Khảo nghiệm về sự cần thiết và tính khả thi của biện pháp giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trên đại bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong bối
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN ĐÌNH TRỌNG
GIÁO DỤC AN TOÀN GIAO THÔNG CHO NGƯỜI DÂN TẠI TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng
Mã ngành: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ THỊ HẠNH PHÚC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2Tiếp đến, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,Phòng Sau Đại học, Khoa Tâm lí – Giáo dục học cùng các Thầy/Cô giáo đãtạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ủy ban nhân dân, các Trung tâmHọc tập cộng đồng, các cơ quan ban ngành trên địa bàn các xã, phường củathành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ tôitrong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 2019
Người làm đơn
Nguyễn Đình Trọng
Trang 3GTĐB : Giao thông đường bộGDTX : Giáo dục thường xuyênHTCĐ : Học tập cộng đồngLLCĐ : Lực lượng cộng đồng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1: LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC AN TOÀN GIAO THÔNG CHO NGƯỜI DÂN TẠI TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Những nghiên cứu có liên quan đến an toàn giao thông 7
1.1.2 Những nghiên cứu có liên quan đến giáo dục an toàn giao thông 10
1.2 An toàn và an toàn giao thông trong bối cảnh hiện nay 12
1.2.1 An toàn và an toàn giao thông 12
1.2.2 Những quy định về an toàn giao thông 13
1.3 Cộng đồng, giáo dục cộng đồng và Trung tâm Học tập cộng đồng 16
1.3.1 Cộng đồng 16
1.3.2 Giáo dục và giáo dục cộng đồng 19
1.3.3 Trung tâm Học tập cộng đồng 21
1.4 Giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay 24
1.4.1 Khái niệm giáo dục an toàn giao thông 24
1.4.2 Tầm quan trọng của việc giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay 24
Trang 51.4.3 Mục tiêu giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập
cộng đồng trong bối cảnh hiện nay 25
1.4.4 Nội dung giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay 26
1.4.5 Các lực lượng tham gia giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay 26
1.4.6 Người dân trong hoạt động giáo dục an toàn giao thông tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay 27
1.4.7 Phương pháp giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay 28
1.4.8 Hình thức giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay 29
1.4.9 Đánh giá kết quả giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay 30
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay 30
Kết luận chương 1 34
Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC AN TOÀN GIAO THÔNG CHO NGƯỜI DÂN TẠI TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 35
2.1 Khái quát về thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 35
2.1.1 Lịch sử hình thành, vị trí địa lí, địa hình 35
2.1.2 Đơn vị hành chính, dân cư 36
2.1.3 Tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố Đà Lạt năm 2018 36
2.1.4 Các Trung tâm Học tập cộng đồng trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 39
Trang 62.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 39 2.3 Thực trang vi phạm an toàn giao thông của người dân trên địa bàn thành phố
Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 43 2.3.1 Tình hình tai nạn giao thông, va chạm giao thông và vi phạm an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Đà Lạt 43 2.3.2 Thực trạng nhận thức và hành vi có liên quan đến đảm bảo an toàn giao thông của người dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt 44 2.4 Thực trạng các Trung tâm Học tập cộng đồng của thành phố Đà Lạt 50 2.4.1 Số lượng cán bộ quản lí, cộng tác viên, báo cáo viên và học viên các Trung tâm Học tập cộng đồng thành phố Đà Lạt 50 2.4.2 Đội ngũ cán bộ quản lí, cộng tác viên của các Trung tâm Học tập cộng đồng thành phố Đà Lạt 51 2.4.3 Tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện của các Trung tâm Học tập cộng đồng thành phố Đà Lạt 53 2.5 Thực trạng hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm Học tập cộng đồng trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 54 2.5.1 Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm Học tập cộng đồng 54 2.5.2 Thực trạng mục tiêu giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm Học tập cộng đồng 55 2.5.3 Thực trạng nội dung giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm Học tập cộng đồng 57 2.5.4 Các lực lượng tham gia giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm Học tập cộng đồng 60 2.5.5 Thực trạng người dân thành phố Đà Lạt trong hoạt động giáo dục giáo dục
an toàn giao thông tại các Trung tâm Học tập cộng đồng 65 2.5.6 Thực trạng sử dụng các phương pháp giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại các Trung tâm Học tập cộng đồng 66
Trang 72.5.7 Thực trạng sử dụng các hình thức tổ chức giáo dục an toàn giao thông cho
người dân tại các Trung tâm Học tập cộng đồng 67
2.5.8 Thực trạng kết quả giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại các Trung tâm Học tập cộng đồng 68
2.5.9 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại các Trung tâm Học tập cộng đồng 71
2.6 Đánh giá chung về thực trạng 73
2.6.1 Những kết quả đạt được 73
2.6.2 Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân của chúng 75
Kết luận chương 2 78
Chương 3: BIỆN PHÁP GIÁO DỤC AN TOÀN GIAO THÔNG CHO NGƯỜI DÂN TẠI TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 79
3.1 Định hướng đề xuất biện pháp 79
3.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 81
3.3 Các biện pháp giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng ở thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh hiện nay 84
3.3.1 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho các lực lượng về tầm quan trọng của vấn đề đảm bảo an toàn giao thông đáp ứng yêu cầu phát triển thành phố Đà Lạt trong giai đoạn hiện nay 84
3.3.2 Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách có liên quan đến hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại các Trung tâm Học tập cộng đồng 86
3.3.3 Lựa chọn và bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động giáo dục cho cán bộ tham gia giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm Học tập cộng đồng 88
3.3.4 Phát huy vai trò chủ đạo của Trung tâm Học tập cộng đồng trong huy động các lực lượng cộng đồng tham gia giáo dục an toàn giao thông cho người dân 89
Trang 83.3.5 Thu hút và phát huy tính tích cực của người dân trong hoạt động giáo dục an
toàn giao thông 91
3.3.6 Phối hợp liên ngành đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho người dân 93
3.3.7 Thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm Học tập cộng đồng một cách thường xuyên và hiệu quả .94
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 97
3.5 Khảo nghiệm về sự cần thiết và tính khả thi của biện pháp giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trên đại bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh hiện nay 99
3.5.1 Khái quát chung về quá trình khảo nghiệm 99
3.5.2 Kết quả khảo nghiệm 101
Kết luận chương 3 104
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 114
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1 Đánh giá về thực trạng nhận thức của người dân thành phố Đà Lạt
về Luật GTĐB và những yêu cầu đối với việc đảm bảo ATGT 44
Bảng 2.2 Đánh giá của người dân thành phố Đà Lạt về tầm quan trọng của
Bảng 2.5 Thống kê thực trạng đội ngũ cán bộ quản lí, CTV của các Trung
tâm HTCĐ trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 51
Bảng 2.6 Thống kê thực trạng CSVC, TTB, PT của các Trung tâm HTCĐ
trên địa bàn thành phố Đà Lạt 53
Bảng 2.7 Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục ATGT cho
người dân tại các Trung tâm HTCĐ 54
Bảng 2.8 Mục tiêu giáo dục ATGT cho người dân tại các Trung tâm HTCĐ
55
Bảng 2.9 Đánh giá về sự thiết thực của nội dung giáo dục ATGT cho người
