1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÂY DỰNG hệ THỐNG đề mở TRONG dạy học văn NGHỊ LUẬN văn học NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG lực SÁNG tạo CHO học SINH lớp 11 TRUNG học PHỔ THÔNG

119 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 391,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐỀ MỞ TRONG DẠY HỌC VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG KH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

BÙI BÍCH THỦY

XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐỀ MỞ TRONG DẠY HỌC VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Hà Nội – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐỀ MỞ TRONG DẠY HỌC VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Tuyết Hạnh

Sinh viên thực hiện khóa luận: Bùi Bích Thủy

Hà Nội – 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để có được kết quả nghiên cứu này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành

và lòng biết ơn sâu sắc đến TS Dương Tuyết Hạnh, người hướng dẫn khóaluận đã tận tình chỉ bảo, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện

đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo, cán bộ quản lý củatrường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy,tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu và tổ chuyên môn Ngữ văntrường THPT Kim Liên, Hà Nội, đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi chotôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng khóa luận khó tránh khỏi thiếu sót.Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo

và các bạn đồng nghiệp để hoàn thiện đề tài nghiên cứu này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 07 tháng 05 năm 2019

Tác giả

Bùi Bích Thủy

Trang 4

DANH MỤC CÁC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

2 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH ẢNH

Bảng 1.1 Biểu hiện của năng lực sáng tạo ở mỗi cá nhân 27

Bảng 2.1 Mẫu rubric số 1 64

Bảng 2.2 Mẫu rubric số 2 65

Bảng 2.3 Rubric định tính cho đề bài minh họa 66

Bảng 2.4 Rubric định lượng cho đề bài minh họa 68

Bảng 3.1 Số liệu về học sinh ở nhóm ĐC và nhóm TN 81

Bảng 3.2 Rubric hướng dẫn chấm đề thực nghiệm 83

Bảng 3.3 Thuyết minh tính khoa học của đề thực nghiệm 88

Bảng 3.4 Phân bố điểm của học sinh 2 nhóm TN và ĐC 100

Hình Hình 1.1 Thang cấp độ tư duy của Bloom 30

Hình 1.2 Thang Bloom tu chính 30

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục các các chữ viết tắt ii

Danh mục các bảng, biểu đồ, hình ảnh iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 9

1.1 Đề mở 9

1.1.1 Quan niệm về đề mở 9

1.2 Khái niệm văn nghị luận và các kiểu bài nghị luận văn học 17

1.2.1 Khái niệm văn bản nghị luận 17

1.2.2 Các kiểu đề bài nghị luận văn học 19

1.3 Năng lực sáng tạo của học sinh lớp 11 THPT 22

1.3.1 Năng lực sáng tạo 22

1.3.2 Năng lực sáng tạo của học sinh lớp 11 THPT 28

1.4 Ưu thế của đề mở trong việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT 34

1.4.1 Đề mở giúp phát triển năng lực tư duy sáng tạo 34

1.4.2 Đề mở giúp phát triển năng lực liên tưởng, tưởng tượng 36

1.4.3 Đề mở giúp phát triển năng lực diễn đạt sáng tạo 38

1.4.4 Đề mở giúp phát triển năng lực tò mò, yêu thích khám phá 39

1.5 Thực trạng của việc xây dựng và sử dụng đề mở hiện nay 41

1.5.1 Đề mở trong bối cảnh đổi mới KTĐG 41

1.5.2 Vấn đề xây dựng và sử dụng để mở nhằm phát triển năng lực sáng tạo 45

Tiểu kết chương 1 50

Trang 7

Chương 2: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐỀ MỞ TRONG DẠY HỌC NGHỊ LUẬN VĂN HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG

TẠO CHO HỌC SINH LỚP 11 THPT 51

2.1 Nguyên tắc xây dựng đề mở nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT 51

2.1.1 Đảm bảo tính khoa học 52

2.1.2 Đảm bảo tính phù hợp 54

2.1.3 Đảm bảo tính giáo dục, phát triển 56

2.1.4 Đảm bảo tính thẩm mỹ 56

2.2 Đề xuất quy trình xây dựng đề mở nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT 57

2.2.1 Xác định mục đích của việc ra đề 57

2.2.2 Sàng lọc, hệ thống hóa các nội dung kiến thức và kĩ năng phù hợp với đối tượng đề ra 59

2.2.3 Thiết kế đề thi/ đề kiểm tra 60

2.2.4 Biên soạn đáp án và thang điểm 62

2.2.5 Sửa chữa, hoàn thiện 73

2.3 Giới thiệu một số đề mở trong dạy học văn nghị luận văn học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh lớp 11 THPT 73

2.3.1 Nhóm đề nghị luận về một tác phẩm/ đoạn trích 74

2.3.2 Nhóm đề nghị luận về một ý kiến bàn về văn học 76

2.3.3 Nhóm đề nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học 77 Tiểu kết chương 2 79

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80

3.1 Mục đích thực nghiệm 80

3.2 Thời gian và đối tượng thực nghiệm 80

3.2.1 Thời gian thực nghiệm 80

3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 81

Trang 8

3.3 Quy trình thực nghiệm 81

3.4 Tổ chức thực nghiệm 82

3.4.1 Thiết kế đề mở nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT 82

3.4.2 Tổ chức kiểm tra học sinh 95

3.4.3 Thu thập ý kiến đánh giá của học sinh về đề kiểm tra 96

3.5 Kết quả thực nghiệm 96

3.5.1 Phân tích định tính 96

3.5.2 Phân tích định lượng 99

Tiểu kết chương 3 101

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trong thời đại của Cách mạng công nghệ 4.0 Cuộccách mạng này diễn ra từ đầu thế kỉ 21 và đang ngày càng lan rộng, phổ biếntrí thông minh nhân tạo và máy móc tự động hóa, đem lại sự kết hợp giữa hệthống ảo và thực tế Cuộc cách mạng công nghệ đã tác động mạnh mẽ đếnnhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh trong đời sống xã hội, trong đó đặc biệt làGD&ĐT Cuộc cách mạng 4.0 đặt ra yêu cầu đối với ngành Giáo dục là cảithiện nguồn vốn con người để có thể đáp ứng được các yêu cầu về kiến thức

và kỹ năng liên tục thay đổi trong môi trường lao động mới Để làm được nhưvậy buộc Giáo dục phải thay đổi phương pháp dạy học, tập trung vào pháttriển năng lực cho học sinh

Để đáp ứng được yêu cầu của thời đại, ở Việt Nam trong những nămgần đây, yêu cầu phát triển năng lực sáng tạo cho người học đã trở thành mộttrong những mục tiêu quan trọng Luật Giáo dục năm 2005 (điều 28) quyđinh: “Giáo dục phổ thông có mục tiêu giúp học sinh phát triển toàn diện vềđạo đức , trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực

cá nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam

Xã hội Chủ nghĩa Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ VIII Ban chấphành Trung ương khóa XI cũng khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽphương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lốitruyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc ” [16]

Trong năm 2018, Bộ GD&ĐT cũng đã giới thiệu “Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông, chương trình tổng thể” [11] Theo đó, một trong

những quan điểm xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông là: “Chươngtrình chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần đạt vềphẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo

Trang 10

dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi tiết,

để tạo điều kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủđộng, sáng tạo trong thực hiện chương trình” [11, tr 6] Bên cạnh đó, yêu cầucần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh cũng nhấn mạnh mục tiêu giúphọc sinh: “Hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giaotiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo” [11, tr 7] Những nộidung này cho thấy: Chương trình giáo dục phổ thông tới đây cho phép giáoviên và học sinh có cơ hội phát huy tính chủ động, sáng tạo trong việc thựchiện chương trình; nhằm hướng tới mục tiêu phát triển năng lực sáng tạo chohọc sinh

Sử dụng để mở trong dạy học và trong KTĐG là một trong những cáchđổi mới phương pháp dạy học Trong dạy học Ngữ văn, việc xây dựng hệthống đề mở là một đòi hỏi quan trọng, quyết định lớn đến chất lượng dạy vàhọc Đề mở giúp cho học sinh chiếm lĩnh tác phẩm, hình thành ở các em mộtphương pháp tự tìm hiểu, khám phá, liên hệ, cảm nhận tác phẩm văn chương;đồng thời đề mở còn có vai trò trong khâu cuối cùng của quá trình dạy học –khâu kiểm tra đánh giá kết quả học tập

Muốn xây dựng và áp dụng được hệ thống đề mở vào quá trình dạy họcđòi hỏi phẩm chất của người giáo viên: họ phải là những người tổ chức, dẫndắt, điều khiển quá trình dạy học Giáo viên cần duy trì được thói quen tự rènluyện, không ngừng sáng tạo, có năng lực tự học, tự nghiên cứu, giỏi cảchuyên môn và nghiệp vụ sư phạm Trong đó, kĩ năng thiết kế đề mở là một

kĩ năng quan trọng

Đề mở trong dạy học Ngữ văn không phải là vấn đề hoàn toàn mớinhưng trong quan niệm của người dạy và cả xã hội ngày nay còn nhiều vấn đềvướng mắc Cụ thể, giáo viên còn lúng túng trong việc xác định câu hỏi nhưthế nào là mở, đáp án ra sao là phù hợp Về phần dư luận xã hội, họ bănkhoăn tính giáo dục hay độ công bằng trong đánh giá thi cử khi áp dụng đề

Trang 11

mở Khi ấy câu hỏi mở, đề mở phải thực sự có hiệu quả khi sử dụng trong giờdạy học Ngữ văn, phù hợp với nhu cầu học và tích lũy tri thức, kĩ năng củahọc sinh Đề mở sẽ đặt người học vào những “ tình huống có vấn đề”, đòi hỏihọc sinh phải trau dồi khả năng tự tư duy, liên hệ, khám phá, sáng tạo Từ đó,năng lực người học dần được hình thành, củng cố.

Đề mở xuất hiện tương đối nhiều trong các kì KTĐG lớn, các kì thiquan trọng như thi Tốt nghiệp, Đại học (trước 2014), thi THPT Quốc gia (từ

2014 đến nay), thi học sinh giỏi các cấp… nhưng chưa được sử dụng phổ biếntrong quá trình dạy học và KTĐG trong chương trình học nhằm phát triểnnăng lực cho học sinh Mấy năm trở lại đây, việc xây dựng hệ thống câu hỏi

mở, đề mở đã được nhiều giáo viên quan tâm và áp dụng Thực tế, trong giờdạy học Ngữ văn, giáo viên đã có ý thức đưa ra những câu hỏi có tính sángtạo nhưng phần nhiều còn ngẫu hứng, tản mạn, thậm chí đưa ra những đềtưởng là đề mở nhưng thực chất lại là đề đóng Vì thế tính định hướng củanhững đề này chưa cao và chưa đạt kết quả mong muốn Đề mở là một trongnhững công cụ hữu hiệu để đánh giá năng lực sáng tạo của người học Tuynhiên trên thực tế giáo viên chưa có cách hiểu thống nhất về đề mở và chưa

có kĩ năng xây dựng đề mở khoa học, phù hợp với yêu cầu phát triển năng lựccho học sinh Nghiên cứu để có những biện pháp thiết kế đề mở hợp lí, giúphọc sinh thích ứng được với các dạng đề mở khác nhau… là nhiệm vụ củamỗi giáo viên

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Xâydựng hệ thống đề mở trong dạy học văn nghị luận văn học nhằm phát triểnnăng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong những năm gần đây, khi KTĐG được chú trọng hơn, được xem

là một mắt xích quan trọng, một khâu trọng yếu của quá trình đổi mới phương

Trang 12

pháp dạy học Ngữ văn; đã có một số công trình nghiên cứu về đề mở và nhằmphát triển năng lực sáng tạo cho học sinh Tiêu biểu là các công trình sau:

Trong “Hệ thống đề mở Ngữ văn lớp 10” [47], sau khi tiến hành khảo

sát các đề thi/ đề kiểm tra trong SGK Ngữ văn từ năm 2000 đến nay, các tácgiả đã đi đến nhận định: “Điều đổi mới đáng ghi nhận nhất là việc tăng cường

ra các đề theo dạng mở đã kích thích được nhiều sự suy nghĩ độc lập, độc đáo

và sáng tạo của học sinh” [47, tr.5] Cũng trong cuốn sách này, các tác giả đãtrình bày một số vấn đề liên quan đến ưu điểm và hạn chế của đề mở: “Cáihay của dạng đề mở là phân hóa được học sinh rất rõ, người viết bài khó màchép được văn mẫu, phải tự mình suy nghĩ và viết ta những ý nghĩ của chínhmình… Điểm hạn chế của dạng đề này là ở chỗ khá khó đối với học sinh cólực học trung bình Giáo viên chấm bài cũng phải rất vững tay vì đáp án khólàm cho rõ ràng, rành mạch” [47, tr.9]

Về vấn đề đề mở trong môn Ngữ văn, không thể không nhắc tới hai tácgiả lớn là Trần Đình Sử và Đỗ Ngọc Thống Với Trần Đình Sử, từ góc nhìn

của người xây dựng chương trình SGK Ngữ văn, ông có bài viết “Đề mở trong dạy học làm văn” (2012) Bài viết đã trình bày một số quan điểm của

tác giả về đề mở và những khó khăn cần khắc phục để phát huy những ưuđiểm của dạng đề này trong dạy học và KTĐG môn Ngữ văn Tác giả chorằng: “Đề mở là một hướng tiến bộ trong dạy học làm văn, những vẫn đang làmột vấn đề mới, chưa được nghiên cứu sâu, còn có những khía cạnh chưa rõ,phải qua thực tiễn thì mới nhìn thấy hết được Vấn đề này đòi hỏi các giáoviên nghiên cứu, suy nghĩ, nhìn thấy chỗ mạnh, chỗ khó, thậm chí chỗ yếucủa nó, nghiên cứu phương pháp dạy học phù hợp thì phương hướng này mớiphát huy được tác dụng tích cực của nó [39, tr.16]

Còn với Đỗ Ngọc Thống, ông có bài viết “Đề mở - nhận diện và cách làm bài” trích trong cuốn “Tài liệu chuyên Văn” [45] Ở đó, ông đã xác lập

một cách hiểu về đề mở, trình bày những vấn đề liên quan đến đề mở gắn với

Trang 13

thực tiễn KTĐG và những có những gợi ý khá cụ thể về cách thực hiện một

đề mở trong môn Ngữ văn

Đồng quan điểm với nhà nghiên cứu Trần Đình Sử khi đề cập đếnnhững khó khăn của việc triển khai sử dụng các đề mở trong môn Ngữ văn,tác giả Phạm Mạnh Hà cũng cho rằng: “Đề thi mở luôn luôn là đề thi khó”

Và hạn chế lớn nhất của đề văn mở trong bối cảnh hiện tại là: “Chúng ta đangthiếu đi những tiêu chuẩn đánh giá đề văn mở thế nào là tốt và việc đánh giáchất lượng bài làm học sinh như thế nào là chuẩn” [20]

Bên cạnh đó còn có những cuốn sách, bài báo, cuốn tạp chí ít nhiều đề

cập đến đề mở, câu hỏi mở như “Câu hỏi trong giảng văn” (Trương Dĩnh), tập “Đề mở, đáp án mở” của Tạp chí Văn học tuổi trẻ và cuốn “Hệ thống đề

mở Ngữ văn” (Đỗ Ngọc Thống chủ biên) Ngoài ra còn một số luận văn làm riêng về việc xây dựng hệ thống đề mở trong dạy học Văn như “Xây dựng hệ thống câu hỏi mở trong dạy học ngữ văn trung học phổ thông” (Luận văn Thạc sĩ của Trịnh Thị Ngọc Thúy); “Xây dựng hệ thống đề mở nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh chuyên văn cấp trung học phổ thông” (Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Minh Duyên) Trong hai luận văn này, các

tác giả đã đưa ra được đề xuất quy trình xây dựng đề mở và hệ thống câu hỏi

mở, đề mở trong dạy học Ngữ văn cho học sinh cấp THPT nói chung Luậnvăn của tác giả Nguyễn Thị Minh Duyên khác Trịnh Thị Ngọc Thúy ở việcđầo sâu vào mục đích phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh nhưng lại chỉvới đối tượng là học sinh chuyên văn Ngoài ra, còn một số những luận văn

khác như “Xây dựng hệ thống đề mở trong dạy học văn nghị luận xã hội theo hướng phát triển năng lực cho cho học sinh lớp 12 THPT” (Luận văn Thạc sĩ của Hoàng Thị Lý); “Xây dựng hệ thống đề mở trong dạy học nghị luận văn học nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho cho học sinh lớp 10 THPT” (Luận

văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Phương) Ở luận văn của Hoàng Thị Lý, cô đãxây dựng bộ đề mở cụ thể trong dạy học văn nghị luận xã hội lớp 12 nhằm

Trang 14

phát triển năng lực cho học sinh Còn ở Nguyễn Thị Phương là hệ thống đề

mở trong dạy văn nghị luận văn học lớp 10

Tóm lại, từ việc khảo sát các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

“Xây dựng hệ thống đề mở trong dạy học văn nghị luận văn học nhằm pháttriển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT”, có thể thấy: Đã có nhiềunghiên cứu về đề mở, song chủ yếu mới dừng lại ở việc nêu nhận định về ưuđiểm và hạn chế của đề mở so với đề truyền thống và một số gợi ý cho việc ra

đề mở và thực hiện đề mở Các công trình nghiên cứu về vấn đề ra đề mởnhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh môn Ngữ văn nói riêng nhìnchung đã có tương đối nhưng chưa có xây dựng hệ thống đề mở cụ thể trongdạy nghị luận văn học lớp 11 THPT

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận về đề mở, đề xuất hướng biên soạn hệthống đề mở trong dạy nghị luận văn học nhằm phát triển năng lực sáng tạocho học sinh lớp 11 THPT

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận hướng đến làm rõ những vấn đề sau:

- Tìm hiểu và khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về đề mở, ưu thếcủa đề mở trong việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT

- Xác định các nguyên tắc xây dựng đề mở trong môn Ngữ văn 11, đềxuất quy trình xây dựng đề mở nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho họcsinh lớp 11 THPT

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính phù hợp, khả thi của hệthống đề mở nhằm phát triển NL sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT

Trang 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Vấn đề xây dựng hệ thống đề mở trong dạy học văn nghị luận văn họcnhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Vì năng lực sáng tạo của học sinh được thể hiện rõ nhất thông qua cáchoạt động học tập; nên trong đề tài này chúng tôi chủ trương nghiên cứu việcxây dựng hệ thống đề mở gắn liền với hoạt động dạy học, cụ thể hơn là dạyhọc văn nghị luận văn học và KTĐG nhằm đánh giá được mức độ phát triểnnăng lực sáng tạo của học sinh lớp 11 THPT

Để dễ dàng thực hiện việc nghiên cứu và kiểm chứng về hiệu quả của

đề mở trong việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11; chúng tôilựa chọn phạm vi nghiên cứu thực tiễn là hoạt động dạy học của giáo viên vàhọc sinh lớp 11A12 trường THPT Kim Liên, Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện khóa luận, chúng tôi đã sử dụng một sốphương pháp nghiên cứu sau đây:

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Để thấy rõ ưu thế của đề mở trong dạy học văn nghị luận văn học nhằmphát triển năng lực sáng tạo cho đối tượng học sinh lớp 11; chúng tôi tiếnhành tập hợp tư liệu liên quan đến đề mở, vấn đề phát triển năng lực sáng tạocho học sinh trong môn Ngữ văn Trên cơ sở tổng hợp những tài liệu đã có,chúng tôi nêu quan điểm về nguyên tắc biên soạn đề mở và đề xuất biện phápthiết kế đề mở nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT

5.2 Phương pháp điều tra

Chúng tôi sử dụng bảng hỏi in sẵn các câu hỏi liên quan đến đặc điểmtâm lý, trí tuệ, năng lực học tập, khả năng xử lý đề thi… của học sinh lớp 11

và thực hiện việc trưng cầu ý kiến của các thầy cô giáo đang trực tiếp giảng

Trang 16

dạy môn Ngữ văn ở một số trường THPT Chuyên Đồng thời tổ chức trưngcầu ý kiến của giáo viên, học sinh lớp 11 về đề mở và việc áp dụng đề mởtrong dạy học Ngữ văn 11.

