1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHỐI hơp các lực LƯỢNG xã hội TRONG GIÁO dục GIỚI TÍNH CHO học SINH TRUNG học cơ sở TRÊN địa bàn HUYỆN MAI sơn, TỈNH sơn LA

107 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biện pháp 4: Đổi mới cách tổ chức các nội dung và hình thức phối hợp của nhà trường với các lực lượng xã hội, cộng đồng trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở...67 3.2.5..

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -NGUYỄN THẾ THẮNG

PHỐI HƠP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: T.S Trương Xuân Cừ

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La” dưới sự hướng dẫn của TS Trương Xuân Cừ là công

trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu có trích dẫn nguồn chínhxác, kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là trung thực, chưa từng được công

bố trong bất kỳ một nghiên cứu nào khác

Người thực hiện

Nguyễn Thế Thắng

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Trong thời gian học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài luận văn Thạc sĩ giáo dục và phát triển cọng đồng tại trường Đại học sư phạm Hà Nội, em đã được các Thầy, các Cô giáo tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho chúng em hoàn thành nhiệm vụ học tập, cũng như hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình.

Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các Thầy giáo, Cô giáo trường Đại học sư phạm Hà Nội, cán bộ, giáo viên trường Đại học Tây bắc

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo, Tiến sỹ Trương Xuân Cừ, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp

đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài và những gì đạt được hôm nay là công lao giảng dạy và hướng dẫn của các thầy, cô giáo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và trường Đại học Tây Bắc

Tôi xin gừi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Cán bộ, Giáo viên, cha mẹ học sinh, học sinh các trường THCS Chất lượng cao Mai Sơn, THCS Chu Văn Thịnh và THCS Chiềng Mung xã Chiềng Mung huyện Mai Sơn đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài Dù đã hết sức cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong được sự đóng góp ý kiến bổ sung của các Thầy giáo, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện và

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5

8 Cấu trúc của luận văn 6

CHƯƠNG I LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.2 Các khái niệm cơ bản 11

1.2.1 Giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 11

1.3 Phối hợp nhà trường với các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 22

1.3.1 Khái niệm 22

1.3.2 Vai trò của các lực lượng xã hội trong phối hợp giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 23

1.3.3 Mục đích phối hợp của các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 23

1.3.4 Nguyên tắc phối hợp của các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 24

1.3.5 Nội dung phối hợp của các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 24

1.3.7 Đánh giá việc phối hợp của các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 26

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phối hợp nhà trường với lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 26

Trang 5

1.4.1 Chủ trương, chính sách của Nhà nước, của địa phương 26

1.4.2 Các yếu tố thuộc về các chủ thể phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở 27

Tiểu kết chương 1 28

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHỐI HƠP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA 30

2.1 Khái quát đặc điểm, sự phát triển về kinh tế - xã hội và giáo dục huyện Mai Sơn 30

2.1.1 Đặc điểm tình hình xã hội huyện Mai Sơn 30

2.1.2 Về khách thể khảo sát 30

2.2 Tổ chức điều tra khảo sát 31

2.2.1 Mục tiêu khảo sát 31

2.2.2 Nội dung điều tra khảo sát 31

2.2.3 Địa bàn điều tra khảo sát 31

2.2.4 Phương pháp điều tra khảo sát và xử lý kết quả 32

2.3 Thực trạng việc giáo dục giới tính ở trường THCS huyện Mai Sơn 33

2.3.1 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục giới tính tại trường THCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 33

2.3.2 Phân công giáo viên giảng dạy giáo dục giới tính 37

2.3.3 Chương trình và tài liệu tham khảo giáo dục giới tính 38

2.3.4 Đánh giá thái độ học tập giáo dục giới tính của HSTHCS 40

2.4 Thực trạng việc phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 42

2.4.1 Về mục tiêu của việc phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho HSTHCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 42

2.4.2 Đánh giá về nội dung của công tác phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho HSTHCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 44

Trang 6

2.4.3 Thực trạng về phương pháp và hình thức phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn

La 47

2.4.4 Đánh giá về vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho HSTHCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 50

2.5 Đánh giá chung về thực trạng phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 52

2.5.1 Thuận lợi 52

2.5.2 Khó khăn 52

2.5.3 Nguyên nhân của những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 53

Tiểu kết chương 2 55

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA, 56

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 56

3.1.1.Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ và hệ thống 56

3.1.2.Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 57

3.1.3.Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và tính khả thi 57

3.2 Các biện phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 58

3.2.1 Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch phối hợp các lực lượng xã hội trong hoạt động giáo dục giáo dục giới tính cho HS 58

3.2.2 Biện pháp 2: Nâng cao năng lực cho giáo viên và cán bộ quản lý về giáo dục giới tính và các biện phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 61

3.2.2.1 Mục tiêu của biện pháp 61

Trang 7

3.2.3 Biện pháp 3: Nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch phối hợp các lực

lượng xã hội trong tổ chức các hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh 65

3.2.3.1 Mục tiêu của biện pháp 65

3.2.4 Biện pháp 4: Đổi mới cách tổ chức các nội dung và hình thức phối hợp của nhà trường với các lực lượng xã hội, cộng đồng trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 67

3.2.5 Biện pháp 5: Đổi mới quản lý, giám sát và đánh giá trong phối hợp của nhà trường với các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở 70

3.2.6 Biện pháp 6: Hoàn thiện cơ chế, chính sách của nhà trường và cộng đồng trong việc phối hợp các lực lượng xã hội giáo dục giới tính cho Học sinh trung học cơ sở 72

3.2.7 Mối quan hệ giữa các biện pháp phối hợp 75

3.3 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 76

3.3.1.Mục đích khảo nghiệm 76

3.3.2 Đối tượng khảo nghiệm 76

3.3.4 Nội dung khảo sát 76

Tiểu kết chương 3 81

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

PHỤ LỤC

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế đổi mới con người Việt Nam vừa là mục tiêu vừa là độnglực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Vấn đề con người là mộttrong những vấn đề luôn được xã hội coi trọng và quan tâm ở mọi thời đại.Trong giai đoạn đổi mới hiện nay của đất nước ta, việc coi trọng chất lượngcuộc sống của con người Việt Nam đã và đang trở thành mục tiêu, động lực củachiến lược phát triển kinh tế xã hội

Xã hội phát triển kéo theo các mặt khác của xã hội cũng phát triển, đặcbiệt là nền văn hóa, nhất là đang trong quá trình hội nhập Nền văn hóa tác độngnhiều mặt tới sự phát triển của con người nói chung và học sinh nói riêng Bêncạnh những mặt tích cực cũng có những ảnh hưởng tiêu cực, vấn đề đang được

xã hội quan tâm đó là sự du nhập của văn hóa phương Tây đã có ảnh hưởng tớihọc sinh trung học cơ sở (THCS) - Lứa tuổi đang có sự thay đổi mạnh mẽ về thểchất cũng như giới tính Vì vậy vấn đề giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niêncho học sinh đang được nghành giáo dục quan tâm

Giáo dục thế hệ trẻ trở thành con người toàn diện không chỉ cung cấpnhững tri thức khoa học đơn thuần mà những tri thức về giới tính, đời sống giớitính là điều không thể thiếu được Thực tế đã cho thấy những vấn đề về giới tínhnói chung, tình yêu, tình dục nói riêng đang là điểm báo động đỏ Rất nhiều sự

sa sút xoay quanh vấn đề giới tính của học sinh như yêu đương quá sớm, sinh nởsớm, nạo phá thai, các cử chỉ hành vi suồng sã ở lứa tuổi học sinh phổ thông

trung học hoặc thậm chí là sớm hơn…Các em học sinh THCS đã thực sự quan

tâm đến vấn đề này hay chưa, nhận thức và thái độ đối với những nội dung giáo

dục giới tính như thế nào… là những câu hỏi hết sức phức tạp và lý thú, nắm vững kiến thức giáo dục giới tính là cực kỳ cần thiết.

Giáo dục giới tính giúp học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng cómột quan điểm tích cực về tình dục, đồng thời cung cấp các thông tin và kỹ năng

Trang 9

để trẻ vị thành niên có được thái độ và hành vi đúng, hiểu biết và có trách nhiệm

về những quyết định của mình Các chương trình giáo dục giới tính cần sự phốihợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội

Một số quan điểm lo ngại rằng nếu cung cấp cho trẻ vị thành niên nhữngthông tin và giúp chúng phòng ngừa việc có thai và các bệnh lây truyền quađường tình dục sẽ vô tình thúc đẩy trẻ có hoạt động tình dục sớm và bừa bãi.Tuy nhiên, thực tế thực hiện giáo dục giới tính ở nhiều nước cho thấy hoàn toànngược lại Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khảo sát 19 chương trình giáo dụcgiới tính trường học ở nhiều nước, tất cả đều cho thấy trẻ vị thành niên có hoạtđộng tình dục trễ hơn, giảm hoạt động tình dục, biết cách sử dụng các biện phápngừa thai một cách hiệu quả, và hoàn toàn không thúc đẩy trẻ có hoạt động tìnhdục sớm và nhiều hơn Giáo dục giới tính hiệu quả nhất khi thực hiện trước khitrẻ bước vào tuổi hoạt động tình dục Các bước tích cực này sẽ giúp khuyếnkhích trẻ không hoạt động tình dục sớm và biết cách sinh hoạt tình dục một cách

an toàn, giảm thiểu thai ngoài ý muốn ở các em

Cuộc sống hoàn toàn không dễ dàng đối với trẻ vị thành niên, nhất làtrong hoàn cảnh kinh tế xã hội hiện nay, đặc biệt đối với những trẻ không đượcchuẩn bị đầy đủ để đối mặt với các vấn đề đặc thù của lứa tuổi Thực trạng hiệnnay đã và đang cho thấy điều đó Nếu chúng ta mong đợi trẻ vị thành niênnhững quyết định đúng đắn, có trách nhiệm trước những cạm bẫy và thách thứccủa xã hội, chúng ta phải đảm bảo trẻ vị thành niên được cung cấp đầy đủ thôngtin, kỹ năng và phương tiện để quyết định và các giá trị chúng cần tôn trọng vàthực hiện Chúng ta cần nhận thức rằng đã đến lúc để đặt kế hoạch cho tương lai

và chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được điều đó

Mục tiêu của GDGT là chuẩn bị cho tuổi mới lớn về tâm lý trước pháttriển sinh lý, về nhận thức để định hình nhân cách, tạo sức mạnh nội tâm đềkháng trước những bùng nổ giới tính của bản năng có thể gây hại cho bản thân,xung quanh

