Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu, phân tích đánh giá và các giải pháp đề xuất, đóng góp thiết thực cho tiến trình nâng cao chất lượng quản lý trong giai đoạn thi công công trình tại
Trang 1L ỜI CAM ĐOAN
Họ và tên học viên: Phạm Thị Diệp
Lớp: 23QLXD11
Chuyên ngành đào tạo: Quản lý xây dựng
Đề tài nghiên cứu “Đề xuất giải pháp quản lý chất lượng thi công của Ban quản lý
d ự án cơ sở hạ tầng Thủy Lợi Ninh Bình”
Tôi xin cam đoan đây là luận văn do tự tôi tìm tòi và nghiên cứu Các thông tin, số
liệu, tài liệu trích dẫn trong luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực
Tác giả
Ph ạm Thị Diệp
Trang 2Kiều đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi thực hiện đề tài
Xin trân trọng cảm ơn các bạn bè trong lớp Cao học 23QLXD 11 đã đóng góp nhiều ý
kiến quý báu, cảm ơn các tổ chức, cá nhân, cơ quan, đơn vị đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra thu thập tài liệu cho bản luận văn này
Vì thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài nghiên cứu rất rộng liên quan đến rất nhiều tài
liệu cơ bản, khối lượng tính toán nhiều, kinh nghiệm bản thân còn hạn chế nên không tránh khỏi thiếu sót Tôi xin trân trọng tiếp thu các ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn bè để có thể hoàn thiện luận văn hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà N ội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Ph ạm Thị Diệp
Trang 3M ỤC LỤC
PH ẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CH ẤT LƯỢNG THI CÔNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 4
1.1 Hệ thống công trình thuỷ lợi hiện nay 4
1.1.1 Công trình thủy lợi trên thế giới 4
1.1.2 Công trình thủy lợi ở Việt Nam 7
1.1.3 Công trình thủy lợi tỉnh Ninh Bình [8] 13
1.2 Các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng công trình thủy lợi hiện nay 15
1.2.1 Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực [12] 16
1.2.2 Tổ chức và hoạt động của Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực [12] 17
1.3 Hiện trạng về chất lượng công trình thuỷ lợi hiện nay và vai trò ảnh hưởng của Ban quản lý dự án đến chất lượng công trình xây dựng 19
1.3.1 Hiện trạng về chất lượng công trình thuỷ lợi hiện nay 19
1.3.2 Vai trò ảnh hưởng của Ban quản lý dự án đến chất lượng công trình xây dựng [11] 27
Kết luận chương 1 29
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ 30
CH ẤT LƯỢNG THI CÔNG CÔNG TRÌNH 30
2.1 Cơ sở pháp lý về công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi 30
2.1.1 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 30
2.1.2 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng 30
2.1.3 Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng 36 2.1.4 Thông tư số 03/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ xây dựng về quy định
Trang 42.2 Đặc điểm và nội dung của công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi 37
2.2.1 Đặc điểm của công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi 37
2.2.2 Nội dung quản lý chất lượng công trình thủy lợi 38
2.3 Kế hoạch quản lý và kiểm soát chất lượng của Chủ đầu tư trong giai đoạn thi công 39
2.3.1.Trình tự quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công 39
Kết luận chương 2 50
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CỦA BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN CƠ SỞ HẠ TẦNG THỦY L ỢI NINH BÌNH CHO DỰ ÁN ĐẦM CÚT 51
3.1 Thực trạng của Ban quản lý dự án cơ sở hạ tầng Thủy lợi Ninh Bình 51
3.1.1 Giới thiệu chung 51
3.1.2 Chức năng nhiệm vụ 51
3.2 Giới thiệu về dự án Đầm Cút 54
3.2.5 Mục tiêu đầu tư 54
3.2.6.Quy mô hạng mục công trình chính 54
3.2.7 Tổng mức đầu tư: 54
3.3 Giới thiệu về cơ cấu và năng lực của các đơn vị tham gia dự án 57
3.3.1 Nhà thầu thi công 57
3.3.2 Nhà thầu giám sát thi công 60
3.4 Phân tích hiện trạng chất lượng công trình và công tác quản lý chất lượng thi công của các chủ thể tham gia dự án 62
3.4.1 Chủ đầu tư 65
3.4.2 Nhà thầu thi công 66
3.4.3 Nhà thầu tư vấn giám sát thi công 66
3.4.4 Những tồn tại trong công tác quản lý chất lượng trong quá trình thi công công trình 66
3.5 Đề xuất giải pháp đối với Ban quản lý dự án trong công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 68
3.5.1 Đối với chủ đầu tư 68
3.5.2 Đối với nhà thầu gám sát thi công công trình 74
Trang 53.5.3 Đối với nhà thầu thi công xây dựng công trình 75
Kết luận chương 3 78
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
DANH M ỤC TÀI LIỆU KHAM KHẢO 82
Trang 6DANH M ỤC HÌNH VẼ, HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Sự cố vỡ Đập Bản Kiều – Trung Quốc - 1975 4
Hình 1.2 Hình ảnh đập hồ Lawn 23 năm sau khi sự cố 6
Hình 1.3 Toàn cảnh Hồ chứa nước Văn Phong - Bình Định 9
Hình 1.4 Hồ Dầu tiếng thuộc hệ thống CTTL Dầu tiếng 10
Hình 1.5 Vỡ đập chắn thủy điện Dakrong III 20
Hình 1.6 Sập sàn BTCT đang thi công do hệ giàn giáo do chất lượng thi công kém 22 Hình 2.1 Sơ đồ hoạt động QLCL CTXD theo vòng đời dự án 39
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức Ban quản lý dự án 52
Hình 3.2 Sơ đồ tổ chức công ty 59
Hình 3.3 Quy trình kiểm tra chất lượng 70
Hình 3.4 Sơ đồ tổ chức quản lý chất lượng thi công công trình 72
Hình 3.5 Sơ đồ nghiệm thu công việc thi công 73
Trang 7DANH M ỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Bảng tổng hợp trạm bơm điện địa bàn tỉnh Ninh Bình 14
Bảng 2.1 Trình tự quản lý chất lượng giai đoạn thi công công trình 40
Bảng 2.2 Lưu đồ kiểm soát mẫu vật tư, vật liệu 48
Bảng 2.3 Lưu đồ quy trình nghiệm thu chất lượng 49
Bảng 3.1: Tỷ lệ hao hụt các loại nguyên vật liệu chính 71
Trang 8DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT
BQLDA : Ban quản lý dự án
CĐT : Chủ đầu tư
QLCL : Quản lý chất lượng
CLCTXD : Chất lượng công trình xây dựng
QLCLCTXD : Quản lý chất lượng công trình xây dựng TCN : Tiêu chuẩn ngành
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
CHT CT : Chỉ huy trưởng công trường
TKBVTC : Thiết kế bản vẽ thi công
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm qua, công tác đầu tư xây dựng cơ bản được triển khai ngày một nhiều, số lượng các công trình ở mọi quy mô ngày một tăng Hàng năm có nhiều dự án đầu tư xây dựng công trình được triển khai Tình hình chất lượng công trình, bình quân 5 năm
gần đây có trên 90% công trình đạt chất lượng từ khá trở lên Trình độ quản lý các chủ đầu tư cũng như trình độ chuyên môn của các nhà thầu trong thiết kế và thi công được nâng lên một bước đáng kể
Trước đây, khi nói đến dự án đầu tư xây dựng, người ta thường quan tâm và đặt vấn đề
quản lý, sử dụng nguồn vốn và tiến độ thi công lên hàng đầu sau đó mới đến quản lý
chất lượng công trình Tuy nhiên, khi Luật Xây dựng được ban hành đã có sự thay đổi
lớn, công tác quản lý chất lượng công trình đã trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu Đây là sự thay đổi quan trọng về pháp luật, góp phần tạo ra sự chuyển biến nhận thức cho chính những người làm công tác quản lý trong ngành Xây dựng Các chuyên gia
của Cục giám định nhà nước về chất lượng công trình xây dựng thường ví “phòng
bệnh hơn chữa bệnh” Điều này hoàn toàn đúng với thực tế bởi nguyên tắc chính của
quản lý chất lượng công trình xây dựng là phòng ngừa Chất lượng của một công trình được quyết định chủ yếu trong giai đoạn thi công và hoàn thiện công trình
Thời gian gần đây Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng các công trình nhưng