Để xử lý dữ liệu: Chúng tôi dùng phương pháp thống kê – phân loại, sosánh – đối chiếu, tổng hợp…

5.3 Phương pháp thực nghiệm

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp thựcnghiệm trên hai nhóm học sinh lớp 11 với hai dạng đề kiểm tra môn Văn(dạng đề truyền thống và đề mở) Trong đó:

- Nhóm đối tượng thực nghiệm thực hiện bài kiểm tra với đề mở

- Nhóm đối chứng có cùng trình độ, thực hiện bài kiểm tra với dạng đềtruyền thống

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tư liệu tham khảo, phụ lục; nội dung

đề tài của chúng tôi được cấu tạo gồm có ba chương:

- Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn

- Chương II: Đề xuất xây dựng hệ thống đề mở trong dạy học nghị luận vănhọc nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT

- Chương III: Thực nghiệm sư phạm

Trang 17

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Đề mở

1.1.1 Quan niệm về đề mở

Khái niệm “đề mở” ban đầu liên quan đến tên gọi của một dạng bàikiểm tra ở nước Mỹ, đó là dạng Test/ examination with open books, opennotes (bài kiểm tra cho phép được mở sách vở); phân biệt với dạng Test/examination with closed books, closed notes (bài kiểm tra không được mởsách vở)

Sau này, khái niệm “đề mở” được hiểu mở rộng hơn ý nghĩa là một loại

đề cho phép mở tài liệu khi làm bài “Đề mở” khác với “đề truyền thống” (đềđóng) Nếu đề truyền thống là những đề bài có yêu cầu cụ thể về nội dung,cách thức thực hiện, phạm vi tư liệu; thì đề mở là dạng đề chỉ có những gợidẫn nhất định, tùy theo từng trường hợp học sinh được tự lựa chọn vấn đề,cách triển khai hoặc nguồn tư liệu để thực hiện đề bài một cách hiệu quả nhấttheo quan điểm của mình

Dưới đây là ví dụ về đề mở trong tương quan so sánh với đề truyềnthống:

Đề SGK: “Em hãy tả lại cảnh bình minh trên biển” (Đây không phải

đề mở) Với đề này, nếu có học sinh, hay học sinh miền núi chưa bao giờ thật

sự thấy biển thì làm sao em tả được Giáo viên có thể thay bằng để mở sau:

“Tả lại một cảnh vật mà em yêu thích”, thì học sinh không những dễ làm mà

còn phân hóa được học sinh

Một ví dụ khác:

Đề 1: Phân tích khổ 1, 2 của tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” (Nguyễn Trãi).

Đề 2: Có ý kiến cho rằng: “Bình Ngô đại cáo” (Nguyễn Trãi) là áng thiên cổ hùng văn” Anh chị có suy nghĩ gì về nhận định trên?

Trong hai đề bài trên, đề 1 là đề truyền thống, đề 2 là đề mở Đề 1 có yêu cầu

cụ thể về thao tác lập luận (Phân tích), nội dung vấn đề (khổ 1,2) và phạm vi

Trang 18

tư liệu (tác phẩm Bình Ngô đại cáo) Để triển khai bài viết, học sinh nhất thiết

phải bám sát văn bản, sử dụng thao tác lập luận phân tích để làm rõ tư tưởngnhân nghĩa của Nguyễn Trãi và những tội ác tày trời của giặc ngoại xâm.Trong khi đó, đề 2 lại cho phép học sinh thoải mái hơn trong việc sử dụngthao tác lập luận cũng như xác định nội dung trọng tâm để triển khai bài viết.Ngoài thao tác lập luận phân tích, các em có thể sử dụng kết hợp các thao tácgiải thích, chứng minh, so sánh đối chiếu, bình luận, bác bỏ để bài viết tựnhiên và thuyết phục hơn Về nội dung, các em có thể thoải mái sử dụngnhững luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng riêng để bày tỏ quan điểm của mình đồngtình hay phản đối với ý kiến đề bài cho, miễn sao bài làm mang tính thuyếtphục Ngoài ra, về phạm vi tư liệu, học sinh sẽ không bị gò bó trong phạm vikhổ 1,2 của tác phẩm như đề 1 mà có thể sử dụng dẫn chứng của toàn tácphẩm đồng thời sử dụng thêm những dẫn chứng ben ngoài đề so sánh đốichiếu, lập luận… nhằm tăng sự khách quan và sức thuyết phục cho bài viết

Có thể thấy hai đề bài cùng hỏi về tác phẩm Bình Ngô đại cáo (Nguyễn

Trãi), nhưng so với đề truyền thống (đề 1) thì rõ ràng đề mở (đề 2) đã “tạođược không gian thoáng cho học sinh suy nghĩ” [39; tr.15]

Hiện nay, để mở được đã được ra với hình thức phong phú hơn Ví dụtrong đề thi học sinh giỏi 2018 của tỉnh Bắc Giang:

Trang 19

Hãy viết bài văn nghị luận trình bày quan điểm của anh chị về vấn đề được gợi ý từ bức ảnh trên.

Trong đề bài trên, người ra đề đã đưa ra một hình ảnh và yêu cầu người làmbài trình bày suy nghĩ về hình ảnh đó Suy nghĩ về một hình ảnh hoặc một câuhát là một trong những hình thức đề mở mới đước áp dụng trong một vài kìthi học sinh giỏi Thêm một số ví dụ khác:

Đề thi Olympic Ngữ văn 2015 ở Vũng Tàu:

Đề thi học kì 2 lớp 11 (2012-2013) của trường THPT Chuyên Hà Nội –Amsterdam:

“Phải, chúng ta đều tỏa sáng, như mặt trăng, như những vì sao và như mặt trời…”

Đó là lời trong một bài hát nổi tiếng của John Lenon, thành viên của ban nhạc huyền thoại The Beatle Bằng một bài văn nghị luận khoảng 400 từ, anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về thông điệp mà người nghệ sĩ muốn gửi gắm trong câu hát ấy.

Trang 20

Để nhận định về đề mở, một số những tác giả lớn đã có quan điểm

riêng, cụ thể: Trong cuốn “Hệ thống đề mở Ngữ văn 10” , tác giả Đỗ Ngọc

Thống và cộng sự đã từ phương diện hình thức để nêu quan niệm về đề mởnhư sau: “Đề mở là loại đề chỉ nêu vấn đề cần bàn luận trong bài nghị luậnhoặc chỉ nêu đề tài để viết văn tự sự, miêu tả… không nêu mệnh lệnh gì vềthao tác lập luận như kiểu: hãy chứng minh, hãy giải thích, hãy phân tích…hoặc phương thức biểu đạt như: hãy kể, hãy phát biểu cảm nghĩ,…” [47, tr.8] Ngoài ra, tác giả Đinh Văn Thiện (2015) với những kiến thức và tìm hiểucủa bản thân, ông cũng đưa ra ý kiến của riêng mình: “Đề mở không còn bịđóng khung một cách cứng nhắc vào một số câu, chữ, một số tác phẩm trongchương trình quy định, cũng không bị gò bó vào một vài quan điểm, nhậnđịnh có sẵn muôn thuở đối với những tác phẩm học trích ấy” [44]

Đọc những quan điểm trên, ta có thể thấy chúng đều có điểm tương đồng.thống nhất ở chỗ đề cao tính không hạn định của đề mở Các nhà nghiên cứu đãnhìn nhận tính mở của đề mở ở nhiều phương diện khác nhau, tùy thuộc vào tínhchất và yêu cầu của KTĐG và của đối tượng làm bài Cụ thể:

- Về nội dung: Đề mở là dạng đề mà nội dung có tính gợi mở cao,không bị áp đặt vào một vấn đề bó buộc nào Nội dung của đề mở có thể lànhững vấn đề tương đối rộng, chứ không nhất thiết phải thuộc phần kiến thức

mà học sinh đã được học Đề mở vì vậy cho phép đánh giá khả năng xâuchuỗi, tổng hợp kiến thức từ nhiều nguồn, nhiều góc độ của học sinh; đồngthời kích thích khả năng trình bày vấn đề theo ý hiểu và theo cá tính củangười học

- Về hình thức trình bày và quan điểm đánh giá: Đề mở có thể đượcdiễn đạt một cách mới mẻ qua những giả định bất ngờ, những cách diễn đạtlấp lửng, đa nghĩa, mang tính gợi mở cao… Qua đó, đề mở thường được dùngvới mục đích KTĐG khả năng ứng xử, khả năng phản biện, khả năng vậndụng sáng tạo của người học Đề mở cũng có thể là loại đề được sử dụng cho

Trang 21

nhiều đối tượng học sinh Tính mở ở đây thiên về khả năng đánh giá của đềvới những đối tượng khác nhau Ví dụ: Theo thông tin của Nguyễn Thị HồngVân [56], trong kì đánh giá quốc gia của NAPLAN (Australia) năm 2009, tất

cả học sinh các lớp 3, 5, 7, 9 đều làm cùng một đề kiểm tra viết như sau:

“Hôm nay chúng ta sẽ viết một bài văn tự sự hoặc một truyện ngắn Ý tưởng cho câu chuyện của bạn là "Chiếc hộp" Cái gì đang nằm ở bên trong chiếc hộp? Làm thế nào để tìm ra nó? Nó có giá trị hay không? Có thể nó là một vật sống! Trong hộp có thể còn xuất hiện một lời nhắn hoặc một vật gì đó rất

bí ẩn Cái gì sẽ xảy ra trong câu chuyện bạn kể nếu chiếc hộp được mở ra?”

