1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

95 31 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[9] Luật Lý lịch tư pháp 2009 đã đạt được kết quả trên nhiều mặt, thực sự trở thành công cụ pháp lý quan trọng đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong việc tiếp cận thông t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ KIM PHỤNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LÝ LỊCH

TƯ PHÁP TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ KIM PHỤNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LÝ LỊCH

TƯ PHÁP TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số : 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐẶNG MINH ĐỨC

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp từ

thực tiễn tỉnh Quảng Nam” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số

liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực, được trích dẫn từ

các nguồn công khai, hợp pháp, không sao chép từ bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Thị Kim Phụng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp 8 1.2 Chủ thể thực hiện QLNN về LLTP, nguyên tắc, vai trò của quản lý lý lịch

tư pháp 11 1.3 Nội dung, hình thức, phương pháp quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp 15 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp 23

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM 30

2.1 Những kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về LLTP trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 30 2.2 Đánh giá chung quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp tại Quảng Nam 44 2.3 Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế pháp luật về LLTP 56

Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN

LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM 60

3.1 Quan điểm về nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp trong giai đoạn hiện nay 60

3.2 Những giải pháp về nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp

từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam 63

KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

TTLLTPQG Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia

STP-TAND-CA-VKSND-THA Sở Tư pháp - Tòa án nhân dân - Công an -

Viện kiểm sát nhân dân- Thi hành án dân sự

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

2.1 Biểu đạt số liệu thông tin lý lịch tư pháp được tiếp nhận,

giải quyết từ năm 2012- 2018

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chế định lý lịch tư pháp (LLTP) ở Việt Nam đã có quá trình phát triển

từ rất lâu trong lịch sử, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và ngày càng được hoàn thiện khi kinh tế, xã hội của thế giới phát triển theo hướng hội nhập kinh

tế quốc tế Trước yêu cầu đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền công dân, góp phần vào công cuộc hội nhập quốc tế, ngày 17/6/2009, Quốc hội khóa XII

đã thông qua Luật Lý lịch tư pháp, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm

2010 đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế về lý lịch tư pháp tại Việt Nam Luật lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này đã tạo cơ sở pháp lý đầy

đủ để xây dựng chế định lý lịch tư pháp riêng, nhưng vẫn có sự quan hệ chặt chẽ, bổ sung lẫn nhau với chế định căn cước can phạm; tạo cơ sở xây dựng hệ thống dữ liệu LLTP từng bước vững chắc đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài; đồng thời gắn việc quản lý dữ liệu lý lịch tư pháp với cấp Phiếu lý lịch tư pháp phục vụ nhu cầu của người dân

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và mục đích quản lý nhà nước về lĩnh vực này, Luật LLTP đã quy định phạm vi quản lý LLTP về án tích, tình trạng thi hành án và về cấm đảm nhiệm chức vụ thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản

Án tích là dấu tích thể hiện việc một người đã từng bị kết án bằng bản

án hình sự đã có hiệu lực pháp luật mà chưa được xóa án, theo đó, người có

án tích sẽ bị nhiều hạn chế về quyền lợi [9] Phiếu LLTP được coi là giấy tờ

pháp lý quan trọng để chứng minh cá nhân có hay không có án tích khi tham gia vào các quan hệ pháp lý, nhằm đáp ứng yêu cầu của cá nhân chứng minh

Trang 8

người đó có hay không có án tích, tạo điều kiện cho người bị kết án trong việc xoá án tích, tái hoà nhập cộng đồng, đồng thời góp phần phục vụ công tác quản

lý nhân sự của các cơ quan, tổ chức; phục vụ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, thống kê tư pháp v.v…Đến nay có hơn 60 thủ tục hành chính có yêu cầu cấp Phiếu LLTP như thủ tục về nuôi con nuôi, quốc tịch, luật sư,

quản lý cư trú, khám chữa bệnh, hàng không, chứng khoán, bảo hiểm [9]

Luật Lý lịch tư pháp 2009 đã đạt được kết quả trên nhiều mặt, thực sự trở thành công cụ pháp lý quan trọng đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong việc tiếp cận thông tin, được chứng minh nhân thân tư pháp của mình khi tham gia vào các quan hệ pháp lý, dân sự, bảo đảm công khai, minh bạch, dân chủ; là công cụ quan trọng hỗ trợ cho các cơ quan nhà nước trong quản lý dân cư, quản lý xã hội; Luật LLTP cũng cụ thể hóa quy định của Bộ luật Hình sự 1999 về chế định đương nhiên được xóa án tích, bảo vệ quyền con người, giúp người từng bị kết án tái hòa nhập cộng đồng

Bên cạnh những kết quả đạt được trong quá trình triển khai Luật LLTP, thì trong bối cảnh hiện nay - với yêu cầu cao hơn trong quản lý nhà nước về LLTP, với chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng Chính phủ điện tử và nhu cầu của xã hội ngày càng cao - pháp luật về LLTP hiện hành đã trở nên bất cập so với hệ thống pháp luật hiện hành, chưa đáp ứng tốt yêu cầu từ thực tiễn cũng như yêu cầu của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh cải cách hành chính Bên cạnh đó, nhu cầu được cấp phiếu LLTP ở nước ta những năm gần đây tăng lên đột biến, dẫn đến tình trạng quá tải trong việc tra cứu, xác minh thông tin LLTP, làm chậm thời hạn cấp Phiếu LLTP cho cá nhân, tổ chức

Công tác cấp Phiếu LLTP ở tỉnh Quảng Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó, cách đây khoảng 10 năm về trước, từ chổ chỉ cấp từ vài chục đến dưới 500 Phiếu LLTP mỗi năm (chủ yếu cấp cho người đi xuất cảnh ra nước

Trang 9

ngoài), thì nay con số đó đã gấp hơn 10 lần (năm 2018 cấp 6300 phiếu), điều này cho thấy LLTP có ý nghĩa, vai trò rất quan trọng trong đời sống dân sự của công dân cũng như đặt ra những yêu cầu cao hơn, cấp thiết hơn đối với công tác quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp

Qua quá trình nghiên cứu và thực tiễn công tác, bản thân đã lựa chọn đề

tài “Quản lý nhà nước về Lý lịch tư pháp từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” cho

Luận văn của mình để có điều kiện được nghiên cứu sâu hơn về công tác này

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Để chuẩn bị cho công tác xây dựng dự thảo Luật LLTP và sau 8 năm thi hành Luật LLTP công tác quản lý nhà nước về LLTP đã phát sinh rất nhiều vấn đề cần được quan tâm giải quyết, theo đó đã có rất nhiều đề tài khoa học nghiên cứu về LLTP đánh giá thực trạng, kết quả công tác LLTP đạt được trong thời gian qua, cũng như đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động lý lịch tư pháp Trong đó, có thể điểm ra một số công trình tiêu biểu mà tác giả được tham khảosau đây:

- Trần Thất (năm 1996), Một số suy nghĩ bước đầu về quản lý Lý lịch

tưpháp, Tạp chí Dân chủvà pháp luật số 3, 4 (1997); Đề tài “Lý lịch tư pháp- Thực trạng, phương pháp tổ chức quản lý và hoạt động trong điều kiện mới;

Đề tài “Những cơ sở pháp lý của việc hình thành tổ chức lý lịch tưpháp để

phục vụ cho chính sách xử lý hình sự, quản lý xã hội bằng pháp luật và bảo

vệ các quyền lợi hợp pháp của công dân”, luận văn thạc sĩ của Đại họcLuật

Hà Nội, Nguyễn Trí Hòa, 1997” Tác giả của những đề tài này đã lần tìm về

lịch sử hình thành công tác LLTP của nước ta, vai trò của LLTP, theo đó tác giả nêu lên những bước phát triển về công tác LLTP nói chung và quản lý nhà nước về LLTP qua các thời kỳ, từ đó đề xuất những nội dung cần đổi mới, phát huy hơn nữa vai trò công tác này nhằm đảm bảo phù hợp với tình hình phát triển của đất nước, hội nhập quốc tế