do mốt số công trình không đảm bảo về chất lượng, mất an toàn trong lao động đã gây thiệt hại về người và của đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi: nguyên nhân nào dẫn đến các sự cố, ai là người quản lý và chịu trách nhiệm về chất lượng công trình xây
dựng, khi có sai phạm thì xử lý như thế nào? Chất lượng công trình xây dựng đã trở thành vấn đề được quan tâm bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển, đời sống và
an toàn sinh mạng con người
Xuất phát từ các vấn đề cấp thiết trên, tác giả luận văn đã chọn đề tài " Đề xuất giải pháp qu ản lý chất lượng thi công của Ban quản lý dự án cơ sở hạ tầng Thủy Lợi Ninh Bình " là hết sức cần thiết và cấp bách
2 M ục đích nghiên cứu của đề tài
Đề xuất giải pháp quản lý chất lượng tại Ban quản lý dự án cơ sở hạ tầng Thủy Lợi
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3 1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý chất lượng thi công công trình thủy lợi của Chủ đầu tư
3.2 Ph ạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Nghiên cứu công tác quản lý chất lượng thi công công trình thủy lợi của Ban quản lý dự án cơ sở hạ tầng Thủy Lợi Ninh Bình
- Phạm vi: Công tác quản lý chất lượng thi công ở công trình Đầm Cút
- Thời gian: Năm 2012- năm 2020
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách ti ếp cận
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả luận văn đã dựa trên cách tiếp cận cơ sở lý luận về khoa học quản lý xây dựng và những quy định hiện hành của hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực này
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát thưc tế;
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu, phân tích đánh giá và các giải pháp đề xuất, đóng góp thiết thực cho tiến trình nâng cao chất lượng quản lý trong giai đoạn thi công công trình tại Ban
quản lý dự án cơ sở hạ tầng Thủy Lợi Ninh Bình đảm bảo cho việc phát triển bền vững
về kinh tế - xã hội đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống trong khu vực dự án
6 Dự kiến kết quả đạt được
- Tổng quản về chất lượng công trình thuỷ lợi hiện nay ở Việt Nam và các công trình thuộc Ban quản lý dự án cơ sở hạ tầng Thủy Lợi Ninh Bình quản lý;
Trang 11- Hệ thống cơ sở lý luận về công tác quản lý chất lượng công trình trong giai đoạn thi công công trình của Chủ đầu tư;
- Phân tích thực trạng chất lượng thi công của Ban quản lý dự án cơ sở hạ tầng Thủy
Lợi Ninh Bình;
- Giải pháp quản lý đảm bảo chất lượng thi công của Ban quản lý dự án cơ sở hạ tầng
Thủy lợi Ninh Bình cho dự án Đầm Cút
Trang 12CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI
1.1 Hệ thống công trình thuỷ lợi hiện nay
1.1.1 Công trình th ủy lợi trên thế giới
1.1.1.1 Đập Bản Kiều, Trung Quốc
Đây là con đập được xây dựng trên sông Ru tỉnh Hà Nam, Trung Quốc Sự cố nặng nề vào năm 1975 đã làm con đập này bị vỡ và gây ra thiệt hại nặng nề Sau đó nó đã được xây dựng lại Trong mùa lũ năm 1975, đập đã bị vỡ làm cho 175.000 người thiệt mạng
và hơn 11 triệu người khác mất nhà cửa
Sự cố này cũng đã phá hủy 1 nguồn năng lượng khổng lồ đang cung cấp cho Trung
Quốc Với công suất lên đến 18 GW, tương đương 9 nhà máy nhiệt điện hay 20 lò
phản ứng hạt nhân, nhà máy thủy điện này được xem là có khả năng đáp ứng 1/3 nhu
cầu sử dụng vào lúc cao điểm của cả Vương quốc Anh
Hình 1.1 S ự cố vỡ Đập Bản Kiều – Trung Quốc - 1975
Theo cơ quan thủy văn tỉnh Hà Nam, sự cố này đã làm 26.000 người chết trong lũ lụt
và 145.000 người khác bị thiệt mạng do dịch bệnh và nạn đói sau đó Ngoài ra, hơn 5
Trang 13triệu ngôi nhà bị phá hủy làm khoảng 11 triệu người trở thành vô gia cư Những số liệu này đã được giữ bí mật trong nhiều năm và đến năm 2005 vừa rồi mới được công bố rõ ràng
Sau sự cố này chính quyền Trung Quốc đã tập trung cao độ vào việc sửa chữa những con đập có nguy cơ xảy ra sự cố trên toàn quốc Trên khắp cả nước Trung Quốc có khoảng 87.000 đập và hồ chứa nước nhân tạo và đa số trong số đó được xây dựng từ
những năm 50-70 thế kỉ trước Đây là 1 thách thức rất lớn trong việc kiểm soát và khắc
phục sự cố của chính quyền Trung Quốc
1.1.1.2 Đập Kelly Barnes, Mỹ
Kelly Barnes là đập đắp bằng đất ở bang Georgia, Mỹ Ngày 6/11/1977 nó đã bị vỡ sau 1 trận mưa lớn làm 39 người thiệt mạng và thiệt hại về tài sản lên đến 3.8 triệu USD Con đập đã không bao giờ được xây dựng lại và tại nơi xảy ra sự cố người ta đã xây dựng 1 đài tưởng niệm để thu hút khách du lịch
Sau 1 trận mưa rất lớn kéo dài trong từ trưa đến đêm 5/11 sáng sớm ngày 6/11/1977, vào lúc 1h30, con đập đã vượt qua giới hạn chịu đựng và ồ ạt tuôn nước về phía hạ lưu Ít nhất 39 người thiệt mạng, 18 ngôi nhà bị cuốn trôi cùng với nhiều cây cầu ở vùng hạ lưu bị tấn công
Theo điều tra sau đó, nguyên nhân dẫn đến sự cố là khi xây dựng các kĩ sư đã tính toán sai về độ dốc mái đập Điều này đã làm thay đổi trọng tâm và khả năng chịu lực của con đập trong điều kiện trời mưa lớn
Như vậy dù chỉ là một sự cố nhỏ cũng có thể làm cả con đập bị nước cuốn trôi Theo
những bức ảnh được chụp sau đó, khối đất có kích thước 3.7x9.1m bị cuốn trôi lúc ban đầu chính là nguyên nhân dẫn đến sự cố này
1.1.1.3 Đập hồ Lawn, Mỹ
Đây là đập đất được xây dựng trong công viên quốc gia Rocky Mountain, Mỹ Nó đã
bị sập vào ngày 15/7/1982 với lượng nước tràn ra lên đến 830.000 m3 làm 3 người
cắm trại trong khu vực thiệt mạng và thiệt hại kinh tế lên đến 31 triệu USD
Trang 14Hình 1.2 Hình ảnh đập hồ Lawn 23 năm sau khi sự cố
Lawn là hồ tự nhiên với diện tích mặt nước là 66.000 m2 ở độ cao 3.3km so với mực nước biển trên dãy núi Rocky Năm 1903, nhóm những nông dân trong khu vực đã xây
dựng 1 con đập bằng đất để tăng diện tích mặt nước của hồ lên đến 190.000m2
với
mục đích cung cấp nước cho tưới tiêu thủy lợi trong vùng
Khi con đập bị vỡ, lượng nước khổng lồ đã chạy xuống thung lũng phía dưới với tốc
độ 510m3
/s tạo nên rãnh lớn dưới thung lũng làm 3 người đang cắm trại ở đó thiệt
mạng Với tốc độ khủng khiếp này, cả hồ nước đã cạn chỉ trong khoảng 1 phút
1.1.1.4 Các nguyên nhân gây ra sự cố
Dựa trên các sự cố đập và các tài liệu [1, 2, 10], các nguyên nhân chủ yếu làm cho công trình thủy lợi bị hư hỏng, sự cố đập, gây mất an toàn ra bao gồm 5 yếu tố chính: + Yếu tố tự nhiên;
+ Yếu tố khảo sát , thiết kế;
+ Yếu tố thi công;
Trang 15+ Yếu tố khai thác và quản lý;
+ Yếu tố chiến tranh
Công trình chịu những tác dụng phá hoại không thể lường được của thiên nhiên như
gặp lũ bất thường, dòng chảy đặc biệt lớn, bão, động đất, lở núi, sạt lở mái dốc và một
số tác dụng địa chất ngấm ngầm khác Cho đến nay, toàn bộ lý luận và kinh nghiệm
mà loài người tích lũy được trong thực tiễn tuy có thể hạn chế được khả năng của loại phá hoại này trong một phạm vi tương đối nhỏ, nhưng vẫn không xóa bỏ được triệt để
khả năng này Trong vòng mấy chục năm, mấy trăm năm gần đây, trong quá trình hình thành lý luận kỹ thuật hiện đại, yếu tố tự nhiên ấy đã gây ảnh hưởng tương đối lớn Loài người bỏ ra khá nhiều công, của để đối phó với nó Điều này chỉ cần nhìn lại lịch
sử phát triển của công trình thủy lợi thì có thể thấy: hầu như mỗi một sự tiến triển quan
trọng về kỹ thuật cũng như mỗi sự phát triển về lý luận đều có liên quan mật thiết với
rất nhiều bài học thất bại
Trong các yếu tố tự nhiên uy hiếp đến an toàn của công trình thủy lợi thì yếu tố chủ
yếu nhất là điều kiện thủy văn, thủy lực và địa chất Theo thống kê, trong các nguyên nhân gây ra các vụ vỡ đập trọng lực, vấn đề địa chất nền móng chiếm 45%, nước lũ tràn đỉnh đập chiếm 35% các yếu tố về thủy lực và nhân tạo chiểm 20%; trong các nguyên nhân gây ra các vụ vỡ đập, nước lũ tràn đỉnh đập chiếm 30%, thấm lậu chiếm 25%, trượt mái chiếm 25%, nước rò đường ống chiếm 13%, các yếu tố khác chiếm 7%
1.1.2 Công trình th ủy lợi ở Việt Nam
Trong những thập kỷ qua đặc biệt sau ngày thống nhất đất nước được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ đã đầu tư xây dựng được hệ thống công trình thuỷ lợi đồ sộ có
6292 hồ chứa nước trong đó có 6080 hồ chứa nước và 212 hồ chứa đê mục tiêu với tổng dung tích 22.453 triệu m3, 9.940 trạm bơm, 1.499 đập dâng [4] Việt Nam là một nước có hệ thống sông ngòi dày đặc Các khu dân cư, thành phố và vùng nông nghiệp thường phát triển dọc theo các vùng ven sông và thường chịu ảnh hưởng từ các yếu tố
lũ và nguy cơ ngập lụt Hệ thống đê dọc theo các nhánh sông là giải pháp phòng chống
lũ đã được ông cha ta sử dụng từ lâu đời, để bảo vệ các vùng dân cư ven sông và toàn
Trang 16hiện nay trên cả nước là một hệ thống công trình quy mô lớn với khoảng 13.200 km
đê, trong đó có khoảng 10.600 km đê sông và gần 2.600km đê biển Các hệ thống đê sông chính với trên 2.500km đê từ cấp III đến cấp đặc biệt còn lại là đê dưới cấp III và
đê chưa được phân cấp Trong đó: Hệ thống đê Bắc bộ và Bắc Trung bộ: dài 5.620km,
có nhiệm vụ bảo vệ chống lũ triệt để, bảo đảm an toàn cho vùng Đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ Hệ thống đê sông, cửa sông khu vực Trung Trung bộ và Nam Trung bộ: có tổng chiều dài 904km Hệ thống đê sông, bờ bao khu vực Đồng bằng sông Cửu Long: có chiều dài 4.075km Để phục vụ phát triển các ngành kinh tế, phát triển nông nghiệp, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai, đào tạo gần trăm nghìn cán bộ làm công tác thuỷ lợi từ Trung ương đến địa phương do vậy góp phần quan trọng đưa Việt nam từ chỗ thiếu lương thực trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới Bộ mặt nông thôn mới không ngừng đổi thay, an ninh lương thực, an toàn trước thiên tai, ổn định xã hội, sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường được cải thiện Tuy nhiên, do tốc độ nhanh của quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá đã khiến cho nhiều hệ thống công trình thuỷ lợi không đáp ứng kịp kể cả về quy mô lẫn sự lạc hậu của nó Trước một thách thức mới của nhân loại là cuộc chiến chống biến đổi khí hậu mà Việt Nam
là một trong 5 nước được đánh giá là ảnh hưởng nặng nề nhất, đòi hỏi cái nhìn toàn diện, một giải pháp tổng thể kể cả trước mắt và lâu dài Báo cáo đề cập đến hiện trạng
hệ thống công trình thuỷ lợi, những thách thức và đề xuất các giải pháp phát triển thuỷ lợi Việt Nam trong điều kiện mới [5]
1.1.2.1 Hiện trạng phát triển thuỷ lợi ở Việt Nam [6,7]
Trong khoảng 10 năm trở lại đây (2005 - 2015), với vốn Trái phiếu Chính phủ, ODA nhiều HTCTTL lớn đã được đầu tư, xây dựng nhằm sử dụng đa mục tiêu: Mở rộng diện tích tưới tiêu, nâng cao mức đảm bảo phòng chống lũ, tạo nguồn nước cho các đô thị, khu công nghiệp… Ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ, đầu tư nhiều HTCTTL lớn phục vụ
đa mục tiêu, như các hệ thống công trình Cửa Đạt, Ngàn Trươi - Cẩm Trang, Bản Mồng, Tả Trạch, cống Đò Điểm, cải tạo hệ thống cấp nước sông Tích, nâng cấp các hệ thống thủy lợi Bắc Nam Hà, Bắc Hưng Hải, Bắc Nghệ An, Bắc Đuống, Nam Thái bình, hệ thống công trình sông Đáy… Đầu tư xây dựng nhiều trạm bơm tiêu lớn, một
số công trình tiêu biểu như: Hệ thống công trình đầu mối thủy lợi Cửa Đạt có chiều cao 119m được thiết kế, thi công theo công nghệ đập đá đổ bê tông bản mặt, hồ có
Trang 17dung tích 1,45 tỷ m3 với nhiệm vụ giảm lũ cho hạ du, tưới 87.000 ha, tạo nguồn nước sinh hoạt cho 2,5 triệu dân, cấp nước với lưu lượng 8 m3/s cho sản xuất công nghiệp, phát điện với công suất lắp máy 97 MW; hồ Tả Trạch phục vụ chống lũ cho Thành phố Huế, cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, tưới, đẩy mặn, cải thiện môi trường, nuôi trồng thủy sản, phát điện
Hình 1.3 Toàn cảnh Hồ chứa nước Văn Phong - Bình Định
Vùng Nam Trung bộ và Tây nguyên đã đầu tư xây dựng nhiều hệ thống công trình có quy mô lớn như: Các công trình hồ Nước Trong, Định Bình - Vân Phong, Ia Mlá, Ia Mơr, Krông Pách Thượng, Ea Súp… Từ năm 2008 trở lại đây, đã xây dựng thêm 40 công trình thủy lợi, nâng diện tích tưới thiết kế lên hơn 287.030 ha, góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Công trình hồ Định Bình được thi công bằng công nghệ bê tông trọng lực đầm lăn đầu tiên ở Việt Nam, có nhiệm vụ chống lũ, cấp nước cho nông nghiệp, công nghiệp, dân sinh, nuôi trồng thủy sản, bảo vệ môi trường, phát điện và kết hợp du lịch
Ở Nam bộ, vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều công trình có quy mô lớn đã được xây dựng: hệ thống công trình thủy lợi Dầu Tiếng - Phước Hòa (mở rộng HTTL Dầu Tiếng), hệ thống công trình sông Ray (Bà Rịa - Vũng Tàu), ở Đồng bằng sông Cửu
Trang 18Tiếp, hệ thống Phước Hoà, đê Bờ Hữu sông Sài Gòn, kênh Hà Giang, kênh Phước Xuyên - Hai Tám, kênh nối sông Tiền - sông Hậu… và đang khẩn trương triển khai dự
án chống ngập úng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh - là một hệ thống công trình lớn, phức tạp chưa từng được xây dựng ở nước ta
Hình 1.4 Hồ Dầu tiếng thuộc hệ thống CTTL Dầu tiếng
Để bảo đảm an toàn và nâng cao hiệu quả khai thác các hồ chứa, năm 2003 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình bảo đảm an toàn hồ chứa nước Đến nay, cả nước đã đầu tư gần 12.000 tỷ đồng để sửa chữa 633 hồ chứa các loại, trong đó tập trung chủ yếu để sửa chữa các hồ chứa lớn như Cấm Sơn, Kẻ Gỗ, Phú Ninh, Yên Lập, Vực Mấu,
Qua 70 năm xây dựng và phát triển, đến nay hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để quản lý ngành thủy lợi dần được hoàn chỉnh với việc ban hành Luật Tài nguyên nước, Luật Đê điều, Luật Phòng chống thiên tai, Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi; hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện Hiện Chính phủ đang triển khai xây dựng Luật Thủy lợi
Trang 19Hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về thủy lợi, phòng, chống thiên tai từ Trung ương đến địa phương không ngừng được hoàn thiện, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước Ở Trung ương, đã thành lập Tổng cục Thủy lợi trực thuộc Bộ Nông nghiệp
và PTNT, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai Ở cấp tỉnh, có 62/63 tỉnh, thành phố thành lập Chi cục Thuỷ lợi (hoặc Chi cục Thủy lợi và Phòng chống lụt bão), thành lập Phòng Nông nghiệp và PTNT hoặc Phòng Kinh tế ở cấp huyện Bộ máy phòng chống thiên tai có Ban chỉ huy phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn
ở các cấp tỉnh, huyện, xã Nhìn chung, các cơ quan quản lý nhà nước về thủy lợi đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao
Tổ chức quản lý công trình thuỷ lợi: Cả nước hiện có 96 tổ chức quản lý khai thác CTTL là doanh nghiệp trực thuộc cấp tỉnh, 3 doanh nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp
và PTNT Về quản lý các CTTL nhỏ và hệ thống kênh mương nội đồng, cả nước có 16.238 tổ chức dùng nước, bao gồm các loại hình Hợp tác xã, Tổ chức hợp tác và Ban quản lý thủy nông Công tác quản lý khai thác CTTL đang từng bước đi vào nền nếp, phục vụ tốt sản xuất, dân sinh; tại một số địa phương đã chủ động đổi mới mô hình tổ chức và cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả các CTTL, như: Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Nội, Thanh Hoá, Ninh Thuận, Bình Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Tiền Giang…
Từ chỗ, cả nước chỉ có 13 hệ thống thủy lợi năm 1945, đến nay cả nước đã xây dựng được hàng ngàn HTCTTL với 6.886 hồ chứa nước, 10.000 trạm bơm điện lớn, 5.500
