thực tiễn và xu hướng cải cách thuế ở việt nam
Trang 1PHAN MO DAU
Hệ thống chính sách thuế của Việt Nam trong 20 năm qua đã có nhiều bước cải cách
quan trọng Đến nay Việt Nam đã hình thành được một hệ thong chinh sach thu ngan sach
khá toàn diện, cơ bản phù hợp với cấu trúc hệ thống động viên ngân sách của một quốc gia đang trong quá trình chuyên đổi Tuy nhiên, diễn biến kinh tế- xã hội giai đoạn tới dự báo sẽ tiếp tục có nhiều thay đổi, theo đó hệ thống chính sách thuế cũng cần có những
điều chỉnh cho phù hợp
I Sự cần thiết của đề tài
Thuế là công cụ quan trọng đề thực hiện các chức năng của nhà nước Các lý thuyết kinh tế và thực tiễn quản lý đã khăng định răng, nêu chính sách thuế không phù hợp sẽ có tác động ảnh hưởng lớn tới tăng trưởng kinh tế cũng như thu ngân sách nhà nước Trường hợp, thuế thu cao - số thu ngân sách nhà nước trong ngắn hạn sẽ tăng nhanh, song cũng sẽ
hạn chế sản xuất, hạn ché tiêu dùng, tăng trưởng và phát triển kinh tế, trong dài hạn sẽ có
xu hướng giảm sút, từ đó tác động ảnh hưởng tới các lĩnh vực khác như giảm đầu tư, tăng thất nghiệp, mất cân đối cung cầu hàng hoá trong xã hội, tăng lạm phát Do vậy, hệ thống chính sách thuế được ban hành trong các giai đoạn lịch sử khác nhau luôn đòi hỏi
phải phù hợp và hỗ trợ tích cực cho việc thực hiện các cân đói kinh tế vĩ mô, các chính
sách về phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Nói cách khác, với mỗi sự biến động, sự thay đổi về kinh tế, về môi trường hay điều kiện phát triển kinh tế thì nhất thiết
hệ thống chính sách thuế cũng phải được xem xét, điều chỉnh cho phù hợp
2 Mục đích của tiểu luận
Trên sơ sở thu thập, xử lý số liệu về thu NSNN; tổng hợp, phân tích thực tiễn cải
cách chính sách thuế ở Việt Nam giai đoạn từ năm 1990 đến 2010; so sánh, đánh giá kết quả của việc thực hiện cải cách chính sách thuế; từ đó nhận định xu hướng và đề xuất các
vấn đề cần phải tiếp tục cải cách chính sách thuế ở Việt Nam với mục đích là nham tao ra
một hệ thong thué thong nhất, các sắc thuế hỗ trợ cho nhau trong quá trình thực hiện, hạn
chế trùng lặp, tạo lập sự bình đăng, không phân biệt đối xử về thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các đối tượng nộp thuế với nhau, nâng cao quyền tự chủ và trách nhiệm của người
Page 1 of 38
Trang 2nộp thuế, góp phần tích cực vào cải cách công tác quản lý của nhà nước, thức đầy tăng trưởng và phát triển kinh tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu tiêu luận
Với thời gian và sự hiểu biết có hạn, chúng tôi giới hạn tập trung nghiên cứu thực
tiễn và xu hướng cải cách thuế ở Việt Nam giai đoạn 1990-2010 trên cơ sở số liệu, thông tin thu thập được qua các tài liệu công bố công khai của Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê
va dt liéu online cua IMF, OCED, Worldbank
4 Noi dung tiêu luận
Với phạm vi nghiên cứu nêu trên, chúng tôi bô cục nội dung tiêu luận gôm bôn phân
với các nội dung sau:
Phan mo dau
1 Sự cân thiết của đề tài
2 Mục dịch nghiên cứu
3 Pham vi nghién ciru
Phân nội dung
I Tổng quan về thuế và cải cách thuế
1.1 Thuế và cơ cầu hệ thống thuế
1.2 Xu hướng cải cách thuế
1.3 Sự cân thiết cải cách thuế
1.4 Khó khăn, thứ thách trong cải cách thuế
1.5 Yêu cầu cải cách thuế
1.6 Mục tiêu cải cách thuế
1.7 Nội dung cải cách thuế
2 Thực tiễn cải cách thuế ở Việt Nam giai đoạn 1990-2010
2.1 Cải cách thuế bước 1, giai đoạn 1990-1995
2.2 Cải cách thuế bước 2, giai đoạn 1996-2001
2.3 Cải cách thuế bước 3, giai đoạn 2002-2010
Trang 32.3.1 Đối với thuế thu nhập
2.3.2 Đối với thuế tiêu dùng
2.3.3 Đối với thủ tục hành chính thuế
3 Kết quả cải cách thuế ở Việt Nam giai đoạn 1990-2010
3.1 Sự thay đổi về quy mô và cơ cấu động viên NSNN 3.2 Nhận xét va danh giá
4 Xu hướng cải cách thuế ở Việt Nam trong thời gian tới
5 Một số đề xuất cải cách thuế ở Việt Nam trong thời gian tới 5.1 Vấn đề cần xem xét sửa đổi
5.2 Định hướng chung đề xuất
Phân kết luận
Phân tài liệu tham khảo
Page 3 of 38
Trang 4PHAN NOI DUNG
1.1 Thuế và cơ cấu hệ thống thuế
Thuế là một khoản nộp của các tô chức và cá nhân cho nhà nước theo luật định
Thuế gắn liền với sự tồn tại của nhà nước Cùng với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội, thuế đã thay đổi và phát triển theo sự phát triển của các chức năng của nhà nước
Trong nên kinh tế tự do cạnh tranh, thuế chỉ đơn thuần là công cụ tạo nguồn thu cho nhà
nước; đên nên kinh tê hiện đại, thuê còn tham gia vào quá trình điêu tiêt nên kinh tê
ASTON JEZE, một trong những nhà tài chính học đã định nghĩa: "THUÉ là một
khoản đóng góp băng tiền mà chính quyền đòi hỏi ở các tư nhân, đóng góp vĩnh viễn, không đôi phân, đê tài trợ các gánh nặng công cộng”
Hệ thống thuế là tập hợp các sắc thuế có mối quan hệ biện chứng, phụ thuộc bồ sung lẫn nhau tạo thành một chỉnh thẻ thong nhat nham thực hiện mục tiêu của Nhà nước trong
từng thời kỳ Cơ cấu hệ thống thuế là cách tổ chức, sắp xếp của các sắc thuế trong tông
