1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP/KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG QUÁ TRÌNH LỒNG GHÉP TÀI LIỆU GIÁO DỤC BỔ TRỢ SONG NGỮ VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CHO HỌC SINH TIỂU HỌC (6-8 TUỔI)

99 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập tru

Trang 1

Dự án được tài trợ bởi

Liên minh Châu Âu

UBND Huyện Tam Đường BCĐ DA EU

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN

ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP/KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH

CỰC TRONG QUÁ TRÌNH LỒNG GHÉP TÀI LIỆU GIÁO DỤC

BỔ TRỢ SONG NGỮ VÀO CÁC HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA

CHO HỌC SINH TIỂU HỌC (6-8 TUỔI)

Trang 2

Tài liệu hướng dẫn này được chủ trì và thực hiện bởi Nhóm Thực hiện Dự án “Nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục cho trẻ em dân tộc thiểu số và khó khăn ở huyện Tam Đường , Lai Châu” do Liên minh Châu Âu (EU) tài trợ, bao gồm các cán bộ của Tổ chức CISDOMA và AEA, với sự trợ giúp kỹ thuật nhiệt tình và quý báu của Tiến sĩ Lương Minh Phương – nguyên cán bộ Trung tâm Dự báo và phát triển nguồn nhân lực - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, thạc sỹ Bùi Ngọc Diệp, cán bộ Trung tâm nghiên cứu Giáo dục phổ thông - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, thạc

sỹ Nguyễn Thị Lan Hương, cán bộ tổ chức VVOB

Được biên soạn theo hình thức tài liệu mở, Tài liệu Hướng dẫn này là sự tổng kết các kinh nghiệm thực tế trong quá trình vừa thực hành vừa rút kinh nghiệm của các giáo viên tiểu học trong quá tiến hành thí điểm lồng ghép các nội dung/câu chuyện trong Bộ Tài liệu giáo dục bổ trợ song ngữ do dự án xây dựng vào các hoạt động giáo dục ngoại khóa được thực hiện tại các trường Tiểu học tại 3 xã Dự án

Thay mặt Ban chỉ đạo Dự án, Nhóm Thực hiện Dự án xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy/cô giáo tại các trường tiểu học thuộc 3 xã dự án huyện Tam Đường, lãnh đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tam Đường, đặc biệt là bà Tẩn Mý Khé - Phó Giám đốc, ông Phạm Thế Chỉnh - Trưởng phòng Tiểu học

- Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lai Châu đã tham gia đóng góp ý kiến, hiệu đính và hoàn thiện cuốn Tài liệu Hướng dẫn này để đưa vào sử dụng

Trân trọng,

Trang 3

AEA : Aide et Action

BCĐ : Ban chỉ đạo

CISDOMA : Viện Tư vấn Phát triển Kinh tế - Xã hội Nông thôn và Miền núi

EU : Liên minh Châu Âu

GDNGLL : Giáo dục ngoài giờ lên lớp

GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ii

MỤC LỤC iii

I GIỚI THIỆU 1

1 Giới thiệu về DA 1

2 Mục tiêu của Tài liệu 1

3 Đối tượng sử dụng Tài liệu 2

II NỘI DUNG CHÍNH 3

1 Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm và mối liên hệ với phương pháp dạy học tích cực 3

1.1 Khái quát về quan điểm, phương pháp và kỹ thuật dạy học 3

1.2 Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm 3

1.3 Phương pháp dạy học tích cực 4

1.4 Một số đặc trưng của Phương pháp dạy học tích cực 4

2 Một số phương pháp/kỹ thuật dạy học tích cực 6

2.1 Phương pháp Vấn đáp (Hỏi – Đáp) 6

2.1.1 Bản chất 6

2.1.2 Quy trình thực hiện 7

2.1.3 Ưu điểm 7

2.1.4 Hạn chế 8

2.1.5 Một số lưu ý 8

2.1.6 Kỹ thuật “Trình bày một phút” 10

2.2 Phương pháp động não 10

2.2.1 Bản chất 10

2.2.2 Quy trình thực hiện 10

2.2.3 Ưu điểm 10

2.2.4 Hạn chế 11

Trang 5

2.3 Phương pháp thảo luận/ làm việc nhóm 11

2.3.1 Bản chất 11

2.3.2 Quy trình thực hiện 11

2.3.3 Ưu điểm 12

2.3.4 Hạn chế 12

2.3.5 Một số lưu ý 13

2.3.6 Kỹ thuật chia nhóm 13

2.3.7 Kỹ thuật giao nhiệm vụ 14

2.3.8 Kỹ thuật “Khăn trải bàn” 14

2.3.9 Kỹ thuật “các mảnh ghép” 15

2.4 Phương pháp đóng vai 17

2.4.1 Bản chất 17

2.4.2 Quy trình thực hiện 17

2.4.3 Ưu điểm 17

2.4.4 Hạn chế 18

2.4.5 Một số lưu ý 18

2.5 Phương pháp dạy học dựa trên giải quyết vấn đề 19

2.5.1 Bản chất 19

2.5.2 Quy trình thực hiện 19

2.5.3 Ưu điểm 20

2.5.4 Hạn chế 20

2.5.5 Một số lưu ý 20

2.6 Phương pháp trò chơi 21

2.6.1 Bản chất 21

2.6.2 Quy trình thực hiện 22

2.6.3 Ưu điểm 22

2.6.4 Hạn chế 22

2.6.5 Một số lưu ý 23

Trang 6

3 Đặc điểm phát triển chung của trẻ 6-8 tuổi và một số đặc điểm của trẻ dân tộc Mông trong

độ tuổi trên tại địa phương 23

3.1 Đặc điểm phát triển chung của trẻ 6-8 tuổi 23

3.2 Một số đặc điểm của trẻ dân tộc Mông trong độ tuổi trên tại địa phương 24

3.3 Một số lưu ý 24

3.4 Các phương pháp phù hợp chia theo độ tuổi 25

4 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp/ngoại khóa 26

4.1 Đặc điểm giáo dục ngoài giờ lên lớp/ngoại khóa 26

4.2 Các hình thức tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp/giáo dục ngoại khóa ở bậc tiểu học 26

4.3 Sự khác nhau giữa phương pháp dạy học tích cực trong giáo dục chính khóa và giáo dục ngoại khóa 28

5 Các bước thiết kế bài dạy/bài giảng áp dụng các phương pháp dạy học tích cực lấy trẻ làm trung tâm 29

5.1 Chuẩn bị ban đầu 29

5.2 Thiết kế hoạt động/bài dạy 29

5.3 Thực hiện tổ chức giờ học 30

5.4 Kết thúc giờ dạy 31

6 Cách thức và các bước lồng ghép các nội dung/câu chuyện trong Bộ tài liệu giáo dục bổ trợ song ngữ vào hoạt động giáo dục ngoại khóa ở bậc tiểu học (học sinh 6-8 tuổi) áp dụng các phương pháp dạy học tích cực 31

PHỤ LỤC 1: CÁC TRÒ CHƠI DÙNG CHO PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC Ở TIỂU HỌC 36

PHỤ LỤC 2: GIÁO ÁN MẪU 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 7

1 Giới thiệu về DA

Dự án “Nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục cho trẻ em dân tộc thiểu số và khó khăn ở huyện Tam Đường, Lai Châu” có thời hạn 3 năm, bắt đầu từ tháng 1/2016, do Liên minh Châu Âu (EU) tài trợ và được phối hợp thực hiện bởi AEA và CISDOMA

Mục đích của dự án nhằm tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục có chất lượng và phù hợp với các trẻ em dân tộc thiểu số tại ba xã (Tả Lèng, Nùng Nàng, Khun Há) của huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu thông qua việc cải thiện phương pháp giảng dạy cho đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, tăng cường

sự tham gia của phụ huynh và thông tin đầy đủ tới các nhà hoạch định chính sách

Trong năm 2016, với sự tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật của Viện KHGD Việt Nam (VNIES) và định hướng chỉ đạo của BCĐ DA, nhóm thực hiện DA đã phối hợp với tư vấn, phòng GD&ĐT huyện Tam Đường và các trường mầm non, tiểu học trong các xã dự án hình thành nhóm Biên soạn tài liệu với nòng cốt là các giáo viên, đại diện cộng đồng và một số đại diện một số Phòng/Ban liên quan ở cấp huyện để phát triển bộ Tài liệu Giáo dục bổ trợ song ngữ Sau Hội thảo thẩm định do Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các bên liên quan chủ trì, bộ Tài liệu Giáo dục này đã chính thức được thông qua và dự kiến sẽ đưa vào áp dụng giảng dạy thí điểm kết hợp với các hoạt động trên lớp (ở bậc học mẫu giáo) và hoạt động ngoại khóa (ở bậc học tiểu học) tại các trường mầm non và tiểu học thuộc 3 xã dự án (Tả Lèng, Nùng Nàng và và Khun Há)

Để đảm bảo việc triển khai thí điểm lồng ghép các nội dung của bộ Tài liệu này vào các hoạt động ngoại khóa cho học sinh tiểu học (6-8 tuổi), một bản Hướng dẫn áp dụng các Phương pháp/Kỹ thuật học dạy học tích cực trong quá trình thực hiện lồng ghép Tài liệu Giáo dục bổ trợ song ngữ vào các hoạt động ngoại khóa cho học sinh tiểu học được xây dựng làm tài liệu tham khảo cho giáo viên tiểu học tại 3 xã dự

án Cuốn Hướng dẫn sử dụng này được biên soạn dưới dạng tài liệu mở và sẽ tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện sau khi tổng hợp các ý kiến thông qua quá trình triển khai thí điểm trên cơ sở các ý kiến đóng góp, kinh nghiệm thực tiễn của các giáo viên tiểu học trực tiếp giảng dạy, BGH nhà trường tại 3 xã dự án, lãnh đạo Phòng GD&ĐT huyện Tam Đường và Sở GD&ĐT tỉnh Lai Châu

2 Mục tiêu của Tài liệu

- Giúp giáo viên tiểu học và các cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Lai Châu nắm được cách tiếp cận và lồng ghép nội dung bộ tài liệu “Quyền trẻ em“, Bình đẳng giới“, “Kỹ năng sống“, “Phòng chống thiên tai“

và “Văn hoá bản địa“ trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục ngoại khóa cho học sinh tiểu học (6-8 tuổi) một cách phù hợp và hiệu quả

Trang 8

khóa cho học sinh tiểu học

3 Đối tượng sử dụng Tài liệu

- Cán bộ quản lý giáo dục: Cán bộ quản lý chuyên môn Tiểu học thuộc Sở GD&ĐT Lai Châu và Phòng GD&ĐT, cán bộ quản lý các trường tiểu học thuộc địa bàn tỉnh Lai Châu

- Giáo viên tại các trường tiểu học thuộc địa bàn tỉnh Lai Châu

Trang 9

II NỘI DUNG CHÍNH

1 Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm và mối liên hệ với phương pháp dạy học tích cực

1.1 Khái quát về quan điểm, phương pháp và kỹ thuật dạy học

Quan điểm dạy học (QĐDH) là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp,

trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, những cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò của giáo viên (GV)

và học sinh (HS) trong quá trình dạy học QĐDH là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của Phương pháp dạy học (PPDH)

Phương pháp dạy học (PPDH) là cách thức, là con đường hoạt động chung giữa GV và HS,

trong những điều kiện dạy học xác định, nhằm đạt tới mục đích dạy học

Kĩ thuật dạy học (KTDH) là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong các tình

huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của PPDH Ví dụ, trong phương pháp thảo luận nhóm

có các kĩ thuật dạy học như: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật các mảnh ghép

Mỗi QĐDH có những PPDH cụ thể phù hợp với nó; mỗi PPDH cụ thể có các KTDH đặc thù Tuy nhiên, có những PPDH cụ thể phù hợp với nhiều QĐDH, cũng như có những KTDH được

sử dụng trong nhiều PPDH khác nhau (Ví dụ: kĩ thuật đặt câu hỏi được dùng cho cả phương pháp đàm thoại và phương pháp thảo luận) Việc phân biệt giữa PPDH và KTDH đôi khi chỉ mang tính tương đối, nhiều khi không rõ ràng (Ví dụ: động não - Brainstorming có trường hợp được coi là phương pháp, có trường hợp lại được coi là một KTDH)

Tóm lại, QĐDH là khái niệm rộng, định hướng cho việc lựa chọn các PPDH cụ thể Các PPDH

là khái niệm hẹp hơn, đưa ra mô hình hành động KTDH là khái niệm nhỏ nhất, thực hiện các tình huống hành động

1.2 Quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm

Dạy học lấy học sinh làm trung tâm còn có một số thuật ngữ tương đương như: dạy học tập trung vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung một nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của học sinh trong qúa trình dạy học Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến thức,

kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình được Vì vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học, không có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế

Trang 10

Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì đương nhiên phải phát huy tính tích cực chủ động của người học Tuy nhiên, dạy học lấy học sinh làm trung tâm không phải là một phương pháp dạy học cụ thể Đó là một tư tưởng, quan điểm giáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối tất cả qúa trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, tổ chức, đánh giá… chứ không phải chỉ liên quan đến phương pháp dạy và học

1.3 Phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học "Tích cực"

trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, PPDH tích cực hướng tới việc hoạt

động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động

Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Dạy học tích cực, sáng tạo là đưa học sinh vào tình huống thực tế: Học sinh được quan sát, thảo luận, giải quyết vấn đề theo cách suy nghĩ của riêng mình, trên cơ sở đó học sinh có được kiến thức, kỹ năng mới, không dập khuôn máy móc mà phát huy được khả năng tưởng tượng, sáng tạo Theo cách dạy học này, giáo viên không chỉ truyền thụ kiến thức mà còn tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập/sinh hoạt tạo mối quan hệ tương tác giữa giáo viên với học sinh; giữa học sinh với học sinh; giữa giáo viên, học sinh và môi trường học tập/sinh hoạt

1.4 Một số đặc trưng của Phương pháp dạy học tích cực

- Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt Dạy học tích cực, sáng tạo là đưa học sinh vào tình huống thực tế: Học sinh được quan sát, thảo luận, giải quyết vấn đề theo cách suy nghĩ của riêng mình, trên cơ sở đó học sinh có được kiến thức, kỹ năng mới, không dập khuôn máy móc mà phát huy được khả năng tưởng tượng, sáng tạo

- Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học

Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý

Trang 11

chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập

sẽ được nhân lên gấp bội

- Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới

Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuát hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ

- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh

Việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt

kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm

nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên

- Học sinh tham gia quá trình đánh giá kết quả học tập

Trong PPDH truyền thống, GV là người độc quyền đánh giá kết quả học tập của HS, chú ý tới khả năng ghi nhớ và tái hiện các thông tin GV đã cung cấp Trong dạy học lấy HS làm trung tâm, HS tự giác chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình, được tham gia tự đánh giá và tự đánh giá lẫn nhau về mức độ đạt các mục tiêu của từng phần trong chương trình học tập, chú trọng bổ khuyết những mặt chưa đạt được

Trang 12

so với mục tiêu trước khi bước vào một phần mới của chương trình GV phải hướng dẫn cho HS phát triển kĩ năng tự đánh giá, không thể chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại kĩ năng đã học mà phải khuyến khích óc sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến thái độ và xu hướng hành vi của HS trước những vấn đề của đời sống cộng đồng, rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết những vấn đề trong tình huống thực tế

Đặt người học vào vị trí trung tâm của hoạt động dạy - học, xem cá nhân người học vừa là chủ thể vừa là mục đích của quá trình đó, phấn đấu tiến tới cá thể hóa quá trình học tập với sự trợ giúp của các phương tiện thiết bị hiện đại, để cho tiềm năng của mỗi HS được phát triển tối ưu, góp phần có hiệu quả vào việc xây dựng cuộc sống có chất lượng cho cá nhân, gia đình và xã hội, đó chính là cốt lõi tinh thần nhân văn trong dạy học lấy HS làm trung tâm

Trong dạy học lấy HS làm trung tâm, vai trò chủ động tích cực của người học được phát huy đồng thời

GV phải có trình độ chuyên môn sâu, có trình độ sư phạm lành nghề, có đầu óc sáng tạo và nhạy cảm cái mới có thể đóng vai trò là người gợi mở, hướng dẫn, động viên, trọng tài trong các hoạt động độc lập của

HS, đánh thức năng lực tiềm năng trong mỗi em, chuẩn bị tốt cho các em tham gia phát triển cộng đồng

2 Một số phương pháp/kỹ thuật dạy học tích cực

2.1 Phương pháp Vấn đáp (Hỏi – Đáp)

2.1.1 Bản chất

Phương pháp Vấn đáp là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc học sinh

có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp:

- Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu học sinh nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa

vào trí nhớ, không cần suy luận Đó là hình thức được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức sắp học hoặc khi cần củng cố kiến thức vừa mới học

- Vấn đáp giải thích - minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giáo viên lần lượt nêu

ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe - nhìn

- Vấn đáp gợi mở (vấn đáp tìm tòi): Giáo viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để

hướng học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến – kể cả tranh luận – giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định

Trong quá trình dạy học, GV có thể sử dụng cả 3 hình thức, tuy nhiên cần khuyến khích GV sử dụng hình thức vấn đáp tìm tòi

Trang 13

2.1.2 Quy trình thực hiện

Trước giờ học

bản trong bài học và tìm cách diễn đạt các nội dung này dưới dạng câu hỏi gợi ý, dẫn dắt HS

trình tự của các câu hỏi (câu hỏi trước phải làm nền cho các câu hỏi tiếp sau hoặc định hướng suy nghĩ để HS giải quyết vấn đề) Dự kiến nội dung các câu trả lời của HS, trong đó dự kiến những “lỗ hổng” về mặt kiến thức cũng như những khó khăn, sai lầm phổ biến mà HS thường mắc phải Dự kiến các câu nhận xét hoặc trả lời của GV đối với HS

HS

Trong giờ học

tượng học sinh) trong tiến trình bài dạy và chú ý thu thập thông tin phản hồi từ phía HS

Sau giờ học

GV chú ý rút kinh nghiệm về tính rõ ràng, chính xác và trật tự logic của hệ thống câu hỏi đã sử dụng

trong giờ dạy

✓ Vấn đáp giúp GV thu nhận tức thời nhiều thông tin phản hồi từ phía người học, duy trì sự chú ý của HS; giúp kiểm soát hành vi của HS và quản lý lớp học

✓ Ở đây GV giống như người tổ chức tìm tòi còn HS thì giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới, vì vậy kết thúc cuộc đàm thoại HS có được niềm vui của sự khám phá, vừa nắm được kiến thức mới, vừa nắm được cách thức đi tới tiến bộ đó, trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy Cuối đoạn đàm thoại, GV cần biết vận dụng các ý kiến của HS để kết luận vấn đề đặt ra, dĩ nhiên là có bổ sung, chỉnh lí khi cần thiết Làm được như vậy, HS càng hứng thú, tự tin và thấy trong kết luận của thầy có phần đóng góp ý kiến của mình

✓ Dẫn dắt theo phương pháp vần đáp tìm tòi như trên rõ ràng mất nhiều thời gian hơn phương pháp thuyết trình giảng giải nhưng kiến thức HS lĩnh hội được sẽ chắc chắn hơn nhiều

Trang 14

2.1.4 Hạn chế

Hạn chế lớn nhất của phương pháp vấn đáp là rất khó soạn thảo và sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở và

dẫn dắt học sinh theo một chủ đề nhất quán, cụ thể như:

Nếu GV chuẩn bị hệ thống câu hỏi không tốt, sẽ dẫn đến tình trạng đặt câu hỏi không rõ mục đích, đặt câu hỏi mà HS dễ dàng trả lời hoặc không Hiện nay nhiều GV thường gặp khó khăn khi xây dựng hệ thống câu hỏi do không nắm chắc trình độ của HS, vì vậy thường ngay sau khi đặt câu hỏi

là nêu ngay gợi ý câu trả lời khiến HS rơi vào trạng thái bị động, không thực sự làm việc, chỉ ỷ lại vào gợi ý của GV

Khó kiểm soát quá trình học tập của HS (có nhiều tình huống bất ngờ trong câu trả lời, thậm chí câu trả lời từ phía người học, giờ học dễ lệch hướng do câu hỏi vụn vặt, không nhất quán)

Khó soạn và xây dựng đáp án cho các câu hỏi mở (vì phương án trả lời của HS sẽ không giống nhau)

Do những hạn chế nói trên, GV phải có sự chuẩn bị rất công phu, nếu không, kiến thức mà HS thu nhận được qua trao đổi sẽ thiếu tính hệ thống, tản mạn, thậm chí vụn vặt

2.1.5 Một số lưu ý

- Khi soạn các câu hỏi GV cần lưu ý các yêu cầu sau đây:

• Câu hỏi có nội dung chính xác, rõ ràng, sát với mục đích, yêu cầu của bài học, không làm cho người học có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau

• Câu hỏi phải sát với từng loại đối tượng HS, nghĩa là phải có nhiều câu hỏi ở mức độ khác nhau, không quá dễ, cũng không quá khó GV có kinh nghiệm thường tỏ ra cho HS thấy các câu hỏi đều có tầm quan trọng và độ khó như nhau (để HS yếu có thể trả lời được những câu hỏi vừa sức

mà không có cảm giác tự ti rằng mình chỉ có thể trả lời được những câu hỏi dễ và không quan trọng)

• Cùng một nội dụng học tập, cùng một mục đích như nhau, GV có thể sử dụng nhiều dạng câu hỏi với nhiều hình thức hỏi khác nhau

- Bên cạnh những câu hỏi chính cần chuẩn bị những câu hỏi phụ (trên cơ sở dự kiến các câu trả lời của

HS, trong đó có thể có những câu trả lời sai) để tùy tính hình thực tế mà gợi ý, dẫn dắt tiếp

- Nên chú ý các câu hỏi mở để HS đưa ra nhiều phương án trả lời và phát huy được tính tích cực, sáng tạo của HS

- Câu hỏi được giáo viên sử dụng với những mục đích khác nhau, ở những khâu khác nhau của quá trình dạy học nhưng quan trọng nhất và cũng khó sử dụng nhất là ở khâu nghiên cứu tài liệu mới Trong khâu dạy bài mới, câu hỏi được sử dụng trong những phương pháp khác nhau nhưng quan trọng nhất là phương pháp vấn đáp

Trang 15

- Trong dạy học theo PP cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, để đánh giá kết quả học tập của HS; HS cũng phải

sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các HS khác về những nội dung chưa sáng tỏ Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS - GV và HS - HS Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ học tập tích cực hơn Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để:

• Kích thích, dẫn dắt HS suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo điều kiện cho HS tham gia vào quá trình dạy học

• Kiểm tra, đánh giá Kiến thức, Kinh nghiệm của HS và sự quan tâm, hứng thú của các em đối với nội dung học tập

• Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức

- Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:

• Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học

• Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu

• Đúng lúc, đúng chỗ

• Phù hợp với trình độ HS

• Kích thích suy nghĩ của HS

• Phù hợp với thời gian thực tế

• Sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

• Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xích

• Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc

- Các yêu cầu về ứng xử của giáo viên khi hỏi học sinh:

• Dừng lại sau khi hỏi để học sinh có thời gian suy nghĩ, có thể nhắc lại câu hỏi nếu được yêu cầu

• Phân phối câu hỏi cho cả lớp, không nên chỉ tập trung vào một số học sinh

• Tôn trọng, lắng nghe ý kiến học sinh Khen ngợi, động viên học sinh sau khi trả lời tốt

• Khuyến khích, gợi ý, tạo cơ hội cho học sinh trả lời lại sau khi các em không trả lời được câu hỏi

• Không chê bai, mỉa mai, làm tổn thương học sinh

• Tập trung vào trọng tâm, không đi lan man

• Tránh nhắc lại câu trả lời của học sinh cũng như tự trả lời câu hỏi của mình đặt ra

Trang 16

2.1.6 Kỹ thuật “Trình bày một phút”

Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho GV thấy được các em

đã hiểu vấn đề như thế nào Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:

- Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các câu hỏi sau: Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, vấn đề gì là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp?

- HS suy nghĩ và viết ra giấy Các câu hỏi của HS có thể dưới nhiều hình thức khác nhau

- Mỗi HS trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đã học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm

2.2 Phương pháp động não

2.2.1 Bản chất

Động não là phương pháp giúp học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra cơn lốc các ý tưởng) Thực hiện phương pháp này, giáo viên cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm tiền đề cho buổi thảo luận

2.2.2 Quy trình thực hiện

Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm

- Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt

- Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to

- Phân loại ý kiến

- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý

- Tổng hợp ý kiến của học sinh và rút ra kết luận

2.2.3 Ưu điểm

✓ Thúc đẩy tinh thần hợp tác, sự phối hợp, hiểu biết và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên, từ đó tạo ra những giải pháp mới cho mọi vấn đề khó khăn

✓ Những kỹ năng và sự hiểu biết của cả nhóm có lợi ích lớn đối với từng cá nhân, đồng thời có thể giúp

cá nhân hoàn thiện bản thân khi tham gia

✓ Lợi ích lớn nhất là tận dụng được mọi nguồn lực chung của nhóm

Trang 17

2.2.4 Hạn chế

Rất dễ gây tình trạng lạc đề nếu chủ đề đưa ra không rõ ràng

Việc lựa chọn các ý tưởng tốt nhất có thể mất thời gian

Có thể xảy ra tình trạng một số học sinh phát biểu nhiều và một số học sinh thì lại không tham gia 2.2.5 Một số lưu ý

- Không bỏ qua bất kỳ ý tưởng nào

- Không chỉ trích, phê bình bất kỳ ý tưởng nào

- Duy trì bầu không khí hoàn toàn tự do

- Số lượng ý tưởng càng nhiều càng tốt

- Kết hợp và phát huy ý tưởng của người khác

2.3 Phương pháp thảo luận/ làm việc nhóm

Nhóm tự bầu nhóm trưởng để điều khiển thảo luận Trong nhóm có thể phân công mỗi người một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của

cả lớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp

2.3.2 Quy trình thực hiện

Tiến trình dạy học nhóm có thể được chia thành 3 giai đoạn cơ bản:

- Làm việc toàn lớp : Nhập đề và giao nhiệm vụ

• Giới thiệu chủ đề

Trang 18

• Thoả thuận quy tắc làm việc

• Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ

• Chuẩn bị báo cáo kết quả

- Làm việc toàn lớp: Trình bày kết quả, đánh giá

✓ Học tập theo nhóm giúp học sinh phát triển năng lực hoạt động Học sinh có cơ hội phát huy kỹ năng sáng tạo, đánh giá, phân tích, so sánh, tổng hợp Học sinh biết giải quyết các vấn đề và tình huống trong học tập một cách phù hợp, hiệu quả và sáng tạo, từ đó sẽ rút ra được những bài học, kinh nghiệm quý giá cho bản thân

2.3.4 Hạn chế

Có một số thành viên ỷ lại, không làm việc Một số học sinh sẽ ỷ lại vào những người giỏi hơn mà không tham gia hoạt động

Có thể đi lệch hướng thảo luận do tác động của một vài cá nhân (hiện tượng chi phối, tách nhóm)

Có một số học sinh có cá tính mạnh quyết định quá trình, kết quả thảo luận nhóm nên chưa đề cao

sự tương tác bình đẳng và tầm quan trọng của từng thành viên trong nhóm

Trang 19

Điều hành không tốt dễ dẫn đến mát trật tự trong nhóm, tốn thời gian không cần thiết

- Các câu hỏi kiểm tra dùng cho việc chuẩn bị dạy học nhóm:

• Chủ đề có hợp với dạy học nhóm không?

• Các nhóm làm việc với nhiệm vụ giống hay khác nhau?

• HS đã có đủ kiến thức điều kiện cho công việc nhóm chưa?

• Cần trình bày nhiệm vụ làm việc nhóm như thế nào?

• Cần chia nhóm theo tiêu chí nào?

• Cần tổ chức phòng làm việc, kê bàn ghế như thế nào?

Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia

2.3.6 Kỹ thuật chia nhóm

Khi tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm, GV nên sử dụng nhiều cách chia nhóm khác nhau để gây hứng thú cho HS, đồng thời tạo cơ hội cho các em được học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác nhau trong lớp Dưới đây là một số cách chia nhóm:

- Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, theo các loài hoa, các mùa trong năm, :

• GV yêu cầu HS điểm danh từ 1 đến 4/5/6 (tùy theo số nhóm GV muốn có là 4,5 hay 6 nhóm, ); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng, ); hoặc điểm danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc, ); hay điểm danh theo các mùa (xuân, hạ, thu, đông, )

• Yêu cầu các HS có cùng một số điểm danh hoặc cùng một màu/cùng một loài hoa/cùng một mùa

sẽ vào cùng một nhóm

Trang 20

- Chia nhóm theo hình ghép

• GV cắt một số bức hình ra thành 3/4/5 mảnh khác nhau, tùy theo số HS muốn có là 3/4/5 HS trong mỗi nhóm Lưu ý là số bức hình cần tương ứng với số nhóm mà GV muốn có

• HS bốc ngẫu nhiên mỗi em một mảnh cắt

• HS phải tìm các bạn có các mảnh cắt phù hợp để ghép lại thành một tấm hình hoàn chỉnh

• Những HS có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm

- Chia nhóm theo sở thích: GV có thể chia HS thành các nhóm có cùng sở thích để các em có thể cùng thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhóm dưới các hình thức phù hợp với sở trường của các em Ví dụ: Nhóm Họa sĩ, Nhóm Nhà thơ, Nhóm Hùng biện,

- Chia nhóm theo tháng sinh: Các HS có cùng tháng sinh sẽ làm thành một nhóm

- Ngoài ra còn có nhiều cách chia nhóm khác như: nhóm cùng trình độ, nhóm hỗn hợp, nhóm theo giới tính,

Như vậy, có nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên áp dụng một tiêu chí duy nhất trong thời gian dài mà cần có sự chia nhóm xem kẽ tùy theo tình hình học tập thực tế của học sinh

2.3.7 Kỹ thuật giao nhiệm vụ

Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:

- Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?

- Nhiệm vụ là gì?

- Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?

- Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?

- Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?

- Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?

- Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?

- Nhiệm vụ phải phù hợp với mục tiêu hoạt động, trình độ HS, thời gian, không gian hoạt động và cơ

sở vật chất, trang thiết bị

2.3.8 Kỹ thuật “Khăn trải bàn”

- Thế nào là kỹ thuật “Khăn trải bàn”?

Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm:

Trang 21

• Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực

• Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS

• Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS

2.3.9 Kỹ thuật “các mảnh ghép”

- Thế nào là kĩ thuật “Các mảnh ghép”?

Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm:

• Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề)

• Kích thích sự tham gia tích cực của HS:

• Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1

mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2)

- Cách tiến hành

VÒNG 1: Nhóm chuyên gia

Trang 22

• Hoạt động theo nhóm 3 đến 8 người [số nhóm được chia = số chủ đề x n (n = 1,2,…)]

• Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ [Ví dụ : nhóm 1 : nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C, … (có thể có nhóm cùng nhiệm vụ)]

• Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ đề và ghi lại những

ý kiến của mình

• Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2

• Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả

Ví dụ: Bài học tiếng Việt; Lớp có 45 học sinh, có 12 bàn học

Vòng 1

• Chủ đề A: Thế nào là câu đơn? Nêu ví dụ minh họa và phân tích (màu đỏ)

• Chủ đề B: Thế nào là câu ghép? Nêu ví dụ minh họa và phân tích (màu xanh)

• Chủ đề C: Thế nào là câu phức? Nêu ví dụ minh họa và phân tích (màu vàng)

• Giáo viên có thể chia thành 6 nhóm: mỗi nhóm gồm học sinh 2 bàn ghép lại (mỗi nhóm có 7 hoặc 8 học sinh) Giao nhiệm vụ: nhóm 1,2 nhận chủ đề A, nhóm 3,4 nhận chủ đề B, nhóm 5,6 nhận chủ đề C

• Phát phiếu học tập cho học sinh Trên phiếu học tập theo màu có đánh số từ 1 đến 15 Thông báo cho học sinh thời gian làm việc cá nhân và theo nhóm

Trang 23

Vòng 2

• Giáo viên thông báo chia thành 12 nhóm mới : mỗi nhóm 1 bàn (mỗi nhóm có từ 3 đến 6 học sinh): nhóm 1 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 1,2; nhóm 2 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 3,4; nhóm 3 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 5; nhóm 4 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 6; … nhóm 12 gồm các học sinh có phiếu học tập mang

số 14,15 Giáo viên thông báo thời gian làm việc nhóm mới

• Các chuyên gia sẽ trình bày ý kiến của của nhóm mình ở vòng 1

• Giao nhiệm vụ mới: Câu đơn, câu phức và câu ghép khác nhau ở điểm nào? Phân tích ví dụ minh hoạ

2.4 Phương pháp đóng vai

2.4.1 Bản chất

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định `Đây là phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn ấy

✓ Gây hứng thú và chú ý cho học sinh

✓ Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh

Trang 24

✓ Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn

✓ Góp phần tích cực thúc đẩy động cơ và hiệu quả học tập cao, rèn luyện kỹ năng giải quyết tình huống tốt

✓ Giúp học sinh nhập vai, diễn tả thái độ, ý kiến của người mà mình nhập vai, rèn thái độ, kỹ năng giao tiếp linh hoạt, khả năng giải quyết vấn đề, chủ động trong mọi tình huống nhằm tìm ra phương thức

xử lý mới

✓ Giúp người xem, người học dễ dàng nắm bắt được cách xử lý tình huống qua vai diễn của người khác

✓ Luyện tập được cách dẫn chuyện và cách xử lý những vấn đề phát sinh trong thực tiễn

✓ Giúp học sinh được tập dượt qua những tình huống, phát huy tính chủ động sang tạo, tập phân tích đánh giá lợi ích của từng giải pháp, so sánh, lựa chọn… để có được những kỹ năng cần thiết đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay

2.4.5 Một số lưu ý

- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với lứa tuổi, trình độ HS và điều kiện, hoàn cảnh lớp học

- Tình huống không nên quá dài và phức tạp, vượt quá thời gian cho phép

- Tình huống phải có nhiều cách giải quyết

- Tình huống cần để mở để HS tự tìm cách giải quyết, cách ứng xử phù hợp; không cho trước “kịch bản”, lời thoại

- Mỗi tình huống có thể phân công một hoặc nhiều nhóm cùng đóng vai

- Phải dành thời gian phù hợp cho HS thảo luận xây dựng kịch bản và chuẩn bị đóng vai

- Cần quy định rõ thời gian thảo luận và đóng vai của các nhóm

- Trong khi HS thảo luận và chuẩn bị đóng vai, GV nên đi đến từng nhóm lắng nghe và gợi ý, giúp đỡ

HS khi cần thiết

Trang 25

- Các vai diễn nên để HS xung phong hoặc tự phân công nhau đảm nhận

- Nên khích lệ cả những HS nhút nhát cùng tham gia

- Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của tiểu phẩm đóng vai

2.5 Phương pháp dạy học dựa trên giải quyết vấn đề

2.5.1 Bản chất

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là PPDH đặt ra trước HS các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tình huống có vấn đề, kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề

2.5.2 Quy trình thực hiện

Bước 1: Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức

- Tạo tình huống có vấn đề

- Xác định, nhận dạng vấn đề/tình huống

- Thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề/tình huống đặt ra

Bước 2: Giải quyết vấn đề đặt ra

- Liệt kê các cách giải quyết có thể có

- Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết (tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị)

- So sánh kết quả các cách giải quyết

- Lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất

- Thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn

Bước 3: Kết luận

- Thảo luận kết quả và đánh giá, kết luận

- Rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác

- Đề xuất vấn đề mới

- Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:

• Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh

• Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề Giáo viên và học sinh cùng đánh giá

Trang 26

• Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học sinh phát hiện và xác định vấn

đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn

đề Giáo viên và học sinh cùng đánh giá

• Mức 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc

Phần đông GV mới vận dụng dạy học đặt - giải quyết vấn đề ở mức độ 1 và mức độ 2 Phải phấn đấu để trong nhiều trường hợp có thể đạt tới mức độ 3 và 4 và làm cho dạy học đặt - giải quyết vấn đề trở thành phổ biến

2.5.3 Ưu điểm

✓ Phương pháp này góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo cho HS Trên cơ sở sử dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có, HS sẽ xem xét, đánh giá, thấy được vấn đề cần giải quyết

✓ Đây là phương pháp phát triển được khả năng tìm tòi, xem xét dưới nhiều gốc độ khác nhau, HS sẽ huy động tri thức và khả năng cá nhân, khả năng hợp tác trao đổi, thảo luận với bạn bè để tìm ra cách giải quyết tốt nhất

✓ Thông qua việc giải quyết vấn đề, HS lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức (“giải quyết vấn đề” không còn chỉ phụ thuộc phạm trù phương pháp đã trở thành một mục đích dạy học, được cụ thể hóa thành một mục tiêu là phát triển năng lực giải quyết vấn đề, một năng lực có vị trí hàng đầu để con người thích ứng được với sự phát triển của xã hội)

2.5.4 Hạn chế

Đòi hỏi người GV phải đầu tư nhiều thời gian và công sức, phải có năng lực sư phạm tốt mới suy nghĩ để tạo ra được nhiều tình huống gợi vấn đề và hướng dẫn HS tìm tòi để phát hiện và giải quyết vấn đề

Việc tổ chức tiết học hoặc một phần của tiết học theo phương pháp giải quyết vấn đề đòi hỏi phải

có nhiều thời gian hơn so với bình thường Hơn nữa, chỉ có một số tri thức và phương pháp hoạt động nhất định, được lựa chọn khéo léo và có cơ sở mới trở thành đối tượng của dạy học nêu vấn

Trang 27

• Vấn đề/ tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của HS

• Vấn đề/ tình huống có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc kết hợp cả hai kênh chữ và kênh hình hay qua tiểu phẩm đóng vai của HS

• Vấn đề/ tình huống cần có độ dài vừa phải

• Vấn đề/ tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi ra cho HS nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề

- Tổ chức cho HS giải quyết, xử lí vấn đề/ tình huống cần chú ý:

• Các nhóm HS có thể giải quyết cùng một vấn đề/ tình huống hoặc các vấn đề/ tình huống khác nhau, tuỳ theo mục đích của hoạt động

• HS cần xác định rõ vấn đề trước khi đi vào giải quyết vấn đề

• Cần sử dụng phương pháp động não để HS liệt kê các cách giải quyết có thể có

• Cách giải quyết tối ưu đối với mỗi HS có thể giống hoặc khác nhau

2.6 Phương pháp trò chơi

2.6.1 Bản chất

Hoạt động chơi là một hoạt động khá quan trọng của trẻ em lứa tuổi 6-8 tuổi Chơi là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của trẻ, không chơi, trẻ không phát triển Chơi nhằm thoả mãn nhu cầu của chính trẻ, được thể hiện mình chứ không phải là kết quả đạt được của hoạt động Động cơ chơi của trẻ nằm trong quá trình chơi

Hoạt động chơi của trẻ mang tính tự do, tự nguyện, tự lập Cách chơi của trẻ bị áp đặt thì trò chơi của trẻ

không còn mang lại niềm vui sướng; đồng thời, trẻ mất đi tính tự tin và khả năng tự lập trong cuộc sống sau này

Hoạt động chơi của trẻ mô phỏng cuộc sống và các mối quan hệ, vì thế nó mang tính tượng trưng, trẻ có thể dùng đồ vật thay thế giúp trẻ thoả sức tưởng tượng và sáng tạo Trong quá trình chơi, trẻ được trải

nghiệm nhiều loại cảm xúc khác nhau và rèn luyện cách thể hiện và kiểm soát cảm xúc

Trẻ ở lứa tuổi 6-8 phù hợp với với các loại trò chơi cơ bản phù hợp với trong lớp hoặc ngoài trời như sau:

- Trò chơi đóng vai theo chủ đề

Trang 28

- Trò chơi với phương tiện công nghệ hiện đại

- Trò chơi học tập

2.6.2 Quy trình thực hiện

- GV phổ biến tên trò chơi, nội dung và luật chơi cho HS

- Chơi thử (nếu cần thiết)

- HS tiến hành chơi

- Đánh giá sau trò chơi

- Thảo luận về ý nghĩa giáo dục của trò chơi

2.6.3 Ưu điểm

✓ Tạo được sự thích thú, hấp dẫn, không khí vui vẻ

✓ Khi chơi HS sẽ bộc lộ, thể hiện mình một cách tự nhiên

✓ Giúp thay đổi hình thức hoạt động và trạng thái tình cảm với việc học tập sinh hoạt trong lớp hay ngoài trời

✓ HS tiếp thu bài học một cách tích cực và tự giác

✓ Tạo cơ hội giúp HS rèn luyện kỹ năng và củng cố kiến thức

✓ Giúp HS phát triển tâm lí, thái độ đạo đức: có trách nhiệm cao với đồng đội tôn trọng kỷ luật của nhóm, đội và luật chơi, giúp đỡ đồng đội…

✓ Bằng trò chơi, việc học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động, không khô khan, nhàm chán HS được lôi cuốn vào quá trình luyện tập một cách tự nhiên, hứng thú và có tinh thần trách nhiệm, đồng thời giải tỏa được những mệt mỏi, căng thẳng

✓ Qua trò chơi, HS có cơ hội để thệ nghiệm những thái độ, hành vi Chính nhờ sự thể nghiệm này sẽ hình thành được ở các em niềm tin vào những thái độ, hành vi tích cực tạo ra động cơ bên trong cho những hành vi ứng xử trong cuộc sống

✓ Qua trò chơi, HS sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn cho mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp trong tình huống

✓ Qua trò chơi, HS được hình thành năng lực quan sát, được rèn luyện kỹ năng nhận xét, đánh giá hành

Trang 29

HS có thể ham vui sẽ kéo dài thời gian chơi, làm ảnh hưởng đến các hoạt động khác

Ý nghĩa giáo dục của trò chơi có thể bị hạn chế nêu lựa chọn trò chơi không phù hợp hoặc tổ chức trò chơi không tốt

2.6.5 Một số lưu ý

- Trò chơi phải dễ tổ chức và thực hiện, phải phù hợp với chủ đề hoạt động/bài học, với đặc điểm và trình độ HS, với quỹ thời gian, với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của lớp học, đồng thời phải không gây nguy hiểm cho HS

- HS phải nắm được quy tắc chơi và phải tôn trọng luật chơi

- Phải quy định rõ thời gian, địa điểm chơi

- Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện cho HS tham gia tổ chức, điều khiển tất cả các khâu: từ chuẩn bị, tiến hành trò chơi và đánh giá sau khi chơi

- Trò chơi phải được luân phiên, thay đổi một cách hợp lí để không gây nhàm chán cho HS

- Sau khi chơi, giáo viên cần cho HS thảo luận để nhận ra ý nghĩa giáo dục của trò chơi

2.6.6 Gợi ý các trò chơi phù hợp với học sinh tiểu học 6-8 tuổi của DA

(Phụ lục 1 đính kèm)

3 Đặc điểm phát triển chung của trẻ 6-8 tuổi và một số đặc điểm của trẻ dân tộc Mông trong độ tuổi trên tại địa phương

3.1 Đặc điểm phát triển chung của trẻ 6-8 tuổi

Các đặc điểm chung của trẻ 6-8 tuổi trong hoạt động dạy và học đối với giáo dục tiểu học được tổng hợp trong bảng 1 dưới đây:

Bảng 1: Đặc điểm phát triển chung của trẻ 6-8 tuổi

Vận động thể

chất

✓ Học cách kiểm soát cơ thể

✓ Có nhiều năng lượng

✓ Thích khám phá sự vật

✓ Tìm các vật nhỏ hay thích các nhiệm vụ vận động mang tính thử thách

Trang 30

Nhận thức ✓ Học tốt nhất qua “làm”

✓ Lượng kiến thức dạy cần ít và đơn giản

✓ Khả năng tập trung hạn chế, dễ bị mất tập trung bởi môi trường xung quanh

✓ Trí tưởng tượng phong phú

Giao tiếp xã hội ✓ Có xu hướng hướng vào bản thân

✓ Chơi theo cặp tốt hơn theo nhóm

✓ Cần được nhắc nhở liên tục về quy tắc làm việc theo nhóm

✓ Thích thể hiện bản thân nhưng phải được yêu cầu trực tiếp

3.2 Một số đặc điểm của trẻ dân tộc Mông trong độ tuổi trên tại địa phương

Các quan sát thực tế của nhóm DA cho thấy, trẻ dân tộc Mông trong độ tuổi 6-8 tuổi có các đặc điểm chung như sau:

- Vốn tiếng Việt và khả năng giao tiếp bằng tiếng Việt còn hạn chế

- Trẻ thường nhút nhát và ít có cơ hội giao tiếp

- Trẻ chơi tốt với các trò chơi vận động và tiếp xúc nhiều ngoài thiên nhiên

- Trẻ có tính tự lập cao

- Trẻ có tư duy về hình học và phối màu tốt

3.3 Một số lưu ý

- Khi đặt câu hỏi cho PP động não hoặc PP vấn đáp, nhiều học sinh còn lúng túng, không thể trả lời

được vì vốn từ tiếng Việt và khả năng nói tiếng Việt còn rất hạn chế

 Câu hỏi cần ngắn gọn, dễ hiểu và phù hợp với đối tượng học sinh: Đối với học sinh yếu, câu hỏi cần rõ ý và là câu hỏi dễ, câu hỏi chỉ để nhắc lại kiến thức cũ hoặc những điều đơn giản trong cuộc sống Không nên dùng câu hỏi suy luận hoặc câu hỏi nhằm mục đích tìm ra kiến thức mới đối với những học sinh này Có thể trước khi hỏi cần làm rõ những câu, từ mới trong tiếng Việt mà học sinh chưa được học đến trước khi đưa ra câu hỏi

- Khi chia nhóm, có học sinh yếu, học sinh nhút nhát không tham gia thảo luận và lên trình bày kết quả

 Đối với nhóm đối tượng này, trước tiên hãy áp dụng chia nhóm theo trình độ học sinh và giao cho nhóm này những câu hỏi, những nhiệm vụ dễ và đơn giản Học sinh trong nhóm này sẽ cần phải thay nhau lên trình bày kết quả Khi nhóm đôi tượng này đã quen dần với PP và không khí học tập, hãy chia và trộn lẫn đối tượng này vào các nhóm khác để các em có thể

Trang 31

hoà nhập, học hỏi ở các bạn khá hơn Ngoài ra, giáo viên cần chú ý đến những đối tượng này

ở các nhóm để có thể đến và khuyến khích, động viên các em tham gia vào công việc của nhóm và trao đổi với nhóm trưởng để giao nhiệm vụ phù hợp cho đối tượng này

- Ở PP động não, các em học sinh nhỏ (lớp 1, 2) có thể sẽ gặp khó khăn khi viết ý tưởng lên giấy hoặc

bảng từ vì vốn từ của các em còn ít và viết chậm

 Trong trường hợp này, sau khi giáo viên đặt câu hỏi/ tình huống động não, giáo viên có thể gọi từng em đưa ra ý tưởng, sau đó giáo viên viết ý tưởng của em lên giấy và dán thay cho học sinh vào bảng, hoặc viết ý tưởng đó lên bảng, sao cho tất cả các học sinh đều được đưa ra

ý kiến Khi giáo viên đã hỏi và viết hết tất cả các ý tưởng (giúp cho các em quen dần với PP) thì phần thảo luận sẽ được thực hiện lại như bình thường

- Đối với các bài học theo 4 chủ đề được cung cấp bởi dự án, nhiều hiện tượng tự nhiên, nhiều tình

huống xảy ra là còn mới với học sinh, vì vậy, có thể các em còn chưa biết tên của hiện tượng/tình huống bằng tiếng Việt

 Đối với trường hợp này, giáo viên có thể cho học sinh xem trước tranh, video hoặc mô tả để học sinh nhìn thấy trước, sau đó mới đưa tên hiện tượng/ tình huống để học sinh học từ mới trước khi vào kiến thức bài học Hoặc giáo viên cũng có thể tìm ra tên của hiện tượng/ tình huống đó bằng tiếng dân tộc trước, sau đó giải thích tên bằng tiếng Việt cho học sinh và đi vào bài

- Do vốn từ ít và còn nhút nhát nên học sinh lớp 1, 2 chưa thể có khả năng để đóng vai, khó có thể áp dụng PP này đối với học sinh nhỏ

 Đối với học sinh DTTS lớp 1, 2, nếu áp dụng PP đóng vai hãy cho HS tình huống đơn giản

nhất ở những câu chuyện trong 4 chủ đề Hãy chọn tình huống quen thuộc với học sinh và để thời gian cho các em hiểu câu chuyện trước khi đóng vai

- Kỹ thuật mảnh ghép có thể khó áp dụng để dạy học cho HS DTTS (do khả năng hiểu vấn đề và suy

luận còn chậm) và không đủ thời gian cho 1 tiết học

 Đối với kỹ thuật mảnh ghép, giáo viên có thể linh hoạt coi vòng 1 là một hoạt động thảo luận nhóm có trình bày kết quả và có giáo viên tổng kết, sau đó mới chuyển sang vòng 2 để học sinh từ kiến thức cũ đã được củng cố để suy luận ra kiến thức mới Ngoài ra, ở trong các tiết học ngoại khóa với các nội dung mà dự án đề xuất, thời gian cho mỗi bài học đều có thể do giáo viên soạn giáo án và quyết định

3.4 Các phương pháp phù hợp chia theo độ tuổi

Tất cả các PPDH và KTDH đã giới thiệu đều có thể áp dụng cho các tiết học ngoại khóa Tuy nhiên, tùy theo từng độ tuổi, trình độ, khả năng của học sinh để áp dụng linh hoạt như sau:

Trang 32

- Đối với học sinh khối lớp 1, 2: Các PPDH và KTDH đơn giản được ưu tiên áp dụng như PPDH vấn

đáp, động não, thảo luận nhóm, trò chơi với những KTDH như đặt câu hỏi, thảo luận khăn trải bàn

- Đối với học sinh lớn hơn như khối lớp 3-5: Các PPDH và KTDH được áp dụng với mức độ phức

tạp tăng lên như như PP giải quyết vấn đề, đóng vai với những KTDH như kỹ thuật thảo luận nhóm mảnh ghép, giao nhiệm vụ cho đóng vai

- PP trò chơi cần phải được khai thác triệt để khi giảng dạy các tiết học ngoại khóa Với vốn trò chơi hiện có cho học sinh tiểu học, các giáo viên có thể cải biên, áp dụng linh hoạt theo từng chủ đề bài học Trò chơi được dùng vào thời điểm thích hợp nhất là khi mở đầu bài học hoặc dùng để kết thúc bài học, khi giáo viên muốn tổng kết nội dung chính trong bài (các thông điệp theo mỗi câu chuyện)

- PP đóng vai cũng cần được lưu ý áp dụng với tỷ lệ và cường độ nhiều hơn đối với học sinh tiểu học Nội dung đóng vai được lựa chọn từ các câu chuyện theo 4 chủ đề, từ đơn giản đến phức tạp hơn theo từng khối lớp, vì thông qua đóng vai, học sinh được rèn nhiều hơn về ngôn ngữ, cách giao tiếp, giải quyết vấn đề và nhớ nội dung bài học lâu bền hơn

4 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp/ngoại khóa

4.1 Đặc điểm giáo dục ngoài giờ lên lớp/ngoại khóa

Trong giáo dục học nói chung cũng như trong lí luận dạy học các môn học nói riêng, hoạt động ngoại khóa luôn luôn được đề cập như một hoạt động hết sức quan trọng Trong xu hướng đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, Bộ GD&ĐT đã ban hành nhiều chỉ thị, văn bản liên quan đến việc đẩy mạnh các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Công tác ngoại khóa là một phần quan trọng, có mối quan hệ gắn bó khăng khít với chính khóa Ngoại khóa là một hoạt động bổ sung và nâng cao chất lượng của chính khóa lên một bước Phạm vi một giờ lên lớp không cho phép người dạy truyền đạt hết tất cả những vấn đề mà việc dạy học phải hướng đến Bên cạnh những khái niệm, những công thức, tri thức, việc dạy học cũng phải quan tâm đến quá trình hình thành và phát triển các kĩ năng, các quan hệ giao tiếp, các mối liên hệ gắn bó giữa người học với hiện thực cuộc sống, và việc này liên quan mật thiết đến hoạt động ngoại khóa

4.2 Các hình thức tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp/giáo dục ngoại khóa ở bậc tiểu học

Hình thức hoạt động GDNGLL ở trường tiểu học rất phong phú, đa dạng Dưới đây là một số hình thức phổ biến:

- Hoạt động thư viện

- Trò chơi tập thể, trò chơi dân gian (bịt mắt bắt dê, kéo co, rồng rắn lên mây, nhảy dây, ô ăn quan, mèo đuổi chuột, chim bay cò bay, ném còn, …)

Trang 33

- Hát các bài hát thiếu nhi, hát dân ca, múa tập thể, múa dân gian (múa nón, múa quạt, nhảy sạp, xòe Thái,…), đọc thơ, kể chuyện, diễn kịch

- Vẽ tranh, triển lãm tranh

- Hoạt động tham quan, du lịch các di tích lịch sử, di tích văn hóa, các danh lam thắng cảnh

- Hoạt động nhân đạo (quyên góp ủng hộ các bạn HS nghèo vượt khó trong lớp, trong trường, ở địa phương; ủng hộ nạn nhân chất độc da cam; ủng hộ những người có hoàn cảnh khó khăn, bị thiên tai, bão lụt, người khuyết tật,…)

- Hoạt động đền ơn đáp nghĩa (thăm hỏi các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các lão thành Cách mạng, các thương binh, gia đình liệt sĩ ở địa phương, )

- Hoạt động giao lưu (giao lưu, kết nghĩa giữa HS các lớp, các trường, các địa phương và HS quốc tế; giao lưu giữa HS với các chuyên gia, các nhà hoạt động xã hội, các cựu chiến binh, những người lao động giỏi ở địa phương, …)

- Hoạt động môi trường (tổng vệ sinh trường lớp, đường làng, ngõ phố; trồng cây, trồng hoa ở sân trường, vườn trường, đường làng, ngõ xóm; dọn rác ở bãi biển; tìm hiểu về tình hình ô nhiễm môi trường và các hoạt động bảo vệ môi trường ở địa phương; …)

- Hoạt động khéo tay hay làm (Làm búp bê, làm con rối, làm hoa giấy, làm đèn ông sao, đèn xếp, may quần áo cho búp bê, cắm hoa, bày cỗ Trung Thu, làm đồ chơi từ vỏ hộp, vỏ lon bia; …)

- Hoạt động câu lạc bộ:

• Câu lạc bộ bóng đá, bóng bàn, võ thuật,

• Câu lạc bộ những người thích khám phá

• Câu lạc bộ các nhà môi trường trẻ

• Câu lạc bộ các nhà thiết kế thời trang trẻ

• Câu lạc bộ khéo tay, hay làm

Trang 34

• Câu lạc bộ những tuyên truyền viên trẻ tuổi

• Câu lạc bộ Tiếng Anh/ Tiếng Nga/ TiếngPháp/Tiếng Trung…

• Câu lạc bộ những người yêu động vật

• Câu lạc bộ những người làm vườn trẻ

• Câu lạc bộ ca hát

• Câu lạc bộ hát dân ca

• Câu lạc bộ kịch nói, kịch câm

• Câu lạc bộ múa ba lê, múa dân tộc

• Câu lạc bộ múa rối

4.3 Sự khác nhau giữa phương pháp dạy học tích cực trong giáo dục chính khóa và giáo dục ngoại khóa

- Phương pháp dạy học tích cực trong giáo dục ngoại khóa (GDNGLL): Phương pháp tổ chức

hoạt động GDNGLL ở trường TH rất đa dạng và phong phú ở đây có sự phối hợp giữa

phương pháp giáo dục với phương pháp dạy học, trên cơ sở đó giáo viên vận dụng cho phù hợp với nội dung và hình thức hoạt động đã lựa chọn

- Phương pháp dạy học tích cực trong giáo dục chính khóa: Phương pháp dạy học tích cực là

phương pháp dạy học phát huy được sự chủ động, sáng tạo của người học Phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học sẽ giúp giáo viên và học sinh tăng sự tương tác, giúp giáo viên sáng tạo trong giảng dạy và học sinh chủ động hơn trong việc học

- Phương pháp dạy học tích cực phải đảm bảo 4 đặc trưng sau:

• Dạy và học qua các hoạt động học tập: Phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học giúp

người học chủ động trong việc tiếp thu tri thức từ người dạy, tích cực tìm tòi, khám phá những kiến thức mới bổ trợ cho quá trình học Ngoài ra, người học còn được khuyến khích tham gia các hoạt động trải nghiệm và thí nghiệm thực tế để nâng cao kiến thức và kỹ năng

• Chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học: Để học tập tốt thì ngoài sự hỗ trợ của người

dạy thì 90% thành công là nhờ chính bản thân người học Với phương pháp giảng dạy truyền thống thì người học hoàn toàn phụ thuộc vào người dạy, thụ động trong việc tìm kiếm thông tin và phương pháp Phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học giúp học sinh rèn được cho mình tinh thần tự học và có thêm những phương pháp tự học hiệu quả Khi quen được với phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học, các em sẽ khơi dậy được tinh thần ham học hỏi, niềm đam mê tìm tòi và khám phá tri thức trong chính bản thân mình

Trang 35

• Đẩy mạnh việc học tập riêng và học tập nhóm: Quá trình học là một quá trình đan xen

giữa cá nhân trong tập thể, chính vì vậy mà phương pháp học phải giúp cho người học có thể tự thúc đẩy bản thân học tập và hòa đồng tích cực vào hoạt động học tập nhóm của lớp Phương pháp dạy học tích cực ở tiểu học sẽ giúp các em rèn luyện được việc tự học của cá nhân và của tập thể lớp Việc này sẽ khuyến khích các em nâng cao ý thức tự học sau này

và tinh thần vì tương trợ, giúp đỡ các thành viên trong tập thể

• Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò: Khi áp dụng phương pháp dạy học

tích cực ở tiểu học thì việc đánh giá kết quả của môn học không chỉ là nhiệm vụ của giáo viên mà còn là trách nhiệm của học sinh Việc tiếp nhận đánh giá của thầy về việc tiếp thu của học sinh cũng như sự đánh giá của trò về phương pháp giảng dạy sẽ giúp giáo viên có thể dễ dàng theo dõi và điều chỉnh phương pháp giảng dạy hiện tại của mình một cách tốt nhất, nhằm mang đến những bài học hiệu quả nhất

5 Các bước thiết kế bài dạy/bài giảng áp dụng các phương pháp dạy học tích cực lấy trẻ làm trung tâm

5.1 Chuẩn bị ban đầu

- Xác định rõ mục tiêu: Kiến thức, kỹ năng cơ bản tối thiểu, được nâng cao

- Kiến thức/kỹ năng cơ bản của các bài cũ cần thiết học sinh phải nắm vững để tiếp cận nội dung của bài mới

- Nắm chắc tình hình chất lượng học sinh giờ học trước

- Những dụng cụ, phương tiện, đồ dùng cần thiết thực hiện trong bài dạy: Liệt kê đồ cùng dạy học cho

GV, cho cá nhân và cho nhóm HS Tìm hiểu, khai thác trong tự nhiên, môi trường xã hội, khai thác trên mạng về những vấn đề liên quan để phục vụ cho bài giảng

- Phác họa các hoạt động trong giờ dạy gắn với từng yêu cầu nội dung kiến thức, kỹ năng cơ bản mà học sinh cần đạt được, đảm bảo phân bổ thời gian cho mỗi hoạt động phù hợp, xác định phương tiện, điều kiện, đồ dùng cho mỗi hoạt động

5.2 Thiết kế hoạt động/bài dạy

- Thiết kế theo từng hoạt động cụ thể, mỗi hoạt động xác định rõ kiến thức kỹ năng cơ bản mỗi học sinh phải đạt được, kiến thức kỹ năng được nâng cao

- Mỗi hoạt động xác định rõ các phương án có thể thực hiện (Phương pháp và kỹ thuật dạy học phù hợp) cho từng loại đối tượng để đạt được kiến thức kỹ năng cơ bản

- Tập trung vào cách thức tổ chức các hoạt động của HS Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ:

Trang 36

(i) Tên hoạt động;

(ii) Mục tiêu của hoạt động;

(iii) Thời lượng thực hiện hoạt động;

(iv) Cách tiến hành hoạt động bao gồm cả dự kiến những khó khăn mà HS dễ gặp, những tình huống

có thể nảy sinh và các phương án giải quyết;

(v) Kết luận của GV về: Nội dung kiến thức, kỹ năng, thái độ của HS trong bài học; Những tình huống thực tế có thể vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ đã học để giải quyết; Những sai lầm thường gặp; Những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết phù hợp

- Sử dụng phối hợp các PP dạy học, các hình thức, các kỹ thuật dạy học tích cực khác nhau

- Xác định rõ các phương án, biện pháp hỗ trợ học sinh gặp khó khăn trong việc tham gia và tiếp nhận kiến thức/kỹ năng mới

- Sử dụng đồ dùng dạy học, dữ liệu, hiện tượng, hiện vật có trong tự nhiên, xã hội vào bài dạy đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp

- Dự kiến tình huống sư phạm có thể xảy ra và giải pháp

5.3 Thực hiện tổ chức giờ học

- Tạo ra không khí thoải mái, thân thiện ngay những phút đầu

- Bố trí vị trí (chỗ đứng/chỗ ngồi) của học sinh theo phương án được dự kiến đối với từng hoạt động và từng nội dung kiến thức, kỹ năng cần thực hiện

- Xuất phát từ tình hình thực tế, từng đối tượng học sinh, điều kiện, diễn biến của từng hoạt động để giáo viên linh hoạt, sáng tạo triển khai, thay đổi các phương án cho phù hợp

- Tập trung vào nhấn mạnh hoạt động học của HS, sau đó là hoạt động dạy của GV nhằm hỗ trợ hoạt động học của HS

- Đề cao việc theo dõi diễn biến tâm lý của học sinh để điều chỉnh phương án, phương pháp và đưa ra kiến thức, rèn luyện kỹ năng nâng cao cho phù hợp

- Chú trọng đảm bảo mọi hoạt động trong giờ giảng phải đạt được mục tiêu kiến thức, kỹ năng cơ bản

- Sau mỗi giờ dạy giáo viên phải nắm chắc tình hình chất lượng giờ dạy, khả năng tiếp thu kiến thức từng học sinh

- Tiến trình dạy học theo các hoạt động tham gia học tập/sinh hoạt của HS Các bước ổn định, kiểm tra, đánh giá, củng cố được thực hiện linh hoạt và đan xen nhau trong quá trình dạy và học

Trang 37

HS thiếu hụt kiến thức/kỹ năng kéo dài

- Nắm vững những học sinh có khả năng phát triển cần được bồi dưỡng nâng cao Phối hợp với gia đình, báo cáo Hiệu trưởng để có kế hoạch bồi dưỡng

- Suy ngẫm chuẩn bị cho giờ học tiếp theo

Hiện nay, điều kiện về không gian lớp học, thời lượng dành cho một tiết dạy, khâu chuẩn kế hoạch bài học mới và khâu đánh giá rút kinh nghiệm còn là điểm khó đối với giáo viên nên việc “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” vẫn là thách thức đối với cán bộ giáo viên tiểu học, nhưng vì sự tiến bộ của mỗi học sinh, các thầy cô giáo cần kiên trì, sáng tạo, ứng dụng các biện pháp, phương pháp mới để tự hoàn thiện quá trình dạy học của mình hướng tới sự thành công công việc thực hiện “dạy học lấy học sinh làm trung tâm”

6 Cách thức và các bước lồng ghép các nội dung/câu chuyện trong Bộ tài liệu giáo dục bổ trợ song ngữ vào hoạt động giáo dục ngoại khóa ở bậc tiểu học (học sinh 6-8 tuổi) áp dụng các phương pháp dạy học tích cực

Để hiểu và áp dụng được các phương pháp/kỹ thuật dạy học tích cực trong quá trình lồng ghép các nội dung/câu chuyện của bộ Tài liệu giáo dục bổ trợ song ngữ Việt – Mông vào các hoạt động ngoại khóa ở bậc tiểu học phù hợp với các quy định hiện nay, các giáo viên tiểu học cần nắm vững và thực hiện các bước sau:

Bước 1: Lựa chọn câu chuyện/bài viết phù hợp trong 5 chủ đề của tài liệu để lồng ghép vào chủ đề của kế hoạch theo tuần, tháng và quý của các trường tiểu học

(i) Cơ sở để lựa chọn nội dung đối với bậc tiểu học (trẻ 6-8 tuổi):

- Chương trình giáo dục ngoại khóa ở bậc tiểu học của Sở và Phòng GD&ĐT;

- Kế hoạch triển khai chương trình ngoại khóa gắn với chủ đề/chủ điểm trong trường học ở bậc tiểu học;

- 5 bộ tài liệu bổ trợ của AEA và CISDOMA

(ii) Tiến trình lựa chọn nội dung:

Trang 38

Các giáo viên đọc và rà soát các nội dung trong bộ tài liệu Giáo dục bổ trợ song ngữ để lựa chọn nội dung trong tài liệu bổ trợ cho hoạt động trên lớp tiểu học 6-8 tuổi Việc lựa chọn nội dung này dựa trên các chủ

đề có sẵn của nhà trường theo kế hoạch tuần, tháng và quý để đảm bảo việc lồng ghép các nội dung trong tài liệu phù hợp với chương trình và kế hoạch hoạt động của trường TH

Bước 2: Lựa chọn và điều chỉnh nội dung cho phù hợp với trẻ 6-8 tuổi và điều kiện dạy học

ở địa phương

Các tiêu chí chú ý khi lựa chọn và điều chỉnh nội dung:

- Bám vào mục tiêu câu chuyện

- Chia thành đoạn, tìm ý chính quan trọng trong từng đoạn, chọn tình huống gần gũi với học sinh

- Lựa chọn hình ảnh trong câu chuyện để đưa vào trò chơi, giáo viên có thể phân công vẽ tranh

- Thời gian tổ chức phù hợp và số lượng học sinh;

- Dựa vào phần “Đố em” ở phần cuối câu truyện trong Tài liệu GD bổ trợ song ngữ để lựa chọn nội

dung câu chuyện phù hợp

Bước 3: Lựa chọn hoạt động trên lớp phù hợp để thực hiện việc lồng ghép nội dung đã lựa chọn

Dựa trên các chủ đề sinh hoạt ngoại khóa của trường trong tháng đó, giáo viên sẽ căn cứ vào nội dung của tài liệu lựa chọn để thực hiện việc lồng ghép vào hoạt động nào cho phù hợp Bảng 2 dưới đây đưa ra các gợi ý cụ thể về các nội dung/câu chuyện trong bộ Tài liệu GD bổ trợ song ngữ được lựa chọn để thực hiện việc lồng ghép/đưa vào hoạt động theo chủ đề/chủ điểm sinh hoạt ngoại khóa trong trường tiểu học Bảng 2: Gợi ý lồng ghép nội dung Tài liệu GD bổ trợ song ngữ vào chủ điểm sinh hoạt ngoại khóa

8&9 Cùng bạn tới trường - Bỡ ngỡ; Được đi học nhờ có trường nội trú; Niềm vui tới trường:

Dùng chung

10 Chăm ngoan học giỏi - Xoa ham học; Vượt lên số phận; Tiết hoạt động ngoài giờ; Sua

thích đi học; Buổi lao động ở trường; Chai dầu gội đầu

11 Nhớ ơn thầy cô - Món quà nhỏ; Xấu hổ lắm, em không đi học đâu

12 Uống nước nhớ nguồn - Mùa đông trên rẻo cao; Chiếc váy của người Mông; Lễ hội Nào

Sồng; Đám cưới người Mông; Con chưa muốn lấy chồng 1&2 Chào năm mới - Chuyện ở chợ phiên; Tiếng gà gáy; Những cái mụn; Chiếc váy

hoa; Mùa nắng hạn

- Sự tích trò chơi Ném pao; Thổi kèn đón xuân; Cầu lông gà; Tù lu

Trang 39

3 Mẹ và cô - Tình chị em; Chiếc giẻ lau; Con gái không dễ bắt nạt đâu; Chiếc

váy của người Mông

4 Mừng non sông thống

nhất/hòa bình hữu nghị

- Niềm vui từ chiếc bập bênh

5 Tự hào đội viên/Bác Hồ

kính yêu

- Buổi sáng trên nương; Sạt lở đất; Món quà của Mỷ; Kỳ nghỉ hè

mơ ước

- Việc lựa chọn hoạt động trên lớp nào phù hợp sẽ dựa vào các tiêu chí sau:

• Mục tiêu của hoạt động: nội dung của câu chuyện hay bài viết phải phù hợp với mục tiêu của hoạt động đặt ra trong chương trình/kế hoạch của trường

• Nội dung của câu chuyện/bài viết phù hợp với hoạt động

• Thời gian triển khai của hoạt động

• Phương pháp thực hiện của hoạt động

• Điều kiện thực hiện hoạt động

Bước 4: Lựa chọn phương pháp và các trò chơi để tổ chức hoạt động trên lớp phù hợp với nội dung đã lựa chọn

Giáo viên có thể linh hoạt lựa chọn các phương pháp/kỹ thuật dạy học lấy trẻ làm trung tâm như đã giới thiệu ở Mục 4 ở trên hoặc lựa chọn/kết hợp thêm với một số phương pháp như gợi ý dưới đây:

(i) Kể chuyện qua tranh/ảnh:

- Là nghệ thuật tương tác của việc sử dụng Ngôn ngữ, Hành động và Hình ảnh để bộc lộ các yếu tố/nội dung của một câu chuyện trong đó khuyến khích trí tưởng tượng của người nghe

- Ưu điểm: Bắt mắt, dễ hiểu, dễ tưởng tượng/theo dõi, nhớ nhanh

(ii) Quan sát vật thật, xem video:

- Sử dụng phương tiện trực quan với 2 hình thức này theo cách minh họa và/hoặc trình bày

- Ưu điểm: Dễ thu hút sự chú ý, tham gia với nhiều giác quan; dễ hiểu, dễ nhớ (nhớ lâu), kích thích quan sát và tò mò

(iii) Vẽ tranh/chụp ảnh:

- Thể hiện ý tưởng về một chủ đề theo sáng tạo và tư duy riêng

- Ưu điểm: Tạo cơ hội sáng tạo, phát triển năng khiếu cho trẻ, nhớ lâu

Trang 40

(iv) Đóng vai/tiểu phẩm:

- Trực tiếp thực hành, “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định;

- Ưu điểm: Tăng cường kỹ năng quan sát, ứng xử, sáng tạo, dễ hiểu, dễ nhớ, nhớ lâu cho trẻ

(v) Trải nghiệm/thực hành:

- Tổ chức/dẫn dắt trẻ tham gia quan sát, trải nghiệm, thực hành các nội dung được học/giới thiệu thông qua thăm quan/giao tiếp/cọ xát với môi trường và thực tế cuộc sống xung quanh

- Ưu điểm: Kích thích vận động, giao tiếp/cọ xát, thân thuộc, thực tế trẻ được trực tiếp tham gia, nhìn,

sờ, tìm hiểu sự việc/sự vật nên dễ nhớ, dễ hiểu

(vi) Tổ chức trò chơi phù hợp với trẻ lứa tuổi tiểu học (6-8 tuổi)

Có nhiều hoạt động trò chơi học tập tạo hứng thú và kích thích sự tham gia của trẻ có thể áp dụng khi lồng ghép với các nội dung/câu chuyện trong bộ Tài liệu GD bổ trợ song ngữ (xem Phụ lục 1)

Bước 5: Soạn giáo án và thiết kế hoạt động trên lớp với nội dung tài liệu đã lựa chọn (gồm nội dung, phương pháp, đồ dùng dạy học và hoạt động trên lớp)

- Khi thiết kế giáo án kết hợp với việc lồng ghép nội dung tài liệu bổ trợ, giáo viên cần tham khảo lại và nắm rõ các nội dung/yêu cầu đã đề cập ở Mục 4.2 Thiết kế bài dạy, đặc biệt liên quan đến lựa chọn phương pháp và các trò chơi Một số lưu ý thêm khi thiết kế giáo án/bài giảng:

• Sàng lọc và diễn đạt lại các nội dung bài viết hay câu chuyện một cách ngắn gọn, từ ngữ dễ hiểu, các tình tiết đơn giản

• Trong tiết học các hoạt động cần đảm bảo có động và tĩnh Với đặc điểm của trẻ 6-8 tuổi, trẻ cần có vận động nên cần có lồng ghép trò chơi vận động;

• Khuyến khích sử dụng các vật liệu địa phương để chuẩn bị trò chơi;

• Khuyến khích huy động sự tham gia và hỗ trợ của phụ huynh học sinh trong các hoạt động lồng ghép này từ khâu chuẩn bị bài giảng, chuẩn bị đồ dùng/vật liệu, đến khâu tổ chức hoạt động cùng với học sinh;

Bước 6: Chuẩn bị đồ dùng dạy học theo thiết kế giáo án và huy động sự tham gia của cộng đồng cha mẹ trẻ

- Việc chuẩn bị đồ dùng dạy học cần phải lưu ý là trẻ tiểu học 6-8 tuổi có tư duy về hình ảnh và tư duy trực quan hành động phát triển mạnh Vì vậy đồ dùng dạy học và trò chơi cần phải được xây dựng trên nguyên tắc này

- Các bước phát triển hình ảnh hoá cho trò chơi trong câu chuyện như sau:

• Liệt kê các chi tiết câu chuyện trẻ cần biết trong câu chuyện Điều này dựa trên mục tiêu của câu chuyện

Ngày đăng: 06/07/2020, 23:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w