Trang 10

- Nguyễn Thị Minh Phương (năm 2014), Thực tiễn công tác phối hợp tra

cứu, xác minh thông tin để cấp Phiếu lý lịch tư pháp, Tạp chí Dân chủ và

Pháp luật;

- Nguyễn Thị Thu Hằng (năm 2012), Phiếu lý lịch tư pháp và vấn

đềquản lýnhà nước, quản lý xã hội ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Dân chủvà

Pháp luật;

- Đề tài khoa học cấp Bộ, “Xây dựng tiêu chí kiểm soát chất lượng hoạt

động xây dựng, quản lý, sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp”,

năm 2014, Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp

- Đề tài: “Quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp từ thực tiễn các tỉnh miền

núi phía Bắc”, luận văn thạc sỹ Học viện Khoa học - xã hội, Phạm Thị Hương,

năm 2017;

- Đề tài: “Quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp từ thực tiễn thành phố Hồ

Chí Minh”, luận văn thạc sỹ Học viện Khoa học - xã hội, Nguyễn Ngọc Cường,

Phạm Trọng Cường “Thực trạng và nhu cầu điều chỉnh Pháp Luật về

quản lý lý lịch tư pháp”; các nội dung đổi mới của công tác LLTP theo Luật

LLTP ;“Một số nội dung cơ bản về lý lịch tư pháp”

Những tài liệu trên đây đãnghiên cứu, đưa ra những quan điểm lý luận

và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp Việt Nam qua các thời kỳ, như vấn đề về tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về lịch tư pháp; cơ chế phối hợp trong xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cũng như kết quả đạt được của công tác này trong những

Trang 11

năm qua, đặc biệt là từ khi Luật LLTP có hiệu lực Trên cơ sở những lý luận khoa học, quan điểm đường lối phát triển của đất nước, xu hướng của thế giới, các tác giả đưa đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác LLTP trong thời gian đến

Nhưng chắc chắn là đến thời điểm này, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp tại tỉnh Quảng Nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đi trước sẽ là cơ sở cho việc nghiên cứu đề

tài“Quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” của

tác giả, nhằm góp phần giải quyết những vấn đề chưa được quan tâm; các vấn đề còn tồn tại, bất cập trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nhằm phát hiện những tồn tại, hạn chế trong QLNN về LLTP nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về Lý lịch tư pháp

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nêu và làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận, hình thức, phương pháp

và tầm quan trọng của quản lý nhà nước về Lý lịch tư pháp

- Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về Lý lịch tư pháp tại Quảng Nam,

để từ đó tìm ra những tồn tại, bất cập của công tác QLNN về LLTP hiện nay

- Trên có sở nghiên cứu, đánh giá một cách chính xác, khách quan và toàn diện về thực trạng công tác QLLL về LLTP hiện nay, tác giả đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm góp phần tăng cường hiệu quả QLNN về LLTP nói chung và quản lý nhà nước về LLTP trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về nội dung quản lý nhà nước được Luật LLTP quy định và

thực tiễn quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Nam

sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó Chương 1 sẽ chủ yếu

sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp; Chương 2 sử dụng chủ yếu phương pháp thống kê, số liệu

5.2 Phương pháp nghiên cứu và tiếp cận:

Trong quá trình nghiên cứu Đề tài, tác giả có vận dụng nhiều phương pháp nhằm đạt được hiệu quả nghiên cứu, như

Tiếp cậnnghiên cứu tài liệu: bản thân tìm hiểu, nghiên cứu một số tài

liệu, như: Luật, văn bản quy phạm pháp luật, sách báo, đề tài khoa học, tạp chí, nhiều bài viết trên internet có nội dung liên quan đến lý lịch tư pháp, các báo cáo của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia - Bộ Tư pháp, Bộ Tư pháp, UBND tỉnh Quảng Nam, Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam để minh chứng cho các phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp của luận văn

Phân tích, đánh giá nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và những vướng mắc, bất cập trong quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp

Trang 13

Tổng hợp các kết quả đã đạt được trong QLNN về LLTP để làm cơ sở đánh giá cũng như đề xuất hoàn thiện các quy định về LLTP

Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp luật học, phương pháp so sánh, tổng hợp, phương pháp phỏng vấn chuyên gia…

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.2 Về thực tiễn

Với những tồn tại và bất cập được nêu ra tại Luận văn này cũng là nguồn thông tin bổ ích, xác đáng để các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền định hướngtăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác LLTP trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu luận văn gồm 3 chương, trong đó: Hệ thốnglại những cơ sở lý luận pháp luật của QLNN về LLTP Đánh giá những kết quả đạt được trong QLNN về LLTP từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam Trên cơ

sở lý luận và thực tiễn, tác giả đưa ra những giải pháp tăng cường hiệu quả QLNN về LLTP trong thời gian tới Tại các Chương của Luận văn, tác giả cũng có sử dụng các Bảng biểu thống kê, các sơ đồ minh họa để biểu đạt cụ thể các số liệu, mức độ đạt được cũng như những nội dung còn tồn tại trong công tác LLTP

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP

1.1 Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về Lý lịch tư pháp

Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”[12, tập 1,tr.407]

Như vậy, quản lý nhà nước là một dạng của quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát triển của xã hội

Từ khái niệm trên về quản lý nhà nước ta rút ra các đặc điểm của quản

lý nhà nước như sau:

Quản lý nhà nước mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn phương của nhà nước Quản lý nhà nước được thiết lập

trên cơ sở mối quan hệ “quyền uy” và “sự phục tùng”[12]

Quản lý nhà nước mang tính tổ chức và điều chỉnh Tổ chức ở đây được hiểu như một khoa học về việc thiết lập những mối quan hệ giữa con người với con người nhằm thực hiện quá trình quản lý xã hội Tính điều chỉnh được hiểu là nhà nước dựa vào các công cụ pháp luật để buộc đối tượng bị quản lý

Trang 15

phải thực hiện theo quy luật xã hội khách quan nhằm đạt được sự cân bằng trong xã hội

Quản lý nhà nước mang tính khoa học, tính kế hoạch Đặc trưng này đỏi hỏi nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối lên đối tượng quản lý phải có một chương trình nhất quán, cụ thể và theo những kế hoạch được vạch ra từ trước trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học

Quản lý nhà nước là những tác động mang tính liên tục, và ổn định lên các quá trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội Hoạt động quản lý nhà nước phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn, tránh bị thay đổi quá nhanh do không theo kịp sự phát triển của xã hội Việc ổn định của các quyết định của nhà nước giúp cho các chủ thể quản lý có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành vi xã hội được ổn định Điều đó đòi hỏi chủ thể quản lý nhà nước cần phải có cái nhìn mang tính chiến lược lâu dài

Quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp

Khái niệm “Lý lịch tư pháp” được sử dụng khác nhau theo cách gọi của mỗi nước nhưng đều hàm chứa những nội dung tương tự là ghi nhận thông tin

về các chế tài, hình phạt mà cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đã tuyên

xử đối với một cá nhân, mà nội dung chủ yếu là những thông tin liên quan đến bản án hình sự; về án tích của một cá nhân

Lý lịch tư pháp theo quy định của pháp luật của một số nước Châu Âu, chẳng hạn như hệ thống pháp luật của Bỉ cho rằng là một hệ thống xử lý tự động, có nhiệm vụ đảm bảo việc đăng ký, lưu trữ và thay đổi các dữ liệu liên quan đến các bản án, quyết định trong lĩnh vực hình sự và quốc phòng.Khác với khái niệm lý lịch tư pháp của Pháp và Bỉ, theo quy định của Luật về đăng

ký Trung ương (Bundeszentralregistergesets BZRG ngày 18/3/1971) của Cộng hoà liên bang Đức, lý lịch tư pháp được hiểu là việc đăng ký, lưu trữ,