thể hệ thông thuế nhằm thực hiện mục tiêu của Nhà nước Nghiên cứu cơ cầu thuế cho
phép nhận ra được vị trí, tam quan trọng của từng sắc thuế trong tổng thể nguồn thu của ngân sách nhà nước
- Nếu căn cứ vào phương thức đánh thuế, hệ thông thuế được chia thành hai loại là
thuế trực thu và thuế gián thu
Thuế trực thu là thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế Thué trực thu thực sự được thu từ các cá nhân là đối tượng nộp thuế theo luật định Vì
vậy, các đối tượng nộp thuế rất khó chuyển dịch gánh nặng thuế của mình cho người
khác Thuế trực thu có xem xét đến hoàn cảnh của các cá nhân nộp thuế và có biểu thuế
suất lũy tiến Ở Việt Nam, thuế trực thu thường bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế
là thu nhập của người nộp thuế như: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thué thu nhập cá nhân, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp
Thuế gián thu không đánh trực tiếp vào thu nhập hay tài sản mà đánh gián tiếp thông qua việc tiêu đùng hàng hóa, dịch vụ Thuế gián thu đánh vào người tiêu dùng nhưng lại
Trang 5được thu từ các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ Vì vậy, gánh nặng thuế có thể được chia sẻ giữa người sản xuất và người tiêu dùng Khác với thuế trực thu, thuế gián thu không tính đến hoàn cảnh của các cá nhân Thuế gián thu bao gồm: thuế giá
tri gia tang, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khâu
- Nếu căn cứ vào cơ sở tính thuế, thì hệ thống thuế được chia thành ba loại là thuế
thu nhập, thuế tiên dùng và thuế tài sản
Nếu thuế được tính dựa vào thu nhập phát sinh thì ta gọi là thuế thu nhập Vì thu nhập có nhiều dạng nên thuế thu nhập cũng có nhiều dạng như: thuế thu nhập cá nhân,
thuế thu nhập công ty
Nếu thuế được tính dựa vào chỉ tiêu thì ta gọi là thuế tiêu dùng Các sắc thuế thuộc loại thuế tiêu dùng là thuế doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế gia tri gia tang
- Căn cứ vào mối quan hệ giữa thuế và thu nhập, có các loại thuế lũy tiến, thuế lũy thoái và thuế tỷ lệ
Thuế lũy tiến là loại thuế có thuế suất trung bình tăng khi thu nhập tặng Một đặc
điểm khác để xác định hệ thống thuế lũy tiến là thuế suất biên luôn cao hơn thuế suất trung bình, chăng hạn như thuế thu nhập cá nhân Nếu thuế được tính dựa vào thu nhập
tích lũy (giá trị tài sản) thì ta gọi là thuế tài sản Thuế có thuế suất trung bình giảm khi thu
nhập tăng được gọi là thuế lũy thoái, chăng hạn như thuế giá trị gia tăng Thuế có thuế suất trung bình không thay đôi khi thu nhập thay đồi gọi là thuế tỷ lệ
1⁄2 Xu hướng cải cách thuế
Cải cách chính sách thuế của các nước trên thế giới hiện nay đều theo hướng làm thay đôi cơ cấu thué Cụ thể, tỷ trọng thuế trực thu trong cơ cấu tổng thu ngân sách nhà
nước (NSNN) từ thuế sẽ tăng lên Điều này do bởi số thu từ thuế nhập khẩu sẽ giảm đi
theo lộ trình cắt giảm thuế quan đơn lẻ hay theo các cam kết đa phương Tuy nhiên, thuế
tài sản (thuộc loại thuế trực thu) có xu thế giam dan trong tong thu ngân sách, đặc biệt ở
các nước phát triên
Cắt giảm thuế suất biên đối với thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân nhằm tránh sự bóp méo do thuế suất biên cao và do cạnh tranh “thuế rẻ” giữa các quốc gia thời mở cửa Trào lưu cắt giảm thuế thu nhập doanh nghiệp nhanh chóng trở
Page 5 of 38
Trang 6thành hiện tượng khó ngăn cản đâu tiên là giữa các nước phát triên sau đó là các nước đang phát triên ĐI đôi với xu hướng giảm thuê suât biên là việc mở rộng cơ sở đánh thuê
đối với thuế thu nhập là đề bù đắp thiếu hụt tài chính bằng hai cách:
Cách thứ nhất là tăng cường đánh thuế vào những khoản thu nhỏ, lặt vặt mà trước đây chưa đưa vào diện đánh thuế Đối với thuế thu nhập công ty, một loạt những ưu đãi
miễn giảm trước đây bị xóa bỏ hoặc hạn chế Xu hướng này đặc biệt được thể hiện rõ nét tại các nước như Úc, Áo, Phần Lan, Đức, Đan Mạch, Ireland, Bồ đào nha, Tây ban nha và
Mỹ
Cách thứ hai là loại bỏ hoặc hạn chế những khoản ưu đãi, miễn giảm, khấu trừ không cần thiết Đa số các nước phát triển áp dụng biện pháp này ở những mức độ khác
nhau Việc mở rộng cơ sở đánh thuế này đã cơ bản bù đắp sự thiếu hụt nguồn thu do việc
cắt giảm thuế suất gây nên tuy không được bù đắp hoàn toàn (năm 1980 tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân của các nước trong khối OECD là 10,9% GDP, trong khí đó tỷ lệ này vào năm 1995 là 10,4%)
Tỷ trọng thuế gián thu trong tổng thu NSNN từ thuế sẽ giảm nhưng mức độ khác nhau tùy thuộc vào tình hình nhập khâu của mỗi nước Tuy nhiên, so với số thu từ thuế trực thu thì sự giảm này không lớn, vì một phần số thu từ thuế nhập khẩu giảm đi sẽ được
bù đắp bởi số thu tăng lên từ thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế tiêu thụ đặc biệt
(TTĐB) có nguồn gốc nhập khẩu và nội địa Sự làn truyền nhanh chóng của trào lưu áp dụng thuế GTGT thay cho thuế doanh thu trên phạm vi toàn cầu
