Nhận thức về mục tiêu phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên...55 2.5.2.. Khảo nghiệm về mức độ cần thi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN MINH
PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN TÂN UYÊN,
TỈNH LAI CHÂU
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã ngành: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN THỊ LỆ THU
HÀ NỘI - 2019
Trang 2Phó Giáo sư Tiến sĩ Trần Thị Lệ Thu - Nhà khoa học - Người thầy
mẫu mực, tâm huyết luôn cảm thông, chia sẻ những khó khăn của học trò, khích lệ, động viên, nhiệt tình hướng dẫn cho em trong quá trình nghiên cứu luận văn tốt nghiệp.
Trân trọng cảm ơn Thường trực Đảng ủy, HĐND, UBND, cán bộ các ban ngành, đoàn thể; cán bộ các cơ sở bản và cộng đồng các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu đã hỗ trợ, giúp đỡ để tác giả hoàn thành công trình nghiên cứu khoa học.
Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn nhiệt tâm ủng hộ tôi trong suốt chặng đường đã qua.
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: LÍ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Môi trường và bảo vệ môi trường 10
1.2.2 Giáo dục, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường 13
1.2.3 Cộng đồng 16
1.2.4 Dân tộc thiểu số 19
1.2.5 Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 21
1.3 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 22
1.3.1 Đặc điểm của cộng đồng người dân tộc thiểu số 22
1.3.2 Tầm quan trọng của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 24
1.3.3 Mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 25
1.3.4 Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 26
1.3.5 Phương pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 27
Trang 41.3.6 Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng
đồng người dân tộc thiểu số 28
1.3.7 Kết quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 29
1.4 Quá trình phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 30
1.4.1 Nguyên tắc phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 30
1.4.2 Các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 31
1.4.3 Mục tiêu phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 32
1.4.4 Nội dung phối hợp các lực lượng xã hội tham trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 33
1.4.5 Hình thức phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 35
1.4.6 Kiểm tra, đánh giá kết quả phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 35
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 36
Kết luận chương 1 37
Chương 2: THỰC TRẠNG PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU 38
2.1 Vài nét về huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 38
2.2 Giới hiệu về quá trình khảo sát thực trạng 39
2.1.1 Mục đích, nội dung và đối tượng khảo sát 39
2.1.2 Phương pháp khảo sát 40
2.1.3 Phương pháp xử lí số liệu 40
2.3 Thực trạng môi trường và nhận thức về tầm quan trọng của môi trường tại huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 41
2.3.1 Đánh gái về tình trạng môi trường tại huyện Tân Uyên 41
Trang 52.3.2 Nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường 41 2.3.3 Nhận thức về tầm quan trọng của môi trường đối với cuộc sống và hoạt động của cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên 43 2.4 Thực trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 44 2.4.1 Nhận thức về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên 44 2.4.2 Thực trạng thực hiện giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên 49 2.4.2.1 Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 49 2.4.2.2 Thực trạng thực hiện phương pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 51 2.4.2.3 Thực trạng thực hiện các hình thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 52 2.4.2.4 Thực trạng kết quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 54 2.5 Thực trạng quá trình phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo
vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên 55 2.5.1 Nhận thức về mục tiêu phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên 55 2.5.2 Thực trạng thực hiện nguyên tắc phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên 57 2.5.3 Thực trạng các lực lượng xã hội tham gia giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên 58 2.5.4 Thực trạng nội dung phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo
vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên 62 2.5.5 Thực trạng hình thức phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên 65 2.5.6 Thực trạng kết quả phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo
vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên 66 2.5.7 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo
Trang 6dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên
67
2.6 Đánh giá chung về thực trạng 70
2.6.1 Những kết quả đạt được 70
2.6.2 Hạn chế và nguyên nhân 71
Chương 3: BIỆN PHÁP PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN TÂN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU 74
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 74
3.2 Các biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu .76 3.2.1 Phối hợp các lực lượng xã hội trong bồi dưỡng nâng cao nhận thức của cộng đồng người dân tộc thiểu số về hoạt động bảo vệ môi trường 76
3.2.2 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 80
3.2.3 Phối hợp liên ngành bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động giáo dục bảo vệ môi cho cán bộ các cơ quan, Ban, Ngành, Đoàn thể 84
3.2.5 Thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số kết hợp chặt chẽ với công tác thi đua khen thưởng 87
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 90
3.4 Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 91
3.4.1 Khái quát chung về quá trình khảo nghiệm 91
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 93
Kết luận chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 107
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Đánh giá của cán bộ các cơ quan, Ban, Ngành, Đoàn thể và người dân
về tình trạng môi trường huyện Tân Uyên 41 Bảng 2.2 Đánh giá của cán bộ các cơ quan, Ban, Ngành, Đoàn thể và người dân
về nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường 42 Bảng 2.3 Nhận thức của cán bộ các cơ quan, Ban, Ngành, Đoàn thể và người
dân về tầm quan trọng của MT đối với cuộc sống và hoạt động của cộng đồng người dân tộc thiểu số 43 Bảng 2.4 Nhận thức của cán bộ, công chức các cơ quan, Ban, Ngành, Đoàn thể
và người dân về tầm quan trọng của giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người DTTS của huyện Tân Uyên 45 Bảng 2.5 Nhận thức về ý nghĩa của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng
đồng người dân tộc thiểu số các xã ven biển của huyện Tân Uyên 46 Bảng 2.6 Nhận thức về mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng
đồng người dân tộc thiểu số các xã ven biển của huyện Tân Uyên 47 Bảng 2.7 Đánh giá của cán bộ, công chức các cơ quan, Ban, Ngành, Đoàn thể
về mức độ thực hiện nội dung giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người DTTS của huyện Tân Uyên 49 Bảng 2.8 Đánh giá của người dân trong cộng đồng về mức độ thực hiện nội
dung giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số của huyện Tân Uyên 50 Bảng 2.9 Thực trạng phương pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng
đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 51 Bảng 2.10 Thực trạng các hình thức giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho
cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 52 Bảng 2.11.Đánh giá về kết quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng
đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 54
Trang 9Bảng 2.12: Nhận thức về mục tiêu phối hợp các lực lượng tham gia giáo dục ý
thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người DTTS 56 Bảng 2.13 Đánh giá về thực trạng thực hiện nguyên tắc phối hợp các LLXH
trong giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người DTTS 57 Bảng 2.14.Các lực lượng tham gia giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng
đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên 58 Bảng 2.15:Mức độ quan trọng của các lực lượng tham gia giáo dục ý thức bảo vệ
môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên 59 Bảng 2.16:Mức độ thực hiện của các lực lượng tham gia giáo dục ý thức bảo vệ
môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên 60 Bảng 2.17 Đánh giá thực trạng phối hợp giữa các lực lượng tham gia giáo dục ý
thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên 61 Bảng 2.18: Thực trạng các nội dung phối hợp các LLXH tham gia giáo dục ý
thức BVMT cho cộng đồng người DTTS 62 Bảng 2.19: Thực trạng các hình thức phối hợp các lực lượng xã hội tham
gia giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số 65 Bảng 2.20 Đánh giá về thực trạng hiệu quả phối hợp các lực lượng xã hội trong
giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người DTTS huyện Tân Uyên 65Bảng 2.21 Đánh giá về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đối với quá trình phối
hợp các lực lượng trong giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người DTTS huyện Tân Uyên 67 Bảng 2.22 Đánh giá về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đối với quá trình phối
hợp các lực lượng trong giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên 69
Trang 10Bảng 3.1 Đánh giá về tính cấp thiết của các biện pháp phối hợp các lực lượng
xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 93 Bảng 3.2 Đánh giá về tính khả thi của các biện pháp phối hợp các lực lượng xã
hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu 95
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Môi trường (MT) có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự tồn tại và phát triển củađời sống con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, củadân tộc và nhân loại, sự biển đổi một số thành phần môi trường sẽ gây tác động đáng
kể đối với các hệ sinh thái trong tự nhiên Tại Điều 1, Luật Bảo vệ môi trường củaViệt Nam nêu rõ “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạoquan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hướng tới đời sống, sản xuất,
sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” [12], vì thế môi trường có tầm ảnhhưởng quan trọng đến sự tồn tại, phát triển của đời sống con người và sinh vật, đến sựphát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của một quốc gia, của dân tộc và nhân loại Một khimôi trường sống bị hủy hoại thì loài người có nguy cơ bị hủy diệt, sự sống của conngười luôn gắn bó mật thiết với môi trường Môi trường ảnh hưởng trực tiếp đếnkhông gian sinh sống và cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho sự sống và hoạt độngsản xuất của con người
Tuy nhiên, hiện nay môi trường chúng ta sống đang bị ô nhiễm và ngày càngtrầm trọng, nó xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là do hoạtđộng của con người; sự mất gốc trong lối sống của chúng ta về suy nghĩ và hành động;
sự thiếu ý thức nghiêm trọng và sự thờ ơ của con người, nhiều người cho rằng việcmình làm là quá nhỏ bé không đủ để ảnh hưởng môi trường, một số người lại cho rằngbảo vệ môi trường (BVMT) không phải là trách nhiệm của cá nhân họ mà là tráchnhiệm của Nhà nước, của các cấp chính quyền, chính những suy nghĩ sai lệch nàylàm ảnh hưởng không nhỏ đến việc giáo dục cũng như tư duy bảo vệ môi trườngcủa các thế hệ trẻ về sau
Tân Uyên là một huyện miền núi còn nhiều khó khăn của tỉnh Lai Châu nói riêng
và của cả nước nói chung Tính đến nay, tổng dân số của Huyện là hơn 57 nghìnngười, trong đó, người dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm 85% Cộng đồng người dân tộcthiểu số hoạt động chủ yếu trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp Trong quá trình sảnxuất và đời sống, cộng đồng người dân tộc thiểu số sử dụng nhiều phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật và các loại vật dụng bằng nhựa… để phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp; xả
Trang 12thải nhiều túi ni lông và các chất thải khác ra môi trường; thêm vào đó, tình trạng phárừng, đốt rừng làm rẫy, đào đãi, khai thác khoáng sản (cát, đá, sỏi, vàng…) trái phép vẫncòn những diễn tiến phức tạp bên cạnh đó là phong tục tập quán, những hủ tục lạc hậunhư: nhốt gia súc, gia cầm dưới gầm sàn (nhà), để người chết quá 3 ngày trong nhà, không
có nhà vệ sinh, thói quen vứt rác thải sinh hoạt bừa bãi ra môi trường….Tất cả những điều
đó khiến cho môi trường sống và hoạt động của người dân trong huyện nói riêng và cácvùng lân cận ngày càng bị suy thoái Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên là do cộngđồng người dân tộc thiểu số chưa có được ý thức đầy đủ về môi trường và bảo vệ môitrường; các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan, ban ngành tại địa phương chưa tìm rađược biện pháp thực sự mang tính phù hợp và hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trườngcho cộng đồng người dân tộc thiểu số của Huyện Thực trạng này cần phải được giảiquyết bằng nhiều giải pháp mang tính đồng bộ, trong đó, giáo dục ý thức bảo vệ môitrường cho cộng đồng người DTTS dựa vào sự phối hợp của các lực lượng xã hội(LLXH) là một trong những giải pháp mang tính phù hợp trong bối cảnh hiện nay
Xuất phát từ những yêu cầu nói trên, tôi chọn Đề tài "Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu" để nghiên cứu với mong muốn nâng cao hiệu quả giáo
dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người DTTS, góp phần giảm thiểu ô nhiễmmôi trường, cải thiện điều kiện sống ở huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trườngcho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
Trang 134 Giả thuyết khoa học
Một bộ phận không nhỏ người dân trong cộng đồng người dân tộc thiểu số huyệnTân Uyên, tỉnh Lai Châu chưa thực sự có được ý thức đầy đủ về môi trường và bảo vệmôi trường Nếu phối hợp có hiệu quả các lực lượng xã hội bằng các biện pháp giáo dụcmang tính phù hợp trong việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng ngườidân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, thì công tác bảo vệ môi trường của trong cộng đồngngười dân tộc thiểu số ở địa phương sẽ chuyển biến tích cực
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận về phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ýthức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ýthức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnhLai Châu
5.3 Đề xuất biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo
vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
và tiến hành khảo nghiệm các biện pháp đề xuất
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu biện pháp phối hợp giữa Phòng Tài
nguyên và Môi trường; Đảng ủy, chính quyền cấp xã; cán bộ các cơ quan, Ban, Ngành,Đoàn thể huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
6.2 Về khách thể khảo sát: Khách thể là cán bộ, công chức Phòng Tài nguyên
và Môi trường; cán bộ, công chức UBND các xã, thị trấn; cán bộ các cơ quan, Ban,Ngành, Đoàn thể huyện và người dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Tân Uyên, tỉnhLai Châu
6.3 Về thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 4 năm 2019.
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Sử dụng nhóm phương pháp này nhằm thu thập và xử lí các tài liệu văn bản cóliên quan đến môi trường, bảo vệ môi trường, ý thức bảo vệ môi trường, cộng đồngngười dân tộc thiểu số, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc
Trang 14thiểu số, phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường chocộng đồng người dân tộc thiểu số.
- Các phương pháp được sử dụng bao gồm: Phương pháp phân tích và tổng hợp líthuyết, phương pháp phân loại và hệ thống hóa lí thuyết
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Sử dụng nhóm phương pháp này nhằm thu thập những thông tin về thực trạngphối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồngngười dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
- Các phương pháp được sử dụng bao gồm: Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi;phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động; phương pháp tổng kết kinh nghiệm,phương pháp phỏng vấn
7.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng nhóm phương pháp này nhằm xử lí kết quả điều tra, định lượng kết quảnghiên cứu của đề tài luận văn để rút ra các nhận xét khoa học khái quát về thực trạngphối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồngngười dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
- Các phương pháp được sử dụng bao gồm: Phương pháp sử dụng công thứctoán học như công thức tính giá trị phần trăm, công thức tính giá trị trung bình, độlệch chuẩn…
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:
Chương 1: Lí luận về phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệmôi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
Chương 2 Thực trạng phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môitrường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
Chương 3 Biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môitrường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu
Trang 15Chương 1
LÍ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG TRONG GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO CỘNG ĐỒNG NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Môi trường là một vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm của toàn Thế giới.Trong vài chục năm trở lại đây, sự phát triển kinh tế ồ ạt dưới tác động của cách mạngkhoa học kỹ thuật và sự gia tăng dân số quá nhanh đã làm cho môi trường bị biến đổichưa từng thấy Nhiều nguồn tài nguyên bị vắt kiệt, nhiều hệ sinh thái bị tàn phá mạnh,nhiều cân bằng trong tự nhiên bị rối loạn Môi trường lâm vào khủng hoảng với quy
mô toàn cầu, trở thành nguy cơ thực sự đối với cuộc sống hiện đại và sự tồn vong của
xã hội trong tương lai Để bảo vệ cái nôi sinh thành của mình, con người phải thựchiện hàng loạt các các vấn đề phức tạp, trong đó có vấn đề giáo dục BVMT Giáo dụcBVMT là một trong những biện pháp có hiệu quả nhất, giúp con người có nhận thứcđúng trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môitrường Nghiên cứu về môi trường và giáo dục môi trường nhận được sự quan tâm đặcbiệt của các nhà khoa học, của các tổ chức
Tháng 6 năm 1972: Hội nghị của Liên Hợp Quốc về con người và môi trườngđược tổ chức tại Stockhom, Thụy Điển được đánh giá là là hành động đầu tiên đánhdấu sự nỗ lực chung của toàn thể nhân loại nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường.Một trong những kết quả của hội nghị lịch sử này là sự thông qua bản tuyên bố vềnguyên tắc và kế hoạch hành động chống ô nhiễm môi trường Ngoài ra, Chương trìnhMôi trường của Liên Hợp Quốc cũng được thành lập
Chương trình IEEP (Chương trình giáo dục BVMT quốc tế) ra đời tại một hộithảo ở Belyrade năm 1972 Hội thảo đưa ra bản tuyên bố liên chính phủ lần đầu tiên vềgiáo dục BVMT Các mục đích, mục tiêu, những khái niệm cốt lõi và những nguyêntắc hướng dẫn của chương trình được đưa ra vào một văn kiện của hội thảo có tên là:
“Hiến chương Belyrade - một hệ thống nguyên tắc toàn cầu cho giáo dục BVMT”
Trang 16Một tập hợp các mục tiêu ngắn gọn, bao quát giáo dục BVMT được đưa ra tạiBelyrade có thể tóm tắt như sau:
- Nâng cao nhận thức và quan tâm tới mối quan hệ tương tác về kinh tế, xã hội,chính trị, sinh thái giữa nông thôn và thành phố
- Cung cấp cho mỗi cá nhân những cơ hội tiếp thu kiến thức những giá trị, quanniệm, trách nhiệm và những kỹ năng cần thiết nhằm bảo vệ và cải tạo môi trường
- Tạo ra những mô hình ứng xử với môi trường cho các cá nhân, các tổ chức,cũng như toàn xã hội
Tại Hội nghị liên chính phủ lần đầu tiên về giáo dục BVMT do UNESCO tổ chứctại Tbilisi (Liên Xô) năm 1977 có 66 thành viên các nước tham dự Hội nghị đưa racác ý kiến đóng góp cho việc áp dụng rộng rãi hơn nữa giáo dục BVMT trong chươngtrình giáo dục chính thức và không chính thức Sự kiện quan trọng này và những công
bố liên tiếp theo dự kiến hội nghị đã tiếp tục đóng góp cho hệ thống nguyên tắc của sựphát triển giáo dục BVMT trên toàn thế giới ngày nay
Năm 1984 : Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã ủy nhiệm cho bà Gro HarlemBrundtland , khi đó là Thủ tướng Na Uy , quyền thành lập và làm Chủ tịch Ủy banMôi trường và Phát triển Thế giới (World Commission on Environment andDevelopment - WCED), nay còn được biết đến với tên Ủy ban Brundtland Tới nay,
Ủy ban này đã được ghi nhận có những công hiến rất giá trị cho việc đẩy mạnh sựphát triển bền vững
Năm 1987 đánh dấu 10 năm kỷ niệm hôi nghị Tbilisi đầu tiên và Hội nghị nàymột loạt các vấn đề cơ bản được đưa ra thảo luận trong đó có tầm quan trọng đặtbiệt của giáo dục BVMT, với nội dung: Rốt cuộc là sẽ không có gì giảm được mối
đe doạ mang tính khu vực và quốc tế đối với môi trường trừ khi ý thức của đại đa
số quần chúng về mối liên quan thiết yếu giữa đặc trưng môi trường và tiếp tục thoảmãn các nhu cầu của con người được thức tỉnh Hoạt động của con người phụ thuộcvào động cơ, mà động cơ phụ thuộc vào sự hiểu biết của chúng Vì thế chúng tahiểu được tầm quan trọng tại sao mỗi người phải nhận thức môi trường đúng đắnthông qua giáo dục BVMT
Trang 17Cũng trong năm 1987, Uỷ ban thế giới về môi trường và sự phát triển đã có báo cáo
“Tương lai của chúng ta” (WCED, 1987) Bản báo cáo đã đưa ra một công bố chính
“Chương trình nghị sự toàn cầu” để nhất trí vấn đề môi trường với sự phát triển, và vì thế
đã tăng cường và mở rộng thực chất cuộc bảo tồn thế giới 1980 Giáo dục được coi làphần trọng tâm của Chương trình này “Sự thay đổi trong thái độ mà chúng ta cố gắng làmphụ thuộc các chiến dịch giáo dục lớn, các cuộc thảo luận và sự tham gia của quầnchúng” (WCED 1987)
Năm 1989 : Sự phát hành và tầm quan trọng của Our Common Futur đã đượcđưa ra bàn bạc tại Đại hội đồng Liên Hiệp quốc và đã dẫn đến sự ra đời của Nghịquyết 44/228 - tiền đề cho việc tổ chức Hội nghị về Môi trường và Phát triển củaLiên hiệp quốc
Năm 1992: Rio de Janeiro, Brasil là nơi đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh
về trái đất, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc(UNCED) Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản vàphát động một chương trình hành động vì sự phát triển bền vững có tên Chương trìnhNghị sự 21 (Agenda 21) Với sự tham gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giớicùng một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã đưa ra bản Tuyên ngônRio về môi trường và phát triển cũng như thông qua một số văn kiện như hiệp định
về sự đa dạng sinh học, bộ khung của hiệp định về sự biến đổi khí hậu, tuyên bố vềnguyên tắc quản lý, bảo tồn rừng và một dự kiến được đưa ra là mọi chính phủ phải
nổ lực phấn đấu để cập nhập hóa hoặc chuẩn bị các chiến lược nhằm mục đích kết hợpmôi trường và phát triển thành vấn đề trung tâm để đưa vào tất cả các cấp giáo dục
Năm 2002: Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững nhóm họp tạiJohannesburg, Nam Phi là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm 10 nămqua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra,tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên Những mục tiêu này bao gồm xóanghèo đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằmthay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiênnhiên Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn đề liên quan tới
Trang 18sức khỏe và phát triển Các đại diện của các quốc gia tham gia hội nghị cũng cam kếtphát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm 2005
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta, người đi đầu trong việc giáo dục BVMT cho thế hệ trẻ và nhân dân
là Chủ tịch Hồ Chí Minh; năm 1962, Bác đã phát động phong trào “ Trồng cây gây
rừng” trong cả nước Câu nói: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm
trồng người” đã để lại ý nghĩa sâu sắc trong lòng các thế hệ dân Việt Bác đã khái
quát được mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, giữa môi trường tự nhiên với môitrường xã hội
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục BVMT trong công cuộcxây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển kinh tế điđôi với bảo vệ môi trường và xã hội bền vững Nhiều văn bản quy phạm pháp luật đượcban hành nhằm thể chế hóa công tác giáo dục BVMT như Luật Bảo vệ môi trườngnăm 2005 đã được Quốc Hội thông qua
So với thế giới, việc giáo dục bảo vệ môi trường ở Việt Nam được thực hiệnmuộn hơn, mới chỉ được đề cập từ lần Cải cách giáo dục lần thứ 3 (năm 1979) Từ đóđến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề này, cụ thể như:
- Tác giả Võ Quý “Bảo vệ môi trường - điều tiên quyết để giảm nhẹ những
đau khổ con người và để phát triển bền vững” - Tuyển tập tóm tắt các công trình
khoa học 2005 [27]
- Tác giả Nguyễn Văn Thuần có đề tài “Một số giải pháp quản lý hoạt động giáo
dục bảo vệ môi trường cho học sinh THPT huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An” [28].
Tác giả nghiên cứu các giải pháp quản lý nhằm nâng cao các hoạt động giáo dục bảo
vệ môi trường cho học sinh Trung học phổ thông huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An
- Nguyễn Thị Thu Hằng (Đại học Quốc Gia Hà Nội), "Giáo dục môi trường thông
qua dạy học dự án, chương nhóm Cacbon – Hoá học 11 nâng cao", [11].Trần thị Hồng
Châu (Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh), "Giáo dục môi trường thông qua dạy
học hoá học lớp 10, 11 ở trường phổ thông", [5] Những luận văn trên đưa ra nội dung
và quy trình để thực hiện hiệu quả trong hoạt động giáo dục BVMT cho học sinhthông qua giảng dạy bộ môn ở bậc học Trung học phổ thông
Trang 19Ngoài ra, đã có một số đề tài luận văn Thạc sĩ Quản lí giáo dục nghiên cứu về
quản lý công tác giáo dục BVMT ở các trường phổ thông như: Trần Tự Trọng - Biện
pháp quản lí hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh trung học phổ thông vùng ven biển tỉnh Quảng nam - Đại học Đà Nẵng, [29] Nguyễn Tý - Biện Pháp quản lí công tác giáo dục môi trường ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng, [32] Các luận văn trên đã làm rõ mục tiêu
và nội dung giáo dục BVMT cho học sinh, trong đó trình bày cụ thể các các bước
để đạt mục tiêu và nội dung giáo dục BVMT cho học sinh, xác định phương phápdạy học, hình thức chung khi tổ chức các hoạt động nhằm giáo dục BVMT cho họcsinh trên địa bàn đạt hiệu quả cao
Luận văn của Đặng Hoàn Kiếm (Đại học Thái Nguyên - Trường Đại học sư
phạm), Tổ chức giáo dục môi trường cho học sinh trung học phổ thông, thông qua
khảo sát thực trạng ô nhiễm ở làng nghề huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình [18].
Luận văn nêu lên quy trình khảo sát để đưa ra thực trạng môi trường ô nhiễm ở làngnghề tại huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình và thực trạng nhận thức của đội ngũcán bộ quản lí, giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của môi trường và đưa ranhững giải pháp khắc phục trong đó giải pháp chủ đạo là nâng cao nhận thức củađội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, học sinh và người dân
Từ các nghiên cứu đó có thể có nhận xét như sau:
- Vấn đề giáo dục BVMT đã được quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứutrong và ngoài nước, tuy nhiên, các công trình đã có chủ yếu tập trung vào hướng giáodục BVMT cho học sinh phổ thông
- Giáo dục BVMT cho cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng người dân tộc thiểu sốchưa nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu
- Theo vốn hiểu biết của tác giả, cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu
nào về “Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu”.
Trang 201.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Môi trường và bảo vệ môi trường
1.2.1.1 Môi trường
Có nhiều khái niệm về môi trường và được hiểu theo các nghĩa khác nhau:
Trong Tiếng Anh, môi trường được viết “Environment”, Tiếng Pháp viết là
“L’environnement”, dịch theo nghĩa Tiếng Việt là “Bao quanh” Vì vậy, hiểu theonghĩa khái quát nhất “Môi trường của một vật thể hoặc một sự kiện, là tổng hợp các
sự kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới vật thể và sự kiện đó” Khái niệm này được cụthể hóa đối với những đối tượng và mục đích nghiên cứu khác nhau
Xét về nghĩa rộng, “Môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnhhưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện”
Tổ chức UNESCO cho rằng: “Môi trường sống của con người bao gồm toàn bộ hệ
thống tự nhiên và hệ thống do con người sáng tạo ra; trong đó, con người sống và bằng lao động của mình đã khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo cho phép để thỏa mãn các nhu cầu của con người”[33].
Theo tác giả Lê Văn Khoa, đối với cơ thể sống đã viết:“Môi trường là tổng hợp
những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể [19].
Tác giả Hoàng Đức Nhuận định nghĩa: “Môi trường bao gồm tất cả những gì
bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống, phát triển và sinh sản của sinh vật” [24].
Như vậy, ta có thể khái quát: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vậtchất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồntại và phát triển của con người và sinh vật hoặc môi trường là tổng hợp tất cả điềukiện xung quanh một điểm trong không gian và thời gian Môi trường là tổng hợptất cả các ngoại lực, ảnh hưởng, điều kiện tác động lên đời sống, tính chất, hành
vi, sự sinh trưởng, phát triển và trưởng thành của các cơ thể sống [19]
Điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường 2005 [26] định nghĩa: Môi trường bao gồm các
yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật.
Môi trường sống của con người thường được phân thành:
Trang 21- Môi trường tự nhiên: Bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh
học, tồn tại ngoài ý muốn của con người nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của conngười Đó là ánh sáng mặt trời, núi, sông, biển cả, không khí, động và thực vật, đất vànước, Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây nhà cửa, trồng cấy,chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản phục vụ cho sảnxuất và tiêu dùng
- Môi trường xã hội: Là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con
người Đó là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định ở các cấp khác nhau Môi trường xãhội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sứcmạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác vớicác sinh vật khác
Như vậy, môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tựnhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người như: Tài nguyênthiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội, Với nghĩahẹp, thì môi trường sống của con người chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và nhân tố
xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người như số m2 nhà ở,chất lượng bữa ăn hàng ngày, nước sạch, điều kiện vui chơi giải trí,
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì xung quanh chúng ta, tạo điều kiện đểchúng ta sống, hoạt động và phát triển
1.2.1.2 Bảo vệ môi trường
Hiện nay có các định nghĩa ‘‘bảo vệ môi trường’’ ở các mức độ và hàm ý khácnhau, từ nghĩa hẹp nhất như phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường, ví dụ nhưngăn chặn và loại bỏ các vấn đề ô nhiễm nước, không khí, chất thải, tiếng ồn, đất đai;đến việc tích cực bảo vệ nguồn tài nguyên hiện có khỏi thiệt hại từ bàn tay con người,nhưng tổng hợp lại, công việc bảo vệ môi trường bao gồm cả hai khía cạnh tích cực vàtiêu cực Khía cạnh tiêu cực ý chỉ ‘‘phòng ngừa ô nhiễm môi trường một cách thụđộng; tức lấy sự ô nhiễm đã có thông qua các công cụ khoa học và công nghệ để giảmthiểu tác động đến môi trường hoặc để ngăn chặn xảy ra" Nhưng khía cạnh tích cựchay còn gọi là bộ phận ‘‘bảo tồn thiên nhiên’’, chỉ sự kiểm soát các hoạt động quyhoạch, bảo vệ các nguồn tài nguyên quý hiếm, xây dựng các vườn quốc gia của cộng
Trang 22đồng và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng khác để đạt được việcbảo vệ và bảo tồn tài nguyên môi trường.
Như vậy, Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành,sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môitrường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sửdụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học
Theo Khoản 3, Điều 3, Luật bảo vệ môi trường 2014 có chỉ rõ: ‘‘Hoạt động bảo
vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái; cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành’’.
Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống nhất quản
lý bảo vệ môi trường trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường, có tráchnhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ,phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường Luật bảo vệ môi
trường của Việt Nam ghi rõ trong Điều 6: ‘‘Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn
dân Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường, có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường’’.
Bảo vệ môi trường phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và đảm bảo tiến bộ
xã hội để phát triển bền vững đất nước, bảo vệ môi trường quốc gia phải gắn liền vớibảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu
Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, là quyền và trách nhiệm của cơquan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
Bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính kết hợp với khắcphục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường
Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử,trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương trong từng giai đoạn
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm môi trường có trách nhiệm khắc phục,bồi thường thiệt hại và chịu trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
Trang 23Hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển tổ chức ở Rio deJaneiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tổchức ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định :
- Bảo vệ môi trường (quan trọng nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi vàcải thiện chất lượng môi trường; phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý
và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) là một trong 3 yếu tố cấu thành của pháttriển bền vững
1.2.2 Giáo dục, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
1.2.2.1 Giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng XH đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnhhội kinh nghiệm lịch sử - XH của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệnối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc của nhân loại được kế thừa, bổ sung
và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên Các nhà nghiên cứu giáodục đã đưa ra nhiều định nghĩa về giáo dục:
Trong Giáo trình Giáo dục học do tác giả Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên) [25] đãcho rằng “Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nộidung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trongcác cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho họ"
Tác giả Nguyễn Lân [20] cho rằng:“Giáo dục là một quá trình có ý thức có mụcđích, có kế hoạch nhằm truyền cho lớp mới những kinh nghiệm đấu tranh và sảnxuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, để họ có thể có đầy đủ khảnăng tham gia vào đời sống và đời sống xã hội”
Trong cuốn Giáo dục học đại cương 1, tác giả Nguyễn Sinh Huy (chủ biên) [17]lại tiếp cận khái niệm Giáo dục (theo nghĩa rộng) ở phạm vi rộng hơn: "Giáo dục là sựhình thành có mục đích và có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của conngười, hình thành thế giới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mĩ cho con người";với nghĩa rộng nhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả nhữngyếu tố khác tạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng yêu cầucủa kinh tế xã hội
Trang 24Từ các định nghĩa trên, ta có thể hiểu một cách chung nhất: Giáo dục là hoạt độngchuyển giao hệ thống tri thức cho thế hệ sau nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách cánhân - XH, đảm bảo sự tồn tại và phát triển XH Khái niệm GD còn được phân nhỏ vềngoại diên và nội hàm thành các khái niệm: GD nhà trường, GD gia đình, giáo dục XH;
về nội dung GD thì có: GD ý thức công dân, GD văn hoá - thẩm mỹ, GD lao động,hướng nghiệp, giáo dục thể chất - quân sự, GD dân số, GD giới tính, GD phòng chống
ma tuý giáo dục BVMT
GD được coi là khởi nguồn của sự phát triển Không có GD thì không có bất cứ
sự phát triển nào đối với con người, đối với kinh tế, văn hoá Chính nhờ có GD mà các
di sản tư tưởng và kỹ thuật của các thế hệ trước được truyền lại cho thế hệ sau Các disản này được tích luỹ ngày càng phong phú làm cho xã hội phát triển
Thông qua quá trình tương tác giữa người giáo dục và người được giáo dục đểhình thành nhân cách toàn vẹn (hình thành và phát triển các mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm
mĩ, thể chất, lao động) cho người được giáo dục
1.2.2.2 Ý thức bảo vệ môi trường
Ý thức là hình thức phản ánh tâm lí cao nhất chỉ có ở người, được phản ánh bằngngôn ngữ, là khả năng con người hiểu được các tri thức, các hiểu biết mà con người đãtiếp thu được trong quá trình quan hệ qua lại với thế giới khách quan
Về mặt nhận thức của ý thức: con người có khả năng nhận thức được thế giới từcái bên ngoài trực tiếp đến cái bên trong gián tiếp bằng ngôn ngữ để hiểu khái quát bảnchất của sự vật, hay là từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính
Về mặt thái độ của ý thức: là khả năng tỏ thái độ lựa chọn, thái độ đánh giá, thái
độ cảm xúc của con người đối với thế giới mà con người nhận thức
Về mặt năng động của ý thức: là khả năng điều khiển, điều chỉnh thái độ, hành vicủa mình đối với hiện thực trên cơ sở nhận thức
Ý thức bảo vệ môi trường là khả năng nhận thức, sự hiểu biết của con người vềmôi trường được biểu hiện cụ thể qua các hành vi bảo vệ môi trường bao gồm nhữnghoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng hệ sinh thái.Ngăn chặn, khắc phục các hậu quả gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh Tiếtkiệm tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho mục đích phát triển khác
Trang 25Ý thức là việc cần được xây dựng theo một quá trình và để nó dần dần trở thànhmột thói quen cho mỗi người Do đó việc xây dựng ý thức về bảo vệ môi trường cầnphải thực hiện một cách nghiêm túc trong cả một hệ thống từ các nhà trường, gia đình
và xã hội
Ý thức bảo vệ môi trường được thực hiện từ những việc nhỏ nhặt nhất, trước nhất
là đảm bảo vệ sinh nơi cộng đồng đang sinh sống, chủ động và tự giác trong việc thugom rác thải, không xả rác bừa bãi ra ngoài môi trường; tăng cường trồng cây xanh đểđảm bảo cân bằng sinh thái; trong việc bảo vệ môi trường nông thôn không chăn nuôigia súc thả rông, nuôi nhốt gia súc dưới gầm sàn
1.2.2.3 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
Hiệp hội Hệ sinh thái Nhật Bản (2001) đã định nghĩa: “Giáo dục môi trường là
lĩnh vực giáo dục có ước mơ kết nối chúng ta với thế hệ mai sau”.
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường là một quá trình tác động nhằm hình thành vàphát triển ở người được giáo dục những kiến thức kĩ năng về môi trường giúp cho họhiểu được bản chất phức tạp của hệ thống môi trường và ý nghĩa thiết thực của việcbảo vệ môi trường từ đó nâng cao được nhận thức của con người giúp con người cónhững thái độ, hành vi đối xử thân thiện hơn với môi trường, có ý thức trách nhiệmhơn trong việc tham gia bảo vệ môi trường
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường nhằm giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có
sự hiểu biết và nhạy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó (nhận thức); nhữngkhái niệm cơ bản về môi trường và bảo vệ môi trường (kiến thức); những tình cảm,mối quan tâm trong việc cải thiện và bảo vệ môi trường (thái độ, hành vi); những kĩnăng giải quyết cũng như cách thuyết phục các thành viên khác cùng tham gia (kĩnăng); tinh thần trách nhiệm trước những vấn đề về môi trường và có những hànhđộng thích hợp giải quyết vấn đề (tham gia tích cực)
Về khái niệm giáo dục ý thức BVMT, hiện nay có thể phân chia thành hai loạinhư sau:
- Thứ nhất, giáo dục ý thức BVMT được định nghĩa là quá trình hình thành cho
người học những hiểu biết, tri thức về môi trường và các vấn đề liên quan Tiêu biểu
cho kiểu định nghĩa này là định nghĩa của Mỹ nêu trong Luật GDMT (1970): “GDMT
Trang 26là quá trình giúp cho người học hiểu được mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bao quanh, nhận thức được các vấn đề về dân
số, ô nhiễm, bảo toàn thiên nhiên, phát triển đô thị và nông thôn…có ảnh hưởng đến môi trường con người như thế nào?”.
- Loại định nghĩa thứ hai, không chỉ đề cập đến vấn đề liên quan mà còn quan
tâm đến những hành vi bảo vệ và cải thiện môi trường Do đó, Hiệp Hội quốc tế về
bảo vệ tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN-1970) đã định nghĩa: “GDMT là một
quá trình hình thành những nhận thức, hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội bao quanh con người Hơn nữa GDMT cũng đòi hỏi hình thành ở người học khả năng quyết định và những hành động liên quan tới chất lượng môi trường”.
Như vậy, GDBVMT là quá trình tác động có mục đích giúp cho người học hiểubiết về môi trường, những ảnh hưởng của môi trường đến đời sống con người, từ đó cónhững hành động thiết thực bảo vệ môi trường
1.2.3 Cộng đồng
Cộng đồng (community) được hiểu theo nghĩa chung nhất là: “một cơ thể sống/
cơ quan/ tổ chức nơi sinh sống và tương tác giữa cái này với các khác” Trong kháiniệm này, điều đáng chú ý, được nhấn mạnh: cộng đồng là “cơ thể sống”, có sự “tươngtác” của các thành viên Tuy nhiên, các nhà khoa học, trong khái niệm này không chỉ
cụ thể “cái này” với “cái khác” là cái gì, con gì Đó có thể là các loại thực vật, cũng cóthể là các loại động vật, cũng có thể là con người - cộng đồng người
Cộng đồng người có tính đa dạng, tính phức tạp hơn nhiều so với các cộng đồngsinh vật khác Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng có nhiều tuyến nghĩa khácnhau đồng thời cộng đồng cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa họckhác nhau: xã hội học, dân tộc học, y học…
Khi nói tới cộng đồng người, người ta thường quy vào những “nhóm xã hội” cócùng một hay nhiều đặc điểm chung nào đó, nhấn mạnh đến đặc điểm chung củanhững thành viên trong cộng đồng
Theo từ điển xã hội học của Harper Collins, cộng đồng được hiểu là “mọi phứchợp các quan hệ xã hội được tiến hành trong lĩnh vực kinh cụ thể, được xác định về
Trang 27mặt địa lý, hàng xóm hay những mối quan hệ mà không hoàn toàn về mặt cư trú, màtồn tại ở một cấp độ trừu tượng hơn”.
Theo quan điểm Mác - Xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân,được quyết định bởi sự cộng đồng hóa lợi ích giống nhau của các thành viên về các điềukiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạtđộng sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi các cá nhân về tưtưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ về cácmục tiêu và phương tiện hoạt động
Quan niệm về cộng đồng theo quan điểm Mác - Xít là quan niệm rất rộng, có tínhkhái quát cao, mang đặc thù của kinh tế - chính trị Dấu hiệu đặc trưng chung củanhóm người trong cộng đồng này chính là “điều kiện tồn tại và hoạt động”, là “lợi íchchung”, là “tư tưởng”, “tín ngưỡng” “giá trị”chung…thực chất đó là cộng đồng mangtính giai cấp, ý thức hệ
Theo UNESCO: Cộng đồng là một tập hợp người có cùng chung một lợi ích, cùnglàm việc vì một mục đích chung nào đó và cùng sinh sống trong một khu vực xác định.Những người chỉ sống gần nhau, không có sự tổ chức lại thì đơn thuần chỉ là sự tập trungcủa một nhóm các cá nhân và không thực hiện các chức năng như một thể thống nhất
Xuất phát từ tiếng La tinh, “cộng đồng” - communis có nghĩa là “chung/công
cộng/được chia sẻ với mọi người hoặc nhiều người” Đặc điểm/ dấu hiệu chung củacộng đồng này chính là đặc điểm để phân biệt nó với cộng đồng khác
Dấu hiệu/ đặc điểm để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác có thể là bất
cứ cái gì thuộc về con người và xã hội loài người, màu da, đức tin, tôn giáo, lứa tuổi,ngôn ngữ, nhu cầu, sở thích nghề nghiệp… nhưng cũng có thể là vị trí địa lý của khuvực (địa vực), nơi sinh sống của nhóm người đó như làng, xã, quận, huyện, quốc gia,châu lục… Những dấu hiệu này chính là những ranh giới để phân chia cộng đồng.Tóm lại, trong đời sống xã hội, cộng đồng là một danh từ chung chỉ tập hợpngười nhất định nào đó với hai dấu hiệu quan trọng: 1/ họ cùng tương tác với nhau; 2/
họ cùng chia sẻ với nhau (có chung với nhau) một hoặc một vài đặc điểm vật chất haytinh thần nào đó
Trang 28* Phân loại cộng đồng
Tùy theo mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại cộng đồng theo những dấu hiệu
khác nhau Trong một số tài liệu, người ta lại chia cộng đồng theo 2 nhóm như sau [21]:
- Nhóm cộng đồng theo địa vực: thôn xóm, làng bản, khu dân cư, phường xã,quận huyện, thị xã, thành phố, khu vực, châu thổ cho đến cả quả địa cầu của chúng ta
Ở nước ta, ở quy mô tỉnh, thành phố thì chúng ta có 63 tỉnh, thành phố, theo quy mô
xã phường thì chúng ta có trên chục ngàn xã, phường, ở quy mô thôn xóm, khu dân cư(nhỏ hơn xã phường) thì chúng ta có hàng trăm ngàn cộng đồng
- Nhóm cộng đồng theo nền văn hóa: nhóm này bao gồm: cộng đồng theo hệ tưtưởng, văn hóa, tiểu văn hóa, đa sắc tộc, dân tộc thiểu số… Nhóm này cũng có thể baogồm cả cộng đồng theo nhu cầu và bản sắc như cộng đồng người khuyết tật, cộng đồngngười cao tuổi
- Nhóm cộng đồng theo tổ chức: được phân loại từ các tổ chức không chính thứcnhư tổ chức gia đình, dòng tộc, hội hè cho đến những tổ chức chính thức chặt chẽ hơnnhư các tổ chức đoàn thể, các tổ chức chính trị, tổ chức hành chính nhà nước, tổ chứckinh tế, tổ chức hiệp hội nghề nghiệp, xã hội… từ phạm vi nhỏ ở một đơn vị hoặctrong phạm vi quốc gia cho đến phạm vi quốc tế
Cũng có thể phân loại cộng đồng theo đặc điểm khác biệt về kinh tế - xã hội:
- Cộng đồng khu vực đô thị
- Cộng đồng nông thôn
Trong bối cảnh Việt Nam, cộng đồng được hiểu là một chỉnh thể thống nhất baogồm những người dân (dân cư) sinh sống trong đơn vị hành chính cơ sở: xã (địa bànnông thôn), phường (địa bàn thành thị) hay đơn vị hành chính dưới xã, phường, đó làthôn/ làng, bản (địa bàn nông thôn/ nông thôn miền núi) và tổ dân cư/ khu dân cư (địabàn thành thị) cùng với hệ thống các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh
tế, tổ chức nghề nghiệp… mà những người dân đó là thành viên dưới sự lãnh đạo củaĐảng và sự quản lí của Nhà nước
Trang 291.2.4 Dân tộc thiểu số
Tùy theo bộ môn, lĩnh vực nghiên cứu hay quan điểm của mỗi quốc gia, dântộc thiểu số (minorité ethnique ethnic) là thuật ngữ có nhiều định nghĩa khac nhautrên thế giới
Năm 1992, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua thuât ngữ “dân tộc thiểusố’’trên cơ sở dựa vào quan điểm của Gs Francesco Capotorti (đặc phái viên của LiênHợp Quốc) đã đưa ra vào năm 1977: “dân tộc thiểu số là thuật ngữ ám chỉ cho mộtnhóm người: (a) Cư trú trên lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền mà họ là côngdân của quốc gia này; (b) Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinhsống; (c) Thể hiện bản sắc riêng về chủng tộc, văn hóa, tôn giáo và ngôn ngữ của họ;(d) Đủ tư cách đại diện cho nhóm dân tộc của họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốcgia này hay tại một khu vực của quốc gia này; (e) Có mối quan tâm đến vấn đề bảotồn bản sắc chung của họ, bao gồm cả yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo vàngôn ngữ của họ”
Tòa án công lý quốc tế thường trực (PCIJ) đưa ra định nghĩa về dân tộc thiểu số:
“Cộng đồng thiểu số là một nhóm những người sống trên một quốc gia hoặc một địa
phương nhất định, có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ
và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau và có quan điểm thống nhất trong việc bảo lưu những yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín ngưỡng và hướng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo tinh thần và truyền thống chủng tộc của họ”.
Cũng có khái niệm rằng: Người thiểu số là một nhóm người, xét về mặt số lượng,
ít hơn so với phần dân cư còn lại của quốc gia, có vị thế yếu trong xã hội, những thànhviên của nhóm - mà đang là công dân của một nước
Một định nghĩa khác về người thiểu số, đó là một nhóm công dân của một quốcgia, ít về mặt số lượng và yếu về vị thế trong quốc gia đó, mang những đặc trưng vềchủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ mà tạo sự khác biệt so với nhóm dân cư đa số, có một
ý thức thống nhất, động cơ rõ rệt trong việc sử dụng ý chí tập thể để tồn tại và đạtđược mục tiêu bình đẳng với nhóm dân cư đa số, cả trên phương diện pháp luật vàthực tiễn
Trang 30Như vậy, các khái niệm đưa ra không hoàn toàn giống nhau, điều này cho thấytính chất phức tạp của vấn đề người thiểu số trên thế giới Tổng hợp những thuộc tínhđược nêu ra từ các định nghĩa trên và nội dung các văn kiên quốc tế có liên quan vềvấn đề người thiểu số, có thể thấy, về mặt khách quan, người thiểu số có những đặcđiểm: Về số lượng (ít, thiểu số khi so sánh với nhóm đa số cùng sinh sống trên lãnhthổ); về vị thế xã hội (là nhóm yếu thế trong xã hội thể hiện ở tiềm lực, vai trò ảnhhưởng của nhóm tới đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ở lãnh thổ nơi họ sinh sống); vềbản sắc (có những đặc điểm riêng về mặt chủng tộc, dân tộc, ngôn ngữ, phong tục, tậpquán); về vị thế pháp lý (có thể là công dân hoặc kiều dân của quốc gia nơi họ đangsinh sống) Về mặt chủ quan, nhóm cộng đồng có ý thức bảo tồn truyền thống văn hóacủa mình.
Ở Việt Nam, khái niệm “Dân tộc thiểu số” được sử dụng rộng rãi trong các vănbản pháp luật cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và trong hoạt động thựctiễn Thuật ngữ này cũng được sử dụng chính thức trong các văn bản hiến pháp Nghịđịnh 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa ra khái niệm tại khoản 2
Điều 4 như sau: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa
số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; khoản 3, Điều 4:
“Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước theo điều tra dân số quốc gia’’
Căn cứ vào kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở quốc gia 2009, việt Nam có 54dân tộc sinh sống trên lãnh thổ của cả nước, trong đó có 53 dân tộc thiểu số với số dân12,253 triệu người (chiếm 14,3%) Rõ ràng quan niệm về “dân tộc thiểu số” và “dântộc đa số” cũng như nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chưa thống nhất
và nó cũng được vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tùy theoquan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc Song nhữngnội dung được quan niệm như đã phân tích ở phần trên về cơ bản là tương đối thốngnhất không chỉ ở nước ta mà trong cả giới nghiên cứu dân tộc học trên thế giới
Trang 311.2.5 Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
* Lực lượng xã hội
Theo vốn hiểu biết của người nghiên cứu, cho đến nay, chưa có tài liệu nghiên
cứu, chưa có tác giả nào đề cập một cách rõ ràng về khái niệm “ Lực lượng xã hội”.
Tuy nhiên, từ những tài liệu đã có tác giả cho rằng: Lực lượng xã hội là tập hợpnhững cá nhân và tập thể tích cực, cùng sinh sống trên một địa bàn cư trú, một thời
kì cụ thể và có cùng chung mục đích xây dựng và phát triển xã hội ngày càng tốtđẹp hơn
* Phối hợp
Theo từ điển Tiếng Việt “Phối hợp là cùng chung góp, cùng hành động ăn khớp
để hỗ trợ cho nhau”.
Theo quan niệm thông thường: Phối hợp là hoạt động cùng nhau của hai haynhiều cá nhân, tổ chức để hỗ trợ cho nhau thực hiện một công việc chung
* Phối hợp các lực lượng xã hội
Sự phối hợp các LLXH được hiểu là sự hợp tác, trao đổi, cùng thống nhất hànhđộng và hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ chung của các lực lượng trong xã hội
* Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
Cho đến nay, chưa có tác giả nào, chưa có tài liệu nghiên cứu nào đề cập đến
khái niệm “Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số”, tuy nhiên, căn cứ vào những khái niệm có liên quan đã có chúng ta quan niệm rằng:
Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số được hiểu là quá trình hợp tác, trao đổi, cùng thống nhất hành động và hỗ trợ nhau thực hiện mục tiêu và các nhiệm vụ giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số giữa các lực lượng giáo dục trong cộng đồng với những cá nhân và tập thể tích cực, cùng sinh sống trên một địa bàn cư trú, một thời kì cụ thể.
Trang 321.3 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
1.3.1 Đặc điểm của cộng đồng người dân tộc thiểu số
* Mọi quốc gia trên thế giới đều có những cộng đồng người dân tộc thiểu số củariêng họ Vì vậy, cộng đồng người dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng mang những đặcđiểm chung của người dân tộc thiểu số, đó là:
(1) Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế Các mối quan hệ kinh tế là cơ
sở liên kết các bộ phận, thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộngđồng dân tộc;
(2) Có thể tập trung cư trú trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia hoặc cư trúđan xen với nhiều dân tộc anh em;
(3) Có tiếng nói và có thể có chữ viết riêng làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnhvực: kinh tế, văn hóa, tình cảm
(4) Có nét tâm lý riêng (gọi chung là tâm lý dân tộc), được biểu hiện kết tinhtrong nền văn hóa dân tộc, tạo nên bản sắc riêng của nền văn hóa dân tộc, gắn bó vớinền văn hóa của cả quốc gia
* Ngoài những đặc điểm chung như trên, do sự khác biệt về yếu tố lịch sử, địa lý,văn hóa mà cộng đồng người dân tộc thiểu số ở Việt Nam còn có một số đặc điểmđặc trưng sau:
(1) Các dân tộc thiểu số khác nhau về nguồn gốc, lịch sử hình thành và phát triển;(2) Các dân tộc thiểu số đan xen, không có lãnh thổ tộc người riêng biệt, phân bốchủ yếu ở những địa bàn có vị trí quan trọng, chiến lược về an ninh quốc phòng, vùngmiền núi cao, cao nguyên, biên giới ;
(3) Các dân tộc thiểu số có quy mô dân số và trình độ phát triển kinh tế xã hộikhông đồng đều;
(4) Nhiều dân tộc thiểu số có tín ngưỡng tôn giáo đan xen, đa dạng;
(5) Một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số có quan hệ đồng tộc, thân tộc, tôngiáo ngoài biên giới quốc gia;
(6) Người dân tộc thiểu số thường có ý thức tộc người sâu sắc, chịu sự chi phốicủa những người có uy tín trong dân tộc mình;
(7) Mỗi dân tộc thiểu số ở Việt Nam có sắc thái văn hóa riêng, góp phần làm nên
Trang 33sự đa dạng, phong phú của nền văn hóa Việt Nam thống nhất.
* Trong các đặc điểm trên, có một số đặc điểm chi phối mạnh mẽ đến nhận thức
và thói quen kết hôn của người dân tộc thiểu số Cụ thể là:
- Do đời sống vật chất và tinh thần còn nhiều khó khăn, chủ yếu phụ thuộc vào tựnhiên nên suy nghĩ của người dân tộc thiểu số còn mê muội Họ cho rằng, hôn nhân làquy luật của tạo hóa, là lẽ hết sức tự nhiên của trời đất, mà cái đích cuối cùng là đểthỏa mãn nhu cầu sinh con, duy trì nòi giống gia đình, họ hàng Vì vậy, cứ để các mốiquan hệ, trong đó có quan hệ hôn nhân, tự nhiên diễn ra, không cần thiết phải tạo ra
“vùng cấm”, tính đến các đối tượng được phép hay không được phép tham gia vào mốiquan hệ này
- Đời sống kinh tế lạc hậu, kém phát triển làm hình thành ở người dân những suynghĩ lệch lạc về hôn nhân Do tính chất công việc lao động chân tay là chủ yếu nên hầuhết đồng bào dân tộc thiểu số coi việc kết hôn, lấy vợ lấy chồng là để trong gia đình cóthêm người lao động Mà càng là người trong một nhà, một họ thì sức lao động cũngnhư thành quả lao động (tài sản) càng không bị hao hụt, chia sẻ với người ngoài Từ
đó, nam nữ thanh niên được khuyến khích yêu nhau, lấy nhau rồi sinh con đẻ cái,không phân biệt huyết thống
Thậm chí, họ mong muốn có nhiều con cái không chỉ để tăng thêm lực lượng laođộng mà còn góp phần làm thay đổi quy mô gia đình về số lượng, vị thế và uy tín giađình đối với cộng đồng xã hội (gia đình càng đông anh em, con cháu là người nội tộcthì càng là gia đình có sức ảnh hưởng lớn với cộng đồng)
- Về nguyên tắc kết hôn, đa số dòng họ dân tộc tuân theo hôn nhân truyền thống,tức là xem xét yếu tố huyết thống xa hay gần để không phạm phải các điều cấm kịtruyền thống tộc người đã đúc rút truyền lại (nguyên tắc ngoại hôn dòng họ)
Tuy nhiên cũng có một số dòng họ cho rằng lấy người khác tộc sẽ gặp nhiều khókhăn trong cuộc sống gia đình cũng như trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạthàng ngày, vì họ không biết phong tục dân tộc mình, không biết thờ cúng “ma” nhàmình Với những gia đình có của ăn của để thì họ không tin đồng bào dân tộc khác,không muốn của cải, ruộng nương, gia súc bị chia cho dòng họ khác nên chỉ chấp nhậncho con cháu, anh em trong dòng họ lấy nhau
Trang 34- Hôn nhân của đồng bào dân tộc chịu ảnh hưởng bởi phong tục và tập quán sinhhoạt của họ Mỗi dân tộc lại có phong tục tập quán riêng Phong tục về hôn nhân vàgia đình là thói quen đã thành nếp, hình thành trong những điều kiện kinh tế, xã hộinhất định, thể hiện đậm nét nếp sống, quan niệm của từng địa phương, dân tộc trongviệc kết hôn.
1.3.2 Tầm quan trọng của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm củachính quyền địa phương, các cấp các ngành tích cực đi đầu trong công tác quản lý, sửdụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên; chủ động các biện pháp ứngphó với biến đổi khí hậu, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, thay đổi hành vi, hủtục lạc hậu ảnh hưởng xấu đến môi trường và chấp hành các quy định pháp luật về bảo
vệ môi trường
Giúp cho cộng đồng các dân tộc thiểu số hiểu biết được bản chất của các vấn đềmôi trường như: tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, tính hạn chế của tàinguyên thiên nhiên và khả năng chịu tải của môi trường, mối quan hệ chặt chẽ giữamôi trường và sự phát triển của cộng đồng và xã hội
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sẽ giúp cho cộng đồng các dân tộc thiểu số sẽnhận thức được ý nghĩa cũng như tầm quan trọng của các vấn đề môi trường Xem đónhư là một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển đối với bản thân mỗi cánhân cũng như đối với cộng đồng xã hội Từ đó sẽ thay đổi thái độ, hành vi, cách cư
xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường, xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn về
ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường nhằm trang bị cho cộng đồng các dân tộcthiểu số những kiến thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lựctrong việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lý vàkhôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên, để từ đó có thể tham gia hiệu quả vàoviệc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể nơi ở và nơi làm việc
Trang 35Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường hoàn toàn không tách rời những giá trị vềkiến thức, kinh nghiệm thực tế và cách thức thực hiện của từng địa phương hay khuvực về một quá trình tạo lập và phát triển bền vững Những thông tin, kiến thức về môitrường được tích lũy trong mỗi cá nhân sẽ nuôi dưỡng và nâng cao ý thức, tinh thầntrách nhiệm về bảo vệ môi trường của chính bản thân, tạo nên những động cơ mạnh
mẽ, những cam kết vững chắc hướng về môi trường trong lành và phát triển trongtương lai
Mục đích cuối cùng của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường là tiến tới xã hội hóacác vấn đề môi trường, nghĩa là tạo ra các công dân có nhận thức, có trách nhiệm vớimôi trường, biết sống vì môi trường
1.3.3 Mục tiêu giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích của con người nhằm giúpcho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự chuyển biến tích cực tư nhận thức đến thái độ,tình cảm và những hành động tương ứng đối với những vấn đề của xã hội trong hiệntại và tương lại Mục đích giáo dục được cụ thể thành các mục tiêu giáo dục cụ thểtương ứng với các mặt kiến thức; thái độ, tình cảm và kĩ năng, hành vi, thói quen.Giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số cũng mang nhữngđặc tính chung của quá trình giáo dục Mục đích của quá trình giáo dục BVMT cho cộngđồng người dân tộc thiểu số là nhằm giúp cho người dân trong cộng đồng có được nhậnthức đầy đủ về môi trường; có thái độ, tình cảm đúng đắn và rèn luyện cho họ những kĩnăng, hành vi, thói quen tích cực đối với những vấn đề có liên quan đến môi trường vàbảo vệ môi trường, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế - xã hội, từngbước nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân, gia đình và cộng đồng
Mục đích giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số được cụthể hóa thành các mục tiêu sau:
- Về kiến thức: Người dân hiểu được:
+ Những kiến thức cơ bản có liên quan đến môi trường và bảo vệ môi trường.+ Ý nghĩa và sự cần thiết của vấn đề bảo vệ môi trường
+ Các cách thức bảo vệ môi trường
Trang 36- Về kĩ năng: Người dân có khả năng:
+ Tự nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân về bảo vệ môi trường
+ Nhận xét, đánh giá hành vi của người khác liên quan đến việc bảo vệ môi trường.+ Xử lí các tình huống liên quan việc bảo vệ môi trường
+ Đánh giá được thực trạng môi trường ở địa phương
+ Thực hiện được các hành động cụ thể để bảo vệ môi trường ở địa phương
- Về thái độ: Người dân bày tỏ được những thái độ, tình cảm:
+ Thái độ tự giác, tích cực thực hiện bảo vệ môi trường
+ Đồng tình đối với những hành hành động biết bảo vệ môi trường; phê phánnhững hành động làm tổn hại đến môi trường
+ Yêu quý, tôn trọng môi trường
1.3.4 Nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
Cũng giống như các quá trình giáo dục khác, giáo dục ý thức BVMT cho cộngđồng người dân tộc thiểu số là quá trình có nội dung cụ thể Nội dung giáo dục ý thứcBVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số là hệ thống tri thức có liên quan đến môitrường và bảo vệ môi trường mà người dân cần phải nắm vững để biến nó thành ýthức, thái độ và hành vi cá nhân
Nội dung giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số được cụthể hóa thành từng mặt phù hợp với trình độ, lứa tuổi, phù hợp với từng tình huốnggiáo dục cụ thể
Giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số bao gồm nhữngnội dung cơ bản sau:
- Giáo dục cho cộng đồng người dân tộc thiểu số ý thức bảo vệ môi trường, ýthức đấu tranh chống lại những vi phạm, phá hoại môi trường
- Bồi dưỡng cho cộng đồng người dân tộc thiểu số hệ thống kiến thức về môitrường, bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
- Hình thành cho cộng đồng người dân tộc thiểu số thói quen và kĩ năng bảo vệmôi trường sống xung quanh, giữ vững cân bằng sinh thái
Trang 37- Giáo dục cho cộng đồng người dân tộc thiểu số ý thức tham gia tích cực vào cáchoạt động giữ gìn, bảo vệ môi trường ở gia đình và địa phương; tham gia tích cực vàoviệc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thiên nhiên.
- Giáo dục cho cộng đồng người dân tộc thiểu số ý thức tuyên truyền, vận độngmọi người trong gia đình, đoàn thể, làng xóm, địa phương cùng tham gia bảo vệmôi trường
1.3.5 Phương pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
Phương pháp giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số đềcập đến hệ thống những tác động của các lực lượng giáo dục đến người dân trong cộngđồng thông qua tổ chức các hoạt động đa dạng nhằm giúp họ hình thành ý thức tự giác,thái độ đúng đắn và hành động tích cực trong bảo vệ môi trường Phương pháp giáodục BVMT ở đây về thực chất là phương pháp tổ chức các hoạt động trong cuộc sốnghằng ngày cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
Chúng ta có thể thấy rằng, phương pháp giáo dục BVMT luôn chịu sự chi phốicủa mục đích, nội dung giáo dục BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số Do đó,người làm công tác giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu sốngoài việc căn cứ vào mục đích, nội dung GD, còn phải căn cứ vào đặc điểm tâm sinh
lí lứa tuổi, giới tính, trình độ nhận thức của cộng đồng người dân tộc thiểu số trong cáctình huống cụ thể để lựa chọn các phương pháp giáo dục BVMT cho cộng đồng ngườidân tộc thiểu số mang tính phù hợp, hiệu quả
Trong giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số có thể sửdụng các phương pháp giáo dục như: phương pháp đàm thoại, phương pháp giảng giải,phương pháp tranh luận, phương pháp nêu gương, phương pháp tổ chức cho người dântham gia vào các hoạt động thực tiễn; phương pháp khen thưởng, phương pháp tráchphạt, phương pháp thi đua
Mỗi phương pháp giáo dục bao giờ cũng có những ưu điểm và tồn tại nhữngnhược điểm Do đó, để giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu sốđạt được hiệu quả cao nhất cần đảm bảo những yêu cầu cần thiết trong việc lựa chọn
và sử dụng phối hợp các phương pháp giáo dục
Trang 381.3.6 Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
Về mặt lí luận, hoạt động là phương tiện hữu hiệu để giáo dục cho con người Đểquá trình giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số đạt được chấtlượng và hiệu quả, người làm công tác giáo dục cần tổ chức các loại hình hoạt độngkhác nhau cho người dân trong cộng đồng
Các hoạt động giáo dục BVMT được tổ chức cho người dân trong cộng đồngtheo nhiều hình thức khác nhau Hình thức tổ chức hoạt động thường được hiểu là sựbiểu hiện bề ngoài của hoạt động Mỗi hình thức hoạt động giáo dục được tiến hànhtheo một trình tự xác định
- Giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số có thể được thựchiện bằng các hình thức tổ chức như:
- Giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số thông qua hoạtđộng tuyên truyền giáo dục về môi trường và bảo vệ môi trường thông qua các phươngtiện thông tin đại chúng
- Giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số thông quacác buổi tọa đảm, hội thảo, sinh hoạt chuyên đề về môi trường và bảo vệ môitrường tại địa phương
- Giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số thông qua hoạtđộng thu gom, xử lí phế liệu, rác thải ở gia đình và địa phương
- Giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số thông qua hoạtđộng trồng cây xanh, cây cảnh, giữ gìn vệ sinh ở trong gia đình và địa phương
- Giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số thông qua kí camkết bảo vệ môi trường đối với mọi tổ chức, cá nhân trong cộng đồng
- Giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số thông qua cáchội thi tìm hiểu về môi trường và bảo vệ môi trường
- Giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số thông qua hoạtđộng khen thưởng và kỉ luật có liên quan đến bảo vệ môi trường
Trang 39Mỗi hình thức tổ chức giáo dục bao giờ cũng có những ưu điểm và tồn tại nhữngnhược điểm Do đó, để giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu sốđạt được hiệu quả cao nhất cần lựa chọn và sử dụng phối hợp các hình thức tổ chứcgiáo dục khác nhau.
1.3.7 Kết quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
Kết quả giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người DTTS phản ánh sự pháttriển trong thực tiễn về nhận thức; thái độ; hành vi, thói quen của người dân trong cộngđồng dân tộc thiểu số thể hiện trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội
Hoạt động kiểm tra, đánh giá được thực đảm bảo các nguyên tắc cơ bản, sử dụnghợp lí phương pháp và các công cụ thì sẽ thu được kết quả giáo dục ý thức BVMT chocộng đồng người dân tộc thiểu số một cách khách quan, nó giúp cho các lực lượng giáodục nhận thấy những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế của hoạt động giáo dục
ý thức BVMT cho cộng đồng người DTTS, trên cơ sở đó, kịp thời đưa ra những điềuchỉnh cần thiết, giúp cho hoạt động này ngày càng đạt được chất lượng
- Kết quả giáo dục thể hiện cụ thể:
+ Ý thức của cộng đồng người DTTS về môi trường và bảo vệ môi trường
Hình thành ý thức cho cộng đồng người dân tộc thiểu số trong việc bảo vệ môitrường, coi môi trường như kim chỉ nam cho hoạt động sống của con người
Có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, hiểu biết về môi trường với các hoạtđộng sống của con người, nêu cao tinh thần bảo vệ môi trường sống
+ Thái độ của học sinh đối với bảo vệ môi trường
Hình thành thái độ đúng đắn, nghiêm túc trong công tác bảo vệ môi trường củamỗi người dân trong cộng đồng người dân tộc thiểu số, luôn có thái độ khích lệ và nêugương đối với những tấm gương đi đầu trong việc bảo vệ môi trường, tạo niềm tin cho
họ về một thế giới xanh và không có ô nhiễm
+ Kĩ năng, hành vi, thói quen của cộng đồng người dân tộc thiểu số đối với bảo
vệ môi trường
Hình thành các kỹ năng bảo vệ môi trường thông qua nhiều hoạt động ý nghĩa, cộngđồng người dân tộc thiểu số được trải nghiệm nhiều trong các tình huống bảo vệ môi
Trang 40trường thực tế, có hành vi sẵn sàng bảo vệ môi trường nếu như có vấn đề gây ảnh hưởngđến môi trường, tạo lập hành vi thói quen cho cộng đồng người dân tộc thiểu số trongviệc bảo vệ môi trường.
1.4 Quá trình phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
1.4.1 Nguyên tắc phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
Để hoạt động phối hợp các lực lượng xã hội tham gia giáo dục ý thức BVMT cho
cộng đồng người dân tộc thiểu số có thể diễn ra thuận lợi, thường xuyên và mang lại
hiệu quả thiết, trong quá trình triển khai thực hiện hoạt động này, chủ thể của hoạtđộng cần đảm bảo được những nguyên tắc cơ bản dưới đây:
* Nguyên tắc đồng thuận
Nguyên tắc này coi trọng vấn đề làm sao để các lực lượng xã hội tham gia giáo dục
ý thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số chia sẻ đồng tâm, nhất trí, tự nguyện
và đồng thuận với chủ trương phối hợp giữa lực lượng, không được áp đặt hoặc ép buộc
* Nguyên tắc dân chủ
Tạo môi trường công khai, dân chủ cho các lực lượng xã hội tham gia giáo dục ý
thức BVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số thông hiểu lẫn nhau, có điều kiện
để “Biết, bàn, làm, kiểm tra” các hoạt động, tạo điều kiện cho mối quan hệ giữa cáclực lượng phát triển toàn diện và mang lại hiệu quả
* Nguyên tắc lợi ích hai chiều
Mỗi hoạt động hợp tác, phối hợp đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của hai phía:Mọi người phải hiểu được lợi ích không chỉ mang lại cho người dân, cho gia đình mà cònmang lại lợi ích thiết thực cho chính những cá nhân, tập thể tham gia giáo dục ý thứcBVMT cho cộng đồng người dân tộc thiểu số
* Nguyên tắc về chức năng, nhiệm vụ
Các lực lượng xã hội tham gia giáo dục ý thức BVMT cho cộng đồng người dân
tộc thiểu số phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình để đạt được hiệu quả