Trang 16

xử lý các thông tin về bản án hình sự của toà án, thông tin liên quan đến quyết định của cơ quan hành chính và toà án về vi phạm trong công nghiệp

và thương mại; các quyết định của cơ quan công tố hình sự về việc truy tố

đang thực hiện đối với một người nào đó[25]

Ở nước ta, khái niệm Lý lịch tư pháp được định nghĩa tại khoản 1 Điều

2 của Luật LLTP“Lý lịch tư pháp là lý lịch về án tích của người bị kết án

bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản”

Theo đó cho thấy quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp cũng mang những đặc điểm chung của quản lý công vụ: đó là sự tác động mang tính quyền lực nhà nước của các chủ thể được giao nhiệm vụ quản lý lý lịch tư pháp lên đối tượng quản lý phù hợp với quy luật khách quan nhằm hướng đến mục đích quản lý lý lịch tư pháp

Do vậy, có thể định nghĩa quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp là quá

trình các cơquan nhà nước có thẩm quyền bằng quyền lực của mình tác động

có tổ chức và điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động cung cấp, tiếp nhận, cập nhật thông tin lý lịch tư pháp; lập lý lịch tư pháp; tổ chức và quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; cấp phiếu lý lịch tư pháp theo các nguyên tắc nhất định nhằm đạt được mục tiêu của quản lý nhà nước về lý lịch

tư pháp[10]

1.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về LLTP

Quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp cũng mang đầy đủ đặc điểm chung của quản lý nhà nước, đó là: tính quyền lực nhà nước, tính tổ chức và điều chỉnh, tính khoa học, tính kế hoạch tính liên tục, ổn định và được thực hiện với nhiều hoạt động như:

Trang 17

a) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về Lý lịch tư pháp; Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về Lý lịch tư pháp;

b) Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về Lý lịch tư pháp;

c) Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức làm công tác Lý lịch tư pháp;

d) Quản lý cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp;

đ) Bảo đảm biên chế, cơ sở vật chất và phương tiện làm việc đảm bảo đáp ứng yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ của công tác LLTP;

e) Chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ về lý lịch tư pháp;

g) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về Lý lịch tư pháp;

h) Ban hành và quản lý thống nhất các biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về Lý lịch tư pháp;

i) Triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng cơ sở

dữ liệu và quản lý Lý lịch tư pháp;

k) Thực hiện hợp tác quốc tế về lĩnh vực Lý lịch tư pháp

1.2 Chủ thể thực hiện QLNN về LLTP, nguyên tắc, vai trò của quản lý lý lịch tư pháp

Đến ngày 02 tháng 11 năm 1955, để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, nhiệm vụ quản lý lý lịch tư pháp được chuyển sang ngành Công an cùng với việc quản lý căn cước can phạm theo Thông tư liên bộ số 1909 - VHC

Trang 18

Sang thời kỳ đất nước đổi mới, bắt đầu từ Nghị định số 38/CP ngày 04 tháng 6 năm 1993, tiếp đến là Nghị định số 62/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 (thay thế Nghị định số 38) và Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày

22 tháng 8 năm 2008 (thay thế Nghị định số 62) quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, Chính phủ đã giao nhiệm

vụ quản lý lý lịch tư pháp cho Bộ Tư pháp Như vậy, thời kỳ này đã có sự phân biệt giữa công tác lý lịch tư pháp (do Bộ Tư pháp quản lý) với công tác tàng thư căn cước can phạm (do Bộ Công an quản lý) Ở địa phương, Sở Tư pháp có nhiệm vụ cấp Phiếu LLTP, chịu trách nhiệm về việc cập nhật nội dung Phiếu LLTP theo quy định pháp luật, tham mưu giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về LLTP ở địa phương So với nhiều lĩnh vực hoạt động tư pháp khác thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tư pháp như: công chứng, luật sư, giám định, hộ tịch thì quản lý lý lịch tư pháp là một lĩnh vực còn khá mới mẻ

Theo Luật Lý lịch tư pháp, công tác LLTP bao gồm: Quản lý cơ sở dữ liệu LLTP và Quản lý nhà nước về Lý lịch tư pháp Để phân biệt hai nhiệm vụ này, Điều 9 Luật Lý lịch tư pháp quy định: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp; Bộ Tư pháp chiụ trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về LLTP; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về Lý lịch tư pháp ở địa phương Đồng thời theo Thông tư liên tịch

số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ

“Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh” quy định Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân

tỉnh, thành phố trực thuộc Trung thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về một số lĩnh vực trong đó có LLTP và

tại khoản 5, Điều 2 quy định "Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP là Trung

tâm LLTPQG và Sở Tư pháp"

Trang 19

1.2.2 Nguyên tắc quản lý lý lịch tư pháp

Là các nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt trong tổ chức và quản lý lý lịch

tư pháp, liên quan trực tiếp đến quyền nhân thân của công dân, được quy định tại Điều 4 Luật Lý lịch tư pháp, như sau:

Một là, lý lịch tư pháp chỉ được lập trên cơ sở bản án, quyết định hình

sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; quyết định của Tòa án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản đã có hiệu lực pháp luật: Đây là một

trong những nguyên tắc cơ bản của tổ chức và hoạt động lý lịch tư pháp Lý lịch tư pháp của một người chỉ được lập khi người đó bị Tòa án kết án bằng bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật và trường hợp khi một cá nhân bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp trong quyết định tuyên bố phá sản, thì cơ quan có thẩm quyền sẽ lập và quản

lý hồ sơ LLTP của người đó nếu người đó chưa có Lý lịch tư pháp được lập trước đây

Hai là, bảo đảm tôn trọng bí mật đời tư của cá nhân: Nguyên tắc này

phù hợp với quan điểm của Hiến pháp về bảo vệ quyền con người; quyền nhân thân và bí mật đời tư của cá nhân phải được tôn trọng và bảo vệ Nguyên tắc này được thể hiện rõ nét trong các quy định của Luật Lý lịch tư pháp về quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, việc cung cấp, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp cũng như quy định về thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp

Ba là, thông tin lý lịch tư pháp phải được cung cấp, tiếp nhận, cập nhật, xử lý đầy đủ, chính xác theo đúng trình tự, thủ tục quy định pháp luật: Đây lànguyên tắc cơ bản của quản lý lý lịch tư pháp, theo đó, cơ quan

cấp Phiếu lý lịch tư pháp phải đảm bảo tính chính xác, đầy đủ của thông tin trong Phiếu lý lịch tư pháp

1.2.3 Vai trò của quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp

Trong bối cảnh thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc

Trang 20

tế cùng với tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta, thì nhu cầu xin cấp Phiếu lý lịch tư pháp của công dân ngày càng tăng, Phiếu lý lịch

tư pháp được coi là một trong những giấy tờ chứng minh cá nhân có hay không có án tích khi tham gia vào các quan hệ pháp lý Theo thống kê chưa đầy đủ, trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, đã có hơn 80 văn bản quy định

về việc cá nhân phải có Phiếu lý lịch tư pháp khi tham gia vào các quan hệ xã hội như xin thôi, nhập quốc tịch Việt Nam; xin con nuôi; hành nghề luật sư, v.v do vậy, Lý lịch tư pháp ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống dân sự của công dân, trong quản lý nhân sự và hỗ trợ hoạt động tố tụng hình

sự, đáp ứng yêu cầu chứng minh về nhân thân tư pháp của cá nhân cũng như tạo điều kiện cho người bị kết án trong việc xoá án tích, tái hoà nhập

cộng đồng

Xuất phát từ ý nghĩa của Lý lịch tư pháp đối với tổ chức, cá nhân như trên nên quản lý nước về lý lịch tư pháp cũng đóng vai trò hết sức quan trọng nhằm đạt được các mục đích quy định tại Điều 3 Luật Lý lịch tư pháp:

