1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁT TRIỂN NĂNG lực GIẢI QUYẾT vấn đề và SÁNG tạo CHO học SINH THÔNG QUA dạy học PHẦN hóa học vô cơ lớp 11 THEO ĐỊNH HƯỚNG STEM

153 246 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 9,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI VŨ THỊ PHƯƠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC PHẦN HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 11 THEO

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI



VŨ THỊ PHƯƠNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC PHẦN HÓA HỌC VÔ CƠ

LỚP 11 THEO ĐỊNH HƯỚNG STEM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Hà Nội, tháng 6 năm 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI



VŨ THỊ PHƯƠNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC PHẦN HÓA HỌC VÔ CƠ

LỚP 11 THEO ĐỊNH HƯỚNG STEM

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐẶNG THỊ OANH

Hà Nội, tháng 6 năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình do chính tôi thực hiện Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan, nghiêm túc và chưa từng được tác giả khác công bố trong bất kì công trình nào.

Tác giả luận văn

Vũ Thị Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô PGS.TS Đặng Thị Oanh

là người đã tận tình hướng dẫn và luôn động viên, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Sự hiểu biết sâu sắc về khoa học cũng như kinh nghiệm của cô là tiền đề để em đạt được kết quả này Một lần nữa em chân thành cảm ơn cô và chúc cô dồi dào sức khoẻ.

Em cũng xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học, các thầy cô giáo trong khoa Hóa trường đại học Sư phạm Hà Nội, đã tận tình giảng dạy, truyền thụ kiến thức, tạo mọi điều kiện thuận lợi và chia sẻ kinh nghiệm cho em trong suốt quá trình nghiên cứu.

Em xin cảm ơn Ban Giám Hiệu trường THPT Vân Tảo, trường THPT Thường Tín – Hà Nội và các em HS đã tạo điều kiện cho tôi được thực nghiệm sư phạm tại trường.

Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ, gia đình, người thân, bạn bè đã luôn bên em, động viên, khích lệ và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này Một lần nữa xin gửi đến thầy cô, bạn bè lời cảm ơn chân thành và tốt đẹp nhất!

Hà Nội, ngày 12 tháng 6 năm 2020

Tác giả luận văn

Vũ Thị Phương

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp mới của đề tài 5

9 Cấu trúc của luận văn 5

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO VÀ MÔ HÌNH GIÁO DỤC STEM TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 7

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7

1.2 Năng lực và năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 13

1.2.1 Khái niệm năng lực và năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 13

1.2.2 Cấu trúc của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 16

1.2.3 Công cụ đánh giá năng lực 17

1.3 Dạy học theo mô hình giáo dục STEM và việc phát triển năng lực quyết vấn đề và sáng tạo 18

Trang 7

1.3.1 Khái niệm về giáo dục STEM 18

1.3.2 Đặc điểm của giáo dục STEM 20

1.3.3 Mục tiêu của giáo dục STEM 22

1.3.4 Phân loại STEM: Có nhiều cách phân loại STEM, theo [20] sự phân loại STEM được dựa trên : 23

1.3.5 Các tiêu chí của chủ đề giáo dục STEM 24

1.3.6 Vai trò của giáo dục STEM trong dạy học môn Hoá học 25

1.3.7 Giáo dục STEM và vấn đề phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh trung học phổ thông 27

1.4 Dạy học theo dự án - Phương pháp dạy học chủ yếu khi tổ chức dạy học theo mô hình giáo dục STEM 27

1.4.1 Thế nào là dạy học theo dự án 27

1.4.2 Đặc điểm của dạy học theo dự án 28

1.4.3 Quy trình tổ chức cho HS học theo dự án 29

Hình 1.4 Quy trình tổ chức cho HS học theo dự án 29

1.5 Thực trạng việc dạy học theo mô hình giáo dục STEM và phát triển năng lựcgiải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh ở một số trường trung học phổ thông ở Hà Nội 29

Tiểu kết chương 1 40

CHƯƠNG 2 DẠY HỌC HÓA HỌC PHẦN VÔ CƠ LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO MÔ HÌNH GIÁO DỤC STEM 41

2.1 Phân tích mục tiêu, cấu trúc nội dung phần Hóa học vô cơ lớp 11 Trung học phổ thông 41

2.1.1 Mục tiêu chương trình Hóa học vô cơ 11 (Chương trình cơ bản) 41

2.1.2 Đặc điểm của nội dung kiến thức môn Hoá học 11 trường phổ thông 42 2.1.3 Kế hoạch dạy học môn Hoá học ở trường Trung học phổ thông thực nghiệm 44

Trang 8

2.2 Nguyên tắc lựa chọn, xây dựng và quy trình tổ chức chủ đề dạy học

theo mô hình giáo dục STEM 44

2.3.2 Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo của học sinh trung học phổ thông trong dạy học Hóa học 11 54

2.4 Tổ chức dạy học một số chủ đề dạy học theo mô hình giáo dục STEM trong dạy học phần Hóa học vô cơ lớp 11 THPT 58

2.4.1 Chủ đề: Xác định hàn the có trong thực phẩm bằng chất chỉ thị từ rau củ 58 2.4.2 Chủ đề: Sản xuất và sử dụng phân bón sạch trong trồng trọt 75

Tiểu kết chương 2 96

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 97

3.1.Mục đích của thực nghiệm sư phạm 97

3.2.Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 97

3.3.Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 97

3.4.Tiến trình thực nghiệm 97

3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 98

3.5.1 Phương pháp xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 98

3.5.2 Kết quả và phân tích kết quả thực nghiệm 99

Tiểu kết chương 3 100

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 108

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật, sự thành công của cuộccách mạng khoa học 4.0 tạo ra cho con người nhiều cơ hội cũng như tháchthức Để giúp cho thế hệ trẻ tận dụng được các cơ hội và đứng vững trướcnhững thách thức của đời sống, vai trò của Giáo dục ngày càng được các quốcgia chú trọng và quan tâm đầu tư hơn bao giờ hết Thay đổi, cải tiến chươngtrình, thậm chí cải cách Giáo dục đã được nhiều nước tiến hành để hiện đạihóa Chương trình Giáo dục mà trọng tâm là hướng vào chuẩn bị các năng lực(NL) nhằm đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống và nguồn nhân lực trong bốicảnh cách mạng công nghiệp 4.0 Ở nước ta trong những năm qua, công cuộcđổi mới giáo dục đã được Đảng, nhà nước và toàn xã hội quan tâm Hiện nay,ngành giáo dục đang tích cực triển khai đổi mới một cách mạnh mẽ, đồng bộ,toàn diện về cả mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học Nghịquyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo

cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” [9] Theo tinh thần của Nghị quyết Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành

đổi mới toàn diện trong ngành Giáo dục và đào tạo thông qua đổi mới nộidung chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) ,đổi mới cách đánh giá trong giáo dục

Trong Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể (2018) của Bộ Giáodục và Đào tạo công bố tháng 12 năm 2018 [2] đã nhấn mạnh quan điểm:

“Chương trình giáo dục phổ thông bảo đảm phát triển phẩm chất và năng lực

người học”

Trang 10

“Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinhnhững năng lực cốt lõi sau: a) Những năng lực chung được tất cả các môn học

và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tựhọc, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; b)Những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một sốmôn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng ngôn ngữ, năng lực tính toán,năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ,năng lực thể chất” [2]

Giáo dục STEM ra đời như một cuộc cải cách giáo dục mang tính độtphá, giải quyết được nhu cầu chung của thời đại, đồng thời mang lại hiệu quảnhất định cho hoạt động giáo dục nhằm phát triển NL học sinh (HS)

Giáo dục STEM trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cầnthiết liên quan đến các lĩnh vực như Sience (khoa học), Technology (côngnghệ), Engineering (kỹ thuật) và Maths (toán học), đó đều là những kỹ năngquan trọng của thế kỉ 21

Theo [6], [20] đã nhấn mạnh : Giáo dục STEM là một cách tiếp cận liênngành trong quá trình học, trong đó các khái niệm học thuật mang tính nguyêntắc được lồng ghép với các bài học trong thế giới thực, ở đó HS áp dụng cáckiến thức trong khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học vào các bối cảnh cụthể, giúp kết nối giữa trường học, cộng đồng, nơi làm việc và các tổ chức toàncầu để từ đó phát triển các NL trong lĩnh vực STEM và khả năng cạnh tranhtrong nền kinh kế mới Giáo dục STEM sẽ thu hẹp khoảng cách giữa kiến thứchàn lâm và thực tiễn, tạo ra những con người có NL làm việc, sử dụng trí óctrong môi trường có tính sáng tạo cao của thế kỷ 21

Trong chương trình Trung học phổ thông: “Hóa học là môn khoa họcnghiên cứu về thành phần cấu trúc, tính chất và sự biến đổi các chất Hoá họckết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết và thực nghiệm, là cầu nối giữa các nghành

Trang 11

khoa học tự nhiên khác như Vật lí, Sinh học, Y dược và Địa chất học” [3] Do

đó dạy và học hóa học không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt và lĩnh hội kiếnthức khoa học mà còn phải nâng cao tính thực tế của môn học Chính vì vậy,dạy học STEM thông qua môn Hóa học giúp HS nắm vững kiến thức hóa học,hiểu được mối liên hệ giữa kiến thức hóa học với đời sống, công nghệ, môitrường và con người, giải quyết được những vấn đề thực tiễn Từ đó giúp HS

có nhận thức khoa học về thế giới vật chất, góp phần phát triển NL nhận thức

và NL hành động, hình thành nhân cách phẩm chất của người lao động mớinói chung và NL giải quyết vấn đề và sáng tạo (NL GQVĐ và ST) nói riêng

Từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học phần Hoá học vô vơ lớp 11 theo định hướng STEM”.