dân tại các Trung tâm HTCĐ 57
Bảng 2.10 Đánh giá về mức độ thực hiện các nội dung giáo dục ATGT cho
người dân tại các Trung tâm HTCĐ 59
Bảng 2.11 Đánh giá mức độ quan trọng của các lực lượng tham gia giáo
dục ATGT cho người dân tại các Trung tâm HTCĐ 60
Bảng 2.12 Đánh giá về năng lực giáo dục của các lực lượng tham gia giáo
dục ATGT cho người dân tại các Trung tâm HTCĐ 62
Trang 10Bảng 2.13 Đánh giá mức độ thực hiện của các lực lượng tham gia giáo dục
ATGT cho người dân tại các Trung tâm HTCĐ 63
Bảng 2.14 Đánh giá về thực trạng sự phối hợp của các lực lượng trong giáo
dục giáo dục ATGT cho người dân tại các Trung tâm HTCĐ 64
Bảng 2.15 Đánh giá về thực trạng sử dụng các hình thức tổ chức giáo dục
ATGT cho người dân tại các Trung tâm HTCĐ 67
Bảng 2.16 Đánh giá về hiệu quả giáo dục ATGT cho người dân tại các
Trung tâm HTCĐ 68
Bảng 2.17 Đánh giá về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục ATGT
cho người dân tại các Trung tâm HTCĐ 71
Bảng 3.1 Đánh giá về mức độ cần thiết của các biện pháp giáo dục ATGT
cho người dân tại Trung tâm HTCĐ trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 101
Bảng 3.2 Đánh giá về tính khả thi của các biện pháp giáo dục ATGT cho
người dân tại Trung tâm HTCĐ trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 102
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai tròcủa giáo dục pháp luật là một thông điệp tất yếu khách quan Điều đó khôngchỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, hiệnđại mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó có
ý thức tinh thần, trách nhiệm đạo đức của mỗi cá nhân Trong xã hội, việc tạolập nếp sống và làm việc theo pháp luật phải được đặt thành một yêu cầu cơbản và cấp bách của đời sống văn hóa ở các gia đình, các cụm dân cư, các đơn
vị cơ sở và phải coi đó là sự nghiệp của toàn dân, đòi hỏi nỗ lực của toàn bộ
hệ thống chính trị trong việc phổ biến tuyên truyền pháp luật, đẩy mạnh đấutranh chống các hành vi trái pháp luật, xử lý nghiêm minh các hành vi viphạm pháp luật
Giáo dục pháp luật nói chung và việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục
an toàn giao thông cho người dân ở thành phố Đà Lạt chưa đáp ứng được yêucầu của sự nghiệp đổi mới Ý thức chấp hành pháp luật và thực hiện đảm bảo
an toàn giao thông của một bộ phận không nhỏ nhân dân vẫn còn những bấtcập và hạn chế, nhận thức về mặt pháp luật chưa cao, việc chấp hành thực thipháp luật chưa tốt, kiến thức từ thực tế của người dân về vấn đề an toàn giaothông chưa đầy đủ, đặc biệt những vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn rấtthấp Nhiều người tham gia giao thông mà không biết những quy định củapháp luật về giao thông mặc dù nó rất gần gũi, phổ biến trong cuộc sống.Thực tiễn tham gia giao thông bằng các phương tiện xe đạp, xe máy, ô tô, đibộ của người dân còn nhiều hạn chế như phóng nhanh, vượt ẩu, không chấphành luật lệ giao thông, đường xá còn chật chội, nhiều khúc cua, nhiều dốclên xuống, không có đèn giao thông Chính vì vậy việc tăng cường tuyêntruyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đảm bảo an toàn khi tham gia giaothông cho người dân trên địa bàn thành phố là vấn đề cấp bách đòi hỏi cần
Trang 12được đáp ứng kịp thời
Thông qua Trung tâm học tập cộng đồng với các lực lượng xã hội trongviệc giáo dục an toàn giao thông cho người dân sẽ tạo điều kiện thuận lợi chomọi người, mọi lứa tuổi được học tập, hiểu biết về Luật giao thông CácTrung tâm học tập cộng đồng đã giúp đỡ người dân đáp ứng yêu cầu đượchiểu biết pháp luật nói chung và Luật an toàn giao thông nói riêng, là địa chỉphổ biến, tuyên truyền, giáo dục và tư vấn các quan điểm, chủ trương củaĐảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến được với với mọi người dân
Trong những năm qua, với sự quan tâm sâu sắc của các cấp ủy đảng,chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, sự quản lýcủa ngành giáo dục và sự trực tiếp tổ chức của Hội Khuyến học thành phố nêncác Trung tâm học tập cộng đồng ở địa phương càng được phát triển Hệthống các Trung tâm học tập cộng đồng, đơn vị học tập được mở rộng trên địabàn thành phố Đà Lạt; hoạt động của các Trung tâm ngày càng đa dạng, chấtlượng đã từng bước đáp ứng yêu cầu học tập của người dân, góp phần quantrọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương Tuy nhiên thực tế chothấy công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến giáo dục Luật an toàn giaothông cho người dân ở Trung tâm học tập cộng đồng chưa đáp ứng được nhucầu học tập hiểu biết pháp luật của người dân trên địa bàn và chưa huy độnghết khả năng của cộng đồng trong việc phối, kết hợp tổ chức các hoạt độnggiáo dục tại Trung tâm Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, trong
đó phải kể đến những hạn chế thuộc về cơ chế chính sách địa phương có liênquan đến việc quản lý, hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũcán bộ tại các Trung tâm học tập cộng đồng, hạn chế trong công tác phốihợp giữa các lực lượng xã hội, hạn chế về nhận thức của người dân về cáchoạt động tại các Trung tâm, hạn chế về việc khảo sát nhu cầu học tậpchính đáng của người dân và các hình thức tổ chức hoạt động trong cácTrung tâm học tập cộng đồng chưa được phong phú đa dạng
Trang 13Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Giáo dục an toàn
giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh hiện nay” để nghiên cứu
với mong muốn giúp người dân nắm được những kiến thức về Luật Giaothông đường bộ, từ đó hình thành nề nếp, ý thức và hành vi khi tham gia giaothông đúng luật, đảm bảo an toàn tính mạng cho mình và cho mọi người
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tiễn giáo dục an toàn giaothông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng, đề tài đề xuất biện giáodục an toàn giao thông cho người dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnhLâm Đồng trong bối cảnh hiện nay nhằm nâng cao nhận thức cho người dân
về luật giao thông, từ đó hình thành ý thức, hành vi tham gia giao thông đúngluật và an toàn
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm họctập cộng đồng trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnhhiện nay
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục an toàn giao cho người dân tại trung tâm Học tậpcộng đồng trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh hiệnnay
4 Giả thuyết khoa học
Việc giáo dục cho người dân về an toàn giao thông trên địa bàn thànhphố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong thời gian qua đã đạt một số kết quả nhấtđịnh Tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật nói chung vàLuật Giao thông đường bộ nói riêng của người dân Nếu nghiên cứu, đề xuất
và thực hiện các biện pháp phối hợp giữa Trung tâm học tập cộng đồng với các
Trang 14lực lượng xã hội trong giáo dục an toàn giao thông cho người dân trên thì sẽ gópphần nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm, đảm bảo sự an toàn của người dânkhi tham gia giao thông, đồng thời nhằm giảm thiểu tình trạng tai nạn giao thông
ở cả 3 mặt trên địa bàn thành phố Đà Lạt trong những năm tiếp theo
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục an toàn giao thông chongười dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục an toàn giao thông cho ngườidân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh hiện nay
5.3 Đề xuất khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi các biện phápgiáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm Học tập cộng đồngtrên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh hiện nay
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu biện phápgiáo dục an toàn giao thông đường bộ cho người dân được tiến hành tại Trungtâm Học tập cộng đồng với chủ thể giữ vai trò chủ đạo là Giám đốc Trungtâm HTCĐ, các chủ thể tham gia phối hợp trong hoạt động giáo dục là cán bộcảnh sát giao thông, cán bộ các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể tại thành phố
Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
6.2 Khách thể khảo sát: Ban Giám đốc, Báo cáo viên của Trung tâmhọc tập cộng đồng, công an giao thông thành phố, cán bộ Mặt trận Tổ quốc vàcác đoàn thể chính trị - xã hội thành phố (đoàn thanh niên ), cán bộ PhòngGiáo dục và Đào tạo thành phố; cán bộ Phòng Văn hóa - Thông tin thành phố
và học viên của Trung tâm
6.3 Giới hạn thời gian nghiên cứu: Từ năm 9/2018 đến tháng 5/2019
7 Phương pháp nghiên cứu
7 1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập tài liệu từ các công trình nghiên cứu, sách, các chỉ thị, nghị
Trang 15quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nghị định, thông tưhướng dẫn thi hành có liên quan đến lĩnh vực an toàn giao thông Trên cơ sở
đó tổng hợp, phân tích, khái quát hóa tài liệu để hệ thống hóa cơ sở lý luậncho đề tài
7 2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra: điều tra bằng bảng hỏi nhằm tìm hiểu
thực trạng chấp hành giao thông và thực trạng giáo dục an toàn giao thôngcho người trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh hiệnnay (phụ lục 1,2 và 5)
7.2.2 Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn sâu một số cán bộ, học viên
Trung tâm học tập cộng đồng, cán bộ cơ quan quản lý nhà nước, một số thànhviên của các tổ chức xã hội và người dân nhằm đánh giá các vấn đề thực tiễnđảm bảo tính khách quan, đa chiều, phù hợp với tình hình thức tế của thànhphố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh hiện nay (phụ lục 3)
7.2.3 Phương pháp quan sát: Chúng tôi quan sát thực trạng một số
hành vi tham gia giao thông của người dân, các hình thức giáo dục an toàngiao thông cho người dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồngtrong bối cảnh hiện nay (phụ lục 4)
7.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: từ tình hình thực tiễn để có
các biện pháp phối hợp giữa Trung tâm Học tập cộng đồng với các lực lượng
xã hội trong giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại thành phố Đà Lạt,tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh hiện nay
7 3 Phương pháp toán thống kê
Để xử lý các số liệu nhằm bảo đảm tính khoa học, chính xác và kháchquan về số liệu thực tiễn, qua đó giúp luận văn có thêm những căn cứ chắcchắn hơn để đưa ra những biện pháp, đề xuất phù hợp với tình hình thực tiễncủa địa phương trong bối cảnh hiện nay
Trang 168 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệutham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận về giáo dục an toàn giao thông cho người dân
tại Trung tâm học tập cộng đồng
Chương 2 Thực trạng giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại
Trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồngtrong bối cảnh hiện nay
Chương 3 Biện pháp giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại
Trung tâm Học tập cộng đồng trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồngtrong bối cảnh hiện nay
Trang 17Chương 1
LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC AN TOÀN GIAO THÔNG
CHO NGƯỜI DÂN TẠI TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu có liên quan đến an toàn giao thông
Thập kỷ hành động vì ATGT từ năm 2011 đến năm 2020 đã được Đạihội đồng Liên hợp quốc thông qua vào tháng 3 năm 2010, phản ứng lại mối longại về lưu lượng tử vong toàn cầu do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa
ra “Dữ liệu được WHO thu thập cho thấy khoảng 1,3 triệu người chết do va chạm giao thông hàng năm, 50 triệu người bị thương và bị tàn tật trong cuộc sống mỗi năm, 90% nạn nhân tai nạn giao thông xảy ra ở các nước đang phát triển Tỷ lệ tử vong hàng năm này dự kiến sẽ tăng lên 1,9 triệu vào năm
2020 Dựa trên thống kê của WHO, tai nạn giao thông là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong giới trẻ; đến năm 2015, tai nạn giao thông đường bộ sẽ
là gánh nặng sức khỏe hàng đầu cho trẻ em trên 5 tuổi ở các nước đang phát triển Chi phí kinh tế cho các nước đang phát triển ước tính vượt quá 100 tỷ
đô la một năm” [dẫn theo29]
Các tác giả Alicea, L và cộng sự (2010), B Colucci và cộng sự (2012),Colucci, B và cộng sự (2013) đã nghiên cứu và sử dụng cơ sở dữ liệu va chạmcủa Sở Công cộng Puerto Rico đã chỉ ra rằng “kể từ đầu thiên niên kỷ này, số
vụ tai nạn trung bình là 285.000 mỗi năm, tương đương với một tỷ lệ tai nạnđáng báo động là 81,5 dặm vuông mỗi năm Liên quan đến các vụ va chạmgiao thông gây tử vong, có tổng cộng 4.764 trường hợp tử vong được báo cáotrong thập kỷ này, trong đó có 1.472 người đi bộ, chiếm 31% tổng số ngườichết” [46]
Trang 18Các chuyên gia quốc tế tin rằng “tai nạn giao thông có thể ngăn chặnnếu một kế hoạch hành động toàn cầu, bao gồm các phép đo hiệu suất cụ thể,
có thể cứu hàng triệu mạng sống Một thành phần quan trọng để giảm vachạm giao thông là tạo ra các liên minh chiến lược và liên minh giữa khu vực
tư nhân, khu vực công và học viện Việc đánh giá các chiến dịch nhằm cảithiện an toàn đường bộ vẫn là ngoại lệ thay vì quy tắc Bởi vì điều này, cácchiến dịch không hiệu quả và kỹ thuật chiến dịch được phép tiếp tục được sửdụng mà không có câu hỏi, trong khi các phương pháp sửa đổi hành vi mớithường bị bỏ qua Do đó, sự cần thiết và lợi thế của việc đánh giá chính thứccác nỗ lực chiến dịch an toàn đường bộ sẽ được thảo luận” [49]
Tamara Hoekstra và cộng sự (2011) cũng mô tả ưu và nhược điểm củamột số chiến lược chiến dịch phổ biến và giới thiệu một số phương pháp mớithể hiện mục đích của các chiến dịch an toàn đường bộ “Để truyền tải lĩnhvực vận động an toàn đường bộ với những hiểu biết về hành vi của ngườitham gia giao thông đường bộ và sửa đổi hành vi, người ta nên nhìn xa hơnranh giới của các tiêu chuẩn chiến dịch an toàn đường bộ và học hỏi từ nhữngkiến thức đã đạt được trong các ngành khác như kinh tế học và tâm lý xãhội Những thông tin chi tiết mới này được thảo luận về ý nghĩa của chúngđối với tương lai của các chiến dịch an toàn đường bộ” [50]
Ainsworth, Highway Safety-Human Factors (2010) cho rằng: “GDtương tác sớm cho thế hệ tiếp theo lái xe và người sử dụng đường bộ đóng mộtvai trò hàng đầu trong việc nâng cao nhận thức và giảm tử vong trên đường caotốc công cộng Nhận thức của công dân về chính sách công, luật và quy định,kết hợp với các chiến dịch đào tạo, an toàn và hợp tác hiệu quả và kịp thời, lànhững yếu tố quan trọng khác có thể giúp giảm tử vong đường bộ” [45]
BenjamínColucci, IraidaMeléndez (2014) cho rằng: “Các yếu tố gópphần chính gây ra tai nạn trên đường cao tốc ở Puerto Rico rất có thể là donồng độ cồn trong máu ở người lái xe và người đi bộ Các yếu tố góp phần
Trang 19khác liên quan đến việc sử dụng điện thoại di động và nhắn tin trong khi lái xe,
đi đường làm giảm nhận thức và khả năng phản ứng của người lái xe” [47]
Thực tế cho thấy “Giao thông đường bộ ngày nay vốn đã nguyhiểm Trên thực tế, trái ngược với các phương thức vận tải khác như đườngsắt và đường hàng không, hệ thống giao thông đường bộ chưa được thiết kếđảm bảo an toàn tốt nhất” [45] Do đó, trong giao thông đường bộ, con ngườitạo ra sự khác biệt giữa nguy hiểm và an toàn “Con người gần như vô tình dễmắc lỗi và vi phạm, hành vi của con người là mối quan tâm đặc biệt đối vớihầu hết các chuyên gia an toàn đường bộ Đó là nơi mà các chiến dịch an toànđường bộ cần chú trọng Cùng với các biện pháp khác “hành vi” (ví dụ, thựcthi pháp luật, GD, đào tạo, và thậm chí cả cơ sở hạ tầng cho một số phạm vi)các chiến dịch an toàn đường bộ được sử dụng như một phương tiện ảnhhưởng đến công chúng để hành xử một cách an toàn hơn trong giao thông”[ 48 “Cần thông báo cho công chúng về quy tắc giao thông, nâng cao nhậnthức vấn đề hoặc hướng dẫn mọi người tránh những hành vi nguy hiểm và ápdụng những biện pháp an toàn thay thế” [48]
Ở Việt Nam, theo Báo cáo số Số: 474/BC-CP ngày 19 tháng 10 năm
2017 của Chính Phủ về Kết quả thực hiện nhiệm vụ bảo đảo trật tự, ATGT năm 2017, phương hướng, nhiệm vụ bảo đảm Trật tự ATGT năm 2018 thì ‘
Tai nạn giao thông Đường bộ cả nước: “Xảy ra 19.807 vụ, làm chết 8.034
người, bị thương 16.913 người So với cùng kỳ năm 2016, giảm 1.403 vụ (6,61%), giảm 355 người chết (4,23%), giảm 2.349 người bị thương (12,19%) Trong đó có 67 vụ đặc biệt nghiêm trọng, làm chết 211 người, bị thương 202 người Phân tích về giới tính, độ tuổi, thời gian, địa điểm, nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông, cho thấy: Về giới tính: 84,22% do nam; 15,78% do nữ; về độ tuổi: 6,81% dưới 18 tuổi; 33,1% từ 18 đến dưới 27 tuổi; 48,36% từ 27 đến 55 tuổi và 11,73% trên 55 tuổi; về thời gian: 10,81% từ 0h đến 06h; 19,13% sau 06h đến 12h; 32,13% từ sau 12h đến 18h và 37,93 từ
Trang 20sau 18h đến 24h; về địa điểm: 0,85% xảy ra trên cao tốc; 37,58% quốc lộ; 13,17% tỉnh lộ; 33,7% nội thị; 12,05% nông thôn; 2,63% nơi khác; về nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông: có 24,05% do người điều khiển phương tiện vi phạm làn đường, phần đường; 9,55% do vi phạm tốc độ xe chạy; 9,37% do chuyển hướng không chú ý; 6,47% do không nhường đường; 6,26% do vượt xe sai quy định; 6,13% do vi phạm quy trình thao tác lái xe; 2,17% do tránh xe; 2,04% do sử dụng rượu bia; 33,96% do các vi phạm như: dừng đỗ sai quy định, đi sai biển báo hiệu đường bộ, không có Giấy phép lái xe, phương tiện giao thông không đảm bảo an toàn kỹ thuật, do người đi bộ, do công trình giao thông và các nguyên nhân khác” [dẫn theo
29]
Như vậy, một số nghiên cứu có liên quan đến vấn đề ATGT nêu trên đã
chỉ ra số lượng người gặp TNGT và đưa ra lời cảnh báo Các biện pháp đảmbảo an toàn cho người tham gia giao thông tập trung vào giáo dục, nâng caonhận thức và hành vi của người tham gia giao thông
1.1.2 Những nghiên cứu có liên quan đến giáo dục an toàn giao thông
Tai nạn giao thông nói chung, tình trạng vi phạm Luật GTĐB đang trởthành một vấn đề nhức nhối, là nỗi lo lắng của toàn xã hội Một bộ phậnngười dân trong cộng đồng chưa có ý thức tốt trong việc chấp hành Luật giaothông, điều này liên quan tới thái độ, nhận thức và cả hành vi, thói quen, của chủ thể khi tham gia giao thông Giáo dục ATGT cho người dân đang trởthành vấn đề đáng được quan tâm trong các vấn đề nóng bỏng của đời sống xãhội hiện nay
Thời gian qua có nhiều chủ trương, nghị quyết, chính sách, kế hoạchcủa Đảng và Nhà nước về giáo dục ATGT đã được ban hành, chúng ta có thể
đề cập đến một số văn bản như: Nghị quyết 32/2007/NQ-CP về “một số giảipháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông” [13;
Chỉ thị số 52/2007/CT-BGDĐT về “tăng cường công tác giáo dục về ATGT
Trang 21bằng cách đưa giáo dục Luật Giao thông về an toàn giao thông vào giảng dạy chính trong nhà trường” [5]; Luật Giao thông đường bộ và các quy định
mới nhất về xử phạt vi phạm an toàn giao thông [35]
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến giáo dục ATGT, có nhiềunhà khoa học đã tiếp cận vấn đề này theo nhiều cách, với nhiều cấp độ khác
nhau Có thể kể đến các công trình nghiên cứu như: Nguyễn Đình Đuân, “Vai trò của lực lượng cảnh sát giao thông trong phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay”, Luận
văn thạc sỹ Quản lý Hành chính công, năm 2010 [22]; Đặng Quang Tâm
“Phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông qua thực tiễn tỉnh Quảng Bình” [37]; Trần Sơn Hà, “Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ Việt Nam” [23]; Nguyễn Thị Bích Phượng, “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ của lực lượng Cảnh sát giao thông thành phố Hà Nội” [34]
Qua tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài có thểrút ra một số nhận xét sau:
- Bảo đảm ATGT là vấn đề nhận thực sự quan tâm đặc biệt Chỉnh phủ,các cơ quan, ban, ngành và các nhà nghiên cứu Các công trình nghiên cứu đã có
về vấn đề này chủ yếu khái quát thực trạng, phát hiện nguyên nhân và đề xuấtcác biện pháp đảm bao ATGT
- Giáo dục ATGT góp phần thực hiện hiệu quả các chủ trương, chínhsách đảm bảo an toàn giao thông có ý nghĩa hết sức quan trọng Người dân tạicác địa phương là đối tượng cần được quan tâm nhiều hơn trong hoạt độnggiáo dục nói chung và hoạt động giáo dục cộng đồng nói riêng Tuy nhiên,còn quá ít số lượng công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này cả ởphương diện lí luận, thực trạng và biện pháp Bởi vậy chúng tôi chọn nghiên
cứu đề tài “Giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm Học tập cộng đồng trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh hiện
Trang 221.2 An toàn và an toàn giao thông trong bối cảnh hiện nay
1.2.1 An toàn và an toàn giao thông
Theo Từ điển Tiếng Việt: “An toàn là đảm bảo tốt, không gây thiệt hại
dù lớn hay nhỏ về vật chất và tính mạng con người” [33].
Theo tác giả Đỗ Đình Hòa (Học viện Cảnh sát nhân dân): “An toàn giao thông là sự việc đảm bảo không có những việc xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con người Khi các đối tượng tham gia giao thông, đang hoạt động trên địa bàn giao thông công cộng tuân thủ các quy tắc an toàn giao thông, không có sự cố gây thiệt hại về người và tài sản cho xã hội”.[24, tr12]
Đây là một khái niệm có tính chất khái quát cao và có ý nghĩa khoa học
vì an toàn giao thông luôn gắn với hành vi của con người trong lĩnh vực giaothông song không nhất thiết phải có phương tiện giao thông ( Đi bộ trên vỉahè) Quan niệm như vậy sẽ khái quát hơn so với việc coi an toàn giao thông là
“bảo đảm an toàn khi đi trên các phương tiện giao thông” như một số tác giảkhác
An toàn giao thông phải luôn gắn liền với mọi người không kể ở đâu,lúc nào khi tham gia giao thông An toàn giao thông gồm: An toàn chủ động,
an toàn bị động và an toàn môi trường An toàn chủ động được đảm bảo bởicác tính chất và chất lượng của kết cấu giúp cho lái xe tránh được tai nạn giaothông An toàn chủ động bị chi phối bởi tính chất phanh, tính ổn định, tínhđiều khiển, tính cơ động, tín hiệu cảnh báo âm thanh và ánh sáng, hiệu quảchiếu sáng của đường và đèn….An toàn bị động được đảm bảo bởi các tínhchất và chất lượng của kết cấu nhằm giảm thiểu chấn thương của lái xe khixảy ra tai nạn giao thông Kết cấu của xe cũng là yếu tố quyết định nên tính
an toàn bị động An toàn môi trường cho phép giảm tác động có hại đếnnhững người tham gia giao thông và môi trường xung quanh như là bụi bẩn,tiếng ồn, độc hại của khí xả ra …
Trang 23Qua những phân tích nêu trên chúng tôi cho rằng: An toàn giao thông
là các hành vi văn hóa khi tham gia giao thông bao gồm việc chấp hành luật giao thông, có ý thức khi tham gia giao thông An toàn giao thông còn là sự
an toàn đối với người tham gia lưu thông trên các phương tiện đường bộ, hàng hải, hàng không, là cư xử phù hợp khi lưu thông trên các phương tiện giao thông.
1.2.2 Những quy định về an toàn giao thông
Những quy định hiện hành về ATGT bao gồm:
(1) Đảm bảo tuân thủ quy tắc chung khi tham gia giao thông:
- Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, điđúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệuđường bộ
- Xe ô tô có trang bị dây an toàn thì người lái xe và người ngồi hàngghế phía trước trong xe ô tô phải thắt dây an toàn
(2) Đảm bảo các điều kiện của người lái xe khi tham gia giao thông:
Điều 58 Luật Giao thông đường bộ quy định [35]:
- Người lái xe tham gia giao thông phải đủ độ tuổi, sức khoẻ quy định
và có giấy phép lái xe phù hợp với loại xe được phép điều khiển do cơ quannhà nước có thẩm quyền cấp
- Người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờsau: Đăng ký xe; Giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe cơ giới quyđịnh tại Điều 59 của Luật này; Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật
và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới quy định tại Điều 55 của Luật này;Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới
(3) Khi tham gia giao thông cần tránh những hành vi sau:
Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 nghiêm cấm các hành visau đây [35]:
Trang 24- Phá hoại đường, cầu, hầm, bến phà đường bộ, đèn tín hiệu, cọc tiêu,biển báo hiệu, gương cầu, dải phân cách, hệ thống thoát nước và các côngtrình, thiết bị khác thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.
- Đào, khoan, xẻ đường trái phép; đặt, để chướng ngại vật trái phép trênđường; đặt, rải vật nhọn, đổ chất gây trơn trên đường; để trái phép vật liệu,phế thải, thải rác ra đường; mở đường, đấu nối trái phép vào đường chính;lấn, chiếm hoặc sử dụng trái phép đất của đường bộ, hành lang an toàn đườngbộ; tự ý tháo mở nắp cống, tháo dỡ, di chuyển trái phép hoặc làm sai lệchcông trình đường bộ
- Sử dụng lòng đường, lề đường, hè phố trái phép
- Đưa xe cơ giới, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn antoàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường tham gia giao thông đường bộ
- Thay đổi tổng thành, linh kiện, phụ kiện xe cơ giới để tạm thời đạttiêu chuẩn kỹ thuật của xe khi đi kiểm định
- Đua xe, cổ vũ đua xe, tổ chức đua xe trái phép, lạng lách, đánh võng
- Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất
- Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định
- Giao xe cơ giới, xe máy chuyên dùng cho người không đủ điều kiện
để điều khiển xe tham gia giao thông đường bộ
- Điều khiển xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định, giành đường, vượtẩu
Trang 25- Bấm còi, rú ga liên tục; bấm còi trong thời gian từ 22 giờ đến 5 giờ,bấm còi hơi, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị và khu đông dân cư, trừ các xeđược quyền ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định của Luật này.
- Lắp đặt, sử dụng còi, đèn không đúng thiết kế của nhà sản xuất đốivới từng loại xe cơ giới; sử dụng thiết bị âm thanh gây mất trật tự an toàn giaothông, trật tự công cộng
- Vận chuyển hàng cấm lưu thông, vận chuyển trái phép hoặc khôngthực hiện đầy đủ các quy định về vận chuyển hàng nguy hiểm, động vậthoang dã
- Đe dọa, xúc phạm, tranh giành, lôi kéo hành khách; bắt ép hành khách
sử dụng dịch vụ ngoài ý muốn; chuyển tải, xuống khách hoặc các hành vikhác nhằm trốn tránh phát hiện xe chở quá tải, quá số người quy định
- Kinh doanh vận tải bằng xe ô tô khi không đáp ứng đủ điều kiện kinhdoanh theo quy định
- Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm
- Khi có điều kiện mà cố ý không cứu giúp người bị tai nạn giao thông
- Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị nạn và ngườigây tai nạn
- Lợi dụng việc xảy ra tai nạn giao thông để hành hung, đe dọa, xúigiục, gây sức ép, làm mất trật tự, cản trở việc xử lý tai nạn giao thông
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp của bản thân hoặc ngườikhác để vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ
- Sản xuất, sử dụng trái phép hoặc mua, bán biển số xe cơ giới, xe máychuyên dùng
- Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguyhiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ
Trang 261.3 Cộng đồng, giáo dục cộng đồng và Trung tâm Học tập cộng đồng
1.3.1 Cộng đồng
1.3.1.1 Khái niệm
Khái niệm cộng đồng, cộng đồng xã hội đã xuất hiện từ lâu Tuy nhiên,đến thế kỉ XIX, khái niệm này mới được mô tả một cách đầy đủ cả về nộihàm và ngoại diên Hiện nay, khái niệm cộng đồng được dùng rộng rãi ở mọilĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá và trong đời sống xã hội (cộngđồng quốc tế, cộng đồng quốc gia, cộng đồng dân tộc, cộng đồng người Việtđịnh cư ở nước ngoài, cộng đồng những người nói tiếng Pháp, cộng đồng làng
xã, cộng đồng dân cư, cộng đồng khu vực…)
“Cộng đồng là một cơ thể sống/cơ quan/tổ chức nơi sinh sống và tươngtác giữa cái này với cái khác” [33] Trong khái niệm này, điều đáng chú ý,được nhấn mạnh: cộng đồng là “cơ thể sống”, có sự “tương tác” của các thànhviên
Theo tác giả Nguyễn Kim Liên (2010) “Cộng đồng những người dân cùngsống chung trong một thôn, xóm, làng, xã, một quốc gia có thể là toàn thế giới, tức
họ cùng chia sẻ với nhau mảnh đất sinh sống gọi là cộng đồng” [28]
Theo cách hiểu truyền thống của người Việt Nam, thì cộng đồng luôngắn liền với quê hương bản quán, làng, xã Trong đó, các thành viên gắn bóchặt chẽ với nhau bởi tình làng, nghĩa xóm, bởi các truyền thống văn hoá dântộc, phong tục tập quán, lễ nghi, bởi các luật lệ, hương ước làng xã Cộngđồng làng, xã đã tồn tại bền vững qua nhiều giai đoạn lịch sử và có ý nghĩasâu sắc đối với từng cá nhân, từng thành viên của cộng đồng
Ngày nay, do quá trình đô thị hóa, bên cạnh cộng đồng làng, xã đã hìnhthành cộng đồng phường, thị trấn Mặc dù sự gắn kết không chặt chẽ như cộngđồng làng, xã nhưng phường, thị trấn cũng đã bắt đầu phát huy tác dụng củamình trong việc thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, khoahọc, công nghệ…
Trang 27Cộng đồng còn được hiểu theo nghĩa thông thường là những người có
đặc điểm hoặc mối quan tâm, lợi ích chung Bao gồm:Cộng đồng địa lý; Cộng đồng văn hóa; Cộng đồng tổ chức; Cộng đồng chức năng.
Dấu hiệu/đặc điểm để phân biệt CĐ này với CĐ khác có thể là bất cứcái gì thuộc về con người và xã hội loài người, màu da, đức tin, tôn giáo,lứa tuổi, ngôn ngữ, nhu cầu, sở thích nghề nghiệp… nhưng cũng có thể là
vị trí địa lý của khu vực (địa vực), nơi sinh sống của nhóm người đó nhưlàng, xã, quận/huyện, quốc gia, châu lục… Những dấu hiệu này chính lànhững ranh giới để phân chia CĐ
Đối với đề tài này, cộng đồng là một nhóm xã hội của các cơ thể sống chung trong cùng một môi trường thường là có cùng các mối quan tâm chung; trong đó kế hoạch, niềm tin, các mối ưu tiên, nhu cầu, nguy cơ và một
số điều kiện khác có thể có và cùng ảnh hưởng đến đặc trưng và sự thống nhất của các thành viên trong cộng đồng.
1.3.1.2 Phân loại
Tùy theo mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại CĐ theo nhữngdấu hiệu khác nhau Trong một số tài liệu, người ta chia CĐ theo các nhómsau [28]:
- Nhóm CĐ theo địa vực: Thôn xóm, làng bản, khu dân cư, phường xã,
quận huyện, thị xã, thành phố, khu vực, châu thổ cho đến cả quả địa cầu củachúng ta Ở nước ta, ở quy mô tỉnh, thành phố thì chúng ta có 63 tỉnh, thànhphố, theo quy mô xã phường thì chúng ta có trên chục ngàn xã, phường, ở quy
mô thôn xóm, khu dân cư (nhỏ hơn xã, phường) thì chúng ta có hàng trămngàn CĐ
- Nhóm CĐ theo nền văn hóa: Nhóm này bao gồm cộng đồng theo hệ tư
tưởng, văn hóa, tiểu văn hóa, đa sắc tộc, dân tộc thiểu số… Nhóm này cũng có
Trang 28thể bao gồm cả cộng đồng theo nhu cầu và bản sắc như CĐ người khuyết tật,cộng đồng người cao tuổi.
