Hội nghị Quốctế về môi trường năm 1975 tại Beograde đã chính thức nêu ra vấn đề giáo dục môitrường GDMT với mục đích nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của môi trường và hiểu biết vê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐOÀN THỊ KIM NGÂN
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐÀ LẠT THÔNG QUA TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Anh Phước
HÀ NỘI - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi.Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quảnghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
Đoàn Thị Kim Ngân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sựhướng dẫn, giúp đỡ của các thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè cùng khóa học Vớilòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:Ban Giám hiệu, Ban lãnh đạo, cùng toàn thể giảng viên phòng Sau đại học,Khoa Tâm lí Giáo dục của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiệnthuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Hoàng Anh Phước đã hếtlòng hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu vàhoàn thành luận văn
Ban Giám hiệu Trường CĐSP Đà và đồng nghiệp những người đã khôngngừng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập vàthực hiện luận văn Cán bộ UBND phường 10, cán bộ khu phố và các bạn sinh viênK41 và K42 đã hỗ trợ tôi trong quá trình khảo sát thông tin
Xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn đã cho tôinhững đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này
Cuối cùng tôi xin kính chúc quý Thầy Cô luôn dồi dào sức khỏe để tiếp tụcthực hiện sứ mệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
Đoàn Thị Kim Ngân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Điểm mới của đề tài 5
9 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN THÔNG QUA TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Nghiên cứu ở ngoài nước 6
1.1.2 Nghiên cứu trong nước 7
1.2 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên 12
1.2.1 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường 12
1.2.2 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên 16
1.3 Hoạt động cộng đồng trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên 20
1.3.1 Khái niệm cộng đồng 20
1.3 2 Khái niệm hoạt động cộng đồng 21
1.3.3 Khái niệm về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên thông qua hoạt động cộng đồng 22
1.3.4 Các hoạt động cộng đồng trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên 22
Trang 51.3.5 Vai trò của các hoạt động cộng đồng trong giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho sinh viên 27
1.4 Tổ chức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên thông qua các hoạt động cộng đồng 29
1.4.1 Tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên thông qua hoạt động cộng đồng 29
1.4.2 Mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên thông qua các hoạt động cộng đồng 30
1.4.3 Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên thông qua các hoạt động cộng đồng 30
1.4.4 Các phương pháp/hình thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên thông qua hoạt động cộng đồng 33
1.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên thông qua các hoạt động cộng đồng 36
Kết luận chương 1 39
Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐÀ LẠT THÔNG QUA TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG 41
2.1 Trường Cao đẳng sư phạm Đà Lạt trong cộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt Lâm Đồng 41
2.2 Khái quát quá trình khảo sát thực trạng 42
2.2.1 Mục đích khảo sát 42
2.2.2 Nội dung khảo sát 42
2.2.3 Đối tượng khảo sát 44
2.2.4 Phương pháp khảo sát 45
Trang 62.3 Kết quả khảo sát thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho
sinh viên thông qua tổ chức các hoạt động cộng đồng 50
2.3.1 Thực trạng ý thức bảo vệ môi trường của sinh viên trường Cao đảng sư phạm Đà Lạt 50
2.3.2 Thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên của trường Cao đẳng sư phạm Đà Lạt thông qua hoạt động cộng đồng 62
2.4 Đánh giá chung về thực trạng 84
2.4.1 Những kết quả đạt được 84
2.4.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 85
Kết luận chương 2 87
Chương 3 BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐÀ LẠT THÔNG QUA TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG 88
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 88
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 88
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 88
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 89
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 90
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính bền vững 90
3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống 91
3.2 Các biện pháp tổ chức hoạt động cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Đà Lạt 91
3.2.1 Tổ chức bộ phận chỉ huy, điều hành hoạt động cộng đồng 91 3.2.2 Tuyên truyền rộng rãi trong cán bộ, giáo viên, nhân viên và sinh viên trong nhà trường về luật bảo vệ môi trường, vai trò, tầm quan trọng của hoạt
Trang 7động cộng đồng trong bảo vệ môi trường và những quy định cụ thể của nhà trường, địa phương và thành phố Đà Lạt trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 93 3.2.3 Huy động các nguồn lực để tổ chức hoạt động cộng
đồng về bảo vệ môi trường 95
3.2.4 Triển khai các hoạt động cộng đồng về bảo vệ môi trường 96
3.2.5 Tổ chức các hoạt động truyền thông về hoạt động cộng đồng bảo vệ môi trường 100
3.2.6 Tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm, nhân rộng điển hình tiên tiến các hoạt động cộng đồng về bảo vệ môi trường 102
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp tổ chức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên thông qua hoạt động cộng đồng 104
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên thông qua các hoạt động cộng đồng 106
3.4.1 Phương pháp khảo nghiệm 106
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm ý kiến chuyên gia về tính cần thiết và tính khả thi của những biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường của sinh viên thông qua hoạt động cộng đồng 107
Kết luận chương 3 109
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Hành vi phản ứng của SV đối với các hành vi xâm hại môi trường 53 Bảng 2 Tính tích cực hành vi BVMT của SV CĐSP Đà lạt 55 Bảng 3 Sinh viên tự đánh giá ý thức BVMT của mình và giải thích lý do có
được ý thức BVMT như tự đánh giá 60 Bảng 4 Nhóm khảo nghiệm tự đánh giá ý thức BVMT của mình và giải thích
lý do có được ý thức BVMT như tự đánh giá 62 Bảng 5 Nhóm khảo nghiệm đánh giá vai trò của hoạt động cộng đồng đối với
ý thức và hành vi BVMT của mình và cộng đồng 63 Bảng 6 Kết quả phỏng vấn SV về những yếu tố thúc đẩy hay cản trở sinh viên
đăng ký tham gia các HĐCĐ về BVMT (trích phụ lục 1d) 64 Bảng 7 Thái độ của SV nhóm khảo nghiệm trước những hành vi tác động vào
MT 66 Bảng 8 Hành vi tự giác, tự nguyện của SV với MT và BVMT nhóm khảo
nghiệm 68 Bảng 9 Ý kiến của các đối tượng khảo sát về các hoạt động BVMT trường
CĐSP Đà Lạt đã tổ chức 71 Bảng 10 Nhận thức của SV, CBQL, CBĐP, về vai trò của hoạt động cộng
đồng đối với ý thức BVMT của SV 74 Bảng 11 Hứng thú của sinh viên về hoạt động cộng đồng BVMT 77 Bảng 12 Khảo nghiệm tác động của hoạt động cộng đồng BVMT đến ý thức
BVMT của SV CĐSP Đà Lạt 79 Bảng 13 SV tự đánh giá ý thức BVMT và giải thích lý do có được ý thức
BVMT của nhóm đối chứng và khảo nghiệm 81 Bảng 14 Phản ứng hành vi của SV nhóm đối chứng và khảo nghiệm trước
những hành vi xâm hại MT 82 Bảng 13 Khảo nghiệm ý kiến CBQL & CBĐP về các biện pháp tổ chức hoạt
động cộng đồng nhằm giáo dục ý thức BVMT cho SV 107
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, giảm thiểu ô nhiễm môi trường làmột trong những vấn đề cấp bách hiện nay mà một quốc gia không thể tự mình giảiquyết được mà cần có sự liên kết toàn cầu
Nhận thấy vấn đề biến đổi khí hậu không phải là vấn để của một quốc gia mà làvấn đề toàn cầu nên lần đầu tiên Liên hiệp quốc đã tổ chức hội nghị thượng đỉnh vềbiến đổi khí hậu (COP 1) tại Berlin Đức vào tháng 4 năm 1995 Gần đây nhất, tháng
11 năm 2018 hội nghị thượng đỉnh của Liên hiệp quốc về biến đổi khi hậu (COP24) tại thành phố Katowice Ba Lan Sau 24 lần tổ chức hội nghị thượng đỉnh, mặc
dù còn nhiều vấn đề chưa đồng thuận, nhưng Liên hiệp quốc đã cho thấy cộng đồngthế giới chung tay giải quyết vấn để biến đổi khí hậu Đây là hành động chung củacộng đồng nhân loại vì một trái đất xanh
Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng trực tiếp của biến đổi khí hậu,những tác động của biến đổi khi hậu đã và đang gây ra những thiệt hại nặng nề vềtài sản, tính mạng và cuộc sống của người dân ở những vùng chịu tác động của biếnđổi khí hậu
Ô nhiễm môi trường cũng đang là vấn đề cấp bách diễn ra ở khắp nơi, cả nôngthôn, thành thị, miền núi, miền biển, cả nguồn nước và không khí… Theo nghiêncứu của các tổ chức bảo vệ môi trường (viết tắt: BVMT) ở nước ta 70% các dòngsông, 45% vùng ngập nước, 40% các bãi biển đã bị ô nhiễm, hủy hoại về môitrường; 70% các làng nghề ở nông thôn đang bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.Cùng với đó, tình trạng nước biển xâm nhập vào đất liền; đất trống, đồi núi trọc và
sự suy thoái các nguồn gen động thực vật đang có chiều hướng gia tăng là hậu quảcủa việc hủy hoại môi trường
Ở TP Đà Lạt - TP du lịch và nghỉ dưỡng, tình hình ô nhiễm môi trường cũng cònnhững hạn chế, rác thải sinh hoạt sau những đợt nghỉ lễ, tết, nghỉ hè do du khách xảthải ra môi trường tăng đột biến làm cho công tác thu gom rác thải sinh hoạt bị dồn
ứ, những điểm tập kết rác thải bố trí chưa hợp lý, ý thức BVMT của người dân chưathực sự đồng đều trong việc thu gom rác, bỏ rác đúng giờ, đúng chỗ, gây mất vệsinh và mỹ quan thành phố Nước Hồ Xuân Hương - một thắng cảnh làm nênthương hiệu Đà Lạt - cũng đang bị ô nhiễm bởi rác thải bao bì thuốc bảo vệ thực vật
từ các trang trại đầu nguồn nước của hồ
Tình hình trên đều do lỗi chủ quan của con người, đó là ý thức BVMT của mỗingười dân, các nhà sản xuất, của cơ quan quản lý nhà nước, nói chung là của cộngđồng chưa cao
Trang 11Trong khi đó Đảng và Nhà nước rất chú trọng đến vấn đề BVMT, các tổ chức,đoàn thể, cơ quan luôn xem BVMT như là một nhiệm vụ của mình, nhà trường từbậc Mầm non đến giáo dục Đại học cũng luôn quan tâm giáo dục ý thức BVMT choHS-SV.
Tuy nhiên những cố gắng đó chưa đủ mạnh để ngăn chặn ô nhiễm môi trường,góp phần chống biến đổi khí hậu
Công tác giáo dục ý thức BVMT trong các nhà trường đã có những kết quả tốt.HS-SV đã có ý thức BVMT, đã có những hoạt động BVMT Trong các nhà trường,phong trào gìn giữ, tôn tạo ngôi trường xanh sạch đẹp đã mang lại những diện mạomới cho các trường học HS-SV đã có những ý thức và hành động tự giác BVMTtrong khuôn khổ nhà trường và các hoạt động của nhà trường
Tuy nhiên, cũng chính những HS-SV này khi tham gia vào đời sống xã hội, thoát
ly khỏi môi trường nhà trường thì ý thức BVMT đã suy giảm, thậm chí còn cónhững hành động gây ô nhiễm môi trường
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tinh trạng này là ý thức BVMT, hành viBVMT của từng người, hành động BVMT của các tổ chức, cơ quan còn rời rạc, nóchưa được lan toả đế biến thành sức mạnh của cộng đồng (địa phương, vùng, quốcgia) chung tay BVMT
Đối với SV trường Cao đẳng sư phạm Đà Lạt, giáo dục ý thức BVMT cho SV làmột nội dung giáo dục của nhà trường, đồng thời cũng là một nội dung hoạt độngcủa Đoàn thanh niên, Hội sinh viên của trường Vì thế hình thành được ý thứcBVMT cho sinh viên SV, nó được thể hiện trong việc gìn giữ cảnh quan trườnghọc, đảm bảo vệ sinh học đường, đảm bảo khu ký túc xá sạch sẽ và ngăn nắp Tuynhiên, ý thức BVMT của SV mới chỉ hình thành ở cấp độ ý thức cá nhân, hoặc ýthức tự giác BVMT có điều kiện khi sống trong môi trường học đường, ký túc xá có
sự giám sát chặt chẽ bởi nội quy, quy chế sinh viên Cũng chưa thấy nhóm SV tìnhnguyện nào tự tổ chức cùng nhau đi thu gom rác thải sau các ngày nghỉ lễ, tết ởquảng trường thành phố Đà Lạt hay ven Hồ Xuân Hương Ý thức BVMT của mỗi
SV chưa trở thành ý thức xã hội, ý thức cộng đồng để BVMT Lý do chính là việcgiáo dục ý thức BVMT cho SV mới chỉ giới hạn trong môi trường học đường màchưa lan toả ra cộng đồng xã hội hoặc là ý thức BVMT của SV chưa được thử tháchtrong môi trường xã hội thông qua các HĐCĐ
Vì thế HĐCĐ về BVMT như là phương thức, con đường để nhân lên sức mạnhcủa ý thức BVMT, hành động BVMT của từng cá nhân, từng nhóm xã hội thành ýthức BVMT ở tầm ý thức xã hội, ý thức cộng đồng trong việc BVMT Đó chính là
Trang 12thông điệp của 24 hội nghị thượng đỉnh Liên Hiệp quốc về biến đổi khí hậu đã gửitới toàn thể nhân loại.
Từ những lý do trên tôi chọn đề tài “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Đà Lạt thông qua hoạt động cộng đồng”
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Các hoạt động giáo dục ý thức BVMT của SV trường CĐSP Đà Lạt
Cán bộ quản lý (CBQL) nhà trường có liên quan đến việc tổ chức các hoạt độnggiáo dục ý thức BVMT cho sinh viên, cán bộ địa phương (CBĐP) thuộc địa bàntrường CĐSP Đà Lạt có hộ khẩu thường trú có liên quan đến việc phối hợp vớitrường CĐSP Đà Lạt trong để giáo dục ý thức BVMT cho SV và SV năm thứ hai vàthứ ba năm học 2018-2019 của trường CĐSP Đà Lạt
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Ý thức bảo BVMT của SV CĐSP Đà Lạt thông qua HĐCĐ và công tác giáo dục
ý thức BVMTcho SV thông qua HĐCĐ của trường CĐSP Đà Lạt
4 Giả thuyết khoa học
Ý thức BVMT của SV trường CĐSP đã được hình thành ổn định và ngày càngphát triển ở mức độ khởi đầu của ý thức xã hội;
Trường CĐSP Đà Lạt đã làm tốt công tác giáo dục ý thức BVMT cho SV thôngqua các HĐCĐ; HĐCĐ có tác dụng thúc đẩy nâng cao ý thức BVMT của SV
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xây dựng cơ sở lí luận về giáo dục ý thức BVMT cho SV thông qua cácHĐCĐ
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng ý thức BVMT của SV và thực trạng giáo dục ýthức BVMT cho SV trường CĐSP Đà Lạt thông qua các HĐCĐ
5.3 Đề xuất một số biện pháp tổ chức các HĐCĐ để giáo dục ý thức BVMT chosinh viên
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung phân tích thực trạng ý thức BVMT của SV trường CĐSP Đà Lạt
và thực trạng công tác giáo dục ý thức BVMT cho SV trường CĐSP Đà Lạt thông
Trang 13qua các HĐCĐ , chỉ ra nguyên nhân dẫn đến hạn chế của thực trạng trên Trên cơ sở
đó đề xuất biện pháp tổ chức các HĐCĐ nhằm giáo dục ý thức BVMT cho SV Khách thể khảo sát: 11 CBQL Phòng, Khoa, Cán bộ Hội sinh viên, Cán bộ Đoànthanh niên; 15 cán bộ khu phố 11, các Ban, Ngành, Đoàn thể thuộc UBND phường 10
và 234 sinh viên trường CĐSP Đà Lạt các khóa 41,42 năm học 2018-2019
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lí luận
Mục đích: Nghiên cứu tổng quan về vấn đề nghiên cứu; xây dựng khái niệmcông cụ của đề tài; xây dựng cơ sở lý luận cho việc tổ chức HĐCĐ nhằm giáo dục ýthức BVMT cho SV
Nội dung: Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và Nhà nước về việc bảo vệ tàinguyên - môi trường; Luật bảo vệ tài nguyên-môi trường; Các sách đã xuất bản, tạpchí, báo in, báo mạng, các luận văn về tâm lý học, môi trường, giáo dục môi trường,bảo vệ môi trường, phát triển cộng đồng, giáo dục cộng đồng
Phương pháp thực hiện: Phân loại tài liệu, đọc, tổng hợp, phân tích các tài liệu đểnghiên cứu và hoàn thành phần lịch sử của vấn đề nghiên cứu, hình thành các kháiniệm công cụ làm cơ sở lý luận cho việc xây dựng bộ công cụ khảo sát thực trạng
và phân tích thực trạng, đề xuất các biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trườngcho sinh viên
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích: Đánh giá thực trạng ý thức BVMT của SV CĐSP Đà Lạt và công tácgiáo dục ý thức BVMT cho sinh viên của trường CĐSP Đà Lạt thông qua cácHDCĐ
Nội dung: Điều tra mặt nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên CĐSP Đà Lạtvề BVMT, hỏi ý kiến CBQL, CBGD trường CĐSP Đà Lạt, CB và nhân dân địaphương nơi trường đóng về công tác phối hợp với trường CĐSP Đà Lạt tổ chức cácHDCĐ về BVMT cho SV
Phương pháp thực hiện: Xây dựng phiếu khảo sát ý thức BVMT của sinh viên vàcông tác giáo dục ý thức BVMT cho sinh viên của trường CĐSP Đà Lạt, phiếu hỏivề ý kiến về công tác phối hợp giữa nhà trường và địa phương để giáo dục ý thứcBVMT cho sinh viên; giữa CBQL nhà trường, CBGD, các đoàn thể trong trường vềviệc giáo dục ý thức BVMT và việc tổ chức các HĐCĐ để giáo dục ý thức BVMTcho SV Tổ chức điều tra, thu thập ý kiến trả lời của các khách thể khảo sát và xử lý
số liệu
Trang 147.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: Bổ sung thông tin phục vụ cho việc đánh giá thực trạng ý thức BVMTcủa SV và công tác giáo dục ý thức BVMT thông qua HĐCĐ của trường CĐSP ĐàLạt, đồng thời thăm dò ý kiến về những biện pháp để tiếp tục tổ chức các HĐCĐnhằm giáo dục ý thức BVMT của SV và công tác giáo dục ý thức BVMT cho SV.Nội dung: Hệ thống các vấn đề và câu hỏi định hướng để phỏng vấn các đốitượng cần hỏi
Phương pháp thực hiện: Phỏng vấn trực tiếp do CBNC thực hiện và ghi chép câutrả lời
7.2.3 Phương pháp chuyên gia
Mục đích: Xin ý kiến chuyên gia đánh giá về ý thức BVMT của SV trườngCĐSP Đà Lạt để so sánh với kết quả khảo sát thực trạng ý thức BVMT của SV,đồng thời xin ý kiến về tính cần thiết và khả thi của những biện pháp được đề xuất
Thống kê và xử lý số liệu thống kê bằng Excel
8 Điểm mới của đề tài.
Lần đầu tiên xây dựng cơ sở lý luận cho việc tổ chức các HĐCĐ nhằm giáo dục
ý thức BVMT cho SV
Lần đầu tiên khảo sát đánh giá ý thức BVMT của sinh viên CĐSP Đà Lạt và thựctrạng việc tổ chức các HĐCĐ của nhà trường nhằm giáo dục ý thức BVMT cho SV
9 Cấu trúc của luận văn
Gồm phần mở đầu, phần nội dung nghiên cứu Phần trọng tâm của nội dungnghiên cứu ngoài các mục kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục
ở cuối chương 3 là các chương sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viênthông qua các hoạt động cộng đồng
Chương 2 Thực trạng ý thức báo vệ môi trường của sinh viên và thực trạng giáodục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên trường CĐSP Đà Lạt thông qua cáchoạt động cộng đồng
Chương 3 Biện pháp tổ chức các hoạt động cộng đồng nhằm giáo dục ý thức bảo
vệ môi trường cho sinh viên trường CĐSP Đà Lạt
Trang 15Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG CHO SINH VIÊN THÔNG QUA TỔ CHỨC
CÁC HOẠT ĐỘNG CỘNG ĐỒNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu ở ngoài nước.
Vấn đề môi trường , bảo vệ môi trường (BVMT), ô nhiễm môi trường, biến đổikhí hậu (BĐKH), giáo dục BVMT được nhiều nhà khoa học, tổ chức quốc tế quantâm nghiên cứu
Chương trình môi trường Liên Hiệp quốc (UNEP) “ GEO-2000” công bố bản
“Báo cáo tổng quan môi trường toàn cầu - năm 2000” đã chỉ rõ: “Các hệ sinh thái
và sinh thái nhân văn toàn cầu bị đe doạ bởi sự mất cân bằng sâu sắc trong năngxuất và phân bổ hàng hoá và dịch vụ Một bộ phận đáng kể của nhân loại đang sốngtrong sự nghèo khó và một bộ phận nhỏ của nhân loại được thu lợi từ sự phát triểnkinh tế - công nghệ sống trong giàu sang, đầy đủ Hai thái cực này đang đe doạ sự
ổn định của toàn bộ hệ thống nhân văn và cùng với nó là môi trường toàn cầu; Thếgiới đang biến đổi, sự phối hợp quản lý môi trường ở quy mô toàn cầu luôn bị tụthậu so với phát triển KT-XH, những thành quả về môi trường có được từ công nghệ
và chính sách mới không theo kịp quy mô tăng dân số và phát triển kinh tế” [dẫntheo14, Tr 17]
Công ước khung về thay đổi khí hậu của Liên hiệp quốc đã “Thừa nhận rằng sựthay đổi khí hậu trái đất và những hiệu ứng nguy hại của nó là mối quan tâm chungcủa nhân loại” [dẫn theo 35, Tr 627]
Do tính chất toàn cầu của sự thay đổi khí hậu, Liên hiệp quốc đã kêu gọi “ sựhợp tác rộng lớn nhất có thể có được của tất cả các nước và sự tham gia của họ vào
sự ứng phó quốc tế thích hợp và có hiệu quả, phù hợp với những trách nhiệm chungnhưng có phân biệt cả các khả năng tương ứng cùng các điều kiện kinh tế và xã hộicủa mỗi nước” [dẫn theo 35, Tr 628]
Nguyên nhân gây ra BĐKH trên toàn cầu là ô nhiễm môi trường, nhưng thủphạm gây ra ô nhiễm môi trường chủ yếu là do con người cùng với các hoạt độngsản xuất, tiêu dùng của con người gây ra, vì vậy giáo dục ý thức BVMT cho mọicông dân ở mọi quốc gia là chìa khoá để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường,chống BĐKH Văn kiện hội nghị Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển họp tạiRio de Janeiro từ 3 đến 14/6/1992 (chương 36) cũng chỉ rõ “Giáo dục là nhân tốquan trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững và nâng cao khả năng giải quyết các vấnđề của môi trường và phát triển”[dẫn theo 34, Tr 31]
Trang 16Cùng với những nghiên cứu về BĐKH, BVMT, Liên hiệp quốc, các tổ chức khoahọc quốc tế, các nhóm nhà khoa học cũng thúc đẩy việc tuyên truyền, giáo dục vềBVMT cho các thế hệ người, đặc biệt là thế hệ trẻ sống trên trái đất Hội nghị Quốc
tế về môi trường năm 1975 tại Beograde đã chính thức nêu ra vấn đề giáo dục môitrường (GDMT) với mục đích nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của môi trường
và hiểu biết về môi trường; giúp cho mỗi người xác định được thái độ và lối sống cánhân tích cực đối với môi trường ; có những hành động cho một môi trường tốt hơn.Văn kiện hội nghị quốc tế về GDMT của Liên hiệp quốc tổ chức tại Tbilisi năm
1977 đã nhấn mạnh “Mục tiêu cơ bản của GDMT là làm cho từng người và cộngđồng hiểu biết được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và nhân tạo, đó là
sự tương tác của các mặt sinh học, vật lý, hoá học, xã hội, kinh tế và văn hoá để cótri thức, thái độ và các kĩ năng thực tế, để từ đó tham gia có hiệu quả, có tráchnhiệm vào việc tiên đoán và giải quyết các vấn đề về môi trường và quản lý chấtlượng môi trường” [dẫn theo 30, Tr 112]
Lĩnh vực phát huy vai trò của cộng đồng BVMT được chương trình môi trườngcủa Liên hiệp quốc năm 1991 cùng với một số Hiệp hội Môi trường đã đưa ra 9nguyên tắc về phát triển xã hội bền vững trong đó có nguyên tắc “1 Tôn trọng vàquan tâm đến đời sống cộng đồng; 7 Để cho các cộng đồng tự quản lý môitrường ”[dẫn theo 27, Tr 95]
Nguyên tắc 22 trong Tuyên bố hội nghị Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển(Rio de Janeiro 1992) đã ghi: “Nhân dân bản xứ và các cộng đồng của họ và các cộngđồng khác ở địa phương có vai trò quan trọng trong quản lý và phát triển môi trường vì
sự hiểu biết và tập tục truyền thống của họ Các quốc gia nên công nhận và ủng hộthích đáng bản sắc văn hoá và những mối quan tâm của họ, khiến họ tham gia có hiệuquả vào việc thực hiện một sự phát triển lâu bền” [35, Tr 36-37]
Những nghiên cứu trên đây làm rõ vấn đề chống biến đổi khí hậu (BĐKH),BVMT là vấn đề chung của toàn cầu, giáo dục ý thức BVMT cho mọi người là conđường lâu dài và bền vững để giải quyết các vấn đề về môi trường và BĐKH
1.1.2 Nghiên cứu trong nước.
Các tác giả, tổ chức trong nước đã nghiên cứu các vấn đề về môi trường, BĐKH
và giáo dục môi trường ở Việt Nam
Chương 1, Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam (2014) định nghĩa “ môi
trường là yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và pháttriển của con người và sinh vật” [2, Tr 1]
Nghiên cứu về BĐKH, Ngô Trọng Thuận (2017) trong cuốn “Những thông tin
cập nhật về biến đổi khi hậu dùng cho các đối tượng cộng đồng” đã định nghĩa
Trang 17“BĐKH là sự thay đổi có tính hệ thống so với trung bình trong thời kỳ dài của cácyếu tố khí hậu (như là nhiệt độ, lượng mưa, áp suất hay gió) được duy trì trong vàithập niên hoặc dài hơn” [29, Tr 19] Tác giả chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến BĐKHnhư những tác động tự nhiên bên ngoài (thay đổi của bức xạ mặt trời; thay đổi chậmcủa các thành phần trong quỹ đạo trái đất), hoặc do những quá trình bên trong của
hệ thống khí hậu, hay do những tác động của con người gây ra
Trong chương 1, Luật BVMT (2014) cũng hướng dẫn “Hoạt động BVMT là gìngiữ, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu của môi trường; ứng phó sự cố môitrường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác hợp
lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành” [2, tr 1]
Luật BVMT năm 2014 là cơ sở pháp lý cho việc huy động cộng đồng tham giaBVMT “Điều 4 Nguyên tắc BVMT 1) BVMT là trách nghiệm, nghĩa vụ của mọi
cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân; Điều 6 Những hoạt động BVMT đượckhuyến khích 1) Truyền thông, giáo dục mọi người tham gia BVMT, giữ gìn vệsinh môi trường, bảo vệ cảnh quan môi trường và đa dạng sinh học (ĐDSH) ; Điều 83 Tổ chức tự quản BVMT 1) Nhà nước khuyến khích cộng đồng dân cưthành lập các tổ chức tự quản về BVMT nơi mình sinh sống; 2) Tổ chức tự quản vềBVMT được thành lập và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, cộng đồng tráchnhiệm, tuân theo quy định của pháp luật để thực hiện các nhiệm vụ được quy địnhtrong điều này” [2, Tr 3]
Nói đến vai trò của cộng đồng trong thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH), Cục
khí tượng thuỷ văn và biến đổi khí hậu trong tài liệu “Sổ tay tuyên truyền về Biến
đổi khí hậu” đã xem cộng đồng là chỗ dựa để thích ứng với biến đổi khí hậu và xác
định rõ “mục đích của thích ứng dựa vào cộng đồng gồm: Trao quyền chủ động, tạotính năng động và được tham gia vào tất cả các giai đoạn của dự án thích ứngBĐKH trong cộng đồng mình; Tăng cường tình đoàn kết và sự cộng tác của mọingười để xây dựng cộng đồng an toàn, nâng cao khả năng thích ứng của từng thànhviên với BĐKH; Huy động sự tham gia tích cực của người nghèo, mọi giới nhất làthúc đẩy vai trò của phụ nữ trong các hoạt động thích ứng với BĐKH” [33, Tr 148].Một nội dung quan trọng của BVMT là giáo dục BVMT Ngày 17/10/2001Chính phủ đã quyết định phê duyệt đề án “Đưa nội dung BVMT vào trong hệ thốnggiáo dục với mục tiêu giáo dục cho HS các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo trong
hệ thống giáo dục quốc dân có hiểu biết về pháp luật và chủ trương chính sách củaĐảng và Nhà nước về BVMT; có kiến thức về môi trường để tự giác thực hiệnBVMT Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu khoa học - côngnghệ và cán bộ quản lý về BVMT” [30, Tr 17]
Trang 18Lê Văn Khoa chủ biên cuốn “môi trường và giáo dục BVMT” đã phân tích vai trò
của “giáo dục là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất và có tínhbền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu BVMT và phát triển bền vững(PTBV) đất nước” [14, Tr 158] Trong cuốn sách này, các tác giả xác định mục tiêu,nội dung, phương pháp, phương thức giáo dục BVMT trong nhà trường Điều đề tàiquan tâm nhất là những loại hình hoạt động giáo dục BVMT ở ngoài trường học màtác giả nêu ra như “Hoạt động tham quan, khảo sát thực địa; Hoạt động kiểm chứng;Hoạt động sáng tác theo chủ đề; Hoạt động dạy học theo dự án; Hoạt động lao độngBVMT; Giáo dục BVMT thông qua các hình thức câu lạc bộ, các hội thi; Hoạt độngtham gia giải quyết vấn đề MT tại cộng đồng [14, Tr 249-265]
Lê Văn Trưởng và Nguyễn Kim Tiến (2006) biên soạn cuốn “Giáo dục môi
trường” làm tài liệu đào tạo GV trình độ Cao đẳng và Đại học sư phạm về giáo dục
MT Tài liệu thiết kế theo từng mô đun với các chủ đề: “(1) Giới thiệu về khoa họcmôi trường; (2) các thành phần cơ bản của môi trường; (3) tài nguyên thiên nhiên;(4) Các nguyên lý sinh thái học ứng dụng trong khoa học môi trường; (5) Sự tácđộng của con người đối với môi trường (6) Một số vấn đề nền tảng về môi trường
và phát triển bền vững; (7) Giáo dục môi trường [29, Tr 3-4] Trong tài liệu này đềtài rất quan tâm đến những hoạt động giáo dục BVMT mà các tác giả đã gợi ý choviệc tổ chức các HĐCĐ để giáo dục ý thức BVMT cho sinh viên như: “Trồng câygây rừng; Tìm hiểu vì hành động môi trường của địa phương; Xây dựng mô hìnhVAC, RVAC ở nhà trường hoặc các cộng đồng dân cư nơi trường đóng; Nhữnghoạt động thi về môi trường với những chủ đề khác nhau; Tham gia tuyên truyềncộng đồng về thực trạng môi trường và các cách BVMT” [19, tr 116-117]
Trong “Tài liệu hướng dẫn về bảo vệ môi trường cho các truyền thông viên là Đoàn viên thanh niên” của Cục bảo vệ MT (2006) đã đưa ra hướng dẫn cụ thể để đa
dạng hoá hình thức giáo dục môi trường (GDMT) cho thế hệ trẻ.Tài liệu đã đưa ranhững gợi ý thiết thực tổ chức các hoạt động cộng đồng nhằm giáo dục ý thứcBVMT cho SV như: “Tổ chức các câu lạc bộ tuổi trẻ với môi trường; Thông quacác sinh hoạt định kỳ của các cơ sở Đoàn; Tổ chức cuộc thi tìm hiểu về môi trường;
Tổ chức các diễn đàn thanh niên với môi trường; Tổ chức các cuộc thi sáng táckịch, thơ, truyện, phim về BVMT; Tổ chức các hội thảo, thảo luận về môi trường;
Tổ chức các hoạt động BVMT gây ấn tượng trong cộng đồng; Tổ chức tham quan,
du lịch, picnic; Tổ chức các buổi giáo dục ngoại khoá; Phát động các phong trào thiđua BVMT; Thành lập các đội thanh niên tình nguyện BVMT” [32, Tr71-78]
Tóm lại những nghiên cứu ngoài nước, trong nước đã trình bày ở trên có thể tómtắt những điểm chính như sau:
Trang 19Biến đổi khí hậu gây ra những tác hại to lớn cho hệ sinh thái toàn cầu và cuộcsống của con người trên hành tinh này;
Nguyên nhân của BĐKH là do những hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiênquá mức, hoạt động sản xuất, xây dựng, rác thải công nghiệp và sinh hoạt của conngười trên hành tinh đã gây ra hiệu ứng nhà kính làm nhiệt độ trái đất ngày càngnóng dần lên, cùng với ô nhiễm môi trường dẫn đến sự biến đổi tiêu cực của hệ sinhthái trên trên trái đất, đe doạ sự sống của các sinh vật trên hành tinh này;
Vì vậy BVMT là sự sống còn của cộng đồng nhân loại và của từng quốc gia,không một quốc gia nào có thể tự mình giải quyết được vấn đề BĐKH toàn cầu màcần tập hợp sức mạnh toàn nhân loại dưới ngọn cờ Liên hiệp quốc để cùng nhauBVMT, giảm ô nhiễm môi trường, chống BĐKH
Giáo dục ý thức BVMT cho toàn thể nhân loại, cho các công dân của từng quốcgia như là giải pháp lâu dài bền vững để chống biến đổi khí hậu, giảm thiểu ô nhiễmmôi trường và BVMT
Cùng lĩnh vực nghiên cứu cũng có một số luận văn thạc sĩ đã được công bố
Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu sự tham gia của một số tổ chức xã hội dân sự
trong lĩnh vực BVMT ở Việt Nam” của tác giả Lê Quốc Hùng (2016) Đề tài khảo
sát thực trạng sự tham gia của một số tổ chức xã hội dân sự trong lĩnh vực BVMT,trên cơ sở đó đề xuất giải phát để thúc đẩy hơn nữa sự tham gia các các tổ chức xãhội dân sự BVMT Đề tài đã kết luận “ những tổ chức này (XHDS) như “cánh taynối dài” của Nhà nước, có kết nối mạnh mẽ với cộng đồng và do đo có thể đóng vaitrò cầu nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân trong BVMT” [13, Tr 17]
Luận văn thạc sĩ “Huy động cộng đồng trong giáo dục ý thức bảo vệ các di sản
văn hóa cho học sinh trung học cơ sở huyện Kiến Thụy, Hải Phòng” của tác giả
Nguyễn Văn Mai (2018) Đề tài nghiên cứu lý luận và thực tiễn huy động cộngđồng trong việc giáo dục ý thức bảo vệ các di sản văn hóa trên địa bàn huyện KiếnThụy, đề xuất các biện pháp huy động cộng đồng hiệu quả hơn, góp phần nâng cao
ý thức bảo vệ di sản văn hóa cho học sinh Kết luận của đề tài nhận định “Thựctrạng huy động cộng đồng đã khuyến khích các cá nhân, tổ chức doanh nghiệp trongcộng đồng kể cả về trí tuệ, con người và kinh phí vào công tác giáo dục ý thức bảo
vệ di sản cho học sinh huyện Kiến Thụy trong việc bảo vệ các di sản văn hoá dântộc phục vụ phát triển kinh tế xã hội” [18, Tr 104]
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hồng Anh (2017) về “Giáo dục ý thức bảo vệ
tài nguyên nước thông qua hoạt động cộng đồng cho sinh viên” Luận văn đã
nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giáo dục ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên nướcthông qua hoạt động cộng đồng, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức
Trang 20bảo vệ nguồn tài nguyên nước cho sinh viên Kết quả nghiên cứu của luận vănnhận xét “Việc phân tích, nghiên cứu lý luận giúp cho tác giả có sự nhìn nhậnkhoa học, tổng quan hơn về các hoạt động cộng đồng, cũng như bản chất là triểnkhai các chương trình bảo vệ môi trường thông qua việc giáo dục ý thức bảo vệ tàinguyên nước của cộng đồng sinh viên” [5; Tr 116].
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Minh Ngọc (2018) về “Phối hợp các lực lượng
cộng đồng trong giáo dục ý thức tham gia giao thông cho học sinh THCS phường Giang Biên, quận Long Biên, thành phố Hà Nội” Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và
thực trạng giáo dục, thực trạng phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong giáodục ý thức tham gia giao thông cho học sinh THCS, đề xuất biện pháp phối hợp cáclực lượng cộng đồng trong giáo dục ý thức tham gia giao thông cho học sinh THCSPhường Giang Biên, Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội Kết quả của luận văn
“khẳng định vai trò quan trọng và cần thiết của tổ chức phối hợp các lực lượng cộngđồng trong giáo dục ý thức tham gia giao thông cho học sinh THCS ở PhườngGiang Biên Việc tổ chức phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục ý thứctham gia giao thông cho học sinh THCS còn có những hạn chế, khuyết điểm trongthực hiện chương trình, nội dung, hình thức tổ chức thực hiện và chỉ đạo các lựclượng liên quan” [21, Tr 101]
Luận văn thạc sĩ “Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục bảo vệ môi
trường cho cộng đồng dân cư huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên của Nguyễn Thị Lệ
Quyên (2018) Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giáo dục môi trường,luận văn đề xuất các biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội để giáo dục cho cộngđồng dân cư trên địa bàn huyện Tây Hòa thực hiện bảo vệ môi trường, góp phầntích cực trong xây dựng môi trường bền vững Đề tài kết luận “việc giáo dụcBVMT cho cộng đồng dân cư nhất thiết phải có sự đồng thuận, thống nhất caogiữa nhà nước, chính quyền, mặt trận, các hội, đoàn thể để xây dựng một môitrường sống lành mạnh, hạn chế đến mức thấp nhất các tác động tiêu cực do vấnđề môi trường gây ra” [24, Tr 78]
Điểm chung của các luận văn trên là đều xem cộng đồng là địa phương nơi tácgiả nghiên cứu hay là các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương là con đường tiếnhành hoạt động giáo dục ý thức BVMT, ý thức giao thông, bảo vệ di sản văn hoá,tài nguyên nước cho học sinh Các luận văn đều khẳng định vai trò của cộng đồnglàm tăng hiệu quả của công tác giáo dục học sinh
Điểm hạn chế của các luận văn là chưa làm rõ mô hình cộng đồng được huy độngtrong việc tham gia giáo dục học sinh là như thế nào?
Trang 21Những ưu điểm và hạn chế của các luận văn đã giúp chúng tôi những ý tưởng rõràng hơn trong triển khai luận văn này.
Tóm lại những nghiên cứu ngoài nước, trong nước đã giúp chúng tôi hệ thốngđược những tài liệu quan trọng để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, hình thành ýtưởng cho việc đề xuất các giải pháp
1.2 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
1.2.1 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
1.2.1.1 Khái niệm giáo dục
Giáo dục được hiểu theo nhiều cách tiếp cận
Về bản chất, giáo dục là thế hệ trước truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệmlịch sử - xã hội của các thế hệ loài người
Về hoạt động, giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hìnhthành ở họ những phẩm chất và năng lực cần thiết đáp ứng nhu cầu của xã hội.Về mặt phạm vi, giáo dục bao hàm nhiều cấp độ:
Cấp độ rộng nhất được hiểu giáo dục là quá trình xã hội hoá con người Theonghĩa này, giáo dục là thuộc tính vốn có của xã hội loài người, diễn ra ở mọi nơi,mọi lúc, mọi hoàn cảnh, với mọi đối tượng Đó là sự hình thành nhân cách diễn ramột cách có ý thức hoặc ngẫu nhiên do tác động của những yếu tố khách quan vàchủ quan
Cấp độ thứ hai của giáo dục được gọi là giáo dục xã hội Đó là những hoạt động
có mục đích, có hệ thống của toàn xã hội nhằm hình thành những phẩm chất vànăng lực của con người đáp ứng yêu cầu của xã hội Bao gồm giáo dục gia đình,giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội
Cấp độ thứ ba, giáo dục là hoạt động có mục đích, có nội dung, phương pháp,hình thức tổ chức, do các nhà sư phạm tiến hành trong những cơ sở giáo dục chuyênbiệt nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo mục tiêu giáo dục của xã hội Ở cấp độ này giáodục là một quá trình sư phạm gồm quá trình dạy học và quá trình giáo dục (nghĩahẹp nhất) Theo nghĩa hẹp nhất, giáo dục là quá trình hình thành những phẩm chấtđạo đức của nhân cách (giáo dục tính kỷ luật, tính trung thực, ý thức BVMT ).Trong lý luận giáo dục học chỉ ra 4 con đường giáo dục: Giáo dục thông qua dạyhọc; giáo dục thông qua việc tổ chức các hoạt động phong phú và đa dạng (vui chơi,lao động, hoạt động xã hội) ; giáo dục thông qua hoạt động tập thể và tự tu dưỡng.Giáo dục ý thức BVMT cho SV là quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp nhất củakhái niệm giáo dục Con đường giáo dục ý thức BVMT cho SV là các hoạt độngBVMT trong và ngoài nhà trường
Trang 221.2.1.2 Khái niệm ý thức.
“Ý thức là khả năng con người hiểu được các tri thức (hiểu biết) mà người đó
đã tiếp thu được” [10, Tr 45]
Như vậy nội dung của ý thức bao gồm những tri thức về thế giới mà con người
đã nhận thức được và sự phản ánh lại những gì mà con người đã nhận thức được
Sự phản ánh lại được thể hiện sinh động bằng con người biểu lộ thái độ với nhữngđiều mình hiểu biết (tán đồng, ủng hộ, giúp đỡ, động viên hoặc phê phán, ngăncản, lên án ) bằng cả suy nghĩ, tình cảm và hành động, hành vi Đồng thời conngười tự nhận xét chính bản thân mình (nhận thức, thái độ, hành vi) so với nhữngchuẩn mực xã hội đang được xã hội chấp nhận (lương tâm) để tự điều chỉnh và hoànthiện bản thân (tự tu dưỡng) Biểu hiện cuối cùng của một người có ý thức là người
đó hình thành được bộ mặt đạo đức, tinh thần trách nhiệm, hình thành nên lối sống,thói quen
Ý thức con người biểu hiện ở 3 cấp độ:
Cấp độ chưa ý thức (vô thức): Những hiện tượng tâm lý con người chưa ý thức
được nhưng nó vẫn tham gia điều khiển hành vi của chúng ta Vô thức bao gồm bảnnăng, hiện tượng tâm lý dưới ngưỡng ý thức (tiền ý thức), tâm thế, tiềm thức
Cấp độ ý thức và tự ý thức Con người nhận thức, tỏ thái độ, có chủ tâm, dự kiến
trước được hành vi của mình, làm cho hành vi trở nên có ý thức Tự ý thức là mức
độ phát triển cao của ý thức, cá nhân tự nhận thức về bản thân từ hình thức bênngoài đến nội dung tâm hồn, đến vị thế và các quan hệ xã hội; có thái độ với bảnthân, tự nhận xét, tự đánh giá; tự điều chỉnh, tự điều khiển hành vi của mình theomục đích tự giác; có khả năng tự tu dưỡng, tự hoàn thiện bản thân Ở mức độ tự ýthức, cá nhân hành động có chủ định, tự giác nhưng có điều kiện
Cấp độ ý thức nhóm và ý thức xã hội Trong giao tiếp và hoạt động nhất là những
hoạt động tập thể, HĐCĐ ý thức cá nhân sẽ phát triển dần đến cấp độ ý thức xã hội,
ý thức nhóm Khi con người hoạt động với ý thức cộng đồng, ý thức xã hội, mỗi cánhân có thêm sức mạnh mà họ chưa bao giờ có khi hoạt động với ý thức cá nhânriêng lẻ Dưới tác động của ý thức xã hội tạo dựng nên lối sống, thói quen, hànhđộng dấn thân vì lý tưởng, vì người khác, vì cộng đồng của cá nhân Khi đó hànhđộng của cá nhân là hành động hoàn toàn tự nguyện, vô điều kiện
Trang 23Ý thức của cá nhân được hình thành bằng con đường tiếp thu nền văn hoá xã hội,
ý thức xã hội
Ý thức cá nhân được hình thành bằng con đường tự nhận xét, tự đánh giá
Trên cơ sở tự ý thức, cá nhân tham gia tích cực vào các hoạt động tập thể, nhóm,hoạt động xã hội, HĐCĐ và dần hình thành ý thức cá nhân ở cấp độ ý thức xã hội
1.2.1.3 Bảo vệ môi trường
Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo
Luật BVMT (2014) định nghĩa “Hoạt động BVMT là gìn giữ, phòng ngừa, hạnchế các tác động xấu của môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ônhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác hợp lý tài nguyên thiênnhiên nhằm giữ môi trường trong lành” [2, Tr1]
Từ các ý kiến trên có thể hiểu bảo vệ môi trường là hoạt động có ý thức của conngười nhằm gìn giữ, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu của môi trường; ứngphó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường;khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên để đảm bảo một môi trường sống trong lành
và sự phát triển bền vững (PTBV)
1.2.1.4 Ý thức bảo vệ môi trường
Giáo dục môi trường (GDMT) được chính thức nêu ra tại Hội nghị quốc tế vềmôi trường năm 1975 tại Beograde và được nhấn mạnh trong các văn kiện Tbilisi
77 và Rio 92 nhằm: “Nâng cao nhận thức về vai trò của môi trường và hiệu biết vềmôi trường; Giúp cho mỗi người xác định thái độ, lối sống cá nhân tích cực với môitrường ; Có được những hành động cho môi trường tốt hơn” [30, Tr 112]
Mục tiêu GDMT của Việt Nam cần đạt được là: “Giúp mỗi cá nhân và cộng đồng
có sự hiểu biết và sự nhạy cảm về môi trường cùng với các vấn đề về MT đặt ra;Giúp cho họ hiểu biết những khái niệm cơ bản về MT và BVMT; Hình thành ở họnhững tình cảm, thái độ đối với việc giải quyết các vấn đề của môi trường xảy ra;Giúp cho họ có được những kỹ năng giải quyết cũng như thuyết phục các thànhviên khác cùng tích cực tham gia giải quyết các vấn đề của môi trường nơi mìnhsinh sống, học tập và công tác” [30, Tr.112]
Trang 24Trên cơ sở mục tiêu của GDMT của Việt Nam như đã nêu ở trên cho thấy ý thứcBVMT trong mỗi đối tượng của GDMT có 3 bộ phận cấu thành như sau:
Nhận thức về môi trường và bảo vệ môi trường Có kiến thức, hiểu biết về môi
trường : Các thành phần của môi trường, tính phức tạp và mối liên hệ nhiều chiềucủa các thành phần của môi trường; tính hạn chế của tài nguyên thiên nhiên; khảnăng chịu tải của môi trường; mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường với sự pháttriển kinh tế - xã hội trong phạm vi địa phương, quốc gia, khu vực và trên toàn cầu
Thái độ về môi trường và bảo vệ môi trường Trên cơ sở nhận thức về môi
trường và BVMT như trên nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của các vấnđề MT như nguồn lực để sống, lao động và phát triển cá nhân, cộng đồng, xã hội từ
đó có thái độ, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường, có trách nhiệmứng xử thân thiện với môi trường, tham gia tích cực BVMT, hình thành đạo đứcmôi trường
Lối sống, thói quen hợp lý với môi trường, hành vi tích cực bảo vệ môi trường
Trên cơ sở hình thành được 2 bộ phận cấu thành trên con người tự nâng cao khảnăng lựa chọn cách sống phù hợp với việc sử dụng hợp lý và khôn ngoan các nguồntài nguyên thiên nhiên, góp phần tham gia có hiệu quả vào việc phòng ngừa và giảiquyết vấn đề MT nơi mình sinh sống và làm việc
Ba bộ phận cấu thành của ý thức BVMT là cơ sở khoa học để đề tài xây dựng bộcông cụ khảo sát ý thức BVMT của sinh viên trường CĐSP Đà Lạt
1.2.1.5 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường.
Giáo dục ý thức BVMT là một quá trình lâu dài, liên tục và có mục đích, hệthống nhằm giúp con người có nhận thức đúng và đầy đủ về môi trường và BVMT,hình thành được thái độ đúng, tích cực về môi trường và BVMT, có năng lực hành
vi BVMT, hình thành được lối sống, thói quen thân thiện với MT
Giáo dục ý thức BVMT là quá trình hình thành 3 bộ phận cấu thành ý thứcBVMT của mỗi cá nhân
Hình thành ý thức BVMT thông qua giáo dục được thực hiện bằng các conđường sau:
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua dạy học trong nhà trường Đây là
con đường chủ đạo, quan trọng nhất, bởi vì nhà trường là tổ chức giáo dục chuyênnghiệp, do các nhà giáo dục thực hiện, mục đích, nội dung, hình thức, phương phápgiáo dục được xây dựng phù hợp với từng lứa tuổi, nhà trường có cơ sở vật chất tốtnhất, chuyên nghiệp nhất để tiến hành giáo dục
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua hoạt động Trong nhà trường các
dạng hoạt động được tổ chức gồm học tập, vui chơi, lao động, hoạt động xã hội Ở
Trang 25mỗi bậc học, các hoạt động được tổ chức có mục đích, nội dung, phương pháp vàyêu cầu khác nhau để hình thành, củng cố, hoàn thiện ý thức BVMT cho học sinh,trong các hoạt động đó, hoạt động xã hội là hình thức hoạt động cao nhất đưa HSvào thực tiễn xã hội, cùng tham gia với các thành viên khác trong cộng đồng tiếnhành các hoạt động BVMT.
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động tập thể Mọi hoạt
động BVMT trong nhà trường đều là hoạt động tập thể Hai yếu tố quan trọng củahoạt động tập thể đảm bảo cho nó đủ sức mạnh giáo dục các thành viên là chế độ vànề nếp vệ sinh học đường, BVMT và dư luận tập thể tích cực để duy trì chế độ vànề nếp vệ sinh học đường, BVMT
Chế độ vệ sinh học đường và BVMT hợp lý, kỷ luật nghiêm, hoạt động có kếhoạch, được duy trì thường xuyên và có nế nếp sẽ hình thành thói quen BVMT vànếp sống thân thiện với môi trường Dư luận tập thể BVMT lành mạnh luôn giúpcác thành viên tập thể nhận thức được những điều tốt, tích cực BVMT, những hành
vi tiêu cực xâm hại môi trường, từ đó các cá nhân trong tập thể điều chỉnh hành viBVMT của mình
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua tự tu dưỡng Tự tu dưỡng là ý thức
BVMT và tính tích cực BVMT cao nhất của cá nhân đối với cuộc sống Tự tudưỡng được thực hiện khi cá nhân đã đạt đến một trình độ phát triển nhất định, tíchluỹ được những kinh nghiệm và tri thức phong phú và là kết qủa cao nhất của quátrình giáo dục ý thúc BVMT
Quá trình giáo dục ý thức BVMT cho HS được tiến hành trong tất cả các bậc học Ở mỗi bậc học, tuỳ theo đặc điểm lứa tuổi và nội dung giáo dục, việc giáo dục ýthức BVMT được tiến hành bằng các con đường như dạy học, thực hành, lao độngsản xuất, hoạt động tập thể, hoạt động BVMT trong nhà trường, hoạt động xã hộingoài nhà trường
Tóm lại giáo dục ý thức BVMT là một quá trình lâu dài và có hệ thống diễn ratrong tất cả các bậc học từ mầm non, tiểu học, trung học đến CĐ-ĐH, thông qua cáchoạt động học tập, lao động, giao tiếp trong nhà trường và các hoạt động xã hội.Hoạt động xã hội về BVMT vừa là nơi hoàn thiện ý thức BVMT vừa là thước đotrình độ phát triển ý thức BVMT của con người
1.2.2 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
1.2.2.1 Khái niệm sinh viên.
Từ điển tiếng Việt 2003 do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa sinh viên là “ngườihọc ở bậc đại học” [22 ; Tr 860] Theo định nghĩa này, bất cứ ai đang học ở bậc đạihọc, Cao đẳng đều là SV bất kể là hệ chính quy hay tại chức, họ ở trường CĐ, ĐH
Trang 26hay các trung tâm giáo dục thường xuyên Định nghĩa này không giới hạn độ tuổinên người không ở độ tuổi thanh niên nhưng đang học bậc đại học cũng thuộc đốitượng sinh viên.
Xét theo giai đoạn lứa tuổi, sinh viên ở lứa tuổi 17-22 thuộc lứa tuổi thanh niên.Theo Daniel Levinson “người ở độ tuổi 17-22 là giai đoạn chuyển tiếp ban đầu củatuổi trưởng thành, rời bỏ tuổi thanh thiếu niên, lựa chọn sơ bộ cho cuộc sống ngườilớn” [16, Tr 164] Định nghĩa này cho ta biết tính chất của giai đoạn lứa tuổi thanhniên và mốc xác định tuổi thanh niên Theo cách phân chia lứa tuổi trong tâm lý họcphát triển, tuổi thanh niên có 2 giai đoạn: giai đoạn đầu của tuổi thanh niên (thanhniên mới lớn, tuổi của học sinh PTTH), giai đoạn 2 là từ 18- 22 tuổi (phần lớn kếtthúc bậc học CĐ-ĐH)
Xét về mặt tâm lý, nhân cách SV bắt đầu bộc lộ những phẩm chất nhân cách củangười trưởng thành, ý thức đã phát triển ổn định ở cấp độ ý thức cá nhân và tự ýthức, đời sống tình cảm ổn định, có ý chí tự lập và khát vọng thành đạt, có lý tưởngnghề nghiệp mạnh mẽ, tinh thần dấn thân cho lý tưởng, cho xã hội thường trựctrong ý thức của họ SV có lối sống tự lập, năng động và tích cực, sáng tạo, thích cáimới, thích trải nghiệm Tuy nhiên tính bồng bột, liều lĩnh và dễ bị kích thích bởi cácmới, lạ của tuổi thanh niên mới lớn vẫn còn nên một số SV có nhân cách phát triểnlệch lạc
Xét về mặt học vấn, SV đã tốt nghiệp PTTH và đang học nghề theo chương trình
có trình độ Cao đẳng và Đại học
Xét về nghề nghiệp, SV đang theo học một nghề cụ thể
Từ những phân tích trên rút ra nhận xét sinh viên ở độ tuổi 17 – 22 là thanh niên,
những người đang được đào tạo một nghề theo chương trình cao đẳng và đại học,
là giai đoạn bắt đầu của tuổi trưởng thành.
Sinh viên CĐSP sư phạm ở độ tuổi 17-21 là thanh niên đang được đào tạo nghề dạy học/giáo dục ở trình độ Cao đẳng.
Nghề dạy học/giáo dục là nghề đặc thù vì sản phẩm của nghề là con người, thế hệtrẻ, lực lượng lao động trẻ kế thừa thế hệ cha anh Tính đặc thù còn thể hiện ở chỗcông cụ lao động của nghề lại chính là toàn bộ nhân cách của người làm nghề, do
đó những gì mà SV tiếp thu và hình thành được ở trường CĐ sẽ được truyền thụ lạicho các thế hệ học sinh Vì vậy ý thức BVMT của họ là một thuộc tính nhân cáchcủa người giáo viên sau này, nó không chỉ quy định lối sống, hành vi thói quen thânthiện với MT và BVMT của SV mà còn hình thành ý thức BVMT cho các thế hệhọc sinh
Trang 27Tóm lại, SV là giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thanh niên mới lớn sang tuổi trưởngthành, đây là giai đoạn SV đang theo học một nghề trình độ CĐ và ĐH, lứa tuổi SVtràn đầy khát vọng thành đạt và tự khẳng định mình
1.2.2.2 Khái niệm ý thức bảo vệ môi trường của sinh viên.
Ý thức của SV là ý thức của người trưởng thành, ý thức của trí thức trẻ Ý thứccủa SV đã phát triển ổn định và định hình ở cấp độ ý thức cá nhân Ý thức SV đãđạt đến cấp độ ý thức tự giáo dục
Ý thức BVMT của sinh viên là một thuộc tính nhân cách SV quy định lối sống,thói quen hành vi ứng xử thân thiện với môi trường và tính tự nguyện, tự giác vìmôi trường và BVMT của SV
Nội dung ý thức BVMT của SV thể hiện ở 3 mặt: nhận thức, thái độ và hành vivới môi trường và BVMT
Mặt nhận thức: SV hiểu rõ bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môitrường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh
tế và văn hoá, SV nhận thức được các kiến thức và giá trị môi trường, BVMT,nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường, BĐKH, các cách thức giảm thiểu ônhiễm môi trường, chống BĐKH, những lơi ích của môi trường sống trong lành vàphát triển bền vững
Mặt thái độ: SV thể hiện thái độ lựa chọn, thái độ cảm xúc, thái độ đánh giá cácvấn đề của môi trường, BVMT, hành vi của con người đối với môi trường vàBVMT, thể hiện trách nhiệm cá nhân trước môi trường và BVMT, hình thành đạođức môi trường,
Mặt hành vi: SV thể hiện sự năng động của ý thức khiến cho lối sống, hành viứng xử với môi trường được điều khiển bởi lý trí SV vận dụng những hiểu biết củamình về môi trường và BVMT và thể hiện sự lựa chọn lối sống tích cực với môitrường và BVMT chuyển hoá thành năng lực hành vi tác động vào môi trường vàBVMT để gìn giữ môi trường sống trong lành và xã hội phát triển bền vững
Tóm lại ý thức BVMT của sinh viên quá trình tự ý thức và hoàn thiện ý thức
BVMT đã được hình thành từ nhà trường phổ thông ở cấp độ ý thức cá nhân nâng cao lên cấp độ ý thức xã hội.
1.2.2.3 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
Ý thức BVMT của SV đã được hình thành ổn định bởi ở cấp độ ỳ thức cá nhân
và tự ý thức Các trường CĐ, ĐH tiếp tục giáo dục ý thức BVMT bằng cách bổsung, hoàn thiện về các mặt nhận thức, thái độ và hành vi với môi trường vàBVMT Quá trình hoàn thiện ý thức BVMT của SV ở trường CĐ, ĐH có nhữngkhác biệt với nhà trường phổ thông ở một số mặt sau:
Trang 28Thông qua con đường dạy học các học phần khoa học cơ bản và chuyên ngành.
Ở một số ngành đào tạo, kiến thức về môi trường và BVMT được cấu thành ngaytrong nội dung các học phần (ví dụ ngành địa chất, lâm nghiệp, nông nghiệp, thuỷsản, thuỷ lợi, công nghệ sinh học, ngành SP Sinh học, SP Địa lý, SP Hoá học, SPGDCD, giáo dục mầm non v.v ) đã củng cố và làm sâu sắc cơ sở khoa học củanhững tri thức về môi trường, ô nhiễm môi trường, BĐKH, BVMT, cân bằng sinhthái, phát triển bền vững và thái độ ứng xử của một trí thức với các vấn đề về môitrường và BVMT
Thông qua các hoạt động BVMT trong nhà trường Hoạt động BVMT trongtrường CĐ, ĐH là những hoạt động vệ sinh giảng đường, phòng thí nghiệm thựchành, sân trường, ký túc xá Hoạt động tôn tạo cảnh quan nhà trường (trồng câyxanh, trồng hoa, cây cảnh, chăm sóc cây xanh Các hoạt động tuyên truyền,truyền thông của nhà trường về chủ đề môi trường và BVMT, các hội thi, triểnlãm về chủ đề môi trường và BVMT Những hoạt động này hoàn toàn do SV tựquản và thực hiện dưới sự chỉ đạo của Phòng, Khoa chức năng và tổ chức Đoàn,Hội SV Những hoạt động BVMT trong phạm vi nhà trường là cơ hội để ý thứcBVMT của SV được tương tác với các SV khác về tất cả các mặt trong ý thứcBVMT Qua những hoạt động như vậy, ý thức BVMT của SV được bổ sung,hoàn thiện và được thử thách
Thông qua những hoạt động BVMT ngoài nhà trường Đây là hoạt động xã hộigắn nhà trường với xã hội, thể hiện vai trò trường CĐ, ĐH là trung tâm khoa học –văn hoá của địa phương Thông qua HĐCĐ, ý thức BVMT của SV có cơ hội đượcthể hiện trong một môi trường rộng hơn, thực tế hơn Ở môi trường này SV thểhiện khát vọng dấn thân vì cộng đồng, có tầm nhìn rộng lớn hơn về tầm mức quantrọng và thiết thực của việc BVMT và xây dựng một lối sống thân thiện với môitrường không chỉ cho riêng mình mà còn cho cả cộng đồng HĐCĐ BVMT giúpcho ý thức trách nhiệm của một thanh niên trí thức với cộng đồng xã hội trong việcthúc đẩy xây dựng một xã hội thân thiện với môi trường và phát triển bền vững.Các con đường giáo dục ý thức BVMT cho SV kể trên có vai trò và vị trí nhưnhau trong việc hoàn thiện ý thức BVMT cho SV Tuy nhiên các hoạt động BVMTtrong nhà trường và HĐCĐ về BVMT cho SV ở ngoài nhà trường sẽ là chủ đạo đểthúc đẩy ý thức BVMT của SV phát triển ở cấp độ ý thức xã hội nhằm hình thành ở
SV một lối sống, thói quen ứng xử thân thiện với môi trường và phát triển thànhđạo đức môi trường của SV Với SV sư phạm, đạo đức môi trường của thầy cô giáo
sẽ là công cụ giáo dục đạo đức môi trường cho các thế hệ học sinh
Trang 29Tóm lại giáo dục ý thức BVMT cho SV là một mặt giáo dục toàn diện của nhà trường CĐ, ĐH lấy trọng tâm là tổ chức các hoạt động BVMT trong và ngoài nhà trường nhằm hoàn thiện và thúc đẩy ý thức BVMT của SV phát triển ở cấp độ ý thức xã hội.
1.3 Hoạt động cộng đồng trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
1.3.1 Khái niệm cộng đồng
Xuất phát từ tiếng Latinh “cộng đồng” (communis) có nghĩa là “chung/công
cộng/ được chia sẻ với mọi người hoặc nhiều người” căn cứ vào đặc điểm/ dấu hiệu
chung này để phân biệt nó với cộng đồng khác
Nguyễn Kim Liên (2010) quan niệm có 2 loại cộng đồng: Những người dân cùngchung sống với nhau trong một khu vực địa lý, cùng chia sẻ với nhau những lợi ích
vật chất, tinh thần, có những mối quan tâm chung về chuẩn mực xã hội gọi là cộng
đồng thể; Nhiều nhóm người, nhiều cộng đồng người cho dù không sinh sống cùng
nhau trong địa vực nhưng có chung những sở thích, nhu cầu, giá trị chung hay riêng
biệt thì gọi là cộng đồng tính
“Cộng đồng là một tập hợp người nào đó với hai dấu hiệu quan trọng: 1) Họcùng tương tác (tác động qua lại” với nhau; 2) họ cùng chia sẻ với nhau (có chungvới nhau) một hoặc vài đặc điểm vật chất hay tinh thần nào đó” [17, Tr.12]
“Cộng đồng là một thực thể sống/một xã hội thu nhỏ phức tạp được kết cấu bềnvững bởi nền tảng văn hoá, truyền thống chung có gốc rễ sâu xa, bởi nhu cầu, tìnhcảm và ý thức của những thành viên cộng đồng
Quá trình tương tác giữa người dân trong cộng đồng là cơ sở nảy sinh ý thứccộng đồng, nhu cầu cộng đồng và đồng thời cũng là để đáp ứng nhu cầu có mộtcuộc sống tốt đẹp hơn cho mỗi thành viên cộng đồng
Cấu trúc của cộng đồng có thành viên là cá nhân, là gia đình, dòng họ, là các tổchức đại diện của người dân, tổ chức chính quyền Cộng đồng chịu tác động từ phíangoài: chính sách vĩ mô chung của Nhà nước, quốc gia và chịu tác động từ bản thâncác mối quan hệ nội tại bên trong cộng đồng” [17, Tr.40]
Nguyễn Hữu Nhân (2004) cho rằng có 2 dạng cộng đồng dựa trên cấu trúc xã hội
và tính chất liên kết xã hội: Dạng cộng đồng tính là những nhóm xã hội có các liên kết xã hội dựa trên tình cảm, ý thức, chuẩn mực xã hội; Dạng cộng đồng thể là
những nhóm người cụ thể có liên kết với nhau ở những quy mô khác nhau (làng, xã,quốc gia, nhân loại) Cộng đồng thể có 2 nghĩa: 1) là một nhóm dân cư cùng sinhsống trong một địa vực nhất định, có cùng các giá trị và tổ chức xã hội cơ bản; 2) làmột nhóm dân cư có cùng mối quan tâm cơ bản [20 Tr.10] Ông đưa ra quan niệm
Trang 30cộng đồng “được hiểu là một nhóm dân cư sống trong một thực thể xã hội, trongmột địa vực nhất định, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và có cùng một giá trị cơ bản”[20, Tr 32]
Từ những phân tích trên, cộng đồng mà chúng tôi tổ chức để giáo dục ý thức
BVMT cho SV là một tập hợp người được tổ chức chặt chẽ, trong đó bao gồm SV
khối các trường CĐ, ĐH và nhân dân trên địa vực TP Đà Lạt cùng tiến hành các hoạt động chung BVMT, nhằm xây dựng TP Đà Lạt xanh, sạch, đẹp và phát triển bền vững.
1.3 2 Khái niệm hoạt động cộng đồng
Cộng đồng đề cập ở trên (1.3.1) là một cộng đồng người, nhiều nhóm người, mỗinhóm người (nhóm nhỏ) có những quan tâm riêng, nhu cầu riêng, nhưng cùngchung sống trong một địa vực, trong một đơn vị hành chính (nhóm lớn) nên cũng cónhững giá trị chung, quan tâm chung Mỗi cá nhân trong cộng đồng để sở hữunhững giá trị chung của cộng đồng, họ phải cùng tiến hành các liên kết xã hội - đó
là các hoạt động chung của cộng đồng
Khi xem xét khái niệm phát triển cộng đồng ở góc độ tổ chức HĐCĐ Flo Frank
& Anne Smith đã quan niệm “Phát triển cộng đồng là một tiến trình, ở đó mọi thànhviên cộng đồng cùng nhau thực hiện công việc tập thể và cùng nhau đưa ra những
giải pháp cho những vấn đề chung” [theo 17, Tr 63].
Nguyễn Kim Liên (2010) đưa ra khái niệm phát triển cộng đồng “là tiến tình giảiquyết một số vấn đề, khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự pháttriển không ngừng về đời sống vật chất, tinh thần của người dân thông qua việcnâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa ngườidân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trongkhuôn khổ cộng đồng” [17, Tr 64] Với khái niệm này có thể coi phát triển cộngđồng như là một chương trình hoạt động xã hội; một phong trào hoạt động xã hội;một phương pháp hoạt động xã hội; một quá trình xã hội; một lĩnh vực nghiên cứu;một quan điểm/ triết lý xã hội và một hệ thống lý luận
Như vậy HĐCĐ là những lát cắt ngang của từng giai đoạn trong tiến trình pháttriển cộng đồng mà ở đó các thành viên cộng đồng cùng hành động hướng tới giảiquyết vấn đề của cộng đồng dưới sự dẫn dắt của một tổ chức
Từ các phân tích trên chúng tôi quan niệm HĐCĐ là hoạt động xã hội của các
thành viên cộng đồng cùng nhau giải quyết vấn đề của cộng đồng dưới sự tác động
và hướng dẫn của một tổ chức, qua đó các thành viên cộng đồng cùng hưởng lợi từ những giá trị mà hoạt động cộng đồng đem lại.
Trang 311.3.3 Khái niệm về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên thông qua
hoạt động cộng đồng.
HĐCĐ của SV trong lĩnh vực BVMT là hoạt động xã hội do nhà trường CĐ, ĐH
tổ chức hoặc phối hợp tổ chức nhằm đưa SV tham gia các hoạt động BVMT cùngvới người dân địa phương, với HS - SV trong cùng địa vực nhằm khơi dậy, thúc đẩy
ý thức BVMT của cộng đồng và giải quyết một số vấn đề về môi trường trên địabàn sinh sống của cộng đồng
HĐCĐ của SV trong lĩnh vực BVMT có thể do trường CĐ, ĐH chủ động tổchức, chủ động tìm và liên hệ với đối tác để phối hợp tổ chức các hoạt động BVMTcho SV và các lực lượng xã hội ngoài nhà trường
HĐCĐ của SV trong lĩnh vực BVMT cũng có thể trường CĐ, ĐH là đối tác phốihợp tổ chức các hoạt động BVMT cho SV trên cơ sở đề xuất phối hợp của các lựclượng xã hội ngoài nhà trường hay do yêu cầu của cấp chính quyến, đoàn thể tại địaphương
HĐCĐ của SV trong lĩnh vực BVMT bao gồm nhiều nội dung, hình thức hoạtđộng như mít tinh, diễu hành, truyền thông trong cộng đồng về môi trường, hội thảokhoa học về môi trường và BVMT với sự tham gia rộng rãi của tất các các lựclượng xã hội trong cùng địa vực, những hoạt động cùng nhau giải quyết sự cố môitrường đột xuất hoặc các vấn để môi trường trên địa bàn cư trú
Cho dù trường CĐ, ĐH là đối tác phối hợp tổ chức thì các nhà trường CĐ, ĐHcũng hoàn toàn chủ động tổ chức đưa SV tham gia các HĐCĐ về BVMT cùng vớicác lực lượng xã hội khác như là HĐCĐ do chính nhà trường chủ động tổ chức
Từ các phân tích trên có thể hiểu giáo dục ý thức BVMT cho SV thông qua các
HĐCĐ là tổ chức các hoạt động xã hội về BVMT cho SV tham gia cùng với các lực lượng xã hội khác ngoài nhà trường nhằm hoàn thiện và nâng cao ý thức BVMT của mỗi SV, giáo dục tinh thần trách nhiệm xã hội của SV đối với MT và BVMT.
1.3.4 Các hoạt động cộng đồng trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên
HĐCĐ là những hoạt động chung BVMT giữa SV và thanh niên, cư dân địaphương, SV các trường CĐ, ĐH trong cùng địa giới hành chính HĐCĐ có thể diễn
ra bên trong nhà trường hay ngoài nhà trường Có một số dạng HĐCĐ thích hợp vớinhà trường CĐ, ĐH như sau:
1.3.4.1 Hoạt động câu lạc bộ về môi trường
Mục đích hoạt động của câu lạc bộ (CLB) về môi trường là giúp các thành viênCLB thể hiện và chia sẻ những hiểu biết về môi trường, lòng nhiệt huyết BVMT,
Trang 32những kỹ năng cụ thể để BVMT, thoả mãn niềm đam mê nghiên cứu về môi trường,BVMT và bảo vệ đa dạng sinh học.
Nội dung hoạt động của CLB là trao đổi sâu về các vấn đề môi trường, hoặc mộtchủ đề về môi trường và BVMT như sưu tập, bảo tồn, phục hồi, khảo sát các giốngcây, con đặc hữu ở địa phương có nguy cơ bị tuyệt chủng, hoặc nghiên cứu sựBĐKH ở địa phương
Hình thức hoạt động là tổ chức thành lập CLB, thành lập Ban chủ nhiệm CLB,xác định mục tiêu, nội dung, tên gọi của CLB, thảo luận và xây dựng điều lệ hoạtđộng, nội quy hoạt động, kế hoạch hoạt động và lịch sinh hoạt CLB
Ban chủ nhiệm CLB lựa chọn chủ đề, phân công người chuẩn bị để trình bày báocáo, các thành viên CLB được bày tỏ ý kiến, tranh luận, thống nhất và cùng hànhđộng
Việc thành lập CLB vì môi trường phải được sự chấp thuận của lãnh đạo nhàtrường và chính quyền địa phương
Thành viên của CLB là những người có cùng đam mê và sở thích hoạt động vìmôi trường bao gồm SV trong cộng đồng SV trên địa bàn, giảng viên, người dân địaphương, những người trong các Hội sinh vật cảnh, những nghệ nhân trồng hoacảnh, có thể có sự tham gia của doanh nhân…
SV tham gia CLB có thể phát huy lợi thế về hiểu biết khoa học, lòng nhiệt huyết,tinh thần dấn thân của tuổi trẻ về môi trường và BVMT, những thành viên CLB ởngoài trường phát huy lợi thế về kinh nghiệm, kỹ năng chuyên sâu về môi trường vàBVMT, sự am hiểu đa dạng sinh học ở địa phương
Sức lan toả ý nghĩa BVMT của CLB về môi trường phụ thuộc vào hiệu quả hoạtđộng của CLB và cách thức truyền thông xây dựng hình ảnh CLB
Hạn chế của dạng HĐCĐ này là sự số lượng thành viên tham gia phụ thuộc vào
sự đam mê và hứng thú của các thành viên, do đó sự huy động đông đảo SV và cưdân địa phương tham gia là không thể và vì thế sức lan toả ý nghĩa BVMT cũng bịgiới hạn
1.3.4.2 Tổ chức diễn đàn với các chủ đề về môi trường
Mục đích của diễn đàn với các chủ đề về môi trường là truyền thông rộng rãi chocộng đồng những vấn đề nóng của môi trường toàn cầu nhưng đang tác động tiêucực đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của cộng đồng, hoặc tuyên truyền, giớithiệu chủ trương chính sách mới của Nhà nước về môi trường và BVMT, hoặc kêugọi sự chung tay của cộng đồng chống lại những hành vi xâm hại môi trường Bảnchất của diễn đàn về môi trường là tạo dư luận xã hội tích cực, thu hút sự chú ý củacộng đồng vào những vấn đề cấp bách về môi trường và BVMT để khuyến khích
Trang 33tạo ra sự cộng hưởng nhận thức đúng đắn, thái độ mạnh mẽ và hành vi tích cựcBVMT cùa toàn thể cộng đồng vào mục đích BVMT.
Nội dung của diễn đàn về môi trường phải là những vấn đề nóng về môi trườngnhư sự thất thường của thời tiết, thực trạng ô nhiễm môi trường trên địa phương, sựsuy giảm đa dạng sinh học, sự biến mất của một số loài thực vật, động vật, sự xuấthiện của loài sinh vật ngoại lai, những chủ trương chính sách lớn của Nhà nước vàđịa phương về BVMT, những hành động xâm hại môi trường đang diễn ra ở địaphương cần sự lên án và ngăn chặn v.v…
Hình thức tổ chức diễn đàn về chủ đề môi trường như là hình thức hội thảo khoahọc trong các nhà trường CĐ, ĐH, hội thảo có thể diễn ra tại nhà trường, cũng cóthể diễn ra ở các trường CĐ, ĐH khác trên địa bàn Đối với diễn đàn mà đối tượngtham gia là thanh niên địa phương và SV, thì nhà trường CĐ, ĐH chủ trì tổ chức,chính quyền và đoàn thể ở địa phương là bên phối hợp, chủ đề và hình thức tổ chứccủa diễn đàn này là những vấn đề cụ thể và thiết thực với cộng đồng cư dân
Nguồn nhân lực tham gia diễn đàn về môi trường là SV, giảng viên các trường
CĐ, ĐH trên địa bàn, những nhà khoa học, những trí thức, những người nông dânđang đối mặt hàng ngày với BĐKH làm việc và sinh sống trên địa bàn, diễn đàn vềmôi trường cần thành lập đội ngũ báo cáo viên nòng cốt, khuyến khích sự tranhluận, phản biện Nguồn lực vật chất là từ các nhà trường, hiệp hội khoa học, cácdoanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao
SV tham gia diễn đàn về môi trường có dịp trình bày những ý tưởng sáng tạo củamình về BVMT, xây dựng môi trường xanh, phát triển bền vững, có cơ hội tự dobiểu đạt ý kiến của mình về vấn đề môi trường và BVMT Diễn đàn tạo cơ hội cho
SV có dịp so sánh những hiểu biết, những quan điểm về môi trường và BVMT củamình với các diễn giả khác để học hỏi và điều chỉnh, SV chuẩn bị tham gia diễn đàn
là dịp tìm hiểu sâu hơn, khoa học hơn về cả lý luận, thực tiễn và phương phápnghiên cứu về môi trường và BVMT Diễn đàn cũng là dịp SV củng cố thêm mặtnhận thức, tự kiểm tra, so sánh điều chỉnh mặt thái độ trong ý thức BVMT củamình, diễn đàn về môi trường không chỉ tác động đến nâng cao ý thức BVMT củanhững SV tham gia mà còn có tác dụng bồi dưỡng, nâng cao ý thức BVMT chonhững SV tham dự diễn đàn
Hạn chế của việc tổ chức diễn đàn về chủ đề môi trường là việc lựa chọn chủ đềhội thảo đòi hỏi phải đúng và trúng những vần đề nóng của môi trường đang tácđộng trực tiếp đến đời sống và sinh hoạt của cộng đồng hoặc những vấn đề thời sự -chính trị về môi trường đang thu hút sự chú ý của dư luận Một hạn chế khác của
Trang 34diễn đàn với các chủ đề về môi trường là SV làm diễn giả không nhiều, SV thamgia dự diễn đàn cũng có sự lựa chọn theo Khoa, ngành đào tạo.
Việc tổ chức diễn đàn với các chủ đề về môi trường trong các trường CĐ, ĐHphải đảm bảo đúng quy trình tổ chức một diễn đàn, hội thảo khoa học trong quy chếhoạt động khoa học của từng trường
1.3.4.3 Hội thi / cuộc thi về chủ đề bảo vệ môi trường
Mục đích của việc tổ chức hội thi / cuộc thi về chủ đề BVMT nhằm giáo dục môi
trường, nâng cao ý thức BVMT cho SV, khuyến khích SV có những ý tưởng sángtạo, cách kiến giải mới về vấn đề môi trường và BVMT mà chủ đề hội thi/cuộc thiđề ra, qua đó nâng cao nhận thức của SV về môi trường và BVMT, tạo cơ hội chohọ thể hiện thái độ của mình trước các vấn đề về môi trường, thể hiện những kỹnăng và thói quen ứng xử với môi trường và BVMT
Nội dung của hội thi / cuộc thi về chủ đề bảo vệ môi trường là những chủ đề lớncủa quốc gia về môi trường và BVMT (sử dụng tiết kiệm năng lượng, giảm thiểurác thải nhựa, phân loại rác thải sinh hoạt, tái chế sử dụng rác thải sinh hoạt, trồngcây gây rừng, sử dụng tiết kiệm và hợp lý thực phẩm, nông nghiệp sạch, xây dựngmôi trường sống xanh…) Việc lựa chọn chủ đề cho cuộc thi/ hội thi gắn liền vớicác nội dung trên nhưng thiết thực và phù hợp với cộng đồng để tạo sức cuốn hút vàtăng tính thực tiễn (ví dụ: chủ đề hội thi “trái đất xanh- ngôi nhà chung của chúngta” gắn với nội dung xây dựng môi trường sống xanh trong từng đơn vị nhà trường,
ký túc xá, cộng đồng dân cư)
Hình thức tổ chức hội thi / cuộc thi về chủ đề BVMT có thể diễn ra trong mộttrường, cụm trường, có thể có sự tham gia của SV, HS, thanh niên của nhiều đơn vị,cụm dân cư trên địa bàn Mỗi đơn vị trường, cụm dân cư thành lập các đội thi và tổchức luyện tập tham gia hội thi Hội thi / cuộc thi về chủ đề bảo vệ môi trường cóthể kết hợp nhiều hoạt động như sân khấu hoá, kết hợp với chương trình văn nghệ,giới thiệu hình ảnh về hoạt động BVMT của đơn vị mình, triển lãm hoặc tổ chứccác gian hàng trưng bày, bán, tặng những sản phẩm tái chế từ rác thải sinh hoạt,những gian hàng ấm thực các món ăn truyển thống đặc sản của địa phương v.v…
Để tổ chức tốt hội thi / cuộc thi về chủ đề BVMT cần thành lập ban tổ chức hộithi, lựa chọn chủ đề và nội dung thi và thông báo rộng rãi cho các đối tượng thamgia thi, tổ chức các đội dự thi, xây dựng quy chế hội thi/cuộc thi, thành lập ban giámkhảo, chuẩn bị giải thưởng, chuẩn bị chương trình văn nghệ, công bố kết quả, traothưởng và công tác truyền thông môi trường sau hội thi/ cuộc thi
Trang 351.3.4.4 Tổ chức sự kiện về môi trường
Hình thức này được tổ chức nhân các ngày về môi trường của quốc gia, những sựkiện lớn về môi trường (ngày môi trường thế giới, giờ trái đất, ngày hội tết trồngcây, ngày nước thế giới )
Mục đích của hoạt động tổ chức các sự kiện là gây ấn tượng mạnh, thu hút sựchú ý của cộng đồng về những vấn đề môi trường và BVMT, biểu dương lực lượng
và sự đoàn kết thống nhất của cộng đồng chung tay BVMT
Hình thức phổ biến của tổ chức sự kiện về môi trường là tổ chức ngoài trời ở cáctrung tâm khu vực, nơi có thể tập trung được nhiều người, người dân dễ quan sát sựkiện, dễ triển khai các hoạt động truyền thông lan toả sự ảnh hưởng của sự kiện đếncộng đồng Mít tinh là hình thức tập trung nhiều người tham gia, cùng với các hìnhthức tuyên truyền, cổ động, khẩu hiệu, băng rôn, cờ, trống, âm thanh, dựng kỳ đài,những bài phát biểu khai mạc mít tinh của đại diện chính quyền v.v có sức thu hútquần chúng mạnh mẽ theo dõi sự kiện, nhờ đó những thông điệp chính về BVMTcủa sự kiện được truyền tải nhanh và ấn tượng đến cộng đồng
Trong lễ mít tinh, có lễ ra mắt “đội thanh niên sinh viên xung kích BVMT”, cácđội tự quản BVMT của các đoàn thể nhân dân, có sự tham gia của các đoàn thểnhân dân ở địa phương
Sau lễ mít tinh là lễ diễu hành của các lực lượng tham gia bằng các phương tiện
đi bộ, đi xe đạp, xe máy, xe hơi qua những trung tâm đông người thể hiện sự quyếttâm BVMT của cộng đồng Trong nội dung chương trình của tổ chức sự kiện khôngthể thiếu hoạt động trồng cây xanh, thu gom rác thải, vệ sinh đường phố, khơi thôngcống rãnh Những hoạt động này gửi thông điệp mạnh mẽ đến cộng đồng về tráchnhiệm BVMT của mọi người dân
Lực lượng nòng cốt tham gia sự kiện môi trường là SV, HS, thanh niên và đôngđảo người dân trên địa bàn
Để hoạt động tổ chức sự kiện về môi trường thành công đòi hỏi sự chuẩn bị chuđáo và có kế hoạch tỷ mỷ về nội dung, tổ chức, phương tiện và nhân sự
Tổ chức sự kiện về môi trường có tác động mạnh mẽ đến cảm xúc và tinh thầntrách nhiệm BVMT của SV và của những người tham gia
1.3.4.5 Hoạt động chiến dịch bảo vệ môi trường
Hoạt động chiến dịch BVMT là dạng HĐCĐ điển hình vì môi trường và BVMT.Điểm khác biệt của hoạt động này với hoạt động lao động BVMT là ở quy mô vàmức lan toả của hoạt động, hoạt động chiến dịch BVMT không nhằm vào giải quyếtmột sự cố môi trường riêng lẻ trong cộng đồng mà nhằm vào giải quyết những vấn
Trang 36đề môi trường có tầm mức ảnh hưởng lớn trong khu vực cần phải huy động mộtnguồn nhân lực lớn.
Mục đích của hoạt động chiến dịch vì môi trường là huy động nhiều lực lượngtrong cộng đồng chung tay giải quyết một vấn đề môi trường lớn ảnh hưởng lâu dàiđến cộng đồng, qua đó khơi dậy ý thức BVMT, tập hợp sự quan tâm, tinh thần tráchnhiệm BVMT của các lực lượng trong cộng đồng
Hình thức của hoạt động chiến dịch BVMT là hoạt động quy mô lớn, có sự thamgia của nhiều lực lượng trên địa bàn nên phải là cấp chính quyền địa phương chủ trì
tổ chức, các tổ chức, cơ quan trên địa bàn là những đơn vị phối hợp tham gia
Ví dụ: “chiến dịch làm sạch, xanh thành phố” do UBND TP Đà Lạt tổ chứcchuẩn bị cho các Fevtival Hoa Đà Lạt năm 2017, chiến dịch “Vì thành phố ngànhoa” do Thành Đoàn Đà Lạt tổ chức năm 2018 Những chiến dịch BVMT lớn nàyhuy động một lực lượng lớn là SV các trường CĐ, ĐH, trường PTTH, thanh niêncác phường xã trên địa bàn thành phố Chiến dịch diễn ra dài ngày và được tổ chứcchặt chẽ, khoa học
Tác dụng của hoạt động chiến dịch BVMT là kích hoạt ý thức BVMT của SV vànhững người tham gia từ cấp độ ý thức cá nhân được nâng cao lên cấp độ ý thức xãhội SV được tương tác với nhiều đối tượng khác, được giao lưu, tinh thần tráchnhiệm của công dân với môi trường và BVMT lâu nay thường trực trong ý thức của
SV được thể hiện thành những hành động cụ thể và lan toả ra cộng đồng SV có dịpthể hiện khát vọng cống hiến và tự khẳng định, niềm vui, cảm xúc dâng trào khihàng trăm con người cùng nhau chung tay xây dựng cuộc sống xanh, sạch, đẹp Đó
là ý nghĩa tinh thần của hoạt động chiến dịch vì môi trường
1.3.5 Vai trò của các hoạt động cộng đồng trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên.
Học đi đôi với hành là một trong những nguyên lý cơ bản của giáo dục ViệtNam Thực tế cũng cho thấy toàn bộ cuộc sống con người là một hệ thống liên tụccác hoạt động và con người hình thành và phát triển nhân cách trong và bằng chínhnhững hoạt động đó Vì thế đưa con người vào các hoạt động thực tế là con đườnggiáo dục có hiệu quả, kể cả giáo dục BVMT
HĐCĐ trong việc giáo dục ý thức BVMT được tiếp cận như một trong nhữngphương pháp giáo dục BVMT, đó là phương pháp giải quyết vấn đề của cộng đồng.Vấn đề BVMT của cộng đồng mà đề tài quan tâm bao gồm vệ sinh học đường vànơi cư trú, giảm thiểu rác thải rắn, thu gom và phân loại rác thải, chống ô nhiễmnguồn nước, ô nhiễm không khí, tiếng ồn, trồng và chăm sóc bảo vệ cây xanh, sửdụng tiết kiệm điện, nước, các tài nguyên khác, truyền thông về BVMT
Trang 37v.v Những vấn đề môi trường ở trên không chỉ dựa vào ý thức và hành động củamột người để giải quyết mà cần phải là ý thức và việc làm cụ thể của nhiều ngườitrong cộng đồng Như vậy HĐCĐ là nơi mỗi cá nhân bộc lộ ý thức BVMT rõ nhất
và cũng là nơi mỗi người thể hiện thái độ tích cực BVMT thông qua việc tham giacác HĐCĐ về BVMT
Ở góc độ tiến trình phát triển cộng đồng, giáo dục ý thức BVMT thông quaHĐCĐ được tiếp cận như một phương pháp hoạt động xã hội Ở đây, mọi thànhviên cộng đồng được tập hợp lại, được cùng thảo luận về vấn đề môi trường củacộng đồng, thảo luận cách thức giải quyết vấn đề môi trường cộng đồng, phân công,phối hợp hành động và cùng nhau giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của một
tổ chức Trong quá trình hoạt động cùng nhau những hiểu biết về môi trường vàBVMT, những thái độ đối với môi trường, những kỹ năng BVMT của từng thànhviên có dịp cọ xát với những thành viên khác để điều chỉnh những thiếu xót, sai lầmhướng tới sự hoàn thiện bản thân HĐCĐ là hoạt động thực tiễn, là nơi điều chỉnh,thống nhất ý thức BVMT của từng thành viên thành một ý chí thống nhất, đượckiểm tra, giám sát của cộng đồng Trong môi trường HĐCĐ, ý thức BVMT của mỗingười với tư cách ý thức cá nhân nay được nâng cấp lên trình độ ý thức xã hội Ởmức độ này các giá trị chung của cộng đồng về môi trường và BVMT được hìnhthành trở thành các chuẩn mực xã hội của cộng đồng mà các thành viên của nó côngnhận và làm theo
Với sinh viên, việc tham gia các hoạt động chung với thanh niên địa phươngtrong lĩnh vực BVMT sẽ tăng cường ý thức BVMT đã có trong mỗi SV và chuyềnhoá ý thức BVMT lúc đầu mới là ý thức cá nhân nay chuyển hoá lên cấp độ cao hơn
- ý thức xã hội về BVMT
Vì vậy, giáo dục ý thức BVMT cho sinh viên trong nhà trường chưa phải là đủ đểchuyển hoá thành thái độ và hành vi đúng đắn BVMT mà cần phải lan toả ý thứcBVMT của SV ra cộng đồng Những HĐCĐ của SV trong lĩnh vực môi trường sẽ tạonên phong trào xã hội BVMT mạnh mẽ trong cộng đồng cư dân trong cùng địa vực.Tóm lại vai trò của HĐCĐ về BVMT trong việc giáo dục ý thức BVMT của sinhviên thể hiện ở những điểm sau:
- Tích cực hoá ý thức BVMT của SV đã được hình thành trước đó;
- Thử thách tinh thần trách nhiệm với môi trường và BVMT của sinh viên;
- Là môi trường SV tương tác, học hợp tác với người khác, điều chỉnh ý thức cánhân, hướng dẫn hành vi để thực hiện trách nhiệm với môi trường và BVMT;
- Tạo sự thống nhất ý chí của cộng đồng chung tay giải quyết các vấn để của môi trường;
- Tạo động lực và cảm xúc để SV có các hành động dấn thân vì môi trường và BVMT
Trang 381.4 Tổ chức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên thông qua các hoạt động cộng đồng.
1.4.1 Tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh
viên thông qua hoạt động cộng đồng.
Giáo dục ý thức BVMT cho SV thông qua HĐCĐ là thực hiện nguyên lý giáodục gắn nhà trường với xã hội
Nhà trường hình thành ý thức BVMT cho SV là thực hiện chức năng đào tạonguồn nhân lực cho một xã hội phát triển bền vững, xã hội sử dụng nguồn nhân lực
đó để phát triển kinh tế - xã hội theo hướng phát triển bền vững, thân thiện với môitrường , vì vậy nhà trường đưa SV vào hoạt động xã hội là con đường hoàn thiệnsản phẩm đào tạo ở khâu cuối của quy trình đào tạo
HĐCĐ để giáo dục ý thức BVMT cho SV là con đường xã hội hoá ý thức BVMTcủa SV
Ý thức BVMT của SV được hình thành từ bậc học phổ thông và nay tiếp tụcđược hoàn thiện trong trường đại học Các hoạt động giáo dục môi trường thôngqua hoạt động vệ sinh học đường, lao động, thực hành, thực tập, thí nghiệm Nhữnghoạt động này diễn ra trong khuôn khổ nhà trường, do đó tính liên kết xã hội bị giớihạn, không có cơ hội lan toả rộng hơn ra ngoài xã hội Ý thức BVMT của HS, SVđạt tới mức độ ý thức cá nhân
Khi SV tham gia các HĐCĐ về BVMT, ý thức BVMT của từng người được biểuhiện ra bên ngoài, do đó ý thức BVMT của từng thành viên được liên kết với nhautrong một hoạt động có chung mục đích sẽ được nhân lên thành sức mạnh, thành ýthức BVMT của cả cộng đồng
HĐCĐ để giáo dục ý thức BVMT cho SV là điều kiện, môi trường để ý thứcBVMT của SV phát triển ở cấp độ ý thức xã hội về môi trường
Sự tương tác, va đập về nhận thức, thái độ và hành vi, lối sống với môi trường vàBVMT giữa các thành viên cộng đồng là cơ hội để mỗi cá nhân tự điều chỉnh, hoànthiện ý thức BVMT của mình, đồng thời tìm sự đồng thuận về ý thức BVMT củanhiều người tạo nên sức mạnh của cộng đồng trong BVMT Vì vậy tổ chức HĐCĐ
để giáo dục ý thức BVMT cho SV vừa là điều kiện vừa là môi trường để hoàn thiện
ý thức BVMT của SV nâng lên mức là ý thức cộng đồng Khi đó SV nhận thức rõtrách nhiệm xã hội với môi trường và BVMT sinh thái nơi mình và cộng đồng đangsinh sống và làm việc
Trang 391.4.2 Mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên thông qua các
hoạt động cộng đồng.
Mục đích của HĐCĐ về BVMT là hướng tới hình thành tiềm năng, khả năng làmchủ môi trường của các thành viên cộng đồng Có thể hoạt động đó mang lại một sốkết quả vật chất trước mắt nhưng đó không phải là mục đích cuối cùng của HĐCĐ.Liên hiệp quốc đã xác định mục đích của phát triển cộng đồng là “tạodựng/chuẩn bị các điều kiện cho sự thay đổi” chứ chưa phải là sự thay đổi Do vậy
“mục tiêu của HĐCĐ trước hết là mục tiêu con người chứ không phải là những tiến
bộ vật chất Vì thế những tiến bộ vật chất mà không đi cùng với sự phát triển khảnăng của con người và định chế của xã hội thì nó là sự phát triển hời hợt, tạmbợ”[16, Tr.67]
Với quan niệm trên, mục đích giáo dục ý thức BVMT cho SV thông qua HĐCĐbao gồm:
- Hoàn thiện, thúc đẩy, nâng cao ý thức BVMT của sinh viên trong các hoạtđộng xã hội BVMT
- Thúc đẩy việc thực hiện chủ trương “nhà trường gắn liền với xã hội” theonguyên lý giáo dục, củng cố mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà trường, các tổ chức củanhà trường với chính quyền, các tổ chức đoàn thể của địa phương để tạo điều kiệncho SV tham gia cùng với người dân trong các hoạt động về môi trường, BVMTcùng xây dựng môi trường sống xanh, bền vững
- Đảm bảo sự tham gia tối đa của sinh viên trong các hoạt động xã hội thúc đẩytiến trình phát triển của cộng đồng về môi trường
Mục đích cao nhất của việc giáo dục ý thức BVMT cho SV thông qua HĐCĐ làhình thành ở SV đạo đức môi trường, lối sống thân thiện với môi trường, năng lựclàm chủ đối với môi trường cho dù sinh viên sinh sống và làm việc bất cứ nơi đâu
1.4.3 Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho sinh viên thông qua
các hoạt động cộng đồng.
HĐCĐ là một trong những phương pháp giáo dục môi trường cho sinh viên (còngọi là phương pháp hoạt động thực tiễn hoặc phương pháp giải quyết các vấn đềmôi trường của cộng đồng
Nội dung của HĐCĐ không phải là những bài học về môi trường và BVMT trênlớp học mà là những hoạt động thực tiễn của SV cùng với người dân trên địa bàncùng nhau giải quyết vấn đề môi trường trong địa vực của mình
HĐCĐ về môi trường và BVMT tạo ra sự thay đổi hành vi, thói quen, lối sống,cách ứng xử với môi trường của các công dân trong địa vực, đồng thời nó đòi hỏi
Trang 40tinh thần tự giác, tự nguyện, sự dấn thân của các thành viên cộng đồng trong việcBVMT.
Từ các phân tích trên, nội dung của HĐCĐ nhằm giáo dục ý thức BVMT cho SVbao gồm:
1.4.3.1 Giáo dục ý thức cá nhân về môi trường thông qua các hoạt động cộng đồng.
Ý thức BVMT của SV đã được hình thành từ khi kết thúc bậc học phổ thông và ởcấp độ ý thức cá nhân Ở cấp độ này những hành động thân thiện với môi trường vàBVMT được thực hiện dưới sự chi phối của ý thức BVMT nhưng kèm theo các điềukiện từ bên ngoài là nội quy, quy chế, quy định về BVMT của nhà trường và cộngđồng Ở cấp độ này SV ít có những hành động hoàn toàn tự nguyện và dấn thân vìmôi trường
HĐCĐ là môi trường, điều kiện để hoàn thiện ý thức BVMT của từng SV,chuyển hoá ý thức BVMT ở cấp độ cá nhân thành cấp độ ý thức xã hội, ý thức cộngđồng về BVMT Ở bình diện này, ý thức BVMT thường trực trong suy nghĩ, hànhđộng của SV dẫn đến nhận thức BVMT là trách nhiệm của bản thân nên các hànhđộng BVMT trở nên tự giác, tự nguyện và tích cực
1.4.3.2 Giáo dục về thái độ tích cực đối với môi trường thông qua các hoạt động cộng đồng.
HĐCĐ trong lĩnh vực BVMT là một dạng hoạt động xã hội, SV tham gia cáchoạt động về môi trường và BVMT với các lực lượng xã hội khác, trong đó phầnlớn HĐCĐ trong lĩnh vực BVMT diễn ra ở ngoài nhà trường nên tính tự giác vàtính kỷ luật của SV là yếu tố quyết định hiệu quả của HĐCĐ về BVMT
Khi HĐCĐ diễn ra ngoài nhà trường, các tác động kiểm tra, giám sát hoạt độngcủa CBQL, GV sẽ giảm đi, do không gian HĐCĐ rộng và cùng hoạt động với cáclực lượng xã hội khác ngoài nhà trường nên SV hoạt động độc lập dựa vào tính tựgiác và ý thức trách nhiệm của mình
Lúc đầu SV được chọn lựa tham gia HĐCĐ bằng ý thức BVMT ở cấp độ ý thúc
cá nhân đã có của mình dưới sự giám sát của CBQL, khi tham gia HĐCĐ với việcthấm nhuần ý nghĩa xã hội của HĐCĐ về BVMT và sự tương tác với các đối táckhác ngoài xã hội cùng tham gia hoạt động, tính tự giác của SV được chuyển hoádần thành tính tự nguyện, tính tích cực cá nhân chuyển hoá dần thành tính tích cực
xã hội
Sự tương tác với các đối tác khác ngoài nhà trường trong các HĐCĐ về BVMT diễn
ra sự cọ xát ý thức BVMT của mỗi cá nhân, sự thử thách lòng tự trọng mỗi SV vì danh