2 Mục đích nghiên cứu

Phát triển NL GQVĐ và ST cho HS thông qua việc nghiên cứu đề xuấtbiện pháp tổ chức dạy học một số nội dung phần Hóa học vô cơ lớp 11 theo

mô hình giáo dục STEM

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Hóa học ở trường trunghọc phổ thông (THPT)

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Phát triển NL GQVĐ và ST cho HS

+ Tổ chức dạy học theo mô hình giáo dục STEM

4 Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên tổ chức dạy học phần Hóa học vô cơ lớp 11 theo mô hình giáo dục STEM một cách hợp lí, hiệu quả phù hợp với đối tượng thì sẽ phát

triển được NL GQVĐ và ST cho HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy họcmôn Hoá học, đảm bảo mục tiêu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới

Trang 12

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và những vấn đề liên quan đến NL và pháttriển NL GQVĐ và ST; Cơ sở lý luận về tổ chức dạy học theo mô hình giáodục STEM trong dạy học môn Hóa học nói chung và dạy học phần Hóa học

vô cơ lớp 11 nói riêng

- Tìm hiểu thực trạng dạy học theo mô hình giáo dục STEM và vấn đềphát triển NL GQVĐ và ST trong dạy học hóa học nói chung và dạy học phầnHóa học vô cơ lớp 11 nói riêng tại một số trường THPT thành phố Hà Nội

- Nghiên cứu và đề xuất cấu trúc và xây dựng bộ công cụ đánh giá NLGQVĐ và STcủa HS thông qua dạy học theo mô hình giáo dục STEM

- Phân tích mục tiêu, cấu trúc và đặc điểm về nội dung phần Hóa học vô

cơ lớp 11 và lựa chọn chủ đề dạy học theo mô hình giáo dục STEM

- Đề xuất một số biện pháp tổ chức dạy học một số nội dung phần Hóahọc vô cơ lớp 11 THPT theo mô hình giáo dục STEM nhằm phát triển NLGQVĐ và ST cho HS

- Thiết kế kế hoạch bài dạy theo mô hình giáo dục STEM trong dạy họcphần Hoá học vô cơ lớp 11

- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của cácbiện pháp đã đề xuất

6 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Chương trình hóa học phần vô cơ lớp 11 THPT

- Về địa bàn: Trường THPT Vân Tảo – Thường Tín – Hà Nội và trườngTHPT Thường Tín – Hà Nội

- Về thời gian: Từ tháng 10/2019 đến tháng 5/2020

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu những cơ sở lí luận về dạy học STEM, các NL chung và NLchuyên biệt, các phương pháp dạy học hóa học để phát triển NL GQVĐ và ST

Trang 13

cho HS THPT Phân tích và hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến đề tàitrong các sách, các tiểu luận khoa học, báo chí, internet và nhiều tài liệu khác.

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra: Khảo sát thực tiễn việc triển khai dạy học theo

mô hình giáo dục STEM và vấn đề phát triển NL GQVĐ và ST thông quamôn Hóa học ở một số trường THPT tại Hà Nội

- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi và lấy ý kiến chuyên gia

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm (TNSP): Nhằm kiểm nghiệm tínhkhả thi và hiệu quả của biện pháp và những đề xuất của đề tài

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng toán thống kê để xử lí, phân tích kết quả TNSP nhằm xác định

và phân tích các tham số thống kê có liên quan để khẳng định tính hiệu quả

và khả thi của các biện pháp đề xuất

8 Đóng góp mới của đề tài

- Tổng quan và làm rõ cơ sở lí luận về NL GQVĐ và ST, tổ chức dạy họctheo mô hình giáo dục STEM

- Đánh giá thực trạng việc dạy học theo mô hình giáo dục STEM để pháttriển NL GQVĐ và STcho HS trong dạy học hóa học hiện nay ở một sốtrường THPT tại Hà Nội

- Đề xuất biện pháp tổ chức dạy học theo mô hình giáo dục STEM

- Đề xuất tiến trình dạy học và thiết kế một số chủ đề dạy học phần Hóahọc vô cơ lớp 11 THPT theo mô hình giáo dục STEM nhằm phát triển NLGQVĐ và ST cho HS THPT

- Thiết kế và sử dụng bộ công cụ đánh giá NL GQVĐ và ST của HStrong dạy học theo mô hình giáo dục STEM

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo vàphụ lục thì nội dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Trang 14

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển NL giải quyết

vấn đề và sáng tạo thông qua hoạt động dạy học theo mô hình giáo dục STEMtrong trường THPT

Chương 2 Thiết kế nội dung dạy học Hóa học phần vô cơ lớp 11 THPT

theo mô hình giáo dục STEM

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm.

Trang 15

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO VÀ MÔ HÌNH GIÁO DỤC STEM TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ

THÔNG 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Giáo dục STEM trên thế giới

Theo Tsupros, Kohler, Hallinen’s (2009) [41], cho rằng “Giáo dục STEM

là một cách tiếp cận liên môn trong học tập, ở đó những khái niệm học thuậtchính xác được kết hợp với bài học thực tiễn khi HS vận dụng khoa học, côngnghệ, kỹ thuật và toán học trong một bối cảnh cụ thể, tạo nên sự kết nối giữanhà trường, cộng đồng, việc làm và hoạt động kinh doanh toàn cầu cho phép

sự phát triển những hiểu biết tối thiểu về STEM và cùng với nó là khả năngcạnh tranh trong nền kinh tế mới”

Chương trình giáo dục STEM ở Singapore nhấn mạnh tầm quan trọng củakhoa học Chương trình khoa học của Singapore dựa trên mô hình xoắn ốc màcác khái niệm được giới thiệu ở cấp độ tiểu học được đào sâu hơn Theo LýHiển Long: “Để phát triển kinh tế và trở thành xã hội công nghệ tối tân hiệnđại, Singapore cần phải phát triển tài năng và nhân tài trong các mảng Khoahọc, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán”

Một thống kê ở Mỹ cho thấy từ năm 2004 đến năm 2014, việc làm liênquan đến khoa học và kỹ thuật tăng 26%, gấp hai lần so với tốc độ tăngtrưởng trung bình của các ngành nghề khác Trong khi đó, việc làm STEM cótốc độ tăng trưởng gấp 4 lần so với tốc độ tăng trưởng trung bình của cácngành khác nếu tính từ năm 1950 đến 2007 Với sự phát triển của khoa học kỹthuật thì nhu cầu việc làm liên quan đến STEM ngày càng lớn, đòi hỏi ngànhgiáo dục cũng phải có những thay đổi để đáp ứng nhu cầu của xã hội Giáo

Trang 16

dục STEM có thể tạo ra những con người đáp ứng được nhu cầu công việccủa thế kỷ mới, có tác động lớn đến sự thay đổi nên kinh tế đổi mới Trongmột bài phát biểu trước thượng nghị viện Mỹ, Bill Gates đã từng nói: “Chúng

ta không thể duy trì được nền kinh tế dẫn đầu toàn cầu trừ khi chúng ta xâydựng được lực lượng lao động có kiến thức và kỹ năng để sáng tạo” BillGates đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục trong việc xây dựng lựclượng lao động này Ông nói tiếp: “Chúng ta cũng không thể duy trì được mộtnền kinh tế sáng tạo trừ phi chúng ta có những công dân được đào tạo tốt vềtoán học, khoa học và kỹ thuật”

Tại Pháp, giáo dục STEM được bao phủ ở mọi cấp học Trong giai đoạnchính của bậc Tiểu học, HS được học về Toán học, Khoa học TN và Côngnghệ HS đã được tham gia các hoạt động trải nghiệm nghiên cứu nhằm thúcđẩy sự quan tâm của các em về Khoa học và Công nghệ, bên cạnh đó pháttriển tư duy phê phán của HS Ở bậc THCS, HS được học về Toán học, Khoahọc (Vật lí, Hóa học, Khoa học Sự sống và Trái đất), Công nghệ HS được tậptrung học tập theo định hướng GQVĐ và nghiên cứu nhằm khuyến khích các

em có hiểu biết và những suy nghĩ nghiêm túc về thế giới của mình Theo [37]

trong chương trình THPT của Pháp, giáo dục STEM được dành thời lượngđáng kể Trong năm đầu tiên, mỗi tuần,HS học Toán học 4 giờ; học Vật lí, Hóahọc, Thực hành thể thao, Vũ trụ 3 giờ Tuy nhiên chỉ có ½ giờ mỗi tuần chonghiên cứu về Khoa học đời sống và trái đất Môn học này được dạy thông qua

ba chủ đề: cơ thể con người và sức khỏe; trái đất và các hành tinh; hành trìnhtiến hóa của sự sống Cũng trong năm học đầu tiên HS được tham gia vào chủ

đề khám phá có liên quan đến STEM như: Công nghệ sinh học; Y tế và xã hội;Phát minh và đổi mới công nghệ, kĩ thuật…

Tại Úc, chiến lược giáo dục STEM được đưa ra nhằm giải quyết nhu cầuviệc làm STEM tương lai trong nước Người ta dự đoán rằng có sự tang

Trang 17

trong các ngành dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ năm 2015 đến năm 2020 Cụcthống kê Úc ước tính rằng một số công việc liên quan đến STEM, bao gồmcác chuyên gia và kĩ sư ICT đã tăng trưởng 1,5 lần so với các công việc kháctrong những năm gần đây Chính phủ Úc đã đầu tư một số chương trình đặcbiệt để hỗ trợ phát triển nghề nghiệp của giáo viên, và trả tiền cho các chươngtrình STEM chuyên biệt trong lớp học Nhiều trường ở Úc đã thử nghiệm cácchương trình giáo dục STEM dựa trên các mô hình giáo dục STEM khác nhau

để đạt được các mục tiêu quốc gia về giáo dục STEM

Theo hiệp hội các giáo viên dạy khoa học quốc gia Mỹ (National ScienceTeachers Association - NSTA) được thành lập năm 1944 đã đề xuất ra kháiniệm giáo dục STEM như sau:"Giáo dục STEM là cách tiếp cận liên ngànhtrong quá trình học, trong đó các khái niệm học thuật mang tính nguyên tắcđược lồng ghép với các bài học trong thế giới thực, ở đó các HS áp dụng cáckiến thức trong Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán vào trong các bốicảnh cụ thể giúp kết nối giữa trường học, cộng đồng, nơi làm việc và các tổchức toàn cầu, để từ đó phát triển các NL trong lĩnh vực STEM và cùng với

đó có thể cạnh tranh trong nền kinh kế mới" [38] Có thể nói giáo dục STEM

là hình thức giáo dục được rất nhiều quốc gia trên thế giới chú trọng và pháttriển Giáo dục STEM giúp ích rất nhiều trong việc phát triển NL cho HS, đặcbiệt là NL GQVĐ và ST đối với HS THPT, đặc biệt, nó trang bị cho các emkiến thức, kĩ năng để các em chuẩn bị trở thành những công dân toàn cầu, đápứng các yêu cầu của xã hội đặt ra trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0bùng nổ hiện nay

1.1.2 Giáo dục STEM ở Việt Nam

Nhận thấy tiềm năng và những lợi ích thiết thực của Giáo dục STEM,đặc biệt là tạo một sân chơi sáng tạo cho các em HS thuộc độ tuổi từ Tiểu họcđến Trung học phổ thông nhằm tạo sân chơi trí tuệ, sáng tạo và bổ ích giúpcác em có cơ hội được tham gia các hoạt động có tính khoa học, hiện đại và

Trang 18

nâng cao, Công ty Cổ phần DTT Eduspec đã lần đầu tên giới thiệu chươngtrình Giáo dục STEM vào Việt Nam từ năm 2011 tại hai thành phố lớn là HàNội và thành phố Hồ chí Minh, và sau đó là Đà Nẵng vào năm 2013, Cần Thơ

2016 Đến nay, đã có hàng chục ngàn HS tại các thành phố này theo học và đãtham dự nhiều cuộc thi Robocon Quốc tế, Khoa học máy tính, Internet vạn vậtkết nối trong suốt những năm qua

Năm 2015, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Liên minh STEM tổchức ngày hội STEM lần đầu tiên, tiếp theo đó là nhiều sự kiện tương tự trên toànquốc nổi bật là Ngày hội STEM quốc gia đã được tổ chức liên tục hàng năm

Vào năm học 2015 - 2016, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khuyến khích nộidung STEM trong chương trình giáo dục đào tạo

Dự án thí điểm “Áp dụng phương pháp giáo dục STEM của Vương quốcAnh vào bối cảnh Việt Nam 2016- 2017” được triển khai từ tháng 1.2016.Tháng 2/2017, Hội đồng Anh kết hợp với Bộ GD - ĐT tổ chức giai đoạn 4 của

dự án - rà soát và đánh giá phương pháp giáo dục theo định hướng STEM(Khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán) tại 15 trường THCS và THPT thuộc

Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định và Quảng Ninh

Sở Giáo dục và đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Cần Thơ, ĐàNẵng đều đã có chỉ đạo: Tiếp tục quán triệt tinh thần giáo dục tích hợp khoahọc - công nghệ - kỹ thuật - toán (Science - Technology - Engineering –Mathematic: STEM) trong việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông ởnhững môn học liên quan

Từ năm 2015, các tỉnh thành như Nam Định, Hải Phòng, Nghệ An, HảiDương, Đồng Tháp đã và đang triển khai nhiều hoạt động về giáo dục STEM Tháng 5 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký Chỉ thị số 16 CT - TTg về việctăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 Chỉ thị

đã nêu rõ: "Thay đổi mạnh mẽ các chính sách, nội dung, phương pháp giáo dục

và dạy nghề nhằm tạo ra nguồn nhân lực có khả năng tiếp nhận các xu thế công

Trang 19

công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), ngoại ngữ, tin học trong chương trình giáo dục phổ thông" và yêu cầu "Bộ Giáo dục và Đào tạo: Thúc đẩy triển khai giáo dục về khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) trong chương trình giáo dục phổ thông; tổ chức thí điểm tại một số trường phổ thông ngay từ năm học 2017 - 2018 Nâng cao NL nghiên cứu, giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học; tăng cường giáo dục những kỹ năng, kiến thức cơ bản, tư duy sáng tạo, khả năng thích nghi với những yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4." [31].

Nhìn chung, các tổ chức giáo dục, các nhà lãnh đạo đã nhận thức đượcrất rõ vai trò của giáo dục STEM với thực trạng giáo dục ở Việt Nam hiệnnay Tuy nhiên, việc triển khai giáo dục STEM vào thực tế giảng dạy cònnhiều khó khăn đang trên từng bước được giải quyết

1.1.3 Nghiên cứu về phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

Đã có nhiều đề tài về phát triển NL GQVĐ, phát triển NL ST, phát triển

NL GQVĐ và ST thông qua các PPDH tích cực hay xây dựng bài tập ở cácchương, bài dạy môn HH ở THPT:

- Các tác giả Nguyễn Thị Phương Thuý, Nguyễn Thị Sửu, Vũ QuốcChung trong công trình [27] đã chỉ ra rằng: NL GQVĐ là một trong các NLcốt lõi quan trọng cần được phát triển cho HS ở các cấp học, nhất là với HSTHPT hiện nay DH dự án là một trong những PPDH tích cực có hiệu quảtrong việc phát triển NL GQVĐ cho HS

- Các tác giả Lê Thái Hưng, Vũ Phương Liên, Nguyễn Thị Hằng [18]

cũng cho rằng: NL GQVĐ là một trong các NL cơ bản của mỗi HS, là tổ hợpcủa nhiều NL khác nhau như đọc hiểu, phân tích, ST, … đã nghiên cứu và thửnghiệm ở một môđun dạy học cụ thể “Thử nghiệm đánh giá NL GQVĐ của

HS trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh, Hoá học 10”

- Về phát triển NL ST có luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Thuý Hương(2015) “Xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH vô cơ nhằm phát triển NL sáng

Trang 20

tạo trong việc bồi dưỡng HS giỏi hoá học ở trường THPT chuyên” [17]

- Trần Ngọc Huy (2014) “Xây dựng và sử dụng bài toán nhận thức nhằm phát triển NL phát hiện và giải quyết vấn đề, NL sáng tạo cho HS thông qua dạy học phần hóa học hữu cơ lớp 11 nâng cao" Luận án Tiến sĩ Tác giả đã

tập trung nghiên cứu làm rõ cơ sở của việc phát triển NLGQVĐ và NL STcho HS thông qua hệ thống “Bài toán nhận thức” [14]

- Đỗ Thị Thu Thuỷ (2017) với đề tài luận văn thạc sĩ [30] “Phát triển NL giải quyết vấn đề và sáng tạo cho HS trong dạy học chương: Nhóm nitơ, Hóa học 11 nâng cao”.Tác giả tập trung làm rõ cơ sở của NL GQVĐ  ST và

cách đánh giá NL cho HS thông qua dạy học chương Nitơ

Về vấn đề GD theo mô hình STEM từ năm 2015 đến nay mới có một sốcông trình nghiên cứu cơ sở lí luận và vận dụng vào dạy học ở một số bộmôn: Công nghệ (THCS) và Tự nhiên - xã hội (Tiểu học) của tác giả NguyễnVăn Biên; Lê Xuân Quang, Chu Cẩm Thơ và một số tác giả khác [6], [25],[28] Việc dạy học môn HH theo mô hình STEM gần đây có một số côngtrình đã công bố như tác giả Kiều Thị Hải, Vũ Thị Ngọc Oanh, Phạm ThịThủy; Nguyễn Kim Thoa; Nguyễn Thị Thùy Trang [16], [24], [29], [33], [34]

đã trình bày về việc tổ chức dạy học nghiên cứu khoa học, dạy học chủ đềtheo mô hình STEM vận dụng thông qua môn Hóa học THPT nhằm phát triển

NL cho HS đặc biệt NL GQVĐ và ST là một trong NL rất quan trọng mà HSTHPT cần hình thành và phát triển trong quá trình học, việc vận dụng kiếnthức được học vào áp dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn là hết sức cần thiết,đặc biệt để có được hiệu quả tốt nhất và đáp ứng được yêu cầu của xã hội thì

HS cần phải biết tích hợp, tìm được sự liên hệ giữa kiến thức các môn học đểtạo ra những sản phẩm tốt nhất Vì vậy, việc phát triển NL GQVĐ và ST cho

HS THPT theo mô hình STEM cần được áp dụng để góp phần đổi mới GDPTphù hợp với xu hướng chung của thế giới

Trang 21

1.2 Năng lực và năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

1.2.1 Khái niệm năng lực và năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

1.2.1.1 Khái niệm năng lực

NL (competency) có nguồn gốc từ tiếng Latinh “competentia” NL làmột thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của kiến thức, kĩ năng, kinhnghiệm và thái độ, trách nhiệm Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau

về NL nhưng NL đều được hiểu là sự thành thạo, khả năng thực hiện của cánhân đối với công việc Theo từ điển tâm lí học, (Vũ Dũng, 2000): “NL là tậphợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là điều khiểnbên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”

Có rất nhiều cách phát biểu khác nhau về năng lực, trong luận văn nàychúng tôi dựa theo văn bản của Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của

Bộ GD và ĐT (2018) “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể ”[2]

1.2.1.2 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Trước hết chúng ta cần làm sáng tỏ khái niệm “Vấn đề ”

- Vấn đề là hệ thống những câu hỏi, các nhiệm vụ hay các yêu cầu hoạtđộng đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quy luật, thuật giải cũng nhưnhững kiến thức, kĩ năng sẵn có chưa đủ để giải quyết mà còn có khó khăn,rào cản cần vượt qua

- Thông thường một vấn đề được đặc trưng bởi ba thành phần: Điểmxuất phát (trạng thái không mong muốn), điểm đích (trạng thái mong muốnđạt được), những cản trở (những khó khăn cần vượt qua)

Như vậy có thể thấy vấn đề phát sinh khi một cá nhân mong muốn đạt

Trang 22

được một mục đích nào đó, nhận thấy nhiệm vụ cần phải giải quyết để đạtđược mục đích đó nhưng chưa biết hướng giải quyết như thế nào, chưa đủphương tiện để giải quyết Khi đó tư duy sẽ trở nên cần thiết.

* Giải quyết vấn đề, năng lực giải quyết vấn đề

Theo Nguyễn Cảnh Toàn (2012), Xã hội học tập – học tập suốt đời:

“Giải quyết vấn đề: Hoạt động trí tuệ được coi là trình độ phức tạp và caonhất về nhận thức, vì cần huy động tất cả các NL trí tuệ của cá nhân ĐểGQVĐ, chủ thể phải huy động trí nhớ, tri giác, lý luận, khái niệm hóa, ngônngữ, đồng thời sử dụng cả cảm xúc, động cơ, niềm tin ở NL bản thân và khảnăng kiểm soát được tình thế “ [36]

Như vậy, GQVĐ là khả năng suy nghĩ và hành động không có sẵn đượcđặt ra trong những tình huống bất ngờ Người GQVĐ có thể nhiều hay ít lập rađược mục tiêu hành động, nhưng không phải ngay lập tức tìm ra phương hướnglàm thế nào để giải quyết được vấn đề đó Sự am hiểu về tình huống có vấn đề,

và giải thích từ từ để đạt mục tiêu đó trên cơ sở việc lập kế hoạch và suy luậntạo thành quá trình GQVĐ

NLGQVĐ là khả năng hoạt động trí tuệ có mục tiêu và có tính địnhhướng cao của con người đòi hỏi phải huy động khả năng tư duy và sángtạotrước những vấn đề, những tình huống cụ thể để tìm ra lời giải của vấn đề Theo tiếp cận tiến trình GQVĐ và sự chuyển đổi nhận thức của chủ thể

thì có thể hiểu:“NL GQVĐ là khả năng của con người nhận ra vấn đề cần giải quyết và biết vận dụng những kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm của bản thân, sẵn sàng hành động để giải quyết tốt vấn đề cần đặt ra”.

Theo định nghĩa trong đánh giá PISA, (2012): "NL GQVĐ là khả năng của một cá nhân hiểu và giải quyết tình huống vấn đề khi mà giải pháp giải quyết chưa rõ ràng Nó bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào giải quyết tình huống vấn đề đó – thể hiện tiềm năng là công dân tích cực và xây dựng” Theo chúng tôi: “NL GQVĐ là khả năng của một cá nhân “huy động”, kết hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… một

Trang 23

cách nhạy bén và có tổ chức để hiểu và giải quyết vấn đề trong tình huống nhất định một cách hiệu quả và với tinh thần tích cực”.

* Sáng tạo, năng lực sáng tạo

Có rất nhiều quan niệm về sáng tạo Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Sáng tạo nghĩa là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có Sáng tạo là nhìn một vấn đề, một câu hỏi theo những cách khác với thông thường”.

Theo tâm lý học thì: “Sáng tạo đó là NL tạo ra những giải pháp mới hoặc duy nhất cho một vấn đề thực tiễn và hữu ích”.

Theo [2]: “Sáng tạo được hiểu là một quá trình hoạt động của con người trong việc phát hiện ra vấn đề và tìm ra cách thức để giải quyết được vấn đề

đó đạt hiệu quả Kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính mới, có ý nghĩa xã hội, có giá trị”.

Từ những kết quả nghiên cứu một số nhà tâm lý học đã cho biết: Sángtạo là tiềm năng vốn có của mỗi người, khi gặp dịp thì bộc lộ Chính vì vậy

mà trong quá trình dạy học cần tạo cho HS có những cơ hội để phát huy NLsáng tạo của mình

Vậy NL sáng tạo là gì?

Đối với HS: “NL sáng tạo là các khả năng của học sinh hình thành ý tưởng mới, đề xuất được các giải pháp mới hay cải tiến cách làm mới một sự vật, có các giải pháp khác nhau để giải quyết một vấn đề, sự tò mò, thích đặt các câu hỏi để khám phá sự thật xung quanh, NL tưởng tượng và tư duy sáng tạo ”

Trên cơ sở những khái niệm nêu ở trên, theo chúng tôi NLGQVĐ và STđối với HS THPT có thể hiểu như sau:

Là khả năng cá nhân giải quyết các tình huống có vấn đề mà ở đó không

có sẵn các quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường có sẵn, hoặc có thể giải quyết một cách thành thạo với những nét độc đáo riêng, theo chiều hướng luôn đổi mới, phù hợp với thực tế, có giá trị và có ý nghĩa xã hội.

1.2.2 Cấu trúc của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Theo [2], nghiên cứu những biểu hiện của NL GQVĐ và ST của HS

Trang 24

THPT hiện nay được thể hiện qua bảng 1.1 dưới đây:

Bảng 1.1 Những biểu hiện/ tiêu chí của năng lực giải quyết vấn đề và

sáng tạo của học sinh trung học phổ thông

Nhận ra ý tưởng

mới

Xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và phức tạp từcác nguồn thông tin khác nhau; phân tích các nguồnthông tin độc lập để thấy được khuynh hướng và độ tincậy của ý tưởng mới

Phát hiện và làm

rõ vấn đề

Phân tích được tình huống trong học tập, trong cuộcsống; phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề tronghọc tập, trong cuộc sống

Đề xuất, lựa chọn

giải pháp

Thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấnđề;đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyếtvấn đề; lựa chọn được giải pháp phù hợp nhất

Tư duy độc lập

Đặt nhiều câu hỏi có giá trị, không dễ dàng chấp nhậnthông tin một chiều; không thành kiến khi xem xét, đánhgiá vấn đề; biết quan tâm tới các lập luận và minh chứngthuyết phục; sẵn sàng xem xét, đánh giá lại vấn đề

1.2.3 Công cụ đánh giá năng lực

Đánh giá NL HS được hiểu là đánh giá khả năng áp dụng những kiến

thức, kĩ năng đã học để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống thực tiễn Theo

Trang 25

xác định sự tiến bộ của người học Khi đánh giá kết quả học tập không lấyviệc kiểm tra khả năng ghi nhớ tái hiện kiến thức làm trung tâm của việc đánhgiá mà phải chú trọng đến yếu tố vận dụng sáng tạo tri thức trong những tìnhhuống ứng dụng khác nhau Nghĩa là đánh giá theo NL là đánh giá kiến thức,

kĩ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa

Theo PGS.TS Nguyễn Công Khanh [19]: Đặc trưng của đánh giá NL là

sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Phương pháp đánh giá càng đa dạngthì mức độ chính xác càng cao vì tính khách quan tốt hơn Nên trong đánhgiá NL nói chung, đánh giá NLGQVĐ và ST nói riêng, ngoài phương phápđánh giá truyền thống như đánh giá chuyên gia (GV đánh giá HS), đánh giáđịnh kì bằng các bài kiểm tra (KT) thì GV cần sử dụng các hình thức đánhgiá không truyền thống khác như:

- Đánh giá bằng quan sát: Đánh giá qua quan sát là thông qua quan sát màđánh giá các thao tác, động cơ, hành vi, kĩ năng thực hành và kĩ năng nhận thức

- Đánh giá qua hồ sơ học tập: Hồ sơ học tập là các bài tập, bài kiểm tra,bài thực hành, sản phẩm công việc bằng video, ảnh, powerpoint…Đánh giáqua hồ sơ học tập là sự theo dõi, trao đổi, ghi chép được của chính HS những

gì HS nói, hỏi, làm cũng như thái độ, ý thức của HS với quá trình học tập củamình cũng như đối với mọi người

Thường có hai loại hồ sơ: Hồ sơ quá trình sẽ cung cấp các vật liệu họctập tốt nhất để chứng minh sự tiến bộ qua các thời kì; hồ sơ sản phẩm chứng

về việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể

Hồ sơ học tập giúp HS phát triển các kĩ năng tổ chức, kĩ năng thể hiện,trình bày…Khi được khuyến khích tạo sản phẩm tốt nhất, HS sẽ tự chủ và tựthể hiện bản thân một cách rõ rệt Thông qua hồ sơ HS có cơ hội chứng minh

NL bằng những sản phẩm tốt nhất; lập sơ đồ về sự tiến bộ của mình giám sát

và điều chỉnh hành động kế hoạch cá nhân, trao đổi học tập với người khác;…

Trang 26

- Tự đánh giá: Tự đánh giá là quá trình HS tự trả lời cho các câu hỏi: Tôi

đã học những gì? Tôi đang biết những gì? Làm thế nào để rút ngắn khoảngcách những gì tôi biết và cần biết? Bước tiếp theo cần đạt là gì? Tự đánh giá

có thể giúp HS thể hiện rõ cách mà em muốn học, nó cũng cung cấp thông tinphản hồi có ý nghĩa với giáo viên về nhu cầu học tập

- Đánh giá đồng đẳng: Người học có thể kiểm tra, đưa ra các đề xuấthoặc động viên các thành viên trong nhóm sửa đổi, cải thiện hoạt động họctập Hoặc người học có thể đánh giá mức độ tham gia cũng như mức độ đónggóp vào kết quả chung của nhóm Người học có thể đánh giá hiệu quả cuốicùng của sản phẩm học tập GV tạo điều kiện để mỗi HS đánh giá tất cảnhững người còn lại trong nhóm

1.3 Dạy học theo mô hình giáo dục STEM và việc phát triển năng lực quyết vấn đề và sáng tạo

1.3.1 Khái niệm về giáo dục STEM

Theo Nguyễn Thanh Nga [20] thuật ngữ STEM được dùng trong hai ngữcảnh khác nhau đó là ngữ cảnh giáo dục và ngữ cảnh nghề nghiệp

- Đối với ngữ cảnh giáo dục: STEM nhấn mạnh tới sự quan tâm của nềngiáo dục đối với các môn Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học Quan

Trang 27

người học Giáo dục STEM có thể được hiểu và diễn giải ở nhiều cấp độ như:chính sách STEM, nhà trường STEM, chương trình STEM, môn học STEM,bài học STEM, hoạt động STEM.

- Đối với ngữ cảnh nghề nghiệp, STEM được hiểu là nghề nghiệp thuộccác lĩnh Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học

b) Giáo dục STEM là gì?

Theo [6], [20] với những tiếp cận khác nhau, giáo dục STEM sẽ đượchiểu và triển khai theo những cách khác nhau Các nhà lãnh đạo và quản lý đềxuất các chính sách để thúc đẩy giáo dục STEM, quan tâm tới việc chuẩn bịnguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự phát triển khoa học, công nghệ.Người làm chương trình quán triệt giáo dục STEM theo cách quan tâm tớinâng cao vai trò, vị trí, sự phối hợp giữa các môn học có liên quan trongchương trình Giáo viên thực hiện giáo dục STEM thông qua hoạt động dạyhọc để kết nối kiến thức học đường với thế giới thực, giải quyết các vấn đềthực tiễn, để nâng cao hứng thú, để hình thành và phát triển NL và phẩm chấtcho HS

Nhìn chung, khi đề cập tới STEM, giáo dục STEM, cần nhận thức vàhành động theo cả hai cách hiểu sau đây:

Một là, TƯ TƯỞNG (chiến lược, định hướng) giáo dục, bên cạnh địnhhướng giáo dục toàn diện, THÚC ĐẨY giáo dục 4 lĩnh vực: Khoa học, Côngnghệ, Kỹ thuật, Toán với mục tiêu định hướng và chuẩn bị nguồn nhân lựcđáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của các ngành nghề liên quan, nhờ đó,nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế

Hai là, phương pháp TIẾP CẬN LIÊN MÔN (Khoa học, Công nghệ, Kỹthuật, Toán) trong dạy học với mục tiêu: (1) nâng cao hứng thú học tập cácmôn học thuộc các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán; (2) vậndụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn; (3) kết nối

Trang 28

trường học và cộng đồng; (4) định hướng hành động, trải nghiệm trong họctập; (5) hình thành và phát triển NL và phẩm chất người học

Bên cạnh đó, GD STEM cũng được quan niệm STEM như là một chươngtrình đào tạo dựa trên ý tưởng dạy cho HS bốn lĩnh vực cụ thể: Khoa học, Côngnghệ, Kĩ thuật và Toán học trong một liên ngành và phương pháp tiếp cận ứngdụng Thay vì dạy bốn lĩnh vực này theo những môn học tách biệt và rời rạc,STEM tổng hợp chúng thành một mô hình học tập liền mạch dựa trên các ứngdụng thực tế

Trong đề tài này GD STEM được hiểu: GD STEM là một quan điểm dạyhọc theo hướng tiếp cận liên môn từ hai trong số các lĩnh vực Khoa học, Côngnghệ, Kĩ thuật và Toán học trở lên Trong đó nội dung học tập được gắn vớithực tiễn dựa trên cơ sở khoa học chủ yếu là môn hoá học, PPDH theo quanđiểm dạy học định hướng hành động

1.3.2 Đặc điểm của giáo dục STEM

Theo [20] giáo dục STEM bản chất được hiểu là trang bị cho người họcnhững kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan đến các lĩnh vực KH, CN, KT

và toán học Các kiến thức và kỹ năng này (gọi là kĩ năng STEM) phải đượctích hợp, lồng ghép và bổ trợ cho nhau giúp HS không chỉ hiểu biết về nguyên

lý mà còn có thể áp dụng để thực hành và tạo ra được những sản phẩm trongcuộc sống hàng ngày Những kỹ năng STEM là tích hợp của 4 kỹ năng:

- Kỹ năng khoa học: HS được trang bị những kiến thức về các khái niệm,

các nguyên lý, các định luật, các quy tắc và các cơ sở lý thuyết của giáo dụckhoa học Mục tiêu quan trọng nhất là thông qua giáo dục khoa học, HS cókhả năng liên kết các kiến thức này để thực hành và có tư duy sáng tạo vậndụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề trong thực tế

- Kỹ năng công nghệ: Phát triển khả năng quản lí, truy cập, hiểu biết, sử

dụng và đánh giá công nghệ của HS, từ những vật dụng từ đơn giản (cái thước

Trang 29

kẻ, quyển vở, cái bút, .) tới phức tạp (máy tính, mạng internet, điệnthoại, ), tạo cơ hội để HS hiểu về công nghệ được phát triển như thế nào,ảnh hưởng của nó tới cuộc sống.

- Kỹ năng kỹ thuật: HS được trang bị những kỹ năng và hiểu được quy

trình sản xuất để tạo ra các đối tượng Để có được kỹ năng này HS phải biếtphân tích, tổng hợp, lập mối liên hệ để cân bằng các yếu tố khoa học, toánhọc, công nghệ, kỹ thuật để tìm ra giải pháp tốt nhất trong việc thiết kế và xâydựng quy trình sản xuất ra các đối tượng Ngoài ra, HS còn có tầm nhìn vềnhu cầu và phản ứng của xã hội trong những vấn đề liên quan tới kỹ thuật

- Kỹ năng toán học: Là khả năng nhìn nhận và nắm bắt được vai trò của

toán học trong mọi khía cạnh tồn tại trên thế giới HS có kỹ năng toán học sẽ

có khả năng thể hiện các ý tưởng một cách chính xác, khoa học, dễ hiểu, sẽphân tích, biện luận và truyền đạt ý tưởng một cách hiệu quảthông qua việctính toán, giải thích để giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, lợi ích nhất

Song song với kỹ năng STEM, Giáo dục STEM cũng trang bị cho HSnhững kỹ năng phù hợp để phát triển trong thế kỷ 21 Bộ kỹ năng Thế kỷ 21được tóm tắt gồm những kỹ năng chính: Tư duy phản biện và kỹ năng giảiquyết vấn đề; Kỹ năng trao đổi và cộng tác; Tính sáng tạo và kỹ năng phátkiến; Văn hóa công nghệ và thông tin truyền thông; Kỹ năng làm việc theo dự

án và kỹ năng thuyết trình

Những HS theo học theo cách tiếp cận giáo dục STEM đều có những ưuthế nổi bật như: kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ và toán học chắcchắn, khả năng sáng tạo, tư duy logic, hiệu suất học tập và làm việc vượt trội

và có cơ hội phát triển các kỹ năng mềm toàn diện hơn trong khi không hềgây cảm giác nặng nề, quá tải đối với HS Với HSPT, việc theo học các mônhọc STEM còn có ảnh hưởng tích cực tới khả năng lựa chọn nghề nghiệptương lai Khi được học nhiều dạng kiến thức trong một thể tích hợp, HS sẽ chủđộng thích thú với việc học tập thay vì thái độ e ngại hoặc tránh né một lĩnh

Trang 30

vực nào đó, từ đó sẽ khuyến khích các em có định hướng tốt hơn khi chọnchuyên ngành cho các bậc học cao hơn và sự chắc chắn cho cả sự nghiệp vềsau Giáo dục STEM vận dụng phương pháp học tập chủ yếu dựa trên thựchành và các hoạt động trải nghiệm ST Các phương pháp GD tiến bộ, linh hoạtnhất như: Học qua dự án – chủ đề; Học qua trò chơi và đặc biệt phương phápHọc qua hành luôn được áp dụng triệt để cho các môn học tích hợp STEM.

1.3.3 Mục tiêu của giáo dục STEM

Hình 1.1: Mục tiêu giáo dục STEM [theo 20]

- Phát triển các năng lực đặc thù của các môn học thuộc về STEM cho HS:

Đó là những kiến thức, kĩ năng liên quan đến các môn học Khoa học,Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học Trong đó HS biết liên kết các kiến thức Khoahọc, Toán học để giải quyết các vấn đề thực tiễn HS biết sử dụng, quản lý vàtruy cập Công nghệ HS biết về quy trình thiết kế và chế tạo các sản phẩm

- Phát triển các năng lực cốt lõi cho học sinh:

Giáo dục STEM nhằm chuẩn bị cho học sinh những cơ hội cũng nhưthách thức trong nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu của thế kỷ 21 Bên cạnhnhững hiểu biết về các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán học,

HS sẽ được phát triển tư duy phê phán, khả năng hợp tác để thành công

- Định hướng nghề nghiệp cho HS:

Giáo dục STEM sẽ tạo cho HS có những kiến thức, kỹ năng mang tínhnền tảng cho việc học tập ở các bậc học cao hơn cũng như cho nghề nghiệptrong tương lai của HS Từ đó, góp phần xây dựng lực lượng lao động có

Mục tiêu giáo dục STEM

Phát triển năng lực

đặc thù STEM Phát triển năng lựccốt lõi

Định hướng nghề nghiệp

Trang 31

năng lực, phẩm chất tốt đặc biệt là lao động trong lĩnh vực STEM nhằm đápứng mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước.

Tăng cường trang bị cho học sinh phổ thông những kỹ năng về STEM,tăng cường số lượng HS sẽ theo đuổi và nghiên cứu chuyên sâu về các lĩnhvực STEM

Quá trình sáng tạo có thể được nuôi dưỡng trong HS nhưng cần phải thờigian và HS cần được nhúng trong môi trường và không gian đặc thù để kíchthích sự sáng tạo Do vậy, tiếp cận giáo dục STEM phải là tiếp cận mang tínhliên nghành để tạo ra sự kết hợp hài hòa giữa các lĩnh vực Khoa học, Côngnghệ, Kỹ thuật và Toán học nhằm mang đến cho HS những trải nghiệm thực

tế thực sự có ý nghĩa

1.3.4 Phân loại STEM: Có nhiều cách phân loại STEM, theo [20] sự phânloại STEM được dựa trên :

(1) Dựa trên các lĩnh vực STEM tham gia giải quyết vấn đề

- STEM đầy đủ: là loại hình STEM yêu cầu người học cần vận dụngkiến thức của cả bốn lĩnh vực STEM để giải quyết vấn đề

- STEM khuyết: là loại hình STEM mà người học không phải vận dụngkiến thức cả bốn lĩnh vực STEM để giải quyết vấn đề

(2) Dựa trên phạm vi kiến thức để giải quyết vấn đề STEM

- STEM cơ bản: là loại hình STEM được xây dựng trên cơ sở kiến thức

thuộc phạm vi các môn học Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán họctrong chương trình giáo dục phổ thông Các sản phẩm STEM này thường đơngiản, chủ đề giáo dục STEM bám sát nội dung sách giáo khoa và thường đượcxây dựng trên cơ sở các nội dung thực hành, thí nghiệm trong chương trìnhgiáo dục phổ thông

- STEM mở rộng: là loại hình STEM có những kiến thức nằm ngoàichương trình sách giáo khoa Những kiến thức đó người học phải tự tìm hiểu

và nghiên cứu Sản phẩm STEM của loại hình này có độ phức tạp cao hơn

(3) Dựa vào mục đích dạy học

Trang 32

- STEM dạy kiến thức mới: là STEM được xây dựng trên cơ sở kết nốikiến thức của nhiều môn học khác nhau mà HS chưa được học (hoặc đượchọc một phần) HS sẽ vừa giải quyết vấn đề và vừa lĩnh hội được tri thức mới.

- STEM vận dụng: là STEM được xây dựng trên cơ sở những kiến thức

HS đã được học STEM dạng này sẽ bồi dưỡng cho HS năng lực vận dụng lýthuyết và thực tế Kiến thức lý thuyết được củng cố và khắc sâu

1.3.5 Các tiêu chí của chủ đề giáo dục STEM

Hình 1.2 Tiêu chí của chủ đề giáo dục STEM [ theo 20]

- Chủ đề STEM hướng tới giải quyết các vấn đề trong thực tiễn

Vận dụng kiến thức STEM để giải quyết các vấn đề thực tiễn chính làmục tiêu dạy học theo quan điểm STEM Do vậy, bài học STEM không phải

là để giải quyết các vấn đề mang tính tưởng tượng và xa rời thực tế mà nóluôn hướng đến giải quyết các vấn đề các tình huống trong xã hội, kinh tế,môi trường trong cộng đồng địa phương của họ cũng như toàn cầu

Kiến thức thuộc lĩnh vực STEM

Làm việc

nhóm

Giải quyết vấn đề thực tiến

Định hướng thực hành

Tiêu chí chủ đề STEM

Trang 33

STEM để giải quyết

Tiêu chí này nhằm đảm bảo theo đúng tinh thần giáo dục STEM, qua đómới phát triển được những năng lực chuyên môn liên quan

Định hướng hành động là một tiêu chí của quan điểm STEM nhằm hìnhthành và phát triển năng lực kết hợp lý thuyết và thực hành cho HS Điều này sẽgiúp HS có được kiến thức từ kinh nghiệm thực hành chứ không phải chỉ từ lýthuyết Bằng cách xây dựng các bài giảng theo chủ đề và dựa trên thực hành, HS

sẽ được hiểu sau về lý thuyết, nguyên lý thông qua các hoạt động thực tế

- Chủ đề STEM khuyến khích làm việc nhóm giữa các HS

Trên thực tế có những chủ đề STEM vẫn có thể triển khai cá nhân Tuynhiên, làm việc theo nhóm là hình thức làm việc phù hợp trong việc giải quyếtcác nhiệm vụ phức hợp gắn với thực tiễn Làm việc theo nhóm là một kỹ năngquan trọng trong thế kỷ 21, bên cạnh đó khi làm việc theo nhóm HS sẽ đượcđặt vào môi trường thúc đẩy các nhu cầu giao tiếp chia sẻ ý tưởng và cùngphát triển giải pháp

1.3.6 Vai trò của giáo dục STEM trong dạy học môn Hoá học

Trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Hóa học 2018 [3], kiếnthức hóa học sẽ xuất hiện từ cấp THCS với việc tích hợp liên môn vào mônKhoa học tự nhiên Hóa học là một môn riêng độc lập từ cấp THPT Chươngtrình Hóa học mới nhấn mạnh định hướng tăng cường bản chất hóa học, giảmbớt và hạn chế nội dung phải ghi nhớ máy móc Ngoài ra các hoạt động trảinghiệm sẽ được tăng cường vì hóa học cũng là một trong bốn phần của giáodục STEM HS sẽ được phát triển khả năng tích hợp kiến thức kĩ năng của cácmôn Toán – Kĩ thuật – Công nghệ và Hóa học vào việc nghiên cứu một số vấn

đề thực tiễn

Hoá học là môn khoa học vừa lí thuyết vừa thực nghiệm, qua mỗi lớphọc, cấp học, HH có nhiều đề tài có thể triển khai cho HS thực nghiệm Vớicách hiểu của mô hình GD STEM như trên, khi triển khai vận dụng lí thuyết

Trang 34

HH vào thực tiễn thì chính là chúng ta đã sử dụng mô hình STEM vào mônhọc Mô hình GD STEM làm cho HH tiến gần hơn với thực tiễn, làm cho khảnăng vận dụng lí thuyết vào thực tiễn của HH trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn.Qua đó, phát triển được cho HS một số NL cần thiết đặc biệt là NLGQVĐ và

ST Vì vậy, cần vận dụng mở rộng và phát triển mô hình GD STEM vào môn

HH nói riêng và các môn khoa học tự nhiên nói chung Ví dụ như khi cho HSnghiên cứu đề tài sản xuất nước sạch từ nguồn nước sẵn có trong tự nhiên theo

mô hình GD STEM, HS sẽ vận dụng bốn kĩ năng STEM như sau:

- Kĩ năng khoa học: HS được trang bị các kiến thức HH về nguồn nước,nước trong tự nhiên thường chứa các khoáng chất, tạp chất gì? Cách xác địnhcác chất đó trong nguồn nước tự nhiên? Làm thế nào có thể loại bỏ chúngbằng các phương pháp hoá học? Cách xác định nước sạch?

- Kĩ năng công nghệ: Đánh giá xem phương pháp HH nào dùng để sảnxuất nước sạch phổ biến, kinh tế ? Phương pháp nào dễ sử dụng và HS có thểvận dụng để xử lí nước ở địa phương để thu được nước sạch ?

- Kĩ năng kĩ thuật: Phân tích xem để sản xuất nước sạch đi từ nướcngầm hoặc nước sông qua mấy giai đoạn ? Cần vận dụng những mục líthuyết nào của HH để sản xuất được nước sạch ? Phương pháp nào dễthực hiện và có mức độ khả thi cao ?

- Kĩ năng toán học: Phân tích, tính toán xem để sản xuất ra 1m3 nướcsinh hoạt chi phí là bao nhiêu? Có kinh tế hơn dùng nước đi mua không?

Có dễ thực hiện không?

Như vậy việc áp dụng mô hình GD STEM vào thực nghiệm môn Hóa học

sẽ giúp HS đi đúng hướng hơn, lập kế hoạch chính xác hơn, phát triển đượccho các em một số NL như NL vận dụng kiến thức vào thực tế, NL GQVĐ và

ST Cũng thông qua thực hành HH giúp các em phát triển các kĩ năng STEM,một kĩ năng cần thiết cho HS, cho lực lượng lao động của thế kỉ XXI

Trang 35

sáng tạo cho học sinh trung học phổ thông

Giáo dục STEM đề cao đến việc hình thành và phát triển NL giải quyếtvấn đề cho người học Trong mỗi bài học theo chủ để STEM, HS được đặttrước một tình huống có vấn đề thực tiễn cần giải quyết liên quan đến các kiếnthức khoa học Để giải quyết vấn đề đó đòi hỏi HS phải tìm tòi, nghiên cứunhững kiến thức thuộc môn học liên quan đến vấn đề (qua sách giáo khoa,học liệu, thiết bị thí nghiệm, thiết bị công nghệ…) và sử dụng chúng để giảiquyết vấn đề đặt ra Các kiến thức kĩ năng này phải được tích hợp, lồng ghép

và bổ trợ cho nhau giúp cho HS không chỉ hiểu biết về nguyên lí mà có thểthực hành và tạo ra những sản phẩm trong cuộc sống hàng ngày [20]

Hình 1.3 Sơ đồ cấu trúc của NL GQVĐ và ST trong hoạt động nhận thức của HS

1.4 Dạy học theo dự án - Phương pháp dạy học chủ yếu khi tổ chức dạy học theo mô hình giáo dục STEM

1.4.1 Thế nào là dạy học theo dự án.

Theo [1]; [7] dạy học dự án (DHDA) là một chuỗi các hoạt động dựatrên động cơ bên trong của HS nhằm khám phá và phát hiện một phần củathực tế (Thông qua các chuỗi hoạt động thực tế: Thực hiện nghiên cứu; Khámphá các ý tưởng theo sở thích; Tìm hiểu và xây dựng kiến thức; Học liên môn;Giải quyết các vấn đề; Cộng tác với các thành viên trong nhóm; Giao tiếp;Phát triển các kĩ năng, thái độ và sự đam mê

Như vậy, DHDA là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện

Trang 36

một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, tạo racác sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính

tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kếhoạch, đến việc thực hiện DA, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quảthực hiện Làm việc nhóm là hình thức làm việc cơ bản của DHDA

1.4.2 Đặc điểm của dạy học theo dự án

Theo [1], [7] DHDA gồm những đặc điểm:

- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của DA gắn với thực tiễn, kết quả của dự

án phải có ý nghĩa thực tiễn xã hội DH dự án tạo ra kinh nghiệm học tập thuhút người học vào những dự án phức tạp trong thực tiễn xã hội và người học sẽdựa vào đó để phát triển và ứng dụng các kĩ năng và kiến thức của mình

- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia đề xuất và chọn đề

tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân Ngoài ra,hứng thú của HS cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện DA

- Định hướng hành động: Khi thực hiện dự án, đòi hỏi HS phải kết hợp

giữa lý thuyết và thực hành, huy động nhiều giác quan Người học khám phá,giải thích, tổng hợp thông tin sao cho có được sản phẩm có ý nghĩa

- Định hướng sản phẩm: Sản phẩm của DA bao gồm những thu hoạch lí

thuyết, những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Nhữngsản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu

- Định hướng kĩ năng mềm: Làm việc theo DA sẽ hỗ trợ phát triển cả kĩ năng

tư duy siêu nhận thức lẫn tư duy nhận thức Đồng thời, HS còn có cơ hội hìnhthành và rèn luyện các kĩ năng mềm cần có của con người trong thế kỉ XXI

- Tính phức hợp: Nội dung DA có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực

hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp

- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các DA học tập góp phần gắn việc học tập

trong nhà trường với việc giải quyết các vấn đề củathực tiễn đời sống, xã hội

Trang 37

đoạn của quá trình DH: Đề xuất vấn đề, lập kế hoạch giải quyết vấn đề vàtrình bày kết quả thực hiện.

- Cộng tác làm việc: Trong hoạt động dự án có sự cộng tác làm việc

giữa các thành viên trong nhóm và sự cộng tác của GV với HS

1.4.3 Quy trình tổ chức cho HS học theo dự án

Hình 1.4 Quy trình tổ chức cho HS học theo dự án

1.5 Thực trạng việc dạy học theo mô hình giáo dục STEM và phát triển năng lựcgiải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh ở một số trường trung học phổ thông ở Hà Nội

1.5.1 Mục đích và nội dung điều tra

1.5.1.1 Mục đích điều tra

Đánh giá thực trạng việc tổ chức dạy học theo mô hình giáo dục STEMtrong dạy học môn Hóa học nói chung và phần Hóa học vô cơ lớp 11 nóiriêng nhằm phát triển NL GQVĐ và ST cho HS

1.5.1.2 Nội dung điều tra

- Điều tra nhận thức về NL GQVĐ và ST cũng như hiểu biết về mô hình

1.3 Lập kế hoạch các nhiệm vụ học tập

2.1 Thu thập thông tin 2.2 Xử lí thông tin 2.3 Tổng hợp thông tin

3.1 Xây dựng sản phẩm

3.2 Báo cáo trình bày sản phẩm

3.3 Đánh giá

Trang 38

- Thực trạng dạy học phát triển NLGQVĐ và dạy học theo mô hìnhSTEM Các VĐ điều tra được xác định và đưa vào nội dung các phiếu thamkhảo ý kiến GV và ý kiến HS được trình bày trong mục phụ lục số 1,2.

1.5.2 Đối tượng điều tra

- GV dạy môn Hóa học ở một số trường THPT thuộc Hà Nội

- HS lớp 11 ở trường THPT Vân Tảo và THPT Thường Tín – Hà Nội

1.5.3 Phương pháp điều tra

- Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi với GV và HS

1.5.4 Kế hoạch điểu tra

+ Xây dựng phiếu điều tra: Phiếu điều tra cho GV THPT (phụ lục 1),phiếu điều tra cho HS THPT (phụ lục 2)

+ Phát phiếu điều tra tới các HS lớp 11 của trường THPT Vân Tảo,THPT Thường Tín

+ Thống kê và xử lí kết quả điều tra

1.5.5 Phương pháp xử lí số liệu

Sau khi điều tra 24 GV và 212 HS khối 11 của 2 trường THPT Vân Tảo vàtrường THPT Thường Tín - Hà Nội chúng tôi đã thống kê kết quả để đánh giá

1.5.6 Kết quả và phân tích kết quả điều tra

1.5.6.1 Phân tích kết quả điều tra giáo viên

a) Về nhận thức, vai trò, tầm quan trọng của NL GQVĐ trong dạy học

Hình 1.5 Biểu đồ đánh giá của GV về tầm quan trọng của NL GQVĐ và ST

trong dạy học nói chung và môn Hóa học nói riêng.

Trang 39

Qua khảo sát 62,5 % GV cho rằng NL GQVĐ và ST cho rằng rất quantrọng; 37,5 % cho rằng quan trọng Tuy nhiên trong mục các ý kiến khác cũng

có mọt vài GV bổ sung thêm ý kiến: Đối với HS chỉ cần HS giải quyết đượcvấn đề thôi Mức sáng tạo chỉ dành cho HS khá giỏi

b) Đánh giá thực trạng vấn đề dạy học phát triển NL GQVĐ và ST của GV trong dạy học nói chung và môn Hóa học nói riêng

Hình 1.6 Biểu đồ đánh giá mức độ sử dụng dạy học phát triển NL GQVĐ và

ST trong dạy học nói chung và dạy học môn Hóa học nói riêng

Kết quả ở trên cho ta thấy: Về mức độ GV tiến hành dạy học phát triển

NL GQVĐ và ST thì chỉ có 25% GV thực hiện thường xuyên; 66,7% đôi khi;8,3 % hiếm khi Điều đó cho thấy số chỉ có ¼ GV quan tâm chú ý đến dạyhọc phát triển NL GQVĐ và ST còn lại đều rất ít quan tậm

Trang 40

c) Về việc sử dụng các hình thức và PPDH trong quá trình dạy học

Bảng 1.1 Mức độ sử dụng các hình thức tổ chức dạy học

Thường xuyên

Thỉnh thoảng Hiếm khi

Không bao giờ

Sử dụng tình huống thực tế 33,3% 62,5% 4,2% 0%

Tổ chức cho HS đi trải nghiệm

thực tế để tìm hiểu và giải quyết

Sử dụng phương tiện dạy

học hiện đại, đồ dùng dạy học

Chưa bao giờ

đồ dùng dạy học sáng tạo, 100% GV không thường xuyên tổ chức cho HS đitrải nghiệm thực tế để tìm hiểu và giải quyết các kiến thức được học

Ngày đăng: 06/07/2020, 20:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2014), Lí luận dạy học hiện đại- Cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Cơ sở đổimới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học
Tác giả: Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2014
4. Bộ giáo dục và ĐT , (2018) “Định hướng giáo dục STEM trong trường trung học” Tài liệu tập huấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Định hướng giáo dục STEM trong trường trunghọc
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Vụ giáo dục trung học, Chương trình phát triển trung học (2014). Tài liệu tập huấn, kiểm tra ĐG trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển NL HS trường trung học phổ thông môn HH, Hà Nội- lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình phát triểntrung học (2014). Tài liệu tập huấn, kiểm tra ĐG trong quá trình dạy họctheo định hướng phát triển NL HS trường trung học phổ thông môn HH
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo – Vụ giáo dục trung học, Chương trình phát triển trung học
Năm: 2014
6.Nguyễn Văn Biên, Tưởng Duy Hải (đồng Chủ biên), Trần Minh Đức, Nguyễn Văn Hạnh, Chu Cẩm Thơ, Nguyễn Anh Thuấn, Đoàn Văn Thược, Trần Bá Trình. (2019). Giáo dục STEM trong nhà trường phổ thông. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục STEM trong nhà trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Văn Biên, Tưởng Duy Hải (đồng Chủ biên), Trần Minh Đức, Nguyễn Văn Hạnh, Chu Cẩm Thơ, Nguyễn Anh Thuấn, Đoàn Văn Thược, Trần Bá Trình
Nhà XB: Nhà xuất bảnGiáo dục Việt Nam
Năm: 2019
7. Dự án Việt Bỉ. (2012). Dạy và học tích cực. Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực. Hà Nội: NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực. Một số phương pháp và kĩ thuậtdạy học tích cực
Tác giả: Dự án Việt Bỉ
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2012
8. Nguyễn Thị Kim Dung (2015), “Yêu cầu của xã hội thế kỉ 21 và những năng lực cốt lõi cần có đối với học sinh Việt Nam”. Tạp chí khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,Vol, No 8, 2015, Tr 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu của xã hội thế kỉ 21 và những nănglực cốt lõi cần có đối với học sinh Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung
Năm: 2015
13. Lê Thái Hưng, Vũ Phương Liên, Nguyễn Thị Hằng“Thử nghiệm đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh [Hoá học 10]” – Tạp chí Giáo dục, số 378 (kì 2 – 3/2016, trang 44 – 46, 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm đánh giá nănglực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh [Hoáhọc 10]"” – "Tạp chí Giáo dục
14. Trần Ngọc Huy, (2014) “Xây dựng và sử dụng bài toán nhận thức nhằm phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học phần hóa học hữu cơ lớp 11 nâng cao .Luận án Tiến sĩ trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và sử dụng bài toán nhận thức nhằmphát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo chohọc sinh thông qua dạy học phần hóa học hữu cơ lớp 11 nâng cao
15. Nguyễn Thành Hải (2018), Giáodục stem/steam từ trải nghiệm thực hành đến tư duy sáng tạo, Nhà xuất bản trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáodục stem/steam từ trải nghiệm thực hànhđến tư duy sáng tạo
Tác giả: Nguyễn Thành Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ
Năm: 2018
16. Kiều Thị Hải (2018) Phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh THPT thông qua dạy học STEM chương Cacbon- Silic”.Luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinhTHPT thông qua dạy học STEM chương Cacbon- Silic”
17. Hoàng Thị Thuý Hương (2015) “Xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH vô cơ nhằmphát triển năng lực sáng tạo trong việc bồi dưỡng HS giỏi hoá học ở trường”, luận án Tiến sĩ Khoa học giáo dục, chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học, bảo vệ tại trường ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH vô cơnhằmphát triển năng lực sáng tạo trong việc bồi dưỡng HS giỏi hoá học ởtrường”
18. Lê Thái Hưng, Vũ Phương Liên, Nguyễn Thị Hằng (2016), “Thử nghiệm đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh [Hoá học 10]” – Tạp chí Giáo dục, số 378 (kì 2 – 3/2016, trang 44 – 46, 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệmđánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh trong dạy học chương Oxi– Lưu huỳnh [Hoá học 10]"” – "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Lê Thái Hưng, Vũ Phương Liên, Nguyễn Thị Hằng
Năm: 2016
19. Nguyễn Công Khanh (2014), Kiểm tra và đánh giá trong giáo dục, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra và đánh giá trong giáo dục
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Nhà XB: NXB Đạihọc Sư phạm
Năm: 2014
20. Nguyễn Thanh Nga, Phùng Việt Hải, Nguyễn Quang Linh, Hoàng Phước Muội (2017). Thiết kế và tổ chức chủ đề giáo dục STEM, nhà xuất bản Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và tổ chức chủ đề giáo dục STEM
Tác giả: Nguyễn Thanh Nga, Phùng Việt Hải, Nguyễn Quang Linh, Hoàng Phước Muội
Nhà XB: nhà xuất bản Đạihọc sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2017
22. Đặng Thị Oanh (chủ biên), Phạm Hồng Bắc, Phạm Thị Bình, Phạm Thị Bích Đào, Đỗ Thị Quỳnh Mai (2018) , Dạy học phát triển năng lực môn Hóa học Trung học phổ thông, Nhà xuất bản ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: học phát triển năng lực môn Hóa họcTrung học phổ thông
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐHSP
23. Đặng Thị Oanh, Nguyễn Thị Sửu (2014), Phương pháp dạy học hoá học ở trường phổ thông, Nhà xuất bản ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học hoá học ởtrường phổ thông
Tác giả: Đặng Thị Oanh, Nguyễn Thị Sửu
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐHSP
Năm: 2014
24. Vũ Thị Ngọc Oanh, Đặng Thị Oanh,(2018); Tổ chức dạy học chủ đề”Xử lí nước ngầm thành nước sinh hoạt” theo mô hình STEM cho học sinh-Hóa học 11. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam; Số 7 tháng 7 - 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học chủ đề”Xử línước ngầm thành nước sinh hoạt” theo mô hình STEM cho học sinh-Hóahọc 11
25. Lê Xuân Quang (2016), “Một số vấn đề trong dạy học môn công nghệ theo định hướng giáo dục STEM”. Tạp chí khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 61 (6B), tr. 211-218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề trong dạy học môn công nghệ theođịnh hướng giáo dục STEM”
Tác giả: Lê Xuân Quang
Năm: 2016
26. Thủ tướng chính phủ. (2017). Về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Việt Nam: Chỉ thị số 16/CT-TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộcCách mạng công nghiệp lần thứ 4
Tác giả: Thủ tướng chính phủ
Năm: 2017
27. Nguyễn Thị Phương Thuý, Nguyễn Thị Sửu, Vũ Quốc Chung “Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh tỉnh Điện Biên thông qua dạy học dự án phần hiđrocacbon hoá học hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông” – Tạp chí khoa học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 2/2015, trang 91-101 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triểnnăng lực giải quyết vấn đề cho học sinh tỉnh Điện Biên thông qua dạy họcdự án phần hiđrocacbon hoá học hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông”" – "Tạpchí khoa học

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w