1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIÁO dục PHÒNG CHỐNG tảo hôn CHO học SINH TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG dào SAN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU dựa vào CỘNG ĐỒNG copy

133 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 4,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yếu tố ảnh hưởng đến kết quả huy động các lực lượng cộng đồng trong giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh trường THPT Dào San...56 3.1.. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

VŨ HỮU KIÊN

GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG TẢO HÔN CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DÀO SAN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH

LAI CHÂU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Minh Thành

Hà Nội, năm 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn khoa học của

TS Trần Thị Minh Thành Những vấn đề được trình bày trong luận văn, các sốliệu, kết quả, dẫn chứng là do tôi tự tìm hiểu, có sự tham khảo, sưu tầm và kếthừa những nghiên cứu của tác giả đi trước và trong các tài liệu của các cơ quanchuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã có liên quan

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những nghiên cứu, những số liệu

và những nội dung đã được trình bày trong bản luận văn của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

TÁC GIẢ

Vũ Hữu Kiên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn khoa học của

TS Trần Thị Minh Thành đã luôn tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ em trongquá trình thực hiện luận văn này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm HàNội, Khoa Tâm lý giáo dục đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình họctập và đóng góp những ý kiến quý báu để em hoàn thành luận văn

Trong thời gian nghiên cứu tình trạng tảo hôn của học sinh dân tộc thiểu

số trường THPT Dào San, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu được sự quan tâmcủa Đảng ủy, HĐND, UBND và các hội, đoàn thể trong đó cán bộ phụ trách tưpháp của bộ phận một cửa và Mặt trận tổ quốc, hội phụ nữ xã, các ban ngànhđoàn thể, tổ chức hội xã Dào San và 7 xã thuộc khu vực tuyển sinh của nhàtrường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong công tác hồi cứu số liệu qua cácnăm từ 2017 đến 3 tháng đầu năm 2019, những cặp vợ chồng đã đăng ký kết hôn

để làm cơ sở nghiên cứu Cán bộ chuyên trách và cộng tác viên Dân số - Kếhoạch hóa gia đình, lãnh đạo và cán bộ Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa giađình huyện Phong Thổ đã phối hợp và tạo điều kiện để điều tra, khảo sát vàphỏng vấn trường hợp tảo hôn Trung tâm y tế huyện Phong Thổ cung cấp sốliệu trẻ suy dinh dưỡng và những cặp vợ chồng tảo hôn qua các năm

Do trình độ, năng lực của bản thân và thời gian còn hạn chế, luận vănchắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được những ýkiến đóng góp của các thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

TÁC GIẢ

Vũ Hữu Kiên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

3.1 Khách thể nghiên cứu 4

3.2 Đối tượng nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5

6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu 5

6.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu 5

6.3 Giới hạn khách thể khảo sát: 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 5

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5

7.3 Phương pháp xử lý dữ liệu bằng thống kê toán học 7

8 Cầu trúc của đề tài 7

CHƯƠNG 1 8

CƠ SỞ LÝ LUẬN GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG TẢO HÔN CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DÀO SAN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8

THEO SỐ LIỆU RÀ SOÁT 8,097 TRẺ EM 12-18 TUỔI TẠI 146 THÔN, BẢN Ở CÁC TỈNH HÀ GIANG, LAI CHÂU VÀ QUẢNG TRỊ, TỶ LỆ CÁC TRƯỜNG HỢP KẾT HÔN TRẺ EM Ở TỈNH LAI CHÂU LÀ CAO NHẤT: 19.43% QUA KHẢO SÁT SƠ BỘ TẠI CÁC HUYỆN, TRONG NĂM 2015 TOÀN TỈNH CÓ 300 TRƯỜNG HỢP TẢO HÔN VỢ, 241 TRƯỜNG HỢP TẢO HÔN CHỒNG, 272 TRƯỜNG HỢP TẢO HÔN CẢ VỢ CẢ CHỒNG TRONG ĐÓ, TẬP TRUNG CHỦ YẾU Ở MỘT SỐ DÂN TỘC THÁI, MÔNG, DAO TÍNH ĐẾN THÁNG 6 NĂM 2017, TOÀN TỈNH CÓ 257 TRƯỜNG HỢP TẢO HÔN/ 963 TRƯỜNG HỢP KẾT HÔN [15] 10

Nguyên nhân khách quan: 12 Một là, do ảnh hưởng của những phong tục tập quán lạc hậu Ở nước ta có những tục lệ, nghi lễ đã

ăn sâu vào đời sống cộng đồng và có sức ảnh hưởng nhất định qua nhiều thế hệ người Việt Nam Các quan hệ hôn nhân và gia đình cũng không nằm ngoài sự chi phối đó, có những nghi lễ cho tới nay vẫn được duy trì mặc dù lạc hậu và theo kiểu "Phép vua thua lệ làng" Ví dụ, một số đồng bào dân tộc thiểu số có phong tục tập quán lấy vợ, lấy chồng mà chỉ cần sự đồng ý của những người đứng đầu trong làng hoặc của cha mẹ hai bên nam nữ theo kiểu cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy; hay như tục lệ bắt vợ của người Mông, kéo vợ của người Dao ở vùng Tây Bắc Tục bắt vợ đã từng được coi là một nét đẹp văn hóa, nhưng hiện nay tục bắt vợ đã kéo theo nạn tảo hôn trở nên phổ

Trang 5

nhà nào cũng có tâm lý muốn sớm có con đàn cháu đống, thêm lao động cho gia đình Nhà nào có con gái thì muốn gả sớm để bớt miệng ăn, nhà nào có con trai thì muốn cưới vợ sớm để lo toan cuộc sống Do tâm lý trên mà rất nhiều cặp vợ chồng đã lấy nhau khi chưa đủ tuổi mà pháp luật

cho phép 12

Hai là, do ảnh hưởng của mặt trái nền kinh tế thị trường Khi nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, con người dần biến đổi để thích nghi được với những điều kiện mới Họ có quan điểm sống đơn giản hơn, cởi mở, táo bạo hơn thế hệ trước, mọi người thiết lập các mối quan hệ với nhau một cách dễ dàng dẫn đến việc chung sống với nhau như vợ chồng giữa nam và nữ (sống thử) trở nên hết sức bình thường, kể cả ở tầng lớp có học thức (học sinh, sinh viên) Điều đó đã dẫn đến những trường hợp phải cưới chui khi đôi nam nữ chưa đủ tuổi và điều kiện kết hôn, dẫn đến tỉ suất sinh con vị thành niên tăng lên 12

Ba là, do quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với các trường hợp tảo hôn còn chưa phù hợp, không đủ sức răn đe đối ở nước ta hiện nay Với đa số những cặp vợ chồng nghèo, họ sẽ không có khả năng nộp phạt, và trong trường hợp đó, khả năng thực hiện các biện pháp cưỡng chế nộp phạt của chính quyền địa phương là điều không thể thực hiện được Do không có hình thức chế tài nào khác nên các cặp vợ chồng nghèo vẫn tự do kết hôn khi chưa đủ tuổi mà không lo bị xử phạt Ngoài ra cũng có không ít cặp tảo hôn sẵn sàng nộp phạt khi tảo hôn Họ coi việc nộp phạt là đã tuân thủ pháp luật và sau khi nộp phạt thì họ đương nhiên được xã công nhận là vợ chồng theo pháp luật 13

Bên cạnh đó, một số nguyên nhân khách quan khác cũng được kể đến, như công tác giáo dục giới tính, sức khoẻ sinh sản vị thành niên còn khá hạn chế, mới chỉ dừng lại ở các thành phố lớn, chưa trú trọng hoặc triển khai ở các vùng nông thôn, miền núi Mặt khác, một số gia đình mải làm ăn, không quan tâm đến sự phát triển tâm lý cũng như thể chất của con em mình, hay một số gia đình bố mẹ ly hôn, cãi nhau tạo tâm lý chán chường, bất cần, buông thả ở một bộ phận thanh niên Vì vậy, nhiều em đã làm cha, làm mẹ khi đang độ tuổi vị thành niên 13

1.2 Một số khái niệm cơ bản 17

1.2.1 Giáo dục 17

1.2.2 Phòng chống tảo hôn 19

1.2.3 Cộng đồng 22

1.3 Một số vấn đề về tảo hôn ở học sinh 23

1.3.3 Ảnh hưởng của tảo hôn đối với học sinh THPT 23

1.4 Giáo dục phòng, chống nạn tảo hôn cho học sinh THPT dựa vào cộng đồng 24

1.4.1 Mục tiêu giáo dục phòng chống tảo hôn học sinh THPT dựa vào cộng đồng 24

1.4.2 Nội dung giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh THPT dựa vào cộng đồng 25

1.4.3 Hình thức tổ chức giáo dục phòng chống tảo hôn học sinh dựa vào cộng đồng 28

Trang 6

CHƯƠNG 2 35

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG TẢO HÔN CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT DÀO SAN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG 35

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 35

2.2 Khái quát chung về khảo sát thực trạng 37

2.3 Thực trạng tảo hôn học sinh trường THPT Dào San huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu 40

TỶ LỆ TẢO HÔN Ở TỈNH LAI CHÂU ĐƯỢC ĐÁNH GIÁ LÀ KHÁ CAO SO VỚI CÁC TỈNH KHÁC TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY THEO SỐ LIỆU THỐNG KÊ CỦA ỦY BAN DÂN TỘC VÀ TỔNG CỤC THỐNG KÊ, LAI CHÂU LÀ MỘT TRONG 10 TỈNH CÓ TỶ LỆ TẢO HÔN, HÔN NHÂN CẬN HUYẾT THỐNG CAO TRONG CẢ NƯỚC THEO SỐ LIỆU RÀ SOÁT 8,097 TRẺ EM 12-18 TUỔI TẠI 146 THÔN, BẢN Ở CÁC TỈNH HÀ GIANG, LAI CHÂU VÀ QUẢNG TRỊ, TỶ LỆ CÁC TRƯỜNG HỢP KẾT HÔN TRẺ EM Ở TỈNH LAI CHÂU LÀ CAO NHẤT: 19.43% QUA KHẢO SÁT SƠ BỘ TẠI CÁC HUYỆN, TRONG NĂM 2015 TOÀN TỈNH CÓ 300 TRƯỜNG HỢP TẢO HÔN VỢ, 241 TRƯỜNG HỢP TẢO HÔN CHỒNG, 272 TRƯỜNG HỢP TẢO HÔN CẢ VỢ CẢ CHỒNG TRONG ĐÓ, TẬP TRUNG CHỦ YẾU Ở MỘT SỐ DÂN TỘC THÁI, MÔNG, DAO TÍNH ĐẾN THÁNG 6 NĂM 2017, TOÀN TỈNH CÓ 257 TRƯỜNG HỢP TẢO HÔN/ 963 TRƯỜNG HỢP KẾT HÔN 40

2.3.1 Thực trạng về các đối tượng tảo hôn tại trường THPT Dào San huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu 42

2.3.2 Phương pháp giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh trường THPT Dào San huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu dựa vào cộng đồng 55

2.3.3 Yếu tố ảnh hưởng đến kết quả huy động các lực lượng cộng đồng trong giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh trường THPT Dào San 56

3.1 Các nguyên tắc xây dựng các biện pháp giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh trường THPT Dào San huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu dựa vào cộng đồng 73

1 Kết luận chung 100

2 Kiến nghị 102

2.1 Đối với lãnh đạo UBND tỉnh Lai Châu 103

2.2 Đối với lãnh đạo UBND huyện Phong Thổ 103

2.3 Đối với lãnh đạo các phòng, ban cấp huyện, lãnh đạo xã 103

- Có chính sách khen thưởng các dòng họ, các địa phương, địa bàn dân cư thực hiện tốt luật hôn nhân và gia đình, địa bàn hàng năm không có người tảo hôn 104

2.4 Đối với Sở giáo dục và Đào tạo Lai Châu, trường THPT Dào San 104

2.5 Đối với gia đình 104

Trang 7

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Tỷ lệ tảo hôn trên địa bàn huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu từ năm

2016 đến năm

2018 40

Bảng 2 Tỷ lệ tảo hôn trong cộng đồng người dân tộc thiểu số trên địa bàn các

xã tuyển sinh của trường THPT Dào San từ năm 2016-2018 41

Bảng 3 Độ tuổi tảo hôn của học sinh trường THPT Dào San từ năm

2019 42

Bảng 4 Khảo sát học sinh tảo hôn trường THPT Dào San từ năm 2016-2018 và

3 tháng đầu năm 2019 43

Bảng 5 Hoàn cảnh gia đình của học sinh tảo hôn trường THPT Dào San từ

năm 2016-2018 và 3 tháng đầu năm 2019 43

Bảng 6 Các hình thức tổ chức đám cưới của học sinh tảo hôn trường THPT

Dào San từ năm 2016-2018 và 3 tháng đầu năm 2019 44

Bảng 7 Quan niệm của học sinh trường THPT Dào San , huyện Phong Thổ, tỉnh

Lai Châu và đồng bào DTTS thuộc địa bàn 8 xã tuyển sinh của nhà trường về tảo hôn 45

Bảng 8 Nhận thức của học sinh trường THPT Dào San , huyện Phong Thổ, tỉnh

Lai Châu, phụ huynh và đồng bào DTTS thuộc địa bàn 8 xã tuyển sinh của nhà trường về tác hại của tảo hôn 46

Bảng 9 Thái độ của học sinh trường THPT Dào San , huyện Phong Thổ, tỉnh Lai

hôn 47

Bảng 10 Nhận thức của cán bộ công chức, viên chức và người có uy tín tại địa

bàn 8 xã tuyển sinh của trường THPT Dào San , huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu

Trang 9

Bảng 13 Các phương pháp huy động các lực lượng cộng đồng giáo dục phòng

chống tảo hôn cho học sinh trường THPT Dào San………55

Bảng 14 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục phòng chống tảo hôn

tại trường THPT Dào San và 8 xã tuyển sinh của nhà trường 56

Bảng 15 Đánh giá về sự cần thiết của quá trình phối hợp các lực lượng cộng

đồng trong giáo dục phòng chống tảo hôn cho HS trường THPT Dào San 57

Bảng 16 Thực trạng mức độ tham gia của các lực lượng cộng đồng trong giáo

dục phòng chống tảo hôn cho HS trường THPT Dào San 59

Bảng 17 Thực trạng kết quả tham gia của các lực lượng cộng đồng trong giáo

dục phòng chống tảo hôn cho HS trường THPT Dào San 60

Bảng 18 Mục tiêu phối hợp giữa trường THPT Dào San với các lực lượng cộng

đồng trong giáo dục phòng chống tảo hôn cho HS trường THPT Dào San 61

Bảng 19 Nguyên tắc phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục phòng

chống tảo hôn học sinh trường THPT Dào San………63

Bảng 20 Nội dung phối hợp giữa các lực lượng cộng đồng trong giáo dục

phòng chống tảo hôn cho HS trường THPT Dào San……… 64

Bảng 21 Hình thức phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục phòng

chống tảo hôn cho HS 65

Bảng 22 Thực trạng kết quả phối hợp giữa trường THPT Dào San và các lực

sinh 67

Bảng 23 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến phối hợp giữa trường THPT

Dào San và các lực lượng cộng đồng phòng chống tảo hôn cho học sinh 68

Bảng 24 Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp giáo dục phòng,

chống tảo hôn cho học sinh trường THPT Dào San, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai

Trang 10

Châu……… 9 3

Bảng 25 Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp giáo dục phòng,

chống tảo hôn cho học sinh trường THPT Dào San, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu……… ……94

Bảng 26 Quan niệm của học sinh trường THPT Dào San , huyện Phong Thổ,

tỉnh Lai Châu và đồng bào DTTS thuộc địa bàn 8 xã tuyển sinh của nhà trường về tảo hôn sau khi áp dụng các biện pháp 96

Bảng 27 Nhận thức của học sinh trường THPT Dào San , huyện Phong Thổ, tỉnh

Lai Châu, phụ huynh và đồng bào DTTS thuộc địa bàn 8 xã tuyển sinh của nhà trường về tác hại của tảo hôn sau khi áp dụng các biện pháp 97

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực tế hiện nay cho thấy, tảo hôn là vấn đề nhức nhối và khó giải quyết.Tục tảo hôn vừa thể hiện sự cổ hủ vừa mang sức nặng kìm hãm văn hoá cũngnhư kìm hãm sự phát triển lành mạnh của con người

Không chỉ tại Việt Nam, nạn tảo hôn xảy ra ở hầu khắp các quốc gia trên thếgiới, nhất là tại những quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, tình hình chính trịbất ổn Theo thống kê trên thế giới mỗi năm có khoảng 15 triệu bé gái kết hôn

và hiện có khoảng 700 triệu nữ giới kết hôn trước 18 tuổi Theo ước tính đếnnăm 2050 sẽ có 1,2 tỷ bé gái là nạn nhân của nạn tảo hôn Theo thống kê củaLiên Hợp Quốc: “nạn tảo hôn phổ biến nhất ở nam Á và khu vực cận Sahara ởchâu Phi Niger, Bangladesh và Ấn Độ là những quốc gia có tỷ lệ tảo hôn cao,trong đó Niger có tỷ lệ cao nhất thế giới…” Trung bình mỗi năm trên toàn thếgiới có 16 triệu trẻ sơ sinh chào đời từ những bà mẹ trong độ tuổi từ 15-19chiếm 11% tổng số sản phụ toàn cầu Số bé gái mang thai ở độ tuổi từ 10-14 tuy

ít song rất đáng lo ngại, trong đó số sản phụ sinh con ở độ tuổi dưới 15 tại nhiềuquốc gia ở phía Nam sa mạc Sahara lại chiếm tỷ lệ khá cao, lên tới 12% số sảnphụ tại vùng này và tỷ lệ tương ứng ở khu vực Mỹ Latinh là 3%

Theo nhiều nghiên cứu nạn tảo hôn tại Việt Nam vẫn xảy ra ở hầu khắp cáctỉnh thành trong cả nước Theo số liệu điều tra của Vụ gia đình (Uỷ ban Dân số -Gia đình và Trẻ em) cho thấy các tỉnh, thành phố cả nước có trên 1% trẻ em ở độtuổi 14 - 16 đã có vợ chồng Các tỉnh có tỷ lệ trẻ em tảo hôn cao như Lai Châu18,6%, Hà Giang: 5,72%, Cao Bằng: 5,1%, Lào Cai 2,7%, Sơn La 2,6%, QuảngTrị 2,4% và Bạc Liêu 2,1% Những địa phương trên có đến 22% tỷ lệ kết hônkhông đăng ký vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình, phần lớn các cặp vợ chồngkết hôn trước tuổi luật định Theo kết quả điều tra có 30,7% đối tượng kết hôn ở

độ tuổi dưới 19, có 0,2% đối tượng kết hôn khi mới 9 tuổi, 0,3% đối tượng kếthôn khi 14 tuổi, 1,0% kết hôn khi 15 tuổi, 3,3% kết hôn khi 16 tuổi, 5,8% kếthôn khi 17 tuổi và 15,6% kết hôn khi 18 tuổi

Trang 12

Nghiên cứu về nạn tảo hôn, căn cứ theo địa bàn cư trú thì những vùng có

tỷ lệ tảo hôn cao hơn so với các vùng khác là vùng trung du, miền núi phía Bắc(đặc biệt là vùng Tây Bắc) và Tây Nguyên cụ thể: Miền núi phía Bắc 18,9%;Tây Nguyên 15,8%; Đồng bằng sông Hồng 7,9% và Đông Nam bộ 8,1% Cáctỉnh có tỷ lệ tảo hôn, hôn nhân cận huyết cao nhất trong cả nước gồm: Lai Châu,

Hà Giang, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Bắc Kạn, Kon Tum,Gia Lai,…

Hậu quả của nạn tảo hôn rất nghiêm trọng Trước hết tảo hôn khiến chấtlượng dân số suy giảm, suy thoái nòi giống, ảnh hưởng đến chất lượng nguồnnhân lực và là một trong những lực cản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, tiến

bộ xã hội và sự phát triển bền vững của vùng dân tộc thiểu số

Hơn nữa, việc kết hôn sớm, mang thai và sinh đẻ trong lứa tuổi vị thànhniên, khi cơ thể người mẹ chưa phát triển hoàn thiện, thiếu hiểu biết, kinhnghiệm, chưa sẵn sàng về mặt tâm lý để mang thai và sinh con gây ảnh hưởnglớn tới sức khỏe bà mẹ, sự phát triển bình thường của thai nhi và trẻ sơ sinh Đâycũng là một trong những nguyên nhân chính làm gia tăng tỷ lệ suy dinh dưỡngtrẻ em, tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi, tăng tỷ lệ tử vongcủa bà mẹ liên quan đến thai sản

Thực tế cho thấy, các tỉnh có tỷ lệ nghèo đói cao, đồng thời tình trạng tảohôn cũng gia tăng Tảo hôn vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của nghèo đói,thất học và suy giảm chất lượng cuộc sống

Đối với giáo dục, tảo hôn đồng nghĩa với việc các em nhỏ trong độ tuổi đihọc sẽ phải nghỉ học, bị mất đi cơ hội được giáo dục Mất cơ hội được giáo dụccũng đồng nghĩa với mất đi cơ hội tìm kiếm việc làm để cải thiện cuộc sống Rõràng, nạn tảo hôn đang đẩy các cộng đồng dân tộc ở những vùng khó khăn ngàymột lún sâu vào vòng luẩn quẩn nghèo đói và bế tắc

Theo kết quả điều tra của Ủy ban dân tộc, tỉ lệ tảo hôn ở Việt Nam vẫnđang diễn ra ở một số vùng nông thôn, miền núi, đặc biệt là đối tượng học sinhTrung học cơ sở, Trung học phổ thông có tới 1/3 số người dân tộc trên địa bàn

Trang 13

tảo hôn và tảo hôn Theo kết quả điều tra năm 2015, tỉ lệ tảo hôn của người dântộc trên địa bàn là 37.33%, trong đó cao nhất là các dân tộc trên địa bàn sinhsống ở những cho khó khăn.

Lai Châu là tỉnh vùng cao, nhiều khó khăn, trình độ dân trí có những hạnchế nhất định, các hủ tục chưa được bài trừ, loại bỏ hoàn toàn, bởi vậy tình trạngtảo hôn là vấn đề đáng quan tâm Theo thống kê tỉnh Lai Châu có tỉ lệ tảo hôncao nhất cả nước mà tình trạng này đa số là rơi vào đồng bào dân tộc thiểu số,đặc biệt khu vực biên giới các huyện Phong Thổ, Mường Tè, Nậm Nhùn, Sìn

Hồ Ở những vùng này, công tác tuyên truyền, giáo dục phòng chống nạn tảohôn của các cấp, ngành và đoàn thể, các trường học đã ít nhiều được quan tâm,tuy nhiên công tác phối hợp chưa nhịp nhàng, vẫn còn nhiều bất cập và chưathực sự hiệu quả Trong các huyện ở Lai Châu thì huyện Phong Thổ được coi lànơi nạn tảo hôn diễn ra phổ biến và phức tạp nhất, đặc biệt là ở các xã xa xôinhư Dào San, Mù Sang, Pa Vây Sử Tình trạng tảo hôn còn khá phổ biến trên

toàn huyện Phong Thổ (năm 2015 là 38,41%) 1; Tỷ lệ giảm sinh bình quân hàngnăm đạt 0,64‰/năm; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm chậm và có nguy cơ tăng

trở lại (Năm 2016 là 48,22%, năm 2017 là 38,8%, năm 2018 là 35% )

Từ những lý do trên, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Giáo dục phòng

chống tảo hôn cho học sinh trường THPT Dào San huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu dựa vào cộng đồng”.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một số biện phápgiáo dục phòng chống tình trạng tảo hôn trong học sinh trường THPT Dào San,dựa vào cộng đồng qua đó góp phần tăng cường bảo vệ sức khỏe cộng đồng,phát triển kinh tế -xã hội, nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực tươnglai cho địa phương

1

Trang 14

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứ u

Quá trình giáo dục phòng chống tảo hôn cho Học sinh trường THPT DàoSan dựa vào cộng đồng thuộc 8 xã vùng biên giới đặc biệt khó khăn trên địa bànhuyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh trường THPT DàoSan huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu dựa vào cộng đồng

4 Giả thuyết khoa học

Tỷ lệ học sinh tảo hôn trong trường THPT Dào San tương đối cao; nhậnthức của các em về tảo hôn và các vấn đề liên quan còn nhiều hạn chế Các lựclượng trong cộng đồng phối hợp giáo dục và tuyên truyền còn nhiều khó khănbất cập Nếu phân tích rõ cơ sở lý luận và thực trạng tảo hôn ở trường THPTDào San thì có thể đề xuất được một số biện pháp giáo dục hữu hiệu để phòngtránh, tiến tới bài trừ tảo hôn bằng việc nâng cao nhận thức của người dân, phụhuynh học sinh, học sinh về tác hại của tảo hôn, từ đó góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện cho học sinh trường THPT Dào San tạo ra những tiền đềthuận lợi để phát triển đất nước nói chung và xây dựng đời sống văn hóa mới, xâydựng gia đình mới hiện đại

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu lí luận về phối hợp các lực lượng cộng đồng giáo dục phòngchống tảo hôn học sinh trường THPT Dào San huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu.5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng phối hợp các lực lượng cộng đồng phòngchống tảo hôn học sinh trường THPT Dào San huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu 5.3 Đề xuất các biện pháp giáo dục phòng chống tảo hôn học sinh trường THPTDào San dựa vào cộng đồng và tiến hành khảo nghiệm các biện pháp đã đề xuất

Trang 15

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung phân tích những vấn đề lý luận về tảo hôn và các vấn đềliên quan đến tảo hôn học sinh THPT; đánh giá thực trạng tảo hôn, nhận thứccủa cộng đồng (CBQL, giáo viên trường THPT Dào San, hội phụ nữ, Đoànthanh niên, ban dân số chăm sóc sức khỏe các xã) trong việc phối hợp giáo dụccác vấn đề liên quan đến tảo hôn

6.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu

Đề tài được tiến hành nghiên cứu ở trường THPT Dào San và các xã, bảnthuộc 8 xã biên giới phía bắc huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu

6.3 Giới hạn khách thể khảo sát:

- Học sinh trường THPT Dào San: khảo sát 100 em (50 nam và 50 nữ)

- Phụ huynh học sinh, cha mẹ của thanh niên đồng bào dân tộc Môngđang trong độ tuổi vị thành niên thuộc 8 xã tuyển sinh, cha mẹ của người tảohôn: 100 người (50 nam và 50 nữ)

- Các thầy cô giáo của trường THPT Dào San: 10 người (5 nam và 5 nữ)

- Bí thư xã, chủ tịch xã và những cá nhân có uy tín trong cộng đồng ngườidân tộc thiểu số tại 8 xã tuyển sinh của trường THPT Dào San: 24 người (17nam và 7 nữ)

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu ở trong và ngoài nước được phântích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa ở nhiều góc độ: Tâm lý học;Giáo dục học; Triết học; Văn hóa , trên cơ sở đó hình thành cơ sở lí luận cho đềtài nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Quan sát các hoạt động phối hợp các lực lượng cộng đồng phòng

chống tảo hôn cho học sinh Trường THPT Dào San nhằm thu thập những thôngtin cần thiết cho đề tài nghiên cứu

Trang 16

7.2.2 Phương pháp điều tra giáo dục

Xây dựng và sử dụng bảng hỏi bao gồm hệ thống các câu hỏi đóng và mở đốivới học sinh, cán bộ, giáo viên Trường THPT Dào San; cán bộ, công chức, viênchức các cơ quan đoàn thể trực thuộc các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan, 8

xã biên giới phía bắc huyện Phong Thổ về những vấn đề liên quan đến quá trìnhphối hợp các lực lượng cộng đồng phòng chống tảo hôn học sinh Trường THPTDào San nhằm thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài nghiên cứu

7.2.3 Phương pháp đàm thoại

Tiến hành phỏng vấn BHG, giáo viên, học sinh và cựu học sinh đã ra trường màcác em đã và đang tảo hôn của nhà trường Tìm hiểu rõ hơn về thực trạng phốihợp các lực lượng cộng đồng phòng chống tảo hôn, đặc biệt là nguyên nhân, thựctrạng và những giải pháp cần thực hiện

7.2.4 Phương pháp chuyên gia

Tiến hành: Lấy ý kiến các chuyên gia (trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình,bác sĩ sản nhi, các chuyên gia tổ chức Plan ) về thực trạng cũng như góp ý, tưvấn về xây dựng đề cương Lựa chọn đúng chuyên gia có năng lực, kinh nghiệm

về lĩnh vực tảo hôn, trung thực, khách quan trong nhận định, đánh giá Lựa chọnnhững vấn đề cần tham vấn với những mục đích cụ thể để sử dụng chuyên giaphù hợp: tính khả thi và cần thiết của các giải pháp dựa vào cộng đồng nhằmgiảm thiểu tỉ lệ tảo hôn tại trường THPT Dào San

7.2.5 Phương pháp quan sát

Tiến hành: khảo sát thực tế công tác quản lý của các cán bộ, thầy cô giáo vềcông tác phòng chống tảo hôn học sinh Quan sát các hoạt động tuyên truyền,giáo dục phòng chống nạn tảo hôn trong trường học

Quan sát đem lại cho người nghiên cứu những tài liệu cụ thể, cảm tính trựcquan, song có ý nghĩa khoa học rất lớn, đem lại cho khoa học những giá trị thựcsự

Trang 17

7.2.6 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Tiến hành phát hiện các sự kiện điển hình, các sự kiện này có ảnh hưởng lớn đốivới cuộc sống và hoạt động của học sinh tảo hôn Gặp gỡ, trao đổi với nhữngnhân chứng, những người đã và đang tảo hôn để họ mô tả, bày tỏ cảm xúc, đưa

ra nhận định, đánh giá về nguyên nhân và tình trạng hiện tại Tổng kết kinhnghiệm qua thực tiễn giáo dục phòng chống tảo hôn ở học sinh trường THPTDào San, rút ra bài học

7.3 Phương pháp xử lý dữ liệu bằng thống kê toán học

Sử dụng các công thức toán thống kê như công thức tính giá trị phần trăm vàcông thức tính giá trị trung bình để xử lý, phân tích số liệu thu được về định lượng

và định tính, làm cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu

8 Cầu trúc của đề tài

Đề tài gồm các phần mở đầu, nội dung nghiên cứu, kết luận và kiến nghị,tài liệu tham khảo và phụ lục Phần nội dung nghiên cứu bao gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh trường

THPT Dào San huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu dựa vào cộng đồng

Chương 2: Thực trạng giáo dục tảo hôn học sinh trường THPT Dào San huyện

Phong Thổ tỉnh Lai Châu và dựa vào cộng đồng

Chương 3: Các biện pháp giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh trường

THPT Dào San huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu dựa vào cộng đồng

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG TẢO HÔN CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DÀO SAN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Nạn tảo hôn xảy ra khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia cónền kinh tế kém phát triển, tình hình chính trị bất ổn Theo báo cáo của Quỹ Nhiđồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), trên thế giới hiện có hơn 700 triệu phụ nữ kếthôn trước khi họ bước sang tuổi 18, trong đó có 250 triệu trường hợp kết hôn

trước 15 tuổi Nam Á và Trung Phi - vùng cận Sahara là hai khu vực có tỷ lệ tảo hôn cao, trong đó Niger là nước có tỷ lệ cao nhất thế giới, với tỉ lệ lên đến 76%

trẻ em gái

Ở Việt Nam, kết quả điều tra xã hội và báo cáo thường niên của các cơquan chức năng đã cho thấy một bức tranh đa màu sắc về tệ nạn này ở các vùngmiền, địa phương và các cộng đồng khác nhau trên toàn quốc

Theo kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội 53 DTTS năm 2015 do

Ủy ban Dân tộc và Tổng cục Thống kê phối hợp thực hiện, tỷ lệ tảo hôn chungtrong các DTTS là 26,6%, cao gấp 18 lần so với dân tộc Kinh (1,4%) và gấp 10lần so với tỷ lệ chung của cả nước (2,5%), có 40/53 dân tộc thiểu số có tỷ lệ tảohôn trên 20%, tỷ lệ tảo hôn cao nhất thuộc các DTTS sinh sống ở vùng có điềukiện kinh tế - xã hội rất khó khăn như: Ơ Đu 73%, Mông 59,7%, Xinh Mun56,3%, La Ha 52,7%, Rơ Măm 50%, Brâu 50%, …[25]

Trong rất nhiều các bài báo và công trình nghiên cứu khoa học đã đề cậptới vấn nạn tảo hôn Tại Hội thảo góp ý dự thảo Đề án giảm thiểu tình trạng tảohôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào các dân tộc thiểu số do Ủy banDân tộc tổ chức ngày 6/11/2014 tại Hà Nội thì Lai Châu đang là tỉnh có tỷ lệ tảohôn và hôn nhân cận huyết thống cao Một con số khác được dẫn ra tại Tạp chíDân chủ và Pháp luật (Cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp), tỷ lệ tảo hôn củatỉnh là 18,6% Con số này một lần nữa được dẫn ra tại Hội thảo Tham vấn xây

Trang 19

dựng kế hoạch thực hiện Quyết định số 498/QĐ-TTg (ngày 14/4/2015 của Thủtướng Chính phủ) do Ủy ban Dân tộc phối hợp với Đại sứ quán Ailen (Hà Nội)

tổ chức ngày 4/6/2015 Theo Chi cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh LaiChâu (Sở Y tế) năm 2015 trong 37 xã có 263 cặp đôi tảo hôn, tăng 0,24% so vớinăm 2014 và 3 cặp hôn nhân cận huyết thống Theo con số của Tổ chức Planđưa ra, tại 3 tỉnh Hà Giang, Lai Châu và Quảng Trị, tỷ lệ kết hôn trẻ em lần lượt

là 8,17%, 19,43% và 5,31% ( có thể thấy tỉ lệ này tại Lai Châu rất cao) Trongnăm 2015, tại xã Bản Lang (huyện Phong Thổ, Lai Châu), trong số 303 bà mẹmang thai có tới 73 trường hợp thai phụ dưới 18 tuổi Trong số 136 trường hợpsinh con được ghi nhận, có 49 trường hợp là trẻ dưới 16 tuổi tại tỉnh Lai Châu[15] Những con số trên cho thấy thực trạng tảo hôn tại Lai Châu trong đó cóhuyện Phong Thổ và học sinh dân tộc ít người tại trường THPT Dào San rấtđáng báo động Đối với vấn nạn tảo hôn các cấp, các ngành địa phương tỉnh LaiChâu rất quan tâm, chú trọng song vẫn chưa tìm được các biện pháp phù hợp đểgiảm thiểu tiến tới loại trừ nạn tảo hôn ra khỏi cộng đồng Do đó, thực hiện đềtài này, chúng tôi sẽ nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm giáo dục,phòng chống tảo hôn cho học sinh trường THPT Dào San, huyện Phong Thổ,tỉnh Lai Châu

Để hạn chế nạn tảo hôn Đảng và Nhà nước ta đề ra về Luật hôn nhân,những chính sách về dân số và kế hoạch hóa gia đình bằng nhiều kênh truyềnthông khác nhau tuy đã tác động đến nhận thức của mọi người dân, song hiệntượng tảo hôn vẫn còn tồn tại và có chiều hướng gia tăng ở nhiều tỉnh, thànhphố Tình trạng tảo hôn xảy ra tất cả các khu vực trên lãnh thổ nước ta, từ nôngthôn thành thị, miền núi, với các đối tượng khác nhau, song nhiều hơn cả vẫn làkhu vực nông thôn, miền núi, nơi sinh sống của đồng bào dân tộc ít người, nơi

có trình độ dân trí thấp, còn tồn tại phong tục tập quán lạc hậu, cuộc sống gặpnhiều khó khăn Hiện nay, tình trạng này có nhiều diễn biễn phức tạp ở một sốnơi, vì thế việc phòng chống và tiến tới xóa bỏ tảo hôn được Nhà nước và xã hộiquan tâm

Trang 20

Trong độ tuổi 10-17, cứ 10 em trai thì có 1 em có vợ, 5 em gái có 1 em

có chồng Trong quan niệm nhận thức phong tục của nhiều dân tộc thiểu số, khivừa bước sang tuổi 15 - 16 là đã đến tuổi dựng vợ, gả chồng Kết hôn sớm khiếnđồng bào người dân tộc thiểu số vốn đã nghèo lại càng nghèo hơn Những cô bé,cậu bé còn đang ở tuổi ăn tuổi lớn, nhẽ ra phải được cắp sách tới trường, giờ đâylại trở thành những “ông bố, bà mẹ” ở tuổi vị thành niên phải oằn mình với gánhnặng gia đình [11]

Vấn nạn tảo hôn ở khu vực Tây Bắc chiếm tỉ lệ cao so với cả nước Địaphương điển hình của khu vực này về nạn tảo hôn là tỉnh Lai Châu Theo Tạpchí Dân chủ và Pháp luật (Cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp) ngày 14 tháng 4năm 2015, tỷ lệ tảo hôn của tỉnh Lai Châu là 18,6% Theo báo cáo của Chi cụcDân số - Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Lai Châu, tính đến tháng 6 năm 2017 toàntỉnh có 257 trường hợp tảo hôn trong số 963 trường hợp kết hôn (chiếm tỉ lệ26,6 %), trong đó tập trung chủ yếu ở một số dân tộc Thái, Mông, Dao Dophong tục tập quán còn lạc hậu, điều kiện kinh tế hạn chế nên quan niệm củamột số đồng bào các dân tộc trên địa bàn “rất thoáng” về hành vi quan hệ tìnhdục trước hôn nhân và tảo hôn Nhận thức về tảo hôn là một điều khá sáo rỗngđối với người dân và thanh thiếu niên dân tộc thiểu số ở Lai Châu, nơi nào cóđồng bào người Mông, Dao… sinh sống là nơi ấy còn hiện hữu tập tục “bắt vợ”,

“kéo vợ”, chỉ khác nhau ở mức độ do môi trường giao tiếp

Theo số liệu rà soát 8,097 trẻ em 12-18 tuổi tại 146 thôn, bản ở các tỉnh

Hà Giang, Lai Châu và Quảng Trị, tỷ lệ các trường hợp kết hôn trẻ em ở tỉnh LaiChâu là cao nhất: 19.43% Qua khảo sát sơ bộ tại các huyện, trong năm 2015toàn tỉnh có 300 trường hợp tảo hôn vợ, 241 trường hợp tảo hôn chồng, 272trường hợp tảo hôn cả vợ cả chồng Trong đó, tập trung chủ yếu ở một số dântộc Thái, Mông, Dao Tính đến tháng 6 năm 2017, toàn tỉnh có 257 trường hợptảo hôn/ 963 trường hợp kết hôn [15]

Tình trạng tảo hôn trong cộng đồng người DTTS các xã biên giới huyệnPhong Thổ, tỉnh Lai Châu có những diễn biến khá phức tạp Theo tìm hiểu của

Trang 21

tổ chức Plan Việt Nam tại Phong Thổ, độ tuổi trung bình của các cặp kết hônsớm ở một số xã trên địa bàn huyện Phong Thổ là 15,84 tuổi Theo báo cáo củaTrung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình huyện Phong Thổ năm 2017 có 59cặp tảo hôn, trong đó có tới 57 cặp cả 2 vợ chồng đều chưa đủ tuổi và có đến85% trẻ em sau kết hôn đều bỏ học Trong 3 năm từ 2016 đến 3 tháng đầu năm

2019 tại 8 xã tuyển sinh của trường THPT Dào San có 198 cặp kết hôn thì có tới

92 cặp (156 người) tảo hôn chiếm tỷ lệ 46,5% Chỉ tính riêng “mùa cưới” đầunăm 2018, xã Pa Vây Sử đã có tới 5 trường hợp tảo hôn, hầu như các em đều ở

độ tuổi còn đang học trung học cơ sở Riêng tại nhà trường năm học 2015 -2016

có 40 học sinh tảo hôn, năm học 2016 – 2017 có 13 học sinh tảo hôn, năm học

2017 – 2018 có 12 học sinh tảo hôn, năm học 2018 – 2019 có 8 học sinh tảo hôn[14]

Không chỉ là những số liệu thống kê về tình trạng tảo hôn, các báo cáo vàkết quả điều tra của các cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương cònđưa ra khá nhiều nhận định về nguyên nhân tảo hôn ở các vùng miền, các địaphương, đặc biệt là khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đóbao gồm cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan

Trang 22

Nguyên nhân khách quan:

Một là, do ảnh hưởng của những phong tục tập quán lạc hậu Ở nước ta

có những tục lệ, nghi lễ đã ăn sâu vào đời sống cộng đồng và có sức ảnh hưởngnhất định qua nhiều thế hệ người Việt Nam Các quan hệ hôn nhân và gia đìnhcũng không nằm ngoài sự chi phối đó, có những nghi lễ cho tới nay vẫn đượcduy trì mặc dù lạc hậu và theo kiểu "Phép vua thua lệ làng" Ví dụ, một số đồngbào dân tộc thiểu số có phong tục tập quán lấy vợ, lấy chồng mà chỉ cần sự đồng

ý của những người đứng đầu trong làng hoặc của cha mẹ hai bên nam nữ theokiểu cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy; hay như tục lệ bắt vợ của người Mông, kéo

vợ của người Dao ở vùng Tây Bắc Tục bắt vợ đã từng được coi là một nét đẹpvăn hóa, nhưng hiện nay tục bắt vợ đã kéo theo nạn tảo hôn trở nên phổ biến.Không chỉ vậy, xuất phát từ những khó khăn trong cuộc sống cùng với thói quen

ở vùng núi, nhà nào cũng có tâm lý muốn sớm có con đàn cháu đống, thêm laođộng cho gia đình Nhà nào có con gái thì muốn gả sớm để bớt miệng ăn, nhànào có con trai thì muốn cưới vợ sớm để lo toan cuộc sống Do tâm lý trên màrất nhiều cặp vợ chồng đã lấy nhau khi chưa đủ tuổi mà pháp luật cho phép

Hai là, do ảnh hưởng của mặt trái nền kinh tế thị trường Khi nền kinh tế

thị trường phát triển mạnh mẽ, con người dần biến đổi để thích nghi được vớinhững điều kiện mới Họ có quan điểm sống đơn giản hơn, cởi mở, táo bạo hơnthế hệ trước, mọi người thiết lập các mối quan hệ với nhau một cách dễ dàngdẫn đến việc chung sống với nhau như vợ chồng giữa nam và nữ (sống thử) trởnên hết sức bình thường, kể cả ở tầng lớp có học thức (học sinh, sinh viên) Điều

đó đã dẫn đến những trường hợp phải cưới chui khi đôi nam nữ chưa đủ tuổi vàđiều kiện kết hôn, dẫn đến tỉ suất sinh con vị thành niên tăng lên

Trang 23

Ba là, do quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với các

trường hợp tảo hôn còn chưa phù hợp, không đủ sức răn đe đối ở nước ta hiệnnay Với đa số những cặp vợ chồng nghèo, họ sẽ không có khả năng nộp phạt, vàtrong trường hợp đó, khả năng thực hiện các biện pháp cưỡng chế nộp phạt củachính quyền địa phương là điều không thể thực hiện được Do không có hìnhthức chế tài nào khác nên các cặp vợ chồng nghèo vẫn tự do kết hôn khi chưa đủtuổi mà không lo bị xử phạt Ngoài ra cũng có không ít cặp tảo hôn sẵn sàng nộpphạt khi tảo hôn Họ coi việc nộp phạt là đã tuân thủ pháp luật và sau khi nộpphạt thì họ đương nhiên được xã công nhận là vợ chồng theo pháp luật

Bên cạnh đó, một số nguyên nhân khách quan khác cũng được kể đến, nhưcông tác giáo dục giới tính, sức khoẻ sinh sản vị thành niên còn khá hạn chế, mớichỉ dừng lại ở các thành phố lớn, chưa trú trọng hoặc triển khai ở các vùng nôngthôn, miền núi Mặt khác, một số gia đình mải làm ăn, không quan tâm đến sựphát triển tâm lý cũng như thể chất của con em mình, hay một số gia đình bố mẹ

ly hôn, cãi nhau tạo tâm lý chán chường, bất cần, buông thả ở một bộ phậnthanh niên Vì vậy, nhiều em đã làm cha, làm mẹ khi đang độ tuổi vị thành niên

Nguyên nhân chủ quan:

Một là, do trình độ dân trí thấp và ý thức pháp luật của người dân còn

hạn chế Tuy Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định về phổ cập giáodục tiểu học và giáo dục Trung học cơ sở, nhưng đối với vùng dân tộc thiểu số,nhất là ở vùng đặc biệt khó khăn vẫn đang gặp phải các thách thức lớn về chấtlượng giáo dục và bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục giữa nhóm dân tộc thiểu

số với dân tộc đa số, giữa nông thôn và thành thị Tình trạng học sinh bỏ học vẫntái diễn, tỉ lệ biết chữ ở nhóm dân tộc thiểu số từ 10 tuổi trở lên ở mức thấp và

có sự chênh lệch lớn so với nhóm dân tộc Kinh (83,8% so với 96,8% năm 2012)

Ở nhóm tuổi 15-24, chỉ có 82,3% phụ nữ dân tộc thiểu số biết đọc biết viết (tỷ lệchung là 96,4%), nghĩa là cứ 5 phụ nữ dân tộc thiểu số ở nhóm tuổi 15-24 thì có

1 người không biết đọc biết viết, tỉ lệ này ở vùng núi, vùng dân tộc có điều kiệnkinh tế khó khăn còn tăng lên nhiều lần Thực tế cho thấy, đối với đồng bào dân

Trang 24

tộc thiểu số do trình độ dân trí thấp, nhận thức và ý thức pháp luật còn nhiều hạnchế đã tác động làm gia tăng tình trạng tảo hôn[19]

Hai là, công tác tuyên truyền còn bất cập, hạn chế và hiệu quả chưa cao.

Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình đãđược Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, các cơ quanbảo vệ pháp luật quan tâm, triển khai nhưng ở nhiều nơi, nhất là vùng núi, vùngdân tộc thiểu số hiệu quả tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vận động loại bỏ hủtục lạc hậu chưa đạt kết quả, năng lực của cán bộ tuyên truyền ở một số nơi cònhạn chế Từ đó dẫn đến người dân, nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số vẫnchưa nhận thức hoặc chưa nắm vững về chế độ hôn nhân và gia đình, quyền vànghĩa vụ cũng như các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Vìvậy, phần lớn trường hợp tảo hôn đều rơi vào các hộ nghèo, đối tượng vị thànhniên, thanh niên thất học, hiểu biết pháp luật hạn chế và việc tiếp cận với cácphương tiện thông tin đại chúng còn khó khăn

Ba là, sự can thiệp từ phía chính quyền địa phương đối với các trường hợp

tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống còn chưa mạnh mẽ, thiếu kiên quyết Việc loại

bỏ những phong tục tập quán lạc hậu nói chung, loại bỏ tục tảo hôn nói riêng rakhỏi đời sống xã hội không đạt được hiệu quả cao do sự can thiệp thiếumạnh mẽ, thiếu kiên quyết từ phía cơ quan địa phương, thực tế cho thấy, khôngchỉ những người dân mà cả gia đình cán bộ xã, phường cũng tiếp tay, thậm chí tảohôn còn diễn ra ngay trong gia đình của những người cán bộ này

Cùng với các số liệu thực trạng và những nhận định về nguyên nhân củatình trạng tảo hôn, các báo cáo, khảo sát của các cơ quan chức năng cũng đề cậpkhá nhiều đến những hệ quả của tệ nạn tạo hôn Tảo hôn nói chung và tình trạngtảo hôn của cộng đồng người dân tộc thiểu số tại 8 xã biên giới phía bắc huyệnPhong Thổ nói riêng gây ra nhiều hệ lụy xấu và hậu quả lâu dài, nghiêm trọngcho cả bản thân, gia đình, nòi giống dòng họ và xã hội, là trở ngại ngăn cản việcxây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ, giàu mạnh, khó thoát khỏi đói, nghèo, vi

Trang 25

phạm thuần phong, mỹ tục của người Việt Nam, vi phạm pháp luật và trái vớiđường lối của Đảng

Hậu quả của tảo hôn học sinh thể hiện qua một số tác hại cụ thể như sau:

Một là, so với phụ nữ sinh con ở độ tuổi trên 20 thì các bà mẹ trẻ em có

nhiều nguy cơ tử vong do những biến chứng thai sản và trong quá trình sinh con.Con cái của các bà mẹ trẻ con thường bị chết lưu hoặc chết trong những thángđầu đời Những biến chứng thai sản này là nguyên nhân gây tử vong hàng đầucủa các bà mẹ trẻ con ở các quốc gia đang phát triển Do mang thai khi cơ thểchưa phát triển đầy đủ về thể chất sinh lý, tâm lý nên sẽ sinh ra những đứa concòi cọc, khả năng chống các bệnh tật rất kém cho nên dễ mắc bệnh, nhất là cácbệnh hiểm nghèo, rất khó chữa, đồng thời người mẹ cũng có thể gặp nguy hiểmđến tính mạng khi sinh con ở tuổi vị thành niên Như vậy, gia đình phải chăm losức khỏe cho con nhiều hơn, tốn kém nhiều tiền của hơn và sẽ rất khó thoát khỏiđói nghèo, dòng dõi ngày càng bị suy thoái

Hai là, tảo hôn sẽ sinh ra những đứa con kém phát triển trí tuệ, khả năng học

tập kém, không có khả năng tiếp thu các tiến bộ khoa học, công nghệ mới, sẽkhông thể phát triển được sản xuất và không thể thoát được đói nghèo

Ba là, trẻ em gái kết hôn trước tuổi 18 (học sinh THCS, THPT) thường

phải bỏ học và có nhiều nguy cơ bị bạo lực gia đình, bản thân người tảo hôn sẽkhông có điều kiện học tập, rèn luyện, phấn đấu để trưởng thành, mặt khác chưaphát triển đầy đủ về cả sinh lý và tâm lý, chưa đủ khả năng để chăm sóc conphát triển một cách bình thường, khỏe mạnh, toàn diện, do đó những đứa con đólớn lên sẽ rất khó khăn về nhiều mặt như sức khỏe, học hành, tìm việc làm

Bốn là, xã hội sẽ phải chăm lo nhiều hơn về mặt y tế, điều kiện học hành

đặc biệt là trong thời đại CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi mỗicon người phải có trí tuệ phát triển, có thể hình to cao, có sức khỏe tốt nhữngđứa con của những người tảo hôn sẽ không đáp ứng được yêu cầu xây dựng một

xã hội giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Trang 26

Năm là, xây dựng một xã hội văn minh, đòi hỏi mỗi người phải thực hiện

nghiêm chỉnh pháp luật, trong đó có pháp luật về hôn nhân và gia đình, để xâydựng chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ Vì vậy, tảo hôn là vi phạm pháp luật

về hôn nhân và gia đình, vi phạm đạo đức, vi phạm thuần phong, mỹ tục củangười Việt Nam, là trái với đường lối của Đảng về “Xây dựng một nền văn hóatiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

Bên cạnh những khảo sát và báo cáo thường niên của các cơ quan chứcnăng, một số tác giả đã quan tâm nghiên cứu các vấn đề về hôn nhân và giađình, tảo hôn và tác hại của tảo hôn Có thể kể tên một vài nghiên cứu như:Đặng Văn Lung (1997), Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam, NXB VHDT,

Hà Nội; Nguyễn Ngọc Tấn, Đặng Thị Hoa, Nguyễn Thị Thanh (2004), Hônnhân gia đình các dân tộc Hmông, Dao ở hai tỉnh Lai Châu và Cao Bằng, NXBVHDT, Hà Nội; Đạo Liên, Hà Sơn (2008), Tìm hiểu về hôn nhân loài người,NXB Hà Nội; Phan Đăng Thanh, Trương Thị Hòa (2012), Các chế độ hôn nhân

và gia đình Việt Nam xưa và nay, NXB TP Hồ Chí Minh; Lê Quang Thưởng(1997), Vấn đề tảo hôn và pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam, Viện Nghiêncứu Nhà nước và pháp luật Nhà nước; Trần Thị Phương Thảo (2014), TrườngĐại học Luật Hà Nội, Luận văn thạc sĩ: “Các điều kiện kết hôn theo quy địnhcủa pháp luật Việt Nam hiện hành”; GS.TS Đặng Đức Phú - Trung tâm truyềnthông và sức khỏe, TSKH Trịnh Thị Kim Ngọc – Viện HLKHXH Việt Nam;

“Hệ lụy của tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở một số cộng đồng các dântộc thiểu số ở Việt Nam”, PGS.TS Trần Văn Phòng - Viện trưởng Viện Triết học,Học viện Chính trị, Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh; “Tảo hôn và hôn nhâncận huyết thống dưới góc nhìn bình đẳng giới”, Th.s Nguyễn Thị Tư – Vụtrưởng Vụ Dân tộc thiểu số, Ủy ban Dân tộc…

Đã có một vài nghiên cứu về phòng chống tảo hôn ở một số địa phương

cụ thể Tại tỉnh Phú Yên, Ngô Thị Quỳnh Hoa (2017) đã nghiên cứu "Giáo dụcphòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người huyện Đồng Xuân –tỉnh Phú Yên" Tại tỉnh Sơn La, Tráng Thị Giàng (2010) cũng có nghiên cứu về

Trang 27

"Nạn tảo hôn và tác động của nó đến chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình

ở vùng người Hmông huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La" Việc phòng, chống nạntảo hôn và hôn nhân cận huyết thống luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm

Do đó số lượng các công trình nghiên cứu khoa học, các bài báo, hội thảo về vấn

đề này rất phong phú Đa số các tài liệu đã đề cập tới thực trạng, nguyên nhân vàtác hại của vấn nạn tảo hôn song đối với đối tượng cụ thể là các em học sinhTHPT thì rất ít tài liệu đề cập tới (dù theo khảo sát phần lớn các đối tượng tảohôn đều nằm trong độ tuổi học sinh THCS hay THPT) Chính vì chưa đề cậpnhiều đến đối tượng tảo hôn là học sinh các trường THPT nên đa số những giảipháp mà các công trình, tài liệu kể trên đưa ra chưa tác động nhiều và chưa thực

sự có hiệu quả đối với đối tượng này

Chưa có công trình nào nghiên cứu về giáo dục phòng chống tảo hôn chohọc sinh THPT đặc biệt học sinh THPT khu vực biên giới phía bắc huyện PhongThổ một trong những huyện tỉ lệ tảo hôn cao nhất tỉnh Lai Châu Vì vậy nghiên

cứu đề tài “Giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh trường THPT Dào

San huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu dựa vào cộng đồng” là một nghiên cứu

hứa hẹn mang lại những phát hiện mới về vấn đề, đồng thời cũng mang lạinhững đóng góp trực tiếp giảm tình trạng tảo hôn học sinh tăng tỉ lệ chuyên cần,phát triển toàn diện giáo dục và phát triển về kinh tế - xã hội của địa phương

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Giáo dục

Giáo dục trong tiếng Anh được gọi là education có nghĩa là quá trình tạođiều kiện thuận lợi cho học tập, hoặc thu thập kiến thức, kỹ năng, giá trị, niềmtin và thói quen Các phương pháp giáo dục bao gồm kể chuyện, thảo luận,giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu trực tiếp Giáo dục có thể diễn ra trong các môitrường chính thức hoặc không chính thức và bất kỳ kinh nghiệm nào có ảnhhưởng xây dựng theo cách suy nghĩ, cảm nhận hoặc hành động có thể được coi

là giáo dục Trong tiếng Việt, “giáo” có nghĩa là dạy, “dục” có nghĩa là nuôi, nhưvậy có thể hiểu giáo dục là dạy dỗ, rèn luyện trí, đức tính và thân thể cho đượchoàn mỹ hơn

Trang 28

Trong giáo dục học, khái niệm giáo dục là khái niệm cơ bản nhất Về bản

chất “giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã

hội của các thế hệ loài người” [21, tr.12], về hoạt động “giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách” [21, tr.12], về phạm vi, giáo dục bao hàm nhiều cấp độ khác nhau

“Ở cấp độ rộng nhất, giáo dục được hiểu là quá trình xã hội hóa con người.

Quá trình xã hội hóa con người là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của tác động chủ quan và khách quan, có ý thức và không có ý thức của cuộc sống, của hoàn cảnh xã hội đối với các cá nhân Ở cấp độ thứ hai, giáo dục có thể hiểu là giáo dục xã hội Đó là hoạt động có mục đích của xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục, tác động có hệ thống, có kế hoạch đến con người để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách Ở cấp độ thứ ba, giáo dục được hiểu là quá trình sư phạm Quá trình sư phạm là quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp học sinh nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách Ở cấp độ thứ tư, giáo dục được hiểu là quá trình bồi dưỡng để hình thành những phẩm chát đạo đức cụ thể, thông qua con đường dạy học ” [21, tr.12]

Như vậy, giáo dục được coi là một hiện tượng đặc trưng của xã hội loàingười Giáo dục là hiện tượng nảy sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự xuấthiện của xã hội loài người Nó phản ánh một hoạt động đặc biệt của con người

và mối quan hệ của con người khi tham gia hoạt động đó trong xã hội Đó làhoạt động tái sản xuất những nhân cách, tái sản xuất những nhu cầu và năng lựccủa con người

Tóm lại, với tư cách là hiện tượng xã hội, giáo dục được hiểu là thế hệtrước truyền thụ những kinh nghiệm lịch sử - xã hội cho thế hệ sau và thế hệ saulĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội đó để tham gia vào đời sống xã hội,

để tồn tại và phát triển trong xã hội loài người Loài người muốn tồn tại và pháttriển phải luôn duy trì hiện tượng giáo dục

Trang 29

1.2.2 Phòng chống tảo hôn

Khơi nguồn để hình thành nên một gia đình thực sự là việc xác lập mốiquan hệ hôn nhân giữa hai người nam và nữ, tiền đề cho việc xác lập mối quan

hệ ấy là việc kết hôn

Ở Anh, độ tuổi kết hôn được pháp luật quy định là từ 16 tuổi trở lên đốivới cả nam và nữ Pháp luật nước Pháp quy định độ tuổi kết hôn của nước này là

18 tuổi trở lên đối với nam và 16 tuổi trở lên đối với nữ, còn tại Việt Nam,Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định độ tuổi kết hôncủa nam là từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên

Mặc dù vậy, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau màviệc nam nữ tảo hôn vẫn diễn ra thường xuyên và trở nên phổ biến ở một sốvùng miền trên cả nước, đặc biệt ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng đồng bàodân tộc thiểu số

Từ góc độ của pháp luật, tảo hôn là hiện tượng kết hôn của hai người nam

và nữ khi họ chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Như vậy, có thể

hiểu tảo hôn theo hai nghĩa sau: “Thứ nhất, tảo hôn là việc nam nữ lấy vợ lấy

chồng có đăng ký kết hôn nhưng một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Thứ hai, tảo hôn là việc nam nữ lấy vợ lấy chồng không đăng ký kết hôn và một hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật” [19, tr.60].

Theo Khoản 4 Điều 8 Luật Hôn nhân Gia đình năm 2000 giải thích: “Tảo

hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật” [18, tr.179].

Như vậy theo chúng tôi: Tảo hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợchồng theo quy định của pháp luật nhưng vi phạm điều kiện độ tuổi kết hôn

Một số quan điểm cần thiết để xem xét về hiện tượng tảo hôn:

Thực tế diễn ra vẫn cho thấy rằng tảo hôn vẫn là vấn đề nhức nhối, nan giải

và khó giải quyết trong bối cảnh hiện nay

Trang 30

Xét ở góc độ xã hội, tảo hôn là việc hai bên nam nữ chưa đủ tuổi kết hôntheo luật định, nhưng đã chung sống với nhau như vợ chồng và không đăng ký kếthôn Xét ở góc độ pháp lý, tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cảhai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật (Khoản 4, Điều 8, LuậtHôn nhân & Gia đình)

Trên thực tế nạn tảo hôn vẫn xảy ra ở tất cả các tỉnh thành trong cả nước.Theo số liệu điều tra của Vụ gia đình (UBDS - GĐ và TE) cho thấy 15 tỉnh, thànhphố cả nước có trên 1% trẻ em ở độ tuổi 14 - 16 đã có vợ chồng Các tỉnh có tỷ lệtrẻ em tảo hôn cao như Hà Giang: 5,72%, Cao Bằng: 5,1%, Lào Cai 2,7%, Sơn La2,6%, Quảng Trị 2,4% và Bạc Liêu 2,1% Những địa phương trên có đến 22% tỷ lệkết hôn không đăng ký vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình, phần lớn các cặp vợchồng kết hôn trước tuổi luật định Theo kết quả điều tra có 30,7% đối tượng kếthôn ở độ tuổi dưới 19, có 0,2% đối tượng kết hôn khi mới 9 tuổi, 0,3% đối tượngkết hôn khi 14 tuổi, 1,0% kết hôn khi 15 tuổi, 3,3% kết hôn khi 16 tuổi, 5,8% kếthôn khi 17 tuổi và 15,6% kết hôn khi 18 tuổi

Phải thấy rằng, trước hết, tảo hôn ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống vàsức khỏe không chỉ của các bé gái, mà cả của các bé trai; các bà mẹ trẻ có nguy cơ

tử vong cao, con cái thường bị chết lưu hoặc chết trong những tháng đầu đời, nếumay mắn sống sót thì cũng èo uột Tiếp theo, tảo hôn làm mất cơ hội học hành, tạodựng nghề nghiệp và cản trở tương lai của thanh thiếu niên Thứ ba, tảo hôn ảnhhưởng xấu tới gia đình về kinh tế, văn hóa; những gia đình tảo hôn thường có nhiềunguy cơ bị bạo lực gia đình Thứ tư, tảo hôn dẫn tới việc làm giảm chất lượng dân

số ở quy mô quốc gia, dẫn tới tình trạng đói nghèo Ngoài ra, tảo hôn còn là nguyênnhân gián tiếp làm trầm trọng thêm nạn cưỡng hiếp trẻ em

Trong Luật hôn nhân và Gia đình Việt Nam xuất bản năm 2015 của NXB

Tư pháp đã đưa ra định nghĩa ngắn gọn đó là “tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồngkhi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ độ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm akhoản 1 Điều 8 của Luật này” [18; tr.8] Định nghĩa này có thể được hiểu theocác nghĩa: thứ nhất, tảo hôn là việc nam nữ lấy vợ lấy chồng có đăng kí kết hôn

Trang 31

nhưng một hoặc cả hai bên chưa đủ độ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật.Quan điểm này cho thấy, tảo hôn là một trường hợp của kết hôn trái pháp luật.Thứ hai, tảo hôn là việc nam nữ lấy vợ lấy chồng không đăng kí kết hôn và mộthoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Thứ ba, tảohôn là việc nam nữ lấy vợ, lấy chồng có đăng kí kết hôn hoặc không đăng kí kếthôn nhưng một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo pháp luật.

Căn cứ vào điều kiện tự nhiên xã hội nước ta và sự phát triển của tâm sinh

lý của con người mà luật pháp Việt Nam (Điều 8, Chương II của Luật Hôn nhân

và Gia đình) quy định độ tuổi kết hôn: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18tuổi trở lên” mới được kết hôn Kết hôn khi chưa đủ tuổi theo quy định trên làtảo hôn và là vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình

Tóm lại, nhìn nhận ở góc độ xã hội, tảo hôn là việc hai bên nam nữ chưa

đủ tuổi kết hôn theo luật định nhưng đã chung sống với nhau như vợ chồng vàkhông đăng kí kết hôn Nhìn ở góc độ pháp lý, tảo hôn là việc lấy vợ lấy chồngkhi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật.Tảo hôn là một trường hợp của kết hôn trái pháp luật

Tảo hôn được coi là tệ nạn xã hội, gây ra nhiều hệ lụy xấu, không chỉ gâyhại cho sức khỏe của trẻ em ở hiện tại mà còn có nguy cơ ảnh hưởng đến nòigiống cũng như chất lượng cuộc sống, tương lai sau này của con em Đấu tranhxóa bỏ là một việc làm cần thiết nhằm ngăn chặn kịp thời những hệ quả đángtiếc xảy ra đối với thế hệ “mầm non” tương lai của đất nước

Theo Bộ luật hình sự Việt Nam, người nào có hành vi tảo hôn (hành vi cố

ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù

đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó) hoặc tổ chứctảo hôn (tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn) đều bị xửphạt nghiêm trọng

Như vậy, đến đây ta có thể hiểu phòng chống tảo hôn là phòng ngừa,

ngăn chặn, đấu tranh chống tảo hôn.

Trang 32

có sức cố kết nội tại cao, với những tiêu chí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng

xử chung dựa trên sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộngđồng, nhờ đó các thành viên của cộng đồng cảm thấy có sự gắn kết họ với cộngđồng và với các thành viên khác của cộng đồng

Phát triển cộng đồng (community development) là một tiến trình giảiquyết các vấn đề của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, nhằmphát triển về đời sống vật chất, tinh thần thông qua việc nâng cao năng lực củacộng đồng, tăng cường sự tham gia, liên kết giữa các thành viên trong cộng đồngnhờ yếu tố nội lực và yếu tố bên ngoài

1.2.4 Giáo dục phòng chống nạn tảo hôn dựa vào cộng đồng

Giáo dục phòng chống tảo hôn được coi là một nội dung của giáo dụcpháp luật Giáo dục cho mọi đối tượng để mọi người tự giác chấp hành pháp luật

về hôn nhân là biện pháp hàng đầu trong các giải pháp cấp bách nhằm giảmthiểu tảo hôn

Thông qua việc phân tích khái niệm tảo hôn cùng với định nghĩa giáo dục

thì "Giáo dục phòng chống tảo hôn là hình thức truyền đạt những kiến thức

pháp luật về hôn nhân và gia đình để mọi người hiểu, tuân thủ và tránh hậu quả

do tảo hôn gây ra".

Giáo dục phòng chống tảo hôn dựa vào cộng đồng là huy động các nguồnlực cộng đồng như: chính quyền, nhà trường, các đoàn thể, ban ngành huyện, xã,hội phụ huynh… nhằm giúp nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật, chuyển đổi

Trang 33

hành vi trong hôn nhân của học sinh DTTS góp phần giảm thiểu tình trạng tảohôn.

1.3 Một số vấn đề về tảo hôn ở học sinh

1.3.1 Bản chất của tảo hôn học sinh: là việc học sinh lấy vợ, lấy chồng

khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật.(Khoản 8, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình)

1.3.2 Dấu hiệu tảo hôn: Các em có khả năng sinh sản nhưng chưa trưởng

thành về mặt tâm lý và xã hội Bởi vậy lứa tuổi học sinh THPT không có sự cânđối giữa việc phát dục, tình cảm và ham muốn tình dục với mức độ trưởng thành

về xã hội Các em chưa biết đánh giá, kìm nén những bản năng, ham muốn củabản thân, chưa biết kiểm tra tình cảm và hành vi, chưa biết xây dựng mối quan

hệ đúng đắn với bạn khác giới Điều này sẽ dẫn đến việc cá nhân có những hành

vi mang tính bột phát, sai lệch Việc quản lý con em của phụ huynh ở vùng cao

có “thoáng” hơn rất nhiều so với miền xuôi Trên thực tế, bên cạnh những giađình người dân tộc nề nếp, quản lý, giáo dục con em khá chặt chẽ thì nhiều rấtgia đình có sự buông lỏng con cái, chiều con không đúng, để con tự quyết nhiều

dù trong độ tuổi nhận thức chưa đúng

1.3.3 Ảnh hưởng của tảo hôn đối với học sinh THPT

Học sinh THPT đang ở giai đoạn đầu của thanh niên, do đó các em chưaphát triển toàn diện về tâm, sinh lí Nạn tảo hôn mang đến những hệ lụy khôngnhỏ đối với chính bản thân học sinh tảo hôn, gia đình, nhà trường và xã hội

Trước hết, tảo hôn ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống và sức khỏe củabản thân các em học sinh khi cơ thể ( đặc biệt là các học sinh nữ) chưa phát triểntoàn diện, chưa có kiến thức cơ bản về hôn nhân, gia đình, chăm sóc sức khỏesinh sản Do đó, những đứa trẻ được sinh ra bởi các cặp bố mẹ tảo hôn thường

có nguy cơ chết non hoặc dị tật bẩm sinh rất lớn

Hơn nữa, tảo hôn khiến các em học sinh phải nghỉ học giữa chừng, làmmất cơ hội tiếp cận kiến thức, tạo dựng nghề nghiệp và cản trở tương lai của bảnthân các em

Trang 34

Tảo hôn ảnh hưởng xấu tới gia đình về kinh tế, văn hóa, khi chưa đảm bảo

sự phát triển đầy đủ về tâm sinh lí, không có trình độ văn hóa thì các gia đình cóhọc sinh tảo hôn thường phải chăm lo, chu cấp cho những đôi vợ chồng trẻ từ đódẫn đến kinh tế gia đình ngày càng khó khăn hơn; những gia đình tảo hônthường có nhiều nguy cơ bị bạo lực gia đình

1.4 Giáo dục phòng, chống nạn tảo hôn cho học sinh THPT dựa vào cộng

đồng

1.4.1 Mục tiêu giáo dục phòng chống tảo hôn học sinh THPT dựa vào cộng

đồng

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn

và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2025”

(Quyết định số 498/QĐ-TTg); theo đó “Giảm bình quân 2% - 3%/năm số cặp

tảo hôn và 3% - 5%/năm số cặp kết hôn cận huyết thống đối với các địa bàn, dân tộc thiểu số có tỷ lệ tảo hôn, kết hôn cận huyết thống cao Đến năm 2025, phấn đấu ngăn chặn, hạn chế tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số” [28].

Để hoàn thành mục tiêu trên đòi hỏi đội ngũ cán bộ công tác dân tộc cáccấp, cán bộ văn hóa - xã hội xã, thị trấn phải nỗ lực làm tốt công tác vận động,

tư vấn, truyền thông

Theo tâm lí học xã hội thì bản chất của con người nói chung là tổng hòacủa các mối quan hệ xã hội Do đó cộng đồng có ảnh hưởng rất lớn tới việc hìnhthành nhân cách con người Nhân cách của mỗi cá nhân là nhân cách của cộngđồng, nhưng đã được cá thể hóa một cách chọn lọc Hành vi và hoạt động củacộng đồng có ảnh hưởng chi phối lệ thuộc lẫn nhau hoặc trực tiếp, hoặc giántiếp Vì vậy, hiện tượng hôn nhân nói chung và tảo hôn nói riêng không thể coi

là việc riêng của mỗi cá nhân và gia đình mà là của cả cộng đồng

Giáo dục phòng chống tảo hôn dựa vào cộng đồng là huy động các nguồnlực cộng đồng như: chính quyền, nhà trường, hội phụ huynh, các đoàn thể, banngành huyện, xã … nhằm giúp nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật, chuyển

Trang 35

đổi hành vi trong hôn nhân của học sinh DTTS góp phần giảm thiểu tình trạngtảo hôn.

Vì vậy, giáo dục phòng chống tảo hôn nhân cho học sinh THPT dựa vàocộng đồng nhằm mục tiêu chính là để tuyên truyền giáo dục về ý nghĩa, tầmquan trọng của việc tuân thủ quy định của pháp luật về kết hôn giúp nâng caonhận thức cho các em học sinh để các em có hành động đúng đắn Do đó nộidung giáo dục chủ yếu phổ biến các quy định của pháp luật có liên quan đến hônnhân gia đình, tảo hôn cũng như hậu quả, tác hại tiến tới chấm dứt tình trạng tảohôn

Về kiến thức: Trang bị cho các em học sinh những kiến thức cơ bản vềLuật Hôn nhân và Gia đình, thế nào là tảo hôn và những tác hại của vấn nạn tảohôn đối với bản thân các em, gia đình và xã hội

Về thái độ: giúp các em nhận thấy tảo hôn là trái pháp luật, ảnh hưởngxấu tới xã hội Từ đó giúp các em chuyển biến về thái độ, từ đồng tình hoặc mặcnhiên thừa nhận đến biết phản đối vấn nạn này

Về kĩ năng: Giúp các em học sinh có những hiểu biết và kĩ năng cần thiết

để từ chối không tảo hôn, tuyên truyền cho gia đình và đồng bào tại địa phương

về tác hại của tảo hôn, góp phần giảm tỉ lệ tảo hôn tại địa phương

1.4.2 Nội dung giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh THPT dựa vào

cộng đồng

Như chúng ta biết “giáo dục là quá trình tổ chức các loại hình hoạt động

phong phú, đa dạng nhằm hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực của con người, đáp ứng được các yêu cầu của xã hội, thời đại” [22, tr.47] Vì

vậy, để thực hiện được mục tiêu phòng chống tảo hôn cho cộng đồng các dân tộcthiểu số cần phải đưa ra các nội dung tương ứng, phù hợp với tình hình thực tếcủa từng địa phương, từng cộng đồng

Một nhà xã hội học người Mỹ từng khẳng định “Luật pháp chỉ là lá chắn

cuối cùng Luật không có hiệu quả khi con người không có tâm thế sẵn sàng tuân thủ nó” [24, tr.48] Tâm thế đó chính là ý thức phải trái tốt xấu, nói cách

Trang 36

khác là lương tâm, ý thức đạo đức làm người Vì vậy, để giáo dục phòng chốngtảo hôn đạt hiệu quả, trước hết cần giáo dục đạo đức cho cộng đồng các dân tộc

thiểu số trên địa bàn huyện “Đạo đức là những quy tắc, những chuẩn mực trong

quan hệ xã hội, được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được cả xã hội thừa nhận” [25, tr.47] Giáo dục đạo đức là tác động của nhà giáo dục lên đối

tượng giáo dục, giúp họ tôn trọng lẽ phải, công bằng, văn minh, sống có lươngtâm, trách nhiệm với gia đình và xã hội Trước xu thế đất nước hội nhập, vấn

đề giáo dục đạo đức có vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt đối với thế hệ trẻ,việc giáo dục đạo đức sẽ giúp các thanh, thiếu niên có lập trường, quan điểmsống, phẩm chất đạo đức phù hợp với chuẩn mực xã hội, có khả năng địnhhướng và lựa chọn con đường đi đúng đắn Nội dung giáo dục đạo đức bao gồm:giáo dục lý luận chính trị; giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc; giáo dục ýthức tập thể; giáo dục lòng nhiệt tình, hăng say lao động; giáo dục hành vi vănminh trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; giáo dục ý thức công dân

Giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh THPT dựa vào cộng đồngnhằm mục đích chính là để tuyên truyền giáo dục về ý nghĩa, tầm quan trọng củaviệc tuân thủ quy định của pháp luật về kết hôn giúp nâng cao nhận thức cho các

em từ đó có hành động đúng đắn từng bước hạn chế, tiến tới chấm dứt tình trạngtảo hôn

*Về kiến thức: Giáo dục một số quy định về hôn nhân và gia đình như:

- Hôn nhân: Là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn

- Chế độ hôn nhân và gia đình là toàn bộ những quy định của pháp luật vềkết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con, giữacác thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con; quan hệhôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và những vấn đề khác liên quan đếnhôn nhân và gia đình

- Tập quán về hôn nhân và gia đình là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng

về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình, được lặp đi,

Trang 37

lặp lại trong một thời gian dài và được thừa nhận rộng rãi trong một vùng, hoặcmiền hoặc cộng đồng;

- Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quyđịnh của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn

- Kết hôn trái pháp luật: là việc nam, nữ đăng ký kết hôn tại cơ quan nhànước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn

do pháp luật quy định

- Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủtuổi kết hôn theo quy định của pháp luật (Khoản 8, điều 3 Luật hôn nhân và giađình)

- Cấm các hành vi sau đây:

+) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

+) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn

+) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợchồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chungsống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ

- Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lýnghiêm minh, đúng pháp luật

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu tòa án, cơ quan khác có thẩmquyền áp dụng biện pháp kịp thời ngăn chặn và xử lý người có hành vi, vi phạmpháp luật về hôn nhân và gia đình

- Điều kiện kết hôn:

+) Nam từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ đủ mười tám tuổi trở lên;

+) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

+) Không bị mất năng lực, hành vi dân sự;

+) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn quyđịnh tại Khoản 2 điều 5 của luật này

* Giáo dục về tác hại của tảo hôn: Trước hết, tảo hôn ảnh hưởng nghiêmtrọng tới cuộc sống và sức khỏe của bản thân các em học sinh

Hơn nữa, tảo hôn khiến các em học sinh phải nghỉ học giữa chừng, làm

Trang 38

mất cơ hội tiếp cận kiến thức, tạo dựng nghề nghiệp và cản trở tương lai của bảnthân các em

Tảo hôn ảnh hưởng xấu tới gia đình về kinh tế, văn hóa, khi chưa đảm bảo

sự phát triển đầy đủ về tâm sinh lí, không có trình độ văn hóa thì các gia đình cóhọc sinh tảo hôn thường phải chăm lo, chu cấp cho những đôi vợ chồng trẻ từ đódẫn đến kinh tế gia đình ngày càng khó khăn hơn; những gia đình tảo hônthường có nhiều nguy cơ bị bạo lực gia đình

Đối với xã hội: tảo hôn dẫn tới việc làm giảm chất lượng dân số ở quy môquốc gia, dẫn tới tình trạng đói nghèo, tệ nạn xã hội

1.4.3 Hình thức tổ chức giáo dục phòng chống tảo hôn học sinh dựa vào

cộng đồng

Giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh THPT cần có những hìnhthức phù hợp với đặc thù của tâm sinh lí lứa tuổi, dân tộc, địa phương Do đócần dựa vào tình hình thực tế để lựa chọn những hình thức tuyên truyền, phùhợp

- Tuyên truyền, giáo dục học sinh DTTS chấp hành các quy định về hônnhân và gia đình

+ Tổ chức tuyên truyền lồng ghép trong các tiết chào cờ, sinh hoạt tập thể.+ Tuyên truyền thông qua hệ thống sách báo, tranh ảnh, pa nô, áp phíchtại thư viện, khu bán trú, khu lớp học

+ Tuyên truyền qua hệ thống phát thanh của nhà trường

+ Tích hợp nội dung trong các môn học như: Giáo dục công dân, Ngữvăn, Địa lí, Lịch sử…

- Tổ chức đa dạng các hình thức về giáo dục phòng chống tảo hôn:

+) Thi tìm hiểu về luật hôn nhân và gia đình

+) Thi xử lí tình huống

+) Thi tiểu phẩm, thi hùng biện;

+) Hoạt động câu lạc bộ hôn nhân và gia đình, sức khỏe sinh sản vị thànhniên

- Tổ chức cho phụ huynh học sinh tham gia công tác phòng chống tảo

Trang 39

hôn, giúp họ hình thành những kiến thức tối thiểu về hôn nhân nhằm giáodục con em mình ở mọi lúc mọi nơi ngăn chặn và đẩy lùi tảo hôn

1.5 Giáo dục phòng, chống nạn tảo hôn cho học sinh THPT dựa vào cộng đồng

1.5.1 Sự cần thiết của phối hợp các lực lượng cộng đồng trong giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh Trường THPT Dào San

Giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh Trường THPT Dào San là hoạtđộng diễn ra trong một quá trình lâu dài Để đạt được mục đích và mục tiêu đề

ra, hoạt động này cần phải được đảm bảo các điều kiện cần thiết từ hệ thống cơchế chính sách có liên quan, nhân lực thực hiện, sự hoàn thiện các thành tố củahoạt động GD và cần được đảm bảo về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện

và kinh phí cho quá trình tổ chức các hoạt động GD Muốn hoạt động giáo dụcphòng chống tảo hôn cho học sinh Trường THPT Dào San cần có sự tham gia, phốihợp thường xuyên và hiệu quả của các lực lượng ở trong và ngoài nhà trường.Thông qua quá trình phối hợp giữa các lực lượng ở trong và ngoài nhà trường,các điều kiện cần thiết giúp cho hoạt động này được thực hiện thường xuyên,thuận lợi và có thể mang lại những kết quả thiết thực

1.5.2 Các lực lượng cộng đồng tham gia giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh trường THPT Dào San

Để hoạt động giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinh trường THPTDòa San có thể diễn ra thường xuyên và ngày càng đạt được hiệu quả cần có sựtham gia của nhiều lực lượng thuộc các cơ quan, tổ chức trong xã hội

Trong luận văn, chúng tôi đề cập cập đến vai trò trực tiếp của các lựclượng cộng đồng tham gia dưới đây:

* Cán bộ quản lí trường THPT Dào San

CBQL trường THPT Dào San mà trực tiếp là Hiệu trưởng, phó hiệu trưởngnắm vững và triển khai các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và nhà nướctới CBQL,GV,NV trong toàn trường Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện cácnhiệm vụ của nhà trường (chú trọng việc xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động GD

Trang 40

phòng chống tảo hôn cho HS) Tích cực tìn hiểu văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tậpquán, đặc điểm tâm, sinh lí HS người DTTS; phối hợp với các lực lượng ở trong vàngoài nhà trường đảm bảo các điều kiện cần thiết cho quá trình tổ chức thực hiệnchương trình và các hoạt động GD phù hợp với đặc điểm của học sinh THPT; phốihợp với chính quyền, các cơ quan đoàn thể, cá nhân và tổ chức xã hội ở địa phươngtrong giáo dục phòng chống tảo hôn cho HS trong nhà trường.

* Giáo viên trường trung học phổ thông Dào San

GV trường trung học phổ thông Dào San là lực lượng cụ thể hóa các chủtrương của cấp trên, kế hoạch của Hiệu trưởng hoặc Phó hiệu trưởng phụ tráchchuyên môn trong kế hoạch giảng dạy và giáo dục HS; tìm hiểu và GD chủtrương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; tích cực tìm hiểu phong tục,tập quán đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương; tổ chức các hoạt động trảinghiệm, tham quan, khảo sát tìm hiểu thực tế về tình trạng kết hôn tại các bản;

* Cán bộ Đoàn thanh niên nhà trường

Dưới sự chỉ đạo của lãnh đạo nhà trường mà trực tiếp là Chi bộ, Ban giámhiệu, Cán bộ đoàn cần phối hợp với GV tổ chức các hoạt động cho học sinh saunhững giờ học chính khóa Lực lượng này có vai trò quan trọng trong việc xâydựng các nội dung hoạt động trong đó có lồng ghép các nội dung giáo dụcphòng chống tảo hôn cho học sinh trường THPT Dào San, trên cơ sở đó, tổ chứccác hoạt động theo hướng da đạng, phong phú nhằm mang lại hiệu quả GD nóichung và phòng chống tảo hôn cho học sinh nói riêng

* Cán bộ chính quyền địa phương

Cán bộ chính quyền địa phương chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành thườngxuyên tham gia các hoạt động giáo dục phòng chống tảo hôn cho học sinhtrường THPT Dào San, tăng cường các nguồn lực đầu tư cho trường THPT DàoSan và các hoạt động giáo dục phòng chống tảo hôn cho HS của nhà trường Chỉđạo trung tâm dân số KHHGD phối hợp với nhà trường xây dựng kế hoạch, đưanội dung phòng chống tảo hôn vào chương trình giảng dạy

* Cán bộ cơ quan công an

Ngày đăng: 06/07/2020, 20:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thúy Bình (1991), Thực trạng hôn nhân ở các dân tộc miền núi, tạp chí dân tộc học, số 02/1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hôn nhân ở các dân tộc miền núi, tạpchí dân tộc học
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Năm: 1991
2. Trần Ngọc Bình (2008), Văn hóa các dân tộc Việt Nam, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Bình
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2008
3. Trần Ngọc Bình (2009), Tìm hiểu một số nét văn hóa pháp lý các dân tộc Việt Nam, NXB Tư Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số nét văn hóa pháp lý các dân tộcViệt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Bình
Nhà XB: NXB Tư Pháp
Năm: 2009
4. Bế Văn Đẳng (1996), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội của miền núi, NXB VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xãhội của miền núi
Tác giả: Bế Văn Đẳng
Nhà XB: NXB VHDT
Năm: 1996
5. Phạm Hồ Đấu, Trần Thị Liên (2011), Đời sống văn hóa dân tộc Mông, NXB Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa dân tộc Mông
Tác giả: Phạm Hồ Đấu, Trần Thị Liên
Nhà XB: NXB Thanh Hóa
Năm: 2011
7. Lê Sĩ Giáo (2012), Dân tộc học đại cương, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc học đại cương
Tác giả: Lê Sĩ Giáo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
8. Nguyễn Thái Hà (2012), “Tảo hôn hiểm họa đối với hàng triệu em gái”, Dân số và phát triển số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tảo hôn hiểm họa đối với hàng triệu em gái”
Tác giả: Nguyễn Thái Hà
Năm: 2012
9. Đặng Thị Hoa (2005), Ảnh hưởng của phong tục tập quán tới chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em người Hmông, Tạp chí Lịch sử Đảng số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của phong tục tập quán tới chăm sócsức khỏe bà mẹ và trẻ em người Hmông
Tác giả: Đặng Thị Hoa
Năm: 2005
10. Đặng Thị Hoa,Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyễn Thị Thanh (2004), Hôn nhân gia đình các dân tộc Hmông, Dao ở hai tỉnh Lai Châu và Cao Bằng, NXB VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân gia đình các dân tộc Hmông, Dao ở hai tỉnh Lai Châu và Cao Bằng
Tác giả: Đặng Thị Hoa, Nguyễn Ngọc Tấn, Nguyễn Thị Thanh
Nhà XB: NXB VHDT
Năm: 2004
11. Ngô Thị Quỳnh Hoa (2017), Giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người huyện Đồng Xuân – tỉnh Phú Yên, luận văn thạc sĩ Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục phòng chống nạn tảo hôn vùng đồng bào dân tộc ít người huyện Đồng Xuân – tỉnh Phú Yên
Tác giả: Ngô Thị Quỳnh Hoa
Nhà XB: Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2017
12. Nguyễn Văn Huy (1997), Kể chuyện phong tục các dân tộc Việt Nam, NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện phong tục các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Huy
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1997
13. Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê (1997), Giáo dục học đại cương, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương
Tác giả: Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: NXBGiáo dục
Năm: 1997
16. Đạo Liên, Hà Sơn (2008), Tìm hiểu về hôn nhân loài người, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về hôn nhân loài người
Tác giả: Đạo Liên, Hà Sơn
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2008
17. Đặng Văn Lung (1997), Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam, NXB VHDT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Đặng Văn Lung
Nhà XB: NXBVHDT
Năm: 1997
19. Nguyễn Văn Mạnh (2017), Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Bình, Quảng trị, Tạp chí Thông tin khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Bình, Quảng trị
Tác giả: Nguyễn Văn Mạnh
Nhà XB: Tạp chí Thông tin khoa học
Năm: 2017
6. Đẩy lùi tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, 25/07/2017, http://www.baolaichau.vn Link
15. Lai Châu cần coi trọng công tác dân tộc, giải quyết nạn tảo hôn, 15/07/2016 Khác
18. Luật hôn nhân và Gia đình (2000), NXB Tư pháp, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w