Với đề bài này, mỗi học sinh ở các lớp khác nhau, các trình độ khác nhau đều

có thể tưởng tượng, suy nghĩ và thể hiện năng lực cá nhân trong khi viết bàitheo gợi ý của đề bài Mặc dầu sử dụng chung một đề thi nhưng mức độ phânhóa lại rất rõ theo từng đối tượng

Tóm lại, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về đề mở, song điểmthống nhất là các ý kiến đều khẳng định tính mở và ưu thế của đề mở so với cácdạng đề truyền thống Tính mở của đề mở được quy định trên các phương diện:

- Nội dung: không bó buộc vào một vấn đề cụ thể hoặc chỉ nêu chủ đề,học sinh phải tự xác định vấn đề

- Thao tác lập luận: không bắt buộc học sinh thực hiện yêu cầu của đềbằng các mệnh lệnh như: Hãy giải thích, hãy chứng minh, hãy bình luận… màcho các em được linh hoạt vận dụng các thao tác lập luận để làm sáng tỏ vấn đề

- Phạm vi tư liệu: không giới hạn trong một khuôn khổ nhất định, màcho phép học sinh có cơ hội huy động kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau đểlàm sáng tỏ yêu cầu của đề

Đắc trưng tính mở đã tạo ra ưu thế của đề mở so với đề truyền thống:

đề mở cho phép học sinh tự do, linh hoạt hơn khi xử lý yêu cầu của đề bài Nótrở thành mảnh đất màu mỡ gieo trồng cho những tư tưởng, quan điểm mới;

Trang 22

những cách diễn đạt/ khả năng thể hiện cái mới; những cách ứng xử linh hoạt,nhạy bén của người học trước một vấn đề hoặc một tình huống được đặt ra.

1.1.2 Phân loại

Có nhiều cách để phân loại đề mở Tuy nhiên, trong đề tài này, căn cứ

về tính mở của đề trên các phương diện về nội dung, thao tác thực hiện, phạm

vi tư liệu như đã phân chia ở trên; có thể nhận diện đề mở trong môn Ngữ văn

ở một số dạng như sau:

1.1.2.1 Đề mở về nội dung

Các đề có tính mở về nội dung thường chỉ nêu chủ đề, yêu cầu học sinh

cụ thể hóa thành một bài viết Vì không thể hiện yêu cầu có tính chất áp đặt

về nội dung cụ thể cần triển khai, nên đề mở ở dạng này cho phép học sinh tự

do phát triển ý của bài viết một cách linh hoạt bằng quan điểm cá nhân

Hình thức của các đề mở về phương diện nội dung khá phong phú.Dưới đây là một số cách hỏi thường gặp:

- Đề ra dưới dạng một mệnh lệnh yêu cầu triển khai chủ đề sẵn có:

Ví dụ: + Viết một bài văn với chủ đề: “Tôi muốn nắm chặt tay bạn”.

+ Lấy đôi vai làm chủ đề để viết một bài văn 800 chữ.

- Đề bài yêu cầu học sinh viết tiếp một mệnh đề còn bỏ trống:

Ví dụ: + Thất bại thực sự là…

+ Thành công với tôi là…

- Đề ra dưới hình thức một câu hỏi, yêu cầu học sinh viết một bài văn để trảlời câu hỏi đó bằng suy nghĩ của bản thân:

Ví dụ: + Hạnh phúc không phải là đích đến, hạnh phúc là một quá trình?

+ Có phải con người trở nên phụ thuộc vào công nghệ?

- Đề bài cung cấp thông tin/ ngữ liệu, yêu cầu học sinh tự lựa chọn vấn đề trên

cơ sở đọc hiểu thông tin/ ngữ liệu đó để triển khai thành một bài văn Thôngtin/ ngữ liệu được cho trong đề bài có thể là một bức tranh, một câu chuyệnnhỏ, một đoạn thơ/ bài thơ, một tình huống giả định, một mẩu tin tức…

Trang 23

Ví dụ: Trình bày suy nghĩ của anh/chị về thông điệp từ câu chuyện sau :

Một cậu bé nhìn thấy cái kén cùa con bướm Một hôm cái kén hở ra một cái khe nhỏ, cậu bé ngồi và lặng lẽ quan sát con bướm trong vòng vài giờ khi nó gắng sức để chui qua khe hở ấy Nhưng có vẻ nó không đạt được gì cả.

Do đó cậu bé quyết định giúp con bướm bằng cách cắt khe hở cho to hẳn ra Con bướm chui ra được ngay nhưng cơ thể nó bị phồng rộp và bé xíu, cánh của nó co lại Cậu bé tiếp tục quan sát con bướm, hi vọng rồi cái cánh

sẽ đủ lớn để đỡ được cơ thể nó Những chẳng có chuyện gì xảy ra cả.

Thực tế, con bướm đó sẽ phải bỏ ra suốt cả cuộc đời nó chỉ để bò trườn với cơ thể sưng phồng Nó không bao giờ bay được.

Cậu bé không hiểu được rằng chính cái kén bó buộc làm cho con bướm phải cố gắng thoát ra là điều kiện tự nhiên để chất lưu trong cơ thể nó chuyển vào cánh, để nó có thể bay được khi nó thoát ra ngoài kén.

(Hạt giống tâm hồn, First New, NXB TP HCM, Tr 123)

Ví dụ khác: Cho mẩu tin sau:

“Đây là lần thứ 3 Nguyên cứu người, lại là lần định mệnh cướp đi sinh mạng của em Cả xã Bình Chánh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, những ngày qua xôn xao về sự ra đi của cậu học trò Trường THCS Bình Chánh Trưa 8/9, sau khi tập múa lân đón tết Trung thu, nhóm trẻ khoảng 10 người

rủ nhau đi tắm ao giải nhiệt Em Phạm Văn Thơ, học sinh lớp 6, không biết bơi lại lội ra xa cách bờ khoảng 3m thì sụp hố sâu đuối nước “Trong khi em vùng vẫy thì được anh Nguyên cứu vào bờ”, cậu bé kể rồi khóc: “Không ngờ ảnh kiệt sức…”.

Nguời lớn đã cấp tốc đưa Nguyên đến Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi

để cấp cứu, song em kiệt sức lịm dần, rơi vào hôn mê sâu và không bao giờ tỉnh lại nữa…”.

(Theo báo VNExpress, 13/09/2011) Viết bài văn khoảng 800 trình bày suy nghĩ cuả em về hành động của Nguyên.

Trang 24

1.1.2.2 Đề mở về thao tác

Đề mở về thao tác là những đề bài không ấn định cụ thể về cách thứcthực hiện bài viết bằng những mệnh lệnh như: Hãy chứng minh, hãy giảithích, hãy bình luận…

Ví dụ: - Nhân vật Chí Phèo (Chí Phèo, Nam Cao) trong suy nghĩ của tôi.

- Nạn xâm hại tình dục trong xã hội hiện nay.

Với những đề mở này, học sinh có thể tự do lựa chọn thao tác lập luận và cácphương thức biểu đạt phù hợp để làm bài Các em cũng có thể sử dụng kếthợp nhiều thao tác lập luận khác nhau để tăng tính thuyết phục cho bài viết

1.1.2.3 Đề mở về phạm vi tư liệu

Đề mở về phạm vi tư liệu là những đề bài không khoanh vùng tư liệu

cụ thể mà học sinh cần sử dụng để thực hiện bài viết Với đặc điểm này, các

đề bài sẽ trao cho học sinh cơ hội được tự huy động, lựa chọn những tri thức

từ nhiều nguồn khác nhau để triển khai bài viết

Ví dụ: Số phận của người nông dân trong một tác phẩm văn học mà anh chị yêu thích.

Với đề bài trên, học sinh có thể lựa chọn một tác phẩm văn học bất kì viết vềngười nông dân (trong hoặc ngoài chương trình, thuộc bộ phận văn học dângian hoặc văn học viết, tác phẩm văn học Việt Nam hoặc tác phẩm văn họcnước ngoài…) để làm sáng tỏ yêu cầu của đề bài

Trong thực tế, có những đề mở mang tính chất giao thoa của cả ba dạngtrên Đó là những đề bài vừa cho phép học sinh được triển khai bài viết bằngnhận thức của bản thân, vừa không bó buộc về cách thức trình bày văn bản

Với những cách hỏi đa dạng như: Viết tiếp một câu chuyện còn dang dở, viết lại câu chuyện từ vai một nhân vật nào đó, trình bày cảm nghĩ về một bức tranh… các đề này đã tạo không gian mở tối đa cho học sinh phát huy năng

lực văn học, năng lực ngôn ngữ và năng lực sáng tạo của mình

Trang 25

Tóm lại, sự phong phú, đa dạng về nội dung và hình thức của đề mở làmột tín hiệu khả quan trong hoạt động dạy học và KTĐG môn Ngữ văn Sự

đa dạng đó là bảo hiểm cho sáng tạo, có khả năng khơi gợi hứng thú của cảgiáo viên và học sinh Đề mở không chỉ tạo điều kiện cho học sinh phát huynhững năng lực chuyên biệt như cảm thụ, phân tích, lí giải và đánh giá các hiệntượng văn học; rèn luyện cho các em cách thức và quy trình tạo lập văn bản; màcòn phát triển năng lực sáng tạo cho các em trong quá trình làm bài Việc ra đề

mở vì thế trở thành một xu thế tất yếu trong dạy học Ngữ văn hiện nay

1.2 Khái niệm văn nghị luận và các kiểu bài nghị luận văn học

1.2.1 Khái niệm văn bản nghị luận

Ở nước ta văn nghị luận là một thể loại có truyền thống lâu đời, có giátrị và tác dụng hết sức to lớn trong trường kì lịch sử, trong công cuộc dựngnước và giữ nước Cho tới nay đã xuất hiện rất nhiều định nghĩa về văn nghị

luận Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì: “Nghị luận là bàn và

đánh giá cho rõ về một vấn đề nào đó Văn nghị luận là thể văn dùng lí lẽphân tích, giải thích vấn đề” [28, tr.676]

Cuốn Làm văn (Đỗ Ngọc Thống chủ biên) quan niệm: “Nói một cách

khái quát văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm,thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chínhtrị, đạo đức, lối sống… nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trongsáng, hùng hồn với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyếtphục…” [26, tr.168]

Theo tác giả Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn Một số vấn đề văn nghị luận ở cấp hai định nghĩa: “Văn nghị luận là một loại văn nhằm bàn bạc, thảo

luận với người khác về thực tại đời sống xã hội bao gồm những vấn đề về vănhóa, triết học, đạo đức, lịch sử, chính trị, văn học nghệ thuật.” [16, tr.4]

Đoàn Thị Kim Nhung và Phạm Thị Nga viết cuốn Rèn kĩ năng làm văn nghị luận 7, 8, 9 quan niệm: “Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết/

Trang 26

người nói đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông quacách thức bàn luận mà làm cho người đọc/ người nghe hiểu, tin và tán đồngnhững ý kiến của mình và hành động theo những điều mà mình đề xuất (đốivới vấn đề đó).” [26, tr.7].

Trong cuốn Kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông, Nguyễn Quốc Siêu

phát biểu: “Văn nghị luận là loại văn chương nghị sự, luận chứng, phân tích lí

lẽ Nó là tên gọi chung một thể loại văn vận dụng các hình thức tư duy, logicnhư khái niệm, phán đoán, suy lí và thông qua việc nêu sự thực, trình bày lí

lẽ, phân biệt đúng sai để tiến hành phân tích luận chứng khoa học đối vớikhách quan và quy luật bản chất của sự vật, từ đó nhằm biểu đạt tư tưởng, chủtrương, ý kiến, quan điểm của tác giả.” [34, tr.7]

Tóm lại, qua những quan điểm về văn nghị luận trên, ta có thể hiểu:Văn nghị luận là loại văn mà trong đó người viết đứng trên một lập trườngquan điểm nào đó và dựa vào sự hiểu biết nhất định của mình về xã hội , vănhọc, dùng lí lẽ và dẫn chứng để trình bày, lập luận, phân tích, giảng giải, phêphán, bác bỏ nhằm giải quyết một vấn đề nào đó Xuyên suốt chương trìnhNgữ văn chuẩn quốc gia ở nước ta, có thể dễ dàng thấy văn nghị luận đượcchia thành 2 loại lớn là: Nghị luận văn học và nghị luận xã hội

Trên cơ sở tìm hiểu khái niệm về văn nghị luận như trên, ta có thể thấyvăn nghị luận được ra đời từ rất lâu và vấn đề nghị luận bao trùm mọi lĩnhvực của đời sống Trong khuôn khổ phạm vi nghiên cứu của khóa luận “Xâydựng hệ thống đề mở trong dạy học văn nghị luận văn học nhằm phát triểnnăng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 THPT”, chúng tôi xin phép được tậptrung nghiên cứu về các kiểu bài văn nghị luận văn học và xây dựng hệ thống

đề mở văn nghị luận văn học theo hướng phát triển năng lực sáng tạo cho họcsinh lớp 11

Trang 27

1.2.2 Các kiểu đề bài nghị luận văn học

1.2.2.1 Khái niệm văn nghị luận văn học

Trong SGK Ngữ văn 12 nâng cao, tập 1 – Nhà xuất bản Giáo dục, văn

nghị luận văn học đã được định nghĩa như sau: “Nghị luận văn học là những

bài văn bàn về các vấn đề văn chương – nghệ thuật: phân tích, bàn luận về vẻđẹp của tác phẩm văn học; trao đổi về một vấn đề lí luận văn học hoặc làmsáng tỏ một nhận định văn học sử…” [15, tr.22]

Ứng với văn nghị luận văn học là các đề nghị luận văn học đã được tácgiả SGK phân chia cụ thể:

- Dạng đề nghị luận về một tác phẩm/ đoạn trích: Đây là dạng đề phổbiến và cơ bản nhất của nghị luận văn học Nghị luận về một tác phẩm/ đoạntrích là trình bày những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ

đề, nghệ thuật (nếu là tác phẩm văn xuôi) hoặc trình bày nhận xét, đánh giá vềnội dung, nghệ thuật của tác phẩm (nếu là thơ) Ví dụ:

+ Phân tích hình tượng ánh sáng và bóng tối trong truyện “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.

+ Phân tích nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật qua bức tranh phố huyện khi chiều xuống, phố huyện lúc đêm về và phố huyện lúc tàu đến và tàu

đi trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.

+ Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Liên trong truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam.

+ Cảm nhận về bài thơ Thương vợ của Tú Xương.

- Dạng đề nghị luận về một ý kiến bàn về văn học: là một hình thức củabài nghị luận văn học mà nội dung là bình luận, phân tích một ý kiến bàn vềvăn học như những giá trị nội dung, những đặc sắc nghệ thuật, những quyluật, khám phá, chiêm nghiệm về đời sống toát lên từ tác phẩm, những nhậnxét về các nhân vật… Ví dụ:

Trang 28

+ Hãy làm sáng tỏ ý kiến: “Hai đứa trẻ” là một bức tranh thấm đượm trữ tình” (Trích Đề thi Đại học khối D, 2011)

+ Có ý kiến cho rằng: “Hành động cắt dây trói cứu A Phủ của Mị cũng

là hành động cắt đứt sợi dây ràng buộc mình với nhà thống lí Pá Tra” Ý kiến của anh chị về vấn đề trên?

+ Có ý kiến cho rằng: “Sự nhẫn nhục của nhân vật Từ (Đời thừa – Nam Cao) không đáng trách, chỉ đáng thương; còn sự nhẫn nhục của người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu) thì vừa đáng thương vừa đáng trách” Từ cảm nhận của mình về hai nhân vật này, anh chị hãy bình luận ý kiến trên.

- Dạng đề nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm vănhọc: Đây là dạng đề giao thoa giữa cả nghị luận văn học và nghị luận xã hội.Dạng đề này kết hợp kiểm tra cả được cả về năng lực đọc hiểu tác phẩm vănhọc, cả về kiến thức xã hội và khả năng nghị luận với 2 hình thức sau:

+ Từ tác phẩm đã học, yêu cầu người viết bàn về một ý nghĩa xã hội

nào đó Chẳng hạn: Từ truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, anh/chị hãy phát biểu suy nghĩ về nạn bạo hành gia đình Với đề

bài trên, học sinh không chỉ hiểu sâu sắc nội dung tác phẩm mà bên cạnh đócòn phải liên hệ được với hiện trạng nạn bạo hành gia đình hiện nay

+ Từ một tác phẩm chưa được học, thường là câu chuyện nhỏ, để yêu

cầu bàn về ý nghĩa xã hội đặt ra trong đó Ví dụ đề văn: Suy nghĩ của anh chị sau khi đọc xong truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi” Với đề bài này, học

sinh hiểu được rằng: truyện kể về câu chuyện xem voi của 5 ông thầy bói Cả

5 ông đều có sự khiếm khuyết của bản thân mình nên đánh giá con voi chỉ từmột phía, mà từ đó đã nói lên được tổng thể con voi như thế nào Đây là mộtcách đánh giá không đúng bản chất, chỉ đi vào 1 khía cạnh, quá cục bộ Vàcuối cùng chính là cuộc ẩu đả của 5 ông thầy, vì ai cũng nhận phần đúng vềphía bản thân mình Từ đó, học sinh sẽ rút ra được bài học cho bản thân: khi

Trang 29

đánh giá, nhận xét về một vấn đề cần có cái nhìn khách quan, toàn diện, baoquát; ngoài ra cần phải tự hoàn thiện bản thân, lắng nghe ý kiến của mọingười, không nên tự cao tự đại cho là mình đúng.

1.2.2.2 Đặc điểm văn nghị luận văn học

Văn nghị luận văn học gồm các thành tố:

- Luận điểm: là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài văn đượcnếu ra dưới hình thức câu khẳng định (hay phủ định), được diễn đạt sáng tỏ,

dễ hiểu, nhất quán “Luận điểm là linh hồn của bài viết, nó thống nhất cácđoạn văn thành một khối Luận điểm đúng đắn, chân thật, đáp ứng nhu cầuthực tế thì mới có sức thuyết phục.” (Sách giáo khoa Ngữ văn 7, tập 2, trang19) [10, tr.19]

- Luận cứ: là lí lẽ, dẫn chứng đưa ra làm cơ sở cho luận điểm Luận cứphải chân thật, đúng đắn, tiêu biểu thì mới khiến cho luận điểm có sức thuyếtphục (Sách giáo khoa Ngữ văn 7, tập 2, trang 19) [10,tr.19]

- Lập luận: là cách lựa chọn, sắp xếp, trình bày luận cứ sao cho chúnglàm cơ sở vững chắc cho luận điểm Lập luận có vai trò cụ thể hóa luận điểm,luận cứ thành các câu văn, đoạn văn có tính liên kết về hình thức và nội dung

để đảm bảo cho một mạch tư tưởng nhất quán, có sức thuyết phục (Sách giáokhoa Ngữ văn 7, tập 2, trang 19) [10,tr.19]

Để làm tốt bài văn nghị luận văn học, học sinh cần phải chú ý tới cácvấn đề sau:

- Nhận dạng rõ kiểu bài, xác định rõ vấn đề cần nghị luận,… muốn làmđược vậy học sinh phải đọc kĩ đề và hiểu được những câu chuyện, những câunói ấy nói đến vấn đề gì và nói vậy có ý nghĩa gì

- Cần vận dụng thành thạo, linh hoạt các phương thức biểu đạt nhưmiêu tả, biểu cảm, tự sự, thuyết minh,… để tăng sự sinh động, uyển chuyển,hấp dẫn cho bài văn

Trang 30

- Đối với thơ, học sinh nên phân tích bài thơ thành từng đoạn, từngphần và nêu rõ ý luận điểm của từng phần đó Phải phân tích nghệ thuật củađoạn thơ, bài thơ hay từng câu thơ như cách viết câu, sử dụng hình ảnh, âmthanh, từ ngữ, vần điệu,… để làm nổi bật nên những điều tác giả muốn thểhiện Với văn xuôi, cần hiểu đúng nội dung, cốt truyện, tình huống truyện,tuyến nhân vật Với những ý kiến bàn về tác phẩm, phải hiểu rõ nội dung,tinh thần của những ý kiến đó để khi phân tích xem nhận định đó có xác đánghay không, có đủ sâu sắc chưa hay có khía cạnh nào cần bàn thêm không Nếu

có bạn hãy dùng những kỹ năng để làm sáng tỏ quan điểm của mình

- Chọn lựa những chi tiết tiêu biểu, đắt giá để phân tích sâu, tránh lanman, dài dòng

1.3 Năng lực sáng tạo của học sinh lớp 11 THPT

1.3.1 Năng lực sáng tạo

1.3.1.1 Năng lực sáng tạo nhìn từ góc độ tâm lý học

* Năng lực

Năng lực là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Latinh “competentia”

Theo Từ điển Tiếng Việt, “năng lực” là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc

tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; phẩm chất tâm lý và sinh

lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chấtlượng cao” [36, tr 660-661]

Dưới góc nhìn của tâm lý học, Trần Việt Dũng (2013) cho rằng: “Nănglực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò làđiều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt độngnhất định (…); là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp vớinhững yêu cầu của hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quảtốt” [14; tr 107]

Như vậy, “năng lực” là khả năng thực hiện, làm việc dựa trên hiểu biếtchắc chắn, kĩ năng thuần thục và thái độ phù hợp; là những kiến thức, kĩ năng

Trang 31

và các giá trị được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi

cá nhân Khác với “tiềm năng”, “năng lực” chủ yếu hiện ra trong hiện thựcchứ không phải ở dạng tiềm tàng Khác với “khả năng” nói chung, “năng lực”

là “một mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị ở việc hoàn thành

có kết quả một hoạt động nào đó” “Năng lực” cũng không giống “tài năng”

vì “tài năng” là mức độ năng lực cao hơn, biểu thị sự hoàn thành một cáchsáng tạo một hoạt động nào đó và càng khác với “năng khiếu” – khả năng sẵn

có, có tính bẩm sinh Còn so với “kĩ năng”, “năng lực” lại có phạm vi nghĩarộng hơn, “năng lực” bao gồm khả năng đáp ứng các yêu cầu phức tạp dựatrên việc huy động cả kĩ năng và thái độ trong một hoàn cảnh cụ thể Gắn vớihoạt động giáo dục, có thể thấy: “Năng lực” chính là đích đến cuối cùng, làmục tiêu mà giáo dục cần hướng đến

* Sáng tạo

“Sáng tạo” là một yếu tố đặc trưng của con người trong hoạt động nhậnthức Đó là một trong các phẩm chất của trí tuệ Theo những nghiên cứu của

Trần Thị Bích Liễu trong cuốn sách Giáo dục phát triển năng lực sáng tạo

(2016): “Đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến sáng tạo” Tác giả HenryGleiman cho rằng: “Sáng tạo, đó là năng lực tạo ra những giải pháp mới hoặcduy nhất cho một vấn đề thực tiễn và hữu ích” F.Raynay và A.Rieunier cũngkhẳng định: “Tính sáng tạo là năng lực tưởng tượng nhanh, nhiều lời giải độcđáo khi đối đầu với một vấn đề” [27]

Cuốn Từ điển về sáng tạo (2007) lại chỉ ra: “Sáng tạo được hiểu là khả

năng của một con người, của một tổ chức đưa ra những ý tưởng mới, có chấtlượng cao và có giá trị cao; là sự tư duy theo cách mới, là sự nhìn thấy vấn đềmới trong các vấn đề cũ Sáng tạo là sản phẩm của các phẩm chất và năng lựctrí tuệ [60] Đồng quan điểm này, nhà nghiên cứu Phan Đình Diệu diễn đạt vềsáng tạo như sau: “Cái chung nhất của sáng tạo là tìm kiếm những cái mới,

Trang 32

một tri thức mới hay một cách vận dụng mới của những tri thức đã có, mộtphương pháp mới hay một giải pháp mới cho vấn đề tưởng rằng đã cũ” [64].

Các tài liệu Tâm lý học giáo dục cơ bản thống nhất trong việc xác địnhcấu trúc của sáng tạo bao gồm:

- Sự mềm dẻo, linh hoạt (Flexibility) Sự mềm dẻo là khả năng chủ thể

biến đổi thông tin, kiến thức đã tiếp thu được một cách dễ dàng, nhanh chóng

từ góc độ, quan niệm này sang góc độ và quan niệm khác, chuyển đổi sơ đồ tưduy có sẵn trong đầu sang một hệ tư duy khác, chuyển đổi từ phương pháp cũsang hệ thống phương pháp mới, chuyển đổi từ hành động trở thành thói quensang một hành động mới, gạt bỏ sự cứng nhắc mà con người đã có để thay đổi

sự nhận thức dưới một góc độ mới, thay đổi cả những thái độ đã cố hữu tronghoạt động tinh thần, trí tuệ

- Sự lưu loát, trôi chảy (Fluency): Sự trôi chảy lưu loát là năng lực tổ

hợp, tạo ý tưởng mới, kết hợp các yếu tố riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh,

sự vật nhanh chóng

- Sự độc đáo (Originality): Sự độc đáo là năng lực tư duy độc lập trong

quá trình giải quyết vấn đề, nó cho phép con người nhìn nhận các sự vật, hiệntượng, vấn đề theo cách khác, mới lạ so với những cách trước

- Sự chế tạo mới (Elaboration): Sự chế tạo mới nghĩa là từ các thông tin

đã biết, từ những ý tưởng đã có chủ thể xây dựng được một cấu trúc mới, một

kế hoạch mới với các bước tổ chức, hành động liên tiếp và phù hợp, phối hợpcác ý tưởng, các câu nói, các cử động…

- Sự nhạy cảm (Sensitivity): Sự nhạy cảm là năng lực nhanh chóng phát

hiện sai lầm, mâu thuẫn, thiếu hụt hoặc thiếu logic, thiếu ngắn gọn…; nănglực nắm bắt dễ dàng nhanh chóng các vấn đề, nhận ra các ý nghĩa mới của sựvật từ những thông tin còn thiếu hụt của bản thân

Trang 33

* Năng lực sáng tạo

Tổng hợp các nghiên cứu về năng lực và sáng tạo, có thể đi tới kháiquát: Năng lực sáng tạo là khả năng của một người khi sản sinh các ý tưởngmới, nhìn nhận vấn đề theo cách mới, phát hiện cái mới trong cái cũ, để tạo racác sản phẩm mới

1.3.1.2 Năng lực sáng tạo nhìn từ góc độ lí luận dạy học hiện đại

* Việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạtđộng của học sinh:

Các lý thuyết, phương pháp và kĩ thuật dạy học hiện đại như: Thuyếtkiến tạo, thuyết nhận thức, thuyết hành vi, phương pháp bàn tay nặn bột…đều có điểm chung là giúp người học kiến tạo tri thức một cách chủ động vàsáng tạo Lấy học sinh làm trung tâm, tích cực hóa các hoạt động học tập củangười học… đã trở thành tinh thần của việc đổi mới phương pháp dạy học

Tính tích cực trong nhận thức của người học có nhiều biểu hiện phongphú như: hào hứng tìm hiểu, khám phá các đơn vị kiến thức; tích cực tham giaxây dựng bài trong giờ học, tích cực trình bày những quan điểm của bản thântrong quá trình học tập; suy nghĩ một cách độc lập, sáng tạo; biết vận dụngnhững tri thức đã được học để giải quyết những vấn đề phức tạp trong học tập

và cuộc sống… Theo tôi, đổi mới phương pháp dạy học, chính là tiền đề quantrọng để phát triển các năng lực cần thiết cho người học, trong đó hạt nhân lànăng lực sáng tạo

Trong môn Ngữ văn, việc đổi mới phương pháp dạy học càng có liênquan mật thiết đến việc phát triển năng lực sáng tạo của người học Nếu trongquá trình dạy học văn trước đây người giáo viên đóng vai trò trung tâm, họcsinh chỉ là đối tượng thụ động tiếp nhận tri thức từ thầy cô thì trong dạy họctích cực theo tinh thần đổi mới phương pháp hiện nay, học sinh trở thànhtrung tâm của quá trình học tập Mỗi giờ học văn trở thành một cơ hội tươngtác đa chiều giữa học sinh với thầy cô giáo, với tài liệu, với bạn học… để kiến