Theo thông kê của IME, đến nay trên toàn thế giới đã có hơn 120 nước áp dụng thuế GTGT Song song với việc phô cập áp dụng thuế GTGT, thuế suất thuế GTGT cũng có xu hướng được điều chỉnh theo hướng nâng cao làm cho GTGT ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng ở khối các nước phát triển
Những xu thế cải cách thuế nêu trên là yêu cầu tất yếu đặt ra cho mỗi quốc gia trong quá trình mở cửa hội nhâp kinh tế, nhằm thúc đây các quan hệ thương mại và đầu tư Như vậy, những đặc trưng cơ bản của cải cách thuế trên thế giới diễn ra vào thời kỳ mở cửa hội nhập đó là: Tỷ lệ động viên thông qua thuế so với GDP vẫn còn xu hướng tăng Thuế
Trang 7GTGT được áp dung phố biến Cơ cấu thuế phát triển theo hướng tỷ trọng thuế trực thu
có xu hướng tăng và tỷ lệ thuế gián thu giảm Đơn giản hóa hệ thống thué, cải tiến công tác thực hành thu nhằm giảm thiểu chỉ phí hành chính thuế là một trong những mục tiêu trong tiên trình “cạnh tranh thuê” giữa các quôc gia
Như vậy, việc hoạch định chính sách thuế không còn đơn giản là vấn đề độc lập của
từng quốc gia Cải cách thuế trên thế giới đã đi theo một xu hướng rõ rệt và tỏ ra khá đồng điệu giữa các quốc gia trên thế giới Xu hướng bao trùm của cải cách thuế là chính sách thuế nghiêng nhiều về khía cạnh hiệu quả và tính cạnh tranh hơn khía cạnh công băng
Lịch sử cải cách thuế diễn ra ở các nước cho thấy quá trình này chịu ảnh hưởng sân
sắc bới các lý thuyết thuế: ¡) Cải cách thuê đề thiết lập hệ thống thuế tối ưu; ii) Cải cách
thuế để thúc đây sản xuất trong nước phát triển; iii) Cải cách thuế do yêu cầu hội nhập quôc tê
Xu hướng cải cách thuế ở Việt Nam là: ¡) Về chính sách là thực hiện mở rộng đối
tượng chịu thuế, mở rộng cơ sở nộp thuế và hạ thấp thuế suất, xoá bỏ dần những quy định
về miễn giảm làm méo mó hệ thống thué ii) Về quản lý thu, sẽ thực hiện cải cách theo
hướng tự kê khai nộp thuế, mở rộng quyền chủ động cho các đối tượng nộp thuế, cơ quan
thuế sẽ thực hiện chức năng của cơ quan phục vụ là hướng dẫn, hỗ trợ và kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các nghĩa vụ thuê của đôi tương nộp thuê
Quan điểm Nhà nước vẻ thuế hiện nay không phải là tăng thuế suất để tăng nguồn thu mà chủ yếu là mở rộng diện thu thuế và tăng cường chống thất thu: Tăng thu trên cơ
sở mở rộng và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, khai thác và quản lý chặt chẽ nguồn thu, chống thất thu có hiệu quả
1.3 Sự cần thiết cải cách thuế ở Việt Nam
- Van dé tài khóa
Những động năng của cải cách thuế có thể được tập trung vào bốn khía cạnh: tài
khóa, kinh tế, chính trị, và hành chính Đối với khía cạnh tài khóa, hoạt động cải cách
thuế là nhằm làm tăng thu ròng cho ngân sách Các nhà kinh tế thường xem đây là một
Page 7 of 38
Trang 8thước đo quan trọng nhất để đánh giá sự thành công hay thất bại của chiến lược cải cách thuế Trong điều kiện Việt Nam, tình trạng thâm hụt ngân sách quá cao trong nhiều năm
đã đặt ra một yêu cầu phải cơ cấu lại cán cân ngân sách, trong đó cải cách thuế trên cơ sở gia tăng nguồn thu là một nhánh của quá trình
Tăng nguồn thu ròng cho ngân sách được định nghĩa bao gồm cả số tuyệt đối và số tương đối Trong khi nhu cầu chỉ tiêu ngân sách của Việt Nam ngày càng tăng nhanh do
yêu cầu của tiến trình phát triển kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì
những nguồn tài trợ cho nhu cầu đó lại không tăng nhanh tương ứng
Tình trạng bội chi ngân sách lớn và kéo dài đã làm cho không gian tài khóa trở nên chật hẹp, qua đó làm giảm tính chủ động của chính phủ trong các phản ứng chính sách,
đặc biệt trong điều kiện thực hiện các gói kích thích kinh tế thời gian qua
Việc hội nhập vùng và gia nhập WTO buộc Việt Nam phải cắt giảm các hạng mục thuế ngoại thương, trong khi cơ sở thuế của các sắc thuế khác không được mở rộng cho phù hợp với yêu cầu phát triển mới Như vậy, tăng số thu ngân sách tuyệt đối phải phù hợp với nhu cầu chi tiêu ngân sách và những cơ sở đề đảm bảo khả năng tăng thu
Quy mô của hoạt động thu ngân sách cũng cần phải được so sánh với quy mô nên kinh tế từng thời kỳ Không nhất thiết phải duy trì một tỷ lệ quá cao giữa tổng thu ngân sách so với GDP bởi như vậy quy mô của khu vực công có thể là quá lớn sẽ gây nên hiệu ứng chèn lắn đầu tư khu vực tư nhân, trong khi điều đáng nói là hiệu quả đầu tư của khu vực công luôn thấp hơn so với khu vực tư nhân Tuy nhiên, một tỷ lệ quá thấp cũng gây
áp lực lên các hoạt động chi tiêu công, giảm các phản ứng chủ động linh hoạt của chính phủ trước các bât ôn vĩ mô có thê phát sinh
Tạo ra một cơ cấu thu ngân sách hợp lý và bền vững hơn cũng là một mục tiêu quan trọng của cải cách thuế Hiện tại cơ cấu nguồn thu ngân sách của Việt Nam đang dần trở nên bất hợp lý, do quá phụ thuộc vào xuất khẩu dầu thô, ngoại thương, và doanh nghiệp nhà nước, trong khi những nguồn thu này lại thiếu tính bền vững Chính vì vậy, chiến lược cải cách thuế còn phải hướng đến tái cấu trúc nguồn thu thuế, đảm bảo tính bền vững hơn cho ngân sách trong dài hạn