cống tưới, tiêu lớn, 234.000 km kênh mương, 25.960 km đê và bờ bao các loại Thủy lợi đã góp phần quan trọng để tăng diện tích gieo trồng, tăng thời vụ, cải tạo đất, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu
Các hệ thống thủy lợi đã đảm bảo tưới cho 7,3 triệu ha đất gieo trồng lúa, 1,5 triệu ha rau màu, cây công nghiệp, cấp khoảng 6 tỷ m3 nước phục vụ sinh hoạt và công nghiệp, ngăn mặn cho 0,87 triệu ha, cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha, tiêu cho 1,72 triệu
ha đất nông nghiệp
Hệ thống thủy lợi đã góp phần quan trọng trong phòng chống lũ, chống úng, ngập cho vực đô thị và nông thôn, chống hạn, xâm nhập mặn Hệ thống các hồ chứa trên
Trang 20toàn quốc, trong đó có nhiều hồ chứa lớn (Cửa Đạt, Tả Trạch, Dầu Tiếng,…) đóng vai trò quan trọng cho phòng chống lũ các lưu vực sông Hệ thống các trục tiêu, các trạm bơm điện quy mô lớn đã được đầu tư, xây dựng đảm bảo chống ngập, úng cho các khu
đô thị, khu công nghiệp, khu dân cư nông thôn Công tác phòng, chống thiên tai đã chuyển từ bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa; đã giảm đáng kể thiệt hại về người; công tác phòng chống thiên tai đã huy động được nhiều nguồn lực; Việt Nam
đã tham gia tích cực hợp tác quốc tế về phòng, chống thiên tai cấp khu vực và thế giới
Hệ thống thủy lợi đã góp phần đảm bảo nguồn nước để cấp nước sinh hoạt cho đô thị, khu công nghiệp Ví dụ Hệ thống Dầu Tiếng - Phước Hòa cấp nước cho 5 tỉnh, thành phố Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Long An và Thành phố Hồ Chí Minh với lưu lượng khoảng 20m3/s Ngoài ra các HTCTTL còn góp phần điều hòa dòng chảy cho các dòng sông, ổn định dòng chảy mùa kiệt, bảo vệ môi trường nước, phát triển dịch
vụ, du lịch
Cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn đã góp phần quan trọng để nâng cao sức khoẻ, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân nông thôn Từ kết quả của các Chương trình Mục tiêu Quốc gia Cấp nước và Vệ sinh môi trường nông thôn, tỷ lệ dân cư nông thôn được cấp nước hợp vệ sinh ngày càng tăng, nhất là vùng sâu, vùng
xa, miền núi và vùng đồng bằng sông Cửu Long Đến năm 2014, có 84,5% dân số nông thôn được tiếp cận nước hợp vệ sinh (trong đó có 43% được sử dụng nước sạch đạt Quy chuẩn QCVN 02-BYT); gần 91% các trường học, 93% trạm y tế cấp xã đã có nước sạch và công trình vệ sinh và khoảng 62% hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh Những thành tựu này có được, trước hết là nhờ sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước, sự đóng góp của nhân dân, sự phấn đấu, cống hiến không mệt mỏi của các thế
hệ cán bộ, công nhân viên ngành thủy lợi, Bộ thủy lợi nay là Bộ NN & PTNT, từ ngày thành lập đến nay
Tuy nhiên, cùng với sức ép của gia tăng dân số, phát triển kinh tế trong điều kiện các nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên nước chưa được thực thi đồng bộ, tác động của biến đổi khí hậu và yêu cầu đổi mới của nền nông nghiệp, công tác thủy lợi bộc lộ những hạn chế, tồn tại: Công tác quản lý khai thác công trình có hiệu quả còn thấp, hệ thống công trình chóng xuống cấp; nước trong hệ thống công trình có nguy cơ ô nhiễm
Trang 21ngày càng tăng; lực lượng cán bộ quản lý khai thác ngày càng đông nhưng năng suất lao động không được cải thiện; nhiều hồ đập, kênh mương bị xuống cấp; trong sản xuất nông nghiệp thủy lợi mới chú ý đến cây lúa, còn cây trồng cạn và thủy sản, là lĩnh vực sản xuất có đóng góp giá trị gia tăng cao cho nông nghiệp nhưng chưa được quan tâm đúng mức Trong công tác phòng chống thiên tai còn nặng về chống chọi, chưa quan tâm đến quản lý rủi ro, chưa quan tâm đúng mức tới giai đoạn trước và sau thiên tai Trong giải pháp phòng chống thiên tai còn nặng về giải pháp công trình nhưng còn nhẹ về giải pháp phi công trình Tác động của biến đổi khí hậu cùng với những tác động trong quá trình phát triển cả ở thượng nguồn và vùng hạ lưu các lưu vực sông, hiện chậm được nghiên cứu dự báo và chậm đề xuất định hướng cho phát triển lâu dài; biến đổi khí hậu với sự cực đoan về thời tiết, khí hậu, nước biển dâng đặt ra nhiều nhiệm vụ cấp thiết cho công tác thủy lợi và phòng chống thiên tai Diễn biến hạ thấp lòng dẫn, sạt lở bờ sông, cửa sông, ven biển đang là vấn đề bức xúc, tiêu tốn nguồn lực quốc gia Vấn đề phát triển bền vững HTCTTL, nước sạch nông thôn đòi hỏi sự tham gia của khu vực tư nhân, của cộng đồng và hộ gia đình nhưng chưa có chính sách thực
sự tạo động lực… Cơ sở hạ tầng thủy lợi mặc dù đã có bước phát triển vượt bậc, nhưng còn thiếu đồng bộ Tổ chức, bộ máy đặc biệt là năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác thủy lợi còn có bộ phận chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý nhà nước cũng như công tác quản lý khai thác CTTL Khoa học công nghệ còn chưa chuyên nghiệp, chưa có động lực để giải quyết bức xúc của thực tế Các hoạt động dịch vụ nước còn mang tính bao cấp, chưa tạo được hoạt động theo hướng kinh tế thị trường, do vậy hạn chế sự tham gia và phát huy tính chủ động, sáng tạo của khu vực doanh nghiệp tư nhân, cộng đồng và nhân dân tham gia
1.1.3 Công trình th ủy lợi tỉnh Ninh Bình [8]
Tổng số 486 trạm bơm điện
Trang 22B ảng 1.1 Bảng tổng hợp trạm bơm điện địa bàn tỉnh Ninh Bỡnh
Số máy bơm (cái)
Loai máy bơm ( m3/h )
Tổng lưu lượng (m3/h)
Tổng công suất (kw)
8000
3500 -
4000
2400 -
2500
1000 -
* Trạm bơm Cụng ty TNHH-MTV- KTCTTL tỉnh quản lý:
- Trạm bơm chuyờn tiờu: 216 mỏy/38 trạm; lưu lượng là 810.100 m3/h; cụng suất là 16.274 KW
- Trạm bơm tưới tiờu kết hợp: 292 mỏy/63 trạm; lưu lượng là 531.400 m3/h; cụng suất
là 11.814 KW
- Trạm bơm chuyờn tưới: 132 mỏy/42 trạm; lưu lượng là 203.690 m3/h; cụng suất là 4.927 KW
* Trạm bơm HTX Nụng nghiệp quản lý:
- Trạm bơm chuyờn tiờu: 30 mỏy/23 trạm; lưu lượng là 42.200 m3/h; cụng suất là 915
Trang 23Tổng số cống dưới đê là 544 cống; Trong đó Công ty TNHHMTVKTCTTL tỉnh quản
lý là 211 cống và HTXNN quản lý là 333 cống
Âu thuyền: Có 5 Âu
- Âu Lê (Gia Viễn): Cầu thang lan can thượng lưu mọt hỏng (Phía sông), Hộp số bánh răng tời thượng lưu kêu, 02 đồng hồ vôn hỏng, thước đo mực nước gãy hỏng, dây cáp điện vận hành tời cách điện kém; Nhà để con toán lún sụt
- Âu Chanh ( Hoa Lư ): Hoạt động bình thường
- Âu Sông Vân (TP Ninh Bình): Máy thủy lực hạ lưu phần trục thủy lực bị cong, doăng phớt bị mục hỏng; Máy thủy lực thượng lưu phần trục thủy lực bị gãy mối hàn; Doăng cửa cánh âu (Ф45) bị mục, đứt từng đoạn; Hàng rào sắt, lưới phía đông bờ âu
bị han gỉ; 04 bộ cửa gỗ nhà chứa phai đã hỏng
- Âu Cầu Hội (Yên Mô): Gỗ đệm cánh âu ải mục 4 thanh; Đập cao su nứt, thủng; Hệ
thống điều khiển đóng mở tự động hỏng; Hệ thống cẩu trục han gỉ nhiều
- Âu Sông Mới (Yên Khánh): Nổ cáp cánh dưới âu thượng; Mái đá hai bên âu bị tróc
lở; Tường hướng dòng, mái kè đỉnh cống âu hạ đổ vỡ, tróc lở mạch; Đứt nổ cáp tải
cống lấy nước
Hồ chứa nước:
Tổng số hồ chứa nước: Gồm có 45 hồ
Hồ có dung tích từ 1 triệu m3 nước trở lên là 09 hồ và dung tích dưới 1 triệu m3 nước
là 36 hồ, trong đó Công ty TNHHMTVKTCTTL quản lý là 7 hồ, còn lại 38 hồ do các HTXNN và đơn vị khác quản lý
Hệ thống kênh chính:
- Kênh chính và kênh cấp I do Công ty TNHHMTVKTCTTL tỉnh quản lý: Tổng số là
277 tuyến kênh với tổng chiều dài là 658,43 km
1.2 Các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng công trình thủy lợi hiện nay
