tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước đòi hỏi công tác TTM và hoạtđộng BCV phải phát huy ưu thế, thực sự nhanh nhạy, sắc bén, hiệu quả trong cung cấpthông tin và đấu tranh
Trang 1VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN CỦA TỈNH LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng
Mã ngành: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thanh Thúy
HÀ NỘI – 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu: “Bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho đội ngũ báo cáo viên cấp cơ sở vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Lâm Đồng” dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Hoàng Thanh Thúy là công trình
nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, chính xác Kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là
do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất cứ một nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn
Lê Thị Vân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, em xin bảy tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới quý thầy cô Khoa Tâm lý - Giáo dục học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, các thầy cô đã tham gia giảng dạy và cung cấp kiến thức, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập nghiên cứu rèn luyện tại nhà trường.
Đặc biệt với tấm lòng thành kính, em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Hoàng Thanh Thúy, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp
đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Huyện ủy Đức Trọng, Đảng ủy xã Đa Quyn và Đảng ủy xã Tà Năng… đã tạo điều kiện về thời gian, vật chất, tinh thần cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn Cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, đã nhiệt tình giúp đỡ động viên tôi hoàn thành khoá học và luận văn của mình.
Mặc dù đã dành thời gian, công sức và cố gắng rất nhiều trong việc nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn của mình Song điều kiện về thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn của em còn có những khiếm khuyết Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo chân thành của Thầy Cô và các bạn đồng nghiệp để em được tiến bộ và trưởng thành hơn về chuyên môn cũng như về công tác nghiên cứu khoa học Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2019
Tác giả luận văn
Lê Thị Vân
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TUYÊN TRUYỀN MIỆNG CHO ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN CẤP CƠ SỞ VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Những nghiên cứu về kỹ năng tuyên truyền miệng 5
1.1.2 Những nghiên cứu về bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng 6
1.2 Kỹ năng tuyên truyền miệng 8
1.2.1 Tuyên truyền miệng 8
1.2.2 Kỹ năng và kỹ năng tuyên truyền miệng 16
1.3 Bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho đội ngũ báo cáo viên cấp cơ sở ở những vùng đặc biệt khó khăn 34
1.3.1 Khái niệm một số thuật ngữ 34
1.3.2 Các yếu tố của quá trình bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho báo cáo viên vùng đặc biệt khó khăn 41
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi dưỡng kỹ năng TTM cho báo cáo viên tại vùng đặc biệt khó khăn 46
Tiểu kết Chương 1 49
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TUYÊN
TRUYỀN MIỆNG CHO ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ Ở XÃ ĐA
QUYN VÀ XÃ TÀ NĂNG, HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG 50
2.1 Khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội 50
2.1.1 Khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Đức Trọng 50
2.1.2 Khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Tà Năng và Đa Quyn của huyện Đức Trọng 51
2.2 Tổ chức nghiên cứu khảo sát về thực trạng bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng của đội ngũ báo cáo viên tại hai xã Đa Quyn và Tà Năng 53
2.2.1 Mục đích khảo sát 53
2.2.2 Nội dung khảo sát 54
2.2.3 Đối tượng khảo sát 54
2.2.4 Phương thức khảo sát 54
2.3 Thực trạng kỹ năng tuyên truyền miệng của báo cáo viên cơ sở xã Đa Quyn và Tà Năng của huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng 55
2.3.1 Thực trạng về nhận thức tầm quan trọng của kỹ năng tuyên truyền miệng của báo cáo viên 55
2.3.2 Thực trạng về kỹ năng tuyên truyền miệng của báo cáo viên cơ sở của xã Đa Quyn và Tà Năng 57
2.4 Thực trạng công tác bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng của báo cáo viên cơ sở xã Đa Quyn và Tà Năng của huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng 59
2.4.1 Thực trạng về nhận thức tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho báo cáo viên cơ sở của xã Đa Quyn và Tà Năng 59
2.4.2 Thực trạng về mục tiêu bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho báo cáo viên 60
2.4.3 Thực trạng về nội dung bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho báo cáo viên 61
Trang 62.4.4 Thực trạng về phương pháp bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho báo cáo viên 63 2.4.5 Thực trạng về hình thức bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho báo cáo viên 65 2.4.6 Thực trạng các lực lượng tham gia bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho báo cáo viên cơ sở 67 2.4.7 Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho báo cáo viên 68 2.4.8 Thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho báo cáo viên 69
2.5 Đánh giá chung về kỹ năng tuyên truyền miệng của báo cáo viên cơ sở
ở xã Đa Quyn và Tà Năng của huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng 70
2.5.1 Tình hình đội ngũ báo cáo viên cơ sở ở xã Đa Quyn và Tà Năng 70 2.5.2 Đánh giá chung về kỹ năng tuyên truyền miệng của báo cáo viên cơ sở và công tác bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho báo cáo viên ở xã Đa Quyn
và Tà Năng 71
Kết luận Chương 2 72
Chương 3: BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TUYÊN TRUYỀN
MIỆNG CHO ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN CƠ SỞ Ở XÃ ĐA QUYN VÀ
XÃ TÀ NĂNG, HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG 73 3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 73 3.2 Một số biện pháp để nâng cao kỹ năng tuyên truyền miệng cho đội ngũ báo cáo viên cơ sở ở xã Đa Quyn và Tà Năng của huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng 74
3.2.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho báo cáo viên 74 3.2.2 Đổi mới nội dung và đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng 76 3.2.3 Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng dựa vào cộng đồng báo cáo viên, tuyên truyền viên 78
Trang 73.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất cho bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng 80
3.2.5 Thực hiện tốt việc cung cấp thông tin phục vụ công tác tuyên truyền miệng và hoạt động của báo cáo viên 81
3.2.6 Chú trọng công tác kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác bồi dưỡng kỹ năng TTM và thực hiện chế độ chính sách dành cho BCV 84