Một là: Các thông tin lý lịch tư pháp của cá nhân được cơ quan quản lý

cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cung cấp dưới hình thức Phiếu lý lịch tư pháp, nhằm giúp cá nhân chứng minh được tình trạng án tích của mình trước các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền; chứng minh bản thân có hay không có bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã Qua đó, cá nhân có điều kiện bảo vệ được quyền lợi của mình

Hai là: Phiếu LLTP mà nội dung ghi nhận việc xoá án tích sẽ tạo điều

kiện cho người đã bị kết án tái hoà nhập cộng đồng Phiếu lý lịch tư pháp số 1 ghi “ không có án tích” hoặc “Đã được xóa án tích, ngày tháng năm ” là giấy tờ có giá trị pháp lý giúp người được xoá án tích “thực sự” coi như chưa

bị kết án và hoà nhập cộng đồng một cách dễ dàng hơn

Thứ ba: cung cấp thông tin hữu hiệu cho hoạt động tố tụng hình sự Đó

Trang 21

là những thông tin chính thức tình trạng tiền án của bị can, bị cáo để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trong quá trình giải quyết vụ án Hay nói cách khác đây chính là các thông tin xác đáng

để các cơ quan tiến hành tố tụng xác định tái phạm, không tái phạm giúp cho việc định tội được khách quan, chính xác Qua đó, nâng cao vai trò của công tác xét xử trong việc bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật, tăng cường ý nghĩa ren đe, phòng ngừa tội phạm

Thứ tư: Cung cấp thông tin về án của cá nhân, hỗ trợ các cơ quan, tổ

chức trong quản lý nhân sự, biết rõ tình trạng án tích của nhân viên mình; là điều kiện để các tổ chức đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trước các cơ quan có thẩm quyền

Thứ năm: Là một trong các yếu tố quan trọng buộc người phạm tội phải chấp hành tốt Bản án để được xóa án tích, tái hòa nhập cộng đồng Bởi

lẽ, khi tham gia hầu hết các công việc hiện nay đều được chủ thể quản lý yêu cầu có Phiếu LLTP để chứng minh tình trạng án tích của mình Trường hợp không chấp hành tốt hình phạt và các quyết định khác có liên quan trong bản

án, người bị kết án sẽ không được xóa án tích, đồng nghĩa với việc khó có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng, khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp

Theo đó, Bộ Tư pháp được giao các nhiệm vụ, quyền hạn như: a) Trình

cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền

Trang 22

văn bản quy phạm pháp luật về lý lịch tư pháp; b) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lý lịch tư pháp; tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về lý lịch tư pháp; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức làm công tác lý lịch tư pháp; c) Quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia; d) Bảo đảm cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia; đ) Chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ về lý lịch tư pháp; e) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về

lý lịch tư pháp; g) Ban hành và quản lý thống nhất các biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về lý lịch tư pháp; h) Triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý lý lịch tư pháp; i) Thực hiện hợp tác quốc

tế về lĩnh vực lý lịch tư pháp; k) Định kỳ hằng năm báo cáo Chính phủ về hoạt động quản lý Lý lịch tư pháp (khoản 3, Điều 9)

Và tại địa phương, khoản 5, Điều 9 Luật LLTP quy định:UBND cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn: a) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lý lịch tư pháp; tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về lý lịch tư pháp; b) Bảo đảm về biên chế, cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho hoạt động quản lý lý lịch tư pháp tại địa phương; c) Kiểm tra, thanh tra,

xử lý vi phạm và giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp; d) Triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý lý lịch tư pháp theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp; đ) Định kỳ hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về hoạt động quản lý lý lịch tư pháp tại địa phương Tại Điều 1 của Thông tư số

23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 “Hướng dẫn chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh”quy định Sở Tư pháp là cơ quan

Trang 23

chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về một số lĩnh vực, trong đó có lý lịch tư pháp Trên cơ sở đó, quản lý nhà nước về Lý lịch tư pháp ở nước ta từ sau khi Luật LLTP có hiệu lực thi hành được thể hiện trên các hoạt động cơ bản sau:

1.3.1.1 Ban hành và xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Trên cơ sở Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của

Bộ Chính trị ban hành về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó đặt ra một trong những định hướng quan trọng là “tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại”, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Lý lịch tư pháp, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2010; tiếp đến, ngày19/02/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành

“Chiến lược phát triển Lý lịch tư pháp đến năm 2020, tầm nhìn 2030” (ban hành kèm theo Quyết định số 338/QĐ-TTg) Để hướng dẫn thi hành Luật Lý lịch tư pháp, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng xây dựng, tham mưu cho các cơ quan có thẩm quyền ban hành

và ban hành theo thẩm quyền 09 văn bản hướng dẫn thi hành Luật LLTP (01 thông tư liên tịch, 04 thông tư; 03 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 01

chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp (Phụ lục - Tình hành ban hành văn bản

hướng dẫn thi hành Luật LLTP)

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Bộ Công an, Bộ Quốc phòng cũng đã có văn bản chỉ đạo các cơ quan liên quan trực thuộc nghiêm túc thực hiện việc cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin LLTP theo đúng quy định của Luật

UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng đã kịp thời ban hành các kế hoạch, chỉ thị hoặc các văn bản khác để tổ chức thi hành Luật

Trang 24

LLTP và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Hầu hết các

Sở Tư pháp đều quan tâm tăng cường quan hệ phối hợp với các Ngành ở địa phương nhằm bảo đảm cho các cơ quan cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin LLTP, đa số các địa phương đã ban hành Quy chế phối hợp liên ngành, Kế hoạch phối hợp liên ngành, Quy chế phối hợp về việc tiếp nhận và giải quyết

các thủ tục hành chính [6]

1.3.1.2.Tổ chức, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

Các thông tin LLTP về án tích, về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã của cá nhân được cập nhật và xử lý theo quy định, tạo thành hệ thống cơ sở dữ liệu LLTP Hệ thống dữ liệu này được xây dựng và quản lý tại Trung tâm LLTPQG thuộc Bộ Tư pháp và tại Sở Tư pháp Điều 15 và Điều 36 của Luật LLTP thì nguồn thông tin LLTP mà Trung tâm LLTPQG và Sở Tư pháp phải tiếp nhận, cập nhật, xử lý là 19 loại thông tin LLTP, bao gồm các bản án, quyết định của Tòa án và các loại văn bản, tài liệu của các cơ quan, tổ chức có liên quan đến quá trình thi hành các bản án, quyết định đó Hiện nay, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì ngoài các văn bản được xem là nguồn thông tin LLTP được quy định tại Điều 19 Luật LLTP thì còn một số văn bản khác

- Phạm vi xây dựng CSDLLLTP:

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và mục đích quản lý nhà nước về lĩnh vực LLTP, Luật LLTP quy định phạm vi quản lý LLTP là về án tích, tình trạng thi hành án và về việc cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa

án tuyên bố phá sản

Cơ quan quản lý CSDLLLTP:

Theo quy định của Luật LLTP, cơ quan quản lý CSDLLLTP bao gồm Trung tâm LLTPQG thuộc Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp, theo mô hình 2 cấp,

Trang 25

với các nhiệm vụ cụ thể được quy định tại Điều 12, Điều 13 như sau:

Nhiệm vụ của Trung tâm LLTPQG trong quản lý CSDLLLTP:

Luật LLTP quy định Trung tâm LLTPQG là đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ

Tư pháp, có nhiệm vụ xây dựng, quản lý, khai thác, bảo về CSDLLLTP trong phạm vi cả nước; tiếp nhận, cập nhậtxử lý thông tin lý lịch tư pháp do Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an, cơ quan thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng và Sở Tư pháp cung cấp; Lập Lý lịch tư pháp, cấp Phiếu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu LLTP theo thẩm quyền quy định tại Điều 26 và Điều 44; đồng thời Trung tâm LLTP còn giữ vai trò điều phối, hướng dẫn việc xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi cả nước

Nhiệm vụ của Sở Tư pháp trong quản lý CSDLLLTP:

Sở Tư pháp có nhiệm vụ: 1 Xây dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ cơ

sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; 2 Tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp do Toà án, các cơ quan, tổ chức có liên quan và Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia cung cấp.3 Lập Lý lịch tư pháp đối với người bị kết án thường trú tại địa phương mình theo Điều 26 và cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo thẩm quyền quy định tại Điều 44; 4 Cung cấp Lý lịch tư pháp và thông tin bổ sung cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia; cung cấp thông tin lý lịch tư pháp cho Sở Tư pháp khác; 5 Thực hiện thống kê, báo cáo việc quản lý CSDLLLTP tại địa phương

1.3.1.3 Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức làm công tác lý lịch tư pháp

Định hướng của Chính phủ giai đoạn từ năm 2020 - 2030 là phải xây dựng đội ngũ công chức, viên chức làm công tác lý lịch tư pháp chuyên nghiệp theo hướng có chức danh cụ thể, bảo đảm 90 - 95% công chức,viên chức làm công tác lý lịch tư pháp được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ lý lịch

Trang 26

tư pháp; đồng thời quan tâm bồi dưỡng nghiệp vụ tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp cho công chức ở các bộ phận có liên quan tại các cơ quan có trách nhiệm phối hợp

Các Bộ, ngành có liên quan cũng đã thường xuyên hướng dẫn chỉ đạo trực tiếp hoặc bằng văn bản trong toàn ngành về những vấn đề liên quan trực tiếp đến nghiệp vụ LLTP (Bộ Công an) hoặc đã phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện công tác hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về LLTP khi có yêu cầu (Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng)

1.3.1.4 Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về Lý lịch tư pháp

Sau khi Quốc hội thông qua Luật LLTP, ngày 23/9/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1532/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai thi hành Luật LLTP Bộ Tư pháp đã tiến hành xây dựng, biên soạn các tài liệu tuyên truyền, phổ biến Luật LLTP để cấp phát cho các Bộ, ngành, địa phương ngay sau khi Luật LLTP có hiệu lực; phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các cơ quan truyền thông thực hiện tuyên truyền các quy định của Luật LLTP; đặc biệt là các quy định liên quan đến thủ tục cấp Phiếu LLTP trên các phương tiện thông tin đại chúng dưới nhiều hình thức như các chuyên mục, phóng sự về LLTP; xây dựng chuyên đề trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; xây dựng Trang thông tin điện

tử về LLTP Luật LLTP và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng được các

Bộ, ngành liên quan phổ biến, quán triệt kịp thời, rộng rãi trong toàn Ngành mình, đảm bảo thực hiện tốt công tác phối hợp trong thực hiện các nhiệm vụ được phân công theo quy định

Với việc thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến Luật LLTP và các văn bản hướng dẫn thi hành trong những năm qua đã đưa công tác LLTP nhanh chóng hòa nhập vào đời sống xã hội, tỷ lệ người dân biết đến vai trò của LLTP được nâng lên rõ rệt, qua đó cũng giúp nhân dân thực hiện tốt chức năng giám sát của mình đối với công tác QLNN về LLTP

Trang 27

1.3.1.5 Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về LLTP

Các cơ quan quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp, ngoài chức năng chính của mình đều thực hiện hoạt động bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý nhà nước bằng nhiều hình thức, phương pháp, biện pháp khác nhau

Luật LLTP dành riêng Chương V quy định về xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về lý lịch tư pháp theo đó quy định cụ thể thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Giám đốc Sở Tư pháp đối với hành vi của mình được quy định tại khoản 1 Điều 52 của Luật này

Giám đốc Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với hành vi của mình quy định tại khoản 1 Điều 52 của Luật LLTP, nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Giám đốc Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia thì có quyền khiếu nại đến

Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án

1.3.1.6 Thực hiện hợp tác quốc tế về lĩnh vực Lý lịch tư pháp

Luật LLTP có nhiều quy định liên quan đến tương trợ tư pháp về hình

sự như theo dõi, quản lý thông tin LLTP của công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài,vấn đề dẫn độ để thi hành án và tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù Trong bối cảnh toàn cầu hóa, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng về thúc đẩy và tăng cường hiệu quả hội nhập quốc tế, pháp luật về LLTP cần được rà soát, sửa đổi, bổ sung nhằm phù hợp với các cam kết quốc tế và đáp ứng các yêu cầu hội nhập, Bộ Tư pháp đã chủ động, tranh thủ sự hỗ trợ của một số Dự án hợp tác quốc tế về pháp luật để tổ chức nhiều hoạt động như: nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật LLTP; tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về LLTP cho cán bộ làm công tác LLTP; khảo sát thực tiễn kinh nghiệm quản lý LLTP của những quốc gia có nền LLTP rất phát

Trang 28

triển như CHLB Đức, Italia…Các hoạt động hợp tác quốc tế đã hỗ trợ rất thiết thực, quý báu cho hoạt động xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật cũng như phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về LLTP

1.3.2 Hình thức, phương pháp quản lý nhà nước về LLTP

1.3.2.1 Hình thức quản lý nhà nước về LLTP

Để thực hiện hiệu quả công tác QLNN về LLTP, trước hết Nhà nước cần có thể chế về LLTP, đó là các văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về thẩm quyền, tổ chức hoạt động, nguyên tắc hoạt động của các chủ thể quản lý nhà nước về LLTP

Đặc biệt, ở giai đoạn này, quản lý bằng việc ứng dụng CNTT được sử dụng mạnh mẽ , với việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại như các phần mềm ứng dụng, tiến đến phàn mềm thông minh với công nghệ 4.0 đang tiếp tục được các cơ quan thẩm quyền nghiên cứu đưa vào sử dụng nhằm nâng cao chất lượng công tác xây dựng CSDLLTP, giải quyết hữu hiệu khó khăn về vấn đề nhân sự như hiện nay

1.3.2.2 Phương pháp quản lý nhà nước về Lý lịch tư pháp

Phương pháp tổng hợp: Sử dụng phương pháp này, nhà quản lý có được cái nhìn toàn cảnh về cục diện triển khai thi hành, đánh giá được hiệu quả đạt được của công tác LLTP qua từng giai đoạn triển khai để từ đó hoạch định nên những chương trình, kế hoạch tổng quát, phục vụ cho các nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài

Phương pháp thống kê: thông qua việc thu thập số liệu, tổng hợp và chỉnh lý để tính toán tốc độ phát triển của các chỉ tiêu, kế hoạch nhất định được sử dụng để thực hiện việc điều tra khảo sát để phân tích tình hình và nguyên nhân của hiện tượng quản lý, làm căn cứ khoa học cho việc ra quyết định quản lý, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng

Trang 29

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân khác Ví dụ: báo cáo hàng tuần, hàng tháng, hàng quý, hàng năm bằng số liệu cụ thể, báo cáo thống kê theo yêu cầu

Phương pháp sinh lý học: đây là phương pháp giúp nhà quản lý nằm bắt được tâm lý của những người thực hiện Trong quản lý LLTP phương pháp này được thực hiện rõ nét trong Quyết định số 2369/QĐ-TTg của Thủ tường Chính phủ với các quy định về biên chế, điều kiện cơ sở vật chất để đảm bảo thực hiện thuận lợi các nhiệm vụ QLNN về LLTP, một nhiệm vụ khá mới mẻ của ngành tư pháp

Phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật: Đây là phương pháp tác động về tư tưởng và tinh thần đối với con người để họ giác ngộ lý tưởng, nâng cao ý thức chính trị và pháp luật, tăng cường nhận thức về ý nghĩa của công tác LLTP, nhanh chóng đưa công tác này đến gần với nhân dân

Phương pháp tổ chức: đưa các tổ chức, cá nhân tham gia trong các mối quan hệ QLNN về LLTP dần đi vào khuôn khổ, kỷ luật và kỷ cương Phương pháp này được thực hiện thông qua việc các cơ quan nhà nước ban hành cácquy chế, quy trình, nội quy hoạt động của cơ quan, đơn vị bên cạnh đó cần đảm bảo việc bố trí, sử dụng, đề bạt, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức phải nghiêm túc, chính xác

Phương pháp hành chính: đây là phương pháp đặc trưng của quản lý nhà nước, bằng việc ra các quyết định mang tính bắt buộc đối tượng quản lý phải làm hoặc không được làm những công việc nhất định nhằm đưa công tác LLTP đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu của Đảng, Nhà nước và của xã hội

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp

Nhìn chung, công tác quản lý nhà nước về LLTP chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố cơ bản sau:

Trang 30

1.4.1 Hệ thống pháp luật

Trên cơ sở Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của

Bộ Chính trị ban hành về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó đặt ra một trong những định hướng quan trọng là “tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại”, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật lý lịch tư pháp có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2010 đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế về lý lịch tư pháp tại Việt Nam; tiếp đến, ngày 19/02/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành “Chiến lược phát triển Lý lịch tư pháp đến năm 2020, tầm nhìn 2030” (ban hành kèm theo Quyết định số 338/QĐ-TTg) Đây là văn bản rất quan trọng, mang tính định hướng và xác lập các điều kiện

về vật chất, kỹ thuật và nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển Lý lịch tư pháp ở hiện tại và tương lai

Hiện nay, hệ thống văn bản về Lý lịch tư pháp đã cơ bản hoàn thiện, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng hoạt động quản lý Lý lịch

tư pháp theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại Để hướng dẫn thi hành Luật Lý lịch tư pháp, Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành, ban hành theo thẩm quyền hoặc liên tịch ban hành nhiều văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật và một số văn bản hướng dẫn của Trung tâm LLTPQG

Các văn bản trên đã tạo hành lang pháp lý cho các Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện các nhiệm vụ về lý lịch tư pháp thuận lợi, kịp thời và hiệu quả

1.4.2 Yếu tố con người, cơ sở vật chất và phương tiện làm việc

Do công tác quản lý LLTP nước ta chưa ổn định qua các thời kỳ nên đến trước khi xây dựng Luật LLTP chưa có CSDLLLTP thống nhất, đầy đủ,

Trang 31

được quản lý theo những nguyên tắc, tiêu chí chặt chẽ; các thông tin về LLTP được lưu trữ phân tán ở nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau từ Trung ương đến địa phương thuộc các ngành Tòa án, Kiểm sát, Công an, Quốc phòng, Tư pháp đó là rào cản lớn đối với công tác quản lý LLTP và ảnh hưởng nhiều đến chất lượng, hiệu quả hoạt động tố tụng hình sự, thi hành án do vậy, xây dựng mới từ đầu hệ thống CSDLLLTP là nhiệm vụ mới, phức tạp và đầy khó khăn, không những là xây dựng dữ liệu mới mà còn phải cập nhật khối lượng lớn thông tin từ hàng chục năm trước đó; điều này đòi hỏi phải có sự chuẩn bị chu đáo về tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ chuyên gia

Ngày 28/12/2010 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định

2369/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Xây dựng Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia và kiện

toàn tổ chức thuộc Sở Tư pháp để xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp” là cơ sở pháp lý để Trung tâm LLTPQG và các Sở Tư pháp dần được

kiện toàn tổ chức bộ máy và được đầu tư trang thiết bị để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ Trong đó, Quyết định 2369/QĐ-TTg quy định các Sở Tư pháp sử dụng tổ chức hiện có của Sở là phòng Hành chính tư pháp, đồng thời bổ sung

ít nhất 3 biên chế làm công tác LLTP tại phòng Hành chính tư pháp (trừ 5 Sở

Tư pháp trực thuôc thành phố Trung ương được thành lập Phòng Lý lịch tư pháp với từ 5 đến 7 công chức); được bố trí phòng lưu trữ hồ sơ LLTP riêng (không dùng chung với các bộ phận khác); trang bị đầy đủ máy tính, máy in, máy scane, tủ đựng hồ sơ chuyên dụng

Qua 6 năm thi hành Luật LLTP, đến cuối năm 2016 tổ chức, bộ máy, biên chế làm công tác LLTP từ Trung ương đến địa phương cơ bản được kiện toàn, tạo tiền đề quan trọng để các cơ quan thực hiện tốt vai trò của mình trên mọi mặt công tác LLTP.Theo đó, Trung tâm LLTP quốc gia là đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tư pháp, có chức năng xây dựng, quản lý Cơ sở dữ liệu LLTP trong phạm vi cả nước và thực hiện một số nhiệm vụ trong lĩnh vực LLTP do Bộ

Trang 32

trưởng giao Trung tâm LLTP quốc gia có 04 biên chế hành chính và 31 biên chế

sự nghiệp, bố trí tại 03 tổ chức trực thuộc gồm: Phòng Hành chính – Tổng hợp

và 02 Phòng chuyên môn, nghiệp vụ Tại các địa phương, UBND 05 thành phố trực thuộc Trung ương cũng đã quyết định thành lập 05 Phòng LLTP thuộc

Sở Tư pháp, 58 Sở Tư pháp còn lạiđã kiện toàn bộ phận làm công tác LLTP

tại Phòng Hành chính tư pháp[6]

1.4.3.Ứng dụng CNTT

Đối với công tác LLTP, nội dung quan trọng nhất là xây dựng CSDLLLTP Để xử lý hiệu quả khối lượng thông tin khổng lồ, không thể không ứng dụng CNTT mà còn phải tăng cường mạnh mẽ ứng dụng CNTT trong công tác LLTP

Phần mềm Quản lý LLTP dùng chung được Bộ Tư pháp triển khai cho các Sở Tư pháp là công cụ hữu hiệu trong việc nhập thông tin, xây dựng CSDLLLTP và cấp Phiếu LLTP; đó là điểm tiến bộ căn bản, khẳng định một bước phát triển mới, hiện đại của công tác LLTP so với các giai đoạn trước đây Việc xác định ứng dụng mạnh mẽ CNTT trong công tác LLTP từ sau khi Luật LLTP có hiệu lực đã góp phần quan trọng đưa công tác này phát triển lên một tầm cao mới, chuyên nghiệp, hiện đại hơn Đặc biệt, Quyết định số 19/QĐ-TTg ngày 8/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí điểm cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến đã xác định rõ mục tiêu phát triển công tác LLTP với

lộ trình phù hợp với điều kiện, tình hình phát triển của đất nước và đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế

1.4.4 Quan hệ phối hợp với các cơ quan liên quan trong cung cấp, tiếp nhận thông tin LLTP

Việc phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong xây dựng cơ sở dữ liệu

lý lịch tư pháp và phục vụ công tác cấp Phiếu lý lịch tư pháp được quy định tại Thông tư liên tịch số 04, đây là văn bản đánh dấu một bước phát triển mới trong việc thiết lập cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành có liên quan Theo đó,

Trang 33

các Bộ, Ngành cũng đã ban hành các văn bản chỉ đạo kiện toàn bộ phận đầu mối phối hợp cung cấp thông tin LLTP, như:

TANDTC ban hành các văn bản: Công văn số 55/TA - TKTH ngày 27/6/2011 về việc triển khai thực hiện Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành; Công văn số 22/TA-TKTH ngày 10/01/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về việc cung cấp tài liệu thông tin lý lịch tư pháp

Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Chỉ thị số 03/CT-VKSTC ngày 18/10/2010 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc tổ chức triển khai thực hiện Luật Lý lịch tư pháp trong ngành kiểm sát nhân dân

Bộ Công an ban hành: Thông tư số 63/2011/TT-BCA ngày 07/9/2011 của Bộ Công an sửa đổi, bổ sung các loại biểu mẫu về thi hành án hình sự; Công văn số 3240/C41-C53 ngày 16/8/2012 hướng dẫn về trách nhiệm, trình

tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp trong lực lượng Hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát; Công văn số 2094/C41-C43-C53 ngày 01/6/2013 hướng dẫn sử dụng lệ phí phối hợp xác minh cấp Phiếu lý lịch tư pháp; Công văn số 95/C53-P1 ngày 07/02/2013 hướng dẫn gửi yêu cầu tra cứu, xác minh thông tin cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua Email; Công văn số 442/C53-P1 ngày 11/6/2013 hướng dẫn tiếp nhận thông báo kết quả tra cứu, xác minh thông tin lý lịch tư pháp qua thư điện tử

Bộ Quốc phòng ban hành: Công văn số 2029/VP-PC ngày 31/5/2012 của Bộ Quốc phòng về việc giao nhiệm vụ cho TAQSTW chủ trì cuộc họp với các cơ quan có liên quan trong quân đội triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP; Công văn số 304/TA-GĐKT ngày 26/6/2012 của Tòa án quân sự Trung ương hướng dẫn triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP; Công văn số 353/THA-KHTH ngày 29/6/2012 của Cục Thi hành án về việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số

Trang 34

04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP; Công văn số 450 P4 ngày 25/6/2012 về việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số

THS-04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP[5]

1.4.5 Cải cách hành chính trong công tác LTTP

Đây là yếu tố quan trọng đánh giá sự thành công trong vai trò QLNN đối với một lĩnh vực công tác Đối với công tác LLTP, liên quan đến lợi ích thiết thân của từng cá nhân có yêu cầu, thì việc thực hiện và tăng cường áp dụng các giải pháp cải cách hành chính luôn được chú trọng Thời gian công tác LLTP đã thực hiện tốt việc đơn giản hóa thủ tục, đa dạng phương thức tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả qua đường bưu chính hoặc điện tử; giảm thiểu số lượng chứng thực bản sao giấy tờ thông qua việc đối chiếu bản photo so với bản chính khi tiếp nhận hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu LLTP), điều mà rất nhiều cơ quan, Ngành hiện vẫn chưa thực hiện được theo tinh thần Chỉ thị số 17 của Thủ tướng Chính phủ Bên cạnh đó, rất nhiều Sở Tư pháp đã thực hiện việc rút ngắn thời hạn cấp Phiếu LLTP, điều đó đã mở ra nhiều cơ hội cho người

có yêu cầu khi sử dụng Phiếu đúng thời hạn của cơ quan yêu cầu

Công tác cái cách hành chính cũng được các cơ quan làm công tác LLTP thực hiện tốt trong phối hợp cung cấp thông tin LLTP; hiện nay việc trao đổi, cung cấp thông tin giữa Sở Tư pháp và Trung tâm LLTPQG được thực hiện hoàn toàn qua con đường điện tử, chấm dứt tình trạng gửi hồ sơ giấy; một số Sở Tư pháp đã thực hiện chữ ký số trong gửi Phiếu yêu cầu xác minh thông tin LLTP Việc trao đổi giữa Sở Tư pháp với các cơ quan liên quan khác như: Tòa án, Công an, Viện kiểm sát, Thi hành án dân sự được thực hiện qua email, giúp cho việc tiếp nhận, xử lý thông tin được thuận lợi, nhanh chóng hơn

Trong quá trình thực hiện chức năng QLNN về LLTP thì tùy từng hoàn cảnh, điệu kiện, thời điểm khác nhau mà ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về

Trang 35

lý lịch tư pháp, phải biết vận dụng linh hoạt trong việc đề xuất giải pháp quản

lý để phát huy sự tác động tích cực của các nhân tố và hạn chế được ảnh hưởng tiêu cực của các nhân tố nêu trên

Với những kết quả đạt được nêu trên có thể khẳng định việc triển khai, thực hiện Luật LLTP đã từng bước đi vào ổn định và đạt hiệu quả nhất định Đồng thời, khẳng định việc giao cho cơ quan tư pháp thực hiện thống nhất quản lý LLTP và gắn quản lý Cơ sở dữ liệu LLTP với cấp Phiếu LLTP là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta

Việc làm rõ những vấn đề về lý luận về Lý lịch tư pháp, quản lý nhà nước về Lý lịch tư pháp ở Chương này sẽ là cơ sở để đánh giá kết quả đạt được ở Chương tiếp theo của Đề tài

Trang 36

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LÝ LỊCH TƯ PHÁP

TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Những kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về LLTP trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

2.1.1 Thực trạng chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lý lịch tư pháp; tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về lý lịch

tư pháp

2.1.1.1 Về chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về LLTP

Ngay sau khi Luật Lý lịch tư pháp có hiệu lực, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành văn bản để chỉ đạo thực hiện kịp thời các nhiệm vụ về LLTP, như:

- Công văn số 2119/UBND-NC ngày 17/6/2011 “v/v cung cấp thông tin

LLTP để xây dựng cơ sở dữ liệu”, theo đó yêu cầu các cơ quan có liên quan trên

địa bàn tỉnh nghiêm túc thực hiện quy định về cung cấp thông tin LLTP;

- Tỉnh Ủy Quảng Nam ban hành công văn số 259-CV-TU ngày

04/8/2011 “Thông báo ý kiến chỉ đạo của thường trực tỉnh ủy Quảng Nam v/v

bố trí biên chế cho Sở Tư pháp để thực hiện công tác Lý lịch tư pháp”;

- UBND tỉnh ban hành Kế hoạch Số 3751/KH-UBND ngày 27/9/2013

“Kế hoạch triển khai Chiến lược phát triển LLTP đến năm 2020, tầm nhìn

2030 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”;

- UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 553/KH-UBND ngày 05/02/2016

“Triển khai cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”

Bên cạnh đó, Sở Tư pháp chủ trì phối hợp các cơ quan hữu quan ban hành các văn bản:

- Quy chế số 81/STP-TAND-CA-VKSND-THADS ngày 26/9/2012“Phối

hợp liên ngành về việc trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp trên địa bàn

Trang 37

tỉnh Quảng Nam“, theo đó các cơ quan: Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát

tỉnh, Thi hành án dân sự tỉnh, Công an tỉnh tạo cơ sở thực hiện đưa việc cung cấp thông tin, xác minh thông tin LLTP giữa các cơ quan trong tỉnh đi vào nề nếp;

- Quyết định số 101/QĐ-STP ngày 12/9/2014 của Giám đốc Sở Tư pháp

“Ban hành Quy chế về quản lý sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu LLTP tại Sở

Tư pháp Quảng Nam” quy định cụ thể trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân

làm công tác lý lịch tư pháp; việc phối hợp giữa những cá nhân, đơn vị có nhiệm

vụ liên quan;

- Công văn số 518/STP-HCTP ngày 19/8/2016 đề nghị UBND cấp huyện, Phòng Tư pháp các địa phương triển khai Thông báo số 54/TB-STP

ngày 19 tháng 8 năm 2016 của Giám đốc Sở Tư pháp về việc “hướng dẫn chi

tiết thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”, theo đó

hướng dẫn 5 cách thức nộp hồ sơ LLTP để người dân được lựa chọn;