Trang 9- Vấn đề tái phân phối thu nhập và công bằng xã hội
Động cơ của cải cách thuế còn liên quan đến các vấn đề chính trị và xã hội, đó là
khả năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo các tiến bộ và công bằng xã hội Trong khi kinh
tế ngày càng phát triển thì xã hội cũng ngày càng có sự phân hóa thu nhập, của cải và giàu nghèo sâu sắc hơn Vai trò của chính phủ là giảm sự phân hóa đó băng cách tái phân phối lại thu nhập của xã hội, tức cũng để đảm bảo tính công băng hơn cho phát triển Khi mục
tiêu này không đạt được sẽ có nguy cơ dẫn đến những bất mãn trong xã hội
Tính chất công bằng trong một chính sách thuế liên quan đến cả công bằng dọc và công bằng ngang Công băng đọc tức là người có thu nhập cao hơn phải đóng góp nhiều hơn, trong khi công bằng ngang phải đảm bảo mức đóng góp như nhau cho những người
có thu nhập ngang bằng nhau Thế nhưng thực tế cho thấy Luật Thuế thu nhập cá nhân
hiện nay vẫn chưa đảm bảo được yêu cầu này, trong khi Dự thảo Luật thuế nhà, đất thực
chât đã thât bại nêu đánh giá trên các khía cạnh công băng của nó
Quá trình đổi mới kinh tế và cải cách thể chế ở Việt Nam đã tạo cơ hội cho một bộ
phận người giàu lên nhanh chóng nhưng lại tạo ra một tầng lớp người nghèo mới Thế nhưng, có một thực tế là không phải người nào giàu nhất cũng đang đóng thuế nhiều nhất nhưng lại có những nhóm người nghèo lại phải gánh những khoản thuế quá mức so với thu nhập và nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống của họ Cải cách cơ chế tiền lương theo hướng minh bạch, chăng hạn như giảm các khoản phụ cấp không qua lương, cũng sẽ góp phần làm tăng tính hiệu quả cho công cuộc cải cách thuế hướng đến mục tiêu công bằng hơn và hiệu quả hơn
- Vấn đề hiệu quả trong phân bồ nguồn lực
Cải cách thuế còn phải làm tăng tính hiệu quả trong việc phân bồ nguồn lực vốn có tính hữu hạn của nền kinh tế Do một chính sách thuế bất kỳ sẽ làm thay đối hành vi của các thực thê trong nền kinh tế, nên việc cải cách thuế sẽ giúp điều chính lại các khuynh
hướng tiết kiệm và đầu tư của nên kinh tế, khuyến khích khởi nghiệp và tỉnh thần doanh
nhân
Page 9 of 38
Trang 10Thông qua các chính sách thuế, chính phủ có thể tạo ra các động cơ khuyến khích có
tính kinh tế để khu vực tư nhân phân bổ vốn và các ngành nghề và lĩnh vực mục tiêu, hơn
là các can thiệp hành chính gây méo mó các quan hệ thị trường Một SỐ dạng thức thị
trường mới nổi ở Việt Nam như thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản rất cần
có các chính sách thuế mới của Chính phủ để điều tiết và phân bồ lại nguồn lực thích hợp Nguyên tắc quan trọng là cải cách thuế phải làm giảm tổn thất phúc lợi vô ích của xã hội bằng cách tạo ra một sắc thuế có mức thuế suất thấp nhưng có cơ sở thuế rộng hơn
- Vấn đề hành chính thuế
Hệ thống quản lý thu thuế ở Việt Nam được đánh giá là kém hiệu quả, trong khi
mức độ tuân thủ của người nộp thuế thấp Do vậy, khía cạnh hành chính thuế ở Việt Nam
vừa mang tính mục tiêu, vừa mang tính hỗ trợ cho các cuộc cải cách thuế Cải cách hành
chính thuế phải tập trung vào ba lĩnh vực bao gồm giảm sự quá tải của hệ thống quản lý
thuế, giảm chỉ phí tuân thủ thuế và giảm chi phi quan ly thu thuế
Sự quá tải của hệ thống quản lý thuế hiện nay không chỉ cho thấy sự gia tăng về quy
mô và tính phức tạp của hệ thống thuế mà còn là sự lạc hậu của mô hình quản lý thuế cũ không theo kịp với sự phát triển nhanh chóng của nên kinh tế Thực trạng đó cho thấy sự cần thiết phải thay đổi một cách căn bản và toàn điện phương thức quản lý một hệ thống
thuế mới phù hợp hơn, có tính động và hiệu quả hơn Giảm chỉ phí tuân thủ thuế cũng là
một mục tiêu quan trọng Do hệ thống thuế hiện nay quá phức tạp và rườm rà trong các thủ tục hành chính đã làm tăng các chi phí tuân thủ thuế của người nộp thuế
Các doanh nghiệp hang năm phải mắt hàng nghìn giờ công cho các thủ tục liên quan đến thuế Nếu nhân con số này với số doanh nghiệp nộp thuế sẽ thấy được một sự lãng phí ghê gớm về mặt nguồn lực mà nền kinh tế phải bỏ ra hàng năm Bên cạnh đó, việc giảm chi phí quản lý thu thuế cũng là một đòi hỏi cần thiết Một phần lý do chỉ phí này qua cao nam ở hệ thống quản lý thuế quá công kènh lại không hiệu quả, phần khác do sự suy giảm về sức thu trong một số sắc thuế Yêu cầu của cải cách thuế không chỉ là tái cơ câu lại nguôn thu như đã đê cập ở trên mà còn phải tái cơ câu lại cách thức quản lý hệ
Trang 11thong hành thu của các cơ quan thuế trên cơ sở giảm chỉ phí và tăng hiệu quả quan ly
thuế
1.4 Những khó khăn, thứ thách cải cách thuế ở Việt Nam
Theo yêu cầu phát triển của nền kinh tế, việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chính sách thuế phải nhằm thiết lập một hệ thống thuế công bằng và hiệu quả, có khả năng tài
trợ nhu cầu chỉ cần thiết của chi tiêu công Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập
vào kinh tế thế giới, thì chính sách thuế đóng vai trò nhạy cảm đặc biệt Như vậy, hệ