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 86
3.4 Khảo sát sự cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất 87
3.4.1 Mục đích khảo sát 87
3.4.2 Khách thể khảo sát 88
3.4.3 Tiêu chí và thang đánh giá 88
3.4.4 Kết quả khảo sát 88
Kết luận chương 3 91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 102
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của kỹ năng TTM đối với BCV 55 Bảng 2.2 Sự cần thiết của các kỹ năng TTM đối với người báo cáo viên BCV 56 Bảng 2.3 Đánh giá về kỹ năng TTM của các BCV ở hai xã 58 Bảng 2.4 Đánh giá về các kỹ năng tuyên truyền miệng của đội ngũ báo cáo viên .58 Bảng 2.5 Nhận thức về tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng kỹ năng TTM
cho BCV 60 Bảng 2.6 Đánh giá về việc đáp ứng các mục tiêu của công tác bồi dưỡng kỹ
năng tuyên truyền miệng cho báo cáo viên 61 Bảng 2.7 Đánh giá về nội dung bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho
báo cáo viên 62 Bảng 2.8 Đánh giá về mức độ sử dụng các phương pháp bồi dưỡng kỹ năng
TTM cho BCV 64 Bảng 2.9 Đáng giá hiệu quả của các phương pháp trong công tác bồi dưỡng kỹ
năng TTM cho BCV 64 Bảng 2.10 Đánh giá về mức độ tổ chức của các hình thức bồi dưỡng kỹ năng
TTM cho BCV 66 Bảng 2.11 Đáng giá hiệu quả của các hình thức trong công tác bồi dưỡng kỹ
năng TTM cho BCV 66 Bảng 2.12 Đánh giá về sự tham gia của các lực lượng trong công tác bồi dưỡng
kỹ năng TTM cho đội ngũ BCV 67 Bảng 2.13 Ý kiến về mức độ sử dụng của các hình thức kiểm tra, đanh giá kết
quả bồi dưỡng kỹ năng TTM cho BCV 68 Bảng 2.14 Đánh giá tính khách quan, công bằng và chính xác của công tác kiểm
tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng kỹ năng TTM cho BCV 68 Bảng 3.1 Khảo sát tính cần thiết của các biện pháp 88 Bảng 3.2 Khảo sát tính khả thi của các biện pháp 89
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tuyên truyền miệng (TTM) là một phương thức tiến hành công tác tư tưởng củaĐảng Cộng sản Việt Nam, là loại hình đặc biệt, kênh thông tin hiệu quả, “một mắt khâuquan trọng, trực tiếp nối liền Đảng, Nhà nước với nhân dân” Từ khi thành lập đến nay,Đảng ta luôn coi trọng và quan tâm đến công tác TTM, hoạt động báo cáo viên (BCV),thông qua đó góp phần tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng, chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước
Những năm qua, quán triệt và triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết củaĐảng, nhất là Chỉ thị 17-CT/TW ngày 15/10/2007; Thông báo Kết luận số 225-TB/TWngày 3/3/2009 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chấtlượng và hiệu quả công tác TTM của Đảng trong tình hình mới”, Ban Thường vụ Tỉnh
ủy Lâm Đồng đã thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng toàn diện côngtác TTM và hoạt động BCV trong toàn đảng bộ Cấp ủy các cấp tập trung lãnh đạo, chỉđạo triển khai thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, bám sát nhiệm vụchính trị của địa phương; thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, phương pháptuyên truyền; giữ vững nề nếp, quy chế hoạt động; chủ động bồi dưỡng, nâng cao chấtlượng đội ngũ BCV, bảo đảm cho công tác TTM luôn giữ vững định hướng chính trịcủa Đảng, tạo sự thống nhất nhận thức tư tưởng cao trong toàn Đảng bộ
Tuy nhiên, công tác TTM và hoạt động BCV thời gian qua còn bộc lộ một số hạnchế Nội dung, hình thức, phương pháp, kỹ năng tuyên truyền chưa phong phú, hấpdẫn, chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên.Hoạt động TTM trong các địa bàn ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn hiệuquả chưa cao Tính cập nhật, nhạy bén, sắc xảo có lúc, có nơi còn hạn chế; việc giảiđáp, định hướng một số vấn đề thời sự, vấn đề mới nảy sinh… trong dư luận chưa kịpthời, thấu đáo Kiến thức, kỹ năng, phương pháp tác phong của đội ngũ BCV, nhất làBCV cơ sở chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới
Đất nước ta đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới của thời kỳ hộinhập quốc tế sâu rộng Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đang đặt ra yêucầu mới đối với công tác TTM và hoạt động BCV Cùng với đó, các thế lực thù địch
Trang 11tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước đòi hỏi công tác TTM và hoạtđộng BCV phải phát huy ưu thế, thực sự nhanh nhạy, sắc bén, hiệu quả trong cung cấpthông tin và đấu tranh tư tưởng, lý luận.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho đội ngũ báo cáo viên cấp cơ sở vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Lâm Đồng” để tiến hành nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích thực trạng kỹ năng tuyên truyền của độingũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cấp cơ sở, thực trạng bồi dưỡng kỹ năng tuyêntruyền của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cấp cơ sở để đề xuất các biện phápbồi dưỡng kỹ năng TTM cho đội ngũ BCV cấp cơ sở vùng đặc biệt khó khăn của tỉnhLâm Đồng nhằm nâng cao kết quả tuyên truyền của báo cáo viên
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng kỹ năng TTM cho đội ngũ BCV cấp cơ sở
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình bồi dưỡng kỹ năng TTM cho đội ngũ BCVcấp cơ sở vùng đặc biệt khókhăn của tỉnh Lâm Đồng
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, kỹ năng TTM của BCV cấp cơ sở, vùng sâu, vùng xa còn hạn chế donhiều yếu tố tác động đến, trong đó phải kể đến quá trình bồi dưỡng kỹ năng TTM chođội ngũ BCV cấp cơ sở chưa được như mong muốn Nếu đề tài nghiên cứu đề xuấtđược các biện pháp bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng cho đội ngũ BCV cơ sởmột cách khoa học, hợp lý, đồng bộ, phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từngđịa phương, tác động vào nhận thức của báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp, huyđộng được sự tham gia của các lực lượng cộng đồng, nội dung, phương pháp và hìnhthức bồi dưỡng phù hợp, phong phú thì quá trình bồi dưỡng kỹ năng TTM cho BCV sẽđạt kết quả tốt Trên cơ sở đó sẽ nâng cao kỹ năng tuyên truyền cho họ, từ đó góp phầnđưa các chủ trương, chính sách của Đảng đến với người dân được kịp thời, sát, đúng,đưa Nghị quyết của Đảng sớm đi vào cuộc sống, củng cố lòng tin, cổ vũ các tầng lớpnhân dân trong tỉnh thực hiện thành công các chủ trương, chính sách của Đảng
Trang 125 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xác định một số nhiệm vụcần phải thực hiện, cụ thể như sau:
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận bồi dưỡng kỹ năng TTM cho đội ngũ BCV cấp
cơ sở vùng đặc biệt khó khăn
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng kỹ năng TTM của đội ngũ BCV cấp cơ sở vàthực trạng bồi dưỡng kỹ năng TTM của đội ngũ BCV cấp cơ sở vùng đặc biệt khókhăn của tỉnh Lâm Đồng
5.3 Đề xuất một số biện pháp và khảo nghiệm mức độ cần thiết và mức độ khảthi của các biện pháp bồi dưỡng kỹ năng TTM cho đội ngũ BCV cấp cơ sở vùng đặcbiệt khó khăn của tỉnh Lâm Đồng
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện theo hướng tiếp cận phát triển cộng đồng.