- Sở Tư pháp cùng Bưu điện tỉnh Quảng Nam ký hợp đồng số 012/2016-STPQN-BĐQN ngày 01 tháng 04 năm 2016, phối hợp thực hiện chuyển phát hồ sơ, kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính (trên cơ sở bổ sung Hợp đồng đã ký năm 2013), tiếp tục hợp tác thực hiện dịch vụ chuyển phát kết quả giải quyết hồ sơ lý lịch tư pháp và cung cấp dịch

vụ đăng ký lý lịch tư pháp trực tuyến kết hợp cấp phiếu lý lịch tư pháp qua hệ thống bưu điện Trong quá trình thực hiện Sở Tư pháp cũng chủ động ban hành các văn bản trao đổi, đề nghị các cơ quan liên quan phối hợp định kỳ thực hiện việc rà soát thông tin LLTP, thông tin tình hình gửi thông tin hoặc kịp thời trao đổi tháo gỡ những vướng mắc phát sinh

2.2.1.2 Công tác phổ biến, tuyên truyền, quán triệt Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành:

Được thực hiện rộng rãi, thường xuyên, đi sâu vào các nội dung, mục

Trang 38

đích của việc quản lý lý lịch tư pháp, các quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong việc yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và thực hiện pháp luật về lý lịch tư pháp bằng nhiều hình thức như: tổ chức Hội nghị triển khai Luật LLTP; tuyên truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; thông tin, đồng thời niêm yết công khai thủ tục, trình tự, lệ phí giải quyết yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp trên Website của Hội đồng PBGDPL tỉnh, bên cạnh đó còn tổ chức phổ biến kết hợp lồng ghép vào các buổi tập huấn nghiệp vụ của

Sở Tư pháp cho công chức Phòng tư pháp, tư pháp hộ tịch cấp xã Do đó, nhận thức của công chức, viên chức, cơ quan, tổ chức, cá nhân về vị trí, vai trò của lý lịch tư pháp ngày càng được nâng cao; việc chấp hành các quy định của công tác LLTP vì thế cũng được thực hiện nghiêm túc

Đặc biệt, Sở Tư pháp thực hiện giới thiệu, tuyên truyền các phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Quảng Nam; phổ biến Thông báo số 54/TB-STP

ngày 19 tháng 8 năm 2016 của Giám đốc Sở Tư pháp về việc “hướng dẫn chi

tiết thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” (tuyên

truyền, phổ biến, niêm yết Thông báo tại trụ sở Phòng Tư pháp, UDND cấp huyện, UBND cấp xã ; các bưu cục, điểm phục vụ bưu chính ); qua hệ thống phát thanh truyền hình của tỉnh, huyện

2.2.1.3 Tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về lý lịch tư pháp

Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Tư pháp chủ động triển khai các nhiệm vụ được quy định tại khoản 13, Điều 2 của Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 đạt kết quả cao, cụ thể:

a Xây dựng, quản lý, khai thác, bảo vệ và sử dụng cơ sở dữ liệu lý lịch

tư pháp tại địa phương theo quy định của pháp luật:

Tình hình tiếp nhận, xử lý, cập nhật, cung cấp, lưu trữ thông tin lý lịch

Trang 39

tư pháp tại Sở Tư pháp được thực hiện khoa học theo quy trình được ban hành tại Quyết định số 101/QĐ-STP ngày 12/9/2014 "Ban hành quy chế về quản

lý, sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu LLTP tại Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam", trong đó đã quy định cụ thể trách nhiệm của từng bộ phận, từng cá nhân làm công tác lý lịch tư pháp và hằng tuần thực hiện việc đánh giá số lượng, chất lượng, hiệu quả công việc của từng cá nhân, từng bộ phận

Theo Báo cáo số 173/BC-BTP ngày 20/6/2017 “Tổng kết 6 năm thi hành Luật LLTP” của Bộ Tư pháp thì:Trung tâm LLTP quốc gia và các Sở Tư pháp đã thực hiện tiếp nhận, kiểm tra, phân loại, lập LLTP, cập nhật, lập hồ sơ LLTP bằng giấy với tổng số 451.438 người bị kết án được quản lý, cụ thể:

Trung tâm LLTP quốc gia đã nhận được 834.234 thông tin LLTP bằng văn bản giấy do các cơ quan liên quan và Sở Tư pháp cung cấp và đã kiểm tra, phân loại được 829.482 thông tin; thực hiện tích hợp, cập nhật vào cơ sở

dữ liệu LLTP điện tử tại Trung tâm 660.240 thông tin; cung cấp cho các Sở

Tư pháp 339.255 thông tintheo quy định; đã lập và đưa vào lưu trữ 297.150 hồ sơ LLTP bằng giấy; Tiếp nhận 59.081 thông tin chứng tử, cải chính hộ tịch bằng giấy do cơ quan đăng ký hộ tịch cung cấp, tạo lập 56.797 dữ liệu điện tử

Tính đến ngày 31/12/2016, Trung tâm LLTPQG đã nhận và tích hợp vào Cơ sở dữ liệu LLTP tại Trung tâm 203.023 dữ liệu LLTP điện tử

Riêng đối với tỉnh Quảng Nam: Tiếp nhận được 68.691 thông tin, gấp 1,5 lần số lượng thông tin trung bình các Sở Tư pháp nhận được (trong đó có 43.107 thông tin nhận được từ các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Thi hành

án dân sự, Trung tâm LLTPQG và 25.584 thông tin chứng tử, cải chính hộ tịch) – Phụ lục 2, Báo cáo số 173/BC-BTP

Sơ kết 05 năm thực hiện “Chiến lược phát triển lý lịch tư pháp đến năm

2020, tầm nhìn 2030”, từ ngày 01/01/2013 đến 30/6/2018, Sở Tư pháptỉnh Quảng Namđã nhận được 47.421 thông tin lý lịch tư pháp; đã tiếp nhận, kiểm tra, phân loại 47.421 thông tin lý lịch tư pháp (gồm 26.890 thông tin lý lịch tư

Trang 40

pháp do Tòa án nhân dân các cấp cung cấp; 10.513 thông tin do Cơ quan Thi hành án dân sự cung cấp; 1023 thông tin do Cơ quan Công an cấp huyện cung cấp; 3982 thông tin do Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia cung cấp; 5011 thông tin do Tòa án quân sự Trung ương và các cơ quan khác cung cấp) Sở

Tư pháp đã thực hiện tích hợp dữ liệu vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp 9.571

hồ sơ lý lịch tư pháp, 11.926 bản án, 30.309 quyết định thi hành bản án các loại, 1.061 thông tin vào Kho dữ liệu phụ trợ; cung cấp cho các Sở Tư pháp khác 6.076 thông tin lý lịch tư pháp; số lượng thông tin lý lịch tư pháp dưới dạng điện tử được cung cấp là 757 thông tin (gồm 506 thông tin do Trung tâm

Lý lịch tư pháp quốc gia cung cấp, 251 thông tin do các Sở Tư pháp khác cung cấp) và số lượng thông tin lý lịch tư pháp dưới dạng điện tửcung cấp cho Trung tâm và các Sở Tư pháp là 183 thông tin Ngoài ra, Sở còn tiếp nhận, cập nhật 25.113 thông tin về đăng ký khai tử và thay đổi, cải chính hộ tịch -Theo Báo cáo số 97/BC-STP ngày 07/11/2018 “Tổng kết 5 năm thi hành Luật

LLTP và 4 năm thi hành Nghị định số 111/210/NĐ-CP“ [22]

Từ giữa năm 2014 cho đến nay, 100% thông tin tiếp nhận được đều được Sở Tư pháp dứt điểm, chấm dứt tình trạng tồn đọng thông tin trước đó

Biểu đồ 2.1: Biểu đạt số liệu thông tin lý lịch tư pháp được tiếp

nhận, giải quyết từ năm 2012- 2018

Nguồn: Cơ sở dữ liệu LLTP điện tử tỉnh Quảng Nam trên phần mềm lý lịch tư

Ngày đăng: 06/07/2020, 23:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm