1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIÁO dục nếp SỐNG văn MINH CHO NGƯỜI dân TRÊN địa bàn THÀNH PHỐ đà lạt, TỈNH lâm ĐỒNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG lễ hội copy

138 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 871,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị định 110/2018/NĐ-CP đã quy định: “…việc tổ chức lễ hội nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", tôn vinh công lao các bậc tiền nhân, n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

VŨ THỊ HỒNG VĨNH

GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN MINH CHO NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI

Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng

Mã ngành: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thanh Thúy

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu: “Giáo dục nếp sống văn minh cho người dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng thông qua hoạt động lễ hội” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hoàng Thanh Thúy là công trình

nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luậnvăn có nguồn gốc rõ ràng, chính xác Kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là

do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp vớithực tiễn Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất cứ một nghiêncứu nào khác

Tác giả luận văn

Vũ Thị Hồng Vĩnh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, em xin bảy tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tớiquý thầy cô Khoa Tâm lý - Giáo dục học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, cácthầy cô đã tham gia giảng dạy và cung cấp kiến thức, tạo điều kiện giúp đỡ emtrong quá trình học tập nghiên cứu rèn luyện tại nhà trường

Đặc biệt với tấm lòng thành kính, em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhấttới PGS.TS Hoàng Thanh Thúy, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp

đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới lãnh đạo Sở VH-TT&DL tỉnh LâmĐồng, UBND thành phố Đà Lạt, Phòng VH-TT thành phố Đà Lạt… đã tạo điềukiện về thời gian, vật chất, tinh thần cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu luậnvăn Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, đã nhiệt tình giúp đỡ động viên tôihoàn thành khoá học và luận văn của mình

Mặc dù đã dành thời gian, công sức và cố gắng rất nhiều trong việc nghiêncứu và thực hiện đề tài luận văn của mình Song điều kiện về thời gian và nănglực bản thân còn hạn chế, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nênluận văn của em còn có những khiếm khuyết Kính mong nhận được sự góp ý,chỉ bảo chân thành của Thầy Cô và các bạn đồng nghiệp để em được tiến bộ vàtrưởng thành hơn về chuyên môn cũng như về công tác nghiên cứu khoa học.Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2019

Tác giả luận văn

Vũ Thị Hồng Vĩnh

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc của luận văn 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN MINH CHO NGƯỜI DÂN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI 8

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 8

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về việc giáo dục nếp sống văn minh cho người dân 8

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về giáo dục nếp sống văn minh thông qua lễ hội 9

1.2 Nếp sống văn minh 16

1.2.1 Văn minh 16

1.2.2 Nếp sống văn minh 18

1.3 Lễ hội, đặc điểm của hoạt động lễ hội 19

1.3.1 Khái niệm Lễ hội 19

1.3.2 Đặc điểm của hoạt động lễ hội 20

1.3.3 Vai trò của hoạt động lễ hội 22

1.3.4 Các loại hình hoạt động lễ hội 23

1.4 Giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội 24

1.4.1 Khái niệm Giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội 24

Trang 5

1.4.2 Tầm quan trọng của quá trình giáo dục nếp sống văn minh cho người

dân thông qua hoạt động lễ hội 27

1.4.3 Các yếu tố của quá trình giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội 28

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội 40

1.5.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội 40

1.5.2 Năng lực quản lý của lãnh đạo các sở, ban ngành 41

1.5.4 Yếu tố về thách thức và yêu cầu đối với việc kế thừa, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc 44

Kết luận chương 1 46

Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN MINH CHO NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI 47

2.1 Sơ lược đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 47

2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên 47

2.1.2 Khái quát về lịch sử hình thành của thành phố 48

2.1.3 Khái quát về thực trạng kinh tế, văn hóa, xã hội 50

2.1.4 Khái quát về thực trạng văn hóa lễ hội trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 54

2.2 Khái quát về việc tổ chức khảo sát thực trạng 57

2.2.1 Mục đích khảo sát 57

2.2.2 Địa bàn và khách thể khảo sát 57

2.2.3 Phương pháp khảo sát 58

2.3 Thực trạng thực hiện nếp sống văn minh của người dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội 58

2.3.1 Thực trạng nhận thức của người dân thành phố Đà Lạt về tầm quan trọng của việc thực hiện nếp sống văn minh thông qua hoạt động lễ hội 58 2.3.2 Thực trạng về thái độ và hành vi thực hiện nếp sống văn minh của

Trang 6

người dân thông qua hoạt động lễ hội 60

2.4 Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh cho người dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội 64

2.4.1 Thực trạng nhận thức về ý nghĩa của việc giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội của các lực lượng giáo dục trên địa bàn TP Đà Lạt 64

2.4.2 Thực trạng về nội dung giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội của các lực lượng giáo dục 66

2.4.4 Thực trạng về hình thức giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội của các lực lượng giáo dục 72

2.4.5 Thực trạng các hoạt động trong tổ chức, quản lý lễ hội trên địa bàn TP Đà Lạt 75

2.4.6 Thực trạng về hiệu quả thực hiện giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội của các lực lượng giáo dục trên địa bàn TP Đà Lạt 77

2.4.7 Thực trạng tham gia của các lực lượng cộng đồng vào hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội 79

2.5 Thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiểu quả giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội 82

2.6 Đánh giá chung về thực trạng 84

2.6.1 Ưu điểm 84

2.6.2 Hạn chế 85

2.6.3 Nguyên nhân 86

Kết luận chương 2 87

Trang 7

Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN MINH CHO

NHƯỜI DÂN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG 88

3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 88

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 88

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 88

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 89

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 89

3.2 Biện pháp giáo dục nếp sống văn minh cho người dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội 90

3.2.1 Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội và ý nghĩa của việc giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội 90

3.2.2 Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ chuyên trách kiến thức về giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội phù hợp với thực tiễn của địa phương 92

3.2.3 Biện pháp huy động các lực lượng xã hội tham gia giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội 93

3.2.4 Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện giáo dục nếp sống văn minh thông qua hoạt động lễ hội 94

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 96

3.4 Khảo nghiệm nhận thức về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 97

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 97

3.4.2 Phương pháp khảo nghiệm 97

3.4.3 Đối tượng khảo nghiệm 98

3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 98

Kết luận chương 3 102

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Nhận thức của người dân thanh phố Đà Lạt về tầm quan trọng của

việc thực hiện nếp sống văn minh thông qua hoạt động lễ hội 59 Bảng 2.2 Thực trạng về thái độ thực hiện nếp sống văn minh của người dân

thành phố Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội 60 Bảng 2.3 Thực trạng về hành vi thực hiện nếp sống văn minh của người dân

thông qua hoạt động lễ hội 62 Bảng 2.4 Khảo sát thực trạng nhận thức về ý nghĩa của việc giáo dục nếp sống

văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội của các lực lượng giáo dục 64 Bảng 2.5 Mức độ thực hiện hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho người

dân thông qua hoạt động lễ hội của các lực lượng giáo dục 65 Báng 2.6 Kết quả khảo sát về nội dung giáo dục nếp sống văn minh cho người

dân thông qua hoạt động lễ hội của các lực lượng giáo dục 66 Bảng 2.7 Kết quả khảo sát về phương pháp giáo dục nếp sống văn minh cho

người dân thông qua hoạt động lễ hội của các lực lượng giáo dục 69 Bảng 2.8 Kết quả khảo sát về hình thức giáo dục nếp sống văn minh cho người

dân thông qua hoạt động lễ hội của các lực lượng giáo dục 72 Bảng 2.9 Kết quả khảo sát thực trạng các hoạt động trong tổ chức, quản lý lễ

hội trên địa bàn TP Đà Lạt 75 Bảng 2.10 Kết quả khảo sát thực trạng về hiệu quả thực hiện giáo dục nếp sống

văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội của các lực lượng giáo dục 77 Bảng 2.11: Kết quả đánh giá thực trạng tham gia của các lực lượng cộng đồng

vào hoạt động giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội 79 Bảng 2.12 Kết quả đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hiểu quả

giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội

82

Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp 98

Trang 9

Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 100

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NNCNC: Nông nghiệp công nghệ cao

VHTT: Văn hóa thể thao

UBMTTQVN: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt NamLĐTB&XH: Lao động, thương binh và xã hộiTDTT: Thể dục thể thao

DTTS: Dân tộc thiểu số

UBND: Uỷ ban nhân dân

TP: Thành phố

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lễ hội là một yếu tố văn hoá quan trọng trong đời sống văn hoá các dântộc Tạp chí “Người đưa tin UNESCO” số 11 năm 1998 khi bàn về lễ hội đãcho rằng lễ hội bao giờ cũng có hiệu năng hoá giải tạm thời những điều tráingược, liên kết những gì có xu hướng muốn tách rời các nghi thức và tự pháttruyền thống và phóng túng, tính tôn giáo và phàm tục, kẻ giàu và ngườinghèo, sự cô đơn của từng người và hơi ấm tất cả Sự phá vỡ nhịp điệu thôngthường này của tập đoàn vừa dữ dội, vừa hỗn loạn vừa có tính chất nghi lễ

Do đó, từng chu kỳ một nó tìm lại được điều bí ẩn ở nguồn gốc thế giới bởihỗn độn đến kiệt cùng, nên nhất thiết phải có trật tự

Lễ hội không phải chỉ là lễ hội mà nó còn có ý nghĩa phong phú hơnnhiều Đối với người này nó là lễ hội theo tập quán, đối với người khác nó lại

là cảnh lạ mang tính dân gian Song muốn hiểu được điều đó trước hết cácnền văn hoá phải cần gặp nhau, va chạm nhau và ở mỗi phía bộc lộ ra cái độcđáo, chân xác của mình Người ta thấy trong lễ hội, những hành động tựkhẳng định mình, những hình thức của một tính năng động không ngừng táihồi và cả đến mầm mống không tưởng

Trong lễ hội, mọi hành động sản sinh ra những hệ thống tín ngưỡng vàthần thoại, có thể nói sự linh thiêng, ma thuật, chính trị nổi dậy từ những lễmừng quan trọng ấy Thực ra, người ta có thể định nghĩa lễ hội như một câuhỏi đặt ra cho những người trực tiếp tham gia lẫn những người quan sát từ bênngoài, nhưng người ta không quy tất cả lễ hội về một mẫu số chung

Như vậy lễ hội là một yếu tố văn hoá quan trọng trong đời sống xã hội

Ở mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc thì từng nét văn hoá đó chứa đựng những tínhchất, đặc trưng riêng biệt, mang hơi thở và cuộc sống của xã hội đó Mặtkhác, lễ hội phải phù hợp với điều kiện sống cụ thể, nó nảy sinh và cũng bị

Trang 12

chi phối bằng các hình thức, phương thức lao động, hoàn cảnh sống và môitrường tự nhiên cụ thể.

Ở mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc, từng nét văn hóa lễ hội chứa đựng nhữngtính chất, đặc trưng riêng biệt, mang hơi thở của đời sống xã hội, của cộngđồng; do đó, lễ hội trở thành một yếu tố văn hóa quan trọng trong đời sống xãhội Vì vậy, lễ hội bao giờ cũng phù hợp với điều kiện sống cụ thể, nó nảysinh và cũng bị chi phối bằng các hình thức, phương thức lao động, hoàn cảnhsống và môi trường tự nhiên

Ở nước ta, lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa lâu đời của dân tộc; cósức hấp dẫn, lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội, đã trở thành nhu cầu chínhđáng của nhân dân Hiện nay, Nhà nước khuyến khích tổ chức các lễ hội nhằmphát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đáp ứng nhu cầu của nhân dân

Nghị định 110/2018/NĐ-CP đã quy định: “…việc tổ chức lễ hội nhằm

giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", tôn vinh công lao các bậc tiền nhân, nhân vật lịch sử, những người có nhiều đóng góp trong quá trình hình thành, phát triển đất nước, tuyên truyền giá trị về lịch sử, văn hóa, kiến trúc của di tích, truyền thống tốt đẹp của lễ hội… Người tham gia lễ hội phải chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật; nội quy thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội; ứng xử có văn hóa trong hoạt động lễ hội…”.

Văn kiện Đại hội X Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng cũng đề ra nhiệm vụ: Xây

dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp Xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa, bảo tồn, phát huy các

di sản văn hóa, các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc bản địa; khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới.

Đà Lạt là một đô thị đặc biệt với một bầu không khí lãng mạn, một hệthống di sản kiến trúc phong phú và nhuốm màu hoài cổ, một miền thiên

Trang 13

nhiên hoang dã và hùng vĩ, một vùng văn hóa sắc tộc đa dạng và phong phú.

Và đặc biệt, cư dân của thành phố cao nguyên với những nét tính cách hiềnhòa, thanh lịch, mến khách đã tạo nên những ấn tượng rất riêng

“Buổi sáng, những người nông phu ở đô thị này ra phố, chọn những góckhiêm nhường trong quán cà phê quen Một ly đen và những giai điệu, thường

là Trịnh Công Sơn hay Lê Uyên Phương, những nhạc sĩ từng gắn bó với xứ sởcủa họ Cũng có người thích hòa tấu du dương hay bolero giản dị Chỉ vài bachục phút đầu ngày rồi vác cuốc ra vườn Buổi chiều, lại cốc bia vỉa hè haymột ly vang Nông phu phố núi Đà Lạt, người Đà Lạt là thế, cứ thong thả, cứ

an nhiên tự tại như cuộc sống của họ vốn chỉ cần như vậy…”[3]

Nếu có dịp đến Đà Lạt đúng vào lễ hội, du khách sẽ được hòa mình vàokhông khí tươi vui, rộn ràng của ngày lễ, tham gia vào điệu múa câu háttruyền thống của các dân tộc cũng như được hiểu thêm về nếp sống, về nétvăn hóa riêng có không thể lẫn với bất cứ nơi đâu của người dân Đà Lạt Đó

chắc chắn sẽ là những trải nghiệm tuyệt vời đối với bất cứ ai Song, bảo tồn

và phát huy bản sắc, sắc thái văn hóa ấy là công việc không hề dễ dàng trongquá trình phát triển

Những năm gần đây, việc thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội trênđịa bàn thành phố Đà Lạt còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập Đặc biệt,

“phong trào” tổ chức các lễ hội mở ra nhiều nơi bên cạnh mặt tích cực, mặt

tốt; còn mặt trái, mặt tiêu cực đang là vấn đề xã hội hết sức quan tâm và longại; vì cái lợi chưa thấy, nhưng trước mắt là sự tốn kém sức người, sức của;các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể cũng chưa phát huy hết trách nhiệmtrong việc tổ chức, tuyên truyền, giáo dục người dân xây dựng nếp sống vănminh trong tổ chức lễ hội Đối với người dân, nguyên nhân chủ quan là docòn chịu ảnh hưởng nặng nề của phong tục tập quán, thói quen, tâm lý, điềukiện kinh tế, xã hội… nhưng về khách quan là do công tác tuyên truyền vậnđộng, công tác quản lý và việc tổ chức thực hiện cũng còn nhiều hạn chế,thậm chí buông lỏng

Trang 14

Với mục đích thực hiện tốt Nghị quyết của Đảng, Nghị định của Chínhphủ; Nghị quyết Đảng bộ tỉnh; khắc phục những hạn chế, yếu kém trong tổchức lễ hội; đồng thời giữ gìn, khôi phục, kế thừa và phát huy truyền thốngvăn hóa ứng xử tốt đẹp của người Đà Lạt qua hơn một thế kỷ hình thành vàphát triển; đề cao các giá trị đạo đức, văn hóa, văn minh của con người Đà Lạttrong tổ chức, tham gia lễ hội; tạo nét đẹp riêng cho Đà Lạt - điểm đến du lịch

hấp dẫn, ấn tượng, tôi lựa chọn phân tích và nghiên cứu đề tài “Giáo dục nếp sống văn minh cho người dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng thông qua hoạt động lễ hội”.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lí luận về nếp sống văn minh và giáo dục nếp

sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội; khảo sát, đánh giá

thực trạng giáo dục nếp sống văn minh cho người dân trên địa bàn thành phố

Đà Lạt, đề xuất một số biện pháp giáo dục nếp sống văn minh cho người dântrên địa bàn thành phố Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội nhằm nâng cao kếtquả của hoạt động này trên địa bàn nghiên cứu

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giáo dục nếp sống văn minh cho người dân trên địa bàn thànhphố Đà Lạt

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình giáo dục nếp sống văn minh cho người dân trên địa bàn thànhphố Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội

4 Giả thuyết khoa học

Việc giáo dục nếp sống văn minh cho người dân trên địa bàn thành phố

Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội chưa thực sự đạt được kết quả như mongmuốn Nếu đánh giá một cách toàn diện về thực trạng này, trên cơ sở đó đề ranhững biện pháp mang tính khoa học và hợp lý, phù hợp với đặc điểm cộng

Trang 15

đồng dân cư như tác động vào nhận thức của người dân, tạo ra cơ chế chínhsách, phát huy được các nguồn lực trong dân… thì hoạt động giáo dục nếpsống văn minh cho người dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt thông qua hoạtđộng lễ hội sẽ đạt kết quả tốt hơn.

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận về giáo dục nếp sống văn minh cho ngườidân thông qua hoạt động lễ hội

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục nếp sống văn minh cho ngườidân trên địa bàn thành phố Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội

5.3 Đề xuất và khảo nghiệm mức độ cần thiết và mức độ khả thi các biệnpháp giáo dục nếp sống văn minh cho người dân trên địa bàn thành phố ĐàLạt thông qua hoạt động lễ hội

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Về nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về phối giáo dục nếp sống văn minh chongười dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội theo tiếpcận phát triển cộng đồng

6.2 Về khách thể khảo sát

Tiến hành khảo sát trên 10 chuyên gia; 30 cán bộ quản lí và 100 cán bộ, công chức,

100 người dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt

6.3 Về thời gian nghiên cứu

Từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 5 năm 2019

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1.Các phương pháp nghiên cứu lí luận

7.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết: Luận văn phân tích

và tổng hợp các tài liệu, lí luận liên quan, bao gồm:

- Lí luận về giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạtđộng lễ hội

Trang 16

- Các văn kiện, văn bản chỉ đạo, các văn bản liên quan đến công tácgiáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội.

