Mục tiêu của luận án nhằm đề xuất hướng giải quyết nhằm hình thành thành thị trường hàng hóa nông sản giao sau; làm rõ bản chất, chức năng, vai trò thị trường, nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài và rút ra các bài học cho Việt Nam.
Trang 1đại học quốc gia hà nội
Trường Đại học kinh tế
-
Nguyễn lương thanh
Sự hình thμnh thị trường hμng hoá giao sau cho một số nông sản ở việt nam
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 62.31.01.01
Tóm tắt Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Kinh tế,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Nguời hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Nguyễn Văn Nam
2 TS Phạm Quang Vinh
Phản biện 1 : PGS.TS Lờ Xuõn Bỏ
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Đỡnh Long
Phản biện 3: PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng cấp nhà nước chấm luận án tiến sĩ họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia, Hà Nội vào hồi 16 giờ 00 ngày 29 tháng 6 năm 2010
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm thông tin - Thư viên Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 3Các công trình khoa học của tác giả đ∙ công
bố liên quan đến luận án
A Bài đăng tạp chí
1) Nguyễn Lương Thanh (2009), “Thị trường hàng hoá nông sản giao
sau - giải pháp cho sự phát triển mới”, Đặc san tài chính, số 175 tháng
9/2009, tr 28-29
2) Nguyễn Lương Thanh (2009), “Thị trường hàng hoá nông sản giao
sau và vai trò của nó đối với việc tiêu thụ nông sản ở nước ta”, Tạp chí quản
lý kinh tế, số 28 tháng (9+10)/ 2009, tr 67-69
B Đề tài nghiên cứu khoa học
3) Nguyễn Lương Thanh (2001), Chủ nhiệm đề tài khoa học công nghệ
cấp Bộ (Bộ Thương mại),“Một số kiến nghị về giải pháp nhằm phát triển quan hệ kinh tế thương mại nước ta với một số thị trường chủ yếu Nam á- Trung cận đông”, Mã số: 96-78-102 Bộ Thương mại, Hà Nội Biên bản
nghiệm thu ngày 22/11/2001
4) Nguyễn Lương Thanh (1999), Chủ nhiệm đề tài khoa học công nghệ
cấp Bộ (Bộ Thương mại), “Xu hướng phát triển và định hướng tổ chức quản
lý nhà nước các dịch vụ thương mại ở Việt Nam đến năm 2010”, Mã số:
2001-78-007 Bộ Thương mại, Hà Nội Biên bản nghiệm thu ngày 18/10/1999
Trang 4mở đầu
1 Sự cần thiết nghiên cứu của đề tài
Trong thời gian qua, nhờ những chủ trương đúng đắn về phát triển sản xuất nông nghiệp, nên khối lượng hàng hoá nông sản đã tăng lên đáng kể Tuy nhiên, việc tiêu thụ nông sản hàng hoá đã gặp phải những khó khăn bất cập, Chính phủ đã tiến hành một số biện pháp nhằm thúc đẩy tiêu thụ như trợ giá xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất mua gom tạm trữ…, song nhìn chung còn thiếu tính chiến lược và nặng về xử lý tình huống Sự biến động phức tạp về giá cả nông sản trên thị trường và điệp khúc “được mùa mất giá, được giá mất mùa”vẫn thường xảy ra, ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất nông nghiệp
Tại các nước tiên tiến, việc phát triển sản xuất nông nghiệp thường gắn liền với tiêu thụ, bằng cách hình thành nhiều loại hình thị trường, mà một trong các loại hình
đó là “thị trường hàng hóa nông sản giao sau” Trên thị trường này, việc mua bán
nông sản được tiến hành thông qua việc giao dịch các hợp đồng giao sau Nhờ đó, mà nhà sản xuất chủ động được việc tiêu thụ nông sản, giảm thiểu được rủi ro về giá trước những biến động phức tạp của thị trường Thị trường này còn là nơi thu hút sự tham gia của các nhà kinh doanh rủi ro, các tổ chức tài chính, ngân hàng vào tiêu thụ nông sản Thị trường còn là nơi cung cấp thông tin về cung cầu và giá cả nông sản, giúp cho công tác thống kê thương mại và quản lý nhà nước
Để thiết lập thị trường ở nước ta, cần phải nghiên cứu bản chất, cơ chế hoạt
động cũng như các điều kiện cơ bản của việc hình thành thị trường Tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng các điều kiện đó, đề xuất định hướng, mô hình và giải pháp
nhằm hình thành thị trường Đó chính là sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài “Sự hình thành thị trường hàng hóa giao sau cho một số nông sản ở Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
ở các nước phát triển việc nghiên cứu về sự hình thành và phát triển thị trường
đã được tiến hành từ lâu Hiện nay, tại nhiều nước thị trường đã được hình thành và đã
đi vào hoạt động, nên các nghiên cứu thường tập trung vào nghiệp vụ kinh doanh trên thị trường
ở nước ta tuy thị trường chưa hình thành, nhưng cũng đã có các nghiên cứu về bản chất, vai trò của thị trường, tuy nhiên chưa có tính hệ thống Một số công trình nghiên cứu đáng chú ý là: Nghiên cứu về “Thị trường hàng hoá giao sau và việc triển khai xây dựng ở Việt Nam” (2000) của PGS.TS Nguyễn Văn Nam, nghiên cứu này
đã nêu lên những nét tổng quan về thị trường hàng hoá giao sau Nghiên cứu của Lê Hoàng Nhi “Định hướng xây dựng khung khổ pháp lý cho hợp đồng giao sau trong thị trường giao sau tại Việt Nam” (2004) và Vũ Thị Minh Nguyệt “ Các dạng hợp đồng giao dịch trong thị trường hàng hóa giao sau” (2005), đã tập trung vào khía cạnh hợp
đồng một nội dung quan trọng của thị trường hàng hoá giao sau
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là đề xuất định hướng, giải pháp nhằm hình thành thị trường hàng hóa nông sản giao sau ở nước ta trong thời gian tới
Trang 5Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là: làm rõ bản chất, chức năng, vai trò của thị trường; Nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài và rút ra các bài học cho Việt Nam; Phân tích, đánh giá thực trạng những điều kiện cơ bản của việc hình thành thị trường
ở nước ta; Đề xuất định hướng, mô hình và giải pháp nhằm hình thành thị trường
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự hình thành thị trường hàng hoá giao sau cho một số nông sản ở nước ta
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài về không gian là địa bàn cả nước, về thời gian
là từ năm 1990 đến hết năm 2008
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu phổ biến là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Một số phương pháp cụ thể được vận dụng trong quá trình nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu điển hình, phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích, đánh giá
6 Những đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Đề tài cung cấp những nội dung cơ bản về một loại hình thị trường mới ở nước ta, đồng thời làm rõ vai trò của thị trường đối với việc thúc đẩy tiêu thụ và giảm thiểu rủi ro về giá nông sản trước những biến động phức tạp của thị trường
- Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các nước Thái Lan, Trung Quốc và Hoa kỳ, đề tài đã rút ra các bài học cho Việt nam trong việc hình thành và phát triển thị trường hàng hoá nông sản giao sau
- Hình thành cơ sở khoa học về những điều kiện để hình thành thị trường hàng hoá nông sản giao sau, đồng thời đánh giá thực trạng các điều kiện đó ở nước ta
- Đề xuất các quan điểm, mô hình, giải pháp và kiến nghị nhằm hình thành trường hàng hoá nông sản giao sau ở nước ta trong thời gian tới
- Cung cấp những tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu về một loại hình thị trường kinh doanh rủi ro mới ở nước ta
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và các tài liệu tham khảo luận án sẽ được kết cấu thành 3 chương như sau: Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và các tài liệu tham khảo luận án sẽ được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự hình thành thị trường hàng hoá nông
sản giao sau
Chương 2: Phân tích, đánh giá thực trạng những điều kiện hình thành thị trường
hàng hoá nông sản giao sau ở nước ta
Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp hình thành thị trường hàng hoá
nông sản giao sau ở Việt Nam
Trang 6Chương 1 Cơ sở lý luận vμ thực tiễn về sự hình thμnh thị trường hμng hoá nông sản giao sau
1.1 Khái quát về thị trường hμng hóa giao sau
1.1.1 Khái niệm
Trong nền sản xuất hàng hoá, thị trường là cơ sở để người sản xuất quyết định sản xuất cái gì, cho ai và như thế nào?Việc mua bán trên thị trường có thể tiến hành theo nhiều phương thức người mua và người bán gặp gỡ trực tiếp để thoả thuận, nếu thoả thuận xong là nhận hàng và thanh toán Tuy nhiên, cũng có trường hợp việc thoả thuận được tiến hành trước, còn việc giao hàng và nhận tiền lại được thực hiện sau một khoảng thời gian nhất định Sự tách biệt về thời gian từ khi thoả thuận đến khi giao tiền, nhận hàng là tiêu chí quan trọng phân biệt khái niệm thị trường giao ngay
và thị trường giao sau
Trong thị trường giao sau, việc mua bán được tiến hành thông qua các hợp
đồng giao sau Đó là một cam kết pháp lý của các bên về việc mua hoặc bán một hàng hóa với khối lượng, chất lượng, thời gian giao hàng, còn giá cả không phải là giá giao ngay của thời điểm hiện tại, mà là giá trong một khoảng thời gian sau đó nhưng lại được ấn định vào thời điểm hiện tại
Do thị trường biến động nên giá cả được cam kết trên hợp đồng thường chênh lệch với giá thực trên thị trường, nên người ta có thể mua đi, bán lại trao tay các hợp
đồng trước ngày nó được thanh lý Nếu người sở hữu hợp đồng không muốn thực hiện
nó, thì họ có thể bán lại cho người khác Giá chuyển nhượng hợp đồng lên xuống phụ thuộc vào diễn biến của giá hàng hoá trên thị trường, hay chính xác hơn là sự chênh lệch giữa giá ghi trên hợp đồng và giá trên thị trường giao ngay
Việc mua bán các hợp đồng có thể diễn ra một cách tự phát phi tập trung, nhưng cũng có thể diễn ra tại một địa điểm tập trung, có tổ chức chặt chẽ theo quy
định của pháp luật và được gọi là “sở giao dịch hàng hoá” Cả giao dịch phi tập trung (ngoài sở) lẫn tập trung tại sở giao dịch tạo thành một thị trường mới gọi là thị trường
hàng hoá giao sau Đây là một loại hình thị trường, mà ở đó người ta mua bán với nhau, không phải là giao ngay trực tiếp những lô hàng đang có, mà chỉ là ký kết các hợp đồng mua bán những lô hàng sẽ có, với những tiêu chuẩn về chất lượng và số lượng đã định, còn việc giao hàng và thanh toán được thực hiện sau một thời gian nhất định, theo những quy định có tính pháp lý
Việc tham gia vào thị trường hàng hoá giao sau về thực chất là tham gia vào các bên của hợp đồng giao sau, vì lẽ đó người ta còn gọi thị trường hàng hoá giao sau là thị trường hợp đồng Tuy nhiên, so với hợp đồng giao ngay, các hợp đồng giao sau có các điểm khác biệt về giá cả và tính linh hoạt để giải phóng nghĩa vụ của các bên tham gia.Trong hợp đồng giao ngay giá cả của hàng hoá là giá của thị trường ở thời
điểm hiện tại, còn giá cả trong hợp đồng giao sau là giá dự đoán của hàng hoá trên thị trường trong tương lai.Trong các hợp đồng giao ngay nghĩa vụ và quyền lợi (hay vị thế) của các bên tham gia, không thay đổi cho đến ngày thực hiện hợp đồng Trong hợp đồng giao sau, các bên có thể kết thúc sớm vị thế của mình, thông qua việc
Trang 7chuyển nhượng các hợp đồng trên thị trường Sỡ dĩ các hợp đồng này có thể chuyển nhượng được, là vì nó có thể mang lại lợi ích cho người sở hữu nó, do sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường sau một khoảng thời gian nhất định
1.1.2 Các loại hình thị trường hàng hoá giao sau
1.1.2.1 Hợp đồng triển hạn và thị trường triển hạn
Hợp đồng triển hạn (Forward contract) là một thoả thuận tay đôi (có thể qua
nhà môi giới) diễn ra ngoài sở giao dịch về việc mua bán một hàng hoá nào đó với số lượng và giá cả xác định nhưng được giao và thanh toán vào một thời điểm đã được ấn
định trong tương lai Đây là loại hợp đồng đơn giản nhất trong các hợp đồng giao sau, chẳng hạn hợp đồng thỏa thuận về việc mua bán nông sản giữa nông dân và nhà chế biến hoặc nhà buôn Mỗi hợp đồng được thiết kế các điều khoản cụ thể theo từng giao
dịch riêng rẻ Thị trường giao dịch loại hợp đồng triển hạn gọi là thị trường triển hạn
(forward market) Trong lịch sử phát triển của thương mại thế giới, loại thị trường này xuất hiện rất sớm Tuy nhiên, điểm hạn chế của thị trường này là sự ràng buộc pháp lý chưa cao, rủi ro lúc thực hiện hợp đồng luôn có thể xảy ra, cơ chế thanh toán còn thiếu linh hoạt, khi muốn chuyển nhượng hợp đồng thì người nắm giữ phải tìm được người có nhu cầu muốn mua hoặc phải tìm đến nhà môi giới
1.1.2.2 Hợp đồng kỳ hạn và thị trường kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn (Futures contract) về nội dung cũng giống như một hợp đồng
triển hạn, tuy nhiên có sự khác nhau cơ bản là các hợp đồng kỳ hạn được thiết lập tại một sở giao dịch chính thức, hoạt động theo quy định của luật pháp Các hợp đồng kỳ hạn có sự bảo lãnh của sở giao dịch nên làm giảm rủi ro hơn rất nhiều so với triển
hạn Hơn nữa, các điều khoản hợp đồng kỳ hạn đều được chuẩn hoá ở mức cao Thị trường kỳ hạn (Futures markets) là các sở giao dịch hàng hóa kỳ hạn Tại các sở này
người ta có thể mua bán các hợp đồng kỳ hạn một cách dễ dàng, nên rất linh hoạt Nhờ tính chặt chẽ và linh hoạt, nên thị trường không chỉ thu hút sự tham gia của những người có nhu cầu mua bán thực sự, mà cả những nhà kinh doanh rủi ro Ngoài những người kinh doanh thị trường còn thu hút được sự tham gia của các nhà môi giới, các tổ chức tài chính, ngân hàng
1.1.2.3 Hợp đồng quyền chọn và thị trường quyền chọn
Hợp đồng quyền chọn (Option contract) là một thoả thuận cam kết nhằm lựa
chọn quyền mua hoặc bán một một khối lượng hàng hoá nào đó trong tương lai với giá xác định cho đến ngày đáo hạn Một điều đáng chú ý trong hợp đồng quyền chọn
là sự khác nhau cơ bản về quyền lợi và nghĩa vụ giữa người mua và người bán quyền chọn Người mua quyền chọn có quyền chứ không có nghĩa vụ bắt buộc phải mua hoặc bán hàng hoá theo giá cả đã cam kết, còn người bán quyền thì ở vị thế ngược lại.Trong thời hạn hợp đồng, người mua có quyền được mua hoặc bán một khối lượng hàng hoá trong hợp đồng với giá định trước Tuy nhiên, dù hợp đồng có thực hiện hay không người mua quyền vẫn phải trả tiền, gọi là giá cho quyền chọn
Thị trường quyền chọn (option markets) là nơi diễn ra các giao dịch hợp đồng
quyền chọn, việc mua bán coá thể diễn ra ngoài sở hoặc tại các sở giao dịch tập trung Trong lịch sử, thị trường quyền chọn xuất hiện sau thị trường kỳ hạn, nhưng hiện nay
Trang 8phát triển rất mạnh vì được ưa thích hơn Thị trường quyền chọn là công cụ rất hữu hiệu để các nhà sản xuất, kinh doanh cả bên mua lẫn bên bán bảo hiểm rủi ro do biến
động giá cả Nó làm tăng khả năng chuyển dịch và quản lý, chuyển rủi ro từ nhà sản xuất có khả năng chịu đựng thấp, sang các nhà kinh doanh rủi ro có khả năng chịu
đựng cao.Hiện nay, giao dịch các hợp đồng quyền chọn đã phát triển và xuất hiện một hình thức khá phổ biến trên thị trường nông sản hàng hóa là giao dịch quyền chọn trên hợp đồng kỳ hạn Đây là sự kết hợp quan trọng của giao dịch kỳ hạn và quyền chọn trên thị trường giao sau Quyền chọn trên hợp đồng kỳ hạn cho người mua quyền, được mua hoặc bán một hợp đồng kỳ hạn vào một ngày trong tương lai với giá
đã cố định ngày hôm nay
1.1.3 Các thành phần tham gia thị trường
Tất cả các nhà giao dịch trên thị trường hàng hoá giao sau có thể phân ra làm 2 loại là thành viên môi giới và thành viên kinh doanh.Thành viên môi giới (người trung gian hoa hồng) là người thực hiện các giao dịch cho người khác và kiếm lời bằng cách thu một khoản phí từ mỗi giao dịch của khách hàng Khách hàng của các trung gian hoa hồng có thể là các nhà đầu tư nhỏ lẻ hoặc các công ty Thành viên kinh doanh kiếm lời bằng cách mua một hợp đồng nào đó rồi sau bán lại với giá cao hơn, hoặc ngược lại bán một hợp đồng nào đó với giá cao và hy vọng sau đó sẽ mua lại với giá thấp hơn (bán khống) Giao dịch của họ chính là điều kiện để cung cấp khả năng chuyển đổi cho mọi người Các thành phần tham gia giao dịch trên thị trường đều phải chịu một khoản phí giao dịch nhất định theo quy định của sở giao dịch hàng hoá
Các thành viên kinh doanh cũng có thể phân thành 2 loại là những nhà tự bảo hiểm và những nhà kinh doanh rủi ro (nhà đầu cơ) Nhà tự bảo hiểm, thông thường là những nhà sản xuất trực tiếp, họ tham gia thị trường với mục tiêu chủ yếu là tự bảo hiểm để tiêu thụ sản phẩm,hoặc mua nguyên liệu để chế biến Khác với nhà tự bảo
hiểm, các nhà đầu cơ được khuyến khích bởi lợi nhuận thu được thông qua việc mua
bán các hợp đồng
1.1.4 Sở giao dịch và công ty giao hoán
Thị trường hàng hoá giao sau bao gồm hai bộ phận là thị trường phi tập trung (OTC) và thị trường tập trung là sở giao dịch hàng hoá Sở giao dịch là bộ phận quan trọng nhất của thì trường hàng hoá giao sau Sở cung cấp các điều kiện cần thiết để các nhà đầu tư tham gia giao dịch Việc ký kết các hợp đồng thông qua sở, tăng khả năng thực thi các cam kết, của các bên trong hợp đồng Tại sở giao dịch các hợp đồng mua bán được chuyển nhượng, ngoài ra sở còn là nơi đảm nhận chức năng làm thủ tục giấy tờ nhằm mua bán và thực hiện hiệu quả các hợp đồng Sở giao dịch đóng vai trò quan trọng trong thị trường hàng hoá giao sau, cho nên nói đến việc hình thành thị trường hàng hoá giao sau, thì điều quan trọng nhất chính là việc thiết lập sở giao dịch hàng hoá
Mỗi một sở giao dịch hàng hoá phải có một tổ chức giao hoán (hay trung tâm thanh toán bù trừ) kèm theo, để thanh toán mọi doanh vụ giao dịch tại sở Về cơ chế hoạt động, hàng ngày sở giao dịch chuyển cho công ty giao hoán toàn bộ các doanh
vụ mua bán Căn cứ vào đó, công ty giao hoán thay mặt người mua và người bán thanh toán với đối tác bằng cách chuyển vào hoặc rút tiền ra từ tài khoản của các nhà
đầu tư
Trang 91.2 những lợi ích vμ hạn chế của thị trường hμng hóa giao sau
đối với việc tiêu thụ nông sản
Việc thiết lập thị trường mang lại nhiều lợi ích cho các đối tượng khác nhau Các nhà sản xuất (chủ trang trại, nhà chế biến nông sản),bảo hiểm được giá cả hàng hoá của mình trước sự biến động của thị trường giao ngay.Các nhà kinh doanh rủi ro,
có thể thu được lợi nhuận, thông qua việc dự đoán thành công xu hướng giá diễn ra trong tương lai Thị trường cho phép các nhà sản xuất trực tiếp có thể chuyển rủi ro sang các nhà đầu cơ kinh doanh rủi ro.Chính vì vậy, người ta gọi thị trường giao sau
là phương tiện để thực hiện xã hội hoá rủi ro về giá Đối với nhà nước, thị trường giao sau là công cụ để theo dõi tình hình giá cả, nhằm đưa ra các biện pháp điều tiết để ổn
định và phát triển kinh tế
Bên cạnh những lợi ích nói trên, thị trường hàng hoá giao sau nói chung và thị trường hàng hoá nông sản giao sau nói riêng, có những hạn chế nhất định
Đối với người nông dân, một mặt do tính nhỏ lẽ nên thường không đáp ứng
được các tiêu chuẩn quy định của sở giao dịch về số lượng và chất lượng hàng hoá nông sản, mặt khác do nhận thức thấp, nên sự tham gia thị trường của họ bị hạn chế
Đối với các nhà kinh doanh rủi ro,việc tham gia thị trường có thể mang lại lợi nhuận to lớn, nhưng cũng có thể dẫn đến thua lỗ, phá sản Nhiều người còn cho rằng việc kinh doanh trên thị trường hàng hoá giao sau có tính chất “đánh bạc”
Đối với nền kinh tế, do thị trường này cho phép nhà đầu cơ với một số lượng vốn nhất định, có thể nắm giữ được một khối lượng hàng hoá với giá trị lớn hơn nhiều
so với vốn hiện có, dẫn đến các cơn sốt về giá và ảnh hưởng đến nền kinh tế Mặc dù pháp luật quy định tỷ lệ mà một nhà đầu tư có thể nắm giữ về một loại hàng hoá nào
đó, để tránh tình trạng lũng đoạn thị trường; tuy nhiên trên thực tế các nhà đầu cơ luôn tìm cách để chi phối giá cả thị trường thông qua các liên kết “ngầm” mà nhà nước rất khó quản lý Ngoài ra, do có sự phụ thuộc rất lớn giữa giá tại thị trường trong nước và quốc tế, nên dễ tạo thành phản ứng dây chuyền, hay hiệu ứng “đomino”, dẫn tới khủng hoảng không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà nhiều khi là cả khu vực và thậm chí là toàn cầu…
1.3 Những điều kiện cơ bản để hình thμnh thị trường hμng hoá nông sản giao sau
1.3.1 Sự phát triển của cơ chế thị trường
Thị trường hàng hoá giao sau là sản phẩm của nền kinh tế thị trường, vì vậy để thị trường hình thành và phát triển đòi hỏi các nguyên tắc thị trường phải được tôn trọng Giá cả trên thị trường phải hoàn toàn tự do phụ thuộc vào quan hệ cung cầu, nhà nước phải hạn chế đến mức thấp nhất sự can thiệp trực tiếp vào giá cả Mọi sự can thiệp của nhà nước vào giá cả, sẽ triệt tiêu động lực phát triển của thị trường Thị trường này chỉ được hình thành và phát triển khi các loại hình thị trường khác phát triển đến mức độ nhất định Tóm lại, cơ chế thị trường là điều kiện nền tảng để hình thành thị trường hàng hoá giao sau
Trang 101.3.2 Sự phát triển của sản xuất nông sản hàng hoá
Hàng hoá đưa vào giao dịch phải đạt chuẩn về số lượng và chất lượng, vì vậy phải tập trung sản xuất để một chủ thể có thể sở hữu một khối lượng hàng hoá nông sản nhất định Một trong những mục tiêu của việc thiết lập thị trường là nhằm tiêu thụ nông sản và bảo hiểm rủi ro về giá cho các nhà sản xuất trực tiếp Do vậy, thị trường chỉ có thể hình thành trên cơ sở nền nông nghiệp đã tạo ra một khối lượng hàng hoá
đủ lớn, chất lượng đảm bảo Chỉ khi với một khối lượng lớn hàng hoá được sản xuất ra
mà các phương thức tiêu thụ truyền thống không đáp ứng được, thì người sản xuất mới tìm đến thị trường giao sau, để đảm bảo tiêu thụ hết lượng nông sản hàng hoá Ngược lại, khi đã tìm thấy công cụ bảo hiểm hiệu quả, thì nhà sản xuất lại có điều kiện để phát triển sản xuất…, cứ như vậy sản xuất và thị trường gắn kết với nhau, hỗ trợ cho nhau cùng phát triển
1.3.3 Sự phát triển của thị trường giao ngay
Việc hình thành thị trường giao sau bắt nguồn từ thị trường giao ngay và chỉ phát triển cùng với sự phát triển của thị trường giao ngay Việc tham gia mua bán trên thị trường giao sau, về thực chất là nhằm bảo hiểm cho việc mua bán trên thị trường giao ngay, do đó nếu thị trường giao ngay không phát triển, dẫn đến nhu cầu bảo hiểm
sẽ giảm xuống, hạn chế tính sôi động của thị trường giao sau Khi thị trường giao ngay phát triển thì cạnh tranh ngày càng gay gắt, rủi ro về giá càng lớn, nhu cầu bảo hiểm rủi ro ngày càng cao… Đó chính là điều kiện cần thiết để hình thành thị trường hàng hoá giao sau
Sự phát triển của thị trường giao ngay còn là điều kiện quan trọng để thực hiện các hợp đồng giao sau, khi người mua hoặc bán yêu cầu giao hàng thật Kinh doanh trên thị trường giao sau thường với khối lượng lớn, vì vậy việc đảm bảo yêu cầu khi giao hàng thật chỉ có thể thực hiện được, trên cơ sở một thị trường giao ngay phát triển Ngoài ra, sự phát triển của thị trường giao ngay là điều kiện cần thiết, để hình thành các tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, giúp cho việc chuẩn hóa các hợp đồng trên thị trường giao sau Một thị trường giao ngay phát triển là một thị trường, các thông tin về giá cả được phản ánh một cách kịp thời chính xác, đó chính là căn cứ quan trọng, để nhà đầu tư đưa ra các quyết định khi kinh doanh trên thị trường giao sau
1.3.4 Trình độ phát triển của doanh nghiệp
Cũng như thị trường giao ngay, ngoài vai trò của nhà nước thì doanh nghiệp có vai trò to lớn đối với sự hình thành và phát triển thị trường.Trên thực tế, tham gia vào thị trường giao sau ngoài doanh nghiệp, còn có các nhà đầu tư tự do, nhưng thông thường thời gian đầu thì lực lượng tham gia chủ yếu vẫn là doanh nghiệp Các nhà đầu tư tự do thường chỉ tham gia, khi thị trường đã hình thành và phát triển ở một mức độ nhất định
Sự hình thành và phát triển thị trường không chỉ phụ thuộc vào số lượng doanh nghiệp mà còn phụ thuộc rất lớn vào năng lực của doanh nghiệp Thị trường hàng hoá nông sản giao sau là một thị trường phát triển cao, đòi hỏi doanh nghiệp phải có các năng lực nhất định, mà quan trọng nhất là nghiệp vụ kinh doanh Đây là một loại hình kinh doanh rủi ro, nếu không có nghiệp vụ kinh doanh tốt, không nắm bắt các thông tin thị trường và thiếu khả năng dự đoán diễn biến của giá cả thì sẽ dẫn đến thất bại
Trang 11Ngoài ra, cũng như trên thị trường giao ngay, để có thể đứng vững và phát triển, đòi hỏi doanh nghiệp phải có các tiềm lực khác như về vốn, nguồn nhân lực và trình độ pháp lý
1.3.5 Hình thành khung khổ pháp lý đối với thị trường hàng hoá giao sau
Trên thị trường giao ngay, các hành vi mua bán của thương nhân phải tuân theo các khuôn khổ pháp lý nhất định.Thị trường giao sau là một thị trường bậc cao, nên yêu cầu phải hình thành một khung khổ pháp lý chặt chẽ, minh bạch và có phương pháp thực thi hiệu quả Hệ thống các quy định pháp lý đối với thị trường nông sản hàng hoá giao sau thuờng bao gồm ba bộ phận quan trọng Một là, các quy định pháp
lý liên quan, đó là các quy định thuộc các bộ luật khác nhưng liên quan đến thương mại nông sản nói chung và thị trường hàng hoá nông sản giao sau nói riêng; Hai là, các quy định pháp lý trực tiếp liên quan đến sự hình thành và hoạt động của thị trường ở các nước thường có đạo luật riêng cho thị trường này, ở nước ta hiện nay mới chỉ là một chương (chương V) của Luật Thương mại, một Nghị định (số158/2006/NĐ-CP) và một thông tư (số 03/2009/TT-BCT) về mua bán qua sở giao dịch hàng hoá Ba là, các quy định riêng của các sở giao dịch, căn cứ vào hệ thống quy định pháp luật của nhà nước và đặc thù của hàng hoá đưa vào giao dịch, các sở giao dịch còn có thể đưa ra các quy định khác nhau dưới hình thức là các quy chế
1.3.6 Cơ sở vật chất kỷ thuật và trình độ nhận thức của các thành phần tham gia thị trường
Để có thể tiến hành giao dịch, đòi hỏi phải phát triển kết cấu hạ tầng thương mại.Trong thị trường hàng hoá nông sản giao sau tập trung, nhất thiết phải có các sở giao dịch với các điều kiện cơ sở vật chất nhất định Trước hết, các sở giao dịch phải
có một địa điểm để đặt sàn (hay trung tâm) giao dịch với trang thiết bị hiện đại Ngoài
ra, các sở giao dịch phải có thiết bị để thực hiện chức năng quản lý, kiểm định chất
lượng và giao nhận hàng hoá Phải có hệ thống kho bảo quản tại các địa điểm thích
hợp, theo yêu cầu tiết kiệm tối đa chi phí vận chuyển cho các tổ chức sản xuất
Khi đã có điều kiện vật chất kỹ thuật đảm bảo, thì một điều kiện không kém phần quan trọng là phải có người tham gia giao dịch Các đối tượng chỉ tham gia thị trường khi hiểu rõ bản chất, chức năng và lợi ích của thị trường Trên cơ sở nhận thức
đó, các đối tượng tham gia thị trường mới có thể làm cho thị trường phát huy được vai trò đúng nghĩa của nó.Ngoài nhận thức, các thành phần tham gia thị trường bao gồm cả người kinh doanh lẫn người tạo lập thị trường phải có một nghiệp vụ chuyên môn nhất định Tính chất nghiệp vụ chuyên môn đối với các thành phần khác nhau cũng khác nhau Chẳng hạn, đối với các nhà kinh doanh, thì đó là nghiệp vụ phân tích, dự báo diễn biến giá cả, các nhà môi giới thì cần phải làm thế nào để thu hút được nhiều nhà kinh doanh tham gia thị trường, các nhà điều hành sở giao dịch thì làm thế nào để quản lý và vận hành giao dịch thông suốt, còn các nhà quản lý nhà nước thì làm thế nào để quản lý tốt thị trường hạn chế các tác động tiêu cực do thị trường gây ra
Giữa các điều kiện trên có mối quan hệ với nhau, chẳng hạn như: sự phát triển của sản xuất nông nghiệp sẽ tạo điều kiện để phát triển thị trường tiêu thụ và ngược lại; việc phát triển thị trường giao ngay có tác động tích cực đến quy mô và chất lượng nông sản; việc xây dựng khung khổ pháp lý là điều kiện cần thiết để thiết lập thị
Trang 12trường, nhưng khi đã hình thành thì thị trường lại đặt ra những vấn đề mới, đòi hỏi phải điều chỉnh lại khung khổ pháp lý ngày càng hoàn thiện hơn Hơn nữa, vai trò của các điều kiện trên đây cũng khác nhau Trong đó, sự phát triển của cơ chế thị trường có vai trò là “nền tảng”; sự phát triển của sản xuất nông sản, thị trường giao ngay, sự phát triển của doanh nghiệp và khung khổ pháp lý có vai trò là “cần thiết”
đối với sự hình thành TTHHNSGS Cuối cùng, cơ cơ vật chất kỷ thuật và trình độ nhận thức, chuyên môn nghiệp vụ của các thành phần tham gia thị trường có vai trò
“trực tiếp” của việc hình thành và phát triển thị trường
1.4 Kinh nghiệm thế giới vμ một số bμi học cho Việt Nam
Sau khi nghiên cứu kinh nghiệm hình thành thị trường của các nước như Thái Lan, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Luận án đã rút ra một số bài học về việc hình thành thị trường ở nước ta như sau:
Cần phải hình thành thị trường qua năm giai đoạn là: (1) sự xuất hiện nhu cầu chuyển nhượng các hợp đồng giao sau; (2) các nhà môi giới liên kết với nhau để bắt
đầu "hình thành một thị trường" giao dịch các hợp đồng giao sau; (3) tiến hành chuẩn hoá dần các các hợp đồng, thông lệ và các quy trình giao dịch; (4) thành lập một “nơi giao dịch tập trung” hay sở giao dịch hàng hoá và: (5) thành lập một phòng thanh toán
bù trừ hay công ty giao hoán, để quản lý rủi ro cho các bên đối tác
Cần phát triển thị trường phi tập trung (OTC) trước khi thành lập Sở giao dịch hàng hóa, với việc hình thành cơ sở pháp lý rõ ràng và phương thức quản lý chặt chẽ Lựa chọn một số mặt hàng nông sản có đủ tiêu chuẩn để đưa vào giao dịch Tiêu chuẩn lựa chọn các mặt hàng nông sản để tham gia giao dịch là những mặt hàng có khối lượng sản xuất tương đối lớn, có thị phần xuất khẩu cao, có chất lượng bảo đảm,
dễ phân loại chất lượng, dễ bảo quản, thường có biến động lớn về giá Theo đó, các mặt hàng mà ta có thể đưa vào giao dịch đầu tiên là gạo, cà phê, chè, cao su và hạt
điều Hình thức sở hữu sở giao dịch hàng hóa nông sản giao sau nên là nhà nước và hoạt động với mục tiêu phi lợi nhuận
Chương 2 Phân tích, đánh giá thực trạng những điều kiện
của việc hình thμnh thị trường hμng hoá nông sản giao
sau ở nước ta
2.1 Thực trạng những điều kiện cơ bản của việc hình thμnh thị trường hμng hoá nông sản giao sau ở nước ta
2.1.1 Sự phát triển cơ chế kinh tế thị trường
Điều quan trọng nhất của cơ chế thị trường đối với sự hình thành và phát triển thị trường hàng hoá giao sau là cơ chế hình thành giá cả ở nước ta trước thời kỳ đổi mới, giá cả do nhà nước quy định.Trong công cuộc chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường, cải cách giá cả đã được chọn làm khâu đột phá, với mục tiêu cơ bản là xoá bao cấp về giá, chuyển từ cơ chế giá nhà nước sang cơ chế giá thị trường có sự quản lý của nhà nước
Trang 13Nhiệm vụ của cải cách về giá là hình thành các văn bản pháp lý, nhằm từng bước giảm sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào quá trình hình thành giá cả
Một nội dung khác cũng đã được nước ta chú trọng là hình thành đồng bộ các loại hình thị trường Mục tiêu của quá trình này là nhằm tạo ra một “sân chơi” đa dạng cho mọi thành phần kinh tế Việc hình thành thị trường đi đôi với việc hình thành khung khổ pháp lý đối với từng loại hình thị trường, tạo ra một “luật chơi” minh bạch Đồng thời, với việc tạo ra thể chế kinh tế thị trường, là việc tạo ra một lực lượng người chơi đông đảo và bình đẳng thông qua quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước
Cùng với việc tạo ra khung khổ pháp lý theo cơ chế thị trường, việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cũng được coi trọng Công cuộc cải cách bộ máy hành chính được thực hiện theo các hướng cơ bản là tinh giản bộ máy quản lý, phân định rõ chức năng các cơ quan quản lý, thực hiện cơ chế quản lý thông qua các chính sách pháp luật phù hợp với bản chất của kinh tế thị trường và tiến trình cải cách và hội nhập kinh tế quốc tế
2.1.2 Phát triển sản xuất nông sản hàng hoá
Trong nông nghiệp, đường lối đổi mới đã tập trung vào việc giải phóng mạnh
mẽ sức sản xuất, bắt đầu từ 2 yếu tố cơ bản là đất đai và lao động nông nghiệp Luật
Đất đai năm 1993 đã thừa nhận 5 quyền của người sử dụng đất (chuyển đổi,chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp) Nông dân đã có quyền trọn vẹn đối với quỹ
đất được Nhà nước giao Nghị quyết về Kinh tế trang trại đã tạo ra cơ sở pháp lý cho việc khai phá đất hoang hoá phát triển sản xuất theo hướng hàng hoá Các chính sách tài chính, khoa học công nghệ phục vụ sản xuất nông nghiệp đã được chú ý quan tâm
Sản xuất nông sản của Việt Nam đã không ngừng phát triển Tổng giá trị sản xuất năm 1990 đạt 20 666,5 tỷ đồng, nhưng năm 1995, giá trị này đã đạt 85507,6 tỷ
đồng tăng 4,2 lần; năm 2000 đạt giá trị là 129 140,5 tỷ đồng tăng 6,3 lần và năm 2008
đạt giá trị là 248 3148 tỷ đồng tăng hơn 12 lần so với năm 1990 Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn, bước đầu đã có nhiều biến đổi tích cực Trong các hàng hoá nông sản đã xuất hiện một số mặt hàng có khối lượng lớn không chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn góp phần xuất khẩu, đáng chú
ý là các mặt hàng lúa gạo, cà phê, cao su, chè, hạt điều
2.1.2 Tiêu thụ hàng hoá nông sản
Tại thị trường trong nước đã bỏ chế độ thu mua và cung cấp lương thực, từng
bước thực hiện tự do hóa giá cả và lưu thông Hiện nay, khoảng 70% khối lượng nông sản được tiêu thụ ở thị trường trong nước Hệ thống và mạng lưới kinh doanh đã
được thiết lập, các mô hình tổ chức thị trường nội địa đã được hình thành, phù hợp với
từng địa bàn và từng mặt hàng Đã có sự liên kết dọc theo ngành, nhóm hoặc mặt hàng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế
Hạ tầng thương mại đã hình thành và đang phát triển, trong đó đáng chú ý là các chợ trung tâm nông sản Đây là một cụm dịch vụ tổng hợp với chức năng làm dịch
vụ cho người mua và người bán Chợ trung tâm nông sản có thể được xem là sàn giao