Thực trạng kết quả phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt...64 2.5.7.. Điều này cần được giải quyết bằng m
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC
PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM CHO CỘNG ĐỒNG DÂN
CƯ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng
Mã ngành: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRẦN QUỐC THÀNH
Trang 2Giáo sư Tiến sĩ Trần Quốc Thành - Nhà khoa học - Người thầy mẫu mực, tâm
huyết luôn cảm thông, chia sẻ những khó khăn của học trò, khích lệ, động viên, nhiệttình hướng dẫn cho em trong quá trình nghiên cứu luận văn tốt nghiệp
Ủy ban nhân dân, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội; cán bộ các Sở,Ban, Ngành, các cơ quan, đoàn thể, Hội và nhân dân thành phố Đà Lạt đã tạo nhữngđiều kiện, ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn nhiệt tâm ủng hộ tôi trong suốt chặngđường đã qua
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục phòng chống
XHTDTE cho CĐDC trên địa bàn thành phố Đà Lạt 43 Bảng 2.2 Nhận thức về mục tiêu của hoạt động giáo dục phòng chống XHTDTE
cho CĐDC trên địa bàn thành phố Đà Lạt 44 Bảng 2.3 Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐĐC
trên địa bàn thành phố Đà Lạt 46 Bảng 2.4 Thực trạng kết quả thực hiện các nội dung giáo dục phòng chống
XHTDTE cho CĐĐC trên địa bàn thành phố Đà Lạt 47 Bảng 2.5 Thực trạng mức độ thực hiện các hình thức giáo dục phòng chống
XHTDTE cho CĐDC trên địa bàn thành phố Đà Lạt 48 Bảng 2.6 Thực trạng kết quả thực hiện các hình thức giáo dục phòng chống
XHTDTE cho CĐDC trên địa bàn thành phố Đà Lạt 50 Bảng 2.7 Thực trạng kết quả giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC trên địa
bàn thành phố Đà Lạt 52 Bảng 2.8 Mức độ thực hiện mục tiêu phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng
chống XHTDTE cho CĐDC 53 Bảng 2.9 Thực trạng kết quả thực hiện mục tiêu phối hợp các LLXH trong giáo dục
phòng chống XHTDTE cho CĐDC 54 Bảng 2.10 Thực trạng mức độ thực hiện các các nguyên tắc phối hợp các LLXH
trong giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC 55 Bảng 2.11 Thực trạng kết quả thực hiện các nguyên tắc phối hợp các LLXH trong
giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC 56 Bảng 2.12 Thực trạng mức độ tham gia của các lực lượng trong hoạt động giáo
dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC 57 Bảng 2.13 Thực trạng kết quả tham gia tham gia của các lực lượng trong hoạt
động giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC 58 Bảng 2.14 Thực trạng thực hiện nội dung phối hợp các LLXH trong giáo dục
phòng chống XHTDTE cho CĐDC 60
Trang 5Bảng 2.16 Thực trạng kết quả thực hiện nội dung phối hợp các LLXH trong giáo
dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC 61 Bảng 2.18 Thực trạng mức độ thực hiện các hình thức phối hợp các LLXH trong
giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC 62 Bảng 2.20 Thực trạng kết quả thực hiện các hình thức phối hợp các LLXH trong
giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC 63 Bảng 2.22 Thực trạng kết quả kết quả phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng
chống XHTDTE cho CĐDC 64 Bảng 2.23 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến phối hợp phối hợp các LLXH
trong giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC 65 Bảng 3.1 Đánh giá về mức độ cần thiết của các biện pháp phối hợp các LLXH
trong giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 92 Bảng 3.2 Đánh giá về tính khả thi của các biện pháp phối hợp các LLXH trong
giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 94
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Mục đích nghiên cứu 2
3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 : LÍ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ 6
1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Thế giới 6
1.1.2 Việt Nam 7
1.2 Xâm hại tình dục trẻ em 9
1.2.1 Trẻ em 9
1.2.2 Xâm hại trẻ em 10
1.2.3 Xâm hại tình dục trẻ em 12
1.2.4 Các mức độ xâm hại tình dục trẻ em 12
1.2.5 Dấu hiệu trẻ bị xâm hại tình dục 14
1.2.6 Hậu quả của việc trẻ bị xâm hại tình dục 14
1.3 Giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư 16
1.3.1 Khái niệm 16
1.3.2 Hoạt động giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư 18
1.4 Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng dồng dân cư 20
1.4.1 Khái niệm 20
Trang 71.4.2 Quá trình phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại
tình dục trẻ em cho cộng dồng dân cư 21
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư 28
Kết luận chương 1 33
Chương 2 : THỰC TRẠNG PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG 34
2.1 Khái quát về thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 34
2.2 Khái quát về quá trình khảo sát thực trạng 40
2.2.1 Mục đích khảo sát 40
2.2.2 Nội dung khảo sát 40
2.2.3 Khách thể khảo sát 40
2.3 Tình trạng xâm hại tình dục trẻ em và công tác phòng chống xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn thành phố Đà Lạt 41
2.3.1 Tình trạng xâm hại tình dục trẻ em 41
2.3.2 Các hoạt động phòng ngừa tình trạng xâm hại tình dục trẻ em và giáo dục, phòng ngừa tình trạng xâm hại tình dục trẻ em tại thành phố Đà Lạt 42
2.4 Thực trạng giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư trên địa bàn thành phố Đà Lạt 43
2.4.1 Thực trạng nhận thức về hoạt động giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư trên địa bàn thành phố Đà Lạt 43
2.4.2 Thực trạng nội dung giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư trên địa bàn thành phố Đà Lạt 45
2.4.3 Thực trạng thực hiện các hình thức giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư trên địa bàn thành phố Đà Lạt 48
2.4.4 Thực trạng kết quả giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư trên địa bàn thành phố Đà Lạt 52
Trang 8Đà Lạt 52
2.5.1 Mục tiêu phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt 52
2.5.2 Nguyên tắc phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt 55
2.5.3 Thực trạng các lực lượng xã hội tham gia giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt 57
2.5.4 Nội dung phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt 59
2.5.5 Hình thức phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt 62
2.5.6 Thực trạng kết quả phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt 64
2.5.7 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư trên địa bàn thành phố Đà Lạt 65
2.6 Đánh giá chung về thực trạng 66
2.6.1 Những kết quả đạt được 66
2.6.2 Những vấn đề còn tồn tại 66
2.6.3 Nguyên nhân của những tồn tại 66
Kết luận chương 2 68
Chương 3 : BIỆN PHÁP PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG 69
3.1 Định hướng đề xuất biện pháp 69
3.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 70
3.2.1.Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 71
3.2.2.Đảm bảo tính thực tiễn 71
3.2.3.Đảm bảo tính khả thi 72
3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 72
3.2.5 Đảm bảo tính hiệu quả 73
3.2.6 Đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng cộng đồng 73
Trang 93.3 Các biện pháp phối hợp các lượng cộng đồng trong việc giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư tại thành phố Đà Lạt,
tỉnh Lâm Đồng 73
3.3.1 Bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho các lực lượng xã hội về tầm quan trọng của phối hợp các lượng cộng đồng trong việc giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em 73
3.3.2 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp các lưc lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư 77
3.3.3 Phối hợp các cơ quan, ban, ngành tiến hành đào tạo, bồi dưỡng kĩ năng tổ chức hoạt động giáo dục cho các cán bộ tham gia giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư 80
3.3.4 Huy động các nguồn lực thành lập và phát triển hoạt động của Trung tâm phòng chống xâm hại tình dục trẻ em tại địa phương 83
3.3.5 Phối hợp liên ngành, đảm bảo các điều kiện cần thiết phục vụ hoạt động giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư 84
3.3.6 Tổ chức kiểm tra, đánh kết quả phối hợp các lực lượng giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư 85
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 88
3.5 Khảo nghiệm về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 90
3.5.1 Khái quát chung về quá trình khảo nghiệm 90
3.5.2 Kết quả khảo nghiệm 91
Kết luận chương 3 96
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 103
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian gần đây, trên cả nước xảy ra hàng loạt vụ việc xâm hại tìnhdục (XHTD) trẻ em, gây bức xúc dư luận và gây hoang mang cho nhiều bậc phụhuynh. Theo thống kê của Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an, mặc dù chỉ là phần nhỏ
so với thực tế nhưng mỗi năm trung bình có 1.600 - 1.800 vụ xâm hại trẻ em đượcphát hiện, trong số 1.000 vụ XHTD, số vụ mà trẻ em là nạn nhân chiếm đến 65%,
đa số nạn nhân là nữ ở độ tuổi 12 đến dưới 18 (chiếm 57,46%), tuy nhiên số trẻ emdưới 6 tuổi bị xâm hại là vấn đề rất đáng báo động, chiếm tới 13,2% Các vụ xâmhại tình dục trẻ em để lại nhiều hậu quả xấu, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triểnlâu dài của mỗi đứa trẻ, phá vỡ sự bình yên của xã hội Hoạt động phòng chốngXHTDTE trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
Để có thể giải quyết vấn nạn xâm hại tình dục trẻ em hiện nay, phòng tránhcác vụ việc có thể xảy ra trong thời gian tới đòi hỏi sự chung tay thực hiện của toàn
xã hội, trong đó, các bậc phụ huynh học sinh là lực lượng có vai trò và tầm quantrọng to lớn trong công tác này Tại Điều 16 trong Công ước quốc tế về quyền trẻ
em đã nêu rõ: “Các bậc cha mẹ có nghĩa vụ bảo vệ con cái của mình tránh mọi nguy cơ bị xâm hại tình dục dưới mọi hình thức khác nhau (từ những lời nói bóng gió, những cái vuốt ve mơn trớn, tiếp xúc bằng tay đến những sự phô diễn xấu xa và hành vi cưỡng dâm) Không một ai, kể cả cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, anh em, họ hàng, thầy cô giáo, hàng xóm hay người xa lại với gia đình có thể lạm dụng và xâm hại trẻ em về mặt tình dục Xâm hại tình dục trẻ em là một tội ác Nếu cha mẹ hay những người có trách nhiệm chăm sóc các em nhận thấy những điều đó mà không báo cho các nhà chức trách thì bị coi là kẻ đồng phạm” [5].
Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng là nơi có tốc độ đô thị hóa diễn ra ngàycàng nhanh, mật độ dân số thưa thớt, nghề nghiệp chính của nhân dân tại địaphương là nông nghiệp và lâm nghiệp Các tệ nạn xã hội trong đó có XHTDTEngày càng diễn biến phức tạp Theo số liệu thống kê của cơ quan công an: năm
2017 đã xảy ra 3 vụ xâm hại tình dục trẻ em, còn trong năm 2018 (tính đến hết
Trang 11tháng 8) đã xảy ra 2 vụ XHTDTE diễn ra trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnhLâm Đồng Đứng trước thực trạng trên, hoạt động phòng chống XHTDTE ngàycàng nhận được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan, tổchức, Đoàn thể trên địa bàn thành phố, song, kết quả thu được của hoạt động nàychưa tương xứng với ý nghĩa và tầm quan trọng của nó Có nhiều nguyên nhândẫn đến thực trạng này, trong đó, việc một bộ phận dân cư chưa có nhận thứcđầy đủ, thái độ đúng đắn và thói quen tích cực về phòng chồng XHTDTE là mộttrong những nguyên nhân cơ bản Điều này cần được giải quyết bằng một hệthống các giải pháp mang tính đồng bộ, trong đó, giáo dục phòng chốngXHTDTE cho cộng đồng dân cư dựa vào sự phối hợp của các lực lượng xã hội làgiải pháp mang tính phù hợp và hiệu quả trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh LâmĐồng.
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi lựa đề tài:
“Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ
em cho cộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” để tiến hành nghiên
cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng về việc phối hợp các lực lượng xãhội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư, luậnvăn đề xuất một số biện pháp giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em chocộng đồng dân cư trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng dựa vào sự phốihợp của các lực lượng xã hội nhằm giúp cho mỗi người dân trong cộng đồng cóđược nhận thức đầy đủ, thái độ đúng đắn và hành vi tích cực trong phòng chốngxâm hại tình dục trẻ em, góp phần giảm thiểu những trường hợp trẻ em bị xâm hạitrên địa bàn nghiên cứu, tạo điều kiện tốt nhất để trẻ em phát triển và hoàn thiệnnhân cách
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1.Khách thể nghiên cứu
Hoạt động phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em
Trang 123.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tìnhdục trẻ em cho cộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
4 Giả thuyết khoa học
Tình trạng xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồngngày càng diễn biến phức tạp; đa số người dân trong cộng đồng còn có nhiều hạn chế
về nhận thức, thái độ và hành động có liên quan đến phòng chống xâm hại tình dục trẻ
em Nếu nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện về thực trạng, trên cơ sở đó, đề ranhững biện pháp mang tính khoa học và hợp lí thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng vàhiệu quả phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư thành phố ĐàLạt, tỉnh Lâm Đồng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận về xâm hại tình dục trẻ em, phòng chống xâmhại tình dục trẻ em, giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em và phối hợp cáclực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộngđồng dân cư
5.2 Đánh giá thực trạng phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòngchống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư và thực trạng phối hợp các lựclượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồngdân cư thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
5.3 Đề xuất biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòngchống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt, tỉnh LâmĐồng và tiến hành khảo nghiệm các biện pháp đề xuất
6 Giới hạn nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu lí luận, thực trạng và biện pháp phối hợp các lực lượng
xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em (lứa tuổi thiếu niên) chocộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
6.2 Về khách thể khảo sát
Đề tài tiến hành khảo sát hai nhóm khách thể trên địa bàn thành phố Đà Lạt,
Trang 13tỉnh Lâm Đồng với tổng số khách thể tham gia khảo sát là 320 người (160 CB các
cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và 160 người dân địa phương)
6.3 Về thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 5 năm 2019
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Sử dụng nhóm phương pháp này nhằm thu thập và xử lí các tài liệu văn bản
có liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em, phòng chống xâm hại tình dục trẻ em, giáodục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư và phối hợp các lựclượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân
cư để xây dựng khung lí luận của đề tài nghiên cứu
- Các phương pháp được sử dụng bao gồm: Phương pháp phân tích và tổnghợp lí thuyết, phương pháp phân loại và hệ thống hóa lí thuyết
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Sử dụng nhóm phương pháp này nhằm thu thập những thông tin về thực trạnggiáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư và thực trạngphối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em chocộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
- Các phương pháp được sử dụng bao gồm: Phương pháp điều tra bằng phiếuhỏi; phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động; phương pháp tổng kết kinhnghiệm, phương pháp phỏng vấn
7.3 Nhóm phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng nhóm phương pháp này nhằm xử lí kết quả điều tra, định lượng kếtquả nghiên cứu của đề tài luận văn để rút ra các nhận xét khoa học khái quát về thựctrạng giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư và thựctrạng phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dụctrẻ em cho cộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
- Các phương pháp được sử dụng bao gồm: Phương pháp sử dụng côngthức toán học như công thức tính giá trị phần trăm, công thức tính giá trị
Trang 148 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu thamkhảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:
Chương 1 Lí luận về phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng
chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư
Chương 2 Thực trạng phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống
xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Chương 3 Biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống
xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Trang 15Chương 1
LÍ LUẬN VỀ PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI
TRONG GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM
CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Vấn nạn XHTD trẻ em không phải là câu chuyện của riêng một quốc gia nào
mà nó là vấn đề toàn cầu, gây nhức nhối trong cộng đồng các nước trên thế giới
Trong một nghiên cứu của Finkelhor năm 2009 cho rằng “xâm hại tình dục trẻ
em bao gồm toàn bộ hành vi phạm tội về tình dục mà trẻ em dưới 17 tuổi là nạn nhân; người phạm tội hoặc người có hành vi xâm hại tình dục trẻ em có thể là người lớn, quen biết hoặc không quen biết với trẻ em, thanh niên hoặc trẻ em khác Bên cạnh những hành vi phạm tội xâm hại tình dục có giao cấu, định nghĩa này bao hàm cả những hành vi phạm tội mà người gây tội và nạn nhân thậm chí không có tiếp xúc với nhau về mặt thể xác như bắt trẻ em nhìn các hành vi tình dục, sử dụng trẻ em để sản xuất các ấn phẩm khiêu dâm, tán tỉnh, gạ gẫm…” [dẫn theo 14] Theo
đó cho thấy thuật ngữ XHTD có nội hàm rộng bao gồm hành vi vi phạm về mặt dân
sự và hình sự Finkellhor chỉ ra bằng chứng rằng sự hỗ trợ các chiến lược tư vấn chongười phạm tội, đặc biệt là người chưa thành niên sẽ giảm bớt sự tái phạm và ngănngừa những hệ quả tiêu cực về sức khỏe tâm thần và cuộc sống sau này
Bên cạnh đó, Hiệp hội sức khỏe tâm thần Hoa Kỳ (APA) cho rằng: “trẻ emkhông thể đồng tình để thực hiện hành vi tình dục với người lớn mọi người lớnthực hiện hành vi tình dục với trẻ em là đang phạm tội hình sự và là hành vi phi đạođức mà xã hội không thể chấp nhận được và không thể coi là bình thường” [39].Ngoài ra, trong Luật Bảo vệ và Hỗ trợ trẻ em bị bạo hành của Mỹ (CAPTA)
đã có những nhìn nhận về xâm hại tình dục trẻ em bao gồm những hành vi sau: “sửdụng, thuyết phục, lôi kéo, hoặc sử dụng áp lực để bắt trẻ em tham gia vào hoặc hỗtrợ người khác tham gia vào thực hiện hành vi xâm hại tình dục hoặc gợi tình vì
Trang 16người chăm sóc hoặc người thân trong gia đình gạ gẫm, mại dâm, hoặc những hìnhthức bóc lột tình dục trẻ em hoặc loạn luân với trẻ em” [34].
Trong một báo cáo gần đây mang tên Out of the shadows: Shining light on theresponse to child sexual abuse (tạm dịch: Ra khỏi vùng tối: Tìm hiểu về phản ứng đốivới xâm hại tình dục trẻ em) do Economist Intelligence Unite (EIU) thực hiện tại 40quốc gia và được công bố hôm 16/1 EIU là hãng nghiên cứu thuộc Economist Group,công ty truyền thông sở hữu tạp chí The Economist
Theo báo cáo này, Việt Nam đạt 42,9 điểm trên thang điểm 100, đứng sau tất cảcác nước cùng khu vực được khảo sát (Philippines vị trí 16, Malaysia thứ 20,Campuchia vị trí 23, Indonesia đứng thứ 32, Trung Quốc 36)
Báo cáo của EIU được thực hiện dựa trên 4 tiêu chí: Môi trường mà việc xâmhại xảy ra cũng như được biết đến; mức độ bảo vệ mà khung pháp lý của một nước
có để đối phó với vấn đề; cam kết và khả năng của chính phủ trong việc trang bị chocác thể chế, nhân sự chống lại nạn xâm hại; sự tham gia của các ngành nghề, xã hộidân sự và truyền thông
Điều đáng nói, EIU chấm điểm thành phần về môi trường của Việt Nam là 59,hành lang pháp lý 56 điểm, cam kết và khả năng chủa chính phủ đạt 38 điểm; sựtham gia của các ngành nghề truyền thông đạt 17 điểm Tổ chức này chấm ViệtNam 0 điểm trong việc thu thập thông tin về nạn xâm hại trẻ em; không có cơ quanriêng để thi hành luật về chống xâm hại, chương trình hỗ trợ dành cho đối tượngxâm hại, sự tham gia của giới truyền thông
Có thể thấy rằng có rất nhiều những quan điểm, suy nghĩ khác nhau về XHTDtrẻ em, song suy cho cùng ở các quốc gia trên thế giới, XHTD trẻ em là một hành vigây tổn hại không nhỏ đến tinh thần của trẻ em, cần phải có những cái nhìn đúngđắn và kịp thời luôn cần sự chung tay của cả thế giới nhằm bảo vệ tốt nhất cho trẻ
em hôm nay và ngày mai
1.1.2 Việt Nam
Xâm hại tình dục trẻ em ở Việt Nam đang gióng lên hồi chuông cảnh báo cho
sự biến chất, suy đồi đạo đức xã hội và gây nên nhiều bức xúc trong dư luận xã hội
Trang 17Theo thống kê năm 2018 đã có hơn 1200 vụ xâm hại trẻ em, trong đó xâm hạitình dục trẻ chiếm hơn 1000 vụ Vậy cứ một ngày lại có 3 trẻ bị xâm hại tình dục.Một sự đáng báo động đối với một xã hội đang phát triển.
Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi đề cập tới một vài nghiên cứu sau:
“Những hậu quả về tâm lý đối với nạn nhân của tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em
và giải pháp khắc phục” [24]- một nghiên cứu của tác giả Dương Tuyết Miên(Giảng viên khoa Luật Hình sự, trường Đại học Luật Hà Nội) được đăng tải trênĐặc san về Bình đẳng giới, tạp chí Luật học Với nghiên cứu này, tác giả đã đi sâuphân tích những tổn hại tâm lý mà người phạm tội gây ra cho nạn nhân của tội này.Tổn hại lớn nhất đối với những nạn nhận của XHTD là những đau đớn về thể xác,tinh thần và nó kéo dài có khi cả đời một con người Những hậu quả của XHTD đểlại không chỉ là nỗi đau của nạn nhân, người thân xung quanh mà còn là nỗi đau củatoàn xã hội
Tiếp đến phải nhắc đến nghiên cứu của các chuyên gia thuộc Cục phòngchống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội với đề tài “Cơ sở lý luận
và thực tiễn để xây dựng chiến lược bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bị xâm hạitình dục ở nước ta thời kỳ 2000- 2010” Trên cơ sở đưa ra những nhận định, đánhgiá về cơ sở lý luận và thực tiễn trong nước để xây dựng chiến lược bảo vệ, chămsóc và giáo dục trẻ em bị xâm hại tình dục thời kỳ 2000 - 2010 Dưới sự phác họamột cách vắn tắt thực trạng trẻ em bị xâm hại tình dục ở nước ta cũng như thựctrạng công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bị xâm hại tình dục, các chuyêngia của Cục Phòng chống tệ nạn xã hội đã đề xuất một số chiến lược tổng hợp vớimột tiêu tổng quát: “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm vàhành động của các cơ quan, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể xã hội, trongmỗi gia đình và toàn xã hội để ngăn ngừa, giảm dần và tiến tới giảm thiểu tình trạngtrẻ em bị xâm hại tình dục,…” [1dẫn theo 16]
Một số luận văn trong thời gian gần đây cũng đề cập đến nội dung XHTD cóthể nhắc đến luận văn “Các tội phạm xâm hại tình dục trong Luật hình sự ViệtNam”[30] của Nguyễn Tuấn Thiện Điểm mới của luận văn là chỉ ra những tồn tại
Trang 18hại tình dục trẻ em, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng cácquy định của bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội phạm XHTDTE.
Ngoài ra các luận văn “Phối hợp các lực lượng xã hội trong phòng ngừa xâmhại tình dục trẻ em 6-11 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Yên” [14] của Võ Nguyễn MinhHoàng (năm 2017); Luận văn “Bồi dưỡng kĩ năng phòng chống xâm hại tình dục trẻ
em cho phụ huynh huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu” [31] của Nguyễn Thị Tĩnh (năm2018); “Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng ngừa xâm hại tình dụccho thiếu niên ở huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên” của Phan Quang Phi…
Trong khuôn khổ luận văn, với các khía cạnh tiếp cận khác nhau, các nghiêncứu trên đã phần nào nhận thấy vấn đề cần quan tâm nhất chính là sự quan tâm,phối hợp các lực lượng xã hội trong việc giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ
cụ thể là việc trang bị những kiến thức, kỹ năng về phòng ngừa xâm hại tình dụccho trẻ em cũng như cho cả cộng đồng
Tại báo cáo của EIU, Việt Nam xếp thứ 37/40 quốc gia về phòng chống xâmhại tình dục trẻ em Điều này càng thể hiện rõ Việt Nam tuy đã có những quan tâm
và nghiên cứu về vấn đề phòng chống xâm hại tình dục trẻ em, song nhìn chungnhững vẫn chưa thực sự hiệu quả
Từ việc khái quát những nghiên cứu trên chúng ta có thể thấy, nghiên cứu vềphòng chống xâm hại tình dục trẻ em đã được nhiều tác giả, tổ chức trong và ngoài
nước quan tâm Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về việc Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng còn chưa có Vì vậy, việc
nghiên cứu này càng có ý nghĩa và tính cấp thiết cao
1.2 Xâm hại tình dục trẻ em
1.2.1 Trẻ em
Theo điều 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 (UnitedNations Convention on the rights of the child- CRC) có quy định như sau: “Trongphạm vi của công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trườnghợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn.” [5]
Trang 19Căn cứ vào khái niệm trẻ em trong công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ
em, các quốc gia dựa trên điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội cũng như khả năng củanền kinh tế để đưa ra những quy định của mình về giới hạn độ tuổi của trẻ TạiTrung Quốc, theo điều 2 Luật Bảo vệ người chưa thành niên quy định trẻ em cònđược gọi là trẻ chưa thành niên, là công dân dưới 18 tuổi Theo điều 1 Luật Liênbang Nga số 124- FZ ngày 21/7/1998 (sửa đổi): Trẻ em được hiểu là người ở độtuổi dưới 18
Ở Việt Nam, theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì:
“Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” [20] Như vậy, quy định về tuổi của
trẻ em trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam đã có độchênh tới 2 tuổi so với Công ước quốc tế về quyền trẻ em Vào ngày 5/4/2016, tại
kỳ họp thứ 11 của Quốc hội khóa XIII, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ emđược đổi tên thành Luật trẻ em Luật có nhiều điểm đổi mới tích cực, dễ hiểu, dễ tiếpcận và phản ánh đầy đủ hơn nội dung và phạm vi của Luật; tạo ra hành lang pháp lýquan trọng trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Luật trẻ em 2016 tiếp
tục khẳng định “trẻ em là người dưới 16 tuổi” [21] và không giới hạn trẻ em phải là
công dân Việt Nam, đối tượng áp dụng của luật bao gồm cả trẻ em là người nước ngoài
cư trú tại Việt Nam
1.2.2 Xâm hại trẻ em
Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: “ Xâm hại trẻ em bao gồm mọi hình thức ngược đãi về thể chất và tinh thần, xâm hại tình dục, xao nhãng, bóc lột gây ra những thương tổn về sức khỏe, tính mạng, khả năng phát triển hay phẩm giá bằng cách lợi dụng chức phận, lòng tin hay quyền hạn” [dẫn theo 15]
Các hành vi xâm hại trẻ theo quan niệm này, đó là [dẫn theo 15]:
Xâm hại thể chất: là khi một người chủ đích gây thương tổn hoặc đe
dọa gây thương tổn tổn cho trẻ, bao gồm: đánh, đấm, đá, bóp cổ, quăng quật,giam hãm,…
Xâm hại tinh thần: là việc ai đó lặp đi lặp lại các hình thức ngược đãi tinh thần
trẻ em trong một thời gian dài Xâm hại tinh thần gây tổn hại đến lòng tự trọng của
Trang 20ta cần nhấn mạnh đó là tất cả các hình thức xâm hại đều gây ra những thương tổn vềtinh thần đối với trẻ.
Xâm hại tình dục: Là việc ai đó dùng quyền lực hoặc lợi dụng lòng tin để lôi
kéo trẻ em tham gia vào các hoạt động tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm,giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâmdưới mọi hình thức
Xao nhãng: là việc ai đó không đáp ứng những hình thức chăm sóc cơ bản đối
với trẻ em, bao gồm: bỏ mặc trẻ trước những nguy cơ, từ chối việc chăm sóc y tếhoặc các nhu cầu thiết yếu cho sự phát triển về thể chất và tinh thần của trẻ
Theo Luật Trẻ em 2016, khái niệm về xâm hại trẻ em được hiểu như sau:
“Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác”[21].
Theo quan điểm này, các hành vi xâm hại bao gồm [21]:
Bạo lực trẻ em: là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức
khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ýkhác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em
Bóc lột trẻ em: là hành vi bắt trẻ em lao động trái quy định của pháp luật về
lao động; trình diễn hoặc sản xuất sản phẩm khiêu dâm; tổ chức, hỗ trợ hoạt động
du lịch nhằm mục đích xâm hại tình dục trẻ em; cho, nhận hoặc cung cấp trẻ em đểhoạt động mại dâm và các hành vi khác sử dụng trẻ em để trục lợi
Xâm hại tình dục trẻ em: là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi
kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếpdâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mạidâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức
Bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em: là hành vi của cha mẹ, người chăm sóc trẻ em không
thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việcchăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em
Từ việc phân tích các khái niệm trên, theo chúng tôi, “xâm hại trẻ em là việc
ai đó có những hành vi gây tổn hại đến thể chất và tinh thần, danh dự của trẻ dưới
Trang 21các hình thức xâm hại tình dục, bóc lột, bạo lực, mua bán, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác.”
1.2.3 Xâm hại tình dục trẻ em
Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: “ Xâm hại trẻ em nói chung bao gồm mọihình thức ngược đãi về thể chất và tinh thần, xâm hại tình dục, xao nhãng, bóc lộtgây ra những thương tổn về sức khỏe, tính mạng, khả năng phát triển hay phẩm giábằng cách lợi dụng chức phận, lòng tin hay quyền hạn” [dẫn theo 15]
Xâm hại tình dục trẻ em là mọi hành vi lôi kéo trẻ vào các hoạt động liên quanđến tình dục mà trẻ không đủ khả năng hoặc không hiểu hoặc không đủ tâm thế đểđưa ra quyết định đối với các hành vi này hoặc các hành vi đó vi phạm đến luậtpháp hay các giá trị văn hóa của cộng đồng sở tại (Điều 157, Luật trẻ em)
Về mặt pháp lý, theo khoản 8, điều 4 Luật Trẻ em 2016: “Xâm hại tình dục trẻ
em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức”[21].
Từ việc phân tích các khái niệm trên, theo chúng tôi, “Xâm hại tình dục trẻ em
là việc ai đó dụ dỗ, lô kéo, dùng vũ lực để đe dọa, ép buộc trẻ em tham gia vào các hoạt động có liên quan đến tình dục”.
1.2.4 Các mức độ xâm hại tình dục trẻ em
Kế thừa và phát triển Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự hiện hành đã
cụ thể hóa các loại tội phạm xâm hại tình dục trẻ em tại các Điều 112- Tội hiếp dâmtrẻ em, Điều 114- Tội cưỡng dâm trẻ em, Điều 115- Tội giao cấu với trẻ em và Điều116- Tội dâm ô với trẻ em Tương ứng với các loại tội phạm này chính là các mức
độ xâm hại tình dục trẻ em Trong đó: [4]
Hành vi hiếp dâm trẻ em : Mọi trường hợp giao cấu với trẻ dưới 13 tuổi hoặc
dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạnnhân là trẻ em từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân
là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ Cụ thể như sau:
- Hành vi dùng vũ lực là hành vi sử dụng sức mạnh vật chất (có hoặc không có
Trang 22làm tê liệt sự kháng cự của nạn nhân chống lại việc giao cấu như xô ngã, vật, đánh,trói, giữ, bóp cổ nạn nhân…
- Hành vi đe dọa dùng vũ lực là hành vi dùng lời nói hoặc hành động uy hiếptinh thần nạn nhân, làm cho nạn nhân sợ hãi, tê liệt về ý chí, buộc họ phải chịu sựgiao cấu mà không dám kháng cự như dọa giết, dọa gây thương tích cho nạn nhânnếu nạn nhân chống cự
- Hành vi lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân là hành vi lợidụng nạn nhân là trẻ em vì một lý do nào đó không thể chống lại được hành vi giaocấu trái ý muốn của mình như lợi dụng nạn nhân đang lúc ốm đau để thực hiện hành
- Hành vi giao cấu trái ý muốn của nạn nhân là trẻ em Giao cấu trong tội hiếpdâm trẻ em là quan hệ tình dục nhằm thỏa mãn dục vọng của người phạm tội
Hành vi cưỡng dâm trẻ em là hành vi dùng mọi thủ đoạn khiến trẻ em từ đủ 13
tuổi đến dưới 16 tuổi lệ thuộc mình hoặc đang ở trong tình trạng quẫn bách phảimiễn cưỡng giao cấu
Hành vi giao cấu với trẻ em là trường hợp người thành niên có hành vi giao
cấu với đối tượng là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và hành vi này được thựchiện với sự thuận tình của trẻ em
Tuy nhiên, ở lứa tuổi này sự phát triển của trẻ em cả về thể chất và tâm sinh lý
là chưa đầy đủ Ngoài ra, sự nhận thức cũng như hiểu biết về quan hệ tình dục vàhậu quả của nó nằm ngoài khả năng của trẻ em Do vậy, người thành niên phải cótrách nhiệm hướng dẫn, giáo dục và chăm lo cho sự phát triển bình thường về mọimặt của trẻ em, nhằm tránh cho trẻ em không có ý thức và khả năng kiểm soát
Hành vi dâm ô với trẻ em là hành vi của người đã thành niên dùng mọi thủ
đoạn có tính chất dâm dục đối với người dưới 16 tuổi nhằm thỏa mãn dục vọng
Trang 23của mình nhưng không có ý định giao cấu với nạn nhân Biểu hiện của hành vidâm ô đó là:
- Buộc trẻ thực hiện các động tác tác động vào bộ phận sinh dục và các bộphận khác trên cơ thể người phạm tội để tìm cảm giác khoái lạc
- Thực hiện các động tác tác động vào bộ phận sinh dục của trẻ em như: nắn,
sờ, xoa bóp, hôn hít,… nhằm tạo cảm giác khoái lạc cho mình
Đây là hành vi tình dục nhưng không phải là hành vi giao cấu, hành vi đó cóđặc điểm thỏa mãn hoặc khêu gợi, kích thích nhu cầu tình dục
1.2.5 Dấu hiệu trẻ bị xâm hại tình dục
- Thái độ sợ sệt, ngượng ngùng mỗi khi giáp mặt đối tượng
1.2.6 Hậu quả của việc trẻ bị xâm hại tình dục
Xâm hại tình dục trẻ em không chỉ để lại những hậu quả nghiêm trọng cả vềthể chất và tinh thần cho trẻ, nó còn gây ra những hậu quả đối với gia đình có trẻ bịxâm hại cũng như hậu quả đối với cộng đồng và xã hội Trong đó:
Hậu quả đổi với bản thân trẻ bị xâm hại tình dục: những hậu quả về mặt thể
chất thường có thể thấy từ sớm, ngay sau khi trẻ bị xâm hại tình dục như: gây ranhững tổn thương nặng nề tại bộ phận sinh dục của trẻ, nhất là ngay sau khi bị xâmhại tình dục, trẻ đi lại hoặc ngồi khó khăn Nghiêm trọng hơn, với những trườnghợp đi kèm với bạo lực, trẻ bị xâm hại có thể dẫn tới tử vong Nhiều nạn nhân trẻ
em bị nhiễm các bệnh xã hội, bệnh lênh truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS.Với nạn nhân là trẻ em gái đã đến tuổi dậy thì, việc bị xâm hại tình dục có thểkhiến các em mang thai ngoài ý muốn Khi cơ thể trẻ đang ở độ tuổi phát triển chưa
Trang 24thai nhi Nhiều trường hợp các em đã phải phá thai vì chưa ý thức được vai trò,trách nhiệm làm mẹ Điều này gây ra những tổn hại nghiêm trọng về sức khỏe, thậmchí có khả năng dẫn đến vô sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe sinh sản và hạnhphúc gia đình của các em về sau,…
Xâm hại tình dục cũng gây ra những hậu quả về mặt tinh thần cho trẻ em trong
cả một thời gian dài Trẻ có thể có những cảm giác bất an, giật mình, tưởng tượng rahình ảnh kẻ xâm hại hay tiếng nói của kẻ xâm hại; tức giận bất thường và có cáchành vi hung tính ( đạp phá đồ đạc, đánh người xung quanh, ) Nhiều trường hợptrẻ tự gây hại cho bản thân như tự trẻ làm đau mình, tự cắn mình hoặc dùng daorạch vào cơ thể,… Trẻ rơi vào trạng thái hoảng sợ và không có lối thoát Vì thếnhiều em rơi vào trạng thái bế tắc và tìm đên cái chết
Xâm hại tình dục còn gây ra những lệch lạc giới tính cho các em Khi trẻ em bịxâm hại tình dục có thể trẻ sẽ không phát triển một cách tự nhiên về mặt sinh lý mà
có nguy cơ bị lệch lạc về tình dục Những ám ảnh về việc bị lạm dụng, đặc biệt làhành vi tình dục đồng giới có thể khiến trẻ trở thành những người đồng tính luyến ái
Khi trẻ ở độ tuổi lớn hơn, việc từng bị xâm hại tình dục có thể khiến trẻ cảm
thấy khó khăn trong việc tiếp xúc với bạn khác giới, khó vui chơi bình thường nhưcác bạn cùng trang lứa Sự tổn thương sẽ trở thành nỗi đau âm ỉ trong tầm hồn các
em, khiến các em trở lên rụt rè, khép kín Khi có những động chạm thông thườngvào cơ thể, đặc biệt là khi yêu ai đó, các em dễ mang tâm lý căng thẳng, hoảng loạn.Đến tuổi trưởng thành, trẻ từng bị xâm hại tình dục có thể băn khoăn, trăn trở,hoài nghi về tình yêu mà mình đang nhận được có thật không hay chỉ là họ cũng lợidụng để xâm hại mình Các em thậm chí sợ sệt chính người yêu của mình, cảm thấyhoảng loạn, sợ hãi mỗi khi hai người gần gũi Thậm chí, khi đã kết hôn, người từng
bị xâm hại vẫn mang tâm trạng lo lắng không biết mình có thể có con bình thườngđược không; sợ chồng và gia đình nhà chồng biết được câu chuyện trong quá khứcủa mình,…
Hậu quả đối với gia đình trẻ bị xâm hại: không chỉ trẻ chịu những ảnh hưởng
nghiêm trọng của việc bị xâm hại tình dục, những người thân trong gia đình, đặcbiệt là cha mẹ trẻ sẽ có cảm giác đau đớn, u buồn, căng thẳng
Trang 25Gia đình trẻ bị xâm hại tình dục sẽ bị dư luận xã hội chú ý và đôi khi còn bịcoi thường, khinh miệt Trong nhiều trường hợp, thậm chí còn ảnh hưởng đếncuộc sống tương lai của chị em trong gia đình Thậm chí, bản thân nạn nhân vàgia đình phải chuyển chỗ ở, chuyển đổi nơi làm việc và sống trong tình cảnh ứcchế, căng thẳng.
Hậu quả đối với cộng đồng xã hội: xâm hại tình dục trẻ em là hành động trái
pháp luật Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em gây mất an toàn xã hội Xâm hại tìnhdục trẻ em tác động lớn đến đạo đức xã hội, đến luân thường đạo lý, đến truyềnthống văn hóa lâu đời của người Việt Nam Loại hình tội phạm này cần phải hạnchế và loại bỏ khỏi xã hội
1.3 Giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư
Theo quan điểm C Mac – V.I Lênin, CĐ là mối quan hệ qua lại giữa các cánhân, được quyết định bởi sự CĐ hóa lợi ích giống nhau của các thành viên về cácđiều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành CĐ đó, bao gồm các hoạtđộng sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi các cá nhân về tưtưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ
về các mục tiêu và phương tiện hoạt động
Theo từ điển xã hội học của Harper Collins, CĐ được hiểu là “mọi phức hợpcác quan hệ xã hội được tiến hành trong lĩnh vực cụ thể, được xác định về mặt địa
lý, hàng xóm hay những mối quan hệ mà không hoàn toàn về mặt cư trú, mà tồn tại
Trang 26Tóm lại, qua những phân tích trên, theo chúng tôi, trong đời sống xã hội, cộng đồng là tập hợp người sinh sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội dựa trên những tiêu chí, nguyên tắc xác định.
* Cộng đồng dân cư
Theo tác giả Nguyễn Thị Tuyết Hồng “Cộng đồng dân cư là toàn thể nhữngngười cùng sinh sống trong một cộng đồng lãnh thổ hoặc đơn vị hành chính,gắn bó thànhmột khối,giữa họ có sự liên kết và hợp tác với nhau để cùng thực hiện lợi ích của mình vàlợi ích chung của xã hội” [15]
1.3.1.2 Giáo dục, phòng chống xâm hại tình dục trẻ em và giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em
Theo tác giả Nguyễn Lân “Giáo dục là một quá trình có ý thức có mục đích,
có kế hoạch nhằm truyền cho lớp mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội, về tư duy, để họ có thể có đầy đủ khả năng tham gia vào đời sống và đời sống xã hội” [18].
Theo tác giả Nguyễn Sinh Huy “Giáo dục là sự hình thành có mục đích và
có tổ chức những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người, hình thành thếgiới quan, bộ mặt đạo đức và thị hiếu thẩm mĩ cho con người; với nghĩa rộngnhất, khái niệm này bao hàm cả giáo dưỡng, dạy học và tất cả những yếu tố kháctạo nên những nét tính cách và phẩm hạnh của con người, đáp ứng yêu cầu củakinh tế xã hội” [17]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng “Giáo dục được hiểu là quá trình tác động của nhà giáo dục lên các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ ý thức, thái độ và hành vi ứng xử với cộng đồng xã hội” [36;25].
Trang 27Qua những phân tích trên, chúng tôi quan niệm rằng: Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục giúp họ có được nhận thức đầy đủ, hình thành thái độ đúng đắn và hành vi phù hợp đối với bản thân, với những người xung quanh và đối với cộng đồng xã hội.
Từ khái niệm trên, chúng tôi nhận thấy: Giáo dục là một quá trình toàn vẹn,diễn ra lâu dài, với sự vận động của nhiều thành tố cấu trúc như mục đích, mục tiêugiáo dục; nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, phương tiện giáo dục, hìnhthức tổ chức giáo dục, nhà giáo dục, người được giáo dục và kết quả giáo dục
* Phòng chống xâm hại tình dục trẻ em
Phòng chống xâm hại tình dục trẻ em là quá trình huy động rộng rãi cá nhân,gia đình, cơ quan, tổ chức, quần chúng nhân dân tham gia hoạt động phòng chống,ngăn chặn những hành động dụ dỗ, lôi kéo, dùng vũ lực để đe dọa, ép buộc trẻ emtham gia vào các hoạt động có liên quan đến tình dục
* Giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em
Từ những khái niệm đã có chúng tôi quan niệm rằng: Giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch,
có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục giúp họ có được nhận thức đầy đủ về các vấn đề liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em, trên cơ sở đó, hình thành ở họ thái độ đúng đắn và hành vi tích cực trong phòng chống xâm hại tình dục trẻ em, góp phần bảo vệ trẻ em, xây dựng môi trường
xã hội lành mạnh, văn hóa.
1.3.2 Hoạt động giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư
1.3.2.1 Mục tiêu giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư
Hoạt động giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC được thực hiện nhằmđạt được các mục tiêu cụ thể dưới đây:
(1) Trang bị cho người dân trong cộng đồng hệ thống kiển thức có liên quan đến
Trang 28(2) Hình thành cho mỗi người dân trong cộng đồng thái độ, hành vi đúng đắnđối với hành vi XHTDTE, đối với hoạt động phòng chống XHTDTE
(3) Giúp cho mỗi người dân trong cộng đồng biết cách giải quyết các vấn đềliên quan đến XHTDTE; có kĩ năng bảo vệ trẻ em trước nguy cơ XHTD
(4) Góp phần đẩy lùi tình trạng XHTDTE, xây dựng xã hội văn minh ngay tạiđịa phương và trong phạm vi cả nước
(5) Giúp cho mỗi người dân trong cộng đồng thực hiện đúng các chính sách,pháp luật của nhà nước, tránh những sai phạm liên quan đến XHTDTE
(6) Góp phần xây dựng môi trường xã hội an toàn, lành mạnh, công bằng, dânchủ, văn minh
1.3.2.2 Nội dung giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư
Để thực hiện được các mục tiêu đã đề ra, hoạt động giáo dục phòng chốngXHTDTE cho CĐDC cần thực hiện các nội dung giáo dục cụ thể là:
(1) Giáo dục nhận thức về XHTDTE, phòng chống XHTDTE cho CĐDC(2) Giáo dục hệ thống thái độ đúng đắn đối với hoạt động phòng chốngXHTDTE cho CĐDC
(3) Giáo dục kĩ năng, hành vi và thói quen phòng chống XHTDTE cho CĐDC 1.3.2.3 Hình thức giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư
Hoạt động giáo phòng chống XHTDTE cho CĐDC được thực hiện thông quanhững hình thức sau:
(1) Thông qua gia đình
(2) Thông qua các câu lạc bộ sinh hoạt tại địa bàn dân cư
(3) Thông qua các hoạt động trong cộng đồng nhằm hướng tới chủ đề phòngchống XHTDTE và giáo dục phòng chống XHTDTE
(4) Thông qua các buổi tập huấn, trao đổi có nội dung có liên quan đến phòngchống XHTDTE và giáo dục phòng chống XHTDTE
(5) Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, vận độngcác LLXH cùng phối hợp phòng chống XHTDTE và giáo dục phòng chống
Trang 29(8) Thông qua các hoạt động giáo dục, phổ biến pháp luật cho CĐDC, trong
đó có nội dung liên quan đến phòng chống XHTDTE, xử lí các trường hợp
Để có thể thu thập được những thông tin về kết quả giáo dục phòng chốngXHTDTE cho CĐDC, hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục phòng chốngXHTDTE cho CĐDC cần được thực hiện thường xuyên và đảm bảo các nguyên tắc cơbản, sử dụng hợp lí phương pháp và các công cụ thì sẽ thu được kết quả giáo dục mộtcách khách quan, nó giúp cho các lực lượng giáo dục nhận thấy những kết quả đạtđược và những mặt còn hạn chế của hoạt động giáo dục phòng chống XHTDTE choCĐDC, trên cơ sở đó, kịp thời đưa ra những điều chỉnh cần thiết, giúp cho hoạt độngnày ngày càng đạt được chất lượng
1.4 Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng dồng dân cư
1.4.1 Khái niệm
1.4.1.1 Lực lượng xã hội, phối hợp và phối hợp các lực lượng xã hội
* Lực lượng xã hội
Lực lượng xã hội là đội ngũ các lực lượng tham gia vào giải quyết vấn đề
nào đó trong xã hội, trong giáo dục có sự hỗ trợ hay huy động các lực lượng như giađình, hội phụ huynh, chính quyền địa phương, đoàn thanh niên, y tế, công an xã,
Trang 30* Phối hợp các lực lượng cộng đồng
Phối hợp các LLXH được hiểu là sự hợp tác, trao đổi, cùng thống nhất hành động
và hỗ trợ nhau gữa các lực lượng trong quá trình thực hiện mục đích và nhiệm vụ chung
* Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống XHTDTE
Phối hợp các LLCĐ trong giáo dục phòng chống XHTDTE được hiểu là sựhợp tác, trao đổi, cùng thống nhất hành động và hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ giáodục phòng chống XHTDTE giữa các lực lượng trong xã hội
Quá trình phối hợp các LLCĐ xét trong đề tài này được giới hạn là nhằm nângcao chất lượng và hiệu quả của hoạt động phòng chống XHTDTE
1.4.2 Quá trình phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng dồng dân cư
1.4.2.1 Mục tiêu và nội dung phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng dồng dân cư
* Mục tiêu phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC
Quá trình phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chống XHTDTE nhằmđạt được những mục tiêu chủ yếu dưới đây:
(1) Tạo sự thống nhất các LLXH về mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dụcphòng chống XHTDTE cho CĐDC
(2) Xây dựng môi trường thuận lợi cho mỗi người dân trong CĐ nâng caonhận thức về XHTDTE, phòng chống XHTDTE để phát triển toàn diện thái độ,hành vi phù hợp với chuẩn mực xã hội
(3) Phát huy được thế mạnh, huy động tối đa nguồn lực của từng lực lượngđảm bảo thực hiện hoạt động giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC thườngxuyên và đạt hiệu quả cao
Trang 31(4) Nâng cao trách nhiệm của các lực lượng trong giáo dục phòng chốngXHTDTE cho CĐDC, góp phần xây dựng xã hội an toàn, lành mạnh, công bằngdân chủ, văn minh.
* Nội dung phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC
Để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu trên, quá trình phối hợp các LLXHtrong giáo dục phòng chống XHTDTE cần thực hiện các nội dung cơ bản dưới đây:(1) Hoàn thiện cơ chế phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chốngXHTDTE cho CĐDC
(2) Khảo sát đánh giá thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi có liên quan đếnphòng chống XHTDTE của người dân trong CĐ
(3) Nghiên cứu, xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động giáo dục phòng chốngXHTDTE cho CĐDC
(4) Triển khai thực hiện các hoạt động thông tin, tuyên truyền nâng cao nhậnthức cho các thành phần xã hội về các vấn đề liên quan đến XHTDTE, phòng chốngXHTDTE và sự cần thiết của vấn đề phối hợp các LLXH trong giáo dục phòngchống XHTDTE cho CĐDC
(5) Huy động các nguồn lực phục vụ quá trình tổ chức hoạt động giáo dụcphòng chống XHTDTE cho CĐDC
(6) Kiểm tra, giám sát các hoạt động giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC.(7) Đánh giá chất lượng các hoạt động giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC
1.4.2.2 Nguyên tắc phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng dồng dân cư
Quá trình phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dụctrẻ em cho cộng dồng dân cư có thể diễn ra thuận lợi, thường xuyên và mang lại hiệuquả thiết, trong quá trình triển khai thực hiện, chủ thể của quá trình cần đảm bảo đượcnhững nguyên tắc cơ bản dưới đây:
(1) Nguyên tắc đảm bảo tính đồng thuận giữa các lực lượng tham gia giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC
Nguyên tắc này coi trọng vấn đề làm sao để các LLXH tham gia vào hoạt
Trang 32nguyện và đồng thuận với chủ trương phối hợp giữa các LLXH, không được áp đặthoặc ép buộc.
(2) Nguyên tắc đảm bảo tính dân chủ giữa các lực lượng tham gia giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC
Nguyên tắc này đòi hỏi chủ thể phối hợp cần tạo môi trường công khai, dân chủcho các LLXH tham gia hoạt động giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC thônghiểu lẫn nhau, có điều kiện để “Biết, bàn, làm, kiểm tra” các hoạt động, tạo điều kiệncho mối quan hệ giữa các lực lượng phát triển toàn diện và mang lại hiệu quả
(3) Nguyên tắc đảm bảo kết hợp hài hòa về lợi ích giữa các lực lượng tham gia hoạt động giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC
Mỗi hoạt động hợp tác, phối hợp đều xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của các bên
tham gia, đồng thời, các lực lượng tham gia phải hiểu được lợi ích không chỉ mang lạicho gia đình và xã hội mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho chính bản thân ngườiđược giáo dục, tập thể tham gia vào các hoạt động giáo dục phòng chống XHTDTEcho CĐDC
(4) Nguyên tắc đảm bảo phát huy tốt khả năng của mỗi lực lượng trong hoạt động giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC
Nguyên tắc này đòi hỏi các LLXH tham gia giáo dục phòng chống XHTDTEcho CĐDC phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình; đồng thời, chủ thểphối hợp cần phân công nhiệm vụ cho phù hợp mới khả năng của từng lực lượngđảm bảo đạt được hiệu quả cao nhất mà kế hoạch đã được đề ra
(5) Nguyên tắc đảm bảo tính mềm dẻo trong hoạt động phối hợp:
Nguyên tắc này đòi hỏi, chủ thể phối hợp các LLXH trong giáo dục phòngchống XHTDTE cho CĐDC phải biết lựa chọn thời gian thích hợp nhất đề đưa ra cáccách thức huy động cho phù hợp từng đối tượng
1.4.2.3 Các lực lượng xã hội tham gia giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng dồng dân cư
Giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC là một quá trình diễn ra lâu dài, có
sự tham gia của nhiều LLXH, trong đó, chúng ta có thể kể đến một số lực lượng sau:
Trang 33(1) Gia đình:
Mỗi chúng ta ngay từ khi sinh ra đã bắt đầu cuộc sống trong cái nôi gia đình.Nền tảng giáo dục của gia đình giúp con người có thể hòa nhập vào cuộc sốngchung của nhân loại Gia đình có vai trò, trách nhiệm trong việc giáo dục, đạo đức,lối sống, hình thành nhân cách đối với thế hệ trẻ Đây cũng là môi trường giáo dụctrang bị những kiến thức, kỹ năng sống đầu đời cho trẻ em Thực tế hiện nay, nhiềubậc cha mẹ chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của họ và gia đình trong bảo
vệ, chăm sóc, phát triển toàn diện trẻ em Một bộ phận cha mẹ coi việc giáo dục,phát triển trẻ là của nhà trường Bản thân cha mẹ chưa dành thời gian chăm sóc, gầngũi con cái, hạn chế trong trao đổi với trẻ về các nguy cơ bị xâm hại, thiếu tráchnhiệm với trẻ… Nhiều phụ huynh chưa hiểu đầy đủ về xâm hại trẻ em, thực trạngcủa vấn nạn này và những hậu quả mà nó gây ra cho trẻ, cho gia đình và xã hội.Nếu như cha mẹ chủ động trao đổi, cung cấp những thông tin, kỹ năng liên quanphòng, tránh các rủi ro và các nguy cơ do nghiện trò chơi trực tuyến, bị bạn bè xấulôi kéo, rủ rê, nghiện các chất ma túy… thì lại ngại ngần trong trao đổi các vấn đềliên quan sức khỏe sinh sản, các nguy cơ bị lạm dụng tình dục hoặc vấn đề bị lạmdụng, XHTD…
(2) Cán bộ Đảng, chính quyền các cấp
CB Đảng, chính quyền các cấp đóng vai trò quan trọng trong việc lập vàtriển khai kế hoạch giáo dục phòng chống XHTDTE tới cộng đồng; xây dựng vàban hành văn bản quy phạm pháp luật về phòng chồng XHTDTE, giáo dục phòngchống XHTDTE cho CĐDC và cơ chế phối hợp các LLXH trong giáo dục phòngchống XHTDTE cho CĐDC; tổ chức thực hiện pháp luật về phòng chống XHTDTEcho CĐDC ở địa phương; thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật cóliên quan đến XHTDTE; chỉ đạo, giám sát các cơ quan chức năng tuyên truyền,giáo dục pháp luật về phòng chống XHTDTE cho CĐDC
(3) Cán bộ Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội
Lãnh đạo Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội tham mưu cho lãnh đạocấp trên trong quá trình xây dựng, hoàn thiện, ban hành các văn bản về phòng
Trang 34chống XHTDTE; giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC; phối hợp các LLXHtrong giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC.
Lãnh đạo Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với lãnh đạo các
cơ quan, ban, ngành, đoàn thể huy động đầy đủ các nguồn lực cần thiết tổ chức triểnkhai hoạt động giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC
Lãnh đạo Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp vớilãnh đạo các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể tổ chức Hội nghị sơ kết, tổng kết hoạtđộng phòng chống XHTDTE và giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC
(7) Cán bộ phòng Văn hóa & Thông tin
Phối hợp với Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội xây dựng nội dung,
tổ chức thực hiện thường xuyên, hiệu quả các hoạt động tuyên truyền, giáo dục rộngrãi trong xã hội về đạo đức, lối sống, pháp luật phù hợp với từng đối tượng; tậptrung tuyên truyền về phòng chống XHTDTE trong các tầng lớp nhân dân
Trang 35(8) Cán bộ mặt trận, đoàn thể
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức về côngtác phòng chống XHTDTE, giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC; phối hợpgiám sát việc thực hiện pháp luật về tội phạm liên quan đến trẻ em Phối hợp chặtchẽ với các đơn vị liên quan trong việc vận động, giáo dục người dân trong cộngđồng tích cực tham gia công tác bảo vệ trẻ em nói chung và bảo vệ trẻ em tránhkhỏi nguy cơ XHTD nói riêng Tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao bổ ích chongười dân trong CĐ, góp phần phòng ngừa các vi phạm pháp luật ở mỗi người dân.Các LLXH tham gia hoạt động giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDCđòi hỏi phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có kiến thức đầy đủ về XHTDTE,phòng chống XHTDTE, có kĩ năng tổ chức hoạt động giáo dục và kĩ năng hợp tácvới các lực lượng trong xã hội tiến hành hoạt động giáo dục phòng chống XHTDTEcho CĐDC
Trong các LLXH trên, cán bộ Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội là lựclượng giữ vai trò chủ đạo trong phối hợp các LLXH tham gia giáo dục phòng chốngXHTDTE cho CĐDC
1.4.2.4 Hình thức phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng dồng dân cư
Phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC là mộtquá trình hoạt động lâu dài và được tiến hành dưới nhiều hình thức tổ chức, trong đó,chúng ta có thể đề cập đến một số hình thức sau:
(1) Tổ chức định kỳ các cuộc họp có nội dung liên quan đến XHTDTE, phòngchống XHTDTE, giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC
(2) Cùng tham gia thành lập Trung tâm phòng chống XHTDTE tại địa phương.(3) Cùng khảo sát đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi có liên quan đến phòngchống XHTDTE, giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC; xác định nhu cầugiáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC của người dân trong cộng đồng
(4) Tham gia thảo luận, xác định mục tiêu, nội dung, hình thức giáo dục phòngchống XHTDTE cho CĐDC
Trang 36(5) Cùng tham gia huy động các nguồn lực phục vụ cho các hoạt động giáo dụcphòng chống XHTDTE cho CĐDC.
(6) Cùng trao đổi thông tin có liên quan đến hoạt động giáo dục phòng chốngXHTDTE cho CĐDC qua điện thoại, email và các phương tiện khác
(7) Tham gia các buổi tọa đàm, trao đổi về kinh nghiệm tổ chức các hoạt động
giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC
1.4.2.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng dồng dân cư
Kiểm tra, đánh giá kết quả phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chốngxâm hại tình dục trẻ em cho cộng dồng dân cư
Kết quả phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chống XHTDTE choCĐDC có ý nghĩa quan trọng bởi lẽ, nó giúp cho các LLXH mà trực tiếp là lãnh đạoPhòng Lao động – Thương binh và xã hội thu được những thông tin về kết quả đạtđược của quá trình phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chống XHTDTE choCĐDC Đồng thời chỉ ra những mặt còn tồn tại, trên cơ sở đó, nghiên cứu, áp dụngcác biện pháp phù hợp, hiệu quả, từng bước phát huy những kết quả đã đạt được,khắc phục những vấn đề còn lại, làm cho quá trình phối hợp các LLXH trong giáodục phòng chống XHTDTE cho CĐDC ngày càng đạt kết quả cao
Kiểm tra, đánh giá kết quả phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chốngXHTDTE cho CĐDC là hoạt động có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi lẽ, thông quahoạt động này, chủ thể phối hợp sẽ thu được những thông tin về thực trạng kết quảgiáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC và kết quả phối hợp giữa các LLXHtham gia giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC, xác định những kết quả đạtđược và những vấn đề còn tồn tại, trên cơ sở đó, nghiên cứu và áp dụng các biệnpháp phù hợp nhằm không ngừng hoàn thiện, nâng cao chất lượng giáo dục phòngchống XHTDTE cho CĐDC
Để hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả phối hợp các LLXH trong giáo dụcphòng chống XHTDTE cho CĐDC thực sự mang lại hiệu quả, chủ thể của hoạtđộng này cần nghiên cứu, lựa chọn và áp dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giámang tính phù hợp và hiệu quả, đảm bảo được các nguyên tắc đã đề ra
Trang 371.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho cộng đồng dân cư
Phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC làmột quá trình diễn ra lâu dài với tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quankhác nhau, trong đó, chúng ta có thể kể đến những yếu tố cơ bản dưới đây:
Một là, Cơ chế, chính sách về phòng chống XHTDTE, giáo dục phòng chống
XHTDTE cho CĐDC và phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chống XHTDTE, giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC.
Chính sách của nhà nước là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, cácquan điểm, đường lối của Đảng, nhà nước nhằm quản lý xã hội theo một hệ thốngnhất định
Cơ chế chính sách của Nhà nước, hệ thống pháp luật liên quan đến bảo vệ trẻ
em nói chung và phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em nói riêng có ảnh hưởng lớnđến công tác phối hợp các LLXH trong phòng chống xâm hại tình dục trẻ em.Trong những năm qua, nhằm thể chế hoá các quan điểm, đường lối của Đảng
về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em và thực hiện Công ước quốc tế về Quyền trẻ
em mà Việt Nam đã ký kết từ năm 1990, Quốc hội đã ban hành, bổ sung, sửa đổinhiều đạo luật quan trọng, như: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (năm2004) đổi thành Luật Trẻ em (năm 2016); sửa đổi một số ngành luật khác như LuậtGiáo dục; Luật Phòng, chống mua bán người; Bộ Luật Hình sự; Bộ Luật Dân sự; BộLuật Lao động; Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Phòng chống bạo lực gia đình vàmột số luật, pháp lệnh khác…quy định nhiều nội dung trực tiếp hoặc gián tiếp vềviệc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em khỏi bị xâm hại nói chung và xâm hại tìnhdục nói riêng
Trên cơ sở đó, Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ở Trungương đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để chỉ đạo, hướng dẫn thựchiện các nội dung này Các văn bản này là cơ sở pháp lý, căn cứ quan trọng để các
bộ, ngành, cơ quan hữu quan và UBND các cấp chỉ đạo triển khai và tổ chức cáchoạt động phòng chống, bảo vệ, trợ giúp trẻ em tránh khỏi nguy cơ bị XHTD
Trang 38Gần đây nhất, ngày 16/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số
18/CT-TTg Về việc tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em để
tăng cường giải pháp phòng, chống và xử lý kịp thời các vụ việc bạo lực, XHTDTE,giảm tối đa các tổn hại và bảo đảm quyền, lợi ích của trẻ em
Hai là, Mức độ quan tâm, chỉ đạo của cán bộ Đảng, chính quyền địa phương
đối với các hoạt động phòng chống XHTDTE, giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC và phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chống XHTDTE, giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC
Yếu tố này đề cập đến sự quan tâm, chú trọng của lãnh đạo Đảng, chính quyềnđịa phương đối với hoạt động giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC và phốihợp các LLXH trong giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC từ việc xây dựng,hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách có liên quan, đến việc thực hiện những hànhđộng, việc làm cụ thể nhằm đảm bảo các nguồn lực cần thiết cho các hoạt động này.Mức độ quan tâm, chỉ đạo của cán bộ Đảng, chính quyền địa phương ảnhhưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động giáo dục phòng chốngXHTDTE cho CĐDC và phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chống XHTDTEcho CĐDC
Ba là, trình độ dân trí
Một trong những tiêu chí đánh giá sự phát triển của một quốc gia đó là trình độdân trí của quốc gia đó Trình độ dân trí thấp và nhận thức pháp luật của một sốngười dân, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sống của con người Trong các vấn
đề của xã hội, cụ thể là trong sự phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chốngXHTDTE cho CĐDC, việc không có những hiểu biết rõ ràng về XHTDTE sẽ làmcho quá trình bảo vệ trẻ, giúp trẻ tránh được những nguy cơ XHTD gặp nhiều khókhăn Nhiều người chưa nhận thức được hành vi họ đã thực hiện là vi phạm phápluật hoặc danh dự, nhân phẩm của họ đã bị xâm hại, phổ biến nhất là hành vi giaocấu với trẻ em Thông thường giữa kẻ xâm hại và người bị hại có quan hệ tình cảm,thậm chí có trường hợp gia đình của kẻ xâm hại và người bị hại còn tổ chức đámcưới cho hai người, tạo điều kiện cho người có hành vi xâm hại tiếp tục thực hiệnhành giao cấu với người bị hại Do đó việc phát hiện, xử lý hành vi phạm tội chưa
Trang 39triệt để, một số trường hợp hai bên còn che giấu, không hợp tác trong quá trình giảiquyết vụ án Bên cạnh đó trình độ dân trí còn thể hiện qua năng lực nhận thức củacác LLXH tham gia chăm sóc, giáo dục trẻ Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏtrong việc phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDCtại các địa phương.
Bốn là, môi trường kinh tế - xã hội
Hiện nay sự bùng nổ thông tin với mạng Internet kết nối toàn cầu đã giúp cho conngười tiếp cận một cách nhanh nhất các thông tin nhiều chiều về mọi mặt, thông quacác trang mạng internet, mỗi người dân trong CĐ có thể tự tìm hiểu các vấn đề khoahọc có liên quan đến XHTDTE, phòng chống XHTDTE Điều này giúp cho mỗingười dân trong CĐ dễ dàng tiếp cận được các thông tin cần thiết, từng bước gia tăngvốn hiểu biết, là cơ sở quan trọng cho quá trình phát triển, hoàn thiện hệ thống thái độ,tình cảm đúng đắn; từng bước hình thành được những kĩ năng, hành vi, thói quen liênquan đến XHTDTE, phòng chống XHTDTE và giáo dục phòng chống XHTDTE.Mức độ phát triển kinh tế; trình độ phát triển văn hóa – xã hội của địa phương
có tác động đến hoạt động hoạt động giáo dục giáo dục phòng chống XHTDTE vàphối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC Trong điềukiện nền của kinh tế thị trường hiện nay, việc tổ chức các hoạt động giáo dục phòngchống XHTDTE bên cạnh những thuận lợi cũng còn không ít khó khăn Chính vìvậy, điều kiện kinh tế của địa phương có ảnh hưởng không đến công tác tổ chức hoạtđộng và phối hợp các LLXH tham gia tổ chức các hoạt động giáo dục phòng chốngXHTDTE cho CĐDC tại địa phương
Năm là, kĩ năng tổ chức hoạt động giáo dục và ý thức trách nhiệm của các
LLXH trong giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC
CB Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, cùng CB các cơ quan, ban,ngành, đoàn thể tại địa phương là những chủ thể tổ chức, thực hiện hoạt độnggiáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC tại địa phương Để thực hiện tốt vaitrò của mình trong hoạt động giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC đòi hỏicác LLXH này bên cạnh việc có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của hoạt
Trang 40tổ chức hoạt động giáo dục Mức độ kĩ năng tổ chức hoạt động giáo dục của CB các
cơ quan, ban, ngành, đoàn thể ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục phòng chốngXHTDTE cho CĐDC, đồng thời, nó là cơ sở cho quá trình phối hợp giữa các lựclượng tham gia giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC, giúp quá trình phốihợp được diễn ra thuận lợi, thường xuyên và đạt được kết quả tốt
Sáu là, mức độ nhận thức và tính tích cực của các lực lượng tham gia hoạt
động giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC
Mức độ nhận thức và tính tích cực của các lực lượng ảnh hưởng rất lớn đếnchất lượng và hiệu quả của quá trình phối hợp các LLXH trong giáo dục phòngchống XHTDTE cho CĐDC Nhận thức của các lực lượng là yếu tố hàng đầuảnh hưởng đến quá trình phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chốngXHTDTE cho CĐDC Để phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ trên thì trình độ nhậnthức và tính tích cực, chủ động của các lực lượng đóng vai trò quyết định đếnquá trình phối hợp các LLXH từ việc thống nhất kế hoạch hành động, triển khai
kế hoạch trong thực tiễn và kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh hoạt động giáo dụcphòng chống XHTDTE cho CĐDC
Bảy là, chất lượng nội dung, hình thức phối hợp các lực lượng cộng đồng
tham gia giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC
Phối hợp các LLXH trong giáo dục phòng chống XHTDTE cho CĐDC muốnđạt được hiệu quả đòi hỏi phải sử dụng nhiều nội dung, hình thức phối hợp Tùythuộc vào tình hình thực hiện có thể sử dụng các nội dung, hình thức phối hợp chophù hợp Nói cách khác, nội dung, hình thức phối hợp định hướng cho quá trìnhphối hợp được thực hiện hiệu quả Chính vì vậy, có thể khẳng định, nội dung, hìnhthức giáo dục đa dạng, phong phú, phù hợp với thực tiễn địa phương, đặc điểm củacác LLXH ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả phối hợp
Các LLXH phải thực sự quan tâm và thực hiện theo đúng chức năng và nhiệm
vụ của mình Có như vậy những mục tiêu phối hợp các LLXH trong giáo dục phòngchống XHTDTE cho CĐDC mới đạt kết quả cao