thống thuế cần: (ï) gia tăng đầy đủ nguồn thu để tài trợ nhu cầu chỉ tiêu cần thiết mà không phải viện đến sự vay mượn quá mức của khu vực công: (ii) gia tăng nguồn thu trong cách thức đảm bảo công bằng và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế; (iii) gia tăng nguồn thu trong cách thức không làm chệnh hướng đáng kể những thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế
Với một nên kinh tế đang chuyền đổi như Việt Nam, việc thiết lập một hệ thống
thuế có hiệu quả và hiệu lực gặp phải không ít những khó khăn nhất định:
- Một là, cơ cầu kinh tế không đồng bộ làm cho việc thu thuế và đánh thuế có những
khó khăn nhất định Cơ cấu kinh tế nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP; đối với khu vực tư nhân mặc dù sự đóng góp vào GDP ngày càng tăng, song phần lớn là
những cơ sở kinh doanh nhỏ và an nap nhiéu hoat động phi chính thức, không ồn định
Tất cả những đặc điểm này làm giảm đi khả năng xây dựng một hệ thống thuế dựa vào
những loại thuế hiện đại như thuế thu nhập và ở chừng mực nhất định là thuế VAT
- Hai là, hạn chế về khả năng quản lý thuế Một phần là do cơ cấu kinh tế, một phần
là do nguồn lực cán bộ quản lý thuế yếu kém, tiền lương thấp đã tạo ra rất nhiều khó khăn
đề tiến đến thiết lập một hệ thông quản lý thuế tốt
- Ba là, hệ thống thông tin yếu kém, nghèo nàn về cơ sở dữ liệu làm hạn chế hiệu quả công tác quản lý thuế Sự trỗi dậy của khu vực tư nhân trong phát triển kinh tế là đáng ghi nhận, nhưng do quy mô hoạt động của khu vực này còn nhỏ và phân tán cho nên những yêu cầu về báo cáo thống kê không được thiết lập một cách có hệ thống Hơn nữa
do những hạn chế về tài chính, các cơ quan thuế và thống kê có gặp phải nhiều khó khăn
Page 11 of 38
Trang 12trong việc tông hợp và đưa ra những số liệu thống kê một cách chỉ tiết và đáng tin cậy Thiếu số liệu tin cậy và cung cấp không kịp thời làm cho những người ra quyết định chính sách gặp phải nhiều khó khăn trong việc đánh giá sự ảnh hưởng tiềm năng của những thay
đối cơ bản đến hệ thống thuế hiện hành
Những thử thách của việc cải cách chính sách thuế:
- Thử thách về nguôn thu: Sự hội nhập vào kinh tế thế giới yêu cầu phải gia tăng nguồn thu thuế để Nhà nước đảm nhận vai trò như chính phủ của các nền công nghiệp phát triển Nhưng làm thế nào gia tăng được nguồn thu, đặc biệt là gia tăng nguồn thu từ
thuế thu nhập cá nhân và không làm giảm đi những động lực kinh tế trong khi nền kinh tế
sẽ phải giảm đi nhiều sự dựa vào nguồn thu thuế từ các hoạt động thương mại quốc tế Để vượt qua những thử thách này, đòi hỏi những người ra quyết định chính sách phải đưa ra các ưu tiên chính sách đúng đắn và phải có cam kết chính trị để thực hiện cải cách cần thiết
- Thử thách về quản lý thuế: Với sự hội nhập vào kinh tế toàn cầu, hàng rào thương mại bị tháo đỡ và sự di chuyền vốn quốc tế gia tăng trong khi năng lực quản lý thuế còn hạn chế và nguồn thu của nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc nhiều vào thuế thương mại quốc
tế Sự thay thế thuế thương mại quốc tế bằng hệ thống thuế nội địa và đi kèm theo đó là những chuyên hướng lợi nhuận thông qua các hoạt động chuyên giá của các nhà đầu tư nước ngoài đó là những thử thách rất lớn trong quá cải cách thuế của Việt Nam Hiện tại
những điều khoản chống lạm dụng thuế trong các đạo luật thuế cũng như sự đào tạo kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ kiểm toán thuế ở Việt Nam nói chung là chưa đủ dé ngan chan
và phát hiện những thực tế như vậy
- Về hiệu quả kinh tế và cạnh tranh thuế: Sự cạnh tranh thuế trong quá trình thu hút vốn là một thử thách không nhỏ trong bối cảnh vốn tự do chu chuyển Nhận thức được
sức ép này Việt Nam cũng sẽ tăng cường mở rộng phạm vi khuyến khích thuế để cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư nước ngoài Chính điều này sẽ làm cho chính sách thuế trở nên phức tạp, không trung lập do có nhiều trường hợp miễn giảm Một hệ thống thuế với nhiêu điêu khoản khuyên khích sẽ tạo ra nhiêu kẽ hở và đó là mảnh đât màu mỡ cho
Trang 13những hoạt động trốn thuế Hơn nữa, những khuyến khích của thuế mà thiếu đi những nền tảng hỗ trợ cần thiết khác thì hiệu lực của nó không cao Điều quan trọng ở đây, cần phải giới hạn mục tiêu của thuế và giới hạn sự khuyến khích của thuế, đồng thời phải kết hợp
với nhiêu công cụ kinh tê đề cạnh tranh và thu hút vốn
1.5 Yêu câu của cải cách thuê ớ Việt Nam
- Cải cách hệ thống thuế phải phù hợp với chương trình, nội dung cải cách hệ thông thuế đã được phê duyệt trong chiến lược cải cách thuế của từng giai đoạn Cải cách chính sách thuế cần quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới chính sách thuế
“ Tiếp tục cải cách hệ thông thuế phù hợp với tình hình đất nước và cam kết quốc tế Bồ sung, hoàn thiện, đơn giản hóa các sắc thuế, từng bước áp dụng hệ thống thuế thống nhất,
không phân biệt doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, doanh nghiệp Việt
Nam và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Áp dụng thuế thu nhập cá nhân thống
nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng xã hội và tạo động lực
phát triển Hiện đại hóa công tác thu thuế và tăng cường quản lý của Nhà nước.” (Văn
kiện Đại hội Đảng lần IX — Chiến lược phát triển kinh tế — xã hội 2001-2010)
- Chính sách động viên của thuế cần tôn trọng kỷ luật tài chính tổng thể Nguồn lực
tài chính của nền kinh tế là giới hạn, do vậy mức huy động của thuế cũng phải có sự giới hạn Với thực trạng là một quốc gia đang phát triển, nhu cầu chỉ tiêu của ngân sách rất lớn
và áp lực cân đối ngân sách là không nhỏ, nhưng không phải thế là tận thu để bao chỉ
Làm như vậy sẽ phá vỡ tính kỷ luật tài chính tổng thể, gây kìm hãm, không kích thích đầu
tư, tiết kiệm của khu vực doanh nghiệp và dân cư Thuế không vì mục tiêu cân đối ngân
sách trước mắt, mà quan trọng phải hướng vào mục tiêu cao hơn và xa hơn đó là thúc đây đầu tư, vực dậy nên kinh tế, thoát khỏi tình trạng yếu kém và đuổi kịp các nước trong khu vực
Đối với một quốc gia, mức thu của thuế bao nhiêu là hợp lý Thật ra cho đến nay, lý thuyết thuế tối ưu cung cấp rất ít hướng dẫn thực tế để xác định mức thuế hợp lý cho một quốc gia Nhưng thay vào đó, băng những phương pháp thống kê, các nhà kinh tế tiến hành phân tích các dữ liệu và so sánh mức thuê của một quôc gia cụ thê với gánh nặng
Page 13 of 38
Trang 14thuế trung bình của một số nhóm đại điện các quốc gia phát triển và đang phát triển, đồng thời quan tâm đến một vài tham số kinh tế — xã hội giống nhau và khác nhau của những quốc gia này Kết quả là hầu hết các đữ liệu cho thấy mức thuế của các quốc OECD gấp đôi các nước đang phát triên
- Chính sách phải hình thành một cơ cấu thuế hợp lý nhằm tăng cường nguồn thu
và vai trò điều tiết vĩ mô của nhà nước Cải cách thuế cần tập trung vào việc thu hẹp những bóp méo của thuế, đi đôi với việc mở rộng cơ sở thuế và hạ thấp thuê suất Đồng thời, chính sách thué phải bao quát hết tất cả nguồn thu, cần đưa vào áp dụng các loại thuế mới đê quản lý nguôn thu và năng cao vai trò điêu tiệt: như thuê tài sản, thuê môi trường
Cơ cấu của hệ thống thuế phải có những thay đổi thích hợp cho phù với sự phát
triển kinh tế Trong xu hướng hội nhập, thuế đánh vào thương mại quốc quốc tế sẽ giảm dần, thay vào đó chính sách thuế cần nỗ lực gia tăng thuế thu nhập cá nhân đề tạo nguồn thu ồn định cho ngân sách nhà nước Đồng thời thuế GTGT cần được tăng cường và kết hợp với thuế TTĐB để điều tiết sản xuất - tiêu dùng và đảm trách tốt vai trò bảo hộ sản xuât trong nước
- Chính sách thuế phải góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa trong điều kiện Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới Thực hiện cải cách thuế, từng bước áp dụng hệ thống thuế thống nhất, minh bạch, trung lập, không phân biệt các thành phần kinh tế; đồng thời tháo đỡ dần chính sách bảo hộ bằng việc xóa bỏ hàng rào phi thuế quan, cắt giảm thuế nhập khẩu sẽ là những bước đi quan trọng nhằm gây sức ép, buộc các doanh nghiệp Việt Nam tăng cường đổi mới công nghệ, nâng cao khả năng cạnh tranh Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên thị trường trong nước lẫn quốc tế Nhu cầu tích tụ vốn đề phát triển và đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp là rất lớn và cấp bách Vì vậy, chính sách thuế cần được điều chỉnh cho hợp lý hơn nhằm khuyến khích các doanh nghiệp tăng cường tích tụ vốn và đầu tư thay đối công nghệ, hiện đại hóa sản xuất, hạ thấp giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường
tiêu thụ, bồi đưỡng nguồn thu, tăng thu nội địa cho NSNN
Trang 15- Hệ thống thuế phải đơn giản, ôn định, mang tính luật pháp cao và có sự tương đồng với khu vực và thông lệ quốc tế Thuế phải được phân nhiệm rõ ràng theo hướng
chuyên môn hóa chức năng và thống nhất hóa mục tiêu nhằm khắc phục tình trạng đa mục tiêu trong một sắc thuế Theo đó, cần đi sâu hoàn thiện các kỹ thuật thu thuế một cách
thích hợp và đồng bộ nhằm đảm bảo hiệu quả tối ưu của mỗi loại thuế cũng như cả hệ thống thuế Các quy định của luật thuế cần đơn giản, rõ ràng phù hợp với trình độ của bộ máy quản lý thuế cũng như người nộp thuế, đảm bảo tính dễ hiểu, đễ chấp hành và dễ
kiểm tra Dong thoi, trong bối cảnh hội nhập, hệ thống thuế Việt Nam phải có sự tương
đông với quôc tê vê một sô loại thuê có liên quan đên thương mại và đâu tư quôc tê 1.6 Mục tiêu cúa cải cách thuê ở Việt Nam
Chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 (được Bộ Chính trị thông qua và
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 201/2004/QĐ-TTg ngày 6-12-2004) là
một chiến lược cải cách sâu rộng và đồng bộ, khắc phục những mặt hạn chế trong công
tác quản lý thuế Đồng thời, góp phần thúc đây phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và thực hiện thắng lợi hội nhập kinh tế quốc tế