- Nghiên cứu được thực hiện dựa trên khảo sát 30 BCV cơ sở ở xã Đa Quyn và
Tà Năng; 30 BCV cấp tỉnh Lâm Đồng
7 Phương pháp nghiên cứu
Khi triển khai thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng kết hợp nhiều phươngpháp nghiên cứu khác nhau để có thể đưa ra những phân tích, nhận xét và kết luậnkhách quan, chính xác và đáng tin cậy Trong đó có các phương pháp chính như sau:
7.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp này được sử dụng để thu thập tài liệu có liên quan, xây dựng cơ sở
lý luận của đề tài nghiên cứu, bao gồm: lý luận về tuyên truyền, TTM, các chủ trương,đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước về kỹ năng, về công tác tuyên truyền nóichung và TTM nói riêng Các công trình khoa học và các bài báo đã được công bố về
kỹ năng TTM
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Xây dựng và sử dụng phiếu hỏi trưng cầu ý kiến để thu thập ý kiến của cácchuyên gia, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, BCV cơ sở về thực trạng công tácbồi dưỡng kỹ năng TTM BCV cơ sở ở xã Đa Quyn và Tà Năng của huyện Đức Trọng,tỉnh Lâm Đồng
Trang 137.2.4 Phương pháp chuyên gia
Chung tôi trao đổi đề tài nghiên cứu với các chuyên gia trong lĩnh vực chuyênngành để thu thập thông tin và lấy ý kiến nhận xét, đánh giá; trên cơ sở đó nghiên cứuphân tích, đánh giá, đề xuất các giải pháp bồi dưỡng kỹ năng TTM cho cho BCV cơ sở
ở xã Đa Quyn và Tà Năng của huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng
7.2.5 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
Phân tích những kết quả thực tiễn trong công tác bồi dưỡng kỹ năng TTM choBCV cơ sở ở xã Đa Quyn và Tà Năng của huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Từ đórút ra những bài học kinh nghiệm, những kết luận khoa học cần được áp dụng để thựchiện tốt công tác bồi dưỡng kỹ năng TTM cho đội ngũ BCV cơ sở ở xã Đa Quyn và
Tà Năng của huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng
7.3 Phương pháp nghiên cứu hỗ trợ
Chúng rôi cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu hỗ trợ nhằm xử lý những
số liệu thu được từ thực trạng trong công tác bồi dưỡng kỹ năng TTM cho đội ngũBCV cơ sở ở xã Đa Quyn và Tà Năng của huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,nội dung chính của Luận văn được thể hiện ở 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về bồi dưỡng kỹ năng TTM cho BCV cơ sở.
Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng kỹ năng TTM của đội ngũ BCV cơ sở ở xã Đa
Quyn và Tà Năng của huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng
Chương 3: Các biện pháp bồi dưỡng kỹ năng TTM cho đội ngũ BCV cơ sở ở xã
Đa Quyn và Tà Năng của huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG TUYÊN TRUYỀN MIỆNG
CHO ĐỘI NGŨ BÁO CÁO VIÊN CẤP CƠ SỞ
VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu về kỹ năng tuyên truyền miệng
Trong thời đại ngày nay, dù các phương tiện truyền thông ngày càng hiện đại,phổ biến, tiện lợi thì TTM vẫn là một hình thức tuyên truyền hiệu quả, không thể thaythế Do đó, vấn đề về kỹ năng TTM luôn được các nhà nghiên cứu trên thế giới quantâm và tìm hiểu ở nhiều góc độ khác nhau, có thể đề cập đến một số công trình tiêubiểu và nổi bật như:
Công trình Nghệ thuật nói chuyện của tuyên truyền viên của tác giả I Blinôp (1962, Nguyễn Ngọc Lư dịch, nhà xuất bản Văn hóa - Nghệ thuật) Tác phẩm Nghệ thuật diễn giảng của E.Phancôvích (1967, nhà xuất bản Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội) X I Xurơnitrencô với quyển Hoạt động tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô (1982, nhà xuất bản Thông tin Lý luận) TTM: Lý luận - Tổ chức
Ia Phương thức của M M Rakhơmancunôp (1983, nhà xuất bản Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội) Tác giả E A Nôgin trong cuốn Nghệ thuật phát biểu miệng
(1984, nhà xuất bản Sách giáo khoa Mác - Lênin) Raymond De Saint Laurent trong
tác phẩm Nghệ thuật nói trước công chúng (2003, nhà xuất bản Văn hóa - Thông
tin) Cục Cán bộ, Bộ Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng
đã xuất bản quyển Tuyên truyền công tác tư tưởng trong thời kỳ mới (2005, nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội) Trần Khang - Lê Cự Lộc đã chủ biên quyển
Giáo trình tổng kết một cách toàn diện, hệ thống những kinh nghiệm cơ bản trong công tác tuyên truyền tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc (2005, nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội)
Song song đó, giới nghiên cứu Việt Nam cũng đã có nhiều công trình tìm hiểu và
đề cập đến các khía cạnh của vấn đề kỹ năng TTM như nội dung, phương pháp, phươngthức, tổ chức và hoạt động của lĩnh vực này, điển hình như:
Trang 15Một số vấn đề về công tác tư tưởng của tác giả Đào Duy Tùng (1999, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia) Tác giả Lương Khắc Hiếu đã chủ biên quyển Nguyên lý công tác tư tưởng tập 2 (2008, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội) Nghiệp vụ tuyên giáo do tác giả Ngô Văn Thạo chủ biên (2008, nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội) Ban Tuyên giáo Trung ương cũng đã nghiên cứu và trình bày Tập bài giảng cán
bộ tuyên giáo cấp tỉnh, cấp huyện năm 2009 Tác giả Phạm Tất Thắng nghiên cứu về Ðổi mới công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới (2010, nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia, Hà Nội) Năm 2013, Đinh Thị Mai đã nghiên cứu và thực hiện Luận án Tiến
sĩ Tâm lý học về Kỹ năng tuyên truyền bằng lời tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức của BCV (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội) Tác giả Lương Ngọc Vĩnh đã tìm hiểu và có bài viết Công tác TTM trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế (Tạp chí Báo cáo viên, số 02, tháng 2/2015) Tác giả Bùi Thế Đức với bài viết Vai trò công tác TTM đối với phát triển hình ảnh và thương hiệu quốc gia Việt Nam (Tạp chí Báo cáo viên, số 05, tháng 05/2016) Luận án Tiến sĩ Chính trị học của
Lê Mai Trang về Đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay (2016).