Trang 24- Trên cả nước có 45 Ban quản lý dự án thủy lợi [9] trong đó có Ban quản lý Trung ương dự án Thủy lợi (CPO) và 10 Ban quản lý dự án thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý dự án từ Bắc vào Nam gồm Ban quản lý đầu tư và xây dựng
thủy lợi 1, , Ban quản lý đầu tư và xây dựng thủy lợi 10, còn lại là các ban quản lý
trực thuộc các tỉnh thành trong cả nước
1.2.1 Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực [12]
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Chủ tịch Hội đồng quản trị tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước quyết định thành lập Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực (sau đây gọi là Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực) để thực hiện chức năng chủ đầu tư và nhiệm vụ quản lý đồng thời nhiều dự
án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, vốn nhà nước ngoài ngân sách
- Hình thức Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực được áp
dụng đối với các trường hợp:
+ Quản lý các dự án được thực hiện trong cùng một khu vực hành chính hoặc trên cùng một hướng tuyến;
+ Quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc cùng một chuyên ngành;
+ Quản lý các dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay của cùng một nhà tài trợ có yêu cầu
phải quản lý thống nhất về nguồn vốn sử dụng
- Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thành lập là
tổ chức sự nghiệp công lập; do người đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp nhà nước thành lập là tổ chức thành viên của doanh nghiệp
Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực có tư cách pháp nhân đầy
đủ, được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và ngân hàng thương mại theo quy định; thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ đầu tư và trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện các dự án được giao; chịu trách nhiệm
Trang 25trước pháp luật và người quyết định đầu tư về các hoạt động của mình; quản lý vận hành, khai thác sử dụng công trình hoàn thành khi được người quyết định đầu tư giao
- Căn cứ số lượng dự án cần quản lý, yêu cầu nhiệm vụ quản lý và điều kiện thực hiện
cụ thể thì cơ cấu tổ chức của Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu
vực có thể được sắp xếp theo trình tự quản lý đầu tư xây dựng của dự án hoặc theo
từng dự án
- Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực được thực hiện tư vấn
quản lý dự án cho các dự án khác trên cơ sở bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ quản lý dự
án được giao, có đủ điều kiện về năng lực thực hiện
1.2.2 Tổ chức và hoạt động của Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự
án khu vực [12]
- Người quyết định thành lập Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu
vực quyết định về số lượng, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động của các Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực, cụ thể như sau:
+ Đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ: Các Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản
lý dự án khu vực được thành lập phù hợp với các chuyên ngành thuộc lĩnh vực quản lý
hoặc theo yêu cầu về xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng tại các vùng, khu vực Việc tổ
chức các Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực trực thuộc Bộ
Quốc phòng, Bộ Công an do Bộ trưởng các Bộ này xem xét, quyết định để phù hợp
với yêu cầu đặc thù trong quản lý ngành, lĩnh vực;
+ Đối với cấp tỉnh: Các Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực
do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập gồm Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn Riêng đối với các thành phố trực thuộc Trung ương có thể có thêm Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đô thị và khu công nghiệp, Ban quản lý dự
án phát triển đô thị
Trang 26Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm quản lý đối với Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực do mình thành lập
+ Đối với cấp huyện: Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc thực hiện vai trò
chủ đầu tư và quản lý các dự án do Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định đầu tư xây
dựng;
+ Đối với dự án do Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định đầu tư thì Ủy ban nhân dân
cấp xã thực hiện vai trò của chủ đầu tư đồng thời ký kết hợp đồng với Ban quản lý dự
án đầu tư xây dựng của cấp huyện hoặc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng quy định
tại Khoản 5 Điều 17 Nghị định này để thực hiện quản lý dự án;
+ Đối với tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước: Các Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực được thành lập phù hợp với ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh chính hoặc theo các địa bàn, khu vực đã được xác định là trọng điểm đầu
- Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực được tổ chức phù hợp
với chức năng, nhiệm vụ được giao, số lượng, quy mô các dự án cần phải quản lý và
gồm các bộ phận chủ yếu sau:
+ Ban giám đốc, các giám đốc quản lý dự án và các bộ phận trực thuộc để giúp Ban
quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực thực hiện chức năng làm chủ đầu tư và chức năng quản lý dự án;
+ Giám đốc quản lý dự án của các Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định tại Điều 54 Nghị định này; cá nhân đảm nhận các chức danh thuộc các phòng, ban điều hành dự án phải có chuyên môn đào tạo và có chứng chỉ hành nghề phù hợp với công việc do mình đảm nhận
- Quy chế hoạt động của Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực
do người quyết định thành lập phê duyệt, trong đó phải quy định rõ về các quyền, trách nhiệm giữa bộ phận thực hiện chức năng chủ đầu tư và bộ phận thực hiện nghiệp vụ
quản lý dự án phù hợp với quy định của Luật Xây dựng năm 2014 và pháp luật có liên quan
Trang 27- Bộ Xây dựng hướng dẫn chi tiết quy chế hoạt động của Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực
1.3 Hiện trạng về chất lượng công trình thuỷ lợi hiện nay và vai trò ảnh hưởng của Ban quản lý dự án đến chất lượng công trình xây dựng
1.3.1 Hiện trạng về chất lượng công trình thuỷ lợi hiện nay[14]
Hiện nay các công trình thủy lợi đang được đầu tư và phát triển đạt được thành tựu đáng kể Các hệ thống thủy lợi đã phát huy hiệu quả phục vụ dân sinh, kinh tế nhưng trong quá trình quản lý vẫn còn một số tồn tại:
- Đầu tư xây dựng không đồng bộ từ đầu mối đến kênh mương nội đồng
- Năng lực phục vụ của các hệ thống đạt bình quân 60% so với năng lực thiết kế Hiệu
quả phục vụ chưa cao, chất lượng việc cấp thoát nước chưa chủ động và chưa đáp ứng được so với yêu cầu của sản xuất và đời sống
- Nhiều cơ chế, chính sách quản lý khai thác hệ thống thủy lợi còn bất cập, không đồng
bộ, nhất là cơ chế chính sách về tổ chức quản lý,cơ chế tài chính
- Tổ chức quản lý các hệ thống chưa đồng bộ và cụ thể, đặc biệt quản lý các hệ thống
thủy lợi nhỏ Việc phân cấp tổ chức, quản lý ở nhiều địa phương còn chưa rõ ràng
Để ổn định và phát triển dân sinh kinh tế, trong những thập kỷ qua công tác phát triển thuỷ lợi đã được quan tâm đầu tư ngày càng cao Phát triển thuỷ lợi đã nhằm mục tiêu
bảo vệ, khai thác và sử dụng tổng hợp nguồn nước nhằm bảo vệ dân sinh, sản xuất và đáp ứng nhu cầu nước cho phát triển tất cả các ngành kinh tế xã hội Sự nghiệp phát triển thuỷ lợi đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần vô cùng quan trọng cho sự phát triển của mọi ngành kinh tế - xã hội trong thời gian qua và nhất là trong thời kỳ đổi mới của đất nước, đặc biệt là phát triển sản xuất lương thực
Về Tưới tiêu, cấp thoát nước : Đến nay cả nước có 75 hệ thống thủy lợi lớn, 800 hồ đập loại lớn và vừa, hơn 3.500 hồ có dung tích trên 1 triệu m3 nước và đập cao trên
10 m, hơn 5.000 cống tưới- tiêu lớn, trên 10.000 trạm bơm lớn và vừa với tổng công
suất bơm 24,8 triệu m3/h, hàng vạn công trình thủy lợi vừa và nhỏ Các hệ thống có
Trang 28tiêu cho 1,4 triệu ha, ngăn mặn cho 0,87 triệu ha và cải tạo chua phèn cho 1,6 triệu ha đất canh tác nông nghiệp Diện tích lúa, rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày được tưới không ngừng tăng lên qua từng thời kì
Trong thời gian vừa qua, ở Việt Nam đã xảy ra một số sự cố đập gây ảnh hưởng lớn đến đời sống dân sinh của người dân, được thông tin truyền thông đưa tin:
Hình 1.5 Vỡ đập chắn thủy điện Dakrong III [1]
Nguyên nhân vỡ đập ban đầu được xác định do ảnh hưởng của đợt mưa lớn kéo dài trong những ngày đầu tháng 10/2012 Lượng nước lớn đổ về do vỡ đập đã cuốn trôi hàng chục tấn sắn mới thu hoạch của hơn 15 hộ dân ở 2 xã Tà Long và Đakrông, gây thiệt hại lớn cho bà con
Trong thi công, nhà thầu không thực hiện đúng các quy trình quy phạm kỹ thuật đã
dẫn đến sự cố công trình xây dựng [18]:
- Không kiểm tra chất lượng, quy cách vật liệu trước khi thi công
Trang 29- Không thực hiện đúng trình tự các bước thi công
- Vi phạm các quy định về tổ chức, quản lý, kỹ thuật thi công
Cụ thể:
- Khối lượng và chất lượng vật liệu:
Vi phạm phổ biến của các nhà thầu là hạ cấp chất lượng vật liệu Đặc biệt, việc hạ cấp
chất lượng vật liệu thực sự là khó kiểm soát khi không có các mô hình giám sát quản
lý chất lượng hiệu quả
Trong cuộc đấu thầu gần đây có nhiều công trình có giá trúng thầu rất thấp so với giá
dự toán được duyệt Thậm chí có những nhà thầu bỏ thầu thấp hơn rất nhiều so với chi phí cần thiết Do không có giám định về giá cả vật liệu nên các nhà thầu có thể đưa ra các chỉ tiêu chất lượng cao và giá thấp để trúng thầu Song khi thực hiện thi công xây
lắp các nhà thầu đã giảm mức chất lượng, chủng loại, xuất xứ, đưa các thiết bị, vật
liệu chất lượng kém vào trong công trình và tìm cách bớt xén các nguyên vật liệu để
bù chi phí và có một phần lợi nhuận
- Chất lượng biện pháp thi công:
Trong hồ sơ đấu thầu xây lắp, hầu hết các nhà thầu đều đưa ra được phần thuyết minh
biện pháp thi công hoàn hảo với một lực lượng lao động hùng hậu, thực tế lại không như vậy Lực lượng công nhân phổ biến ở các công trường hiện nay hầu hết là thợ
“nông nhàn” Việc sử dụng lực lượng lao động này là một điều rất đáng lo ngại, không
những ảnh hưởng tới chất lượng công trình mà còn có nguy cơ để xảy ra tai nạn lao động nhiều nhất (một sự cố xảy ra giữa năm 1998 làm chết 5 người và 11 người bị thương đều là những người thợ xây dựng “ bất đắc dĩ ” đó) Bên cạnh đó, đội ngũ cán
bộ quản lý kỹ thuật cũng được sử dụng không đúng với chuyên môn Nhiều các kỹ sư
vật liệu trẻ mới ra trường không có việc làm lại được thuê làm kỹ thuật giám sát kiểm tra thi công cọc khoan nhồi mà khi hỏi các kỹ sư này không hiểu cọc khoan nhồi là gì? Chính vì sử dụng những lực lượng lao động như vậy đã làm cho công trình không đảm bảo chất lượng
Trang 30Biện pháp thi công không phù hợp luôn chứa đựng yếu tố rủi ro về chất lượng; có khi còn gây ra những sự cố lớn không lường
Hình 1.6 Sập sàn BTCT đang thi công do hệ giàn giáo
do chất lượng thi công kém
Để tránh được những kết quả mập mờ và không có cơ sở khoa học, từ các sự cố trong nước và nước ngoài cho phép rút ra một số bài học từ các sự cố xảy ra trong thời gian qua và có thể phân thành 3 nhóm cơ bản sau:
Nhóm thứ nhất gồm những lỗi và vi phạm các tiêu chuẩn, định mức trong thiết kế và thi công Kinh nghiệm cho thấy rằng, khi mắc những lỗi này thì sự phá hoại một phần
hoặc toàn bộ công trình về nguyên tắc sẽ xảy ra ngay trong giai đoạn thi công Nhiều trường hợp như vậy đã được biết đến trong thực tế
Nhóm thứ hai có thể gồm một loạt nguyên nhân mà sự kết hợp của chúng có thể dẫn
tới sự cố Trước hết đó là những thiếu sót và những lỗi khác nhau trong thiết kế và thi công đã làm giảm mức dự trữ độ bền của các chi tiết kết cấu riêng rẽ Những công trình bị những thiếu sót dạng này cũng chưa đủ gây nên sự cố Để làm giảm đáng kể
chất lượng hoặc gây phá hoại công trình còn phải kể đến những tác động trong quá trình khai thác sử dụng
Trang 31Ví dụ về các tác động theo thời gian và gia tăng trong quá trình khai thác sử dụng như: lún không đều của nền, móng; sự mỏi của kết cấu; sử dụng sai công năng… Việc làm
rõ và đánh giá được những loại sai sót khác nhau và những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng công trình là nhiệm vụ của việc thẩm tra thiết kế, giám sát thi công xây dựng và giám sát quá trình khai thác sử dụng
Nhóm thứ ba là những tác động nguy hiểm từ môi trường địa kỹ thuật và môi trường thiên nhiên mà các kết cấu của công trình không được thiết kế để sẵn sàng tiếp nhận
Một số công trình bị sự cố thời gian qua đó minh chứng một hiện tượng là nguyên nhân khởi nguồn nằm ngoài những gì mà tiêu chuẩn kỹ thuật qui định hoặc tiêu chuẩn
kỹ thuật không qui định Đối với nhiều công trình, chúng ta cần thiết phải nghiên cứu
thực nghiệm trên mô hình để đối chiếu với kết quả tính toán, đồng thời cần giành thời gian, tiềm lực về người và kinh phí để thực hiện nghiên cứu, điều tra thật kỹ lưỡng các điều kiện đặc thù trước khi thiết kế, thi công
Những bài học này được giải thích bởi sự phát triển kỹ thuật và công nghệ, việc nâng cao những yêu cầu đối với khai thác sử dụng công trình không còn phù hợp với yêu
cầu cũ trong hệ thống các qui định kỹ thuật Mặt khác, về chủ quan, con người thực thi các nhiệm vụ mà đặc biệt là người chủ trì vẫn chưa đủ năng lực chuyên môn và kinh nghiệm để hiểu được một cách hệ thống công trình phức tạp có đòi hỏi rất cao về sự an toàn, về sự bền vững tổng thể trong suốt quá trình xây dựng và khai thác Phải chăng chúng ta đang thiếu những Tổng chủ trì thiết kế; Tổng công trình sư, những Kỹ sư trưởng, những Kỹ sư chính thực thụ trên công trường? Nên chăng chúng ta sớm hình thành đội ngũ này một cách chuyên nghiệp
1.3.1.5 Hi ện trạng công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Ninh Bình [8]
Trang 32- Nhà trạm: Hư hỏng là 51 nhà trong đó Công ty TNHHMTV KTCTTL là 46 nhà; HTXNN là 5 nhà hư hỏng ( Nền nhà lún, nứt tường, vì kèo đòn tay mối mọt, mái bằng
thấm, dột, mái ngói tốc mái, dột nát )
- Bể hút: Hư hỏng là 72 bể hút trong đó Công ty TNHHMTV KTCTTL là 66 bể hút và HTXNN là 6 bể hút hư hỏng (Bồi lắng, tường nứt, rò nước, mái đá lốc lở)
- Bể xả: Hư hỏng là 40 bể xả Trong đó Công ty TNHHMTV KTCTTL quản lý là 34
và HTXNNlà 6 bị hư hỏng lún nứt, rò nước
- Cống xả tiêu: Hư hỏng là 23 cống trong đó do Công ty TNHHMTV KTCTTL quản
lý là 22 cống và HTXNN là 01cống (Bị hư hỏng cánh sắt han rỉ thủng nhiều chỗ, dàn van vỡ, yếm cống hỏng, cánh bê tông vỡ mẻ, máy đóng mở)
- Nhà quản lý: Hư hỏng là 36 nhà, trong đó Công ty TNHHMTV KTCTTL là 36 nhà
và HTXNN là 0 nhà quản lý: Hư hỏng mái bằng bê tông ngấm dột, cửa gỗ bị mối mọt, tường, dầm đỡ mái, nứt nẻ mái ngói hư hỏng, cầu phong ly tô mọt, nền nhà trốc lở
Cống dưới đê:
Tổng số cống dưới đê là 544 cống; Trong đó Công ty TNHHMTVKTCTTL tỉnh quản
lý là 211 cống và HTXNN quản lý là 333 cống
- Số cống hoạt động bình thường là 435 cống;
- Số cống hư hỏng từng phần là 109 cống, trong đó Công ty TNHH MTV KTCTTL
tỉnh quản lý là 79 cống; HTXNN quản lý là 30 cống ( Cánh, khung dầm rỉ mọt, than
cống rò, dàn van nổ bê tông, hệ thống đóng mở hỏng, rò mang cống, lốc đáy cống ….)