- Các công trình khoa học, các bài báo đã được công bố

7.1.2 Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: Luận văn sử

dụng phương pháp phân loại và hệ thống hóa kiến thức để sắp xếp phân loạicác nghiên cứu về giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạtđộng lễ hội

7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra

Đề tài xây dựng phiếu hỏi nhằm thu thập các thông tin, số liệu về thựctrạng giáo dục nếp sống văn minh cho người dân trên địa bàn thành phố ĐàLạt thông qua hoạt động lễ hội

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Đề tài thực hiện phỏng vấn nhằm thu thập thông tin về nhận thức, nguyện vọngcủa các người dân, cán bộ quản lí, của cán bộ, công chức,… thực trạng giáo dục nếpsống văn minh cho người dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt thông qua hoạtđộng lễ hội

Đồng thời bổ sung, kiểm tra và làm rõ những thông tin đã thu thập được thôngqua điều tra bằng phiếu hỏi

7.2.3 Phương pháp quan sát

Quan sát các hình thức biểu hiện của công tác giáo dục nếp sống văn minhcho người dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội

7.2.4 Phương pháp chuyên gia

Trực tiếp (làm việc với một số chuyên gia) hoặc gián tiếp (bằng phiếu hỏi)trao đổi những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu: Tâm lí học và Giáo dục học.Đặc biệt xin ý kiến về các biện pháp giáo dục nếp sống văn minh cho người dântrên địa bàn thành phố Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội

Trang 17

7.2.5 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm

Đề tài xem xét lại những kết quả thực tiễn giáo dục nếp sống văn minh chongười dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội, từ đó rút

ra những bài học kinh nghiệm, những kết luận khoa học bổ ích, những ưu điểm cầnhọc hỏi và phát triển; làm cơ sở để đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả côngtác giáo dục nếp sống văn minh cho người dân trên địa bàn thành phố Đà Lạtthông qua hoạt động lễ hội

7.2.6 Phương pháp khảo nghiệm

Xin ý kiến đánh giá của các chuyên gia, các cán bộ quản lí và người dân…

về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp giáo dục nếp sống vănminh cho người dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội

7.3 Các phương pháp xử lí thông tin

Sử dụng các công thức toán học để thống kê, xử lý các kết quả khảo sát

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận của giáo dục nếp sống văn minh cho người dân

thông qua hoạt động lễ hội

Chương 2 Thực trạng giáo dục nếp sống văn minh cho người dân trên

địa bàn thành phố Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội

Chương 3 Biện pháp giáo dục nếp sống văn minh cho người dân trên địa

bàn thành phố Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN MINH CHO

NGƯỜI DÂN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về việc giáo dục nếp sống văn minh cho người dân

Để lưu giữ, phát huy những truyền thống của dân tộc Việt Nam tronggiáo dục đạo đức, nhân cách cho người dân hiện nay thì công tác giáo dụctruyền thống là một phần không thể thiếu trong xã hội Trong giai đoạn hiệnnay với những thời cơ, vận hội lớn luôn song hành cùng thách thức, chúng tacàng phải quan tâm đến nguồn lực con người Từ lâu, việc nghiên cứu để xácđịnh các giá trị văn hóa truyền thống đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và

có nhiều công trình khoa học nghiên cứu làm cơ sở cho việc xây dựng đờisống văn hóa và con người

Những giá trị văn hóa tinh thần, truyền thống dân tộc cũng được đề cậpđến trong một số văn kiện của Đảng, Nhà nước và của Hồ Chí Minh, năm

1982, Viện Mác-Lênin và Tạp chí Cộng sản đã tổ chức hội nghị khoa học đầutiên về chủ đề "Giá trị văn hoá tinh thần của Việt Nam” Các tham luận trìnhbày tại hội nghị đã được in trong hai tập sách lấy tên: "Về giá trị văn hoá tinhthần Việt Nam" do NXB Thông tin lý luận ấn hành năm 1983 [45] Trong đó

đề cập đến một số vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên cứu về giá trịtinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam và khẳng định một số nội dung

cơ bản trong các giá trị truyền thống cần được kế thừa, giáo dục và phát triểntrong quá trình xây dựng đời sống tinh thần ở nước ta Đặc biệt, từ sau khinước ta tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế vận động theo cơ chế thịtrường, nhiều giá trị truyền thống của dân tộc có chiều hướng bị mai một, làmmất đi bản sắc, cốt cách dân tộc thì vấn đề giáo dục, giữ gìn và phát huy giá

Trang 19

trị đạo đức truyền thống dân tộc càng được nghiên cứu và khai thác nhiều hơndưới các khía cạnh khác nhau.

Trong đó, đặc biệt phải kể đến một số bài viết và các công trình, đề tàinghiên cứu như: "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, một nhu cầuphát triển của xã hội hiện đại" của Lương Quỳnh Khuê [19]; "Các giá trịtruyền thống và con người Việt Nam hiện nay" - Chương trình Khoa học côngnghệ cấp Nhà nước, mã số KX-07-02 do Phan Huy Lê [20] chủ biên, 1994;

"Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyểnsang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay", Luận án Tiến sĩ Triết họccủa Nguyễn Văn Lý, 2000 [27]; "Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam vàcái phổ biến toàn nhân loại của đạo đức trong nền kinh tế thị trường" của TrầnNguyên Việt, Tạp chí Triết học, số 5-2002 [44];

Với những công trình nghiên cứu, bài viết nêu trên, vấn đề đạo đứctruyền thống và giáo dục đạo đức truyền thống đã được nhiều công trình, bàiviết đề cập đến Song các công trình này mới chỉ tập trung bàn về vấn đề giáodục truyền thống và giáo dục đạo đức nói chung, chưa có công trình, đề tàikhoa học hay bài viết nào tập trung nghiên cứu vấn đề giáo dục nếp sống vănminh thông qua lễ hội ở Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về giáo dục nếp sống văn minh thông qua lễ hội

* Trên thế giới:

Vấn đề giáo dục văn hóa, giáo dục giá trị được các nhà giáo dục, nhànghiên cứu văn hóa, các chính trị gia từ thời kì từ cổ đại đến hiện đạinghiên cứu, tìm hiểu Đặc biệt, chủ đề văn hóa và giáo dục được bàn bạcrất sôi nổi trong vài thập kỷ gần đây Về vấn đề này, các nhà nghiên cứuđều có quan điểm rằng: Học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn,giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và xã hội, văn hóa điliền với giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và xã hội, văn

Trang 20

hóa luôn đi liền với giáo dục, giáo dục đi liền với văn hóa Tiểu biểu choquan điểm này phải kể đến:

Khổng Tử (551-449TCN) một triết gia nổi tiếng trung hoa cổ đại đượcmệnh danh là “Đại Thành Chi Thánh” từng khẳng định: “Tụng thì tam bách,thụ chi chính bất phạt, sứ vu tứ phương bất năng chuyên đổi” (Đọc kinh thư

300 thiên, nhưng giao chính quyền cho không làm được, đi sứ các nướckhông đổi đáp được, tuy có học nhiều cũng chẳng ích gì) Như vậy, ngay từthời giáo dục chủ yếu đào tạo ra những con người “Tầm chương chích cú” thìvấn đề “học” để “hành” cũng đã được đề cập “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên;Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ; Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”, tư tưởng này thểhiện tinh thần chú trọng học tập từ trải nghiệm và việc làm

Cùng thời gian đó, ở phương Tây, nhà triết học Hy Lạp-Xôcrát (470-399TCN) cũng nêu lên quan điểm: “Người ta phải học bằng cách làm một việc gìđó; Với những điều bạn nghĩ là mình biết, bạn sẽ thấy không chắc chắn chođến khi làm nó”, đây được coi là những nguồn gốc tư tưởng đầu tiên của

“Giáo dục trải nghiệm”

Với hai nhà triết học nổi tiếng Các Mác (18181883) và F.Anghen (1820 1895) - Người sáng lập ra học thuyết cách mạng xã hội chủ nghĩa và là ông tổcủa nền giáo dục hiện đại, đã xác định “mục đích của nền giáo dục XHCN là tạo

-ra con người phát triển toàn diện theo phương thức giáo dục kết hợp với laođộng sản xuất"[9] Đây cũng chính là phương thức giáo dục hiện đại mà V.I.Lênin (1870 - 1924) coi là một trong những nguyên tắc của giáo dục XHCN.Như vậy, từ luận điểm của C.Mác về bản chất xã hội của con người là

“tổng hòa các mối quan hệ xã hội” đến luận điểm về sự kết hợp giáo dục, xâydựng môi trường giáo dục… là một chặng đường dài hơn nửa thế kỷ XX vàđây là cơ sở lí luận cơ bản của việc tổ chức giáo dục giá trị hiện nay Ngàynay, cùng với xu thế hội nhập và sự phát triển của các quốc gia… giáo dụccủa các nước đang có những định hướng cơ bản nhằm tạo một thế hệ năng

Trang 21

động, sáng tạo, thích nghi với hoàn cảnh sống luôn thay đổi, trong đó kĩ năngsống là thành tố cốt lõi của chất lượng giáo dục Điều này được thể hiện trongkhẳng định của UNSECO [43] là:

- Giáo dục thường xuyên, giáo dục suốt đời

- Nhà trường mở, giáo dục mở

- Tăng cường giáo dục cộng đồng, giáo dục gia đình

- Giáo dục cho mọi người

Giáo dục hướng tới 4 trụ cột: học để biết, học để làm, học để chungsống, học để tự khẳng định mình

- Vấn đề giáo dục giá trị, giá trị văn hóa, văn hóa và giáo dục được một

số nước chú ý tới từ vài thập niên cuối thế kỷ XX V.I.Lê Nin khẳng địnhrằng: “Giáo dục là phạm trù vĩnh hằng - tồn tại mãi mãi cùng loài người, thế

hệ trước phải truyền cho thế hệ sau các giá trị lịch sử - xã hội, tạo nên tiến hóakhông ngừng của loài người phải đắm mình vào quá trình giáo dục” [22] Nhưvậy, văn hóa luôn đi liền với giáo dục, giáo dục đi liền với văn hóa Văn hóa -Văn minh là nội dung của Giáo dục - Đào tạo

- Đến cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI một số tổ chức quốc tế và một sốnước đã có chương trình, tổ chức chuyên trách về giáo dục giá trị Năm 1996UNICEF tổ chức hội thảo với sự tham gia của 20 hội giáo dục bàn về giáodục giá trị sống (Living Valucs Education- viết tắt là LVE), trong đó có giá trịhọc suốt đời Hưởng ứng hội thảo năm 1998, một số nhà giáo và tâm lí học ở

Mỹ tổ chức một số hoạt động giáo dục giá trị sống, tập trung vào tiểu học vàtrung học cơ sở Năm 2000 Mỹ lập ra một chương trình và tổ chức phi lợinhuận về vấn đề này Châu Á- Thái Bình Dương có mạng lưới giáo dục quốc

tế và giáo dục giá trị (Asia Pacific Network for Intenational and ValuesEducation - APNIEVE), hội nghị lần thứ 10 (2005) và lần thứ 11 (2007) củaAPEID (phát triển Canh Tân giáo dục châu Á - Thái Bình Dương) thuộcUNESCO Bangkok bàn chuyên về giáo dục giá trị, coi đây là nội dung quan

Trang 22

trọng nhất để đảm bảo sự phát triển bền vững Úc là nước rất tích cực triểnkhai giáo dục giá trị, từ 1999 đã có chương trình giáo dục giá trị, có cả mạngcác nhà giáo dục giá trị (Values Educators Networks), có hàng chục dự án vềgiáo dục giá trị Trên phạm vi toàn thế giới cũng có hội giáo dục giá trị sốngquốc tế kết nạp 80 nước tham gia, có chương trình giáo dục giá trị sống với

74 nước thành viên, Việt Nam cũng tham gia chương trình này

Từ giữa thế kỷ XX, nhà khoa học giáo dục nổi tiếng người Mỹ, JohnDewey, với tác phẩm Kinh nghiệm và Giáo dục (Experience and Education)[39] đã chỉ ra hạn chế của giáo dục nhà trường và đưa ra quan điểm về vai tròcủa kinh nghiệm trong giáo dục Với triết lí giáo dục đề cao vai trò của kinhnghiệm, Dewey cũng chỉ ra rằng, những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dụcgiúp nâng cao hiệu quả giáo dục bằng cách kết nối người học và những kiếnthức được học với thực tiễn Kolb [50] (1984) cũng đưa ra một lí thuyết vềhọc từ trải nghiệm (Experiential learning), theo đó, học là một quá trình trong

đó kiến thức của người học được tạo ra qua việc chuyển hóa kinh nghiệm.Nghĩa là, bản chất của hoạt động học là quá trình trải nghiệm Một số quanniệm khác của các học giả quốc tế cho rằng giáo dục trải nghiệm coi trọng vàkhuyến khích mối liên hệ giữa các bài học trừu tượng với các hoạt động giáodục cụ thể để tối ưu hóa kết quả học tập (Sakofs, 1995) [51] Học từ trảinghiệm phải gắn kinh nghiệm của người học với hoạt động phản ánh và phântích (Chapman, McPhee and Proudman, 1995) Chỉ có kinh nghiệm thì chưa

đủ để được gọi là trải nghiệm chính quá trình phản ánh đã chuyển hóa kinhnghiệm thành trải nghiệm giáo dục (Joplin, 1995)

J.A.Comenxki (1592-1670), là cha đẻ của nền giáo dục cận đại, đã cónhững cống hiến quý báu cho sự nghiệp giáo dục Ông đã nêu lên nhiềunguyên tắc, phương pháp sư phạm mới của việc dạy học nhằm phát huy tínhtích cực chủ động của học sinh, phản đối phương pháp giảng dạy kinh nghiệmgiáo điều Ông đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc trực quan Ông đã phân tích tỉ

Trang 23

mỉ những yêu cầu cơ bản đối với nguyên tắc dạy và học khác như: bảo đảmtính hệ thống, liên tục, vừa sức, củng cố tri thức, ôn tập, khêu gợi hứng thúcho học sinh Ông chú trọng đến việc bồi dưỡng cho học sinh những tri thứcphong phú phục vụ cho nhu cầu thực tế.

Petxtalôxi (1746-1827)- một nhà giáo dục lớn của Thụy Sĩ và người đươngthời gọi ông là: “Ông thầy của các ông thầy” Bằng con đường giáo dục thôngqua thực nghiệm ông muốn cứu vớt trẻ em mồ côi, con nhà nghèo Nhân dândựng tượng ông và ghi dòng chữ: “Tất cả cho người khác, không gì cho mình”.Ông dựng ra “Trại mới” giúp trẻ vừa học văn hóa, vừa lao động ngoài lớp,không những tạo ra của cải vật chất mà còn là con đường giáo dục toàn diện chohọc sinh Ông quan niệm giáo dục gia đình đi trước, giáo dục trường học là sựtiếp nối “Giờ nào sinh ra trẻ em thì giờ đó bắt đầu sự giáo dục”

A.X.Macrenco (1888-1939), nhà giáo dục thực tiễn Xô Viết viết bằngkinh nghiệm gần 20 năm với trại lao động Goocki và công xã Deczinxki nhằmcải tạo trẻ em phạm pháp trong trường mà ông đã gắn liền giáo dục trong laođộng, trong sinh hoạt tập thể và hoạt động xã hội đồng thời chứng minh chân lígiáo dục XHCN; giáo dục trong sinh hoạt xã hội; giáo dục trong tập thể, bằngtập thể, giáo dục trong lao động, giáo dục bằng tiền đồ vĩnh cảnh

* Ở Việt Nam:

Từ thời kì đầu của nền giáo dục nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủtịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phương pháp để đào tạo nên những người tài đứclà: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trườnggắn liền với xã hội” Bác đã từng nói: "Giáo dục phải theo hoàn cảnh và điềukiện" và "Một chương trình nhỏ mà được thực hành hẳn hoi còn hơn một trămchương trình lớn mà không làm được” Trong bài báo "1-6" ký tên C.B đăngtrên báo Nhân dân số ra ngày 01-6-1955, Bác đã đề ra nội dung giáo dục toàndiện đối với học sinh bao gồm: thể dục, trí dục, mỹ dục, đức dục Bác đã đưa

ra quan điểm giáo dục thiếu nhi đó là: "Trong quá trình giáo dục thiếu nhi

Trang 24

phải giữ toàn vẹn cái tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung củachúng Và trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cầnlàm cho chúng học" Bác yêu cầu: "Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ

gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn" [27]

Nước ta rất chú trọng đến giáo dục nếp sống văn minh cho người dân.Nhất là từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, giáo dục tinh thần yêu nước,thương nòi, đạo lý, nhân nghĩa, tính nhẫn lại, trí thông minh, hiếu học đượcchú ý Từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (1930) trong nhiều văn kiện củamình, Đảng đã đúc kết giá trị ấy thành ý chí quyết định thắng lợi phong tràocách mạng

Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, giáo dục nếp sống văn minhcho người dân trong các hoạt động lễ hội được Đảng, Nhà nước xã hội quantâm Có rất nhiều công trình nghiên cứu của tác giả đi trước đã đề cập đến, kếđến như:

- Phan Kế Bính (2015), “Việt Nam phong tục”, NXB Văn học [4] lễ hội

đó là chuyện của làng xóm, chuyện của cộng đồng làng xã Bây giờ, nhiều người bảo hãy cứ trả lễ hội về cho cộng đồng quản lý Thoáng nghe có vẻ là rất hợp lý, nhưng tôi xin hỏi cộng đồng đó là cộng đồng nào? Hiện nay, xã hội phát triển, trong đời sống hiện đại đã sinh ra những lễ hội lớn, mang tầm vóc quốc gia thì trả về cho ai? Hay tác giả Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm

hiểu về bản sắc văn hóa Việt Nam: Cái nhìn hệ thống loại hình, Nxb Thành

phố Hồ Chí Minh [38] Trong cuốn sách, bằng các phương pháp khoa học tácgiả đã cung cấp cho người đọc một bức tranh tổng quan về văn hóa Việt Namvới cách trình bày hết sức rõ rang và mạch lạc Đó là cấu trúc văn hóa vớinhững đặc trưng và chức năng, các loại hình văn hóa (những vấn đề văn hóahọc đại cương) để từ đó xác định tọa độ và con đường phát triển của văn hóa

Việt Nam Đi vào các yếu tố văn hóa, tác giả tập trung khảo cứu lĩnh vực văn

hóa nhận thức dựa trên cơ sở triết lý âm dương, bát quái (trong đó có Việt

Trang 25

Nam) Về văn hóa tổ chức cộng đồng, tác giả đi vào hai lĩnh vực: đời sống tập

thể (Với các tổ chức từ nông thôn đến đô thị và quốc gia) và đời sống cá nhân(tín ngưỡng, phong tục, văn hóa giao tiếp, nghệ thuật ngôn từ - thanh sắc –

hình khối) Từ cấu trúc văn hóa nêu trên, tác giả phân tích Cách ứng xử của

người Việt với môi trường tự nhiên (ăn, mặc, ở, đi lại) và môi trường xã hội

(sự giao lưu văn hóa với các giá trị ngoại lai du nhập vào Việt Nam: các tôngiáo, các nền văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa, phương Tây…) và sự đối phó, dunghợp văn hóa Đông - Tây

- Tác giả Trường Lưu [26] đã xem xét văn hóa trong mối quan hệ thốngnhất hữu cơ với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, từ đó đặt ra yêucầu trong hoạt động xây dựng môi trường văn hóa cần có sự kết hợp hài hòa,đồng bộ với nhiệm vụ xây dựng môi trường tự nhiên và môi trường xã hộinhằm phát triển toàn diện con người, qua đó tác động tới sự phát triển của vănhóa và xã hội

- Tác giả Trần Văn Bính [4] đã bàn đến vai trò của văn hóa trong quátrình đô thị hóa ở nước ta hiện nay, đồng thời đi sâu nghiên cứu bản sắc vănhóa dân tộc và thực trạng văn hóa trong quá trình đô thị hóa, từ đó đưa ra một

số giải pháp nhằm xây dựng nền văn hóa dân tộc

- Tác giả Phạm Minh Hạc [14] đã tập trung trình bày những nội dung cơbản về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với phát triển văn hóa và xây dựng conngười, mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển trong thời kỳ mới, phát triểncon người và xây dựng lối sống đạo đức và chuẩn mực giá trị mới… Đồngthời cuốn sách cũng đã đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm giải quyết cácvấn đề trên

- Nhiều tác giả “Đánh giá kết quả thực hiện nếp sống văn minh trong

việc cưới, việc tang, lễ hội và đề xuất các giải pháp thực hiện có hiệu quả trong thời gian tới ở Lâm Đồng” [32]…

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ mới đề cập đến những vấn đề chung

Trang 26

nhất về lĩnh vực văn hoá, bản sắc văn hoá của các dân tộc Việt Nam, văn hoácác dân tộc Tây Nguyên và những vấn đề liên quan về cơ chế chính sách, quanđiểm, pháp luật… về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá Đến nay, chưa có

đề tài, công trình nào nghiên cứu về Văn hoá Lâm Đồng và 01 đề tài nghiên

cứu về “thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội” ở Lâm

Đồng Về giáo dục nếp sống văn minh cho người dân trên địa bàn thành phố

Đà Lạt thông qua hoạt động lễ hội thì chưa có đề tài nào nghiên cứu

Khái niệm “văn minh” cũng có nhiều định nghĩa, tùy thuộc vào góc nhìncủa từng người khác nhau

Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên (1992) định nghĩa [35]:

(I) “Trình độ phát triển đạt đến một mức nhất định của xã hội loài người,

có nền văn hóa vật chất và tinh thần với những đặc trưng riêng (văn minh AiCập, ánh sáng của văn minh…)”

(II) 1 Có những đặc trưng của văn minh, của nền văn hóa phát triển cao(một xã hội văn minh, một nếp sống văn minh…) (t)

2 Thuộc về giai đoạn phát triển thứ ba, sau thời đại dã man, tronglịch sử xã hội loài người kể từ khi có thuật luyện kim và chữ viết (lịch sửthời đại văn minh)

Trang 27

Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý chủ biên (1999) định nghĩa [48]:

I (dt) “Nền văn hóa có đặc trưng riêng, tiêu biểu cho một xã hội rộnglớn, một thời đại hay cả nhân loại (nền văn minh Ai Cập, nền văn minhnhân loại”

II (tt) như Hoàng Phê

Theo nguồn “What is Civizilation” La dies Home jounal, LXIII(January, 1946), “Văn minh là trật tự xã hội nhằm đẩy mạnh sự sáng tạo vănhóa Văn minh được tạo nên bởi bốn yếu tố: dự trữ kinh tế, tổ chức chính trị,truyền thống đạo lý cùng sự theo đuổi tri thức và nghệ thuật Thiếu một trongbốn yếu tố này có thể làm mất đi cả một nền văn minh Văn minh không phải

là điều tự phát hoặc nó tồn tại mãi mãi mà là kết quả của một quá trình phấnđấu bền bỉ của một quốc gia, dân tộc, của cả loài người Nó chỉ cần một sựgián đoạn nghiêm trọng nào đó của các yếu tố tạo nên nền văn minh thì có thểgiết chết nền văn minh đó Vì vậy, sự tồn tại và phát triển của văn minh phụthuộc rất lớn về phương pháp chuyển giao”

Tác giả Phan Ngọc đã đề cập văn minh với những khía cạnh chủ yếu là: “Vănminh liên quan trước hết đến kỹ thuật, tức là biện pháp riêng của con người để tácđộng tới tự nhiên và làm chủ nó Do đó, người ta nói đến một nền văn minh đồ đá,

đồ sắt, một nền văn minh cơ khí, một nền văn minh công nghiệp,…

- Văn minh liên quan đến kỹ thuật nên dễ truyền bá từ tộc người nàysang tộc người khác, nên sớm hay muộn, chúng sẽ là thành tựu chung củanhân loại

- Sự tiến bộ của văn minh bao gồm hai mặt: bắt đầu là sự tiến bộ trong

kỹ thuật, sau đó là sự tiến bộ về tổ chức xã hội theo cái nghĩa các thành tựu vềkhoa học-kỹ thuật giải phóng được một số lượng người ngày càng đông đảokhỏi sự sản xuất trực tiếp để quan tâm đến các mặt: chính trị, quân sự, nghệthuật, văn học, dịch vụ, văn hóa tinh thần,…

Trang 28

- Văn minh dựa trên kỹ thuật, mà kỹ thuật lại cực kỳ năng động, nênnghiên cứu văn minh của một nước, một tộc người là chú ý tới mặt động,mặt biến đổi của thể chế cộng đồng này trong việc thay đổi cơ chế xã hội,văn hóa cũ”…

Thêm một lần bàn về văn hóa và văn minh, Đỗ Kiên Cường cho rằng cóhai cách hiểu thường thấy về văn minh: hoặc xem văn minh đồng nhất vớivăn hóa, hoặc xem văn minh là một nền văn hóa phát triển cao Nói cáchkhác, văn minh là của một xã hội phức tạp, là xã hội bắt đầu sinh sống bằngnông nghiệp và có sự định cư tại thành phố Tác giả Đỗ Kiên Cường đồngtình với cách hiểu khai thứ hai, và theo Đỗ Kiên Cường, khái niệm văn minhhầu như không được hiểu và dùng một cách chính xác Việc sử dụng lẫn lộnkhái niệm “văn hóa” và “văn minh” xảy ra khá phổ biến trong cuộc sống,thậm chí cả trên sách báo Chẳng hạn “văn minh làng xã”, “văn minh thôndã”, “văn minh miệt vườn”,… đúng ra phải là “văn hóa làng xã”, “văn hóathôn dã”, “văn hóa miệt vườn”… Hoặc danh hiệu “gia đình văn hóa”, “khuphố văn hóa”, chính xác ra phải là “gia đình văn minh”, “khu phố văn minh”,hay “gia đình văn hóa cao”, “khu phố văn hóa cao”,…

Trang 29

- Nếp sống văn minh chỉ khía cạnh tích cực của nếp sống cho nên có thểkhái quát, nếp sống văn minh là nếp sống tích cực của cá nhân hoặc cộngđồng thích hợp với những hoàn cảnh xã hội hiện đại theo hướng vươn tới cácgiá trị chân, thiện, mỹ.

Nếp sống văn minh chính là nếp sống hiện đại, đó là nếp sống để thíchứng một cách tốt nhất với xã hội hiện đại trong bối cảnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa

Trong luận văn này nếp sống văn minh được hiểu là nếp sống của cá

nhân hoặc cộng đồng theo các giá trị chuẩn mực của văn hóa dân tộc và đáp ứng yêu cầu tổ chức cuộc sống tốt đẹp của cộng đồng theo hướng vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ.

Với cách hiểu như vậy nếp sống văn minh được biểu hiện trên các bình diện:

- Trình độ tổ chức, điều kiện vật chất: mức sống, tiện nghi, lao động,việc làm, thu nhập

- Trình độ tổ chức xã hội cao: Trật tự, kỷ cương, sống và làm việc theohiến pháp và pháp luật ở nơi công cộng cũng như trong phạm vi riêng tư củamình Hệ thống pháp luật, quy định về quản lý hành chính và các thủ tục pháp

lý khác là đảm bảo cho người dân được tự do hoạt động trong khuôn khổ cácchế định xã hội,

- Khía cạnh xã hội - nhân văn: trình độ văn hóa, trình độ thẩm mỹ,truyền thống dân tộc, khuôn mẫu hành vi ứng xử, giá trị chuẩn mực của cánhân trong cộng đồng

- Lối sống trong gia đình, trong mỗi cá nhân, trong các hoạt động cụ thểcủa đời sống xã hội, trong giao tiếp, ứng xử hàng ngày, trong quá trình hưởngthụ và sáng tạo nghệ thuật, thời trang, ăn mặc, ở,…

1.3 Lễ hội, đặc điểm của hoạt động lễ hội

1.3.1 Khái niệm Lễ hội

Từ bao đời nay, lễ hội luôn giữ vai trò quan trọng như sợi dây gắn kết

Trang 30

cộng đồng, tạo dựng không gian văn hóa vừa trang trọng, linh thiêng, vừatưng bừng hào hứng, lễ hội trở thành nơi công chúng đến với lịch sử cha ôngtrở về cội nguồn dân tộc, tưởng nhớ công ơn người đi trước, cầu mong nhữngđiều tốt lành Đồng thời là nơi người dân được vui chơi, giải trí, giải tỏa, bùđắp về tinh thần, nó mang trong mình tư cách là một công cụ văn hóa đa năngdiễn ra vào những thời điểm được lựa chọn ở các địa phương dựa trên cơ sởcác điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội, tự nhiên có liên quan.

- Trong gốc từ Hán - Việt, “Lễ hội” được kết hợp từ hai yếu tố, trong đó

“Lễ” là những quy tắc ứng xử, cách thức cúng tế, nghi thức tôn giáo “Hội” làcuộc vui, đám vui đông người Còn trong tiếng La – Tinh “Lễ hội” xuất xứ từ

“Festum” có nghĩa là sự vui chơi, vui mừng của công chúng

Như vậy, lễ hội được hiểu là một hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể,

“là một hình thức diễn xướng tâm linh tổng thể của lễ hội không phải là thựcthể “chia đôi” như người ta quan niệm mà nó hình thành trên cơ sở một cốt lõinghi lễ, tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh - lịch sử haymột thần linh nghề nghiệp nào đó) rồi từ đó nảy sinh và tích hợp các hiệntượng văn hoá phái sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội cho nên trong lễ hộiphần lễ là phần gốc rễ chủ đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp

1.3.2 Đặc điểm của hoạt động lễ hội

Những hoạt động lễ hội thường có một số đặc điểm chung sau:

a Tính thiêng

Muốn hình thành một lễ hội, bao giờ cũng phải tìm ra được một lý domang tính "thiêng" nào đó Đó là người anh hùng đánh giặc bị tử thương, ngãxuống mảnh đất ấy, lập tức được mối đùn lên thành mộ Đó là nơi một ngườianh hùng bỗng dưng hiển thánh, bay về trời Cũng có khi đó chỉ là một bờsông, nơi có một xác người chết đuối, đang trôi bỗng nhiên dừng lại, khôngtrôi nữa; dân vớt lên, chôn cất, thờ phụng Cũng có khi lễ hội chỉ hình thànhnhằm ngày sinh, ngày mất của một người có công với làng với nước, ở lĩnh

Trang 31

vực này hay lĩnh vực khác (có người chữa bệnh, có người dạy nghề, có ngườiđào mương, có người trị thủy, có người đánh giặc ) Song, những người đóbao giờ cũng được "thiêng hóa" và đã trở thành "Thần thánh" trong tâm trícủa người dân.

Nhân dân tin tưởng những người đó đã trở thành Thần thánh, không chỉ

có thể phù hộ cho họ trong những mặt mà sinh thời người đó đã làm: chữabệnh, làm nghề, sản xuất, đánh giặc mà còn có thể giúp họ vượt qua nhữngkhó khăn đa dạng hơn, phức tạp hơn của đời sống

Chính tính "Thiêng" ấy đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhân dântrong những thời điểm khó khăn, cũng như tạo cho họ những hy vọng vàođiều tốt đẹp sẽ đến

b Tính " cộng đồng"

Lễ hội chỉ được sinh ra, tồn tại và phát triển khi nó trở thành nhu cầu tựnguyện của một cộng đồng Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn Bởithế mới có lễ hội của một họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cả nước

c Tính địa phương

Lễ hội được sinh ra và tồn tại đều gắn với một vùng đất nhất định Bởithế lễ hội ở vùng nào mang sắc thái của vùng đó Tính địa phương của lễ hộichính là điều chứng tỏ lễ hội gắn bó rất chặt chẽ với đời sống của nhân dân,

nó đáp ứng những nhu cầu tinh thần và văn hóa của nhân dân, không chỉ ở nộidung lễ hội mà còn ở phong cách của lễ hội nữa Phong cách đó thể hiện ở lờivăn, ở trang phục,

d Tính cung đình

Đa phần các nhân vật được suy tôn thành Thần linh trong các lễ hội củangười Việt, là các người đã giữ các chức vị trong triều đình ngày xưa Bởi thếnhững nghi thức diễn ra trong lễ hội, từ tế lễ, dâng hương, đến rước kiệu đều mô phỏng sinh hoạt cung đình Sự mô phỏng đó thể hiện ở cách bài trí,trang phục, động tác đi lại Điều này làm cho lễ hội trở nên trang trọng hơn,

Trang 32

lộng lẫy hơn Mặt khác lễ nghi cung đình cũng làm cho người tham gia cảmthấy được nâng lên một vị trí khác với ngày thường, đáp ứng tâm lý, nhữngkhao khát nguyện vọng của người dân.

e Tính đương đại

Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, lễ hội, trong quá trình vận động củalịch sử, cũng dần dần tiếp thu những yếu tố đương đại Những trò chơi mới,những cách bài trí mới, những phương tiện kỹ thuật mới như rađio, cassete,video, tăng âm, micro đã tham gia vào lễ hội, giúp cho việc tổ chức lễ hộiđược thuận lợi hơn, đáp ứng nhu cầu mới

Tuy vậy, những sự tiếp thu này đều phải dần dần qua sự sàng lọc tựnguyện của nhân dân, được cộng đồng chấp nhận, không thể là một sự lắpghép tùy tiện, vô lý

f Tính diễn xướng

Diễn xướng được hiểu với hàm nghĩa khá rộng, bao gồm những hànhđộng, lời nói nhằm biểu đạt một thong tin nào đó giữa một người hay mộtnhóm người với một nhóm người khác

Như vậy có thể coi toàn bộ các sinh hoạt văn hóa dân gian tồn tại dườidạng diễn xướng Do đó trong lễ hội cổ truyền, tính diễn xướng thể hiện mộtcách khá rõ nét và tiêu biểu Thông qua trình diễn bằng hành động và lời nóicủa tập thể những con người trong cộng đồng, người ta muốn tái hiện lịch sử,tái hiện xã hội, tái hiện cội nguồn tự nhiên của tự nhiên và con người

1.3.3 Vai trò của hoạt động lễ hội

- Lễ hội chính là không gian sinh hoạt văn hóa đặc sắc của ngườidân Đây là một không gian mà trong tâm thức của nhiều người vừa rất thựcrất đời thường và rất tâm linh

- Lễ hội tạo ra sự đồng cảm, để mỗi người tưởng nhớ đến công đức củacác vị anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước, và cũng là dịp đểngười dân thể hiện sự tự do tín ngưỡng và chiêm ngưỡng các nghi thức thểhiện nét truyền thống văn hoá tốt đẹp của mỗi vùng, miền

Trang 33

- Là dịp để vui chơi giải trí và ở đó con người tìm thấy cho mình mộtkhông gian, một khoảng thời gian ít nhiều có tính thăng hoa khác với cuộcsống đời thường.

- Các lễ hội có khả năng thu hút khách du lịch rất lớn Đối với du khách,

lễ hội là một chỉnh thể thống nhất đa dạng, du khách có thể được xem cách tổchức các lễ hội, các vai diễn, trình tự rước tế, cách trang phục và được hiểubiết về cội nguồn lịch sử của nó Đến với các lễ hội cũng là đến với các danhlam thắng cảnh, các di tích, được thưởng thức nhiều giá trị văn hoá tổng hợpbởi vì hầu hết các lễ hội đều diễn ra ở các địa điểm đó

1.3.4 Các loại hình hoạt động lễ hội

Các loại hình lễ hội ở Việt Nam được hướng dẫn tại Điều 3 Thông tư15/2015/TT-BVHTTDL Quy định về tổ chức lễ hội do Bộ trưởng Bộ Vănhoá, Thể thao và du lịch ban hành

Theo đó, các loại hình lễ hội bao gồm:

1 Lễ hội dân gian là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh người có côngvới nước với cộng đồng; thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính truyền thống

và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp

về truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội

2 Lễ hội lịch sử, cách mạng là lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh nhữngdanh nhân, sự kiện lịch sử, cách mạng

3 Lễ hội văn hóa, thể thao, du lịch là lễ hội được tổ chức để quảng bá vềvăn hóa thể thao, du lịch bao gồm: festival, liên hoan văn hóa, thể thao, dulịch; tuần văn hóa, thể thao, du lịch; tuần văn hóa - du lịch; tháng văn hóa - dulịch; năm văn hóa - du lịch và các lễ hội văn hóa, thể thao và du lịch khác

4 Lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài tổ chức tại Việt Nam là lễ hội do

tổ chức của Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tạiViệt Nam tổ chức nhằm giới thiệu giá trị văn hóa tốt đẹp của nước ngoài vớicông chúng Việt Nam

Trang 34

1.4 Giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động

lễ hội

1.4.1 Khái niệm Giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội

1.4.1.1 Khái niệm giáo dục

Giáo dục theo từ tiếng Hán thì giáo nghĩa là dạy, là rèn luyện về đườngtinh thần nhằm phát triển tri thức và huấn luyện tình cảm đạo đức, dục lànuôi, là săn sóc về mặt thể chất Vậy giáo dục là một sự rèn luyện con người

về cả ba phương diện trị tuệ, tình cảm và thể chất Theo phương Tây thìeducation vốn xuất phát từ chữ educare của tiếng La tinh Động từ educare làdắt dẫn, hướng dẫn để làm phát khởi ra những khả năng tiền tàng Sự dắt dẫnnày nhằm đưa con người từ không biết đến biết, từ xấu đến tốt, từ thấp kémđến cao thượng, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện

Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh và các cộng sự “Giáo dục là quá trìnhtác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phươngpháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quangiáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ” [34]

Theo tác giả Nguyễn Lân “Giáo dục là một quá trình có ý thức có mụcđích, có kế hoạch nhằm truyền cho lớp mới những kinh nghiệm đấu tranh vàsản xuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, để họ có thể có đầy

đủ khả năng tham gia vào đời sống và đời sống xã hội” [20]

Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy “Giáo dục là sự hình thành có mục đích

và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thànhthế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mĩ cho con người; với nghĩarộng nhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu

tố khác tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứngyêu cầu của kinh tế xã hội” [17]

Trang 35

Giáo dục không bó hẹp ở phạm vi là người được giáo dục đang trong tuổihọc (dưới 25 tuổi) và giáo dục không chỉ diễn ra trong nhà trường Ngày nay,chúng ta hiểu giáo dục là cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ khônggian và thời gian nào thích hợp với từng loại đối tượng bằng các phương tiệnkhác nhau, kể cả các phương tiện truyền thông đại chúng (truyền hình, truyềnthanh, video, trực tuyến qua inernet,…) với các hình thức đa dạng, phong phú.Ngoài ra quá trình giáo dục không ràng buộc về độ tuổi giữa người giáo dục vớingười được giáo dục.

Như vậy, khái niệm giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:

- Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người học lí tưởng, động cơ, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu.

- Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung, bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho người được giáo dục.

Quá trình này diễn ra do ảnh hưởng của các nhân tố bên trong (bẩm sinh,

di truyền, tính tích cực của chủ thể…) và các nhân tố bên ngoài (ảnh huởngcủa hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội, tác động giáo dục) Từ đó, giáodục nói một cách khác là sự xã hội hoá con người chỉ dưới những tác động cómục đích và có tổ chức

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm giáo dục theo nghĩa hẹp

1.4.1.2 Giáo dục nếp sống văn minh

Giáo dục nếp sống văn minh là vấn đề quan trọng trong việc xây dựngnếp sống văn minh, là nền móng của nếp sống văn minh bởi ý thức quyết địnhhành vi Trong đó đặc biệt chú trọng đến công tác tuyên truyền, giáo dục chothế hệ sau

Trang 36

Giáo dục văn hóa, văn minh để hình thành lối sống, nếp sống, phong tụctập quán tốt đẹp là mối quan tâm của mọi người, mọi nhà, mọi ngành, mọi cấp

ở nước ta hiện nay Nếp sống văn minh là cuộc vận động cách mạng, là cuộcđấu tranh giữa hai con đường, giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa văn hóavăn minh với cái phản văn hóa, giữa bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc vớilối sống mất gốc, thực dụng

Cho đến nay, chưa có tài liệu chính thống nào, chưa có tác giả nào đềcập một cách đầy đủ về khái niệm giáo dục nếp sống văn minh cho người dân,

tuy nhiên, dựa vào những khái niệm đã có, tôi cho rằng: Giáo dục nếp sống

văn minh là quá trình tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch chủ thể giáo dục đến người dân nhằm hình thành cho họ nếp sống theo các giá trị chuẩn mực của văn hóa dân tộc và đáp ứng yêu cầu tổ chức cuộc sống tốt đẹp của cộng đồng theo hướng vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ.

1.4.1.3 Khái niệm giáo dục nếp sống văn minh thông qua hoạt động

lễ hội

Cho đến nay, chưa có tài liệu chính thống nào, chưa có tác giả nào đềcập một cách đầy đủ về khái niệm giáo dục nếp sống văn minh cho người dânthông qua hoạt động lễ hội, tuy nhiên, dựa vào những khái niệm lien quan đã

có, chung tôi cho rằng: Giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua

hoạt động lễ hội là quá trình tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch chủ thể giáo dục đến người dân nhằm hình thành cho họ nếp sống theo các giá trị chuẩn mực của văn hóa dân tộc và đáp ứng yêu cầu tổ chức cuộc sống tốt đẹp của cộng đồng theo hướng vươn tới các giá trị chân, thiện, mỹ thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động sinh hoạt văn hóa gắn với đời sống tinh thần của cư dân.

- Giáo dục nếp sống văn minh thông qua hoạt động lễ hội là giải phápnhằm nâng cao ý thức về việc thực hiện pháp luật và tự giác thực hiện nếpsống văn minh trong lễ hội

Trang 37

- Giáo dục nếp sống văn minh thông qua hoạt động lễ hội bằng cácbiện pháp trên cơ sở đổi mới, tuyên truyền sao cho phong phú và đa dạng,cần nâng cao hiểu biết và nhận thức của mọi người dân về giá trị văn hóa

và ý nghĩa của các lễ hội trong đời sống văn hóa tinh thần

- Kịp thời uốn nắn các biểu hiện lệch lạc, làm cho lễ hội ngày càngvăn minh, thật sự trở thành ngày hội văn hóa của nhân dân, góp phần tíchcực vào sự phát triển kinh tế - văn hóa của địa phương

1.4.2 Tầm quan trọng của quá trình giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội

Lễ hội là nhân tố quan trọng của một nền văn hóa, là bộ phận hợp thànhbản sắc văn hóa dân tộc Cha ông chúng ta trong lịch sử đã coi trọng giữ gìn

và phát huy tác dụng của phong tục tập quán, lễ hội truyền thống do vậnkhông bị đồng hóa và đánh mất bản sắc dân tộc

Làm nên bản sắc văn hóa của một dân tộc, ngoài các giá trị vật thể hữuhình như đền, miếu, chùa, nhà thờ còn có những giá trị văn hóa phi vật thểnhư phong tục, lễ hội truyền thống, lễ hội giân dan… ngoài ra còn có các lễhội hiện đại mới được hình thành

Giáo dục nếp sống văn minh để nhân cách luôn cao đẹp trong mọi sựthay đổi, trong những hoàn cảnh mới là một vấn đề không hề đơn giản Đểhình hành được một nếp sống văn minh phải được giáo dục qua nhiều giaiđoạn từ thơ ấu đến trường đời

Giáo dục nếp sống văn minh trong lễ hội là một bộ phận quan trọng của

cách mạng tư tưởng văn hóa ở nước ta hiện nay V.I.Lê-nin đã nói “Sức mạnh

tập quán ở hang triệu và hang chục triệu người là sức mạnh ghê gớm nhất”.

Phát huy sức mạnh to lớn ấy để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một mục tiêu chiến lược lớn của Đảng ta

Vì vậy việc giáo dục nếp sống văn minh thông qua lễ hội là một yêu cầu tấtyếu của nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 38

1.4.3 Các yếu tố của quá trình giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội

1.4.3.1 Mục tiêu giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội

a Mục tiêu chung:

Giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội

là dựa trên những tri thức về những nét đẹp, truyền thống văn hóa lâu đời vàriêng có trong các lễ hội mà hình thành thái độ, ý thức, trách nhiệm cho ngườidân, nhằm khơi dậy niềm tự hào được kế thừa truyền thống tốt đẹp, giữ gìnnét văn hóa đặc trưng của người dân Đà Lạt Qua đó tạo sự chuyển biến từngbước về nhận thức, hành vi cho người dân, góp phần xây dựng và thực hiệnnếp sống văn minh trong sinh hoạt hoằng ngày của mội người dân, chung tayxây dựng Thành phố Đà Lạt văn minh, phát triển nhưng vẫn giữ được chấtriêng vốn có của nó

- Về thái độ

+ Giữ gìn lối sống tốt đẹp, thuần phong mĩ tục của người dân địa phương.+ Cần phải phản đối và lên án những việc làm gây tổn hại tới môi trườngthiên nhiên, gây phản cảm trên đường phố, không tự giác chấp hành quy chếnếp sống văn minh

- Về hành vi

+ Hành vi ứng xử đúng mực, luôn nhã nhặn lịch thiệp, kính trên nhường

Trang 39

dưới, biết tôn trọng thuần phong mỹ tục, cổ vũ cái tốt và đấu tranh chống cáixấu, có trách nhiệm công dân;

+ Hành động thiết thực nhằm quảng bá lối sống đẹp, có tri thức caonhưng phải biết khuếch tán giá trị tri thức với cộng đồng

1.4.3.2 Nội dung giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội

Giáo dục nếp sống văn minh thông qua hoạt động lễ hội cho mỗi cá nhân

và toàn thể người dân những ý thức, hành vi đạo đức mới phù hợp với nhữngchuẩn giá trị của một lễ hội văn minh, tiến bộ, xây dựng mối quan hệ đạo đứctrong sáng, xây dựng môi trường đạo đức nuôi dưỡng các giá trị nhân văn, các

lễ hội dân gian truyền thống và các lễ hội hiện đại được du nhập và hình thànhmột cách khoa học Giáo dục nâng cao tinh thần tự giác và ý thức trách nhiệmcủa mỗi người dân, kiên quyết loại trừ những thói quen xấu trong hành động,trong nếp nghĩ; những hành vi ứng xử thiếu văn hóa nơi công cộng Mặt khác,mỗi cá nhân cần phải không ngừng tự giáo dục bản thân và gia đình để tiếpcận những cái mới, cái tốt và hiện đại hơn, khoa học hơn Phát huy các giá trịvăn hóa truyền thống làm động lực để phát triển kinh tế - xã hội và xây dựngnếp sống văn minh

Trang 40

+ Có ý thức bảo vệ cảnh quan, giữ gìn vệ sinh môi trường nơi diễn ra lễ hội.+ Chấp hành và thực hiện đúng các quy định của ban lễ hội cũng nhưquy định của thành phố.

+ Tôn trọng và cổ vũ những hành động tốt đẹp, văn minh đồng thời lên

án và đấu tranh với những người có hành động kém văn minh

- Về hành vi

+Việc dùng loa phóng thanh, chiêng, trống, còi, kèn hoặc các phươngtiện khác để cổ động ở nơi công cộng phải được phép của các cơ quan cóthẩm quyền;

+ Mọi người dân giao tiếp ở nơi công cộng cũng như ở những nơi diễn ra

lễ hội, luôn có lời nói hoặc cư chỉ văn hóa;

+ Không treo, vẽ, dán quảng cáo, phát tờ rơi trái phép; không thả rông giasúc, gia cầm, phóng uế bừa bãi; không xả rác ra đường, cống, rãnh, sông rạch;+ Các công trình di tích lịch sử văn hóa, cây xanh, thảm cỏ, bồn hoa, tàisản nới diễn ra lễ hội luôn đuợc giữ gìn, bảo quản và chăm sóc sạch đẹp;+ Không có người ăn xin, buôn bán hàng rong; không để xảy ra tìnhtrạng “cò” du lịch, đeo bám, níu kéo du khách;

+ Có những hành động thiết thực để quảng bá lối sống đẹp, lỗi sống vănminh của người dân Đà Lạt đến du khách và bạn bè bốn phương

1.4.3.3 Phương pháp giáo dục nếp sống văn minh cho người dân thông qua hoạt động lễ hội

Trong quá trình lồng ghép nội dung giáo dục nếp sống văn minh củangười dân thông qua hoạt động lễ hội, tôi đã sử dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục: Khi tìm hiểu

về văn hóa của Đà Lạt xưa và nay trên thực tế ở các và trong các ngày lễ hộidiễn ra những nét văn hóa đặc trưng

- Phương pháp giải quyết vấn đề cộng đồng : cung cấp những thôngtin về văn hóa của người Đà Lạt xưa và yêu cầu trong nếp sống văn hóa hiện

Ngày đăng: 06/07/2020, 20:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng (1998), Nghị quyết Trung ương V (khóa 8) 2. Nguyễn Chí Bền, Trần Lâm Biền, Bùi Khởi Giang (2000), “Kho tàng lễ hộicổ truyền Việt Nam”, NXBVăn hoá dân tộc, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương V (khóa 8)"2. Nguyễn Chí Bền, Trần Lâm Biền, Bùi Khởi Giang (2000), “"Kho tàng lễ hội"cổ truyền Việt Nam
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng (1998), Nghị quyết Trung ương V (khóa 8) 2. Nguyễn Chí Bền, Trần Lâm Biền, Bùi Khởi Giang
Nhà XB: NXBVăn hoá dân tộc
Năm: 2000
3. Uông Thái Biểu, “Nét thanh lịch của người Đà Lạt” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét thanh lịch của người Đà Lạt
4. Phan Kế Bính (2015), “Việt Nam phong tục”, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục”
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2015
5. Trần Văn Bính (1998), Văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiệnnay
Tác giả: Trần Văn Bính
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
7. Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch (2015), Thông tư quy định về Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; Thủ tướng Chính phủ (2018) Nghị đinh Quy định về quản lý và tổ chức lễ hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư quy định về Thực hiệnnếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội"; Thủ tướng Chínhphủ (2018)
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch
Năm: 2015
8. Doãn Thị Chín (2004), Vấn đề về giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề về giáo dục giá trị đạo đức truyền thốngcho sinh viên Việt Nam hiện nay
Tác giả: Doãn Thị Chín
Năm: 2004
9. C Mác-Ph. Ăng Ghen (2004), Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C Mác-Ph. Ăng Ghen
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
13. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
Năm: 1980
15. Mai Thanh Hải (2004), “Địa chí tôn giáo lễ hội Việt Nam: Đình, chùa, nhà thờ, thánh thất, đền miếu, lễ hội, tu viện, am điện, lăng tẩm,...”, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí tôn giáo lễ hội Việt Nam: Đình, chùa,nhà thờ, thánh thất, đền miếu, lễ hội, tu viện, am điện, lăng tẩm
Tác giả: Mai Thanh Hải
Nhà XB: NXBVăn hóa thông tin
Năm: 2004
16. Thuận Hải (2006), “Bản sắc văn hóa lễ hội”, NXB Giao thông vận tải 17. Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê (1997),Giáo dục học đại cương,NXBGiáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa lễ hội
Tác giả: Thuận Hải (2006), “Bản sắc văn hóa lễ hội”, NXB Giao thông vận tải 17. Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Văn Lê
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải17. Nguyễn Sinh Huy
Năm: 1997
18. Vũ Ngọc Khánh (2008), “Lễ hội Việt Nam”, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Việt Nam”
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2008
19. Lương Quỳnh Khuê (1992), Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, một nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại, số 04-Tạp chí triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc,một nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại
Tác giả: Lương Quỳnh Khuê
Năm: 1992
20. Nguyễn Lân (2002), Từ điển từ và ngữ Hán – Việt, NXB Từ điển Bách khoa 21. Phan Huy Lê (chủ biên), (1994), Các giá trị truyền thống và con ngườiViệt Nam hiện nay, Chương trình khoa học cấp nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giá trị truyền thống và con người"Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Lân (2002), Từ điển từ và ngữ Hán – Việt, NXB Từ điển Bách khoa 21. Phan Huy Lê (chủ biên)
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa21. Phan Huy Lê (chủ biên)
Năm: 1994
22. V.I. Lênin (1920), Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên, Mát - xcơ - va , NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: NXBChính trị Quốc gia
Năm: 1920
23. Thu Linh (1984) “Lễ hội "truyền thống và hiện đại", NXB Văn hóa, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội "truyền thống và hiện đại
Nhà XB: NXB Văn hóa
24. Phan Đăng Long, “Vài nét thực hiện nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang, lễ hội ở Hà Nội 5 năm 1998 – 2003” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét thực hiện nếp sống văn hóa trong việc cưới,việc tang, lễ hội ở Hà Nội 5 năm 1998 – 2003
25. Đặng Văn Lung (2005), “Lễ hội và nhân sinh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: (2005), "“"Lễ hội và nhân sinh
Tác giả: Đặng Văn Lung
Năm: 2005
26. Trường Lưu (1999), Văn hóa – một số vấn đề lý luận, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa – một số vấn đề lý luận
Tác giả: Trường Lưu
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốcgia
Năm: 1999
27. Nguyễn Văn Lý (2000), Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyềnthống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiệnnay
Tác giả: Nguyễn Văn Lý
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w