Trang 34

tạo kiến thức Học sinh được coi là bạn đọc sáng tạo, tham gia tích cực vàoquá trình “đồng sáng tạo” với nhà văn, cùng đối thoại với thầy cô và bạn bè

để mở rộng hiểu biết

* Vấn đề đổi mới KTĐG:

Đánh giá theo mục tiêu phát triển năng lực người học trở thành điểmtrọng tâm của việc đổi mới KTĐG hiện nay Việc đổi mới KTĐG môn Ngữ vănđược quy định trên cả hai phương diện là nội dung và cách thức đánh giá Nhữngđịnh hướng về đổi mới nội dung đánh giá tập trung vào một số điểm như:

- KTĐG một cách toàn diện các kiến thức và kĩ năng đã học của baphân môn theo tinh thần tích hợp;

- KTĐG theo quá trình, dựa trên khả năng nghe, nói, đọc viết các kiểuvăn bản cũng như thực hành phân tích, bình giá tác phẩm;

- Khuyến khích tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh;

- Đánh giá trình độ học sinh chủ yếu qua kĩ năng nhận diện và vậndụng các đơn vị tri thức đã học hơn là trình bày lại những đơn vị kiến thứcmột cách thuần túy

Bên cạnh những đổi mới về nội dung, cách thức KTĐG trong môn Ngữvăn cũng có những đổi mới quan trọng Theo đó, để việc KTĐG được kháchquan, toàn diện và có tác dụng phát triển năng lực người học thì việc đổi mớicách thức ra đề, nhất là việc sử dụng các đề mở trở thành một trong nhữnggiải pháp quan trọng nhất Vì đề mở sẽ hạn chế được tính chủ quan trongKTĐG, tạo điều kiện cho người học bộc lộ phẩm chất và năng lực toàn diệncủa mình, khơi gợi cảm hứng và động lực học tập môn Ngữ văn Đề mở chính

là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sự phát triển của năng lực sáng tạo ở học sinh

1.3.1.3 Năng lực sáng tạo nhìn từ góc độ giáo dục học

Năng lực sáng tạo đã được đề cập trong Đề án đổi mới Chương trình, sách giáo khoa (2014) Theo đó: “năng lực sáng tạo của học sinh phổ thông

Việt Nam được xác định là các khả năng của học sinh hình thành ý tưởng

Trang 35

mới, đề xuất được các giải pháp mới hay cải tiến làm mới một sự vật, có các giảipháp khác nhau để giải quyết một vấn đề, sự tò mò, thích đặt các câu hỏi đểkhám phá sự thật xung quanh, năng lực tưởng tượng và tư duy sáng tạo” [9].

Tác giả Trần Thị Bích Liễu trong cuốn sách Giáo dục phát triển năng lực sáng tạo (2016), đã chỉ ra những đặc tính tư duy cụ thể của cá nhân sáng

tạo Dưới đây, chúng tôi tóm lược một số đặc điểm nổi bật ở người có nănglực sáng tạo mà cuốn sách đã chỉ ra:

- Người có năng lực sáng tạo thường là những người có khả năng tổnghợp thông tin/ vấn đề theo cách mới, nhìn vấn đề với triển vọng mới và trong

sự biến đổi

- Có các kĩ năng tư duy logic (có năng lực đưa ra các minh chứng, kết luận)

- Có năng lực nhận biết, đánh giá và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo

- Thích ứng tốt với những điểm mới và độc lập khi đánh giá vấn đề

- Có khả năng tưởng tượng tốt

- Linh hoạt, khéo léo trong việc đưa ra các quyết định

- Tìm thấy trật tự trong sự hỗn loạn; tinh tế, nhạy bén trong tư duy

Có thể đi đến khái quát về đặc điểm của mỗi cá nhân sáng tạo như sau:

Bảng 1.1 Biểu hiện của năng lực sáng tạo ở mỗi cá nhân

Trí tuệ Giàu kiến thức, thông thạo, giàu tưởng tượng, có nhiều ý

tưởng độc đáo, tinh tế, nhạy cảm…

Thái độ Tò mò, mạo hiểm, say mê khám phá…

Hành vi Linh hoạt, thích ứng tốt với những điểm mới, có các câu

trả lời sáng tạo

Trang 36

1.3.2 Năng lực sáng tạo của học sinh lớp 11 THPT

1.3.2.1 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 11 THPT

Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắtđầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niênđược tính từ 15 đến 25 tuổi, được chia làm 2 thời kì:

- Thời kì 15-18 tuổi: gọi là tuổi đầu thành niên

- Thời kì từ 18-25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niênsinh viên)

Học sinh cấp THPT thuộc giai đoạn đầu là giai đoạn phát triển đặc biệt,duy nhất cuộc đời Giai đoạn này xảy ra đồng thời một loạt những thay đổi,bao gồm: sự chín muồi về thể chất, sự biến đổi, điều chỉnh tâm lí và sự biếnđổi các quan hệ xã hội nhằm đáp ứng các yêu cầu và nhiệm vụ phát triển Giaiđoạn này có nhiều biến đổi trong cấu tạo của cơ thể khiến các em cảm thấymình đã trở thành người lớn Vị trí của các em trong gia đình bắt đầu đượcnâng lên, các em bắt đầu được thừa nhận như một thành viên tích cực của xãhội Vì vậy, mối quan hệ được phát triển, tầm hiểu biết xã hội được nâng cao

và đây là cơ sở để phát triển nhân cách Hoạt động giao tiếp được coi là hoạtđộng chủ đạo và là nhu cầu lớn của lứa tuổi này Nhu cầu khẳng định bảnthân cũng đã chi phối cách hành xử, suy nghĩ của các em Các em nhạy bénvới những chuẩn mực, những giá trị của cuộc sống, xuất hiện ý tưởng tươnglai cuộc sống, những ý định rõ ràng, mức độ cao nhất là những nhận thức củacác em trở thành giá trị của cuộc sống

Tình cảm của lứa tuổi học sinh THPT sâu sắc và phức tạp Đây là giaiđoạn các em nỗ lực tìm kiếm những quan hệ ngoài gia đình, hướng tới nhữngngười bạn đồng lứa, xã hội hóa cái tôi tuổi đầy xúc cảm, dễ xúc động, khókiềm chế cảm xúc bột phát, dễ bị tổn thương

Cụ thể hơn, với các em học sinh lớp 11, đây còn là khối lớp lưng chừnggiữa cấp THPT Học sinh ở độ tuổi này đã hết sự bỡ ngỡ, chập chững như các

Trang 37

em lớp 10; đã quen dần với cách học và môi trường học THPT, các em cũngkhông bị áp lực thi cử quá nặng nề như học sinh khổi 12 Như vật, ở độ tuổinày, các em đang có tâm lý thoải mái nhất và dễ dẫn đến buông lơi việc họctập Ngoài ra, chính cái tâm lí thích tìm hiểu, khám phá, tò mò về cuộc sốngnên phần lớn học sinh rất hứng thú với những vấn đề nóng bỏng đang được

dư luận quan tâm, thông qua đó các em phần nào bộc lộ được quan điểm, thái

độ của mình về vấn đề mà xã hội đặt ra Từ đó mở ra hướng đi, dự định tươnglai, cách sống cho chính bản thân

Chính vì đặc điểm tâm lý lứa tuổi như trên, việc ra đề văn theo hướng

mở càng có ý nghĩa và vai trò quan trọn Nó không chỉ tập trung KTĐG kiếnthức, kĩ năng của các em trong quá trình học tập mà còn hướng được đến tâm

lý, sở thích, mối quan tâm của học sinh; để rồi từ đó hướng các em trở thànhnhững con người hoàn thiện cả về trí tuệ lẫn nhân cách

1.3.2.2 Những biểu hiện của năng lực sáng tạo ở học sinh lớp 11 THPT

Gắn với môn học Ngữ văn, năng lực sáng tạo ở người học thường cómột số biểu hiện nổi bật như: năng lực tư duy sáng tạo; năng lực diễn đạt sángtạo; tâm lý tò mò, yêu thích khám phá và tưởng tượng; thái độ tích cực đối với

sự sáng tạo…

* Năng lực tư duy sáng tạo của học sinh lớp 11 THPT

Trong những biểu hiện của năng lực sáng tạo, trước tiên phải kể tớinăng lực tư duy sáng tạo Từ năm 1956 Benjamin S.Bloom đã xây dựng thang

tư duy với 6 cấp độ, được miêu tả như hình một kim tự tháp Các cấp độ (từ

dưới lên) lần lượt là: Biết (Knowledge), Hiểu (Comprehension), Vận dụng (Application), Phân tích (Analysis), Tổng hợp (Synthesis) và Đánh giá

(Evaluation)

Trang 38

Hình 1.1 Thang cấp độ tư duy của Bloom Theo đó, hai cấp độ Biết và Thông hiểu được coi là tư duy bậc thấp,

bốn cấp độ còn lại là tư duy bậc cao Nhận thấy thang tư duy trên chưa thật sựhoàn chỉnh, sau này Lorin Anderson, một học trò của B S Bloom đã cùngcác cộng sự đề xuất sự điều chỉnh cho thang đo tư duy của Bloom Sau khiđược điều chỉnh gọi là Thang Bloom tu chính (Bloom's Revised Taxonomy)

Hình 1.2 Thang Bloom tu chính

Có ba sự thay đổi đáng lưu ý trong sự điều chỉnh này so với Thang

Bloom: cấp độ tư duy thấp nhất là Nhớ thay vì Biết, cấp Tổng hợp được bỏ đi và

Trang 39

đưa thêm Sáng tạo vào mức cao nhất Phân tích sự thay đổi, ta sẽ thấy sự điều

chỉnh này có ý nghĩa đề cao hơn năng lực sáng tạo của người học Cụ thể:

Mức độ Nhớ tức là có thể nhắc lại, mô tả, gọi tên, nhận diện, liệt kê… các thông tin đã được tiếp nhận trước đó Trong việc học văn, mức độ Nhớ có

thể hiểu là khả năng tái hiện các kiến thức về văn bản, tiếng Việt, làm văn màhọc sinh được trang bị Mức độ này chưa cho thấy năng lực tư duy sáng tạocủa học sinh

Mức độ Hiểu thể hiện ở khả năng diễn dịch, giảng giải, cắt nghĩa của

học sinh về một vấn đề nào đó Cơ sở của việc giảng giải, cắt nghĩa được vấn

đề là học sinh nắm chắc, hiểu sâu về đối tượng đang tìm hiểu Mức độ nàycũng chưa phải là biểu hiện của tư duy sáng tạo

Vận dụng là mức độ tư duy đòi hỏi năng lực sử dụng thông tin và chuyển đổi

kiến thức từ dạng này sang dạng khác để thực hiện hiệu quả một nhiệm vụhọc tập nào đó Đây là mức độ đòi hỏi người học phải có khả năng sử dụng

những kiến thức đã học vào trong một hoàn cảnh mới Vì vậy, Vận dụng là

mức độ tư duy đã cho thấy năng lực sáng tạo của người học

Phân tích là khả năng nhận biết các chi tiết, phát hiện và phân biệt các

bộ phận cấu thành của thông tin, chỉ ra và giải thích mối quan hệ giữa các

thành phần với tổng thể Tư duy phân tích đòi hỏi học sinh cần biết cách phân

chia, sắp xếp, tổng hợp các thông tin để thể hiện sự hiểu biết thấu đáo về mộtđối tượng nào đó Đây cũng là mức độ tư duy cho thấy rõ năng lực sáng tạocủa học sinh

Cao hơn Phân tích là Đánh giá Đánh giá đòi hỏi khả năng phán xét giá

trị của đối tượng hoặc sử dụng thông tin để bình luận theo các tiêu chí thíchhợp Để đạt đến mức độ tư duy này, học sinh phải sử dụng những gì đã học đểđánh giá, tổng hợp, so sánh, cắt nghĩa, dùng lập luận để bảo vệ quan điểm của

mình Đánh giá rõ ràng cho thấy tầm trí tuệ, sự làm chủ kiến thức và kĩ năng

Trang 40

của học sinh Nó là một bậc thang quan trọng cho thấy khả năng sáng tạo củahọc sinh.

Mức độ tư duy cao nhất, khó nhất đối với người học là tư duy Sáng tạo.

Tư duy Sáng tạo trong việc học văn có những biểu hiện cụ thể là: Người học

có ý tưởng mới, có góc nhìn riêng về vấn đề, có khả năng nêu những quanđiểm phản biện sắc sảo… Đây là chỗ cho thấy rõ nhất năng lực sáng tạo củahọc sinh lớp 11 THPT

Như vậy, khả năng tư duy sáng tạo của học sinh lớp 11 THPT được thểhiện tập trung ở năng lực phát hiện những ý tưởng mới, thể hiện góc nhìnriêng về một vấn đề nào đó và năng lực đề xuất những giải pháp mới, cách lígiải riêng về vấn đề trên cơ sở của những liên tưởng, tưởng tượng phong phú

* Năng lực diễn đạt sáng tạo của học sinh lớp 11 THPT

Năng lực diễn đạt là khả năng hiện thực hóa những tri thức về ngônngữ và quy tắc sử dụng ngôn ngữ bằng câu chữ, ngôn từ, hình ảnh… sao chomạch lạc, phù hợp với mục đích, yêu cầu của hoạt động giao tiếp Năng lựcdiễn đạt một mặt gắn với năng lực sử dụng ngôn ngữ, một mặt lại liên quantrực tiếp đến khả năng tư duy của học sinh Biểu hiện của năng lực diễn đạtsáng tạo ở học sinh lớp 11 là:

- Khả năng làm chủ ngôn ngữ, sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ: Từviệc nắm chắc các quy tắc sử dụng ngôn ngữ; trên cơ sở vốn từ phong phú…khả năng làm chủ về ngôn ngữ của học sinh lớp 11 trước tiên thể hiện ở khảnăng lựa chọn và sử dụng những từ ngữ một cách chuẩn xác, phù hợp với văncảnh mà không bị trùng lặp, sáo mòn Đặc biệt, có nhiều học sinh còn nôi trộihơn ở việc sử dụng ngôn ngữ thể hiện ở khả năng gieo vần, tạo nhịp điệu chocâu văn, lối chơi chữ, ẩn dụ, kết hợp từ để tạo ra ý nghĩa mới cho từ, sử dụnggiọng điệu đa thanh trong khi viết văn, cách đan xen các kiểu câu trong sửdụng…

Ngày đăng: 06/07/2020, 20:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vân Anh (2014), “Những đề thi chỉ có ở Việt Nam”, Báo điện tử Gia đình Việt Nam, ngày 22/11/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đề thi chỉ có ở Việt Nam”, "Báo điện tử Giađình Việt Nam
Tác giả: Vân Anh
Năm: 2014
2. Nguyễn Ngọc Bảo (1995), Phát huy tính tích cực, tính tự lực của học sinh trong quá trình dạy học, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực, tính tự lực của họcsinh trong quá trình dạy học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo
Năm: 1995
3. Nguyễn Lăng Bình, Đỗ Hương Trà, Nguyễn Phương Hồng, Cao Thị Thặng (2010), Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học, Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kỹ thuậtdạy học
Tác giả: Nguyễn Lăng Bình, Đỗ Hương Trà, Nguyễn Phương Hồng, Cao Thị Thặng
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2010
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dục phổ thông mônNgữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Công văn Hướng dẫn biên soạn đề kiểm tra, số 8773/ BGDĐT-GDTH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn Hướng dẫn biên soạn đềkiểm tra
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2010
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Trung học (2010), Tài liệu tập huấn Dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trong chương trình Giáo dục phát triển môn Ngữ văn, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tậphuấn Dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng trongchương trình Giáo dục phát triển môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Trung học
Năm: 2010
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Việt Bỉ (2010), Dạy và học tích cực.Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học, Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực."Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Dự án Việt Bỉ
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2010
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Trung học (2014) , Tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực trong trường THPT, môn Ngữ văn, Tài liệu lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tậphuấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng phát triểnnăng lực trong trường THPT, môn Ngữ văn
12. Hoàng Chúng (1991), Rèn luyện khả năng sáng tạo toán học ở nhà trường phổ thông, Nxb TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện khả năng sáng tạo toán học ở nhàtrường phổ thông
Tác giả: Hoàng Chúng
Nhà XB: Nxb TP HCM
Năm: 1991
13. Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier (2005), Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới, Tài liệu tập huấn Dự án phát triển giáo dục THPT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực thôngqua phương pháp và phương tiện dạy học mới
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier
Năm: 2005
14. Trần Việt Dũng (2013), “Một số suy nghĩ về năng lực sáng tạo và phương hướng phát huy năng lực sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học ĐHSP TP HCM (49), tr. 107 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số suy nghĩ về năng lực sáng tạo vàphương hướng phát huy năng lực sáng tạo của con người Việt Nam hiệnnay”
Tác giả: Trần Việt Dũng
Năm: 2013
15. Vũ Dũng (2000), Từ điển Tâm lý học, Nxb Từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách Khoa
Năm: 2000
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ 8, BCH TW khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ 8,BCH TW khóa XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2013
17. Lê Thị Mỹ Hà (2010), "Đánh giá kết quả học tập của học sinh - định nghĩa và phân loại", Tạp chí Khoa học Giáo dục (61), tr. 21-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả học tập của học sinh - địnhnghĩa và phân loại
Tác giả: Lê Thị Mỹ Hà
Năm: 2010
18. Lê Thị Mỹ Hà (2010), “Quy trình xây dựng đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông”, Tạp chí Khoa học Giáo dục (63), tr. 28-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy trình xây dựng đề kiểm tra đánh giá kếtquả học tập của học sinh phổ thông”
Tác giả: Lê Thị Mỹ Hà
Năm: 2010
19. Lê Thị Mỹ Hà (2012), Đánh giá giáo dục và đánh giá kết quả học tập của học sinh, Kỷ yếu hội thảo khoa học nghiên cứu và dạy học ngữ văn trong bối cảnh hiện nay, Đại học Huế, tr. 307 - 319 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá giáo dục và đánh giá kết quả học tậpcủa học sinh
Tác giả: Lê Thị Mỹ Hà
Năm: 2012
20. Phạm Mạnh Hà (2013), “Đề mở luôn là đề thi khó”, Báo điện tử VTCNew, ngày 02/06/ 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đề mở luôn là đề thi khó”
Tác giả: Phạm Mạnh Hà
Năm: 2013
21. Nguyễn Thị Hạnh (2002), Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn tiếng Việt ở tiểu học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kếtquả học tập môn tiếng Việt ở tiểu học
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
22. Phạm Thị Thu Hiền (2014), “Đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn ở cấp THPT”, Báo Giáo dục và Thời đại, ngày 1/4/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượnghọc tập môn Ngữ văn ở cấp THPT”
Tác giả: Phạm Thị Thu Hiền
Năm: 2014
23. Trần Bá Hoành (1999), “Phát triển trí sáng tạo của HS và vai trò của GV”, Tạp chí nghiên cứu Giáo dục (9), tr.8-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển trí sáng tạo của HS và vai trò củaGV”
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 1999

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w