Âu thuyền: Có 5 Âu
- Âu Lê (Gia Viễn): Cầu thang lan can thượng lưu mọt hỏng (Phía sông), Hộp số bánh răng tời thượng lưu kêu, 02 đồng hồ vôn hỏng, thước đo mực nước gãy hỏng, dây cáp điện vận hành tời cách điện kém; Nhà để con toán lún sụt
- Âu Chanh ( Hoa Lư ): Hoạt động bình thường
Trang 33- Âu Sông Vân (TP Ninh Bình): Máy thủy lực hạ lưu phần trục thủy lực bị cong, doăng phớt bị mục hỏng; Máy thủy lực thượng lưu phần trục thủy lực bị gãy mối hàn; Doăng cửa cánh âu (Ф45) bị mục, đứt từng đoạn; Hàng rào sắt, lưới phía đông bờ âu
bị han gỉ; 04 bộ cửa gỗ nhà chứa phai đã hỏng
- Âu Cầu Hội (Yên Mô): Gỗ đệm cánh âu ải mục 4 thanh; Đập cao su nứt, thủng; Hệ
thống điều khiển đóng mở tự động hỏng; Hệ thống cẩu trục han gỉ nhiều
- Âu Sông Mới (Yên Khánh): Nổ cáp cánh dưới âu thượng; Mái đá hai bên âu bị tróc
lở; Tường hướng dòng, mái kè đỉnh cống âu hạ đổ vỡ, tróc lở mạch; Đứt nổ cáp tải
hỏng; Giằng bờ kênh tưới bị gãy; Nhà quản lý nứt mái
- Hồ Thường Xung: ( Đang thi công )
Tràn bị sói lở, rò nhiều chỗ; 08 bộ cửa sổ nhà quản lý bị mối mọt mục KT (1,4x1,0)m
- Hồ Yên Quang: ( Đang thi công )
- Cửa sổ nhà vận hành bị hỏng
- Phía hạ lưu đập tràn bị sói, sạt lở dài 23m; Cống số 01 bị rò nước
- Hồ 4: Đập tràn bị rò, ngấm; Kênh liên hồ bị đổ dài 28m, nghiêng 30m; Kênh đất N10
bị bồi lắng
Cống: 02 cống trên kênh tiêu Xuân Viên bị han rỉ, mọt lan can
Nhà quản lý: Mái hiên nhà quản lý bị nứt
Trang 34- Hồ Đá Lải: Cống điều tiết bị rò mang, bể tiêu năng bị thấm ngầm; Kênh Làng Lau – 202: Bị lốc lở đáy kênh dài 523m
- Hồ Đập Trời: Thân đập bị ngấm, rò; Kênh bị vỡ, hỏng nhiều chỗ
- Hồ Đồng Chương: ( Do Doanh nghiệp xuân Trường quản lý ):
Cống điều tiết tưới số 01: Bị kẹt cánh; Kênh N1 phía Tây bị bồi lắng 1000m; Kênh N1: Phía Đông bị đổ vỡ tường kênh
- Hồ Yên Thắng:
Hồ 1 và hồ 2 hoạt động bình thường
Hồ 3: Tràn rò nhỏ qua mang và thân tràn
Tràn Tiên Dương: Tràn phụ rò nhỏ qua mang, thân tràn và ngấm đáy
- Hồ Yên Đồng:
Hồ 2: Sạt mái lát đập chính 90m2; Cống Mã Tiên 2 bên mang cống bị sụt lún tấm lát
- Hồ Mang Cá ( HTX quản lý): Sân tràn hỏng nhiều xuống cấp
- Hồ Bống Lỳ ( HTX quản lý): Lòng hồ bị bồi lắng; Sân tràn bị rò rỉ
- Các hồ nhỏ: Có 03 hồ gồm hồ Hoa Vàng, Đồng Liềm, Vườn Điều, (Nho Quan) hồ này đập chính xuống cấp thẩm lậu, cống lấy nước và tràn xuống cấp hư hỏng
1.1 3.Đánh giá chung nguyên nhân gây ra sự cố
- Sự cố đập xảy ra nhiều trên thế giới và ở Việt Nam Hậu quả sự cố gây ra thường rất nghiêm trọng, việc sử lý tốn kém, gây ra tổn thất lớn về tính mạng tài sản của nhân dân
và tài sản quốc gia, có ảnh hưởng xấu đến tính hình xã hội
- Muốn phòng tránh được sự cố ở các công trình thủy lợi nói chung và đập nói riêng cần nắm được đặc điểm công trình và các nguyên nhân gây ra sự cố, mất an toàn công trình để có biện pháp phòng tránh, sử lý kịp thời và thích hợp
Trang 35- Có nhiều nguyên nhân gây ra sự cố đập, phổ biến là do các yếu tố: Tự nhiên; Khảo sát, Thiết kế; Thi công; Quản lý khai thác; Chiến tranh Các yếu tố ảnh hưởng đến an toàn đập: kích thước đập; Tuổi thọ đập; Loại đập; Tác động từ môi trường bên ngoài;
Sự lão hoá Các yếu tố này được xem xét trong các phương pháp đánh giá an toàn đập
ở trên thế giới cũng như việc xem xét tính toán xác xuất, độ rủi ro, vào trong việc xây dựng đập, nâng cao an toàn đập
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng thiết kế, thi công, quản lý an toàn đập.Xây dựng và ban hành Tiêu chuẩn phân loại và cấp công trình thủy điện, thủy lợi để phục vụ công tác quản lý đập Cần phải thiết lập các đơn vị nghiên cứu phương pháp đánh giá mức độ an toàn của các công trình thuỷ lợi để làm
cơ sở cho Nhà nước kịp thời tổ chức biên soạn và ban hành các Quy phạm &Tiêu chuẩn “Về sự an toàn của các công trình thuỷ lợi” như các nước khác đã làm
1.3.2 Vai trò ảnh hưởng của Ban quản lý dự án đến chất lượng công trình xây dựng [11]
Chủ đầu tư thực hiện nhiệm vụ quản lý chất lượng công trình từ giai đoạn chuẩn bị dự án,
thực hiện dự án đến khi bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng đảm bảo tính hiểu
quả, tính khả thi của dự án và tuân thủ các quy định của Pháp luật Ban quản lý dự án thực
hiện nhiệm vụ được giao và quyền hạn được ủy quyền Ban quản lý dự án phải chịu trách nhiệm trước Chủ đầu tư và Pháp luật theo nhiệm vụ được giao và quyền hạn được ủy quyền Vì thế, Ban quản lý dự án trở thành đầu mối giúp Chủ đầu tư quản lý chất lượng dự
án Ban Quản lý dự án tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quản lý dự án theo yêu cầu của Chủ đầu tư
* Ban Quản lý dự án đóng vai trò quan trọng và quyết định trong việc quản lý chất lượng thi công được thể hiện bằng nhiệm vụ, quyền hạn như sau:
Trong việc lựa chọn các nhà thầu tham gia vào quá trình thi công xây dựng là một khâu then chốt và là yếu tố quyết định chất lượng của một dự án:
Nhà thầu thi công xây dựng: Ban Quản lý dự án trình Chủ đầu tư phê duyệt Hồ sơ mời thầu (Hồ sơ yêu cầu) xây lắp Ban Quản lý dự án là đầu mối tiếp nhận, tổ chức thực hiện quá
Trang 36thầu, mở thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu, trình chủ đầu tư phê duyệt kết quả về mặt kỹ thuật,
kết quả đấu thầu, thông báo kết quả đấu thầu tới các nhà thầu tham dự đấu thầu
Nhà thầu tư vấn giám sát, thí nghiệm, kiểm định chất lượng công trình, tư vấn giúp việc đấu
thầu và các công việc tư vấn xây dựng khác: Nếu Ban quản lý dự án có đủ năng lực thì Ban
Quản lý có thể tự thực hiện các công việc trên; Nếu Ban quản lý dự án không đủ năng lực thì Ban Quản lý có thể thuê đơn vị tư vấn giúp việc Thủ tục chọn đơn vị tư vấn là do Ban
Quản lý trình Chủ đầu tư xem xét phê duyệt
Sau khi Chủ đầu tư có Quyết định phê duyệt chỉ định thầu, phê duyệt kết quả đấu thầu các Nhà thầu thực hiện các công việc trên, Ban Quản lý dự án tiến hành soạn thảo, thương thảo, hoàn thiện và ký kết Hợp đồng với các đơn vị trúng chỉ định thầu, trúng thầu
Vì thế để lựa chọn được đơn vị thi công xây dựng đủ năng lực thì đòi hỏi các cán bộ Ban
Quản lý dự án phải có năng lực, kỹ năng quản lý dự án chuyên nghiệp, phải sâu sát trong
vấn đề quản lý dự án
* Trong quá trình giám sát thi công xây dựng công trình
Ban có thể tự thực hiện giám sát công trình hoặc thuê một đơn vị tư vấn giám sát giúp mình
thực hiện công việc giám sát quá trình thi công xây dựng Đơn vị tư vấn giám sát phải có trách nhiệm:
- Giám sát một cách có hệ thống toàn bộ quá trình thi công xây lắp, từ khi khởi công đến khi nghiệm thu, bàn giao
- Phân định nhiệm vụ, quyền hạn của giám sát trưởng, các giám sát viên chuyên trách cho
từng công việc và thông báo công khai tại công trường và đảm bảo việc giám sát được thường xuyên, liên tục
- Lập hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với yêu cầu của dự án
- Kiểm tra các điều kiện khởi công; điều kiện về năng lực các nhà thầu, thiết bị thi công (phù hợp hồ sơ dự thầu), phòng thí nghiệm của nhà thầu hay những cơ sở sản xuất, cung
