1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng một số bài tập hóa học phổ thông sử dụng phương pháp đồ thị (KLTN k41)

70 81 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠNSau một thời gian dài tìm hiểu, phân tích và nghiên cứu một cáchnghiêm túc, em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học của mình với đề tài “Xây dựng một số bài tập hóa học p

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA HÓA HỌC -

TRỊNH THỊ VÂN ANH

XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI TẬP HÓA HỌC PHỔ THÔNG SỬ DỤNG

PHƯƠNG PHÁP ĐỒ THỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Hóa Vô cơ

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA HÓA HỌC -

TRỊNH THỊ VÂN ANH

XÂY DỰNG MỘT SỐ BÀI TẬP HÓA HỌC PHỔ THÔNG SỬ DỤNG

PHƯƠNG PHÁP ĐỒ THỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Hóa Vô cơ

Người hưỡng dẫn khoa học

ThS Hoàng Quang Bắc

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian dài tìm hiểu, phân tích và nghiên cứu một cáchnghiêm túc, em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học của mình với đề

tài “Xây dựng một số bài tập hóa học phổ thông sử dụng phương pháp đồ

thị”, ngoài ra, em xin chân thành cảm ơn những người đã giúp đỡ, bên cạnh

em suốt thời gian qua để em có được kết quả như ngày hôm nay

Đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất của mình tới thầy

giáo ThS Hoàng Quang Bắc đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo em

trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Hơn nữa, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đang làm việc tạikhoa Hóa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợicho em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận

Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và viết khóa luận, vì là lần đầutiên em làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, do đó trình độ lý luậncũng như kinh nghiệm thực tiễn còn nhiều hạn chế, dù đã cố gắng rất nhiềunhưng vẫn những sai sót vì thế rất mong các thầy cô bỏ qua Tôi mong nhậnđược những ý kiến đóng góp quý báu của thầy, cô để em có thể tích lũy thêmđược nhiều kinh nghiệm và bổ sung cho khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Trịnh Thị Vân Anh

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 1

4 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

6 Giả thuyết khoa học 2

7 Phương pháp nghiên cứu 2

8 Đóng góp mới của đề tài 3

CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1 Lịch sử về vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Các tài liệu đã xuất bản 4

1.1.2 Một số tài liệu tham khảo khác 4

1.2 Bài tập hoá học 4

1.2.1 Khái niệm về bài tập, BTHH 4

1.2.2 Tác dụng của bài tập hoá học 5

1.2.3 Phân loại BTHH 6

1.2.4 Sử dụng bài tập hoá học trong dạy học hoá học 7

1.2.5 Xây dựng BTHH mới 8

1.3 Bài tập hoá học THPT sử dụng phương pháp đồ thị 9

1.3.1 Khái niệm 9

1.3.2 Phân loại bài tập sử dụng phương pháp đồ thị 9

1.3.3 Vai trò của bài tập hoá học sử dụng phương pháp đồ thị 10

Trang 6

1.4 Nguyên tắc xây dựng một số BTHH sử dụng phương pháp đồ thị 10

1.5 Quy trình xây dựng một số bài tập sử dụng phương pháp đồ thị 12

1.6 Phương pháp chung để giải một số bài toán hóa học phổ thông sử dụngphương pháp đồ thị 131.7 Cơ sở lý thuyết của phản ứng CO2 tác dụng với các dung dịch base, phảnứng của muối nhôm với dung dịch kiềm và phản ứng của muối aluminate vớidung dịch acid mạnh( H+) 141.7.1 Cơ sở lý thuyết của phản ứng CO2 tác dụng với các dung dịch base 14

1.7.2 Cơ sở lý thuyết về phản ứng muối nhôm với dung dịch kiềm, phản ứngcủa muối aluminate với dung dịch acid mạnh( H+) 15

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP VÀ HỆ THỐNGMỘT SỐ BÀI TẬP HOÁ HỌC PHỔ THÔNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP

2.1.2 Dạng bài tập CO2 tác dụng với hỗn hợp dung dịch NaOH( hoặc KOH)

và Ba(OH)2 hoặc Ca(OH)2 202.1.3 Dạng bài tập dung dịch kiềm (OH- ) tác dụng với dung dịch muối nhôm(Al3+) 232.1.4 Dạng bài tập dung dịch kiềm (OH-) tác dụng với hỗn hợp dung dịchaxit

(H+) và muối nhôm (Al3+) 262.1.5 Dạng bài tập dung dịch axit (H+) tasc dụng với dung dịch muốialuminat

(AlO2-) 28

Trang 7

2.1.6 Dạng bài tập dung dịch axit (H+) tác dụng với hỗn hợp dung dịchNaOH

và NaAlO2 312.2 Hệ thống một số bài tập hóa học phổ thông sử dụng phương pháp đồthị.33

2.2.1 Mức độ nhận biết 34

Trang 8

2.2.2 Mức độ thông hiểu 37

2.2.3 Mức độ vận dụng 41

2.2.4 Mức độ vận dụng cao 45

KẾT LUẬN 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

Trang 9

1 Lý do chọn đề tài

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 10

Từ năm 2014 đến nay, đề thi THPT Quốc gia có khá nhiều đổi mới,một trong số đó là việc xuất hiện của các dạng bài tập có sử dụng đồ thị đểbiểu diễn sự biến thiên lượng chất và mối quan hệ giữa các đại lượng Đốivới dạng bài tập này, em thấy phần lớn học sinh còn khá lúng túng, thậm chí

có học sinh còn không tìm ra hướng giải Lý do là vì các em chưa luyện tậpdạng bài này nhiều và chưa được làm quen nhiều với phương pháp tích cựcgiải bài toán dạng này Tuy bài tập sử dụng đồ thị không phải xa lạ, mới mẻnhưng hiện tại có rất ít cá nhân, nhóm nghiên cứu tìm hiểu sâu và phân loại rõràng những dạng bài tập này nên tài liệu tham khảo chuyên viết về các bàitập sử dụng phương pháp đồ thị còn hạn chế và chưa đầy đủ Vì những lý do

trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xây dựng một số bài tập Hóa học

phổ thông sử dụng phương pháp đồ thị” như một tài liệu tham khảo hữu

ích cho học sinh và các thầy, cô giáo nhằm khắc phục những hạn chế đã nêutrên

2 Mục đích nghiên cứu

Bài tập sử dụng phương pháp đồ thị thường xuyên được Bộ Giáo dụcđưa vào đề thi THPT Quốc gia rất có ý nghĩa đối với việc học tập, ôn luyệncủa học sinh và các thầy, cô giáo

Khi nghiên cứu đề tài này, tôi hướng đến :

- Xây dựng và hệ thống hóa một cách chi tiết, khoa học về bài tập sửdụng đồ thị thường gặp trong các đề kiểm tra, đề thi THPT Quốc gia

- Hình thành thói quen tư duy logic, khoa học cho học sinh, nâng caochất lượng học tập

- Thiết kế được một tài liệu hữu ích sử dụng trong học tập và giảngdạy bộ môn Hóa học ở trường Trung học phổ thông

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Xây dựng 1 số bài tập hóa học THPT sử dụngphương pháp đồ thị

Trang 11

Khách thể nghiên cứu: Qúa trình dạy học ở trường THPT

4 Phạm vi nghiên cứu

Xây dựng hệ thống 1 số bài tập sử dụng phương pháp đồ thị đối với:

- Phản ứng CO2 tác dụng với các dung dịch base

- Phản ứng của muối nhôm với dung dịch kiềm và phản ứng của muốialuminate với dung dịch acid mạnh (H+)

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu những tài liệu có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu tổng hợp cơ sở lí luận về quá trình xây dựng một số bàitập sử dụng đồ thị

- Tìm hiểu về cách thiết kế đồ thị, tổng quát hóa dạng đồ thị đặc trưngcủa một số bài tập sử dụng đồ thị đối với phản ứng CO2 tác dụng với các dungdịch base, phản ứng của muối nhôm với dung dịch kiềm và phản ứng củamuối aluminate với dung dịch acid mạnh (H+) Xây dựng một số bài tập sửdụng đồ thị, từ đó, hệ thống hóa và phân loại theo từng nhóm, từng mức độnhận thức của HS

6 Giả thuyết khoa học

- Nếu xây dựng được hệ thống bài tập sử dụng phương pháp đồ thị cóchất lượng tốt, bám sát nội dung chương trình sẽ góp phần làm phong phú hệthống BTHH Và nếu phối hợp với phương pháp giảng phù hợp sẽ góp phầnnâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy và học bộ môn Hoá học ởtrường phổ thông, đặc biệt đối với phản ứng CO2 tác dụng với các dung dịchbase, phản ứng của muối nhôm với dung dịch kiềm và phản ứng của muốialuminate với dung dịch acid mạnh( H+)

- Nếu hệ thống bài tập xây dựng được giới thiệu rộng rãi trên internet đểcác GV và HS tham khảo thì sẽ làm tăng tính thực tiễn của đề tài

7 Phương pháp nghiên cứu

- Tìm hiểu SGK Hóa học THPT, nghiên cứu một số tài liệu tham khảotrên sách báo, các diễn đàn, internet về dạng bài tập sử dụng đồ thị

Trang 12

- Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu đó

- Phân tích đánh giá mức độ nhận thức và vận dụng của học sinh: mức

độ nhận biết, mức độ thông hiểu, mức độ vận dụng và mức độ vận dụng caobằng cách phân loại một số bài tập cụ thể và hệ thống chúng

8 Đóng góp mới của đề tài

- Lựa chọn bài tập và xây dựng hệ thống một số BTHH sử dụng đồ thịđối với phản ứng CO2 tác dụng với các dung dịch base, phản ứng của muốinhôm với dung dịch kiềm và phản ứng của muối aluminate với dung dịchacid mạnh( H+)

- Phân loại BTHH theo các mức độ nhận thức của HS

Trang 13

1.1.1 Các tài liệu đã xuất bản

- Tài liệu giáo khoa chuyên Hóa học 11-12 tập 2 – Nguyễn Duy Ái.

“Chương XV: Các kim loại kiềm, kiềm thổ và nhôm”

- 16 phương pháp và giải nhanh bài tập trắc nghiệm môn Hóa học –

Phạm Ngọc Hằng chủ biên

- Bài tập lí thuyết và thực nghiệm hoá học – tập 1 – hoá học vô cơ – của

tác giả Cao Cự Giác (2009), Nhà xuất bản Giáo dục

1.1.2 Một số tài liệu tham khảo khác

- Sáng kiến kinh nghiệm “ Sử dụng phương pháp đồ thị để giải nhanh bài tập trắc nghiệm Hóa học”-

- 20 Phương pháp giải nhanh Hóa học phần 2 do Đỗ Xuân Hưng biên

soạn bao gồm 20 chuyên đề

- Giáo trình Hóa vô cơ tập 1, 2, 3 – Hoàng Nhâm chủ biên

“Chương IV: Các nguyên tố nhóm IIIA ; Chương V: Các nguyên tố nhóm

Trang 14

IVA”

- Tài liệu chuyên khoa Hóa 10, 11, 12 – Trần Quốc Sơn.

- Đề thi Đại học – Cao đẳng từ năm 2007 – 2015 của Bộ Giáo dục

1.2 Bài tập hoá học

1.2.1 Khái niệm về bài tập, BTHH

Có nhiều khái niệm về bài tập đã được đưa ra

Trang 15

Thái Duy Tuyên cho rằng “Bài tập là một hệ thông tin xác định baogồm những điều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học,đòi hỏi người học một lời giải đáp mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từngphần không có sẵn ở thời điểm bài tập được đặt ra.”[7]

Từ những quan niệm trên có thể hiểu rằng: Bài tập là một hệ thốngthông tin được đưa ra một cách có vấn đề, đòi hỏi HS phải sử dụng nhữngkiến thức đã có bằng cách lập luận hay tính toán để giải quyết vấn đề

BTHH là phương tiện chính và hết sức quan trọng dùng để rèn luyệnkhả năng vận dụng kiến thức cho HS Là nhiệm vụ học tập mà GV đặt ra chongười học, buộc người học phải vận dụng các kiến thức, năng lực của mình đểgiải quyết các nhiệm vụ đó nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng một cách tíchcực, hứng thú và sáng tạo Về mặt lí luận dạy học hoá học, bài tập bao gồm cảcâu hỏi và bài toán mà khi hoàn thành chúng HS nắm được hay hoàn thiệnmột tri thức hay một kĩ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng hay trả lời viếtkèm theo thực nghiệm [12]

Để giải quyết được những vấn đề này, HS phải biết suy luận logic dựavào những kiến thức đã học, phải sử dụng những hiện tượng hóa học, nhữngkhái niệm, định luật, học thuyết, phép toán, cách tư duy sáng tạo và phươngpháp nhận thức khoa học Bài tập và lời giải là nguồn tri thức mới cho HStrong hoạt động nhận thức

1.2.2 Tác dụng của bài tập hoá học

Quá trình dạy và học không thể thiếu bài tập Sử dụng bài tập đểluyện tập là một vấn đề cần thiết để nâng cao chất lượng dạy và học, nó làmột phương tiện giúp người dạy hoàn thành các phương diện: giáo dưỡng,giáo dục và phát triển dạy học

Bài tập hoá học có nhiều ý nghĩa về nhiều mặt Cụ thể như:

1.2.2.1 Ý nghĩa trí dục.

Thông qua việc giải các bài tập hoá học giúp HS:

- Hình thành các khái niệm hoá học

- Làm chính xác hoá, hiểu đúng, hiểu sâu các khái niệm hoá học

Trang 16

- Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phongphú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được các kiến thức vào việc giải bài tập, HSmới nắm được kiến thức một cách sâu sắc.

- Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất

- Rèn luyện các kĩ năng hoá học như cân bằng phương trình phản ứng,tính toán theo các công thức hoá học và phương trình hoá học… Nếu là bàitập thực nghiệm sẽ rèn các kĩ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kĩthuật tổng hợp cho HS

- Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, laođộng sản xuất và bảo vệ môi trường

- Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy

1.2.2.2 Ý nghĩa phát triển.

Thông qua giải BTHH, phát triển ở HS các năng lực tư duy logic, giải quyết vấn đề, nhận thức, biện chứng, khái quát, độc lập, thông minh và sáng tạo

1.2.2.3 Ý nghĩa giáo dục.

- Rèn luyện tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoahọc hoá học

- BTHH là nguồn tạo hứng thú học tập cho HS

- Bài tập thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hoá lao động (laođộng có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc)

- Giáo dục kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp, dạy nghề cho HS

1.2.3 Phân loại BTHH

Có nhiều cách để phân loại BTHH, phụ thuộc vào việc lựa chọn cơ sởtiêu chí Dưới đây là một số cách phân loại BTHH:

1.2.3.1 Phân loại BTHH dựa theo nội dung.

- BTHH định tính: là các dạng BTHH có sự liên hệ với hoạt động quansát, giải thích các hiện tượng hoá học; sự điều chế các chất; xác định thành phần

Trang 17

hoá học các chất và phân biệt, nhận biết chúng; phương pháp tách, chiết hỗnhợp.

- BTHH định lượng: là các dạng BTHH sử dụng tính chất hoá học(chuẩn kiến thức hóa học) để tính toán lượng chất, khối lượng chất hoặcnhững số liệu khác mà đề bài yêu cầu

- BTHH thực nghiệm: là các dạng BTHH có liên quan đến các kĩ năngthực hành (quan sát, mô tả thí nghiệm, tái hiện thí nghiệm, )

1.2.3.2 Phân loại BTHH dựa trên hình thức.

- Hình thức tự luận: là loại BTHH.khi giải, HS phải tự viết câu trả lời,

tự trình bày, chứng minh bằng kiến thức và ngôn ngữ của mình

- Hình thức trắc nghiệm khách quan: là loại BTHH khi giải, HS chỉ cầnchọn một câu trả lời đúng nhất trong số các câu trả lời đã được đưa ra Tổngthời gian cho việc đọc đề bài, suy nghĩ và chọn câu trả lời trong khoảng 1- 2phút

1.2.3.3 Phân loại BTHH dựa vào mức độ nhận thức.

Chúng tôi phân loại BTHH theo 4 mức độ nhận thức của HS: Nhận biết– Thông hiểu - Vận dụng - Vận dụng cao

Thực tế cho thấy có nhiều cách phân loại BTHH, nhưng nó chỉ mang tính

chất tương đối

1.2.4 Sử dụng bài tập hoá học trong dạy học hoá học trung học phổ thông

1.3.4.1 Lựa chọn bài tập hóa học

Hiện nay, ngoài SGK, SBT còn xuất hiện rất nhiều loại sách tham khảo

về BTHH Nhưng tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà người dạy cần lựa chọncác bài tập cho thích hợp với nội dung và trình độ nhận thức của HS Khi lựachọn BTHH cần chú ý:

- Tùy theo khối lượng kiến thức HS lĩnh hội được để lựa chọn BTHH

- Thông qua việc giải BTHH của HS, người dạy có thể đánh giá đượcchất lượng học tập, phân loại được HS, đưa ra phương pháp kích thíchhứng thú học tập cho HS

Trang 18

- Dựa vào nội.dung giảng.dạy, người.dạy xây.dựng một hệ thống BTHHphù hợp với mức độ của từng khối, lớp.

- Hướng.đến chọn các BTHH có nhiều.cách giải đòi.hỏi HS phảisuy.luận, linh hoạt để có cách.giải nhanh.nhất, sẽ tạo hứng.thú, nâng cao chấtlượng.giải bài tập

- Sau mỗi bài giảng, cần rèn luyện cho HS có thói quen làm hết cácbài tập có trong SGK

HS từ việc.phân tích sai dẫn đến giải.sai

+ Cần lựa chọn các bài điển hình, các dạng bài tập bắt buộc

- Khi chú trọng tới số.lượng: HS phổ thông rất cần phải chữa nhiềubài tập, kiểm tra để khuyến khích HS học tập, đánh giá kịp thời chất lượngdạy học GV có thể tiến hành theo các hình thức sau:

+ Tiến hành vào đầu hoặc cuối giờ học, kiểm tra một lúc nhiều HS.+ Kiểm tra trắc nghiệm

- Loại bỏ những bài tập có nội dung lắt léo, giả định rắc rối, phức tạp,

xa rời hoặc phi thực tiễn hoá học

Trang 19

- Tăng cường sử dụng bài tập thường gặp trong các đề thi THPT Quốc

- Tăng cường sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan

- Xây dựng bài tập mới để rèn luyện cho HS năng lực phát hiện vấn đề

Trang 20

và giải quyết vấn đề.

- Đa dạng hoá các loại hình bài tập như bài tập vẽ đồ thị

- Xây dựng những bài tập có nội dung hoá học phong phú, sâu sắc, phầntính toán đơn giản nhẹ nhàng

- Xây dựng và tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm định lượng

1.3 Bài tập hoá học THPT sử dụng phương pháp đồ thị

- Bài tập sử dụng phương pháp đồ thị là một dạng bài tập tuy khôngmới nhưng những năm gần đây thường xuyên xuất hiện trong đề thi THPTQuốc gia, vì thế, cần chú ý xây dựng

1.3.2 Phân loại bài tập sử dụng phương pháp đồ thị

Trong khoá luận này, tôi chia bài tập có sử dụng hình vẽ theo 4 mức độ:

- Mức độ nhận biết;

- Mức độ thông hiểu;

- Mức độ vận dụng;

- Mức độ vận dụng cao

Trang 21

1.3.3 Vai trò của bài tập hoá học sử dụng phương pháp đồ thị

Hiện nay, bài tập sử dụng phương pháp đồ thị còn khá ít do vậy cũng ítđược sử dụng

Muốn thiết kế bài tập sử dụng phương pháp đồ thị cần dựa vào lượngchất tham gia phản ứng cũng như để sáng tạo Đây là dạng bài tập mang tínhtrực quan, logic, liên hệ nhiều với kiến thức toán học, BT có sử dụng phươngpháp đồ thị có tác dụng:

- Mô tả, thay thế đề bài( lời văn, số liệu) một cách ngắn gọn, đầy đủ

và khoa học

- Giúp HS hình dung được sự biến thiên lượng chất trong quá trìnhxảy ra phản ứng hóa học giúp HS nắm được dữ kiện và yêu cầu bài toán theocách nhanh nhất

- Giúp HS rèn luyện kĩ năng vẽ đồ thị, kỹ năng đọc đồ thị

- Giúp HS phát triển kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, suy đoán

- Rèn luyện năng lực quan sát cho HS, là cơ sở để HS tư duy

- Giúp GV tiết kiệm thời gian do không phải mô tả, giải thích dài dòng

- Gây chú ý cho HS, nâng cao hiệu quả giảng dạy của GV và hoạtđộng học tập của HS

1.4 Nguyên tắc xây dựng một số BTHH sử dụng phương pháp đồ thị

- Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học

Bài tập là một phương tiện để tổ chức các hoạt động của học sinhnhằm khắc sâu, vận dụng và phát triển hệ thống kiến thức lí thuyết đã học,hình thành và rèn luyện các kĩ năng cơ bản

Mục tiêu của hoá học ở trường THPT (đối với ban cơ bản), cung cấpcho HS hệ thống kiến thức, kĩ năng phổ thông, cơ bản, hiện đại, có nâng cao

về hoá học

- Hệ thống bài tập cần phải bám sát nội dung bài học, có tính ứngdụng cao

Trang 22

Căn cứ vào mục tiêu của từng nội dung trong bài để xây dựng, lựachọn bài tập cho phù hợp với mục tiêu đó.

Các bài tập đưa ra phải bám sát nội dung chương trình học, đồng thờikhai thác được những khía cạnh thường xuyên xuất hiện trong các đề thiTHPT Quốc gia nhằm đem lại kết quả cao

- Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học

Khi xây dựng nội dung của bài tập phải có sự chính xác về kiến thứchoá học, bài tập, đồ thị cung cấp phải chính xác và có chủ đích, cho đủ cácđiều kiện, không được dư hay thiếu Các bài tập không được mắc sai lầm vềmặt thiếu chính xác trong cách diễn đạt, nội dung thiếu logic chặt chẽ Vì vậygiáo viên khi ra bài tập cần nói, viết một cách logic chính xác và đảm bảo tínhkhoa học về mặt ngôn ngữ hoá học

- Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính đa dạng, tính hệ thống

Các bài tập được sắp xếp theo từng dạng bài từ dễ đến khó, phù hợpvới từng đối tượng HS Toàn bộ hệ thống bài tập đều nhằm giúp HS nắmvững kiến thức, hình thành và phát triển hệ thống kĩ năng cơ bản

- Hệ thống bài tập đảm bảo tính vừa sức và phân loại

Hệ thống bài tập phải xây dựng từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phứctạp: Đầu tiên là những bài tập sử dụng phương pháp đồ thị vận dụng theomức đơn giản, sau đó là những bài tập phức tạp hơn, sau đó đòi hỏi các dạngbài tập vận dụng, sáng tạo Đối với mỗi dạng bài mức độ khó tăng dần theotrình độ phát triển của HS

- Hệ thống bài tập phải củng cố kiến thức cho HS

Sự nắm vững kiến thức có thể phân biệt ở ba mức độ: nhận biết, hiểu,vận dụng và vận dụng cao HS nắm vững kiến thức hoá học một cách chínhxác khi họ được hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận dụng và chiếm lĩnh kiến thứcthông qua nhiều dạng bài tập khác nhau

- Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính sư phạm

Trang 23

Các kiến thức bên ngoài khi đưa vào làm bài tập đều phải qua khâu

xử lí sư phạm để phù hợp với phương pháp giảng dạy và thúc đẩy khả năngtiếp thu của HS

- Hình vẽ đồ thị đúng quy chuẩn, có tính thẩm mĩ, có đường nét cânđối, chính xác

- Hệ thống bài tập phải phát huy tính tích cực nhận thức, năng lực vậndụng sáng tạo của HS

Tuỳ theo trình độ HS mà xây dựng hệ thống bài tập cho phù hợp vớikhả năng của HS Bài tập từ dễ đến khó, nếu thấy HS đã đạt mức độ dễ thìnâng dần lên mức độ cao hơn

1.5 Quy trình xây dựng một số bài tập sử dụng phương pháp đồ thị

Bước 1: Xác định cấu trúc hệ thống bài tập.

- Bài tập về phản ứng CO2 tác dụng với các dung dịch base

- Bài tập về phản ứng của muối nhôm với dung dịch kiềm và phản ứngcủa muối aluminate với dung dịch acid mạnh (H+)

Ở mỗi nhóm các bài tập được xây dựng gồm các bài tập sử dụngphương pháp đồ thị, được sắp xếp theo 4 mức độ từ dễ đến khó:

- Mức độ 1: Mức độ “Nhận biết” là mức độ thấp nhất, ở mức độ này

HS chỉ cần nắm vững các kiến thức cơ bản, không đòi hỏi tư duy logic nhiều,

HS nhớ kiến thức một cách máy móc HS chỉ cần ghi nhớ dạng đồ thị tươngứng với dạng toán, áp dụng số liệu theo từng bước đã có và giải bài toán

- Mức độ 2: Mức độ “Thông hiểu”, mức độ này đòi hỏi khả năng thấuhiểu được ý nghĩa đồ thị, giải thích được sự biến thiên lượng chất và giả sửcác trường hợp có thể xảy ra tương ứng với đồ thị biểu diễn Đòi hỏi HSnhững kiến thức về các hiện tượng thí nghiệm, dự đoán khả năng phản ứng,tại sao lại xảy ra những phản ứng khác

- Mức độ 3: Mức độ “Vận dụng” là mức độ đòi hỏi HS phải hiểu rõbản chất phản ứng, nắm chắc kiến thức, có sự so sánh, phân tích để giải quyếtcác vấn đề có liên quan

Trang 24

- Mức độ 4: Mức độ “Vận dụng cao” đòi hỏi HS phải có khả năngtổng hợp kiến thức nhiều bài, nhiều chương, khả năng sử dụng thông tin vàbiến đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác, tư duy logic phức tạp hơn,liên hệ vận dụng vào thực tiễn.

Bước 2: Hệ thống được các kiến thức trọng tâm của từng nội dung

khai

Trang 25

Bước 3: Thu thập thông tin để xây dựng hệ thống bài tập

- Các bài tập trong SGK, SBT hoá học trung học phổ thông

- Bài tập trong các sách tham khảo, báo, tạp chí,…

- Các thông tin trên mạng internet,…

Bước 4: Thiết kế bài tập.

- Soạn từng bài tập

- Đưa ra cách giải tối ưu nhất

- Dự kiến những tình huống, những sai lầm HS có thể xảy ra trong quá trình HS giải bài tập và cách khắc phục

- Sắp xếp các bài tập theo ba mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng.”

Bước 5: Lấy ý kiến của các chuyên gia và chỉnh sửa.

1.6 Phương pháp chung để giải một số bài toán hóa học phổ thông sử dụng phương pháp đồ thị.

- Xác định hình dạng đặc trưng của mỗi đồ thị đối với từng dạng bài tập

- Nắm vững lý thuyết, các công thức tính nhanh

Trang 26

- Hiểu ý nghĩa của từng giai đoạn phản ứng được phản ánh trên đồ

- Dựa vào đồ thị, hiểu được bản chất và thứ tự các phản ứng có thểxảy ra trong quá trình phản ứng

- Từ sự quan sát, đọc hiểu, phân tích trên, bám sát đồ thị và giả thiết

để trả lời các yêu cầu của bài toán

1.7 Cơ sở lý thuyết của phản ứng CO 2 tác dụng với các dung dịch base, phản ứng của muối nhôm với dung dịch kiềm và phản ứng của muối aluminate với dung dịch acid mạnh( H + ).

1.7.1 Cơ sở lý thuyết của phản ứng CO 2 tác dụng với các dung dịch base.

CO2 là một oxit axit, tan khá nhiều trong nước tạo ra dung dịch axit yếu tương ứng là acid carbonic ( H2CO3)

Xét về tính chất hóa học của acid carbonic:

CO2 + 2H2O H3O+ +

[HCO3]−[HCO3]− + H2O H3O+ +

[CO3]2−

CO2 + 2H2O H+ + [HCO3]− H+ + [CO3]2−

(1)Những phân tử acid H2CO3 không bền Khi đun nóng dung dịch, cân bằng(1) dịch chuyển mạnh sang trái tạo CO2 và ngược lại, khi kiềm hóa, cânbằng chuyển dịch sang phải tạo ra muối hidrocarbonate hoặc muối carbonateTrong chương trình hóa học phổ thông, acid carbonic tạo ra 2 loại muối là:

Trang 27

 Muối carbonate (muối trung hòa): chứa anion CO3

2- Muối hidrocarbonate (muối acid): chứa cation HCO3Quay trở lại bài toán ta đang xét:

Trang 28

-Khi sục CO2 vào dung dịch base, để đơn giản hóa, người ta cho rằng diễn biến phản ứng xảy ra lần lượt như sau:

CO2 + 2OH− → CO32− + H2O

Trang 29

Nếu dư CO2:

CO32− + CO2 + H2O → 2HCO3−Hoặc : CO2 + 2OH− → HCO3−

Dạng bài tập khai thác chuỗi phản ứng này của CO2 gặp rất nhiều trong các

đề thi cũng như bài kiểm tra Thay vì viết cụ thể từng PTHH theo khả năngxảy ra phản ứng và tính toán thông thường, HS nên tìm hiểu và rèn luyện sửdụng phương pháp đồ thị để giải dạng toán này

1.7.2 Cơ sở lý thuyết về phản ứng muối nhôm với dung dịch kiềm, phản ứng của muối aluminate với dung dịch acid mạnh( H + ).

Khi cho muối nhôm tác dụng với dd kiềm, quá trình này được xem

là quá trình thay thế các phân tử H2O trong ion [Al(H2O)6]3+:

[Al(H2O)6]3+ + OH− → [Al(OH)(H2O)5]2+ + H2O

[Al(OH)(H2O)5]2+ + OH− → [Al(OH)2(H2O)4]+ +

H2O [Al(OH)2(H2O)4]+ + OH− → [Al(OH)3(H2O)3]

+ H2ONếu kiềm dư, các ion [Al(OH)4(H2O)2]−, [Al(OH)5(H2O)2]2−,

[Al(OH)6]3− sẽ được tạo thành

Các ion này được gọi chung là ion hidroxyaluminate Khi làm bay hơi dung dịch muối kiềm các ion này thu được muối được biểu diễn ở dạng đơn giản là MAlO2 (M là kim loại kiềm)

 Muối MAlO2 có khả năng phản ứng với dung dịch axit mạnh (H+) để tạo thành kết tủa Al(OH)3 và được diễn biến theo các phản ứng với bản chất là các phản ứng ion sau:

H+ + AlO2− + H2O →

Al(OH)3 ↓Nếu dư H+: 3H+ + Al(OH)3 → Al3+ + H2O

Trang 30

Hoặc có thể viết:

4H+ + AlO2− → Al3+ + 2H2O

Trang 31

 Mặt khác, khi có mặt dung dịch kiềm, muối MAlO2 có khả năng phản ứng với dung dịch axit mạnh (H+) theo diễn biến sau:

H+ + OH− →

H2O

H+ + AlO2− + H2O → Al(OH)3 ↓Nếu dư H+: 3H+ + Al(OH)3 → Al3+ + H2O

Hoặc có thể viết:

4H+ + AlO2− → Al3+ + 2H2O

 Hợp chất Al(OH)3 có tính lưỡng tính, được đề cập trong rất nhiều bàitập Một trong số đó là dạng bài tập tác dụng với dung dịch kiềm vàmuối aluminate tác dụng với dung dịch acid mạnh( H+) sử dụngphương pháp

đồ thị để giải

Trang 32

Chương 2 XÂY DỰNG MỘT SỐ DẠNG BÀI TẬP VÀ HỆ THỐNG MỘT SỐ BÀI TẬP HOÁ HỌC PHỔ THÔNG SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỒ THỊ 2.1 Một số dạng bài tập hóa học phổ thông sử dụng phương pháp đồ thị.

2.1.1 Dạng bài tập CO 2 tác dụng với dung dịch Ba(OH) 2 hoặc Ca(OH) 2.

2.1.1.1.Thiết lập đồ thị và ý nghĩa của đồ thị trong việc giải bài tập

Xét đại diện phản ứng CO 2 tác dụng với dung dịch Ba(OH) 2 :

Vẽ đồ thị: (số liệu các chất tính theo đơn vị mol)

+ Trục tung biểu diễn số mol chất sản phẩm tạo thành (n)

+ Trục hoành biểu diễn số mol chất thêm vào (nCO2)

Dựng đồ thị dựa theo chiều hướng xảy ra phản ứng tùy theo tỉ lệ sốmol các chất

Khi sục khí CO2 vào dd Ba(OH)2, phản ứng lần lượt xảy ra theo 2 giai

Trang 33

 Nửa trái đồ thị: dư Ba(OH)2, đồ thị đồng biến.

n = nCO2

 Giai đoạn 2: Kết tủa tan

PTHH:

Lượng kết tủa từ cực đại giảm dần đến hết

 Nửa phải đồ thị: dư CO2, đồ thị nghịch biến.

Trang 34

Đặt n=x (mol), nBa(HCO3)2=y (mol)

BTNT ta có: nBa(OH)2= x+y (*)

nCO2= x+2y (**)Nhân (*) với 2 rồi trừ cho (**), ta có:

x= n= 2nBa(OH)2 – nCO2

Dáng đồ thị: Tam giác vuông cân

Tỉ lệ n CO2 : ntrong đồ thị luôn luôn là 1:1

Hình 2.1: Đồ thị đặc trưng của bài tập CO 2 tác dụng với dung dịch

Ba(OH) 2 hoặc Ca(OH) 2.

Dựa vào đồ thị, HS có thể xác định được:

+ Tính được lượng kết tủa bất kỳ dựa vào yêu cầu bài toán

+ Tìm được khoảng giá trị CO2 phản ứng theo yêu cầu bài toán.+ Những yêu cầu khác của bài toán liên quan đến số mol CO2 và

số mol kết tủa

2.1.1.2 Ví dụ

VÍ DỤ 1: Hấp thụ hết V lít CO2 ở đktc vào 2 lít dung dịch Ba(OH)20,05M thu được 9,85 gam kết tủa Gía trị của V là:

Trang 35

A 1,12 lít B 1,12 lít hoặc 3,36 lít

C 3,36 lít D 3,36 lít hoặc 5,6 lít

Giải:

Từ giả thiết, ta có:

nBa(OH)2= 0,1 mol => n max= 0,1 mol

nCO2 max có thể phản ứng = 2nBa(OH)2

Ngày đăng: 07/07/2020, 08:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Nguyễn Xuân Trường (2006), Sử dụng bài tập trong dạy học hóa học ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Sử dụng bài tập trong dạyhọc hóa học ở trường phổ thông
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Xuân Trường
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
2. Bộ giáo dục và đào tạo (2008), Sách giáo viên Hoá học 11, 12 cơ bản, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Hoá học 11, 12 cơ bản
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2008
3. Tô Xuân Giáp (1997), Phương tiện dạy học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phương tiện dạy học
Tác giả: Tô Xuân Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
4.TS. Cao Cự Giác, Bài tập lý thuyết và thực nghiệm Hóa học – Tập 1:Hóa học Vô cơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập lý thuyết và thực nghiệm Hóa học – Tập 1
5. Phạm Ngọc Hằng chủ biên, “Phương pháp 11: Khảo sát đồ thị 125” – 16 phương pháp và giải nhanh bài tập trắc nghiệm môn Hóa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp 11: Khảo sát đồ thị 125” –
8. PGS. TS. Nguyễn Xuân Trường – ThS. Quách Văn Long (2011), Ôn tập kiến thức và luyện giải nhanh bài tập trắc nghiệm hoá học THPT – Hoá vô cơ, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ôntập kiến thức và luyện giải nhanh bài tập trắc nghiệm hoá học THPT – Hoá vôcơ
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Xuân Trường – ThS. Quách Văn Long
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2011
9. Nguyễn Duy Ái, “Chương XV: Các kim loại kiềm, kiềm thổ và nhôm”– Tài liệu giáo khoa chuyên Hóa học 11-12 tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương XV: Các kim loại kiềm, kiềm thổ và nhôm”–
10. PGS.TS Nguyễn Xuân Trường (2010), Phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hóahọc ở trường phổ thông
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Xuân Trường
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
11. Hoàng Nhâm chủ biên, “Chương IV: Các nguyên tố nhóm IIIA ; Chương V: Các nguyên tố nhóm IVA” – Giáo trình Hóa vô cơ tập 1, 2, 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương IV: Các nguyên tố nhóm IIIA ;Chương V: Các nguyên tố nhóm IVA”
12. Nguyễn Xuân Trường (2003), Bài tập hoá học ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập hoá học ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Xuân Trường
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
6. GV. Kim Văn Bính- THPT Yên Lạc, Giải bài tập hóa học bằng phương pháp đồ thị Khác
7.Thái Duy Tuyên (2007), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, NXB Giáo dục Khác
13. Trần Quốc Sơn, Tài liệu chuyên khoa Hóa 10, 11, 12 Khác
(1) Các nguyên tố thuộc nhóm IVA đều có tính phi kim Khác
(2) Trong nhóm IVA theo chiều tăng dần điện tích hạt nhân bán kính của các nguyên tử các nguyên tố tăng dần Khác
(3) CO 2 , SiO 2 , GeO 2 , SnO 2 , PbO 2 có tính lưỡng tính Khác
(4) Số oxi hoá có thể có của Cacbon trong hợp chất là: +4, +2 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w