- Nhóm CĐ theo tổ chức: Được phân loại từ các tổ chức không chính
thức như tổ chức gia đình, dòng tộc, hội hè cho đến những tổ chức chínhthức chặt chẽ hơn như các tổ chức đoàn thể, các tổ chức chính trị, tổ chứchành chính nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức hiệp hội nghề nghiệp, xãhội… từ phạm vi nhỏ ở một đơn vị hoặc trong phạm vi quốc gia cho đếnphạm vi quốc tế
Cũng có thể phân loại CĐ theo đặc điểm khác biệt về kinh tế - xã hội:
Như vậy, CĐ là một đơn vị hành chính, kinh tế - xã hội có tính độc lậptương đối trong một quốc gia Trong mỗi CĐ có các thành viên CĐ là các cánhân hoặc gia đình đang sinh sống trên địa bàn, có những tổ chức hành chínhnhà nước, tổ chức xã hội mà các thành viên CĐ tham gia sinh hoạt trên địabàn dân cư, các tổ chức kinh tế, dịch vụ mà thành viên CĐ tham gia làm việc(cũng có thể thành viên không làm việc ở đó)
Ở Việt Nam ngày nay, các tổ chức chính trị - xã hội đó có thể là các tổchức trong khối Mặt trận tổ quốc xã, phường: Đoàn thanh niên Cộng sản HồChí Minh phường/ xã; Hội/ Chi hội Phụ nữ; Hội/ chi hội người cao tuổi; Hội/
Trang 29chi hội Cựu chiến binh; Hội nông dân (đối với địa bàn nông thôn); tổ chức tôngiáo (nếu có)… Tổ chức chính quyền: Ủy ban nhân dân; Hội đồng nhân dân;một số tổ chức kinh tế địa phương: Hợp tác xã nông nghiệp; Hợp tác xã thủcông, Doanh nghiệp… Các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn có Trạm Y tế xã/phường; bệnh viện, trường học; tổ chức Đảng, chi bộ Đảng.
1.3.2 Giáo dục và giáo dục cộng đồng
1.3.2.1 Giáo dục
Giáo dục theo từ tiếng Hán thì giáo nghĩa là dạy, là rèn luyện về đườngtinh thần nhằm phát triển tri thức và huấn luyện tình cảm đạo đức, dục lànuôi, là săn sóc về mặt thể chất Vậy giáo dục là một sự rèn luyện con người
về cả ba phương diện trị tuệ, tình cảm và thể chất Theo phương Tây thìeducation vốn xuất phát từ chữ educare của tiếng La tinh Động từ educare làdắt dẫn, hướng dẫn để làm phát khởi ra những khả năng tiền tàng Sự dắt dẫnnày nhằm đưa con người từ không biết đến biết, từ xấu đến tốt, từ thấp kémđến cao thượng, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh và các cộng sự “Giáo dục là quátrình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằngphương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơquan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ” [32; tr 22]
Theo tác giả Nguyễn Lân “Giáo dục là một quá trình có ý thức có mụcđích, có kế hoạch nhằm truyền cho lớp mới những kinh nghiệm đấu tranh vàsản xuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, để họ có thể có đầy
đủ khả năng tham gia vào đời sống và đời sống xã hội” [27]
Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy “Giáo dục là sự hình thành có mục đích
và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thànhthế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mĩ cho con người; với nghĩarộng nhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu
tố khác tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng
Trang 30yêu cầu của kinh tế xã hội” [26].
Dù xét trên các góc độ, phạm vi khác nhau, chúng ta có thể nhận thấy:
Giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích và kế hoạch, thông qua các hoạt động và quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội loài người.
Như vậy: Giáo dục luôn là một quá trình có mục đích, có kế hoạch, làquá trình tác động qua lại giữa nhà giáo dục và người được giáo dục
Thông qua quá trình tương tác giữa người giáo dục và người được giáodục để hình thành nhân cách toàn vẹn (hình thành và phát triển các mặt đạođức, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất, lao động) cho người được giáo dục
Giáo dục không bó hẹp ở phạm vi là người được giáo dục đang trong tuổihọc (dưới 25 tuổi) và giáo dục không chỉ diễn ra trong nhà trường Ngày nay,chúng ta hiểu giáo dục là cho tất cả mọi người, được thực hiện ở bất cứ khônggian và thời gian nào thích hợp với từng loại đối tượng bằng các phương tiệnkhác nhau, kể cả các phương tiện truyền thông đại chúng (truyền hình, truyềnthanh, video, trực tuyến qua inernet,…) với các hình thức đa dạng, phong phú.Ngoài ra quá trình giáo dục không ràng buộc về độ tuổi giữa người giáo dục vớingười được giáo dục
1.3.2.2 Giáo dục cộng đồng
Giáo dục cộng đồng là phương thức giáo dục thường xuyên do ngườidân trong cộng đồng dân cư (xã, phường, thị trấn) tự tổ chức, quản lý và thựchiện nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của những người không đủ điều kiện theohọc các trường lớp giáo dục chính quy
Cơ sở giáo dục cộng đồng là thực hiện nhiều chức năng khác nhau,trong đó quan trọng nhất là chức năng thông tin, tư vấn, truyền bá, phổ cậpnhững nội dung phù hợp và thiết thực nhất cho từng loại đối tượng người học,với những điều kiện, hoàn cảnh của từng địa phương, từng cộng đồng dân cư
Trang 31Giáo dục cộng đồng mang tính tự nguyện cao, nhưng để phát triển đúnghướng cần thiết phải có sự quan tâm, giúp đỡ thường xuyên của các cấp uỷĐảng, chính quyền, ban ngành, đoàn thể địa phương, đồng thời phải có sự liênkết và phối hợp chặt chẽ với các cơ sở giáo dục chính quy tại địa bàn đó.
1.3.3 Trung tâm học tập cộng đồng
1.3.3.1 Khái niệm
Hiện nay, có nhiều tổ chức đưa ra các cách định nghĩa về Trung tâmHTCĐ Theo UNESCO, “Trung tâm HTCĐ là cơ sở giáo dục không chính quycủa xã, phường, do cộng đồng thành lập và quản lý nhằm nâng cao chất lượngcuộc sống của người dân và phát triển cộng đồng thông qua việc tạo cơ hội họctập suốt đời của người dân trong cộng đồng Trung tâm HTCĐ là thiết chế giáodục không chính quy của cộng đồng, do cộng đồng và vì cộng đồng” [43]
Tác giả Tô Bá Trượng và Thái Thị Xuân Đào cho rằng, “Trung tâmHTCĐ là một mô hình giáo dục mới có khả năng tạo cơ hội học tập suốt đờicho mọi người dân trong cộng đồng và phát huy sự làm chủ và tham gia tíchcực của cộng đồng đối với giáo dục; là cơ chế có hiệu quả trong việc thựchiện xã hội hoá giáo dục, đặc biệt trong lĩnh vực xoá mù chữ và giáo dụcthường xuyên” [41]
Theo tác giả Nguyễn Văn Nghĩa: “Trung tâm HTCĐ là một mô hìnhmới hướng tới xã hội học tập nhằm thực hiện các mục tiêu: tạo điều kiệnthuận lợi cho mọi người trong cộng đồng được học tập bình đẳng, đượctrang bị kiến thức nhiều mặt, góp phần nâng cao mặt bằng dân trí, khuyếnhọc, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, lành mạnh hoá các quan
hệ xã hội cộng đồng” [31]
Theo Luật Giáo dục, Trung tâm HTCĐ là cơ sở giáo dục được thành lậptại cấp xã là hình thức giáo dục không chính quy Trung tâm HTCĐ được thànhlập với mục đích nhằm cung ứng cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người cónhu cầu trong khu vực đó để khai thác và phát triển nguồn nhân lực tại chỗ, cải
Trang 32thiện chất lượng đời sống và phát triển cộng đồng, đồng thời giúp địa phươngphát triển giáo dục thường xuyên một cách chủ động để xây dựng xã hội học tập,góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội tại địa phương Môhình tổ chức và hoạt động của Trung tâm HTCĐ được thực thi theo Quyết định
số 09/2008/QĐ - BGDĐT ngày 24/3/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT [7]
Từ những phân tích trong các khái niệm trên, Trung tâm HTCĐ trong
luận văn này được hiểu: Trung tâm HTCĐ là cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, hoạt động dưới sự hỗ trợ, giám sát của Nhà nước; đồng thời có sự tham gia, đóng góp của cộng đồng dân cư trong địa bàn Trung tâm học tập cộng đồng hoạt động theo cơ chế phối hợp giữa Nhà nước và nhân dân cùng làm, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
và phát triển cộng đồng, tạo cơ hội học tập suốt đời của người dân trong cộng đồng.
1.3.3.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ
- Vị trí của Trung tâm HTCĐ: Là cơ sở giáo dục cộng đồng nằm trong
hệ thống giáo dục quốc dân, là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng cấp
xã, có sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nước; đồng thời phải phát huy mạnh mẽ “xãhội hóa giáo dục” của dân cư trong cộng đồng để xây dựng và phát triển cáctrung tâm theo cơ chế chính sách và pháp luật của Nhà nước và nhân dâncùng làm; Trung tâm HTCĐ có tư cách pháp nhân tức là có con dấu và tài khoảnriêng
- Chức năng của Trung tâm HTCĐ: Là nơi tạo cơ hội thuận lợi và tổ
chức cho mọi thành viên của cộng đồng, ở mọi lứa tuổi khác nhau được thamgia học tập thường xuyên, học tập suốt đời, học không chỉ vì bằng cấp mà chủyếu để nâng cao chất lượng cuộc sống, chăm sóc gia đình, dân trí, khuyến họcgóp phần tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm
- Nhiệm vụ của Trung tâm HTCĐ [7]
+ Tổ chức và thực hiện có hiệu quả các công tác giáo dục: từ xóa mù
Trang 33chữ, đến tiếp tục giáo dục nâng cao trình độ kiến thức, hiểu biết trên tất cả cáclĩnh vực để góp phần cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống của người dântrong cộng đồng; gắn chặt giữa giáo dục vào thực tiễn cuộc sống và với cáccông việc như khuyến nông, khuyến ngư và các chương trình và dự án củacộng đồng dân cư.
+ Tham gia tổ chức, quản lý nhiều hoạt động xã hội và giao lưu chocon em trong cộng đồng dân cư như: giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể dục thểthao, đọc sách báo, tư vấn khuyến học, là cơ sở quan trọng phát triển nâng caodân trí, góp phần phòng chống tệ nạn xã hội
+ Tiếp theo Trung tâm HTCĐ điều tra nhu cầu học tập của các thànhviên trong cộng đồng, trên cơ sở đó xây dựng các nội dung, hình thức vàphương pháp giáo dục phù hợp với điều kiện học tâp/ sinh hoạt của từngnhóm đối tượng trong cộng đồng dân cư, chẳng hạn giáo dục an toàn giaothông cho người dân tại Trung tâm
+ Bên cạnh đó, Trung tâm HTCĐ còn quản lý tài chính, cơ sở vật chất
và thiết bị của TTHTCĐ theo các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
- Nguồn lực của Trung tâm HTCĐ: Thực hiện nhiều nhiệm vụ, chức
năng khác nhau, do đó để hình thành, tồn tại và phát triển bền vững thì cần cócác nguồn lực tốt và bền vững Các nguồn lực nêu ra ở đây là các nguồn nhânlực con người, vật chất tài chính và tin lực
Nguồn lực cho hoạt động của Trung tâm HTCĐ cũng chủ yếu khai thác
từ chính trong cộng đồng dân cư, đây chính là nhân lực, vật lực, tài lực củacác thành viên trong cộng đồng, nguồn tài chính sẵn và tận dụng cơ sở vậtchất- kỹ thuật có của các cơ quan, đoàn thể địa phương, các doanh nghiệp sảnxuất, kinh doanh trên địa bàn và sự đóng góp của các cá nhân và tổ chức hảotâm…
- Những nét đặc trưng về tổ chức hoạt động của các Trung tâm HTCĐ:
Tính đa dạng, linh hoạt; tính mềm dẻo và tính thiết thực, khả thi
Trang 341.4 Giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay
1.4.1 Khái niệm giáo dục an toàn giao thông
Giáo dục ATGT thực chất là một nội dung của giáo dục pháp luật,nhằm truyền truyền, trang bị cho mọi người những kiến thức pháp luật vềgiao thông Trên cơ sở đó, hình thành ý thức tuân thủ, chấp hành luật khitham gia giao thông, tránh những rủi ro không mong muốn nhằm đảm bảotính mạng và tài sản của mỗi cá nhân
Có nhiều khái niệm về giáo dục ATGT, trong luận văn này tác giả đề
cập đến khái niệm cụ thể như sau: Giáo dục an toàn giao thông là quá trình truyền đạt những kiến thức và kỹ năng cần thiết về giao thông để mọi người hiểu, tuân thủ và có ý thức chấp hành khi tham gia giao thông
1.4.2 Tầm quan trọng của việc giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay
TNGT và những bức xúc về giao thông luôn là vấn đề có sức ép nặng
nề lên xã hội Thống kê cho thấy hơn 90% số vụ tai nạn có nguyên nhân là dongười điều khiển phương tiện vi phạm luật giao thông Trong đó có không ít
vụ tai nạn để lại những hậu quả vô cùng thương tâm khi người bị nạn thiếuhiểu biết về ATGT đã không lường trước được sự việc
Trong rất nhiều nguyên nhân dẫn đến TNGT, thì phần lớn xuất phát từ
ý thức tham gia giao thông của chính người liên quan đến TNGT Vì thế, việctập trung đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền giáo dục ATGT là vô cùngcần thiết và hữu ích, giúp người dân nâng cao kiến thức về Luật GTĐB, phánđoán và lường trước được tình huống giao thông để từ đó đưa ra những xử lýkịp thời Đồng thời chỉ rõ cho mỗi người thấy được tầm quan trọng của việctuân thủ các quy tắc GTĐB; dự đoán và phòng tránh nguy hiểm, cách điềukhiển phương tiện giao thông đảm bảo an toàn Song song với đó, mỗi ngườidân còn cần phải tăng cường ý thức trách nhiệm trong công tác tuyên truyền,
Trang 35giáo dục và ý thức tự giác chấp hành, nêu gương việc chấp hành Luật GTĐB.
Người dân tại các địa phương là lực lượng tham gia giao thông mộtcách thường xuyên, mức độ nhận thức của một bộ phận không nhỏ người dâncòn chưa đầy đủ, thái độ và hành vi tham gia giao thông chưa thực sự phù hợpvới những quy định pháp luật đã được đưa ra; họ là đối tượng dễ dẫn đến viphạm ATGT cũng như TNGT Chính vì vậy, giáo dục ATGT cho người dânbằng những nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức phù hợp là vấn đề cótầm quan trọng đặc biệt trong bối cảnh hiện nay – thời kì đẩy mạnh quá trìnhxây dựng nông thôn mới và xây dựng văn minh đô thị tại các địa phương
1.4.3 Mục tiêu giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay
Hoạt động giáo dục ATGT cho người dân tại Trung tâm HTCĐ nhằmđạt được những mục tiêu dưới đây:
- Giúp người dân có những hiểu biết về ATGT
- Giúp người dân chiếm lĩnh được hệ thống kiến thức của Luật GTĐB
- Giúp người dân hiểu được nghĩa vụ và quyền lợi của công dân khitham gia GTĐB đảm bảo ATGT
- Giúp người dân có thái độ đúng đắn khi tham gia GTĐB đảm bảoATGT
- Giúp cho người dân tăng cường ý thức đấu tranh đối với những biểuhiện vi phạm Luật GTĐB, gây mất ATGT
- Giúp người dân có ý thức tuyên truyền, giúp đỡ mọi người xungquanh thực hiện đúng Luật GTĐB, đảm bảo ATGT
- Giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lí nhà nước, quản lí xã hộitrong công tác giữ gìn trật tự ATGT
Bảo đảm duy trì trật tự ATGT và sự bình yên của xã hội, góp phần phát triểnnét văn hóa giao thông đặc sắc của thành phố Đà Lạt trong bối cảnh hiện nay
Trang 361.4.4 Nội dung giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay
Căn cứ vào các mục tiêu đã đặt ra, những nội dung của hoạt động giáo dụcATGT cho người dân tại Trung tâm HTCĐ bao gồm:
- Quy tắc tham gia GTĐB đảm bảo an toàn
- Hệ thống biển báo giao thông
- Điều kiện điều khiển phương tiện giao thông
- Những hành vi bị cấm khi tham gia giao thông
- Quy định xử phạt lỗi vi phạm Luật GTĐB và những quy định ATGT
- Tình huống sai phạm khi tham gia giao thông
- Kĩ năng điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông đảm bảo antoàn
- Văn hóa ứng xử khi tham gia giao thông
Các nội dung khác của Luật GTĐB và những quy định về ATGT
1.4.5 Các lực lượng tham gia giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay
Trung tâm học tập cộng đồng tập hợp được nhiều lực lượng xã hội tham
gia giáo dục cho người dân Đối với hoạt động giáo dục ATGT cho người dân
tại Trung tâm HTCĐ có thể kể đến như:
- Cán bộ Trung tâm HTCĐ: Căn cứ vào nghị quyết của HĐND,
phương hướng nhiệm vụ năm học của Sở GD&ĐT, kế hoạch hoạt động củacác ban, ngành địa phương và từ kết quả khảo sát nhu cầu thực tế của ngườidân để xây dựng kế hoạch hoạt động của TTHTCĐ theo từng tháng, quý vànăm để triển khai thực hiện nhiệm vụ
- Cảnh sát giao thông, thanh gia giao thông: Phối hợp với các TTHTCĐ
phổ biến, tuyên truyền và giáo dục cho người dân về Luật GTĐB và những quyđịnh về ATGT
Trang 37- Giáo viên trong nhà trường: Tham gia một số hoạt động tại TTHTCĐ
trên địa bàn; phổ biến, tuyên truyền, giáo dục ATGT cho các em học sinh
- Phóng viên, biên tập viên chuyên mục an toàn giao thông của các báo, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình: Xây dựng chuyên trang chuyên mục
phù hợp, đẩy mạnh công tác tuyên về Luật GTĐB và những quy định vềATGT
- Hội luật gia: Phối hợp phổ biến, tuyên truyền và giáo dục cho người dân
về Luật GTĐB và những quy định về ATGT
- Đoàn thanh niên: Tuyên truyền và giáo dục cho đoàn viên, hội viên về
Luật GTĐB và những quy định về ATGT
- Các doanh nghiệp trên địa phương: Tuyên truyền và giáo dục cho
người lao động về Luật GTĐB và những quy định về ATGT
- Chính quyền địa phương: Chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch hoạt
động đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời của nhân dân;chỉ đạo tổ chức hoạt động theo đúng quy chế hoạt động của trung tâm đã xâydựng
- Đoàn thể địa phương: Vận động người dân tham gia; phồi hợp với hệ
thống thôn, tổ dân phố tuyên truyền và giáo dục cho người dân về Luật GTĐB
và những quy định về ATGT
- Gia đình: Tuyên truyền, giáo dục cho các thành viên trong gia đình
tham gia và chấp hành tốt quy định về an toàn giao thông
- Các cơ quan văn hóa thông tin: Đẩy mạnh tuyên truyền bằng các biện
pháp tuyên truyền về Luật GTĐB và những quy định về ATGT một các phùhợp, như là dùng pano, áp phích, khẩu hiệu, xe loa
1.4.6 Người dân trong hoạt động giáo dục an toàn giao thông tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay
Trong hoạt động giáo dục ATGT tại Trung tâm HTCĐ, người dân có hai tưcách:
Trang 38- Người dân là đối tượng giáo dục: Người dân tiếp nhận sự tác động có
định hướng, kế hoạch, có phương pháp, có tổ chức, có hệ thống từ các lựclượng giáo dục nhằm hình thành được ý thức đúng đắn về các vấn đề có liênquan đến Luật GTĐB và những quy định về, phát triển thái độ, tình cảm đúngđắn và những hành vi, thói quen tích cực trong quá trình tham gia giao thông,đảm bảo an toàn cho bản thân và cho người khác
- Người dân là chủ thể của hoạt động tự giáo dục: Mỗi người dân tiếp
nhận tác động giáo dục một cách có ý thức, có khả năng tự vận động, biếnnhững tác động từ bên ngoài thành những tác động bên trong của bản thân (coi
đó là lẽ phải cần thực hiện để mang lại những điều tốt đẹp cho xã hội, chonhững người xung quanh, cho bản thân), tự giác thực hiện những yêu cầu đó.Hai tư cách đối tượng giáo dục và chủ thể tự giáo dục thống nhất với nhau,tác động qua lại với nhau, trong đó, tư cách đối tượng giáo dục là điều kiện, tưcách chủ thể giáo dục là cơ bản
1.4.7 Phương pháp giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay
Phương pháp giáo dục ATGT cho người dân tại Trung tâm HTCĐ là cáchthức tác động của các lực lượng giáo dục đến người dân để hình thành cho họnhững phẩm chất cần thiết Có nhiều phương pháp giáo dục ATGT cho ngườidân tại Trung tâm HTCĐ khác nhau nhưng có thể phân thành ba nhóm chính:
- Nhóm phương pháp thuyết phục: Là nhóm các phương pháp tác động
vào mặt nhận thức và tình cảm của người dân nhằm khai sáng cho họ ý thức, thái
độ tốt đẹp có liên quan đến các chuẩn mực của Luật GTĐB Nhóm phương phápnày bao gồm các phương pháp như: khuyên giải, tranh luận, nêu gương
- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động: Đây là nhóm phương pháp đưa
người dân vào hoạt động thực tiễn để tập dượt, rèn luyện tạo nên các hành vi,thói quen tuân thủ Luật GTĐB Nhóm phương pháp này bao gồm các phươngpháp như: tập luyện, ôn tập, rèn luyện
Trang 39- Nhóm phương pháp kích thích hành vi: Đây là nhóm phương pháp tác
động vào mặt tình cảm của người dân nhằm tạo ra những phấn chấn, thúc đẩytính tích cực hoạt động, đồng thời giúp cho những người có khuyết điểm nhận
ra và khắc phục những sai lầm Nhóm phương pháp này gồm các phươngpháp như khen thưởng, trách phạt, thi đua
Phương pháp giáo dục ATGT cho người dân rất đa dạng Các cán bộtham gia giáo dục ATGT cho người dân cần vận dụng linh hoạt các phươngpháp đó cho phù hợp với mục đích, với đối tượng giáo dục, với tình huống cụthể
1.4.8 Hình thức giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay
Hoạt động giáo dục ATGT cho người dân tại Trung tâm HTCĐ đượctiến hành với nhiều hình thức khác nhau, trong đó, có thể đến đến một số hìnhthức chủ yếu được sử dụng trong hoạt động giáo dục ATGT cho người dân tạicác Trung tâm dưới đây:
- Phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông trên các phương tiện thông tinđại chúng
- Giáo dục ATGT cho người dân thông qua việc xây dựng các tủ sáchpháp luật về ATGT
- Giáo dục ATGT cho người dân thông qua các phương tiện trực quan
- Giáo dục ATGT cho người dân thông qua việc tổ chức các lớp họcchuyên đề theo nội dung của Luật GTĐB
- Giáo dục ATGT cho người dân thông qua xử lý vi phạm về trật tựATGT
- Giáo dục ATGT cho người dân bằng tuyên truyền miệng
Trang 401.4.9 Đánh giá kết quả giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay
Kết quả giáo dục ATGT cho người dân tại Trung tâm HTCĐ phản ánhmức độ nhận thức, thái độ về các nội dung của Luật GTĐB, những quy địnhcủa ATGT; hành vi và thói quen hành vi tích cực trong quá trình tham giagiao thông đảm bảo sự an toàn cho bản thân và những người xung quanh
Việc đánh giá kết quả giáo dục ATGT cho người dân tại Trung tâmHTCĐ được thực hiện bằng cách xếp loại theo các mức độ được xác định mộtcách cụ thể
Trong quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục ATGTcho người dân tại Trung tâm HTCĐ, cần kết hợp các phương pháp và hìnhthức kiểm tra, đánh giá; đồng thời, đảm bảo được các nguyên tắc cần thiết đốivới kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục an toàn giao thông cho người dân tại Trung tâm học tập cộng đồng trong bối cảnh hiện nay
Hoạt động giáo dục ATGT cho người dân tại các Trung tâm HTCĐchịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau, trong
đó, chúng ta có thể đề cập đến một số yếu tố cơ bản dưới đây:
- Mục tiêu giáo dục ATGT cho người dân: Mục tiêu giáo dục ATGT cho
người dân tại các Trung tâm HTCĐ là thành tố mở đầu, chi phối đến tất cả cácthành tố khác Do đó, mục tiêu giáo dục ATGT cho người dân tại các Trungtâm HTCĐ cần phải được xác định một cách đúng đắn, đầy đủ, phù hợp vớiđặc điểm của đội ngũ cán bộ đảm trách hoạt động giáo dục, đặc điểm củangười dân và thực tiễn xã hội Nếu mục tiêu giáo dục ATGT cho người dân tạicác Trung tâm HTCĐ được xác định chưa đúng đắn hoặc chưa phù hợp thìhiệu quả giáo dục mang lại sẽ thấp
- Nhiệm vụ giáo dục ATGT cho người dân: Đây là yếu tố có ảnh hưởng
không nhỏ đến quá trình tổ chức giáo dục và hiệu quả của nó, bởi lẽ, nhiệm