cấp vật liệu xây dựng (khi cần thiết); kiểm tra chứng chỉ xuất xưởng, chứng chỉ chất lượng thiết bị công trình
Trang 37- Lập đề cương, kế hoạch và biện pháp thực hiện giám sát
- Kiểm tra chất lượng, khối lượng, tiến độ, an toàn, môi trường của công trình, hạng mục công trình
- Tổ chức kiểm định sản phẩm xây dựng khi cần thiết
- Kiểm tra và xác nhận bản vẽ hoàn công
- Giúp Ban Quản lý dự án lập báo cáo thường kỳ về chất lượng công trình xây dựng theo quy định; Dừng thi công, lập biên bản khi nhà thầu vi phạm chất lượng, an toàn, môi trường xây dựng
Khi chất lượng của một công trình thi công xây dựng không đảm bảo thì người đầu tiên
chịu trách nhiệm là Ban quản lý dự án Vậy nên, Ban quản lý dự án được quyền yêu cầu đơn vị tư vấn giám sát, đơn vị thi công, đơn vị thí nghiệm, kiểm định, thực hiện theo hợp đồng, hồ sơ dự thầu, giải trình về chất lượng vật liệu, thiết bị, công việc
* Công tác nghiệm thu chất lượng công trình
Ban Quản lý dự án kiểm tra và xác nhận bản vẽ hoàn công; Tập hợp, kiểm tra và trình đơn
vị quản lý Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng kiểm tra hồ sơ, tài liệu nghiệm thu, trước khi tổ chức nghiệm thu (giai đoạn, chạy thử, hoàn thành); Lập báo cáo thường kỳ về
chất lượng công trình xây dựng theo quy định;
Khi thấy chất lượng thi công xây dựng công trình không đảm bảo thì Ban quản lý dự án có quyền từ chối nghiệm thu các sản phẩm không đảm bảo chất lượng
Kết luận chương 1
Trong chương 1 tác giả giới thiệu tổng quan về chất lượng và công tác quản lý chất lượng thi công các công trình thủy Ở nước công tác quản lý chất lượng chưa được quan tâm nhiều nên các công trình xây dựng xong xuống cấp nhanh, tình trạng chất lượng đáng lo ngại của các công trình nói chung, công trình thủy lợi nói riêng
Ở chương 2, tác giả sẽ đưa ra các cơ sở pháp lý về quản lý chất lượng thi công công trình
ủy lợi Từ đó đưa ra kế hoạch, nội dung công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi
Trang 38CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÔNG TRÌNH
2.1 Cơ sở pháp lý về công tác quản lý chất lượng công trình thủy lợi
2.1.1 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014
Luật xây dựng 2014 gồm 10 chương, 168 điều, đây là Bộ Luật quan trọng về lĩnh vực hoạt động đầu tư xây dựng với những đổi mới căn bản, có tính đột phá nhằm phân định quản lý các dự án đầu tư xây dựng sử dụng các nguồn vốn khác nhau thì có phương thức, nội dung và phạm vi quản lý khác nhau
Phạm vi điều chỉnh của Luật Xây dựng năm 2014 đã điều chỉnh toàn diện các hoạt động đầu tư xây dựng từ khâu quy hoạch xây dựng, lập báo cáo tiền khả thi, báo cáo khả thi, lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cho đến khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, nghiệm thu, bàn giao, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng, áp dụng đối với các
dự án đầu tư xây dựng thuộc mọi nguồn vốn
Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam
Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó
2.1.2 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng
Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng thay thế Nghị định số 114/2010/NĐ-CP ngày 06 tháng 12 năm 2010 của Chính phủ về bảo trì công trình xây dựng và Nghị định số 15/2013/NĐ-
CP ngày 06 tháng 02 năm 2013 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng trừ các nội dung liên quan đến thẩm tra thiết kế của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng
Nghị định này được áp dụng từ ngày 01/7/2015 và là căn cứ thực hiện các nội dung về quản lỹ chất lượng công trình xây dựng trên toàn quốc
Nghị định gồm 8 chương, 57 điều và 02 Phụ lục gồm:
Trang 39bổ sung các nội dung còn hạn chế, các quy định mới cần quản lý nhưng chưa được thể hiện trong Nghị định 15/2013/NĐ-CP, đưa một số nội dung quy định trong các Thông tư hướng dẫn Nghị định 15/2013/NĐ-CP đã đi vào cuộc sống và vận hành tốt để giảm các nội dung hướng dẫn trong các Thông tư, nhằm tăng cường tính ổn định của hệ thống pháp luật
Từ các nội dung nêu trên, Nghị định được soạn thảo theo trình tự công việc từ giai đoạn khảo sát, thiết kế, thi công đến bảo trì công trình xây dựng Quy định trách nhiệm của từng chủ thể tham gia hoạt động xây dựng công trình trong từng giai đoạn Sự thay đổi của Nghị định này phù hợp hơn với thực tế và giúp các chủ thể năm bắt ngay các quy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng trong toàn bộ quá trình hoạt động đầu tư xây dựng
2.1.2.1 Căn cứ Nghị định này thì việc quản lý chất lượng công trình xây dựng phải tuân thủ theo 06 nguyên tắc cơ bản sau
- Công trình xây dựng phải được kiểm soát chất lượng theo quy định của Nghị định này
và pháp luật có liên quan từ chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng đến quản lý, sử dụng công trình nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài sản, thiết bị, công trình và các công
Trang 40- Hạng mục công trình, công trình xây dựng hoàn thành chỉ được phép đưa vào khai thác, sử dụng sau khi được nghiệm thu bảo đảm yêu cầu của thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật cho công trình, các yêu cầu của hợp đồng xây dựng
và quy định của pháp luật có liên quan
- Nhà thầu khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định, phải có biện pháp tự quản lý chất lượng các công việc xây dựng do mình thực hiện, Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm quản lý chất lượng công việc do nhà thầu phụ thực hiện
- Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng công trình phù hợp với hình thức đầu tư, hình thức quản lý dự án, hình thức giao thầu, quy mô và nguồn vốn đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình theo quy định của Nghị định này Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện các hoạt động xây dựng nếu đủ điều kiện năng lực theo quy định của pháp luật
- Cơ quan chuyên môn về xây dựng hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý chất lượng của các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình; thẩm định thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng, tổ chức thực hiện giám định chất lượng công trình xây dựng; kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật
- Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng trên chịu trách nhiệm về chất lượng các công việc do mình thực hiện
2.1.2.2 So với những quy định cũ trước đây, Nghị định 46/2015/NĐ-CP có một số điều sửa đổi bổ sung chính như sau
- Trong việc phân loại và phân cấp công trình xây dựng, so với Nghị định 15 thì có bổ sung thêm loại công trình “Công trình quốc phòng, an ninh” (Khoản 1 Điều 8);
- Về trình tự quản lý chất lượng khảo sát xây dựng được rút gọn gồm 04 bước (Nghị định 15/2013/NĐ-CP quy định 07 bước), bao gồm:
+ Lập và phê duyệt nhiệm vụ khảo sát xây dựng
+ Lập và phê duyệt phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng