Đối với ngành sư phạm mỗi giáo viên cần trang bị cho mình vốnngoại ngữ chuyên ngành để có thể tham khảo tài liệu nước ngoài một cáchthuận tiện và khả năng sử dụng các phần mềm thiết kế b
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
CHƯƠNG TRÌNH PHỔ THÔNG MỚI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hóa hữu cơ
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
CHƯƠNG TRÌNH PHỔ THÔNG MỚI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hóa hữu cơ
Người hướng dẫn khoa học
TS Chu Anh Vân
HÀ NỘI - 2019
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Hóa đã truyền đạtcho tôi những kiến thức và kĩ năng của một giáo viên rất bổ ích trong suốtquá trình học tập tại trường.
Tôi cũng xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn ở bên động viêntinh thần để tôi học tập tốt và hoàn thành khóa luận của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Nguyễn Thị Hằng
Trang 4BẢNG KÍ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Tên đầy đủ
1 CTCT Công thức cấu tạo
Trang 5DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Mô tả bài giảng Elearning 22
Hình 1.2 Giao diện phần mềm Adobe Presenter 24
Hình 1.3 Giao diện phần mềm iSpring Presenter 24
Hình 1.4 Giao diện phần mềm iSpring Suit 9 25
Hình 2.1 Sơ đồ tư duy về Danh pháp hóa học 26
Hình 2.2 Sơ đồ tư duy Danh pháp hợp chất vô cơ và phức chất 26
Hình 2.3 Sơ đồ tư duy Danh pháp hợp chất hữu cơ 27
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Lịch sử thay đổi danh pháp ở Việt Nam 3
1.1.1 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5529:2010 7
1.1.2 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5530:2010 9
1.2 Nguyên tắc sử dụng thuật ngữ hóa học và danh pháp trong chương trình mới của môn Hóa học 22
1.3 Bài giảng Elearning 22
1.3.1 Đặc điểm 23
1.3.2 Lợi ích của bài giảng Elearning 23
1.3.3 Phần mềm tạo xây dựng bài giảng Elearning 24
1.3.3.1 Adobe Presenter 24
1.3.3.2 iSpring Presenter 24
1.3.3.3 iSpring Suit 9 25
CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM 26
2.1 Hệ thống danh pháp IUPAC của các chất thường gặp trong chương trình phổ thông 26
2.2 Thiết kế bài giảng Elearning bằng phần mềm iSpring Suite 9 28
2.2.1 Thiết kế nội dung bài giảng 28
2.2.2 Ghi âm lời giảng 30
2.2.3 Quay video và ghi âm lời giảng 31
2.2.4 Xuất bản 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Bài giảng Elearning về danh pháp hợp chất hóa học 33
3.1.1 Những lưu ý khi xây dựng bài giảng Elearning bằng Powerpoint và phần mềm iSpring Suite 9 33
3.1.2 Những tiện ích khi sử dụng bài giảng Elearning 34
3.2 Bài giảng Elearning trong việc phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ Hóa học 35
Trang 7KẾT LUẬN 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHỤ LỤC
Trang 81 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 9Qúa trình toàn cầu hóa và sự giao lưu Quốc tế ngày càng mạnh mẽ, đòihỏi mỗi người phải tự trang bị cho mình một số công cụ hỗ trợ thiết yếu đểtránh bị lạc hậu về kiến thức Trong số đó khả năng sử dụng ngoại ngữ đặcbiệt là tiếng Anh và công nghệ thông tin có vai trò vô cùng quan trọng trongviệc nâng cao vốn kiến thức cho bản thân – dù cá nhân hoạt động ở bất kỳlĩnh vực nào Đối với ngành sư phạm mỗi giáo viên cần trang bị cho mình vốnngoại ngữ chuyên ngành để có thể tham khảo tài liệu nước ngoài một cáchthuận tiện và khả năng sử dụng các phần mềm thiết kế bài giảng phục vụgiảng dạy và nâng cao khả năng tự học của học sinh như: bài giảng Elearning.Đặc biệt đối với các giáo viên Hóa học và học sinh đang phải tiếp cận dần với
dự kến thay đổi của Bộ Giáo dục về việc gọi tên các chất bằng tiếng Anh thìbài giảng Elearning hướng dẫn sử dụng danh pháp IUPAC trong chương trìnhphổ thổ thông mới là vô cùng cần thiết Thông qua bài giảng giáo viên có thểnắm bắt để truyền đạt cho học sinh hay học sinh hoàn toàn có thể tự học đểtích lũy kiến thức cho mình phù hợp với sự đổi mới của Bộ Giáo dục
Trong xu thế hội nhập thế giới, việc sử dụng thuật ngữ để gọi tênnguyên tố và hợp chất bằng tiếng Anh là vô cùng cần thiết Hơn nữa danhpháp của các chất vô cơ, hữu cơ chiếm một phần quan trọng trong chươngtrình Hóa học, hiện tại đang được giảng dạy trong chương trình Hóa học lớp 8đối với các chất vô cơ và lớp 11, 12 đối với các chất hữu cơ Trong chươngtrình phổ thông mới tên các chất vô cơ và hữu cơ sẽ được gọi bằng tiếng Anh
để có sự thống nhất, phù hợp với Quốc tế đồng thời cũng thuận tiện hơn khitham khảo tài liệu Hóa học và các chuyên ngành khác có liên quan của nướcngoài
Ngày 26/12/2018 Bộ Giáo dục ban hành chính thức về chương trìnhgiáo dục phổ thông môn Hóa học, so với chương trình hiện hành thì chươngtrình này có nhiều điểm mới về nội dung và cách thức triển khai Tuy nhiên
có một sự thay đổi khá mạnh trong cách sử dụng thuật ngữ Hóa học đối vớitên của các đơn chất, hợp chất sử dụng tiếng Anh để phù hợp với tính chất
Trang 10quốc tế và hội nhập Sự thay đổi này khiến nhiều giáo viên và học sinh bỡ ngỡ
vì thói quen sử dụng thuật ngữ Việt hóa Chính vì vậy đề tài Thiết kế bài
giảng Elearning hướng dẫn sử dụng danh pháp IUPAC trong chương trình phổ thông mới được xác định như một cẩm nang phong phú cả về kênh hình,
kênh tiếng giúp cho việc dạy - học Hóa học nắm bắt kịp xu thế đổi mới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
+ Mục đích: Thiết kế bài giảng Elearning hướng dẫn sử dụng danh pháp
IUPAC trong chương trình phổ thông mới đối với các chất vô cơ, hữu cơ.+ Nhiệm vụ: Hoàn thiện được danh mục thuật ngữ về chất vô cơ, hữu cơthường gặp trong chương trình hóa học THPT, cung cấp hướng dẫn phát âmdạng chữ và dạng tiếng
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Lịch sử thay đổi danh pháp ở Việt Nam
Ở Việt Nam, Danh pháp IUPAC đã được mọi người sử dụng, tuynhiên chưa có sự nhất quán còn rời rạc, thiếu cập nhập Tình trạng không cómột hệ thống danh pháp thống nhất trong cả nước đã tồn tại hàng chục năm
và dưới áp lực của sự phát triển và hội nhập quốc tế của chính bản thânkhoa học hóa học cũng như của xã hội, ngày càng có khuynh hướng đi đếnlộn xộn, tùy tiện hơn
Các hợp chất hóa học nói chung đều có tên quốc tế mà hiện nay chủyếu là tên do IUPAC đặt theo tên tiếng Anh Ở nước ta, một số nguyên tố
và hóa chất cũng đã được đặt theo tên Việt hoặc Hán – Việt, VD: vàng, bạc,đồng,… Nhưng số lượng các hóa chất như vậy cũng không thể có nhiều.Chính vì vậy, việc gọi tên mà chủ yếu là phiên chuyển hoặc phiên âm từtiếng nước ngoài, các đơn chất và hợp chất hóa học ngay từ thời kỳ ngànhhóa học mới manh nha là mối quan tâm rất lớn Bên cạnh đó có tên gọi củacác chất từ tiếng nước ngoài cần chuyển đổi ra tiếng Việt hoặc ít nhất bằngcách nào đó phải được Việt hóa Áp lực đối với việc làm này ngày càng lớnbởi đây là nhu cầu thiết thực của sự vận hành hàng ngày của một xã hội trêncon đường phát triển Nếu toàn xã hội không làm được thì từng cá thể cũngphải có cách xử lý mà mình cho là thích hợp nhất Do đó xảy ra sự tự phát,không nhất quán, tùy tiện, Do vậy sự thay đổi, phiên chuyển tên các chấtdiễn ra hết sức chậm chạp
Đầu thập kỷ 40 của thế kỷ trước, GS Hoàng Xuân Hãn đã choxuất bản cuốn “Danh từ Khoa học” [1], trong đó có phần dành cho hóa họcgồm cách gọi tên nguyên tố, các hóa chất, đặt tên cho các khái niệm, hiệntượng và quá trình chuyển hóa hóa học Đây là một công trình khoa học hếtsức có ý nghĩa, góp phần quan trọng trong việc giảng dạy và truyền bá, phổbiến các kiến thức hóa học (bằng tiếng Việt) ở nước ta, đồng thời mở đườngcho các thế hệ đi sau tiếp tục xây dựng hệ thống thuật ngữ hóa học ViệtNam trong bối cảnh ngày càng tăng cường giao lưu và hội nhập thế giới.Sau GS Hoàng Xuân Hãn, việc biên soạn được tiếp nối bởi nhiều nhà hóa
Trang 12học mà tiêu biểu là GS Nguyễn Thạc Cát (ở miền Bắc) và GS Lê VănThới (ở miền Nam) Từ giữa thập kỷ 60 khái niệm “danh từ hóa học” đượcphân ra một cách quy ước thành hai nhóm, trong đó phần danh pháp hóahọc được hiểu là quy tắc phiên chuyển các từ ngữ hóa học (phần lớn là têncác nguyên tố và các hợp chất hóa học) từ các ngôn ngữ quốc tế thành tênđược Việt hóa và các quy định diễn giải cấu tạo và tên gọi hợp chất hóahọc Đó cũng là thời kỳ mà ở cả hai miền Nam, Bắc việc xây dựng hệ thốngdanh pháp tương đối khẩn trương, tuy nhiên, do cách tiếp cận có phần khácnhau, đã hình thành các phương án khá khác biệt nhau trong các quy tắcphiên chuyển tên hóa chất từ tiếng nước ngoài (danh pháp)
Sau khi nước nhà thống nhất, giới hóa học đã không có một hệ thốngchung về danh pháp Ủy ban Khoa học xã hội đã phối hợp với các cơ quanliên quan tổ chức một số hội thảo, trao đổi ý kiến nhằm đi đến một số quytắc để phiên chuyển các danh từ tiếng nước ngoài, nhưng không đi đếnthành công Vào thập kỷ 80 của thế kỷ trước, Bộ Giáo dục cũng đã tổ chứcmột tiểu ban gồm nhiều nhà khoa học tiêu biểu để bàn thảo về chính tảtiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt (chủ yếu có liên quan đến bộ phận thunhập từ tiếng nước ngoài), trên cơ sở đó Bộ trưởng đã ban hành quyết địnhquy định một số điểm cụ thể về lĩnh vực đó, nhưng quyết định đó cũngkhông được thực thi, kể cả trong ngành giáo dục Và cho đến nay, chúng tavẫn chưa có được những quy tắc chung để mọi người tuân theo khi viết têncác hóa chất Đương nhiên tình trạng này dẫn đến phiên chuyển tùy tiện,tên của một hóa chất được viết dưới dạng nhiều tên khác nhau Thậm chí,
do không có quy tắc nhất quán bắt buộc tuân theo, một tác giả trong mộtcông trình có thể viết tên một hóa chất không giống nhau ở những chỗ khácnhau Hiện tượng các tác giả khác nhau sử dụng các cách phiên chuyển tênhóa chất không giống nhau là hết sức phổ biến và do tình trạng đó kéo dàinhiều năm, sự lẫn lộn các cách phiên chuyển đã được phổ biến ở miền Nam
và miền Bắc trước năm 1975 đã ngày càng được mở rộng, ít ai “tuân thủ”chặt chẽ một quy tắc nào trong khi trình bày một công trình khoa học Sựnhất quán có lẽ chỉ được tuân thủ trong các sách giáo khoa (bậc phổ thông)của cùng một (nhóm) tác giả, mặc dầu vậy, trong các sách giáo khoa do các
Trang 13tác giả khác nhau biên soạn, các quy tắc phiên chuyển cũng không phảigiống nhau hoàn toàn Gần đây tác giả của một số từ điển (giải thích) khôngcần phiên chuyển mà sử dụng trực tiếp tên tiếng Anh của các thuật ngữ Do
ở miền Bắc trước đây và kéo dài cho đến bây giờ, thực sự không có nhữngquy tắc chính thức được coi là có tính bắt buộc dù đã có các văn bản được
Ủy ban Khoa học xã hội và Bộ Giáo dục ban hành (Các văn bản này khámâu thuẫn về những nội dung rất cơ bản), trong khi cũng không có nhữngquy định nào về cách ứng xử với các quy tắc được xây dựng và lưu hành ởmiền Nam trước năm 1975
Nội dung của “Danh pháp hóa học” có thể quy ước gồm 2 phần: (1)Các quy tắc phiên chuyển (hoặc phiên âm) từ tiếng nước ngoài hay danh từhóa học mà nội dung chính là tên các nguyên tố và các hợp chất hóa học, và(2) Các quy tắc viết công thức và tên các hợp chất hóa học Tình hình lộnxộn và không thống nhất chủ yếu liên quan đến phần thứ nhất Đối với phầnthứ hai hầu như không có tranh cãi về nguyên tắc chung, bởi vì mọi ngườiđều thống nhất là nên sử dụng các khuyến nghị của IUPAC, trong đó tìnhhình chung trên trường quốc tế và một phần tùy thói quen từng người, sựchuyển dịch từ việc sử dụng các tên thông thường và tên bán hệ thống sangtên hệ thống sẽ diễn biến tuần tự và không có áp lực nào
Trước năm 1975 tuy đã có một số quy định về các quy tắc phiênchuyển tên các nguyên tố và các hợp chất hóa học từ tiếng nước ngoài (chủyếu là tiếng Pháp và tiếng Anh) nhưng tình hình thực tế là rất tùy tiện,không nhất quán, người viết khá lúng túng khi phiên dịch hoặc trình bàycác công trình khoa học Tình trạng đó bắt nguồn từ việc trong khoa học nóichung và hóa học nói riêng, trước năm 1975 ở miền Nam và miền Bắc đãtồn tại (chính thống hoặc không chính thống) những quy tắc khác nhau vềdanh pháp đặc biệt là trong cách phiên chuyển tên các đơn chất và hợp chấthóa học
Từ năm 1975 đến nay, mặc dù trong xã hội có nhiều chuyển biếntrong chiều hướng phát triển và hội nhập quốc tế, khoa học và công nghệViệt Nam nói chung và khoa học và công nghệ hóa học nói riêng, đã cónhững tiến bộ vượt bậc, còn khoa học và hóa học thế giới đã có những bước
Trang 14phát triển chưa từng thấy, trong lĩnh vực danh pháp hóa học nước ta hầunhư không có gì chuyển biến, ít nhất là trên thực tế Chỉ mấy năm sau ngàythống nhất đất nước, vào cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80, Ủy ban Khoa học
xã hội cùng với các cơ quan liên quan đã tổ chức một số hội thảo bàn vềchính tả tiếng Việt, cách phiên chuyển danh từ từ tiếng nước ngoài ra tiếngViệt, nhưng hầu như không đạt được kết quả mong muốn Rõ ràng là ngônngữ khoa học nói chung và ngôn ngữ hóa học nói riêng đã đối diện với hai
xu hướng khác nhau không ít Xu hướng có nguồn gốc từ miền Bắc, mặc dùkhông thật nhất quán trong một số quy tắc, nhưng có đặc điểm chung làViệt hóa nhiều hơn là xu hướng có nguồn gốc từ miền Nam thiên về sửdụng yếu tố gốc Hán và gốc Pháp Tình hình từ đó lắng xuống, trong khi xãhội vẫn phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn, nhu cầu hội nhập và giao tiếpngày càng tăng lên, xu thế tự phát một cách tự nhiên là du nhập ngày càngnhiều các yếu tố nước ngoài, nhất là từ tiếng Anh Đã mấy chục năm trôiqua mà hầu như không có những hoạt động quy mô quốc gia để xử lý vấn
đề thống nhất danh pháp Trong tình hình tiếng nói của các nhà khoa họcchưa được thống nhất, thì cho đến nay hầu như chưa có công trình nghiêncứu nào được thực hiện trên cơ sở thu thập và trao đổi ý kiến một cáchtương đối sâu rộng và tranh luận trực tiếp giữa các quan điểm khác nhau để
có thể đi đến một số điểm đồng thuận hoặc ít nhất là một số kết luận được
dù theo quy tắc nào nếu không hãy viết nguyên dạng
Trang 15Vào ngày 29/12/2010, Bộ Khoa học và Công nghệ đã có quyết định
số 2950/QĐ-BKHCN về Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5529:2010: Thuậtngữ hóa học – Nguyên tắc cơ bản và Tiêu chuẩn quốc gia TVCN5530:2010: Thuật ngữ hóa học – Danh pháp các nguyên tố và hợp chất hóahọc, yêu cầu triển khai áp dụng hai tiêu chuẩn quốc gia nói trên
1.1.1 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5529:2010
Phụ âm g đứng trước nguyên âm e đọc như phụ âm bổ sung j
VD: Germani, geraniol đọc như jermani và jeraniol
Phụ âm d không chuyển thành đ nhưng vẫn đọc như đ trong tiếng Việt.VD: Hydro, indi
Phụ âm c đứng trước các nguyên âm i, e, y nói chung để nguyên mà không chuyển thành x.
VD: Để nguyên Ceri (nguyên tố Ce), acid, aceton, cyclohexan,glycerin, acetic
Không thay phụ âm s bằng x hoặc z ở âm vận cuối (ase, ose)
VD: Base, glucose
Giữ nguyên các phụ âm kép tạo vần th, ch, ph
VD: Methan, ethylen, thiophen, chlor
Bỏ bớt một trong hai phụ âm của phụ âm đôi
VD: cc (sacarose), ff (cafein), ll (alyl, paladi), mm (amoni), nn(cinamic), rr (pyrole), tt (ytri) Trường hợp ngoại lệ vẫn giữ phụ âm
Trang 16kép mm trong ammin, là phối tử của phức chất để không lẫn vớiamin
Nguyên tắc về sử dụng nguyên âm:
Đối với các tổ hợp nguyên âm:
Giữ nguyên và đọc nhanh từng âm theo tiếng Việt
VD: ae (caesi), au (tautomer), ea (seaborgi), ei (einsteini), eo(neodym), eu (eugenol), io (iod, niobi), ou (coumarin), uo ( fluor), yo(yohimbin)
Không đọc eu thành ơ như trong tiếng Pháp
VD: Không đọc eutecti thành ơtecti, eugenol thành ơgenol
Không dùng nguyên âm i thay cho nguyên âm y
Bỏ bớt nguyên âm e ở cuối từ nếu không gây nhầm lẫn
VD: Viết benzen thay vì benzene, propan thay vì propane
Trong những trường hợp nếu bỏ nguyên âm này đi có thể gây hiểulầm thì vẫn giữ, mặc dù có thể phát âm hoặc không phát âm
VD: Indole, pyrole, thiazole,
Nguyên tắc về sử dụng phụ âm và dấu:
Bỏ dấu sắc trên các vần, đặc biệt là các vần ngược lại at, ac, ap, et, ep,
it, ip.
Bỏ các dấu mũ ô, ê, ơ (trừ trường hợp nitơ)
Các nguyên tắc về thu thập các vần ngược và về một số hậu tố:
Thu thập các vần ngược chưa có trong tiếng Việt:
Trường hợp phụ âm đứng ở cuối âm vận mà vốn dĩ không có trong cácvần của tiếng Việt cần được chấp nhận viết như nguyên tiếng nước ngoài
Thuộc nhóm này gồm các trường hợp vần ad (cadmi), af (hafni), ag (magnesi), ar (argon, arsen, carbon), as (astati), er (erbi, germani, terbi, yterbi), id (amid), ir (zirconi), is (bismuth), od (iod), or (bor, chlor, fluor),
os (osmi, phosphor), yb (molybden), al (calci, cobal, tantal), ol (holmi), el
(nickel)
Trang 17Đối với các nguyên tố B, Cl, F, I cần giữ các phụ âm r và d ở cuối để
dễ dàng chuyển sang các dẫn chất của chúng như: chloric, chloride, fluoric,boric, boran, iodic, iodat,…
Bỏ hết các hậu tố -um: Đối với tên các nguyên tố hóa học có hậu tố
-um thì bỏ hậu tố này, các nguyên tố và một số ion có hậu tố -ium thì chỉ bỏ phần -um.
VD: K (kali), Na (natri), Pd (paladi), Sm (samari), Pr (praseodymi), U(urani), Ti (titani), Pt (platin), La (lanthan), Mn (mangan), ion carboni, ionoxoni, ion amoni,
Trường hợp ngoại lệ vẫn giữ hậu tố -um: Cm (curium) và Tm
(thulium) là những trường hợp đặc biệt vì để đảm bảo sự tương hợp giữa kýhiệu và tên nguyên tố hoặc để không gây nhầm lẫn
Hậu tố -ide: Dùng hậu tố -ide thay cho các hậu tố -ua hoặc -ur (có nguồn gốc phiên chuyển từ tiếng Pháp) và đọc như từ “ai” trong tiếng
Việt
VD: Chloride, carbide, sulfide thay vì clorua, carbua, sulfua,
Ngoại trừ trường hợp “oxide”, vẫn giữ nguyên như cách đọc trướcđây là “oxit”
1.1.2 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5530:2010
a Nguyên tố hóa học
Đối với các nguyên tố đã có tên Việt hoặc Hán-Việt:
Giữ nguyên cách gọi đối với các nguyên tố đã có tên Việt hoặc Việt đang được sử dụng rộng rãi Như các nguyên tố bạc (Ag), vàng (Au),nhôm (Al), đồng (Cu), sắt (Fe), thủy ngân (Hg), chì (Pb), thiếc (Sn), lưuhuỳnh (S), kẽm (Zn) Tuy nhiên, để có sự liên hệ với nguồn gốc của ký hiệunguyên tố và danh pháp các dẫn chất liên quan, cần thiết phải viết kèm theotên Latinh trong dấu ngoặc đơn VD: Bạc (Argentum)
Hán- Tên các nguyên tố không phiên chuyển mà chỉ rút gọn phần đuôi: tênnguyên tố liên quan đến tên người và tên địa danh sẽ không phiên
Trang 18chuyển mà chỉ bỏ đuôi –um.
VD: Francium – Franci Dubnium - Dubni
b Hợp chất hóa học
Danh pháp các hợp chất vô cơ:
Các hợp chất vô cơ thông thường:
Nguyên tắc: Để gọi tên các hợp chất vô cơ, chủ yếu sử dụng danh phápkiểu lưỡng nguyên (thành phần của hợp chất gồm hai hợp phần: hợpphần âm điện và hợp phần dương điện) Do danh pháp kiểu lưỡngnguyên không cho biết đầy đủ các thông tin về cấu trúc nên trong một
số trường hợp người ta vận dụng danh pháp phối trí hoặc danh phápthay thế (trong đó có nguyên tử hydro có thể được trao đổi hoặc thaythế với các nguyên tử hoặc nhóm nguyên tử khác)
Cách gọi tên:
Trong hợp chất, tên của hợp phần dương chỉ là tên của nguyên tố, tên
hợp phần âm đơn tố thì kết thúc bằng hậu tố ide, còn tên của hợp phần âm
dị tố nói chung có hậu tố at Các hợp phần dương và âm đều có thể là
những nhóm và số lượng hợp phần cũng có thể lớn hơn một Nếu có nhiềuhợp phần thì tên các hợp phần được viết theo thứ tự ABC của ký tự đầu củatên các hợp phần hoặc của ký tự thứ hai của tên các hợp phần nếu ký tự đầugiống nhau
Vị trí của hydro luôn nằm sau cùng trong số các hợp phần dương, có
thể có khoảng trống phân cách với hợp phần âm nếu không chắc chắn nó cóliên kết với anion hay không Tên các hợp chất kép được viết sau tên hợpchất chính phân cách bởi gạch ngang dài và tiếp đó là tỷ lệ của chúng trongngoặc đơn Cách viết tên các phân tử nước kết tinh cũng như vậy VD:
KCl : Kali chloride
O2[PtF6] : Dioxy hexafluoroplatinat
KMgCl3 : Kali magnesi chloride, tên IUPAC là magnesium potassium
chloride
Trang 19Có những cách khác nhau để thể hiện tên các nhóm âm điện đanguyên tử Các nhóm như vậy có các nguyên tử cùng loại được viết với cáctiền tố nhất định
Trang 2013
VD: 2- : Dioxide hoặc dioxide (2-) Nhưng tên thông thường là peroxidevẫn dùng được
Một số tên truyền thống (thường không kết thúc bằng hậu tố -at) có
thể vẫn được sử dụng, mặc dầu tên hệ thống vẫn chuẩn xác hơn
VD:
2-SO3 : Trioxosulfat (2-) chuẩn xác hơn tên sulfit
-NO2 : Dioxonitrat (1-) chuẩn xác hơn tên nitrit
Vì vậy, tên hệ thống của các oxoacid được viết như sau:
Trạng thái oxy hóa của ion được biểu thị bằng số La Mã (trong ngoặcđơn), còn điện tích biểu thị bằng số Arập cùng với dấu điện tích (cũng nằmtrong ngoặc đơn)
VD:
2+
Na- :
SF6 :
Natride (1-)Lưu huỳnh (VI) fluoride
Cation có thể được hình thành bằng cách thêm một hydron vào một
hydride nhị tố Trong những trường hợp này nên dùng danh pháp thay thế,
hậu tố -ium (phiên chuyển theo quy tắc bỏ um, chỉ còn lại -i) được thêm vào
Trang 21tên của hydride gốc.
VD: H3S+ (sulfani), PH4+ (phosphani), SiH5+ (silani)
Hậu tố -onium (phiên chuyển theo quy tắc bỏ -um, chỉ còn lại -oni)
cũng được dùng trong những trường hợp tương tự: PH4+ (phosphoni), H3O+(oxoni) Tên amoni của ion NH4+ vẫn có thể tiếp tục được sử dụng
Đối với tên các anion, cách gọi tên cũng tương tự, nhưng hậu tố sẽ là
ide, at hoặc it, đặc trưng cho các hợp phần âm điện.
VD:
Những anion được hình thành bằng cách mất một hydron của
hydride thì phương cách đơn giản là sử dụng danh pháp thay thế.
VD:
CH3- : Methanide
NH2- : Amide hoặc azanide
Hậu tố at cũng được dùng khi hydron được tách ra khỏi một nhóm -OH của các alcohol.
Trang 22PH6- : Hexahydridophosphat
Chỉ trong các hợp chất của bor thì mới dùng từ tố “hydro” thay vì
“hydrido”
Như vậy, sau khi đã thiết lập các cách gọi tên cation và anion, có thể
thấy rõ ràng, tên kiểu lưỡng nguyên của các muối thực tế không khác vớitên của hợp chất nhị tố gồm tên của hợp phần âm điện và hợp phần dương
điện Tên của cation luôn luôn đặt trước tên của anion và phân cách nhau
bởi khoảng trống Nguyên tắc này là luôn luôn phải được tuân thủ và không
Các hợp chất phối trí:
Hợp chất phối trí đơn nhân:
Tên của hợp chất phối trí được hình thành như trật tự gắn các phối tửvào nguyên tử trung tâm, nghĩa là đọc tên các phối tử trước Tên củacác phối tử được đọc theo trật tự ABC bất kể là phối tử loại gì
Các tiền tố chỉ số lượng không cần phải đọc trong trật tự đó nếuchúng không phải là bộ phận của tên phối tử Số điện tích và số oxyhóa vẫn được dùng như bình thường Các tiền tố thông thường chỉ độ
bội như di-, tri-, tetra-,… được sử dụng phổ biến, còn các tiền tố đồng nghĩa bis-, tris-, tetrakis-,… chỉ được sử dụng để biểu thị các
trường hợp phức tạp hơn nhằm tránh nhầm lẫn Khi đó phải dùng cácngoặc bao quanh các câu từ liên quan đến tiền tố đó Các từ tố khôngđược đọc lướt mà phải được đọc đầy đủ
Trang 23 Tên của các phối tử anion được kết thúc bằng hậu tố -o, nghĩa là nếu hậu tố của anion là -it, -at, -ide thì tên của phối tử sẽ là -ito, -ato, -ido Theo thói quen, phối tử halogenido được viết tắt là halo Điều cần lưu ý là với tư cách là phối tử thì hydro(gen) luôn được coi là anion
và có tên là hydride Đối với các phối tử trung hòa điện và cation thì
hậu tố không thay đổi
Với tư cách là phối tử thì nước có tên là aqua và NH3 có tên là
ammin Các phối tử luôn luôn được đặt trong ngoặc cùng với tiền tố
chỉ độ bội ở trước ngoặc, tuy nhiên đối với các phối tử aqua, ammin,
carbonyl (CO) và nitrosyl (NO) thì không cần.
Các hợp chất hữu cơ: Chủ yếu được gọi tên theo danh pháp kiểu thaythế Tuy nhiên cách gọi tên này chỉ áp dụng cho các nguyên tử hydro cóthể được trao đổi với các nguyên tử hoặc nhóm nguyên tử Như vậy, một
hydride nền (parent hydride) phải luôn luôn là điểm xuất phát của thao
tác thay thế Ví dụ, hai phân tử CH3-Cl và CH3-OH luôn là dẫn xuất củahydride nền CH3-H Một tên thay thế bao gồm tên của hydride nền cộng
với các tiền tố và hậu tố: (các) tiền tố/tên hydride nền/(các) hậu tố Một
phân tử hữu cơ nói chung được cấu thành bởi bộ khung carbon và cácnhóm chức Tên của nó phải tương hợp với cấu trúc; tên của hydride nềnphù hợp với bộ khung, còn các tiền tố và hậu tố biểu thị các nhóm chức
và các đặc trưng khác của cấu trúc, VD: hình học của phân tử
Các alkan:
Alkan không có nhánh (alkan mạch thẳng): Đối với các alkan không
nhánh, bốn alkan đầu tiên có tên là methan, ethan, propan, và butan Các alkan tiếp theo được đặt tên bằng cách kết hợp hậu tố an của các
alkan đầu thể hiện sự bão hòa với các tiền tố chỉ độ bội của carbon là
penta-, hexa-, hepta-, v.v Ký tự “a” của tiền tố được lược bỏ.
Alkan có nhánh: Cấu trúc của các alkan có nhánh được coi như gồmmạch chính và các mạch nhánh (phụ) Việc đặt tên được tuân theo quytrình sau:
- Chọn mạch chính như là hydride nền, mạch chính phải là mạch dàinhất
Trang 24- Xác định và đặt tên các mạch phụ và được coi như là các tiền tố.
- Xác định vị trí của các mạch phụ đối với mạch chính và chọn các chỉ
số vị trí theo quy tắc “chỉ số thấp nhất”
- Chọn các tiền tố chỉ độ bội thích hợp
- Cấu thành toàn bộ tên
Ba hydrocarbon isobutan, isopentan và neopentan, khi không bị thay
thế, được gọi tên thông thường
Các alkyl:
Tên của các nhóm alkyl được hình thành bằng cách thay hậu tố -an
của hydrocarbon bằng hậu tố -yl, ví dụ: methyl, ethyl, propyl,
decyl, Tên những nhóm alkyl có nhánh được hình thành bằng cách
tiền tố hóa tên của các mạch nhánh gắn vào tên của nhóm alkylkhông nhánh dài nhất
Một số nhóm alkyl sau đây vẫn được sử dụng, tuy nhiên chỉ trong
trường hợp nhóm alkyl không bị thế: isopropyl, isobutyl, sec-butyl,
tert-butyl, isopentyl, tert-pentyl, neopentyl.
Các tiền tố chỉ độ bội: Các tiền tố chỉ độ bội được dùng khi số lượngcấu trúc thế giống nhau trong hợp chất hoặc trong nhóm lớn hơn một
Các chỉ số chỉ độ bội cơ bản di-, tri-, tetra-, v.v được dùng với tên
của các cấu trúc thế đơn giản và tên thường dùng Các tiền tố phức tạp
bis-, tris-, tetrakis-, (từ tetrakis- trở đi các tiền tố tiếp theo đều được
hình thành bằng cách thêm đuôi kis- vào tên tiền tố cơ bản) được dung
với các cấu trúc thế phức tạp
Thứ tự các tiền tố phân cách: Đó là các tiền tố dùng để đặt tên các cấutrúc thay thế Khi viết tên, tiền tố phân cách được đặt trước tên củahydride nền theo trật tự ABC của ký tự đầu tiên: “m” trong methyl,
“b” trong butyl, “d” trong 1,2-dimethylpropyl (lưu ý: chỉ trường hợpnày) Trong các tên lưu dùng, thì ký tự không in nghiêng đầu tiên như
“i” trong isobutyl, “n” trong neopentyl, nhưng “b” trong tert-butyl.
VD: 4-ethyl-2-methylhexan
Trang 25 Các hợp chất mạch vòng:
Các hợp chất (hydride nền) đơn vòng:
Các đơn vòng carbon no được gọi là các cycloalkan Tên của chúng
được gọi theo tên của các alkan có cùng số carbon với tiền tố không
phân cách cyclo-.
Vòng carbon mancude với 6 nguyên tử carbon có tên là benzen.
Các vòng mancude lớn hơn có công thức CnHn hoặc CnHn+1 được gọi
là []anulen, trong đó X biểu thị số nguyên tử carbon trong vòng
Những anulen có số carbon lẻ được đặc trưng bằng ký hiệu H để chỉ
sự có mặt của nguyên tử hydro đặc biệt được gọi là “hydro chỉ định”(indicated hydrogen) Ký hiệu này là tiền tố không phân cách
Các hợp chất có độ bão hòa khác nhau:
Tùy theo bản chất của các hydride nền, có hai cách để biểu thị độ bão hòa trong các hợp chất
Trang 26 Cách thứ nhất là dùng các tiền tố không phân cách hydro- và
dehydro-(chỉ đối với các hợp chất mancude) để chỉ sự cộng hay trừ một nguyên
tử hydro
Cách thứ hai là chuyển hậu tố an thành en hoặc yn để chỉ sự có mặt
của nối đôi hoặc nối ba Cách này được sử dụng cho các hydride nền
là alkan và cycloalkan đơn hoặc đa vòng Các tiền tố di-, tri-, tetra-,
v.v được dùng để biểu thị độ bội của các liên kết chưa bão hòa Các
“locant” phải được đặt ngay trước các hậu tố -en, -yn
HCCH : Ethyn (tên thường dùng là acetylen)
Các cấu trúc thế chưa bão hòa và lưỡng hóa trị:
Các cấu trúc thế đơn hóa trị được gọi tên theo cách hệ thống bằng
việc ghép hậu tố -yl vào gốc của tên hydrocarbon nền đã mang hậu tố -en
hoặc -yn.
VD:
Trang 27CH3-CH2-CH=CH-CH3 :
CH3-CCH :
Pent-3-en-1-ylProp-2-yn-1-yl
Các tên thông thường lưu dùng gồm vinyl đối với -CH=CH2, alyl đối
với -CH2-CH=CH2 và isopropenyl đối với -C(CH3)=CH2 nhưng chỉ khinhóm này không chứa nguyên tử hay nhóm thế
Các cấu trúc lưỡng hóa trị dạng R-CH= hoặc R2C= được gọi tên bằng
cách gắn hậu tố -yliden vào gốc tương ứng Khi hai hóa trị tự do nằm trên
các nguyên tử khác nhau hoặc cấu trúc có dạng R-CH< hoặc R2=C< và
Trang 28không gắn với cùng một nối đôi thì hậu tố tổ hợp được sử dụng là -diyl
Các tên lưu dùng gồm methylen đối với -CH2-, ethylen đối với -CH2
-CH2- và isopropyliden đối với =C(CH3)2 nhưng chỉ khi các cấu trúc nàykhông chứa nguyên tử hay nhóm thế
Danh pháp của các hydride nền trở thành nhóm chức:
Cách sử dụng tiền tố và hậu tố trong danh pháp thay thế của một số
nhóm đặc trưng 1)
Acid carboxylic acid –oic carboxy-2) -(C)OOH
acid –carboxylic carboxy- -COOHAcid sulfonic acid –sulfonic sulfo- -SO2OH
R-oxycarbonyl
-(C)OOR-COOR
Trang 29Acyl halide halo-oxo- -(C)OHal
halocarbonyl- -COHal
-carboxamid aminocarbonyl- -CONH2Nitril -nitril cyano-2) -(C)N
-carbonitril cyano- -CN
-carbaldehyde formyl- -CHO
Alcohol, phenol -ol hydroxy- -OH
CHÚ THÍCH:
1) Các nguyên tử carbon trong ngoặc đơn là thuộc các hydride nền, thường
là các mạch Nếu trong công thức không có ngoặc đơn, toàn bộ tên củanhóm được thêm vào tên của hydride nền
2)
Khi được gắn vào vòng, các nhóm -COOH và -CN không bao giờ đượccoi như là -(C)OOH và -(C)N Nếu một mạch không có nhánh được gắntrực tiếp vào hai nhóm carboxy (hay nhiều hơn) thì việc gọi tên phải dựavào mạch đó và các nhóm carboxy được viết -COOH chứ không phải
-(C)OOH
Tên của các nhóm đặc trưng luôn luôn được viết dưới dạng tiền tố:
Có một số nhóm chức luôn luôn được viết dưới dạng tiền tố, đó là:
fluoro-, chloro-, bromo-, iodo-, R-oxy- (O-R), nitro- (NO 2 ), nitroso- (NO).
Tên của các nhóm đặc trưng được viết dưới dạng hậu tố hoặc tiền tố:
Trang 30Trong danh pháp thay thế, hậu tố luôn luôn được dùng trong nhữngtrường hợp có thể để biểu thị nhóm chức ưu tiên Các tiền tố được dùng đểgọi tên tất cả các nhóm đặc trưng, trừ nhóm chức chính Nói chung, để gọitên các hợp chất đa chức cần lưu ý hai quy tắc là:
- Chỉ có một nhóm đặc trưng là nhóm chính được viết dưới dạng hậu
tố, các nhóm khác phải được viết dưới dạng tiền tố
- Nhóm chính được chọn theo một quy tắc nhất định đã được thốngnhất
VD:
CH3-CO-CH2-CH(OH)-CH3 : 4-hydroxypentan-2-on
CH3-C(O)-C(O)-C(O)OH : Acid 2,3-dioxobutanoic
H2N-CH2-CH2-OH : 2-aminoethanol
NC-CH2-CH2-CH2-CONH2 : 4-cyanobutanamid
Tên của các hydride nền (có nhóm) chức (functional parent hydrides): Các hydride nền là các alkan và các mancude có tên thông thườnghoặc tên hệ thống, và những nhóm là dẫn xuất của chúng thì được biểu thịbằng các tiền tố không phân cách Vì chúng đã chứa các nhóm đặc trưngđược ưu tiên viết dưới dạng hậu tố, chúng chỉ có thể được tiếp tục biếnthành nhóm chức thông qua các nhóm đặc trưng ít được ưu tiên hơn dướidạng tiền tố Số lượng những hydride nền chức như vậy không nhiều, dướiđây là liệt kê một số được coi là quan trọng trong hệ thống danh pháp
Trang 31CH3-CO-CH3 : Aceton
Acid carboxylic:
CH3COOH : Acid acetic
H2N-COOH : Acid carbamic
HOOC-COOH : Acid oxalic
HOOC-CH2-CH2-COOH : Acid sucinic
Trang 321.2 Nguyên tắc sử dụng thuật ngữ hóa học và danh pháp trong chương trình mới của môn Hóa học
+ Nguyên tắc hội nhập: Danh pháp hoá học sử dụng theo khuyến nghịcủa Liên minh Quốc tế về Hoá học thuần tuý và Hoá học ứng dụng IUPAC
có tham khảo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5529:2010 và 5530:2010 củaTổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Quyết định số 2950- QĐ/BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ), phù hợp với thực tiễn Việt Nam,từng bước đáp ứng yêu cầu thống nhất và hội nhập
+ Nguyên tắc thực tế: Sử dụng tên 13 nguyên tố đã quen dùng trong tiếngViệt đồng thời có chú thích thuật ngữ tiếng Anh để tiện tra cứu: vàng(gold), bạc (silver), đồng (copper), chì (lead), sắt (iron), nhôm (aluminum),kẽm (zinc), lưu huỳnh (sulphur), thiếc (tin), nitơ (nitrogen), natri (sodium),kali (potassium), thủy ngân (mercury) Hợp chất của các nguyên tố nàyđược gọi tên theo khuyến nghị của IUPAC như: H2S: Hydrosulphuric acid,
Fe(NO3)3: Iron (III) nitrate, ZnCl2: Zinc chloride,…
1.3 Bài giảng Elearning
Hình 1.1 Mô tả bài giảng Elearning
Trang 33Bài giảng Elearning được tạo ra từ các công cụ tạo bài giảng như:Adobe Presenter, iSpring Presenter, iSpring Suit, Có thể dùng để họcngoại tuyến hoặc trực tuyến và có khả năng tương tác với người học, giúpngười học có thể tự học.
1.3.1 Đặc điểm
- Elearning phát triển nhờ công nghệ thông tin và truyền thông như:công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tínhtoán,…
- So với cách học truyền thống hiệu quả của Elearning cao hơn doElearning có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện chongười học tự học, bình luận trao đổi thông tin với tất cả mọi người màkhông giới hạn khoảng cách,
- Elearning đang trở thành công cụ hỗ trợ trong nền kinh tế tri thức.Hiện nay, các nước trên thế giới đang quan tâm đến phát triển Elearning vớirất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực Elearning ra đời
1.3.2 Lợi ích của bài giảng Elearning
- Đối với giáo viên:
+ Có thể tham khảo, học hỏi phương pháp dạy học mới, ý tưởng mới,kiến thức mới của đồng nghiệp
+ Hoàn chỉnh tiết dạy của mình tốt hơn
+ Tiết kiệm thời gian dự giờ, dự chuyên đề bất cứ lúc nào (thay vì phảiđến lớp hay đến các hội thảo chuyên đề)
- Đối với học sinh: Với bài giảng Elearning thì HS tự học mọi lúc mọi nơikhông giới hạn thời gian và khoảng cách, học đúng đủ kiến thức của bàihọc Hơn nữa, được học những giáo viên có phương pháp truyền đạt, dạytốt
Trang 341.3.3 Phần mềm tạo xây dựng bài giảng Elearning
1.3.3.1 Adobe Presenter
Adobe Presenter được phát hành bởi hãng phần mềm nổi tiếng thếgiới Adobe Với chức năng soạn thảo bài giảng điện tử giúp giáo viên tạo racác bài giảng theo tiêu chuẩn về Elearning và dùng bài giảng để dạy – họctrực tuyến thông qua mạng Internet Đặc điểm nổi bật của phần mềm AdobePresenter là sử dụng Ms PowerPoint để soạn thảo nội dung Có thể chèn đaphương tiện (Flash, âm thanh, hình ảnh) vào các nội dung trình chiếu trongbài giảng, chèn các câu hỏi tương tác vào nội dung bài giảng, đóng gói vàxuất bản bài giảng theo nhiều định dạng khác nhau
Hình 1.2 Giao diện phần mềm Adobe Presenter
1.3.3.2 iSpring Presenter
Hình 1.3 Giao diện phần mềm iSpring Presenter
Trang 35iSpring Presenter cũng có đầy đủ các tính năng như phiên bản AdobePresenter, tương thích với các chuẩn bài giảng điện tử mới nhất hiện nay.Đây là ứng dụng không thể thiếu cho những ai muốn tạo bài giảng trựctuyến và ứng dụng Công nghệ thông tin vào dạy học.
1.3.3.3 iSpring Suit 9
Hình 1.4 Giao diện phần mềm iSpring Suit 9
iSpring Suit với đầy đủ các tính năng hỗ trợ soạn thảo bài giảng, tíchhợp trong Powerpoint Dễ sử dụng, tiện lợi trong quá trình thiết kế và quản
lý các slide của bài giảng, giúp thầy (cô) tạo ra những bài giảng chất lượng