giải pháp về tổ chức, quản lý 101
3.3.4 Nhóm giải pháp về giáo dục - pháp lý - kinh tế - xã hội - môi trường 102 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 108
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Diện tích đất tự nhiên và đất nông nghiệp chưa được khai thác của
các Châu lục trên thế giới 37
Bảng 1.2 Diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam 41
Bảng 2.1 Đặc điểm khí hậu, thời tiết 47
Bảng 2.2 Hiện trạng sử dụng đất thị xã Chí Linh năm 2014 51
Bảng 2.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp thị xã Chí Linh năm 2014 54
Bảng 2.4 Các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1 61
Bảng 2.5 Các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 2 62
Bảng 2.6 Các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 3 62
Bảng 2.7 Hiệu quả kinh tế trên một ha của các cây trồng chính tại 65
Tiểu vùng 1 65
Bảng 2.8 Hiệu quả kinh tế trên một ha của các cây trồng chính tại 66
Tiểu vùng 2 66
Bảng 2.9 Hiệu quả kinh tế trên một hacủa các cây trồng chính tại 67
Tiểu vùng 3 67
Bảng 2.10 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1 70
Bảng 2.11 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 2 73
Bảng 2.12 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 3 75
Bảng 2.13 Tổng hợp hiệu quả kinh tế theo các vùng 76
Bảng 2.14 Tổng hợp hiệu quả kinh tế theo loại hình sử dụng đất 77
Bảng 2.15 Mức độ sử dụng phân bón của một số cây trồng 82
Bảng 3.1 : Dự kiến quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020 97
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người Mỗi quốc gia khác nhau có quỹ đất khác nhau và quỹ đất của
mỗi quốc gia đều có giới hạn, do vậy đất đai trở thành một tài sản quý của mỗi quốc gia Cùng với vai trò đó, đất đai còn là môi trường sống của con người và động thực vật, là không gian sống, nơi phân bố dân cư và các hoạt động kinh tế xã hội khác của con người
Đối với sản xuất nông nghiệp, đất đai không chỉ là đối tượng lao động
mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được Việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp không chỉ đơn thuần là ngành kinh tế sinh học, tạo ra lương thực,
thực phẩm mà còn được coi là nền kinh tế sinh thái, gắn liền với phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường
Trong sự phát triển của ngành kinh tế thị trường, đất đai phải chịu áp lực từ nhiều phía như: sự phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; sự bùng nổ dân số và su hướng đô thị hóa, việc khai thác và sử dụng đất không hiệu quả để đáp ứng nhu cầu lương thực, sinh hoạt của con người, hậu quả của những áp lực đó là: diện tích đất nông nghiệp bị giảm, đất đai bị thoái hoá mất khả năng canh tác, ảnh hưởng đến đời sống của con người và mất cân bằng sinh thái
Việc nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất đã được nhiều tổ chức, nhiều
quốc gia và nhiều nhà khoa học trên thế giới đề cập tới và được coi là một vấn
đề cần thiết khi nghiên cứu tình hình sử dụng đất đai của các địa phương
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có mật độ dân số đông, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn Tuy nhiên với việc chuyển mục đích một cách ồ ạt sang các mục đích khác đã làm giảm đáng kể diện tích đất nông nghiệp, làm ảnh hưởng đến anh ninh lương thực quốc gia Ngoài ra với việc
Trang 7sử dụng đất không có hiệu quả dẫn tới việc đóng góp của ngành nông nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân chưa xứng với tiềm năng của nó
Thị xã Chí Linh nằm ở phía đông bắc tỉnh Hải Dương, cách trung tâm
tỉnh 40 km Phía đông giáp huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Phía tây giáp
tỉnh Bắc Ninh Phía nam giáp huyện Nam Sách Phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang Phía bắc và đông bắc của thị xã là vùng đồi núi thuộc cánh cung Đông Triều,
ba mặt còn lại được bao bọc bởi sông Kinh Thày, sông Thái Bình và sông Đông Mai Với tổng diện tích tự nhiên là 28202.78 ha, diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 73% tổng diện tích tự nhiên toàn thị xã Cùng với các địa phương trong cả nước, thị xã Chí Linh cũng đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn mà cụ thể là chương trình xây
dựng nông thôn mới Từ thực tế trên cho thấy việc đánh giá và đưa ra hướng
quản lý, sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả là rất cần thiết Trên cơ sở đó, tác giả
đã lựa chọn đề tài “Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghi ệp trên địa bàn thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
và các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Chí Linh, tình Hải Dương
b Ph ạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, thời gian kể từ khi thực hiện Luật Đất đai (sửa đổi) năm 2003 đến nay, trong đó tập trung chủ yếu vào thời kỳ từ năm 2008 đến nay và các giải pháp được đề xuất cho giai đoạn từ nay đến năm 2020
Trang 83 M ục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tình hình quản lý, sử
dụng đất nông nghiệp tại thị xã Chí Linh, Luận văn đề xuất giải pháp để phát huy tiềm năng đất nông nghiệp hiện có và nâng cao hiệu quả sử chúng nhằm góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thị xã
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đặt ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập số liệu, phương pháp chuyên gia áp dụng khi thu thập thông tin tài liệu của các nghiên cứu thực tế;
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu, phân tích tổng hợp, phân tích so sánh: Nhằm phân tích, so sánh, đánh giá thực trạng việc quản lý và sử dụng đất đai, từ đó rút ra những kết quả cần phát huy và những tồn tại cần khắc phục;
- Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường;
- Phương pháp đối chiếu với hệ thống văn bản pháp quy;
- Phương pháp hệ thống hóa;
- Phương pháp dự báo
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý,
sử dụng và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Chí Linh, những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ảnh hưởng và đề xuất được những giải pháp thích hợp có tính khả thi
b Ý nghĩa thực tiễn
Trang 9Việc nghiên cứu tìm ra được giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Chí Linh, góp phần quan trọng trong việc quản lý, sử dụng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên đặc biệt này tại địa phương
6 K ết quả dự kiến đạt được
- Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá và những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của thị xã Chí Linh, từ đó rút ra những kết quả đã đạt được cần phát huy và những mặt còn tồn tại, vướng mắc cần nghiên cứu giải pháp khắc phục, tháo gỡ
- Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất nông nghiệp nhằm phát huy được tiềm năng đất đai nông nghiệp hiện có và đáp ứng mục tiêu phát triên kinh tế - xã hội của địa phương trong thời gian tới
7 K ết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn kết cấu theo kiểu truyền thống gồm 3 chương chính:
Chương 1: Tổng quan về đất nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp Chương 2: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã
Chí Linh trong thời gian qua Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp trên địa bàn thị xã Chí Linh
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1 1 Một số vấn đề về quản lý sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp (ký hiệu là NNP) là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối
và đất nông nghiệp khác [23]
1.1.1.2 Phân loại đất nông nghiệp
1 Đất sản xuất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp; bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm
a Đất trồng cây hàng năm
Đất cây trồng hàng năm là đất chuyên trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một năm, kể cả đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên, đất cỏ tự nhiên có cải tạo sử dụng vào mục đích chăn nuôi Loại này bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác
* Đất trồng lúa
Đất trồng lúa là ruộng, nương rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên hoặc trồng lúa kết hợp với sử dụng vào các mục đích khác được pháp luật cho phép nhưng trồng lúa là chính; bao gồm đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn lại, đất trồng lúa nương
Trang 11- Đất chuyên trồng lúa nước: là ruộng lúa nước cấy trồng từ hai vụ lúa mỗi năm trở lên kể cả trường hợp luân canh với cây hàng năm khác, có khó khăn đột xuất mà chỉ trồng cấy được một vụ hoặc phải bỏ hóa không quá một năm
- Đất trồng lúa nước còn lại: là ruộng lúa nước không phải chuyên trồng lúa nước
- Đất trồng lúa nương: là đất nương, rẫy để trồng từ một vụ lúa trở lên
* Đất cỏ dùng vào chăn nuôi
Đất trồng cỏ vào trăn nuôi là đất trồng cỏ hoặc đồng cỏ, đồi cỏ tự nhiên
có cải tạo để chăn nuôi gia súc; bao gồm đất trồng cỏ và đất cỏ tự nhiên có cải tạo
- Đất trồng cỏ: là đất gieo trồng các loại cỏ được chăm sóc, thu hoạch như các loại cây hàng năm
- Đất cỏ tự nhiên có cải tạo: là đồng cỏ, đồi cỏ tự nhiên đã được cải tạo, khoanh nuôi, phân thành từng thửa để chăn nuôi đàn gia súc
* Đất trồng cây hàng năm khác
Đất trồng cây hàng năm khác là đất trồng cây hàng năm không phải đất trồng lúa và đất cỏ dùng vào chăn nuôi gồm chủ yếu để trồng mầu, hoa, cây thuốc, mía, đay, gai, cói, sả, dâu tầm, cỏ không để chăn nuôi; gồm đất bằng trồng cây hàng năm khác và đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác
- Đất bằng trồng cây hàng năm khác: là đất bằng phẳng ở đồng bằng,
thung lũng, cao nguyên để trồng cây hàng năm khác
- Đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác: là đất nương, rẫy ở trung du
và miền núi để trồng cây hàng năm khác
b Đất trồng cây lâu năm
Đất trồng cây lâu năm là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời gian sinh
Trang 12trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm như Thanh long, Chuối, Dứa, Nho, v.v.; bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác
* Đất trồng cây công nghiệp lâu năm
Đất trồng cây công nghiệp lâu năm là đất trồng cây lâu năm có sản phẩm thu hoạch không phải là gỗ để làm nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp hoặc phải qua chế biến mới sử dụng được gồm chủ yếu là chè, cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, ca cao, dừa, v.v
* Đất trồng cây ăn quả lâu năm
Đất trồng cây ăn quả lâu năm là đất trồng cây lâu năm có sản phẩm thu hoạch là quả để ăn tươi hoặc kết hợp chế biến
* Đất trồng cây lâu năm khác
Đất trồng cây lâu năm khác là đất trồng cây lâu năm không phải đất trồng cây công nghiệp lâu năm và đất trồng cây ăn quả lâu năm gồm chủ yếu
là đất trồng cây lấy gỗ, lấy bóng mát, tạo cảnh quan không thuộc đất lâm nghiệp, đất vườn trồng xen lẫn nhiều loại cây lâu năm hoặc cây lâu năm xen lẫn cây hàng năm
2 Đất lâm nghiệp
Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng, đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã có rừng bị khai thác, chặt phá, hoả hoạn nay được đầu tư để phục hồi rừng), đất để trồng rừng mới (đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng hoặc đất đã giao để trồng rừng mới); bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
a Đất rừng sản xuất
Đất rừng sản xuất là đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng
Trang 13tự nhiên sản xuất, đất có rừng trồng sản xuất, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất, đất trồng rừng sản xuất
* Đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất
Đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất là đất rừng sản xuất đã có rừng bị khai thác, chặt phá, hoả hoạn nay được đầu tư để phục hồi rừng
b Đất rừng phòng hộ
Đất rừng phòng hộ là đất để sử dụng vào mục đích phòng hộ đầu nguồn, bảo vệ đất, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái, chắn gió, chắn cát, chắn sóng ven biển theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng tự nhiên phòng hộ, đất có rừng trồng phòng
hộ, đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ, đất trồng rừng phòng hộ
* Đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ
Đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ là đất rừng phòng hộ đã có rừng bị khai thác, chặt phá, hoả hoạn nay được đầu tư để phục hồi rừng
* Đất trồng rừng phòng hộ
Trang 14Đất trồng rừng phòng hộ là đất rừng phòng hộ nay có cây rừng mới trồng nhưng chưa đạt tiêu chuẩn rừng
c Đất rừng đặc dụng
Đất rừng đặc dụng là đất để sử dụng vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm khoa học, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, vườn rừng quốc gia, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, bảo vệ môi trường sinh thái theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; bao gồm đất có rừng tự nhiên đặc dụng, đất có rừng trồng đặc dụng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng, đất trồng rừng đặc dụng
* Đất có rừng tự nhiên đặc dụng
Đất có rừng tự nhiên đặc dụng là đất rừng đặc dụng có rừng tự nhiên đạt tiêu chuẩn rừng theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
* Đất có rừng trồng đặc dụng
Đất có rừng trồng đặc dụng là đất rừng đặc dụng có rừng do con người trồng đạt tiêu chuẩn rừng theo pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
* Đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng
Đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng là đất rừng đặc dụng đã có rừng bị khai thác, chặt phá, hoả hoạn nay được đầu tư để phục hồi rừng
a Đất nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn
Trang 15Đất nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn là đất chuyên nuôi, trồng thuỷ sản sử dụng môi trường nước lợ hoặc nước mặn
b Đất chuyên nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt
Đất chuyên nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt là đất chuyên nuôi, trồng thuỷ sản sử dụng môi trường nước ngọt
cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công
cụ sản xuất nông nghiệp [23]
1.1.1.3 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp
1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Hiện nay, toàn bộ quỹ đất có khả năng sản xuất nông nghiệp trên thế giới là 3.256 triệu hecta, chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền Những loại đất tốt thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 12,6% Những loại đất quá xấu chiếm tới 40,5% Diện tích đất trồng trọt trên toàn thế giới mới chỉ chiếm 10,8% tổng diện tích đất tự nhiên (khoảng 1.500 triệu hecta), trong
đó chỉ có 46% đất có khả năng sản xuất nông nghiệp còn 54% đất có khả năng sản xuất nhưng chưa được khai thác Kết quả đánh giá đất nông nghiệp của thế giới cho thấy: chỉ có 14% đất có năng suất cao, 28% đất có năng suất trung bình, nhưng có tới 58% đất có năng suất thấp [28]
Trang 16Hàng năm, trên thế giới diện tích đất canh tác bị thu hẹp, sản xuất nông nghiệp trở nên khó khăn hơn Không chỉ đối mặt với sự sụt giảm về diện tích,
cả thế giới cũng đang lo ngại trước sự suy giảm chất lượng đất trồng Một diện tích lớn đất canh tác bị nhiễm mặn không canh tác được một phần cũng
do tác động gián tiếp của sự gia tăng dân số Sự gia tăng sử dụng thuốc BVTV cũng tạo ra nguy cơ ô nhiễm đất nông nghiệp Thuốc hóa học trừ sâu, phân bón hóa học trên thế giới ngày càng được sử dụng nhiều Trong thập niên 80, thuốc BVTV được sử dụng ở các nước như: Indonexia, Pakistan, Philipin, Srilanka đã tăng hơn 10%/năm Thuốc BVTV gây hại nghiêm trọng cho môi trường và sức khỏe con người Theo ước lượng của Tổ chức WHO, mỗi năm có 3% lao động trong nông nghiệp ở các nước đang phát triển (25 triệu người) bị nhiễm độc thuốc trừ sâu Thập niên 90, ở Châu Phi mỗi năm
11 triệu người bị nhiễm độc Tại Malayxia, 7% nông dân bị ngộ độc hàng năm và 15 % bị ngộ độc ít nhất 1 lần trong đời
Hiện tượng mất rừng cũng gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng đất nông nghiệp Toàn thế giới có khoảng 3,8 tỷ hecta rừng Hàng năm mất đi khoảng trên 15 triệu hecta Tỷ lệ mất rừng nhiệt đới khoảng 2% /năm Diện tích rừng
bị mất nhiều nhất ở vùng châu Mỹ - Latinh và châu Á Tại Braxin hàng năm mất 1,7 triệu hecta rừng, tại Ấn Độ con số này là 1,5 triệu ha Tại các nước như: Campuchia và Lào, nạn phá rừng làm củi đun, làm nương rẫy, xuất khẩu
gỗ, chế biến các sản phẩm từ gỗ phục vụ cho cuộc sống của cư dân đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng vốn phong phú [28]
Hoang mạc hoá hiện đang đe dọa 1/3 diện tích trái đất, ảnh hưởng đời sống ít nhất 850 triệu người Hoang mạc hoá là quá trình tự nhiên và xã hội Khoảng 30% diện tích trái đất nằm trong vùng khô hạn và bán khô hạn đang đứng trước nguy cơ hoang mạc hóa Hàng năm có khoảng 6 triệu hecta đất bị hoang mạc hoá, mất khả năng canh tác do những hoạt động của con người
Trang 17Xói mòn rửa trôi cũng là một nguyên nhân khác gây suy thoái đất Mỗi năm rửa trôi xói mòn chiếm 15% nguyên nhân thoái hoá đất Trung bình đất đai trên thế giới bị xói mòn 1,8 - 3,4 tấn/hecta/năm Tổng lượng dinh dưỡng
bị rửa trôi xói mòn hàng năm là 5,4 - 8,4 triệu tấn, tương đương với khả năng sản sinh 30 - 50 triệu tấn lương thực Sự xói mòn đất dẫn tới hậu quả là làm giảm năng suất đất, tạo ra nguy cơ mất an ninh lương thực, phá hoại nguồn tài nguyên, làm mất đa dạng sinh học, mất cân bằng sinh thái và nhiều nguy cơ khác [28]
Tỷ trọng các nguyên nhân gây thoái đất trên thế giới như sau: mất rừng 30%, khai thác rừng quá mức (chặt cây cối làm củi, ) 7%, chăn thả gia súc quá mức 35%, canh tác nông nghiệp không hợp lý 28%, công nghiệp hoá gây
ô nhiễm 1% Mức độ tác động của các nguyên nhân gây thoái hoá đất ở các châu lục không giống nhau: ở Châu Âu, châu Á và Nam Mỹ, mất rừng là nguyên nhân hàng đầu trong khi ở châu Đại Dương và châu Phi chăn thả gia súc quá mức có ảnh hưởng nhiều nhất; ở Bắc và Trung Mỹ thì nguyên nhân chủ yếu lại do hoạt động sản xuất nông nghiệp Thoái hóa đất làm nghèo dinh dưỡng, phá hủy cân bằng chu trình nước và tạo nguy cơ mất an ninh lương thực, tỷ lệ nghèo đói gia tăng
Khoảng 2/3 diện tích đất nông nghiệp trên thế giới đã bị suy thoái nghiêm trọng trong 50 năm qua do xói mòn rửa trôi, sa mạc hoá, chua hoá, mặn hoá, ô nhiễm môi trường, khủng hoảng hệ sinh thái đất Khoảng 40% đất nông nghiệp đã bị suy thoái mạnh hoặc rất mạnh, 10% bị sa mạc hoá do biến động khí hậu bất lợi và khai thác sử dụng không hợp lý Sa mạc Sahara mỗi năm mở rộng lấn mất 100.000 hecta đất nông nghiệp và đồng cỏ Thoái hoá môi trường đất có nguy cơ làm giảm 10 - 20% sản lượng lương thực thế giới trong 25 năm tới
Trang 18Tốc độ đô thị quá nhanh dẫn tới sự hình thành các siêu đô thị, hiện nay trên thế giới đã có khoảng 20 siêu đô thị với dân số trên 10 triệu người Sự hình thành siêu đô thị gây khó khăn cho giao thông vận tải, nhà ở, nguyên vật liệu, xử lý chất thải và cũng làm giảm bớt diện tích đất nông nghiệp [28]
Bước vào thế kỷ 21, với những thách thức về an ninh lương thực, dân
số, môi trường sinh thái, nông nghiệp - một ngành sản xuất lương thực, thực phẩm cơ bản nuôi sống con người phải đối mặt với nhiều khó khăn Nhu cầu của con người ngày càng tăng đó gây sức ép nặng nề lên đất, đặc biệt là đất nông nghiệp Đất nông nghiệp bị suy thoái, biến chất đã ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nông sản và khả năng đảm bảo an ninh lương thực Thực tế cho thấy, khi đất nông nghiệp bị thoái hóa thì cuộc sống của con người bị đe dọa Theo FAO, tình trạng thoái hóa đất gia tăng đã khiến năng suất cây trồng giảm và có thể đe dọa tới tình hình an ninh lương thực đối với khoảng ¼ dân số trên thế giới Năng suất cây trồng giảm, giá lương thực tăng cao, nguồn dự trữ thấp, trong khi đó nhu cầu tiêu dùng tăng và thiên tai ngày càng nhiều đang là nguyên nhân gây nên tình trạng thiếu đói của hàng triệu người ở các nước đang phát triển
Bên cạnh hiện tượng thu hẹp về diện tích đất nông nghiệp do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và suy giảm chất lượng đất nông nghiệp do sa mạc hóa, xói mòn, rửa trôi, mất rừng, việc chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp không bền vững sẽ làm tình trạng sản xuất nông nghiệp rơi vào tình trạng trầm trọng hơn trong vòng luẩn quẩn: suy thoái đất – mất đa dạng sinh học – biến đổi khí hậu – hiệu quả sử dụng đất thấp – tăng cường khai thác đất – suy thoái đất Cùng với mức tăng dân số và sự gia tăng hàng loạt nhu cầu của con người về các sản phẩm nông nghiệp thì cách tiếp cận quản lý đất đai không bền vững đã đem lại nhiều thất bại
Trang 19Tóm lại, đất nông nghiệp trên thế giới đã không nhiều so với tổng diện tích tự nhiên, lại bị sử dụng kém hiệu quả và kém bền vững dẫn tới nhiều hệ luỵ xấu cho hiện tại và tương lai Có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là do con người Nghiên cứu thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới, chúng tôi nhận thấy rằng tăng cường quản lý và sử dụng đất theo hướng nâng cao hiệu quả là một việc làm cần thiết trong bối cảnh hiện nay
2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam
Tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam là 33.168.855 hecta, đứng thứ 59 trong hơn 200 nước trên thế giới Thế nhưng, diện tích đất canh tác của Việt Nam thấp vào bậc nhất trên thế giới Đó là dự báo của các chuyên gia trong hội thảo “Sử dụng tài nguyên đất ở Việt Nam với định cư đô thị và nông thôn” do Liên hiệp các Hội khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Viện nghiên cứu định cư (SHI), Viện nghiên cứu đô thị và phát triển hạ tầng tổ chức vào ngày 24-25/5/2007
Nước ta có các vùng đất nông nghiệp trù phú như : đồng bằng sông Hồng rộng gần 800 ngàn hecta, đồng bằng sông Cửu Long khoảng 2,5 triệu hecta Nhưng hiện những vùng đất này đều bị chia nhỏ, manh mún khi ến một
số công trình thủy nông không còn tác dụng Mặt khác, đất nông nghiệp đang
bị chuyển đổi tùy tiện Đến năm 2010, đất nông nghiệp giảm khoảng hơn 170 ngàn hecta
Đất bằng ở Việt Nam có khoảng trên 7 triệu hecta, đất dốc trên 25 triệu hecta Trên 50% diện tích đất đồng bằng, gần 70% diện tích đất đồi núi
là đất xấu và có độ phì nhiêu thấp, trong đó đất bạc màu gần 3 triệu hecta, đất trơ sỏi đá 5,76 triệu hecta, đất mặn 0,91 triệu hecta, đất dốc trên 250 gần 12,4 triệu hecta
Trang 20Bình quân đất tự nhiên theo đầu người là 0,4 hecta Theo mục đích sử dụng năm 2000, đất nông nghiệp 9,35 triệu hecta, đất lâm nghiệp 11,58 triệu hecta, đất chưa sử dụng 10 triệu hecta (30,45%), đất chuyên dùng 1,5 triệu hecta Đất tiềm năng nông nghiệp hiện còn khoảng 4 triệu hecta Bình quân đất nông nghiệp theo đầu người thấp và giảm rất nhanh theo thời gian, năm
1940 có 0,2 hecta, năm 1995 là 0,095 hecta Đây là một hạn chế rất lớn cho phát triển [15]
Đến 01/01/2007 tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước là 24.696 hecta và đến 01/01/2008 vẫn là 24.696 hecta, nhưng với số dân cả nước lên tới 86.210.800 người (tính đến hết 2008), trong đó dân số thành thị là 24.233.300 người, chiếm 28,11%; nông thôn là 61.977.500 người, (71,89%)
Do nhu cầu sử dụng đất cho các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, trong những năm gần đây, diện tích đất này ngày càng giảm mạnh Phân theo địa phương, khu vực TD - MNPB đứng thứ 2 trong cả nước về tổng diện tích, khu vực này đứng đầu trong cả nước về diện tích đất lâm nghiệp, nhưng diện tích sản xuất nông nghiệp thì chỉ đứng thứ tư trong 6 khu vực của cả nước với 1.423,2 nghìn hecta (Xem Bảng 1.1 phần Phụ lục) Khu vực TD - MNPB có diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới hơn 50% tổng diện tích, chỉ đứng sau khu vực Tây Nguyên về cơ cấu đất lâm nghiệp Song, đất nông nghiệp của khu vực TD - MNPB lại chỉ chiếm hơn 14,9% tổng diện tích Con số này cho thấy, đây là khu vực có diện tích đất nông nghiệp so với tổng diện tích tự nhiên thấp nhất trong cả nước Tính đến hết năm 2008 là như vậy, nhưng xét trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2007, diện tích đất nông nghiệp đã
có sự biến động đáng kể (Xem Bảng 1.2 phần Phụ lục) Xét xu hướng biến động của đất nông nghiệp cùng với sự biến động của dân số trong giai đoạn này có thể thấy, dân số không ngừng tăng lên theo thời gian, trong khi đó đất SXNN, bao gồm cả đất trồng cây hàng năm liên tục giảm, khiến cho diện tích
Trang 21đất SXNN bình quân đầu người cũng giảm So sánh với một số nước trong khu vực và trên thế giới, trong giai đoạn 2005- 2008, diện tích đất canh tác bình quân của nước ta hiện vào bậc thấp nhất thế giới, chỉ khoảng 0,12 hecta/người Xét bình quân, diện tích đất canh tác của Việt Nam chỉ hơn được một số nước như: Hàn Quốc, Băng-la-đét, Ai Cập, Tại Thái Lan, diện tích đất canh tác bình quân là 0,3 hecta/người, cao hơn 2,5 lần so với Việt Nam (Xem Bảng 1.3 phần Phụ lục)
Theo phương án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) do Chính phủ trình Quốc hội ngày 20/10/2011, được Ủy ban Kinh tế Quốc hội thông qua, đất nông nghiệp của cả nước đến năm 2020 là 26.732 nghìn hecta, tăng 506 nghìn hecta so với năm 2010 Đến thời điểm hiện nay, cả nước còn trên 4 triệu hecta đất trồng lúa, diện tích này vẫn đang giảm một cách nhanh chóng Quốc hội đã nhất trí phương án giữ diện tích đất trồng lúa đến năm 2020 là 3,81 triệu hecta Với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015), Chính phủ đề ra 3 mục tiêu cơ bản đó là: đáp ứng yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội (giao thông, thuỷ lợi, văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục thể thao…), công nghiệp và đô thị để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước bảo đảm anh ninh, quốc phòng và an sinh xã hội; đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu
1.1.2 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới
Khí hậu là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến đất đai Khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến đất thể hiện ở lượng nước mưa và nhiệt; ảnh hưởng gián tiếp thông qua sinh vật BĐKH gây rối loạn chế độ mưa, nguy cơ nắng nóng nhiều hơn,… làm cho lượng dinh dưỡng trong đất bị mất cao hơn, hiện tượng xói mòn, khô hạn nhiều hơn Nước biển dâng, thiên
Trang 22tai, bão lũ gia tăng sẽ làm tăng hiện tượng nhiễm mặn, ngập úng, sạt lở bờ sông, bờ biển… dẫn đến ảnh hưởng nghiêm trọng tới tài nguyên đất
Những thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa, thời điểm mưa và những thay đổi về hình thái trong chu trình nước: mưa - nước bốc hơi… đều dẫn đến sự thay đổi cơ chế ẩm trong đất, lượng nước ngầm và các dòng chảy Ngược lại, việc sử dụng đất đai cũng có ảnh hưởng đối với sự thay đổi các yếu tố khí hậu Lượng phát thải khí nhà kính do sử dụng đất, chặt phá dẫn đến suy thoái rừng,… là những nguyên nhân tác động đến sự nóng lên của toàn cầu
Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa ảnh hưởng đến nhiều mặt hoạt động sản xuất và đời sống, trực tiếp nhất và rõ rệt nhất là hoạt động sản xuất nông nghiệp
1.1.2.1 Những thuận lợi trong sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới
Nền nhiệt ẩm cao, khí hậu phân mùa tạo điều kiện cho chúng ta phát triển nền nông nghiệp lúa nước, tăng vụ, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi Cần tận dụng mặt thuận lợi này để không ngừng nâng cao năng suất cây trồng và nhanh chóng phục hồi lớp phú thực vật trên đất trống bằng mô hình nông - lâm kết hợp
Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa tạo thuận lợi cho nước ta phát triển các ngành kinh tế như lâm nghiệp, thuỷ sản, giao thông vận tải, du lịch… và đẩy mạnh hoạt động khai thác, xây dựng… nhất là vào mùa khô
1.1.2.2 Những khó khăn trong sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới
Tính thất thường của các yêu tố thời tiết và khí hậu gây khó khăn cho hoạt động canh tác, cơ cấu cây trồng, kế hoạch thời vụ, phòng chống thiên tai, phòng trừ dịch bệnh,… trong sản xuất nông nghiệp
Trang 23Các hoạt động giao thông vận tải, du lịch, công nghiệp khai thác… chịu ảnh hưởng trực tiếp của sự phân mùa khí hậu, chế độ nước của sông ngòi
Độ ẩm cao gây khó khăn cho việc bảo quản máy móc, thiết bị, nông sản
Các thiên tai như mưa bão, lũ lụt, hạn hán hàng năm gây tổn thất rất lớn cho mọi ngành sản xuất, thiệt hại về người và tài sản
Các hiện tượng thời tiết bất thường như dông, lốc, mưa đá, sương muối, rét hại, khô nóng… cùng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống
Môi trường thiên nhiên dễ bị suy thoái
1.1.3 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp
Suy thoái tài nguyên đất Việt Nam bao gồm nhiều vấn đề và do nhiều quá trình tự nhiên xã hội khác nhau đồng thời tác động Những nguyên nhân
cơ bản dẫn tới thoái hoá đất nghiêm trọng ở Việt Nam là:
- Xói mòn rửa trôi bạc màu do mất rừng, do mưa lớn, do canh tác không hợp lý và do chăn thả quá mức Theo các tác giả Trần Văn Ý và Nguyễn Quang Mỹ (1999), trên 60% lãnh thổ Việt Nam chịu ảnh hưởng của xói mòn tiềm năng ở mức >50tấn/hecta/năm
- Chua hoá, mặn hoá, phèn hoá, hoang mạc hoá, cát bay, đá lộ đầu, mất cân bằng dinh dưỡng, Tỷ lệ bón phân N : P2O5 : K2O trung bình trên thế giới là 100 : 33:17, còn ở Việt Nam là 100 : 29 : 7, thiếu lân và kali nghiêm trọng
Diện tích giảm, thêm vào đó là nguy cơ suy giảm chất lượng đất do sự tác động của tự nhiên và con người Đất đang bị sa mạc hóa, thoái hóa… do
sự khai thác của con người Hiện tượng sa mạc hóa làm mất đất nông nghiệp đang là mối đe dọa đất nông nghiệp toàn thế giới, Việt Nam cũng không phải
là một ngoại lệ Theo thông tin từ Bộ NN&PTNT tại hội thảo quốc gia về thực hiện Công ước quốc tế Chống sa mạc hóa tổ chức từ 8 - 10/9/2010, Việt
Trang 24Nam mất 20 hecta đất nông nghiệp mỗi năm do sa mạc hóa và hàng trăm ngàn hecta đất đang trong quá trình thoái hóa nghiêm trọng Sa mạc cục bộ tại Việt Nam hiện đã xảy ra trên 7,85 triệu hecta, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Tây Nguyên, Tây Bắc, Tứ giác Long Xuyên và Nam Trung Bộ Để khắc phục, trong giai đoạn 2005-2010, Chính phủ và Bộ NN & PTNN sẽ tập trung thực hiện các giải pháp như ngăn chặn phá rừng, cải tạo đất bị thoái hóa ở các tỉnh miền núi, chống cát bay ở các tỉnh miền Trung bằng việc trồng rừng, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm hạn hán ở vùng nông thôn
- Thoái hoá do mất rừng: Chất lượng đất đai không thể duy trì nếu không có rừng Hiện tượng mất rừng đang ở mức báo động ở châu Á và Việt Nam Mỗi năm, châu Á mất khoảng 5 triệu hecta rừng Việt Nam trước 1945, rừng chiếm 43% diện tích, hiện nay chỉ còn khoảng 33%, mặc dù đã có nhiều
nỗ lực trồng và bảo vệ rừng
- Thoái hoá đất do sử dụng thuốc BVTV: Đất trồng cũng đang chịu sự
ô nhiễm do sử dụng thuốc BVTV Ở Việt Nam, trên 300 loại thuốc bảo vệ thực vật đang được sử dụng (có cả các loại thuốc bị cấm như Wolfatox, Monitor, DDT) Liều lượng thuốc phun vào khoảng 2-3lit/hecta Số lần phun
ở những vùng trồng chè là khoảng 30 lần/năm, ở những vùng trồng rau khoảng 20-60lần/vụ Dư lượng thuốc BVTV trên đất trồng và không khí vượt mức cho phép, cụ thể là: 30% số mẫu đất có dư lượng thuốc BVTV vuợt quá tiêu chuẩn 2-40 lần; 55% mẫu không khí có nồng độ thuốc bảo vệ thực vật vượt quá tiêu chuẩn 2-10 lần Diện tích dần bị thu hẹp, để tăng sản lượng lúa đáp ứng nhu cầu về lúa gạo, lượng phân bón hoá học sử dụng hàng năm ở nước ta cao gấp 2 lần Thái Lan
Giá trị sản xuất lúa nước và vấn đề định cư có mối liên hệ rất chặt với nhau Lý do giải thích cho tình trạng di cư của nông dân ở Bắc Hà, Cao Bằng, Lào Cai vào Tây Nguyên là do mức đầu tư phân bón và thuốc BVTV ở những
Trang 25vùng đất này khá cao, giá bán sản phẩm lại không cao, hạch toán ra là hòa vốn, không có lãi [19]
Trước tình trạng mất đất nông nghiệp vẫn tiếp tục tái diễn, các chuyên gia cho rằng, một trong những vấn đề đảm bảo an ninh lương thực trong nước
là chúng ta phải nghĩ đến quy hoạch đất cho sản xuất nông nghiệp trước khi nghĩ đến đất cho khu công nghiệp và đô thị Dù nông nghiệp đóng góp vào GDP hàng năm không thể so sánh với công nghiệp, song, 70% dân số nước ta vẫn đang phải sống nhờ vào nông nghiệp và đặc biệt, trong các cuộc suy thoái
kinh tế, nông nghiệp luôn tỏ ra là trụ đứng vững chắc vực nền kinh tế đi lên
1.1.4 Những quy định hiện hành về quản lý sử dụng đất nông nghiệp
1.1.4.1 Thực trạng về quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
Chính sách đất nông nghiệp hiện nay ở nước ta là kết quả của quá trình xây dựng trên quan điểm đổi mới trong một thời gian dài Khởi điểm của quá trình đổi mới đó là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị năm 1988 về giao quyền
tự chủ cho hộ nông dân, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương (khóa VI) tháng 11-1988 về giao đất cho hộ nông dân
Cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp lý xác định chế độ, chính sách đối với đất nông nghiệp, trong đó nổi bật là Luật Đất đai ban hành năm 1993 được liên tục sửa đổi vào các năm sau này (Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1999, Luật Đất đai sửa đổi năm 2003, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp năm 2010 thay cho thuế nông nghiệp và mới nhất là Luật Đất đai năm 2013) Nội dung
cơ bản của chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước Việt Nam hiện nay thể hiện qua chế độ sở hữu đất nông nghiệp, chính sách giá đất của Nhà nước, chính sách tích tụ và tập trung đất nông nghiệp, chính sách thuế đất nông
nghiệp và chính sách bồi thường khi thu hồi đất nông nghiệp
Trang 261 Chế độ sở hữu đất nông nghiệp
Chế độ sở hữu đất nông nghiệp ở Việt Nam được phân chia thành hai quyền: quyền sở hữu và quyền sử dụng Hai quyền ấy được phân cho hai chủ thể khác nhau là Nhà nước (đại diện cho chủ sở hữu toàn dân) và người sử dụng, chủ yếu là nông dân
Chế độ sở hữu đất đai đặc biệt của Việt Nam đã đưa đến một số hệ quả là:
- Ở Việt Nam đã hình thành hai thị trường đất đai: thị trường cấp I là thị trường giao dịch giữa Nhà nước và người sử dụng đất (với nhiều chế độ khác nhau, như giao đất có thu tiền, không thu tiền; giao đất có thời hạn khác nhau; cho thuê đất ); thị trường cấp II là thị trường giao dịch giữa những người sử dụng đất nông nghiệp với nhau Thị trường cấp I được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ về đối tượng được giao đất, giá giao đất, thời hạn giao đất
và mục đích sử dụng đất Thị trường cấp II là thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo mục đích đã được Nhà nước quy định, hoạt động tự phát, Nhà nước chỉ đứng ra cung cấp các dịch vụ pháp lý cần thiết cho giao dịch và thu thuế Trong thực tế, thị trường cấp II chưa được tổ chức quy củ và chưa có dịch vụ thích ứng nên hạn chế khả năng chuyển nhượ ng quyền sử dụng đất nông nghiệp của nông dân
- Nhà nước vừa đóng vai trò cơ quan quản lý hành chính công đối với đất đai, vừa đóng vai trò chủ sở hữu đất, có quyền quyết định thu hồi quyền
sử dụng đất của nông dân, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp, giao đất nông nghiệp đã được chuyển mục đích sử dụng cho tổ chức và cá nhân không phải là nông dân, quy định giá thu hồi đất nông nghiệp
- Người nông dân ở vào vị thế yếu trong giao dịch đất nông nghiệp, thể hiện qua các khía cạnh sau:
Trang 27Thứ nhất, người nông dân chỉ được sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích sản xuất nông nghiệp Do mức sinh lợi của ngành nông nghiệp thấp nên giá trị chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp thành tiền không lớn, không khuyến khích người nông dân chuyển quyền sử dụng này cho người khác
Thứ hai, Nhà nước toàn quyền quy hoạch và thu hồi đất nông nghiệp để chuyển thành đất đô thị hoặc đất kinh doanh mà nông dân không có quyền thỏa thuận giá đất bị thu hồi, cũng như không có quyền phản đối hoặc đòi hỏi đền bù thỏa đáng quyền lợi của mình Trường hợp đất thu hồi để làm các công trình công cộng như đường sá, công trình thủy lợi thì không có mặt bằng giá mới nên người nông dân không cảm nhận được thiệt thòi của họ Trường hợp Nhà nước thu hồi đất để chuyển thành khu đô thị theo cách giao cho các doanh nghiệp đầu tư kết cấu hạ tầng rồi bán nền, bán nhà sẽ làm xuất hiện mặt bằng giá quyền sử dụng đất phi nông nghiệp, thường cao hơn giá đất nông nghiệp nhiều lần
Thứ ba, thời hạn giao đất nông nghiệp cho nông dân theo quy định của pháp luật hiện hành là quá ngắn (50 năm với đất trồng cây lâu năm, 20 năm với đất còn lại) so với thời hạn giao đất phi nông nghiệp
Thứ tư, hạn mức diện tích đất giao khá thấp Điều 129 Luật Đất đai
2013 về hạn mức giao đất nông nghiệp quy định: Hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 3 hecta đối với mỗi loại đất Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 10 hecta đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 30 hecta đối với các xã, phường, thị trấn ở trung
du, miền núi Hạn mức giao đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 30 hecta đối với đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất Trường hợp hộ gia đình,
cá nhân được giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối thì tổng hạn mức giao đất không quá năm 5
Trang 28hecta Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất trồng cây lâu năm thì hạn mức đất trồng cây lâu năm là không quá 5 hecta đối với các xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 25 hecta đối với các xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi Trường hợp hộ gia đình, cá nhân được giao thêm đất rừng sản xuất thì tổng hạn mức giao đất rừng sản xuất là không quá 25 hecta
Báo cáo của Đoàn Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về đầu
tư công cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn trình bày trước UBTV Quốc hội ngày 18/4/2012 đã khẳng định: Việc quy định khống chế hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân tại Điều 70 Luật Đất đai gây khó khăn trong việc mở rộng diện tích canh tác và áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm
2 Chính sách giá đất nông nghiệp
Chính sách giá đất nông nghiệp được quy định tại Điều 114 Luật Đất đai năm 2013 và mới nhất là Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ Theo đó, có hai phương pháp xác định giá đất: theo giá thị trường và theo thu nhập từ đất Quyền xác định giá đất được phân cấp rộng rãi cho chính quyền cấp tỉnh Chế độ điều chỉnh giá cũng linh hoạt hơn trước và bám sát giá thị trường
Với việc chính thức công nhận giá đất thị trường và điều chỉnh giá Nhà nước theo giá thị trường, Nhà nước Việt Nam đã gián tiếp thừa nhận quyền sử dụng đất có giá cả, tồn tại thị trường quyền sử dụng đất và là một trong những
cơ sở để Nhà nước xác định giá giao dịch đất giữa Nhà nước và người dân
Tuy nhiên, việc thực hiện những quy định này trong thực tế rất khó khăn do thị trường đất nông nghiệp hoạt động rất kém và chưa được tổ chức nên hầu như không thể thu thập được thông tin tin cậy về giá Do không có
Trang 29thông tin giá thị trường thuyết phục nên các tổ chức định giá đất thường lấy giá quy định từ đầu năm của chính quyền cấp tỉnh Đến lượt mình, giá đất này cũng được xác định một cách chủ quan nên chưa được người dân tin cậy Trên thực tế, nhiều địa phương phải thỏa thuận với nông dân, nhưng người nông dân cũng không có thông tin, họ thường so bì với những người chây ì, nhận tiền sau (những người này thường nhận được giá cao hơn) hoặc so với giá đất đô thị chuyển nhượng tại các dự án khác ở địa phương để đòi giá cao Cách làm này dẫn đến hai hệ lụy:
Một là, vô hình trung khuyến khích nông dân chây ì; hai là, người nông dân luôn ở trạng thái bất bình do nhận thức rằng mình bị thiệt thòi
Hai là, do Nhà nước không ngăn chặn được đầu cơ trên thị trường đất
đô thị, nên giá đất đô thị tăng lên quá cao khiến thông tin về giá này cũng không đáng tin cậy Để khắc phục khó khăn, nhiều địa phương đã tiến hành các biện pháp nửa vời, dự án thuận lợi thì đền bù theo giá Nhà nước, dự án khó khăn thì để nhà đầu tư phụ thêm tiền đền bù theo giá thỏa thuận với nông dân Thậm chí, để giải phóng mặt bằng nhanh, nhiều nhà đầu tư chấp nhận trả thêm tiền cho các hộ chây ì Cách làm như vậy đã gây tác động không tốt cho các hộ đã di dời
3 Chính sách khuyến khích tích tụ và tập trung đất
Khi tiến hành giao đất lần đầu cho hộ nông dân vào những năm đầu thập niên 90, thế kỷ XX, để giảm xung đột, Nhà nước đã giao đất cho hộ theo chế độ bình quân cả về diện tích lẫn hạng đất Hệ quả là đất nông nghiệp được giao cho hộ gia đình nông dân rất manh mún Để khuyến khích nông dân tập trung đất nông nghiệp phục vụ sản xuất quy mô lớn, Nhà nước sau đó có chính sách khuyến khích nông dân “dồn điền, đổi thửa”, chuyển đổi, chuyển nhượng đất cho nhau Phong trào “dồn điền, đổi thửa” được chính quyền các tỉnh đồng bằng sông Hồng hưởng ứng, nhưng kết quả đạt được không mấy khả quan Số thửa ruộng của một hộ có giảm đi, nhưng quy mô đất canh tác
Trang 30của một hộ nông dân tăng không đáng kể do các hộ nông dân không muốn nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp cho người khác vì nhiều lý do
Ở các vùng chuyên canh phía Nam tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp đạt kết quả khá hơn ở phía Bắc, nhưng cũng chưa tạo
đủ tiền đề để hình thành các trang trại lớn
Ở miền núi như thị xã Chí Linh là một ví dụ, việc dồn điền đổi thửa gần như chưa được triển khai rộng rãi và chưa mang lại hiệu quả đáng kể
Các chính sách khuyến khích sử dụng đất tập trung ở quy mô lớn, như hình thành các nông, lâm trường, các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp cũng tỏ
ra chưa hiệu quả Có thực tế là các nông, lâm trường buộc phải giao đất cho
hộ công nhân nông, lâm trường để họ canh tác theo phương thức gia đình Mặc dù quá trình giao đất nông, lâm trường cho hộ nông, lâm trường viên có tạo được động lực sử dụng đất hiệu quả hơn, sản xuất phát triển hơn, nhưng gây khó khăn cho việc quản lý đất công thuộc quyền sử dụng của nông, lâm trường, trong một số trường hợp còn gây ra sự bất bình đẳng về quy mô đất được giao giữa gia đình nông, lâm trường viên và gia đình nông dân canh tác
ở cùng một khu vực Một số hộ nông dân ở một số nơi đã lấn chiếm đất nông, lâm trường để sử dụng một cách bất hợp pháp
4 Chính sách thu hồi và đền bù đất nông nghiệp
Từ thập niên 90 của thế kỷ thứ XX đến nay, Nhà nước tiến hành thu hồi nhiều diện tích đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị tập trung Chính vì thế, chính sách thu hồi, đền bù đất nông nghiệp tác động lớn đến hiệu quả sử dụng đất của nông dân
Luật Đất đai của Việt Nam quy định: ”Nhà nước có quyền thu hồi quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất ở của nông dân để sử dụng cho các mục đích công cộng hoặc phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Khi thu hồi đất nông nghiệp, đất ở của nông dân, Nhà nước phải đền bù cho nông dân
Trang 31đất mới theo diện tích và hạng đất tương đương Nếu không có đất đền bù hoặc đất đền bù ít hơn đất bị thu hồi, Nhà nước đền tiền cho nông dân theo giá đất do Nhà nước quy định tại từng thời điểm” Với quyền hạn như vậy, chính quyền một số địa phương đã thu hồi đất nông nghiệp một cách thiếu thận trọng và ở quy mô lớn, khiến diện tích đất của nông dân nhiều vùng giảm nhanh
5 Chính sách thuế đất nông nghiệp
Trước đây, Nhà nước thu từ nông dân sử dụng đất nông nghiệp các khoản: tiền thuê đất, thuế sử dụng đất và một số lệ phí quản lý đất đai Nhìn chung, tổng thuế sử dụng đất nông nghiệp không lớn Từ năm 2003 đến nay, Chính phủ đã quyết định miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trong hạn điền cho tất cả hộ nông dân và miễn hoàn toàn thuế sử dụng đất cho hộ nông dân nghèo, giảm 50% cho diện tích vượt hạn điền
Tiền thuê đất chỉ áp dụng đối với diện tích đất vượt hạn điền hoặc đất đấu thầu Các khoản lệ phí về đất không lớn, thường là phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phí trích lục bản đồ, phí đăng ký đất, Xét tổng thể, chính sách thuế đất nông nghiệp của Việt Nam được giảm nhẹ ở nhiều khâu,
kể cả việc Nhà nước không thu thuế chuyển nhượng đất nông nghiệp giữa những người nông dân với nhau nhằm khuyến khích tập trung đất và chưa thu
thuế giá trị gia tăng từ đất
1.1.4.2 Tác động của chính sách đất đai đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đời sống của nông dân
1 Tác động tích cực
a Chính sách đất đai đã tạo điều kiện cho nông dân chủ động sản xuất,
kinh doanh nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất và tăng thu nhập
So với các tầng lớp dân cư khác, nông dân Việt Nam được hưởng 3 lợi ích từ chính sách đất nông nghiệp: được giao đất nông nghiệp không mất tiền;
Trang 32được quyền chủ động sắp xếp kế hoạch canh tác và bán nông sản theo nguyên tắc thị trường để cải thiện cuộc sống; được chuyển nhượng quyền sử dụng đất như một tài sản Nhờ đó, cuộc sống của nông dân được cải thiện
b Chính sách đất nông nghiệp tạo điều kiện để nông dân chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Chế độ giao đất cho hộ nông dân và coi hộ nông dân là đơn vị kinh tế
tự chủ cho phép họ lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi có lợi nhất trên đất được giao đã tạo điều kiện cho nhiều gia đình, nhiều xã, nhiều huyện, tỉnh lựa chọn cơ cấu sản xuất thích hợp Trong cả nước, số hộ độc canh lúa giảm đi
Đã xuất hiện nhiều hộ, nhiều trang trại chuyên canh nông sản hàng hóa
c Chính sách đất nông nghiệp hỗ trợ nông dân tiếp cận tín dụng ngân hàng
Việc hợp thức hóa quyền sử dụng đất nông nghiệp bằng cách cấp giấ y chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho nông dân đã hỗ trợ họ không chỉ trong thực hành giao dịch quyền sử dụng đất an toàn như cho thuê, góp vốn sản xuất, mà còn giúp họ thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng
d Chính sách đất nông nghiệp đã bước đầu khuyến khích nông dân tích
tụ, tập trung đất để kinh doanh hiệu quả hơn
Về mặt pháp lý, có quyền sử dụng đất nông nghiệp hợp pháp, được Nhà nước bảo hộ, nên nông dân có thể chuyển đổi, chuyển nhượng đất cho nhau hoặc thuê mướn để có diện tích đất nông nghiệp liền khoảnh, quy mô lớn, thích hợp với cơ giới hóa, từ đó thuận lợi cho việc áp dụng các biện pháp bảo
vệ thực vật và thâm canh Những người không có khả năng làm nông nghiệp hiệu quả cũng có thể nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp cho người khác
để có tiền chuyển sang làm các nghề phi nông nghiệp Nhờ đó, quá trình
Trang 33chuyên môn hóa ngành nghề và “sàng lọc” để tìm ra người làm nông nghiệp giỏi được thúc đẩy nhanh hơn
e Chính sách đất nông nghiệp kích hoạt thị trường bất động sản ở nông thôn, tạo điều kiện phân bổ đất nông nghiệp hiệu quả, hình thành nhiều ngành nghề mới ở nông thôn
Thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp ở nông thôn được kích hoạt
đã tạo điều kiện cho giao dịch quyền sử dụng đất thuận lợi hơn, chi phí giao dịch giảm Do có thể chuyển nhượng dễ dàng quyền sử dụng đất nông nghiệp nên đất đai cũng được sử dụng hiệu quả hơn theo tín hiệu của thị trường, nhờ
đó thúc đẩy quá trình phân bổ lại đất đai giữa trồng trọt, thủy sản và chăn nuôi, đồng thời góp phần khôi phục và phát triển nhiều làng nghề truyền
thống
2 Tác động tiêu cực
a Nông dân chưa được lợi nhiều từ quyền sử dụng đất nông nghiệp
Do nông dân không được tự ý chuyển đất nông nghiệp sang các loại đất khác, đồng thời do đất nông nghiệp sinh lợi thấp nên giá quyền sử dụng đất nông nghiệp thấp hơn giá quyền sử dụng các loại đất khác rất nhiều Hơn nữa, quyền sử dụng đất nông nghiệp của nông dân dễ bị thu hồi Nông dân không những chỉ được sử dụng đất nông nghiệp với kỳ hạn ngắn nhất, mà còn được hưởng lợi ít nhất khi đất nông nghiệp được sử dụng vào mục đích khác Vô hình trung, chính sách này không khuyến khích nông dân gắn bó với nông nghiệp do cơ hội làm giàu ở đây rất thấp
b Tình trạng nông dân không có đất
Giao quyền sử dụng đất nông nghiệp cho nông dân và kích hoạt thị trường bất động sản, đồng thời người nông dân phải tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh trong điều kiện thị trường cạnh tranh và bấp bênh, mức tích lũy thấp Thậm chí, nhiều dịch vụ ở nông thôn được bao cấp
Trang 34trước kia và nhiều nguồn tài chính tái phân bổ cho nông dân nghèo trong thời
kỳ bao cấp đang bị suy giảm nghiêm trọng Hệ quả là, khi gặp hoàn cảnh khó khăn, nông dân chỉ có cách bán quyền sử dụng đất nông nghiệp và trở thành nghèo đói Nhà nước không có nhiều khả năng để hỗ trợ họ giữ đất nông nghiệp làm phương tiện mưu sinh Chính vì vậy, phân hóa giàu nghèo phát sinh ngay trong tầng lớp nông dân Tệ nạn xã hội cũng có cơ hội len lỏi vào các làng quê Việt Nam
c Chính sách đất nông nghiệp chưa khuyến khích nông dân bảo vệ đất
và đầu tư dài hạn vào đất
Nhà nước không giao quyền sử dụng đất dài hạn, ổn định cho hộ gia đình nông dân, nên không khuyến khích họ đầu tư lâu dài nhằm bảo tồn đất nông nghiệp Hơn nữa, do xu hướng chạy theo sản lượng, đã xuất hiện tình trạng nông dân lạm dụng hóa chất để thâm canh, không chú trọng đầu tư cải tạo đất lâu dài, làm thoái hóa đất nông nghiệp, thậm chí gây ô nhiễm đất
e Tác động hỗ trợ nông dân tích tụ, tập trung đất chưa đạt yêu cầu Chính sách giao đất bình quân khiến đất nông nghiệp trở nên manh mún Ngoài ra, do số lao động rút khỏi ngành nông nghiệp không đủ lớn để làm giảm số lượng lao động nông nghiệp trên diện tích đất đai đi đôi với việc chuyển diện tích lớn đất nông nghiệp sang sử dụng với mục đích khác dẫn đến quy mô đất nông nghiệp bình quân đầu người tiếp tục giảm Hiện nay, chỉ còn ít cơ sở sản xuất nông nghiệp có quy mô từ 3 - 5 hecta trở lên, mà đa phần
là các hộ gia đình có quy mô diện tích dưới 1 hecta
g Chính sách thu hồi đất và giá đất nông nghiệp khiến nông dân thiệt thòi
Thiệt thòi thứ nhất là người nông dân không còn phương tiện để sinh sống do Nhà nước không đủ quỹ đất nông nghiệp để đền bù Thiệt thòi thứ hai
là các vùng đất dành để đền bù cho nông dân thường không thuận lợi bằng đất
Trang 35bị thu hồi, nên đời sống của họ trở nên khó khăn hơn Thiệt thòi thứ ba là nông dân không được quyền thỏa thuận khi đền bù Những chính sách như đào tạo nghề cho nông dân thuộc diện thu hồi đất, khuyến khích người nhận quyền sử dụng đất thu hồi từ nông dân chia sẻ lợi ích với nông dân, chính sách tái định cư, thường đem lại hiệu quả thấp
h Chưa tạo điều kiện khuyến khích nông dân thực hành nông nghiệp hiện đại
Hạn mức sử dụng đất nông nghiệp giao cho nông dân quá thấp khiến hầu hết các hộ nông nghiệp đều canh tác bằng lao động thủ công của gia đình, không có nhu cầu mua máy móc và hợp tác với nhau trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, trong giao dịch tư liệu sản xuất và tiêu thụ nông sản, trong áp dụng đồng bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy, năng suất và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp còn thấp
Tóm lại, qua nghiên cứu thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới, tại Việt Nam và chính sách sử dụng đất nông nghiệp của nước
ta, tác giả nhận thấy: diện tích đất nông nghiệp của thế giới cũng như của Việt Nam không nhiều, lại đang bị thu hẹp dần do nhiều nguyên nhân khác nhau; hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng tại nhiều vùng; đó là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng đói nghèo của nhiều nông hộ và sự thiếu bền vững trong phát triển, đặc biệt là tại các tỉnh miền núi cao; chính sách đất nông nghiệp đã có đổi mới, song vẫn còn không ít tồn tại, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp cũng như lợi ích của người nông dân Đây chính là cơ hội để tác giả tiến hành nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại thị xã Chí Linh
1.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và các chỉ tiêu đánh giá
Trang 36Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Khi nhận thức của con người còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, khi nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích con người, được biểu hiện bằng những chi tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó.Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung của đánh giá hiệu quả
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng trong hoạt động kinh tế Thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền, đồng thời về mặt xã hội là thể hiện hiệu quả của lực lượng lao động được
sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế và giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại
Trang 37nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu để đảm bảo sự ổn định về kinh tế -xã hội đất nước)
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các loại thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, cũng như cần gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn
là mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia sản xuất nông
nghiệp [33]
Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thực hiện đa dạng hóa cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương Từ đó, nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao - đó là điều kiện tiên quyết phát triển được nền nông nghiệp bền vững
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng: vấn đề hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
1.2.1 Hiệu quả kinh tế và các chỉ tiêu đánh giá
1.2.1.1 Hiệu quả kinh tế
Theo các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể
là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động
Trang 38theo các ngành sản xuất khác nhau Theo các nhà khoa học kinh tế Nordhuas “Hiệu quả là không lãng phí’ Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong 1 đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng
Samuel-thêm lợi ích cho xã hội [25]
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hóa với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau
Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề [25]
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra
là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: bản chất của phạm trù kinh
tế sử dụng đất là “Với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội”
Trang 391.2.1.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả kinh tế được tính trên 1 ha đất nông nghiệp
+ Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch
vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm)
+ Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào
và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất
+ Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian, là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất
đó
GTGT = GTSX - CPTG (1.1)
- Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chí phí trung gian (GTSX/CPTG,
GTGT/CPTG): đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ
- Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ, GTGT/LĐ Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí
cơ họi của người lao động
1.2.2 Hiệu quả xã hội và các chỉ tiêu đánh giá
1.2.2.1 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất
Hiệu quả xã hội hiện nay phải thu hút nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy, đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về việc ăn mặc
Trang 40và nhu cầu sống khác.Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hóa của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn
Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [26], hiệu quả về mặt xã hội của sử
dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau [13]
+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân; + Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng;
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân; + Góp phần định canh, định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật + Tăng cường sản phẩm hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa xuất khẩu
1.2.3 Hiệu quả môi trường và các chỉ tiêu đánh giá
1.2.3.1 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hóa đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái
(>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài [2]
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo nhiều chiều hướng khác nhau Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả hóa học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học
môi trường [11]