Trang 10

Giáo dục những hiểu biết về tâm lý, sinh lý, vệ sinh tuổi dậy thì, nhữngbiến đổi và khác biệt về tính cách em trai em gái do các hocmon từ các tuyếnsinh dục gây ra; giáo dục kỹ năng giao tiếp ứng xử trong quan hệ giữa bạn trai,bạn gái ở tuổi vị thành niên với cha mẹ, anh em trong gia đình; hiểu biết sâu sắccác giá trị của tình bạn, tình yêu, hiểu biết những thất bại tâm lý và các nguy hạilâu dài phải gánh chịu nếu vượt qua trái cấm; giáo dục bạn trai biết tự trọng, tôntrọng bảo vệ bạn gái, có bản lĩnh biết tự kiềm chế để chứng minh cho một tìnhyêu lành mạnh nếu nó chớm nở; giáo dục kỹ năng phòng vệ trước các áp lực nộitại đến từ hai phía, đặc biệt giáo dục kỹ năng phòng vệ cho các em gái, và rấtnhiều nội dung khác xoay quanh tâm lý giới tính tuổi mới lớn giúp các em tự tin,

tự chủ, tự hoàn thiện nhân cách, tự nhận thức để thay đổi hành vi, vững vàng nói

“không” trước cám dỗ của bản năng ở độ tuổi phát dục

Như vậy giáo dục giới tính và giáo dục tình dục tiếp cận giới trẻ ở hai độtuổi khác nhau nên nội dung khác biệt rất lớn, khiến không thể thay thế hay lồngghép vào nhau được

Giáo dục giới tính cho học sinh không phải là việc của riêng một cá nhân, tậpthể mà là việc của toàn gia đình, nhà trường và xã hội Tuy nhiên, thực tế địaphương cho thấy đa số các bậc phụ huynh có trình độ dân trí chưa cao, còn bảothủ về vấn đề giáo dục giới tính Đặc biệt là nạn tảo hôn của một bộ phận khôngnhỏ trẻ vị thành niên là người dân tộc thiểu số Vì vậy, nhà trường phải nắm vai

trò chủ đạo trong việc này

Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La”.

Trang 11

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học

sinh bậc trung học cơ sở

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh bậctrung học cơ sở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

4 Giả thuyết khoa học

Hoạt động phối hợp của nhà trường với các lực lượng xã hội trong giáodục giới tính cho học sinh trung học cơ sở huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La chưađồng bộ, đạt hiệu quả chưa cao Có yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan tácđộng đến công tác này, trong đó yếu tố ảnh hưởng trực tiếp là yếu tố chủ quannhư: việc giáo dục giới tính cho học sinh bậc THCS đã được quan tâm nhưngchưa có hệ thống, chưa được tổ chức thực hiện một cách thường xuyên, đặc biệtthiếu sự quan tâm của các lực lượng xã hội và hiện tượng bùng nổ các hình ảnh

về “sex”, mại dâm, xâm hại tình dục, quấy rối tình dục là những yếu tố ảnhhưởng trực tiếp đến suy nghĩ và nhận thức đến lứa tuổi học sinh nói chung vàhọc sinh THCS nói riêng Có thể đề xuất một số biện pháp phối hợp các lựclượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở huyện MaiSơn - tỉnh Sơn La

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về phối hợp các lực lượng xã hội trong giáodục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng phối hợp các lực lượng xã hội tronggiáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La vàcác yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng

5.3 Đề xuất, khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp phốihợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sởhuyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La

Trang 12

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp phối hợp các lực lượng xã hộitrong giáo dục giới tính của 3 trường THCS trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnhSơn La gồm: THCS Chiềng Mung, THCS Chu Văn Thịnh, THCS Chất LượngCao thuộc huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La và các lực lượng xã hội trên địa bàn của

3 trường nói trên Huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La

6.2 Khách thể khảo sát

Luận văn khảo sát tại ba trường THCS thuộc huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn Labao gồm các trường THCS xã Chiềng Mung, THCS Chu Văn Thịnh, THCSChất lượng cao Mai Sơn, với 60 giáo viên, 60 PHHS và 100 học sinh, 06 cán bộ

là chính quyền địa phương; 05 bí thư Đoàn thanh niên, 05 hội phụ nữ cơ sở, 3phát thanh, truyền hình địa phương, 10 cán bộ quản lý và viên chức phòng Giáodục - Đào tạo của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận

Bao gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu liênquan đến đề tài nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Sử dụng bảng hỏi nhằm thu thập các thông tin, số liệu về thực trạng phốihợp giữa nhà trường với cộng đồng trong giáo dục dục giới tính cho học sinhtrung học cơ sở Huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

7.3 Phương pháp phỏng vấn

Tiến hành phỏng vấn một số tổ chức đoàn thể: đoàn thanh niên, Hội liênhiệp phụ nữ thị trấn Hát Lót, xã Chiềng Mung, Ban đại diện cha mẹ họcsinh, để tìm kiếm và thu thập thông tin về nội dung, hình thức tổ chức và cácbiện pháp phối hợp các đoàn thể này tham gia giáo dục giới tính cho học sinh ởcác trường THCS trên địa bàn huyện

7.4 Phương pháp quan sát

Trang 13

Được sử dụng trong đề tài để quan sát các hình thức tổ chức, các nội dungcủa phối hợp các lực lượng trong cộng đồng Đồng thời quan sát các công việccủa tập thể và cá nhân tham gia thực hiện việc phối hợp các lực lượng tham giagiáo dục giới tính cho học sinh, nhằm thu thập thêm các thông tin cần thiết, bổxung cho kết quả điều tra bằng bảng hỏi, làm tăng thêm tính khách quan và độtin cậy của kết quả nghiên cứu.

7.5 Phương pháp chuyên gia

Lấy ý kiến tham khảo của một số chuyên gia để được định hướng chothực nghiệm tác động cũng như nội dung cách thức tổ chức thực nghiệm

7.6 Phương pháp khảo nghiệm

Dựa trên nguồn thông tin thu thập được từ những số liệu điều tra từ đóxây dựng luận cứ để chứng minh giả thuyết của đề tài

7.7 Phương pháp xử lý số liệu

Trong đề tài sử dụng các công thức thống kê toán học để phân tích địnhlượng và định tính các kết quả nghiên cứu của luận văn

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở 3 chương:

Chương 1 Lí luận về phối hợp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo

dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

Chương 2 Thực trạng phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới

tính cho học sinh trung học cơ sở huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La

Chương 3 Biện pháp phối hợp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo

dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La

Trang 14

CHƯƠNG I LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC

SINH BẬC TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Trong xã hội loài người, ngay từ thời cổ đại giới tính đã dược quan tâmtìm hiểu, tuy rằng rất thô sơ và có phần mang màu sắc cảm tính, mê tín Thời kìvăn minh loài người, giới tính đã được đề cập đến bằng một hệ thống thần thoại

cổ đại và các khảo luận về tình yêu như Kinh “Kama Sutra” của Ấn Độ, “Nghệthuật yêu” của Ovidius, “Chuỗi ngọc của người yêu” của Hazma, “Phaedr” và

“Bữa tiệc” của Platon… Trong đó các tác giả“ không những đặt cơ sở các chuẩnmực về đạo đức và tôn giáo cho tình yêu, mà còn cung cấp những kiến thức vềsinh học và tâm lí học tình dục” IU.I Kusniruk, Tình dục học phổ thông, NXBVăn học năm 1988 (tr 10,11)

Trong cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, các đề tài nghiên cứu giới tínhđược mở rộng hơn… Cho đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các nhà khoahọc J Bachocen (Thuỵ Sỹ), J Mac Lennan (Anh), E Westermach (Phần Lan),Lewis Henry Morgan (Mĩ), X.M Kovalevxki (Nga)… không những đã gắn sựphát triển quan hệ tình dục với các dạng hôn nhân và gia đình, mà còn gắn cảvới yếu tố khác của chế độ xã hội và văn hoá Trong số tác giả đó có tác giả J.PMA-SƠ-LÔ-VA (Tiệp Khắc) đã nghiên cứu các vấn đề về giới tính chorằng:''Nhiều người trong chúng ta biết rằng không nên để con cái phải tự lần mòtìm hiểu lấy chuyện tình dục, song lại không biết hướng dẫn, tác động, khôngbiết khi nào cần nói và nói như thế nào Thế hệ trẻ ngày nay khác rất xa thế hệchúng ta Vì vậy phải dẫn dắt họ theo kiểu khác”, “Mục đích của toàn bộchương trình giáo dục tình dục từ tuổi ấu thơ tới tuổi trưởng thành không chỉ làtrang bị kiến thức, xây dựng ý thức tình dục mà điều quan trọng là xây dựngnhững quan niệm đúng đắn về vai trò, trách nhiệm của người đàn ông và phụ nữtrong cuộc sống vợ chồng, trong gia đình và trong xã hội''.- Sách ''Giới tính tuổihoa'' [10.38]

Trang 15

Vấn đề tổ chức hoạt động giáo dục giới tính ở Việt Nam trong thời giangần đây đã được các nhà khoa học, các nhà quản lý, các tổ chức chính trị - xãhội quan tâm nghiên cứu

Chỉ thị số 176A ngày 24/12/1974 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng PhạmVăn Đồng kí đã nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp,Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan xây dựng chương trìnhchính khoá và ngoại khoá nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức vềkhoa học giới tính, về hôn nhân gia đình và nuôi dạy con cái.” Bộ Giáo dục đãđưa ra Chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính trong toàn bộ hệthống trường học các cấp và các ngành học của cả nước

Những công trình nghiên cứu của các tác giả về giới tính, về tình yêu, hônnhân gia đình đã bắt đầu được công bố Các tác giả Đặng Xuân Hoài, TrầnTrọng Thuỷ, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan, Nguyễn Thị Tho, Bùi NgọcOánh, Lê Nguyên, Phạm Ngọc, Minh Đức… xuất bản từ những năm 1985 đãnghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh chi tiết của giới tính và giáo dục giớitính Những công trình này đã nêu lên nhiều vấn đề rất phong phú đa dạng vềvấn đề giới tính và giáo dục giới tính ở Việt Nam

Trong các Công trình có Công trình nghiên cứu các dự án VIE/88/P09,VIE 88/P11 cấp quốc gia do tổ chức PATH CANADA tài trợ cùng nhómnghiên cứu là các nhà khoa học tầm cỡ của Việt Nam đã xem xét việc giáo dụcgiới tính là vấn đề mấu chốt của đức dục đối với tuổi vị thành niên nói chung vàhọc sinh bậc trung học cơ sở nói riêng được triển khai thực nghiệm từ thập niên

1980 và chính thức đưa vào thực hiện rộng rãi trong các trường THCS từ nămhọc 1990-1991 đã mở ra một bước ngoặt quan trọng trong việc nghiên cứu, quyhoạch, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên ở các cơ sởgiáo dục trực tiếp làm công tác giáo dục giới tính có phẩm chất, có năng lựctrình độ chuyên môn nhất định, có tầm nhìn trong lĩnh vực này nhằm đáp ứngkịp thời cho sự nghiệp ''trồng người'' Giáo dục giới tính bao hàm những tri thức

về mối quan hệ giữa sự phát triển tình dục và nhân cách, thể chất và tinh thần

Trang 16

của trẻ em và thanh thiếu niên thông qua các hình thức: lồng ghép vào một sốmôn văn hóa, sinh hoạt nội khóa, sinh hoạt ngoại khóa bằng phương pháp dạyhọc tích cực và việc trao đổi kinh nghiệm giáo dục để tìm ra những giải pháp tốtnhất cho việc giáo dục giới tính trong nhà trường phổ thông nói chung và ở bậcTHCS nói riêng

Các nhà nghiên cứu giáo dục, các tác giả, các chuyên gia đầu ngành trong

và ngoài nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục giới tínhtrong nhà trường, về vai trò của các nhà giáo dục nhằm nâng cao hiệu quả giáodục như:

- Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Dương cho rằng:'' Trởngại lớn trong việc giáo dục giới tính cho học sinh THCS là do thầy cô và cha

mẹ thường chỉ chú trọng việc giáo dục bằng sức ép từ trên dội xuống và tácđộng một chiều, không cởi mở, thiếu lắng nghe Điều đó càng tạo thêm hố sâu,khoảng cách giữa thầy cô, cha mẹ và con cái, làm giảm thiểu (có khi phản tácdụng) về hiệu quả giáo dục Chính vì vậy, mà việc liên kết giữa gia đình, nhàtrường và xã hội trong vấn đề này là vô cùng quan trọng.”- Tạp chí phát triểngiáo dục số 165, (tr 56,57)

- Theo tác giả Võ Hưng, tại hội thảo khoa học ''Đề xuất và thử nghiệmgiải pháp đưa giáo dục giới tính vào trường trung học tại Tp HCM'' khẳngđịnh:''Các bậc cha mẹ cần hiểu rõ mục đích giáo dục giới tính là giúp con embiết tự tin, tự trọng và tự bảo vệ để sau này trở thành người có trách nhiệm với

xã hội, biết tôn trọng nhau trong quan hệ nam nữ, tạo điều kiện để xây dựngcuộc sống hạnh phúc''.- Báo Giáo dục và Thời đại số 37/2004, (tr.41)

- Dự án VIE/97/P12 đã nghiên cứu về giáo dục SKSS-VTN cho rằng: ''Vịthành niên và thanh niên là một giai đoạn trong cuộc đời con người Lớp thanhniên này được thông tri giáo dục về SKSS -VTN sẽ trưởng thành lên người lớn.Lại có một lớp VTN mới cần được thông tri giáo dục về SKSS - VTN Và vìvậy, nhu cầu về thông tin giáo dục SKSS-VTN cho vị thành niên là một nhu cầuthường xuyên, liên tục'' (tr.192)

Trang 17

- Dự án VIE/88/P10 đã nghiên cứu về kiến thức y học liên quan đến giớitính Đặc biệt là giáo dục sức khỏe sinh sản trong thanh niên

- Năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về giáo dục đời sốnggia đình và giới tính cho học sinh (gọi tắt là Giáo dục đời sống gia đình) có kíhiệu VIE/88/P09 (gọi tắt là đề án P09) đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ Giáodục và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thựchiện với sự tài trợ của UNFPA và UNESCO khu vực Dưới sự chỉ đạo trực tiếpcủa Giáo sư Trần Trọng Thuỷ và Giáo sư Đặng Xuân Hoài, Đề án đã được tiếnhành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như:quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân, nhận thức về giới tính và giáo dụcgiới tính của giáo viên, học sinh, phụ huynh… ở nhiều nơi trong cả nước, đểchuẩn bị tiến hành giáo dục giới tính cho học sinh phổ thông từ lớp 7 đến lớp 12

Ngoài ra, còn nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu được công bốtrên các tập san chuyên nghành như: nghiên cứu giáo dục, giáo dục phổ thông, Những công trình này thực sự nghiên cứu những mảng đề tài hết sức thiết thực,

cụ thể trong công tác quản lý, xây dựng đội ngũ làm công tác giáo dục giới tínhtrong các trường phổ thông

Tóm lại, vấn đề giới tính và giáo dục giới tính liên quan đến đề tài, từ lâu

đã trở thành một đề tài mà nhiều nghiên cứu đã quan tâm và nghiên cứu dướinhiều góc độ khác nhau của các nhà khoa học trong và ngoài nước Tuy nhiênvấn đề này nhất là biện pháp phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giớitính cho học sinh THCS nói chung và học sinh THCS huyện Mai Sơn nói riênghầu như chưa ai đi sâu vào nghiên cứu Việc tiếp thu, kế thừa các công trình củacác nhà khoa học trong và ngoài nước để tiếp tục nghiên cứu vấn đề này trở nêncấp thiết nhất là trong tình hình đáng báo động về số trẻ vị thành niên nạo pháthai ở Việt Nam khá cao so với các nước trong khu vực và thế giới

Trang 18

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

1.2.1.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học cơ sở

Học sinh trung học cơ sở bao gồm những em từ 11,12 tuổi đến 14,15 tuổi,đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 trường trung học cơ sở Trên thực tế đa số các

em học sinh trung học cơ sở đã bước vào lứa tuổi thiếu niên nên người ta gọi lứatuổi này là lứa tuổi thiếu niên

Lứa tuổi này có một vị trí hết sức quan trọng và đặc biệt, đặc biệt vì giaiđoạn này là thời kì chuyển từ cuối nhi đồng sang lứa tuổi thiếu niên Sự chuyểntiếp này tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt đặc thù về mọi mặt ở thời kỳnày, được biểu hiện như sau:

* Sự biến đổi về mặt giải phẫu sinh lí ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở

Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đều về mặt cơ thể Tầmvóc của các em lớn lên trông thấy Sự phát triển của hệ xương mà chủ yếu là sựphát triển của các xương tay, xương chân rất nhanh nhưng xương ngón tay, ngónchân phát triển chậm Vì thế ở lứa tuổi này các em không mập béo, mà cao, gầy

và thiếu cân đối, các em có vẻ lóng ngóng, vụng về, các em thường cố gắng chegiấu sự lóng ngóng, vụng về bằng điệu bộ không tự nhiên, cầu kì, tỏ ra mạnhbạo, can đảm để người khác không chú ý tới vẻ bề ngoài của mình

Sự phát triển của hệ tim mạch cũng không cân đối; tuyến nội tiết bắt đầuhoạt động mạnh, thường dẫn đến sự rối loạn của hoạt động thần kinh Do đó, các

em dễ xúc động, dễ bực tức Hệ thần kinh của lứa tuổi này còn chưa có khảnăng chịu kích thích mạnh, đơn điệu, kéo dài dễ gây cho các em tình trạng bị ứcchế hay ngược lại, xảy ra tình trạng bị kích động mạnh

Tóm lại, sự thay đổi về thể chất của lứa tuổi này đã làm cho các em cónhững đặc điểm nhân cách khác nhau với các em ở lứa tuổi trước Lứa tuổi này

là lứa tuổi có nghị lực dồi dào, có tính tích cực cao có, có nhiều dự định lớn lao

Trang 19

* Sự phát triển trí tuệ của học sinh trung học cơ sở

Ở lứa tuổi này có khả năng phân tích, tổng hợp phức tạp hơn khi tri giáccác sự vật, hiện tượng Khối lượng tri giác tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch,

có trình tự hoàn thiện hơn

Hoạt động tư duy của lứa tuổi này có những biến đổi cơ bản Do nội dungcác môn học phong phú, đa dạng, phức tạp đòi hỏi tính chất mới mẻ của việclĩnh hội tri thức, đòi hỏi phải dựa vào tư duy độc lập, khả năng khái quát hóa,trừu tượng hóa, so sánh, phán đoán mới rút ra được kết luận, mới hiểu được tàiliệu học Vì thế tư duy của học sinh THCS đã phát triển ở mức cao

* Hoạt động giao tiếp của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở

Ở lứa tuổi này có nhu cầu mở rộng quan hệ với người lớn và mong muốnngười lớn quan hệ với nó một cách bình đẳng như người lớn, không muốn ngườilớn coi như trẻ con như trước đây nữa

Sự thay đổi nhận thức ở lứa tuổi này là cảm giác về sự trưởng thành vànhu cầu được người lớn thừa nhận là người lớn đã nảy sinh vấn đề quyền hạncủa người lớn và các em trong quan hệ với nhau

Như vậy việc chuyển tiếp từ kiểu quan hệ giữa người lớn và trẻ em, sangkiểu quan hệ mới về chất (đặc thù cho sự giao tiếp học sinh trung học cơ sở vớingười lớn), tạo điều kiện phát triển mức độ trưởng thành ở lứa tuổi này

Ngôn ngữ và sự giao tiếp giữa các em đã vượt qua ngoài phạm vi nhàtrường, mà còn mở rộng trong những hứng thú mới, những việc làm mới, nhữngquan hệ mới trong đời sống của các em, các em có nhu cầu lớn trong giao tiếpvới bạn bè, do đó ở lứa tuổi này hoạt động giao tiếp với bạn bè đã trở thành hoạtđộng chủ đạo đứng sau hoạt động học tập Vì vậy, giáo dục đạo đức cho họcsinh ở lứa tuổi này cần lưu ý đến những nhóm bạn bè mà học sinh tham gia

Tóm lại, sự giao tiếp ở lứa tuổi học sinh trung học cơ sở là một hoạt độngđặc biệt Nhờ hoạt động giao tiếp mà các em nhận thức được người khác và bảnthân mình; đồng thời qua đó làm phát triển một số kĩ năng như kĩ năng so sánh,

Trang 20

phân tích, khái quát hành vi của bản thân và của bạn, làm phong phú thêmnhững biểu tượng về nhân cách của bạn và của bản thân.

* Sự phát triển nhân cách của học sinh Trung học cơ sở

- Sự hình thành tự ý thức

Trong độ tuổi này, đặc điểm quan trọng về tự ý thức của lứa tuổi này là sựmâu thuẫn giữa nhu cầu tìm hiểu bản thân với kĩ năng chưa đầy đủ để phân tíchđúng đắn sự biểu lộ của nhân cách

Ý nghĩa quyết định nhất để phát triển tự ý thức ở lứa tuổi này là cuộc sốngtập thể của các em, nơi mà nhiều mối quan hệ giá trị đúng đắn, các mối quan hệnày sẽ hình thành ở các em lòng tự tin vào sự tự đánh giá của mình, như lànhững yêu cầu ngày càng cao đối với hành vi, hoạt động của các em, nguyệnvọng tìm kiếm một vị trí trong hệ thống những mối quan hệ xã hội đứng đắn đốivới các em, cũng đồng thời giúp cho sự phát triển về mặt tự ý thức của các em

- Sự hình thành tình cảm

Về mặt tình cảm của lứa tuổi này có một đặc điểm nổi bật là dễ xúc động,

dễ bị kích động, tình cảm còn mang tính chất bồng bột Nhiều khi do hoạt độngthần kinh không cân bằng, thường quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ứcchế mà khiến các em khó kiềm chế

Ở lứa tuổi này, đã bắt đầu xuất hiện sự quan tâm đến bản thân, đến nhữngphẩm chất nhân cách của mình Ở các em đã biểu hiện nhu cầu tự đánh giá, nhucầu so sánh mình với người khác Các em đã bắt đầu xem xét mình, vạch chomình một nhân cách tương lai, muốn hiểu biết về mặt mạnh, mặt yếu trong nhâncách của mình

Sự bắt đầu hình thành và phát triển tự ý thức đã gây ra nhiều ấn tượng sâusắc đến toàn bộ đời sống tâm lý của lứa tuổi này, đến hoạt động học tập, đến sựhình thành mối quan hệ qua lại mọi người Sự tự ts thức của lứa tuổi này bắt đầu

từ sự nhận thức hành vi của mình Lúc đầu các em tự nhận thức được nhữnghành vi riêng lẻ, sau đó là toàn bộ hành vi của mình Cuối cùng là các em nhậnthức về những phẩm chất đạo đức, tính cách và khả năng của mình

Trang 21

Tóm lại, học sinh trung học cơ sở là lứa tuổi đang hình thành nhân cách,

lứa tuổi rất thích hoạt động nhưng nhận thức và khả năng còn hạn chế Đây làyếu tố chi phối việc giáo dục tính trách nhiệm cho học sinh THCS Xét chocùng, kết quả giáo dục nói chung và giáo dục tính trách nhiệm nói riêng phụthuộc rất nhiều vào việc tiếp nhận của đối tượng giáo dục Dù chủ thể giáo dục

có tích cực đến đâu mà đối tượng giáo dục không tiếp nhận thì quá trình giáodục tính trách nhiệm cũng sẽ không có hiệu quả

1.2.1.2 Khái niệm giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

* Khái niệm về giới tính:

- Giới tính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và thường bị sửdụng lẫn lộn với nhiều thuật ngữ khác như: giới, tính dục, tình dục, sinh dục…Nhiều người thường quan niệm giới tính đồng nghĩa với tình dục hoặc với tínhdục Đó là quan niệm chưa thật sự đầy đủ, chỉ hiểu một cách đơn giản hoặc hiểu

về một mặt nào đó của giới tính

- Giới tính cần được hiểu một cách toàn diện hơn:

+ Trước hết, theo từ ngữ, giới tính có thể được hiểu là những đặc điểmcủa giới Những đặc điểm này có thể rất phong phú và đa dạng Vì giới vừa baogồm những thuộc tính về sinh học và những thuộc tính về tâm lí xã hội, nên giớitính cũng bao gồm những đặc điểm về sinh lí cơ thể và tâm lí xã hội

+ Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên những đặctrưng của giới, giúp cho chúng ta phân biệt giới này với giới kia Những đặcđiểm trên thường mang đặc trưng của từng giới và tạo nên sự khác biệt giữa haigiới Giới tính là những yếu tố xác định sự khác biệt giữa giới này và giới kia

Có thể định nghĩa, giới tính là toàn bộ những đặc điểm ở con người, tạo nên sựkhác biệt giữa nam và nữ

- Trong đời sống con người, hai giới không thể tồn tại độc lập mà luôntác động đến nhau, có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Sự quan hệ này bịchi phối bởi nhiều đặc điểm về sinh lí, về tâm lí ở mỗi người, bởi những đặcđiểm về văn hoá, chính trị, phong tục tập quán của xã hội, trong đó có các đặc

Trang 22

điểm đặc trưng của mỗi giới Từ đó, lại hình thành nên nhiều yếu tố mới, hiệntượng mới trong đời sống giới tính như: Sự giao tiếp giữa hai giới, quan hệ bạnkhác giới, quan hệ tình yêu, hôn nhân… Đời sống giới tính của con người rấtphong phú, đa dạng và cũng rất phức tạp Đó là những hiện tượng tâm lí và sinh

lí nảy sinh trong đời sống của mỗi người, trong mối quan hệ giữa người này vớingười kia, trong cuộc sống chung của mỗi người, trong sự tồn tại của xã hội.Đời sống giới tính là một tổng hợp phức tạp các hiện tượng tâm lí và sinh lí cóliên quan đến mỗi giới, là mọi yếu tố, mọi mặt hoạt động, mọi mối quan hệ…trong đời sống của con người, trong đời sống xã hội loài người Đời sống giớitính là toàn bộ những hiện tượng về mặt sinh lí cơ thể xuất hiện trong con người

có liên quan đến hệ cơ quan sinh dục (đời sống tính dục), những hiện tượng tâm

lí đặc trưng ở mỗi giới, những hiện tượng tâm lí người trong mối quan hệ vớingười khác giới (tình bạn khác giới, tình yêu nam nữ…), những hiện tượngtrong đời sống xã hội như hôn nhân, gia đình… Gần đây còn xuất hiện nhữngbiểu hiện phức tạp hơn của đời sống giới tính như: các quan điểm yêu đươngngoài hôn nhân, tình dục ngoài hôn nhân, tình bạn và sự giao tiếp giữa nhữngngười khác giới…

Như vậy, khái niệm về giới tính cần được hiểu một cách đầy đủ, toàn diện

về nhiều mặt sinh lí và tâm lí, cá nhân và xã hội, hôn nhân và gia đình, tình yêu

và tình bạn, sự giao tiếp nam nữ…

Giáo dục giới tính là một lĩnh vực rất phức tạp Có nhiều quan niệm,nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này Có những ý kiến cho rằng chỉ nên tiếnhành giáo dục giới tính khi các em vào thời kỳ chín muồi giới tính Một số ýkiến nhầm lẫn giáo dục giới tính với giáo dục tính dục, hoặc giáo dục tình dục,giáo dục tình yêu Thực ra tính dục chỉ là một bộ phận của giới tính Sự thu hẹpphạm vi của giáo dục giới tính như vậy sẽ có thể đưa đến tác dụng phản diệnhoặc hạn chế hiệu quả của giáo dục giới tính

Có một số người cho rằng, không nên giáo dục giới tính Vì như thế làlàm hoen ố tâm hồn thanh cao của các em, là thiếu tế nhị, không phù hợp với

Trang 23

môi trường sư phạm, là “vẽ đường cho hươu chạy” Nhiều ngành khoa họcnhững năm gần đây đã xác nhận ý nghĩa đặc biệt quan trọng của những năm tuổithơ đối với một đời người Cha mẹ nào cũng vậy, đều có những phút bàng hoàngnhận ra trước mắt mình đứa con không còn là một cậu bé vụng dại nữa mà đã làmột vị thành niên Nhiều khi cha mẹ chưa kịp nghĩ tới chuyện giáo dục con cáimột cách nghiêm túc thì những đặc tính cơ bản của tính cách con mình đã hìnhthành, kể cả đặc tính tình dục

Một sự phát triển lành mạnh hay những trục trặc, bệnh tật của đời sốngtình dục cá nhân đều liên hệ mật thiết với những biện pháp giáo dục nhất định vànhững điều kiện sống nhất định Khoa học hiện đại đã khẳng định ý nghĩa củagiáo dục, những chuẩn mực đạo lý, những kinh nghiệm cá nhân thuộc nhữnglĩnh vực khác trong sự hình thành và phát triển của đời sống giới tính Với cáchxem xét biện chứng như vậy, giáo dục giới tính là nhằm giáo dục cho con ngườiđạt tới mục đích xã hội chân chính với tư cách là con đường dẫn dắt tới sự nếmtrải trọn vẹn của hạnh phúc làm người

Ở nhiều nước trên thế giới, vài năm gần đây các hình thức giáo dục giớitính đã có vị trí của nó trong trường phổ thông Nếu các hình thức đó được tiếnhành tốt đẹp thì trẻ em ở từng độ tuổi đều có được những thông tin cần thiết vàlĩnh hội được mọi vấn đề có liên quan đến đời sống tình cảm của con người

- Theo A.G Khrivcova, D.V Kolexev, “Giáo dục giới tính là một quátrình hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm chất, những đặc trưngcũng như khuynh hướng phát triển của nhân cách, xác định thái độ xã hội cầnthiết của con người đối với người khác.” – Cô bé -Thiếu nữ-Thanh nữ, NXBGiáo dục, 1981

- Giáo dục giới tính là một bộ phận hữu cơ của phức hợp các vấn đề giáodục nhân cách, giáo dục con người mới, con người phát triển toàn diện, kết hợpmột cách hữu cơ hài hoà sự phong phú về tinh thần, sự thuần khiết về đạo đức

và sự hoàn thiện về thể xác Theo A.X Makarenko, “khi giáo dục cho đứa trẻtính ngay thẳng, khả năng làm việc, tính chân thật, tôn trọng người khác, tôn

Trang 24

trọng những cảm xúc và hứng thú của họ là chúng ta đã đồng thời giáo dục nó

về quan hệ giới tính”

- Còn tác giả Trần Trọng Thuỷ và tác giả Đặng Xuân Hoài cho rằng, giáodục giới tính có phạm vi rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lí, đạo đức conngười, “là hình thành tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vựcthầm kín của đời sống con người, hình thành những quan niệm đạo đức lànhmạnh giữa em trai và em gái, thanh nam và thanh nữ, giáo dục những sự “kiềmchế có đạo đức”, sự thuần khiết và tươi mát về đạo đức trong tình cảm của cácem.”- Trần Trọng Thuỷ, Vấn đề giáo dục đời sống gia đình và giới tính cho thế

hệ trẻ, Báo cáo khoa học của đề án P09 năm 1988

- Nhà nghiên cứa Phạm Hoàng Gia cho rằng, giáo dục giới tính phải đượcxem xét như một bộ phận hợp thành của nền giáo dục xã hội Nó có mối liên hệmật thiết với giáo dục dân số, kế hoạch hoá gia đình, hôn nhân-gia đình và vớicác mặt giáo dục khác trong nhà trường phổ thông Vì vậy, cần phải tiến hànhcông tác giáo dục giới tính một cách đồng thời, đồng bộ trong mối quan hệ cótính chất hệ thống với các mặt giáo dục khác Ngoài ra còn rất nhiều quan niệmcủa các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về tâm lí học giới tính Có thể nói rằng,giáo dục giới tính phải gắn liền với giáo dục tình cảm, đạo đức, tư tưởng và phảitiến hành trên cơ sở của giáo dục đạo đức tư tưởng Giáo dục giới tính cũng phảigắn bó mật thiết với các mặt giáo dục khác trong nền giáo dục toàn diện

Với những quan niệm trên, tác giả Bùi Ngọc Oánh đã kết luận: “Giáo dụcgiới tính là quá trình giáo dục con người, nhằm làm cho họ có nhận thức đầy đủ,

có thái độ đúng đắn về giới tính và quan hệ giới tính, có nếp sống văn hoá giớitính, hướng hoạt động của họ vào việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàndiện, phù hợp với giới tính, giúp cho họ biết tổ chức tốt nhất cuộc sống riêngcũng như xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội phát triển.”- Tâm lí học giới tính

và Giáo dục giới tính, NXB Giáo dục, 2006

Trang 25

1.2.1.3 Mục tiêu của giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

Mục tiêu của GDGT cho học sinh THCS là để trang bị cho các em tâm lítrước phát triển sinh lí, về nhận thức để định hình nhân cách, tạo sức mạnh nộitâm đề kháng trước những bùng nổ giới tính của bản năng có thể gây hại chobản thân và những người xung quanh

Giáo dục giới tính cho học sinh THCS là giáo dục những hiểu biết về tâm

lý, sinh lý, vệ sinh tuổi dạy thì, những biến đổi và khác biệt về tính giữa em trai,

em gái do các hocmon từ các tuyến sinh dục gây ra; giáo dục kĩ năng giao tiếpứng xử trong quan hệ giữa các bạn trai, bạn gái ở lứa tuổi học sinh đối với cha,

mẹ, anh, em trong gia đình; hiểu biết sâu sắc các giá trị về tình bạn, tình yêu,hiểu biết những thất bại về tâm lý, những ngay hại lâu dài phải gánh chịu nếukhông đủ hiểu biết, nếu vượt qua trái cấm; giáo dục bạn trai biết tôn trọng, biếtbảo vệ bạn gái, có hiểu biết và bản lĩnh biết tự kiềm chế để chứng minh co mộttình yêu đến từ hai phía, đặc biệt giáo dục kĩ năng phòng vệ cho các em gái vànhiều nội dung khác xoay quanh tâm lý giới tính tuổi học sinh THCS giúp các

em tự tin, tự chủ, tự hoàn thiện nhân cách, tự nhận thức để thay để hành vi, vữngvàng nói “không” trước các cám dỗ của bản năng và các tác động từ môi trườngbên ngoài trong độ tuổi phát dục

Tóm lại: Mục tiêu của GDGT cho học sinh THCS là giúp các em Hiểuđược tất cả những thay đổi về mặt sinh lý, tâm lý trong giai đoạn dậy thì

Tự tin ứng phó và thích nghi với những thay đổi trên cơ thể

Giúp học sinh có thể xây dựng ý thức tự chăm sóc sức khỏe sinh sản tuổi vịthành niên

Hình thành thái độ tích cực và rèn kĩ năng tự phòng tránh thai và bệnh truyềnnhiễm lây qua đường tình dục

Nhận thức đúng và có hành vi phù hợp về tình yêu tuổi học trò

1.2.1.4 Nội dung của giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

Về nội dung giáo dục giới tính cho học sinh THCS theo thạc sỹ tâm lý ĐinhĐoàn, trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học về giới tính - gia đình - phụ

Trang 26

nữ và vị thnahf niên lập luận: “Ở độ tuổi 10, 11 là thời kì tiền dậy thì của các em

vì vậy nên cung cấp những kiến thức như các em học sinh nữ thời gian tới sẽđón nhận hiện tượng kinh nguyệt như thế nào, để khoảng lớp 6, 7 khi các em cókinh thì các em đã biết Đối với học sinh nam 12, 13 tuổi thì khi phát triển hệlong hoặc tinh trùng thì các em không phải lo lắng, các em nên ăn mặc như thếnào, ứng xứ với các bạn khác giới ra sao…Còn quá trình thụ thai, trứng và tinhtrùng đã kết hợp với nhau như thế nào? Phụ nữ khi có thai nên và không nên làmnhững gì? Nên giành cho học sinh 14, 15 tuổi”

Tóm lại, căn cứ vào đặc điểm phát triển của lứa tuổi, cần GDGT cho họcsinh THCS với nội dung tương ứng như sau:

- Học sinh trong độ tuổi 11,12 (lớp 6,7)

Giáo dục tuổi dạy thì, những biến đổi trên cơ thể, những biến đổi tam sinh

lí, hiện tượng kinh nguyệt, phóng tinh, cách vệ sinh thân thể và bộ phận sinhdục; những thay đổi khác biệt giữa em gái và em trai; giáo dục kĩ năng giao tiếpứng xử trong quan hệ giữa bạn trai và bạn gái, ứng xứ với cha mẹ, và các thànhviên trong giá đình

- Đối với các em học sinh lớp 8,9 (độ tuổi 14,15)

Cần giáo dục về sự thụ tinh; phân biệt tình bạn và tình yêu, hiểu biết sâusắc các giá trị của tình bạn, tình yêu; hiểu biết những thất bại tâm lý và các nguyhại lâu dài phải gánh chịu nếu quan hệ tình dục sớm, tảo hôn; giáo dục bạn traibiết tự trọng, tôn trọng bảo vệ bạn gái, có bản lĩnh biết tự kiềm chế để chứngminh cho một tình yêu lành mạnh nếu nó chớm nở; giáo dục kỹ năng phòng vệtrước các áp lực nội tại đến từ hai phía, đặc biệt giáo dục kỹ năng phòng vệ chocác em gái, và rất nhiều nội dung khác xoay quanh tâm lý giới tính tuổi mới lớngiúp các em tự tin, tự chủ, tự hoàn thiện nhân cách, tự nhận thức để thay đổihành vi, vững vàng nói “không” trước cám dỗ của bản năng ở độ tuổi phát dục

1.2.1.5 Phương pháp của giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở.

Trang 27

Phương pháp giáo dục là thành tố quan trọng của quá trình giáo dục.Phương pháp là hệ thống cách sử dụng để tiến hành hoạt động nào đó Phươngpháp giáo dục phản ánh cách thức tổ chức quá trình giáo dục, các loại hình hoạtđộng phong phú đa dạng của người dạy và học sinh nhằm truyền thụ những kiếnthức theo đa chiều đến người học giúp người học hiểu và nhận thức được vai tròcủa sự phát triển cơ thể học sinh

Các phương pháp sử dụng trong giáo dục giới tính cũng rất đa dạng, đều dựatrên quan điểm lấy người học làm trung tâm và phát huy tính tích cực của học sinh,tạo cơ hội để học sinh được trao đổi thảo luận và tìm hiểu những kiến thức khoa học

Ngoài những phương pháp dạy học cơ bản như thuyết trình, vấn đáp, giáodục giới tính cho học sinh THCS thường tập trung vào các phương pháp và kỹthuật sau đây:

- Đối với nhà trường:

Cần tổ chức các buổi ngoại khóa theo các chuyên đề với nội dung phùhợp với độ tuổi học sinh

Lồng ghép với các nội dung của bộ môn Sinh học, giáo dục Công dân

Tổ chức các buổi tọa đàm với các chủ đề lien quan đến tìm hiểu và giáodục sức khỏe sinh sản, cách phòng tránh thai…

- Đối với tổ chức chính trị: tập huấn cho phụ huynh học sinh để các bậccha mẹ học sinh nắm bắt được tâm sinh lý của các con trong độ tuổi dạy thì đểcác bậc phụ huynh hiểu có các biện pháp trong giao tiếp với các con, hướng dẫncác con vệ sinh và phòng tránh những bất trắc trong giai đoạn “nhạy cảm” củalứa tuổi

Trang 28

Thông qua các buổi sinh hoạt đoàn có thể cho các em tìm hiểu về các biệnpháp phòng tránh thai, các tác hại của việc sinh hoạt tình dục sớm, tình dục bừabãi… thông qua các tờ dơi, thảo luận trao đổi trong chi đoàn, y tế, hội phụ nữthôn bản,…

1.2.1.6 Hình thức của giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở.

Các hình thức giáo dục giới tính cho học sinh THCS bao gồm các hìnhthức như:

- Sinh hoạt thao chuyên đề;

- Tuyên truyền qua các buổi ngoại khóa, sinh hoạt tập thể;

- Tổ chức các trò chơi, phối hợp nhiều hoạt động linh hoạt tạo cảm giácthoải mái, hứng thú cho học sinh Nếu có điều kiện, giáo viên cần tim tòi một sốhình ảnh, phim, kịch tình huống minh họa để giờ học sinh động hơn

Tổ chức GDGT thông qua các bài giảng ở các môn có liên quan đên giáodục giới tính để giáo dục cho các em hiểu biết về cơ thể như hiện tượng kinhnguyệt, hiện tượng mộng tinh ở nam giới, cách vệ sinh cơ thể trong những ngày

có kinh, cách phòng tránh thai…ở một số bài học trong môn sinh, tích hợp giáodục kĩ năng sống, cách đối xử của con cái đối với cha mẹ, bạn bè khác giới vànhững chuẩn mực trong tình yêu,…trong môn Giáo dục công dân…

Nội dung giáo dục giới tính đòi hỏi người giảng dạy phải nắm rõ thực tiễn

và các kiến thức giới tính chính xác, hình ảnh hay ví dụ minh họa rõ ràng gầngũi với đối tượng cần giảng dạy vì thế việc tổ chức một tiết dạy đòi hỏi sự chuẩn

bị trước Giáo viên có thể thực hiện từng bước: một buổi truyền đạt kiến thức,thông tin về giới tính rồi sau đó cho các em tạo nhóm, tìm hiểu một số tìnhhuống trong đời sống và tạo dựng các vở kịch trình diễn ở những tiết sau, cho

Trang 29

các nhóm khác đặt các câu hỏi tình huống để nhóm trình diễn trả lời, kết thúccác tiết mục thì giáo viên sẽ nhận xét và tư vấn những thiếu sót cho các em rútkinh nghiệm

1.2.1.7 Kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

Giáo viên kiểm tra sự hiểu biết của các em học sinh thông qua các bàitập tình huống về ứng xử của các em trong gia đình, ứng xử của các em vớithầy cô, bạn bè, với người lớn, với bạn khác giới cách xử lý tình huống cụ thể

để từ đó các em được học hỏi lẫn nhau thong qua cách cách xử lý tình huốnghay, phù hợp

Kiểm tra sự hiểu biết của các em thong qua các bài tập trắc nghiệm, cácbài thi viết về cảm nghĩ của em thong qua các nội dung câu chuyện trên phimảnh, trên trang báo và tự rút ra bài học kinh nghiệm từ các vở kịch hoặc các bàibáo đó…

1.3 Phối hợp nhà trường với các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

Phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng

Phối hợp giữa nhà trường với xã hội được hiểu là sự hợp tác, trao đổi, cùng thống nhất hành động và hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ chung.

Phối hợp các lực lượng cộng đồng hay huy động các lực lượng cộng đồng

là quá trình vận động (động viên, khuyến khích, thu hút) và tổ chức

Phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở

Trang 30

Phối hợp giữa nhà trường với xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở được hiểu là sự hợp tác, trao đổi, cùng thống nhất hành động và hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ giáo dục sự hiểu biết về giới tính cho học sinh THCS.

1.3.2 Vai trò của các lực lượng xã hội trong phối hợp giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở.

Trong sự phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng xã hội thì nhà trườnggiữ vai trò đầu mối, vai trò chủ động trong việc hoạch định dự thảo nội dungchương trình giáo dục những hiểu biết về giới tính cho học sinh trong trường và

dự kiến các bên tham gia thực hiện Sau đó, nhà trường chủ động thiết lập mốiquan hệ với các bên, tạo thành một diễn đàn giáo dục Trong đó, mỗi thành viên

có cơ hội được tham gia góp ý, hoàn thiện nội dung kế hoạch chương trình hànhđộng và cùng thống nhất đưa ra cách thức phối hợp thực hiện có hiệu quả, nhằmđạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra

1.3.3 Mục đích phối hợp của các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

Giáo dục tính giới tính cho học sinh trung học cơ sở được thể hiện ở mụctiêu chung và các mục tiêu cụ thể như sau:

* Mục tiêu chung: Giáo dục giới tính cho học sinh nhận biết cơ thể của

mình của bạn khác giới, những thay đổi của cơ thể trong mỗi giai đoạn độtuổi từ đó có sự chuẩn bị tâm lí, không bị bất ngờ biết cách xử lý để các emchủ động trong cuộc sống, tránh được những dủi do về sức khỏe, có cuộcsong stoots đẹp hơn

* Mục tiêu cụ thể:được thể hiện ở ba mặt: nhận thức, thái độ, hành vi

- Về nhận thức: Giáo dục giới tính giúp học sinh hiểu được sâu sắc sự

thay đổi sinh lý của cơ thể, biểu hiện, vai trò của giá trị giáo dục giới tính đốivới bản thân, mối quan hệ trong gia đình, xã hội và đặc biệt là trong hoạtđộng học tập, rèn luyện để trở thành con người hoàn thiện hơn về thể chất vànhân cách

Trang 31

- Về thái độ: nghiêm túc, thể hiện được giá trị của sự hiểu biết về giới tính

đối với bản than và cộng đồng

- Về hành vi: Giáo giới tính giúp học sinh có cơ hội được trải nghiệm và

thể hiện hiểu biết về bản thân, hiểu biết về bạn khác giới đặc biệt là trong mốiquan hệ với thầy cô, bạn bè và người thâm trong đình

1.3.4 Nguyên tắc phối hợp của các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở.

Những nguyên tắc cơ bản của việc phối hợp giữa nhà trường và các tổchức xã hội trong việc giáo dục giới tính cho học sinh Trung học cơ sở

Công tác phối hợp giữa nhà trường với các tổ chức xã hội trong giáo dụcgiới tính cho học sinh trung học cơ sở cần dựa trên những nguyên tắc sau:

+ Tạo lập mối liên hệ thường xuyên giữa nhà trường và gia đình, giữa cha

mẹ học sinh và giáo viên chủ nhiệm lớp để giáo dục học sinh

+ Nhà trường cần xây dựng mối quan hệ tốt với địa phương, với các tổ chức

xã hội và các cơ quan đóng trên địa bàn để cùng phối hợp giáo dục giới tính vàthường xuyên rút kinh nghiệm công tác giáo dục giới tính cho học sinh

+ Cần thống nhất với các lực lượng giáo dục về mục tiêu, nội quy, các hìnhthức, phương thức giáo dục dựa trên một nguyên tắc chung, chỉ có như vậy mớiđem lại những thành công cho quá trình giáo dục giới tính cho học sinh

+ Trong quá trình phối hợp với các tổ chức xã hội, cần căn cứ vào điều kiện

và hoàn cảnh cụ thể của từng lực lượng để có hình thức phối hợp phù hợp vàmang lại hiệu quả cao nhất

+ Trong khi lập kế hoạch của chủ đề, kết hoạch tuần, nhà trường cần phảiđưa nội dung phối hợp với các tổ chức xã hội vào kế hoạch, cần nêu những yêucầu cụ thể về vấn đề cần phối hợp với các tổ chức xã hội để thực hiện chủ đề đó

1.3.5 Nội dung phối hợp của các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

Nội dung của công tác phối hợp giữa nhà trường với tổ chức xã hội tronggiáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở bao gồm:

Trang 32

+ Tuyên truyền với các tổ chức xã hội về các hoạt động giáo dục nói chung,giáo dục giới tính nói riêng cho học sinh của nhà trường;

+ Tạo điều kiện triển khai các hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh, đặcbiệt là các hoạt động thực tiễn

+ Phối hợp xây dựng chương trình, kế hoạch giáo dục giới tính cho học sinhhàng tháng, năm;

+ Phối hợp xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp các trang thiết bị cần thiếtphục vụ tuyên truyền, dạy và học

+ Hỗ trợ mọi nguồn lực của các tổ chức xã hội trong việc tuyên truyền giáodục những hiểu biết về giới tính cho học sinh một cách hiệu quả

+ Các tổ chức chính trị xã hội tham gia góp ý hoặc thông báo với nhà trườngnhững thông tin liên quan đến hoạt động giáo dục giới tính cho học sinh để nhàtrường có thể kịp thời điều chỉnh và phối hợp các hoạt động nhằm thực hiện cácyêu cầu giáo dục của nhà trường sao cho đảm bảo lợi ích của nhà trường và lợiích của học sinh

+ Phối hợp kiểm tra, đánh giá công tác giáo dục giới tính cho học sinh ởcộng đồng, địa phương

1.3.6 Hình thức, phương pháp phối hợp của các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

Trang 33

+ Sử dụng hệ thống loa thông tin, truyền hình địa phương để tuyên truyềnnội dung luật hôn nhân gia đình, những hệ lụy của tảo hôn, kết hôn sớm

+ Sử dụng bản tin, pano, áp phích,…

+ Sử dụng các hoạt động văn hóa, thể thao của địa phương để kết hợptruyền thông phổ biến kiến thức về giáo dục giới tính

+ Qua các buổi hợp thường kỳ, sinh hoạt phổ biến kiến thức về văn hóa, ,

xã hội, giáo dục của Hội phụ nữ

+ Trao đổi, tọa đàm

+ Tổ chức các hoạt động ngoại khóa

+ Sinh hoạt chuyên đề

1.3.7 Đánh giá việc phối hợp của các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

Đánh giá kết quả phối hợp giữa nhà trường với các tổ chức xã hội trong việcgiáo dục giới tính cho học sinh THCS có ý nghĩa hết sức quan trọng Nó chỉ ranhững ưu điểm và hạn chế của công tác này trong từng giai đoạn cụ thể, là cơ sởquan trọng để tiến hành những điều chỉnh cần thiết giúp cho hoạt động giáo dụcgiới tính cho học sinh THCS càng đạt được chất lượng và hiệu quả cao

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phối hợp nhà trường với lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở

Các yếu tổ ảnh hưởng đến công tác phối hợp giữa nhà trường và các tổ chức xãhội trong việc giáo dục giới tính cho học sinh có thể phân ra thành các yếu tố sau:

1.4.1 Chủ trương, chính sách của Nhà nước, của địa phương

Dù trong lĩnh vực nào cũng vậy lĩnh vực và các mục tiêu phát triển conngười trong bất cứ xã hội nào muốn phát triển tốt thi cần làm tốt công tác định

Trang 34

hướng chính sách của nhà nước Các chủ trương, chính sách của Nhà nước haymỗi địa phương (theo đặc thù từng địa phương) có ý nghĩa là tiền đề cho giáodục phát triển nói chung và công tác giáo dục giới tính cho học sinh nói riêng,việc việc phối hợp phát huy tốt các nguồn lực của các tổ chức xã hội vào giáodục giới tính phụ thuộc rất lớn vào sự chỉ đạo, cơ chế chính sách của địa phương

đó, nhìn chung công tác giáo dục giới tính cho học sinh hiện nay đã và đangđược chính quyền các cấp và ngành giáo dục quan tâm tuyên truyền và chỉ đạocác trường học, bậc học trong cả nước quan tâm để giáo dục học sinh, riêng đốivới địa phương huyện Mai Sơn, ngành giáo dục Mai Sơn trong những năm gầnđây rất quan tâm và có đạo, hướng dẫn các trường trong huyện thực hiện nghiêmtúc các văn bản chỉ đạo của các cấp về việc dạy nồng ghép các nội dung nhưgiáo dục kĩ năng sống, an trường học, an toàn khi tham gia giao thông và rất chú

ý đến công tác giáo dục giới tính cho học sinh trên địa bàn huyện

Có thể nói phối hợp các nguồn lực xã hội trong giáo dục giới tính chỉ cóthể thực hiện thành công khi có sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Đảng,ngành và chính quyền địa phương đó

1.4.2 Các yếu tố thuộc về các chủ thể phối hợp các lực lượng xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh trường Trung học cơ sở

Các chủ thể phối hợp các lực lượng xã hội tham gia GDGT cho học sinhTHCS như: Y tế, MTTQ, Hội liên hiệp Phụ nữ, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Vănhóa thông tin tuyên truyền huyện, xã, thị trấn có ý nghĩa quan trọng đối vớiviệc phối hợp phát huy nguồn lực của các tổ chức này trong việc GDGT cho họcsinh THCS

Nhận thức đúng của các tổ chức xã hội sẽ có tác động lan tỏa tới hội viên,đoàn viên, thành viên của các tổ chức sẽ có hành động thiết thực cùng với ngànhGiáo dục & Đào tạo, nhà trường tác động vào nhận thức cho học sinh về giáodục giới tính

Trang 35

Tiểu kết chương 1

Từ phần tổng quan ở trên chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu phối hợp các tổchức xã hội về các hoạt động giáo dục toàn diện cho học sinh đã được các nhà khoahọc chú ý từ lâu Đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo duc toàn diện chohọc sinh và phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong giáo dục toàn diệncho học sinh ở các mức độ khác nhau Song cho đến nay, vấn đề giáo dụcgiớitính cho THCS và phối hợp giữa nhà trường với các tổ chức xã hội trong việcgiáo dục giới tính cho học sinh THCS ít được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt làvấn đề phối hợp giữa nhà trường với các tổ chức xã hội trong việc giáo dục giớitính cho học sinh THCS, do đó nghiên cứu vấn đề phối hợp giữa nhà trường vớicộng động trong việc giáo dục giới tính cho học sinh THCS là nhiệm vụ cầnthiết và có ý nghĩa thiết thực

Hoạt động giáo dục giới tính là hoạt động giáo dục có mục đích, có kếhoạch, có tổ chức nhằm làm cho học sinh có nhận thức đầy đủ, có thái độ đúngđắn về giới tính và quan hệ giới tính, có nếp sống văn hoá giới tính, hướng hoạtđộng của học sinh vào việc rèn luyện để phát triển nhân cách toàn diện, phù hợpvới giới tính, giúp cho họ biết tổ chức tốt nhất cuộc sống riêng cũng như xâydựng gia đình hạnh phúc, xã hội phát triển

Nội dung của việc phối hợp các tổ chức xã hội tham gia và giáo dục giớitính cho học sinh bậc THCS là: Thứ nhất, huy động các tổ chức xã hội tham giathực hiện mục tiêu, nội dung giáo dục phổ thông; Thứ hai, nâng cao ý thức tráchnhiệm và sự tham gia của các tổ chức xã hội với giáo dục, vận động các tổ chức

xã hội chăm sóc thế hệ trẻ, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong và ngoài nhàtrường với giáo dục ngoài xã hội, Thứ ba, đa dạng hóa các nguồn lực cho côngtác giáo dục tri thức cho học sinh nói chung và tri thức về giới tính nói riêng nhưnhân lực, tiền lực, vật lực Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện tốt các chhurchương chính sách của Đảng, văn bản hướng dẫn của các cấp từ đó đề ra cácbiện pháp phối hợp các tổ chức xã hội để thực hiện tốt công tác giáo dục giớitính cho Học sinh THCS

Trang 36

Nội dung phối hợp các tổ chức xã hội có nhiều yếu tố ảnh hưởng đếncông tác giáo dục giới tính cho học sinh THCS cua nhà trường đó là:Môi trườngkinh tế - xã hội; chủ trương, chính sách của Nhà nước, của địa phương; năng lựchuy động sự tham gia phát triển Giáo dục của Phòng Giáo dục & Đào tạo; nhậnthức và tham gia phát triển Giáo dục của các tổ chức xã hội; Ý thức Giáo dục trẻcủa các bậc cha mẹ học sinh.

Phối hợp giữa nhà trường với các tổ chức xã hội trong việc giáo dục giới tínhcho học sinh trung học cơ sở được hiểu là sự hợp tác, trao đổi, cùng thống nhấthành động và hỗ trợ nhau thực hiện nhiệm vụ giáo dục giới tính cho HS

Nội dung các thành tố chủ yếu trong việc phối hợp giữa nhà trường với các tổchức xã hội trong việc giáo dục giới tính ch học sinh THCS bao gồm: mục đích,nội dung, phương pháp, hình thức, các lực lượng tham gia phối hợp, đánh giá kếtquả phối hợp

Công tác phối hợp giữa nhà trường với cộng đồng trong giáo dục giới tính chohọc sinh THCS chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, có thể phân ra thành hai nhóm yếutố: Nhóm các yếu tố chủ quan, bao gồm: Sự nhận thức; ý thức trách nhiệm của cácbậc phụ huynh học sinh, trách nhiệm với công việc của cán bộ quản lí trườngTHCS; sự nhận thức; tính tích cực và chủ động của các tổ chức xã hội tham giagiáo giới tính cho học sinh THCS Nhóm các yếu tố khách quan, bao gồm: Bốicảnh đổi mới giáo dục; các văn bản pháp pháp lý; nguồn tài liệu; các điều kiện kinh

tế, văn hóa, chính trị - xã hội; trình độ dân trí, truyền thống văn hóa, phong tụctập quán địa phương; cơ sở vật chất và nguồn tài chính

Như vậy từ cơ sở lý luận quan trọng này sẽ giúp tác giả luận văn khảo sátthực trạng và đề xuất các biện pháp phối hợp giữ nhà trường với các tổ chức xãhội trong giáo dục giới tính cho học sinh trung học cơ sở Huyện Mai Sơn, tỉnhSơn La

Trang 37

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHỐI HƠP CÁC LỰC LƯỢNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA

2.1 Khái quát đặc điểm, sự phát triển về kinh tế - xã hội và giáo dục huyện Mai Sơn

2.1.1 Đặc điểm tình hình xã hội huyện Mai Sơn

Huyện Mai Sơn là huyện miền núi thuộc tỉnh Sơn La có diện tích tự nhiênkhoảng 142.670 ha, có 6,7km đường biên giới giáp với huyện Xiềng Khọ, tỉnhHua Phăn, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; dân số của huyện có khoảng

157 nghìn người, với 6 dân tộc chủ yếu là: Kinh, Thái, Mông, Mường, Khơ Mú,Sinh Mun cùng sinh sống Huyện có 22 xã, thị trấn (có 3 xã vùng I; 11 xã vùng

II và 8 xã vùng III) gồm 458 bản, tiểu khu, với 4 vùng kinh tế (Vùng kinh tế dọcQuốc lộ 6, vùng dọc Quốc lộ 4G, vùng lòng hồ sông Đà và vùng cao biên giới)

Mật độ dân cư phân bố không đều, giao thông đi lại đến các xã vùng IIvùng III còn nhiều khó khăn, điện lưới quốc gia còn cưa đến được các bản ở một

số xã vùng 2,3, hệ thông tin liên lạc ở một số xã còn nhiều hạn chế

2.1.2 Về khách thể khảo sát

Tính đến thời điểm tháng 6 năm 2018 huyện Mai Sơn có 104 trường từgiáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông và Trung tâm giáo dục nghề nghiệp -Giáo dục thường xuyên, trong đó có 22 trường Trung học cơ sở (THCS)

Mạng lưới trường, lớp phát triển rộng khắp tại 22/22 xã, thị trấn; tỷ lệgiáo viên có trình độ đạt chuẩn 100% (trong đó: trên chuẩn là 72.4%) Các chế

độ, chính sách hỗ trợ cho cán bộ, giáo viên và học sinh tại các xã đặc biệt khókhăn đã tạo điều kiện cho cán bộ, giáo viên yên tâm công tác, tỷ lệ học sinh bỏhọc giảm, chất lượng giáo dục vùng khó từng bước được nâng lên Cơ sở vậtchất, trang thiết bị dạy - học, trường, lớp học từng bước được đầu tư theo hướnghiện đại

Trên thực tế sự nghiệp giáo dục và đào tạo huyện Mai Sơn còn phải đốimặt với nhiều trở ngại như: Giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn; thông tin

Trang 38

liên lạc ở một số xã còn nhiều hạn chế (một số đơn vị trường học không cómạng (Internet) Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí khôngđồng đều Số giáo viên/lớp so với định mức và nhu cầu thực tế ở cấp học mầmnon, tiểu học còn thiếu; chính sách ưu tiên cho giáo dục còn chậm được điềuchỉnh, bổ sung; Ngân sách huyện còn eo hẹp, đầu tư cho giáo dục còn hạn chế,điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy của giáoviên và điều kiện học tập của học sinh còn gặp nhiều khó khăn.

2.2 Tổ chức điều tra khảo sát

2.2.1 Mục tiêu khảo sát

Nhằm đánh giá thực trạng giáo dục giới tính cho học sinh bậc THCS vàcông tác phối hợp giữa nhà trường với các tổ chức xã hội trong giáo dục giớitính cho học sinh THCS; chỉ rõ nguyên nhân dẫn tới thực trạng và rút ra kết luận

có tính khái quát làm cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc đề xuất các biện phápphối hợp giữa nhà trường với các lực lượng xã trong giáo dục giới tính cho họcsinh THCS trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

2.2.2 Nội dung điều tra khảo sát

- Điều tra đánh giá quá trình giáo dục giới tính cho học sinh THCS huyệnMai Sơn, tỉnh Sơn La Khảo sát thực trạng phối hợp giữa nhà trường với các tổchức xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinh THCS huyện Mai Sơn, tỉnhSơn La

- Xác định nguyên nhân của thực trạng trên và đề xuất các biện phối hợpgiữa nhà trường với các tổ chức xã hội trong giáo dục giới tính cho học sinhTHCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

2.2.3 Địa bàn điều tra khảo sát

Luận văn khảo sát tại ba trường THCS thuộc huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn Labao gồm các trường THCS xã Chiềng Mung, THCS Chu Văn Thịnh, THCSChất lượng cao Mai Sơn, với 60 giáo viên, 60 PHHS và 100 học sinh, 06 cán bộ

là chính quyền địa phương; 05 bí thư Đoàn thanh niên, 05 hội phụ nữ cơ sở, 3

Trang 39

phát thanh, truyền hình địa phương, 10 cán bộ quản lý và viên chức phòng Giáodục - Đào tạo của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

2.2.4 Phương pháp điều tra khảo sát và xử lý kết quả

Trong quá trình điều tra chúng tôi sử dụng phương pháp điều tra bằnganket kết hợp với phương pháp phỏng vấn, trò chuyện và quan sát để khảo sátthực trạng công tác phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng xã hội tronggiáo dục giới tính cho học sinh THCS huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

Với câu trả lời có 4 mức độ,

Với 1 điểm: Đối với những câu trả lời: Chưa đạt,…

Với 2 điểm: Đối với những câu trả lời: Trung bình,…

Với 3 điểm: Đối với những câu trả lời: Khá,…

Với 4 điểm: Đối với những câu trả lời: Tốt,…

Điểm trung bình của cả nhóm sẽ được tính:

Từ 1<<2 Xếp vào mức 1 (Mức thấp)

Từ 2,1<<3,0 Xếp vào mức 2 (Mức TB)

Từ 3,31<<4,00 Xếp vào mức 3 (Mức Cao)

Với câu trả lời có 3 mức độ, tác giả luận văn quy định:

+ 1 điểm: Đối với những câu trả lời: Không đúng, không đồng ý, khôngcần thiết, không khả thi, không quan trọng,…

+ 2 điểm: Đối với những câu trả lời: Đúng, Lưỡng lự, cần thiết, khả thi,quan trọng,…

+ 3 điểm: Đối với những câu trả lời: Rất đúng, Đồng ý, Rất cần thiết, Rấtkhả thi, Rất quan trọng,…

Điểm trung bình của cả nhóm sẽ được tính:

Trang 40

Để thực hiện tốt giáo dục giới tính cho học sinh THCS, thì trước hết cáclực lượng giáo dục đều phải nhận thức được tầm quan trọng của nó Vì thế bướckhảo sát các vấn đề liên quan đến thực trạng giáo dục giới tính tại ba trườngTHCS chúng tôi khảo sát nhận thức của CBQL,GV, PHHS, cộn đồng về mức độcần thiết của giáo dục giới tính Qua câu hỏi số 1 mẫu số 1 và 3 về mức độ cầnthiết của giáo dục giới tính tại ba trường THCS ở huyện Mai Sơn, chúng tôi thuđược kết quả như sau:

* Cán bộ quản lý:

CBQL cần xác định giáo dục giới tính là hoạt động giáo dục quan trọng

và cần thiết, là xu thế tất yếu trong đổi mới giáo dục hiện nay trước các hiệntượng xã hội liên quan đến iểu biết về giới tính

Biểu đồ 2.1 kết quả điều tra nhận thức của GV về sự cần thiết của giáo

dục giới tính

Ngày đăng: 06/07/2020, 20:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w