Mục tiêu tổng quát của cải cách hệ thông thuế của Việt Nam là: Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, có cơ cấu hợp lý phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đồng thời với hiện đại hoá công tác quản lý
thuế nhằm đảm bảo chính sách động viên thu nhập quốc dân của Đảng và Nhà nước, đảm
bảo nguồn lực tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp
phần thực hiện bình đăng, công bằng xã hội
Một là: Chính sách thuế, phí phải là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà
nước đối với nên kinh tế, vừa động viên được các nguồn lực đồng thời thúc đây phát triển nhanh sức sản xuất; khuyến khích xuất khẩu; khuyến khích đầu tư; khuyến khích đổi mới công nghệ; thúc đầy chuyền dịch cơ cấu kinh tế; đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng cao, bền vững, góp phần ồn định và nâng cao đời sống nhân dân
Hai là: Chính sách thuế phải huy động đầy đủ các nguồn thu vào NSNN, đảm bảo
nhu cầu chỉ tiêu thường xuyên của Nhà nước và dành một phần cho tích lũy phục vụ sự
Page 15 of 38
Trang 16nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thực hiện tý lệ động viên thuế và phí vào
NSNN bình quân hàng năm đạt 20-21% GDP Trong cơ cấu thu ngân sách, thuế gián thu vẫn chiếm tỷ trọng lớn (năm 2001 là 41,4%, năm 2010 khoảng 56,6%) Thuế gián thu tăng chủ yếu là do tăng trưởng chuyên dịch kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp
và dịch vụ; Thuế trực thu tăng nhưng thấp hơn thuế gián thu (2001 là 21,6%, năm 2010 là
24,4%) do hiệu quả nên kinh tế chưa cao Mặt khác, Nhà nước vẫn cần tiếp tục miễn,
giảm thuế TNDN đề khuyến khích đầu tư, khuyến khích những ngành, nghề, lĩnh vực và
các địa bàn kém phát triển, có điều kiện khó khăn và đặc biệt khó khăn Tỷ trọng các loại
phí tăng nhưng không nhiều (năm 2001 là 7,1%, năm 2010 khoảng 8,2%) do sắp xếp lại
các khoản phí, lệ phí và xoá bỏ các khoản phí, lệ phí không phù hợp Các nguồn thu khác
giảm do thực hiện chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước Miễn giảm thuế sử dụng đất
nông nghiệp để khoan sức dân, tạo điều kiện phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Không thu sử dụng vốn NSNN để doanh nghiệp Nhà nước có thêm vốn đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh
Ba là: Chính sách thuế phải phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực
hiện bảo hộ hợp lý, có chọn lọc, có thời hạn, có điều kiện, tăng sức cạnh tranh của nên
kinh tế đề thúc đây sản xuất phát triển, bảo đảm lợi ích quốc gia
Bốn là: Chính sách thuế phải từng bước tạo môi trường pháp lý bình đắng, công bằng Áp dụng hệ thống thuế thống nhất không phân biệt các thành phần kinh tế khác nhau
Năm là: Đây mạnh cải cách hệ thống thuế theo hướng đơn giản, minh bạch, công khai; tách dần chính sách xã hội ra khỏi chính sách thuế; nhanh chóng hiện đại hoá và nâng cao năng lực của bộ máy quản lý thuế; khắc phục các hiện tượng tiêu cực, yếu kém trong quản lý thuế; kiện toàn bộ máy quản lý thuế trong sạch, vững mạnh
1.7 Nội dung của cải cách thuế ở Việt Nam
Cải cách thuế trong giai đoạn hiện nay là ban hành một số chính sách thuế mới và
tiếp tục bố sung, sửa đổi các chính sách thuế hiện hành Các sắc thuế mới sẽ được nghiên cứu ban hành là: Thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế chống phân biệt đối
Trang 17xử, thuế nhà đất, thuế tài sản Các sắc thuế sẽ được sửa đổi, bố sung là những sắc thuế hiện hành, bao gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN), thué GTGT, thué xuat nhap khau, thué TTDB, thué tai nguyên, thuế bảo vệ môi
trường, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Kẻ từ đầu thập niên 1990, hệ thống chính sách thuế của Việt Nam đã trải qua nhiều bước phát triển khác nhau Trong giai đoạn 2001-2010, kế thừa kết quả của các giai đoạn
cải cách trước đó (Cải cách thuế bước | tir nam 19990-1995 và Cải cách thuế bước 2 từ năm 1996-2000), hệ thống chính sách thuế của Việt Nam tiếp tục được đổi mới trên nhiều
phương diện Việc thực hiện cải cách trong giai đoạn này được gắn với các mục tiêu và yêu cầu xác định trong Chương trình cải cách thuế đến năm 2010 đã được phê duyệt, theo
đó, nội dung nhiều sắc thuế quan trọng trong hệ thống thuế liên tục được hoàn thiện, sửa
đối và bố sung Những sửa đổi này cùng với các biện pháp cải cách về chính sách vĩ mô
và về thê chế đã góp phần quan trọng trong việc tạo lập môi trường kinh doanh bình đăng, khuyến khích đầu tư, thúc đây xuất khâu và đây mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
Quá trình cải cách hệ thông chính sách thuê Việt Nam vê cơ bản đã tuân thú theo
các nguyên tắc chung về cải cách thuê đã được thừa nhận qua thực tiễn cải cách ở nhiều
nước trên thê giới, đó là thực hiện mở rộng cơ sở tính thuê, giảm thuê suât và đơn giản
hóa phương thức tính thuế, kê khai thuế và nộp thu
Trong quá trình này, từng sắc thuế trong hệ thống chính sách thuế đã được cải cách khá đồng bộ, trong đó đáng chú ý là các biện pháp cải cách về chính sách thuế thu nhập,
chính sách thuế tiêu dùng
2.1 Cải cách thuế bước 1, giai đoạn 1990-1996
- Yêu cầu đặt ra đối với cải cách thuế bước I là: hình thành một hệ thông thuế thống
nhất, áp dụng cho tất cả các thành phần kinh tế; hệ thống thuế mới đảm bảo huy động các
nguồn thu chủ yếu đáp ứng nhu cau chi tiêu của ngân sách nhà nước; hệ thống thuế phải kích thích phát triển kinh tế; chính sách thuế thực hiện công bằng, đối xử bình đăng về nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh tế; Tăng cường tính luật hóa của thuế nhằm đảm
Page 17 of 38
Trang 18bao tinh thong nhất của chính sách thuế; Hệ thống thuế phải giản đơn, dễ hiểu, dễ thực
hiện, dễ kiểm tra và phải phù hợp dần với thông lệ quốc tế
- Với các yêu cầu nêu trên, từ năm 1991 đến 1996, Việt Nam đã ban hành nhiều sắc
thuế dưới hình thức luật và pháp lệnh, hình thành nên một hệ thống thué tương đối hoàn
chỉnh về chức năng và áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế
- Tuy nhiên cải cách thuế bước 1 vẫn còn nhiều bất cập, điển hình nhất là hệ thống thuế quá chồng chéo, trùng lắp và phức tạp
2.2 Cải cách thuế bước 2, giai đoạn 1997-2001
- Mục tiêu cơ bản của giai đoạn này là: Cải cách thuế không được làm giảm nguồn thu của ngân sách nhà nước; hệ thống thuế phải góp phần thúc đây nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa; hệ thống thuế từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế; hệ thống thuế phải đơn giản và minh bạch
- Điểm nhắn quan trọng trong cải cách thuế bước 2 là sự ra đời của thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp
- Trải qua hai bước cải cách thuế từ năm 1990-2001, hệ thông chính sách thuế Việt
Nam đã có tính hệ thống và pháp lý cao Hệ thống thuế đã đáp ứng cơ bản những nguyên tắc của lý thuyết thuế chuẩn tắc: tính hiệu quả và nguồn thu của NSNN, tính công bằng và tính hội nhập quốc tế Hệ thống thuế đã góp phần thúc đấy kinh tế phát triển: khuyến khích đầu tư, thúc đầy phát triển sản xuất kinh doanh; khuyến khích xuất khâu, bảo hộ sản xuất hàng hóa trong nước và cơ cấu lại nền kinh tế
- Tuy vậy về cơ bản hé thong thuế vẫn chưa khắc phục những nhược điểm cơ bản của hệ thống thuế được tông kết khi kết thúc cải cách bước 1 Hệ thống thuế vẫn còn tồn tại nhiều vẫn đề cần phải giải quyết
Thứ nhất là về cơ cấu hệ thống thuế còn nhiều bất cập Hệ thống nguồn thu NSNN
lệ thuộc nhiều vào thuế xuất nhập khâu và bán dầu thô Nguồn thu nghiêng hắn vẻ thuế gián thu Hệ thông thuế chưa tiên liệu đầy đủ những tác động của hội nhập kinh tế quốc
tế
Thứ hai là hệ thống thuế vẫn còn kém hiệu quả: tỷ lệ thuế cận biên thuế thu nhập doanh nghiệp còn cao; mức thuê lũy tiên cận biên của thuê thu nhập cá nhân cao; các ưu
Trang 19đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng dẫn tới việc không mang lại hiệu quả về chỉ phí, không thu được tỷ suất lợi nhuận cao, khuyến khích các doanh nghiệp có xu hướng chia nhỏ hay chuyền đổi thành nhiều doanh nghiệp nhỏ
Thứ ba là hệ thống thuế còn có những quy định phức tạp và tính đa mục tiêu của hệ thông thuế
Thứ tư là tình trạng trốn thé va tránh thuế chưa thể giải quyết một cách triệt đề
2.3 Cải cách thuế bước 3, giai đoạn từ năm 2002-2010
Sự thành công của các lần cải cách chính sách thuế trong thời gian trước đã giúp Việt Nam có nhiều kinh nghiệm, tuy nhiên cũng không ít khó khăn trong cải cách thuế
bước 3, đó là: cơ cấu kinh tế không đồng bộ làm cho việc thu thuế, đánh thuế có những
khó khăn nhất định; khả năng thu thuế còn nhiều hạn chế; hệ thống thông tin yếu kém, nghèo nàn về cơ sở dữ liệu làm hạn chê hiệu quả công tác quản lý thu thuê
Cải cách hệ thống thuế bước 3 được tiến hành trong bối cảnh nền kinh tế đang bước vào giai đoạn quan trọng của hội nhập quốc tế Yêu cầu trọng tâm của cải cách thuế bước
3 là hướng vào mục tiêu và quan điểm sau: Hệ thống thuế phải góp phần lành mạnh hóa nên tài chính quốc gia và ôn định kinh tế vĩ mô Hệ thống thuế góp phần mở rộng và phát
triển khu vực kinh tế tư nhận; nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư của nền
kinh tế Thuế phải phát huy chức năng là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả
Đến năm 2010, hệ thong chính sách thuế của Việt Nam đã có các sắc thuế sau: Thuế
GTGT, thuế TTĐB, thuế xuất nhập khâu, thuế TNDN, thuế TNCN, thuế tài nguyên, thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế bảo vệ môi trường, pháp lệnh thuế sử dụng đất nông
nghiệp
2.3.1 Đối với Thuế Thu nhập
Trong chính sách thuế thu nhập, cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá
nhân đều đã được sửa đôi căn bản Cụ thê, đối với thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN),
Việt Nam đã thực hiện từng bước việc giảm dần mức thuế suất phô thông từ 32% xuống 28% và từ 1/1/2009 là 25% và được áp dụng thống nhất đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, bỏ thuế thu nhập bố sung và thuế chuyên lợi nhuận ra nước ngoài
Page 19 of 38