Ngoài ra, vấn đề về kỹ năng TTM còn được nhiều tác giả nghiên cứu và trình bàyqua hình thức các bài báo khoa học, tham luận, luận văn khoa học,… dưới nhiều gócnhìn khác nhau Các kết quả nghiên cứu này có thể mang lại cho chúng ta nguồn tàiliệu tham khảo phong phú và những hiểu biểu sâu sắc hơn về kỹ năng TTM để cónhững bước tìm hiểu và vận dụng vào quá trình nghiên cứu đề này một cách phù hợp
1.1.2 Những nghiên cứu về bồi dưỡng kỹ năng tuyên truyền miệng
Vấn đề về bồi dưỡng kỹ năng TTM cũng được các nhà nghiên cứu tìm hiểu vàphân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau với các hình thức trình bày như báo cáo kết quả
đề tài khoa học, kỷ yếu hội thảo, tọa đàm, sách, giáo trình, luận văn, các bài báo khoahọc đăng trên các tạp chí, thông tin chuyên đề…, sơ lược một số công trình như:
Đề tài Nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ BCV ở Hà Nội hiện nay do tác giả Lương Khắc Hiếu chủ nhiệm (2003) Tác giả Hoàng Quốc Bảo trong quyển Học tập phương pháp tuyên truyền cách mạng Hồ Chí Minh cũng đã bàn về các
phương pháp TTM (2006, nhà xuất bản Lý luận Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) Bài
viết Hà Giang nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ BCV và công tác TTM của
Trang 16tác giả Lỳ Mí Lử trong Tạp chí Tư tưởng - Văn hóa, số 8/2006 Năm 2008, Vũ Minh Thực đã thực hiện Luận án Tiến sĩ Chính trị học về Đổi mới công tác TTM ở đơn vị cơ
sở quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay Tác giả Phạm Hữu Kiên trong bài báo Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác TTM ở Quảng Ninh (Tạp chí Tuyên giáo,
số 01/2013) Các bài viết trong quyển kỷ yếu tọa đàm Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TTM và hoạt động của đội ngũ BCV thành phố Hồ Chí Minh (2014)
Trên Tạp chí BCV cũng có nhiều bài viết thể hiện quan điểm và luận giải của các tác giả về việc bồi dưỡng kỹ năng tuyên tuyền miệng cho các BCV như: Một số suy nghĩ đổi mới phương pháp TTM hiện nay (Nguyễn Chí Mỳ, số 02, tháng 02/2009); Nâng cao chất lượng công tác TTM trong thời kỳ mới (Trần Quang Nhiếp, số 07, tháng 7/2013); Nâng cao tính thuyết phục trong công tác TTM hiện nay (Nguyễn Chí Mỳ, số 10, tháng 10/2013); Nâng cao chất lượng công tác TTM ở Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay (Đàm Văn Vượng, số 11, tháng 11/2013); Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền của Đảng trong thời kỳ mới (Lương Ngọc Vĩnh, số 07, tháng 7/2015); Xây dựng đội ngũ BCV quân đội đáp ứng yêu cầu công tác tuyên huấn trong tình hình mới (Hồ Bá Vinh, số 4, tháng 04/2016); Một số kết quả công tác TTM và hoạt động BCV năm 2016; nhiệm vụ trọng tâm năm 2017 (số 01, tháng 01/2017)
Các công trình nghiên cứu trên đã trình bày kết quả của quá trình tìm hiểu, phântích và đưa ra những kết luận có giá trị khoa học về công tác TTM, yêu cầu thực tiễn
về kỹ năng TTM của BCV, tầm quan trọng của kỹ năng TTM và công tác bồi dưỡng
kỹ năng TTM cho đội ngũ BCV, xây dựng một số giải pháp cụ thể để bồi dưỡng vànâng cao kỹ năng TTM cho đội ngũ cán bộ thực hiện công tác tư tưởng phù hợp vớiđiều kiện thực tế của địa phương
Đây chính là nguồn tài liệu quý giá giúp chúng ta hiểu hơn về vị trí, vai trò quantrọng của công tác TTM, kỹ năng TTM; sự cần thiết phải củng cố, kiện toàn và xâydựng đội ngũ BCV đáp ứng yêu cầu của bối cảnh mới; một số giải pháp nhằm đổi mớinội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng đội ngũ BCV phù hợp với thực
tế của từng địa phương
Trang 171.2 Kỹ năng tuyên truyền miệng
1.2.1 Tuyên truyền miệng
1.2.1.1 Khái niệm tuyên truyền miệng
“Tuyên truyền” theo nghĩa rộng là hoạt động có mục đích của chủ thể (người nói)nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, biến nhữngkiến thức, giá trị tinh thần đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng (ngườinghe), thôi thúc đối tượng hành động theo những định hướng, những mục tiêu do chủthể tuyên truyền đặt ra Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tuyên truyền là đem một việc gì
đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm Nếu không đạt mục đích đó, là tuyêntruyền thất bại” [43]
Hiện nay, trên các sách báo và trong các công trình nghiên cứu đang có những
quan niệm khác nhau về TTM Tuy nhiên, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng: TTM là phương thức tuyên truyền được tiến hành chủ yếu bằng lời nói trong giao tiếp nhằm mục đích nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và cổ vũ tính tích cực hành động của người nghe Khái niệm này khẳng định TTM là một công cụ quan trọng trong công tác
tư tưởng với các đặc điểm nổi bật sau:
(1) TTM thực hiện trong giao tiếp trực tiếp của người tuyên truyền và đối tượngtuyên truyền Đây là đặc điểm khác biệt cơ bản của tuyên truyền miệng so với cácphương tiện thông tin đạt chúng khác
(2) TTM chủ yếu được tiến hành bằng lời nói Ngày nay, người làm TTM có thể
có thêm sự hỗ trợ của máy tính, màn hình, các chương trình trình chiếu… nhưngphương tiện chủ yếu của họ vẫn là lời nói trực tiếp
Như vậy, TTM là một hình thức đặc biệt của tuyên truyền, được tiến hành thôngqua sự giao tiếp trực tiếp giữa người tuyên truyền với đối tượng tuyên truyền, chủ yếubằng lời nói trực tiếp, nhằm mục đích nâng cao sự hiểu biết và nhận thức, củng cốniềm tin và khuyến khích tích cực hành động của người nghe TTM được thực hiệnqua hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, đây là một trong nhữngkênh thông tin quan trọng nhất của công tác tư tưởng
1.2.1.2 Vị trí, vai trò, nhiệm vụ và ưu thế của tuyên truyền miệng
* Vị trí:
Tuyên truyền là một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng Khi xem xét côngtác tư tưởng như một quá trình liên tục, V.I Lênin khẳng định công tác tư tưởng có ba
Trang 18hình thái: công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổ động (có nhiều người gọi
là ba bộ phận) Ba hình thái đó tương ứng với các quá trình tư tưởng gồm: sản xuất ra hệ
tư tưởng; phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng; cổ vũ, động viên quần chúng thực hiện Côngtác tuyên truyền là hoạt động tiếp nối công tác lý luận, nhằm phổ biến, truyền bá cácnguyên lý lý luận, đường lối, chủ trương, chính sách vào quần chúng Mục đích cao nhấtcủa tuyên truyền là làm cho hệ tư tưởng chiếm địa vị thống trị trong xã hội
Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta đã sử dụng nhiều kênh, nhiều công cụ và phươngtiện tuyên truyền như hệ thống trường học, lớp học, các phương tiện thông tin đại chúng,các thiết chế văn hóa và hoạt động của quần chúng, sinh hoạt, hội họp của các đoàn thểchính trị - xã hội, hoạt động của báo cáo viên, tuyên truyền viên… để tiến hành công tác
tư tưởng Trong đó, TTM qua các hoạt động của báo cáo viên, tuyên truyền viên đượcĐảng ta đặc biệt quan tâm, xem trọng và xác định đây là công cụ quan trọng hàng đầunhằm tuyên truyền, giáo dục về đường lối, chính sách, truyền bá những chủ trương, quanđiểm của Đảng, đưa tiếng nói của Đảng đến quần chúng nhân dân
Thông báo số 71-TB/TW của Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII, năm 1997 trên cơ
sở khẳng định “Mọi đảng viên đều có thể tiến hành TTM ở mọi lúc mọi nơi, mọi đốitượng”, đã chỉ rõ: “BCV, tuyên truyền viên là lực lượng quan trọng hàng đầu trong việctuyên truyền, giáo dục quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước, đưa tiếng nói của Đảng trực tiếp đến với cán bộ, đảng viên và quần chúng” [18]
* Vai trò, nhiệm vụ:
Vai trò, nhiệm vụ của công tác TTM của Đảng ta trong quá trình vận động cácđối tượng tham gia các phong trào hoạt động cách mạng chủ yếu:
Một là, góp phần quan trọng trong việc truyền bá, phổ biến kiến thức sâu rộng
cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minhnhằm xây dựng và hình thành nhận thức tư tưởng đúng đắn, kiên định mục tiêu, lýtưởng độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Thực tế chothấy, một chủ thuyết muốn thấm sâu vào quần chúng, trở thành sức mạnh tinh thần vàvật chất đều phải thông qua công tác truyền bá, giáo dục Công tác TTM có ưu thế làtuyên truyền trực tiếp những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh vào các đối tượng khác nhau thông qua sự thuyết trình, đối thoại, tâm tình, cởi
Trang 19mở giữa báo cáo viên và người nghe Người nghe đó là các giai tầng trong xã hội, cóthể nói khái quát hơn thành hai đối tượng chính đó là cán bộ, đảng viên và quần chúngnhân dân.
Thứ hai, TTM là một kênh thông tin chính thống giữ vai trò chủ yếu trong việc tổ
chức, quán triệt, thông báo kịp thời các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sáchlớn, các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, các vấn đề thời sự quan trọng về tìnhhình trong nước và quốc tế, các vấn đề nổi bật mà dư luận đang quan tâm Qua đó tạo sựnhất trí cao về nhận thức, tư tưởng trong Đảng và trong quần chúng nhân dân, cổ vũ vàhướng dẫn các phong trào hành động cách mạng thiết thực ở từng địa phương, đơn vị.Một chủ trương, nghị quyết hay một chính sách lớn đúng và mới được tuyên truyền, giảithích cụ thể, rõ ràng được sự đồng tình cao của đa số nhân dân trong xã hội thì nhất định
sẽ tạo ra phong trào hành động cách mạng của đông đảo quần chúng nhân dân tham giamột cách tích cực và có hiệu quả Công cuộc đổi mới được Đảng ta khởi xướng từ Đạihội lần thứ VI đã được sự đồng tình và hưởng ứng tích cực trong cán bộ, đảng viên vàquần chúng nhân dân tạo ra sự khởi sắc mới trong toàn xã hội
Quá trình mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế có nhiều thuận lợinhưng cũng không ít khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải điều chỉnh, bổ sung, vì vậy nhiềuchủ trương, chính sách mới được ban hành, kể cả hệ thống pháp luật cũng được sửađổi, bổ sung theo thông lệ quốc tế, nhu cầu về quyền được thông tin của mỗi cán bộ,đảng viên, quần chúng nhân dân là một nội dung quan trọng trong thực hiện quy chếdân chủ ở cơ sở Đội ngũ TTM càng thể hiện vị trí, vai trò tích cực của mình trongviệc định hướng thông tin trong cán bộ, đảng viên và trong toàn xã hội, củng cố vàtăng cường sự ổn định về chính trị, nhất là ở cơ sở
Thứ ba, TTM, đặc biệt là tuyên truyền cổ động về chính trị có mục tiêu rất cơ
bản là góp phần giáo dục và xây dựng những chuẩn mực đạo đức và thang bậc giá trịđúng đắn, xây dựng con người mới, nền văn hoá mới Tập trung vào việc chăm lo xâydựng và bồi dưỡng một cách toàn diện đối với con người, chú trọng đến việc giáo dục
về nhận thức tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; tíchcực tham gia đấu tranh xoá bỏ cái cũ, cái lạc hậu, các tệ nạn xã hội, hình thành nhâncách sống mới, cuộc sống mới, trên tinh thần "đổi mới mạnh mẽ nội dung, phươngthức hoạt động, nhân cái đẹp, dẹp cái xấu; lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực" TTM còn có
Trang 20khả năng to lớn và có hiệu quả trong nhiệm vụ cổ vũ, động viên thi đua, tạo ra khí thế
và phong trào cách mạng, lôi cuốn được đông đảo quần chúng tham gia bằng các hìnhthức cổ động, diễn thuyết, mở các đợt sinh hoạt chính trị, nêu gương người tốt, việctốt, đấu tranh và phê phán những sai trái, những mặt tiêu cực trong xã hội, nhất là cổ
vũ phong trào xây dựng đời sống văn hoá mới ở cơ sở, đây là cuộc vận động chính trịrộng lớn trong toàn xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, “để cải tạo xã hội, một mặt phải cải tạo vậtchất như tăng gia sản xuất, một mặt phải cải tạo tư tưởng Nếu không có tư tưởng xãhội chủ nghĩa thì không làm việc xã hội chủ nghĩa được Mỗi người phải có tư tưởng
xã hội chủ nghĩa đúng đắn, thì mới có thể góp phần xứng đáng vào việc xây dựng chủnghĩa xã hội [43]
Thứ tư, TTM là vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị
của Đảng, đặc biệt là đấu tranh chống các luận điệu sai trái, chống âm mưu, thủ đoạn,hành động "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch đối với nước ta Hội nhậpkinh tế quốc tế tạo cho nước ta những thời cơ lớn, song cũng đặt nước ta trước nhữngthách thức lớn Các thế lực thù địch trong và ngoài nước đã và đang tăng cường hoạtđộng chống phá cách mạng nước ta, nhất là trên mặt trận tư tưởng - văn hoá, thông tin.Khi nói đến sự chống phá của kẻ địch, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “ không nhữngchiến tranh xâm lược bằng quân sự, chúng còn chiến tranh bằng tuyên truyền Chúngdùng báo chí và phát thanh hàng ngày, tranh ảnh và sách vở in rất đẹp, các nhà hát, cáctrường học, các lễ bái ở nhà thờ và chùa chiền, các cuộc họp, v.v để tuyên truyền.Chúng lợi dụng tôn giáo, phong tục, tập quán; chúng bịa đặt những câu sấm và nhữngtin đồn nhảm - để tuyên truyền Nhất là chúng lợi dụng những sai lầm, khuyết điểmcủa cán bộ ta để tuyên truyền” [43]
TTM có khả năng đưa được những thông tin nội bộ, những thông tin mà về lý donào đó không thể hoặc không đưa trên các phương tiện thông tin đại chúng đến các đốitượng cần tuyên truyền Trong điều kiện bùng nổ thông tin như hiện nay, TTM còngóp phần định hướng thông tin, giải thích, phân tích cho quần chúng nhân dân hiểu rõđâu là thông tin chính thức, chính thống, trên cơ sở đó định hướng dư luận xã hội, gópphần tạo sự thống nhất về chính trị - tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội
Trang 21Cấp cơ sở là nơi diễn ra các hoạt động sôi động nhất, nơi quyết định và kiểmnghiệm kết quả cụ thể của công tác tư tưởng, đồng thời cũng là nơi diễn ra cuộc đấutranh quyết liệt giành quần chúng, đấu tranh với các luận điệu phản tuyên truyền, chiếntranh tâm lý, biểu hiện của tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội, xâydựng cuộc sống mới lành mạnh, ổn định và phát triển Vì thế, công tác TTM ở cấp cơ
sở cần có những nhiệm vụ quan trọng
Thứ nhất, tập trung nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối củaĐảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những kiến thức khoa học, tạo sự thốngnhất cao trong Đảng và sự đồng thuận trong nhân dân vì mục tiêu chủ nghĩa xã hội
Thứ hai, cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào và hành
động cách mạng, thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước và góp phần xây dựng con người mới; nền văn hoá mới; xây dựng quêhương giàu đẹp, văn minh
Thứ ba, đấu tranh chống mọi thủ đoạn tuyên truyền của các thế lực thù địch,
chống những quan điểm sai trái, lệch lạc, phản động, bài trừ các loại hủ tục lạc hậu,các biểu hiện phi văn hoá trong nhân dân Nội dung TTM ở cơ sở rất phong phú,nhưng có thể khái quát thành những nội dung cơ bản như tuyên truyền về các nghịquyết của Đảng, gồm nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc, các Nghị quyếtBan Chấp hành Trung ương, Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Nghịquyết Đảng bộ tỉnh, huyện và cơ sở Tuyên truyền về các chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước, của cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương về các nhiệm vụchính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh Thông tin kịp thời và có địnhhướng về những vấn đề thời sự quan trọng đang diễn ra ở trong nước và quốc tế; bámsát những sự kiện chính trị nổi bật Tuyên truyền về truyền thống lịch sử và cách mạngcủa Đảng và của dân tộc, của địa phương, cơ sở thông qua các ngày kỷ niệm, các cuộcvận động chính trị quan trọng, các ngày truyền thống, các tấm gương anh hùng, liệt sĩcủa Đảng, của đất nước và của địa phương, cơ sở Qua đó làm tăng thêm lòng yêu đấtnước, yêu quê hương, tự hào về truyền thống và quá khứ oanh liệt của dân tộc pháthuy trong thời kỳ mới
Trang 22Tuyên truyền về nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương, cơ sở,phổ biến những kiến thức mới, quy trình công nghệ mới, giới thiệu các kinh nghiệmhay trong sản xuất, quản lý, động viên cổ vũ kịp thời trong những thời điểm khó khăn,phấn đấu hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch về kinh tế xã hội Tuyên truyền
về con người mới, nền văn hoá mới, xây dựng và hình thành cuộc sống mới ở địaphương, cơ sở theo những tiêu chuẩn, định hướng nghị quyết của Đảng đã đề ra
* Ưu thế:
Là loại hình tuyên truyền trực tiếp, sử dụng lời nói làm phương tiện chủ yếu đểchuyển tải thông tin, TTM có những ưu thế sau:
Thứ nhất là ưu thế của ngôn ngữ nói Ngôn ngữ nói mang tính phổ biến trong
giao tiếp xã hội Qua quá trình nghiên cứu cho thấy, hàng ngày có khoảng 2/3 lượngthông tin con người thu nhận được qua giao tiếp bằng lời nói trực tiếp Bằng ngôn ngữnói, cán bộ tuyên truyền có thể trình bày vấn đề một cách hệ thống; giải thích cặn kẽ,nhắc đi nhắc lại để ghi nhớ…các phạm trù, quy luật, quan điểm tư tưởng…với từngđối tượng, kể cả đối tượng không biết chữ…
Lời nói có ưu thế là sử dụng linh hoạt, hiệu quả thông tin cao, có thể tác độngvào tình cảm của con người, khơi dậy tính tích cực nhận thức của đối tượng, thúc đẩyquá trình hình thành niềm tin và cổ vũ hành động Lời nói có thể sử dụng mọi hoàncảnh, mọi điều kiện, do đó, TTM ít tốn kém về kinh phí, không cần nhiều đến cácphương tiện kỹ thuật phức tạp
Thứ hai là ưu thế trong việc sử dụng phi ngôn ngữ Trong TTM, cán bộ tuyên
truyền có thể sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ (có tài liệu gọi là các yếu tố của hệthống tiếp xúc cơ học) như tư thế, cử chỉ, điệu bộ, diện mạo…làm phương tiện biểuđạt thông tin và sắc thái tình cảm Những yếu tố phi ngôn ngữ này tác động vào kênhthị giác của người nghe, tăng cường sự chú ý của họ, do vậy mà thúc đầy việc tiếp thuthông tin một cách tốt nhất Các yếu tố phi ngôn ngữ hỗ trợ cho lời, làm tăng ý nghĩacủa lời, biểu hiện xúc cảm, sắc thái tình cảm của người tuyên truyền với vấn đề tuyêntruyền, do đó, chúng góp phần nâng cao hiệu quả TTM
Thứ ba là các ưu thế của loại hình giao tiếp trực tiếp Con người mang bản chất
xã hội, nên giao tiếp trực tiếp giữa người với người là hoạt động không thể thay thế.Chính vì vậy mà dù hiện nay sách báo nhiều, các kênh thông tin rất đa dạng nhưng
Trang 23ngày ngày vẫn có hàng triệu học sinh đến trường nghe thầy giảng bài, hàng vạn ngườiđến các hội trường, câu lạc bộ nghe các cán bộ tuyên truyền để nói chuyện Khác vớigiao tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng, sự giao tiếp trực tiếp của kênh TTM
dễ tạo cho người nghe cảm giác gần gũi thân mật, qua đó cán bộ tuyên truyền mangđến cho đối tượng không chỉ nội dung của lời nói mà còn mang lại cho họ tình cảm,niềm tin vào những điều mình nói
Giao tiếp trực tiếp tạo điều kiện cho cán bộ tuyên truyền linh hoạt vận dụng cáchnói trong những tình huống khác nhau trong quá trình trình bày bài nói, như điều chỉnhnội dung thông tin, phương pháp tuyên truyền cho phù hợp Bên cạnh đó, giao tiếptrực tiếp cho phép chuyển từ độc thoại sang đối thoại Người nghe có thể bày tỏ tâm
tư, nguyện vọng của mình; được hỏi và được trả lời những vấn đề mà mình quan tâm,được trao đổi, tranh luận với nhau và với cán bộ tuyên truyền về những vấn đề cònchưa thống nhất , do vậy làm tăng thêm hiệu quả tuyên truyền
Tóm lại, giao tiếp trực tiếp tạo cho cán bộ tuyên truyền cũng như người nghenhiều ưu thế mà người phát biểu trên truyền hình, đài phát thanh và khán giả của họkhông thể có được
1.2.1.3 Chức năng của tuyên tuyên truyền miệng
Đảng ta xác định rõ công tác TTM có bốn chức năng cụ thể:
Một là, chức năng phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng Song song với các hình thức
và phương tiện thông tin đại chúng khác, TTM góp phần quan trọng trong việc truyền
bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho hệ tư tưởng của Đảngchiếm địa vị thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội
Hai là, chức năng thông tin và định hướng thông tin TTM là một kênh thông tin
chính thống giữ vai trò chủ yếu trong việc thông báo, quán triệt các quan điểm, đườnglối, chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước; các vấn đề thời
sự trong nước và quốc tế quan trọng mà dư luận đang quan tâm, qua đó định hướngthông tin cho quần chúng nhân dân (người nghe)
Ba là, chức năng giáo dục, cổ vũ, động viên quần chúng đi tới hành động TTM
có mục tiêu rất cơ bản là góp phần giáo dục và xây dựng những chuẩn mực về conngười mới, nền văn hoá mới, cổ vũ và động viên các nhân tố mới trong xã hội TTM
Trang 24có khả năng to lớn và có hiệu quả trong chức năng cổ vũ, động viên, lôi cuốn đượcđông đảo quần chúng nhân dân tham gia các phong trào thi đua.
Bốn là, chức năng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng TTM là vũ khí sắc bén
trong đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chính trị của Đảng, đặc biệt là trong đấu tranhchống các âm mưu và thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch TTM làcông cụ hữu hiệu để phê phán các nhận thức tư tưởng lạc hậu, lệch lạc, các tệ nạn xãhội, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong xã hội
1.2.1.4 Phương châm tiến hành công tác tuyên truyền miệng
Phương châm thực hiện công tác TTM được Đảng ta xác định cụ thể:
Một là, toàn Đảng phải làm công tác tuyên truyền Thông báo số 71-TB/TW
ngày 7/6/1997 của Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII quyđịnh: "Toàn Đảng, mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Ủy viên Trungương và cấp ủy viên các cấp phải căn cứ vào đường lối, chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước mà trực tiếp tuyên truyền cho quần chúng " [18]
Hai là, công tác TTM phải được tiến hành một cách chủ động và tích cực, đảm
bảo phục vụ nhiệm vụ chính trị Nội dung tuyên truyền phải gắn với nhiệm vụ chính trịtrong từng giai đoạn cách mạng, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơquan, đơn vị Người cán bộ TTM phải đi trước một bước, dự báo sớm được tình hình,nghiên cứu, điều tra dư luận xã hội để nắm được yêu cầu của công tác tuyên truyền vànguyện vọng của quần chúng nhân dân, phục vụ tốt nhất cho hoạt động tuyên truyền
Ba là, công tác TTM phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, nhạy bén, kịp
thời, bám sát thời cuộc, bám sát tình hình thực tiễn Trong điều kiện tình hình quốc tế
và trong nước có nhiều biến động nhanh chóng và phức tạp, tại các địa phương và cơ
sở xuất hiện nhiều vấn đề mới nảy sinh, được mọi người chú ý theo dõi và quan tâm,thực hiện TTM phải được tiến hành thường xuyên và bắt kịp với tình hình thời sựnóng bỏng của cuộc sống Bên cạnh đó, công nghệ thông tin phát triển bùng nổ nhưhiện nay, thông tin TTM không được chậm trễ, đi sau các sự kiện thời sự chính trịnóng bỏng, nhưng không được hấp tấp, vội vàng, nông cạn, thậm chí có khi sai lệch,thiếu sự phân tích, bình luận sâu sắc và trái với sự chỉ đạo, định hướng của các cơquan có chức năng
Trang 25Bốn là, công tác TTM phải hết sức cụ thể, thiết thực, luôn xác định trước được
đối tượng tuyên truyền, vì vậy phải cụ thể thiết thực, đáp ứng yêu cầu của người nghe.Nội dung tuyên truyền phải có căn cứ số liệu, tư liệu, sự kiện, dẫn chứng cụ thể, phongphú, sinh động, lập luận rõ ràng; khắc phục lối tuyên truyền đại khái, quan liêu, xa rờithực tế
Năm là, công tác TTM thực hiện hiệu quả nhiệm vụ cung cấp thông tin, nhất là
thông tin định hướng, nhanh chóng và kịp thời xuống cơ sở, phục vụ tốt cơ sở: củng cố
và xây dựng cho được đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên có hoạt động thực sự từTrung ương tới địa phương cơ sở, đặc biệt là đến các vùng cao, vùng sâu, biên giới,hải đảo
Sáu là, công tác TTM phải được kết hợp nhiều hình thức, phương pháp, sử dụng
và phối hợp nhiều lực lượng để tiến hành công tác TTM, nhất là các phương tiện thôngtin đại chúng, hoạt động văn hóa văn nghệ và sinh hoạt, hội họp,… (tập trung vào cácyếu tố năng lực, kỹ năng, nghệ thuật )
1.2.2 Kỹ năng và kỹ năng tuyên truyền miệng
1.2.2.1 Khái niệm kỹ năng
Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng, chúng ta có thể hệ thốngthành hai dòng quan niệm chủ yếu sau đây:
Quan niệm thứ nhất xem xét kĩ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của thao tác, củahành động Đại diện quan niệm này có các tác giả:
A.V Krutexki cho rằng: “Kĩ năng là phương thức thực hiện một hành động hay mộthoạt động nào đó nhờ sử dụng những thủ thuật, những phương thức đúng đắn” [1; 88].Theo ông, con người chỉ cần nắm vững phương thức hành động là có kĩ năng, không cầnquan tâm đến kết quả của hành động
Tác giả Trần Trọng Thủy cũng đồng quan điểm với A.V Krutexki Ông chorằng, “Kĩ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nằm vững cách hành độngtức là nắm vững kỹ thuật hành động là có kĩ năng” [84; 65]
Tập thể các tác giả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng thì cho rằng,
“Kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp ) đểgiải quyết nhiệm vụ mới” [50]
Trang 26Quan niệm thứ hai xem xét kĩ năng nghiêng về mặt năng lực của con người.Theo quan niệm niệm này, kĩ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động màcòn là biểu hiện của năng lực của con người, đồng thời có tính đến kết quả của hànhđộng Quan niệm này cho rằng, kĩ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, linhhoạt, sáng tạo và vừa có tính mục đích Đại diện cho quan niệm này có các tác giả sau:
Trong Từ điển Tâm lý học, tác giả Vũ Dũng cho rằng, “Kĩ năng là năng lực vận
dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thựchiện những nhiệm vụ tương ứng” [87]
Theo Từ điển Giáo dục học thì “Kĩ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt
động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó làhành động cụ thể hay hành động trí tuệ” [66]
Theo Từ điển Văn hóa Giáo dục Việt Nam của giáo sư Vũ Ngọc Khánh thì “Kĩ năng
là loại hành động có ý thức, dựa vào sự hiểu biết về cách thức tiến hành công việc nào đó
Đó là giai đoạn trung gian giữa tri thức và kĩ xảo trong quá trình nắm vững một phươngthức hành động, kĩ năng được hình thành do luyện tập hay bắt chước” [90]
N.D Levitov cho rằng, “Kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đóhay một hoạt động phức tạp hơn, bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thứcđúng đắn, có chiếu cố đến những điều kiện nhất định” [37; 190] Theo tác giả, người
có kĩ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thứchành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ông cho rằng, để hình thành kĩnăng, con người không chỉ nắm lí thuyết về hành động, mà còn phải biết vận dụng líthuyết đó vào thực tế
Tác giả X.I Kixegof quan niệm, “Kĩ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả
hệ thống hành động phù hợp với các mục đích và điều kiện thực hiện hệ thốngnày” [91; 18]
Các tác giả K K Platonov và G G Golubev khi đề cập đến kĩ năng cũng chútrọng đến mặt kết quả của hành động Theo các tác giả này, kĩ năng là năng lực củangười thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điềukiện mới và trong những khoảng thời gian tương ứng Họ cho rằng, trong quá trìnhhình thành kĩ năng, các khái niệm, biểu tượng đã có sẽ được mở rộng ra, được làm
Trang 27sâu sắc hơn và được hoàn thiện hơn Kĩ năng không mâu thuẫn với vốn tri thức mà kĩnăng chỉ được hình thành trên cơ sở của chúng [46].
P A Ruđich cho rằng, “Kĩ năng là tác động mà cơ sở của nó là sự vận dụngthực tế các kiến thức đã tiếp thu được để đạt được kết quả trong một hình thức hoạtđộng cụ thể” [67; 124]
Đồng theo quan điểm thứ hai còn có các tác giả khác như Ngô Công Hoàn,Nguyễn Ánh Tuyết Những tác giả này cũng cho rằng, kĩ năng là một mặt năng lựccủa con người thực hiện một công việc có kết quả [58] Các tác giả Nguyễn QuangUẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành cho rằng “Kĩ năng là năng lực của conngười biết vận dụng các thao tác của một hành động theo đúng quy trình” [64]
Như vậy, từ việc tìm hiểu về hai xu hướng trên chúng ta có thể nhận thấy rằng, vềmặt hình thức diễn đạt, hai xu hướng trên có vẻ khác nhau, tuy nhiên, về thực chất thìchúng hoàn toàn không mâu thuẫn hay phủ định lẫn nhau Chúng chỉ khác nhau ở chỗ mởrộng hay thu hẹp phần cấu trúc của kĩ năng và những đặc tính của chúng
Các nhà Giáo dục học cũng phân kĩ năng thành hai loại: kĩ năng bậc 1 và kĩ năngbậc 2 Kĩ năng bậc 1 là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp vớinhững mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó là hành động cụthể hay hành động trí tuệ Muốn có kĩ năng, trước hết phải có kiến thức làm cơ sở choviệc hiểu biết về nội dung công việc mà kĩ năng hướng vào và tri thức về bản thân kĩnăng cũng như quy trình luyện tập từng thao tác riêng rẽ cho đến khi thực hiện mộthành động đúng với mục đích yêu cầu đề ra Loại kĩ năng này thông qua luyện tập đếnmức hoàn hảo, các thao tác được diễn ra hoàn toàn tự động hóa, không cần có sự hiệndiện của ý thức hoặc sự tham gia của ý thức rất ít thì biến thành kĩ xảo Loại kĩ năngnày như: kĩ năng viết, kĩ năng đi xe đạp, kĩ năng đan len Kĩ năng bậc 2 là khả năngthực hiện hành động, hoạt động một cách thành thạo, linh hoạt sáng tạo phù hợp vớimục tiêu trong các điều kiện khác nhau Để đạt tới kĩ năng này cần trải qua các giaiđoạn tập luyện trên cơ sở kĩ năng bậc 1 và kĩ xảo, sao cho mỗi hành động người tahoàn toàn không bận tâm đến các thao tác nữa mà mọi suy nghĩ tập trung vào việc tìm
ra biện pháp, phương pháp tốt nhất phù hợp với những hoàn cảnh, điều kiện luôn biếnđộng để đạt được mục đích Trong kĩ năng bậc 2, yếu tố linh hoạt, sáng tạo là yếu tố cơ bản,
đó là cơ sở cho mọi hoạt động đạt được hiệu quả cao Khi nói về kĩ năng hoạt động người ta
Trang 28thường nói về kĩ năng bậc 2, bởi vì kĩ năng bậc 1 không đảm bảo cho nhiều hoạt động đạt tớithành công
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng khái niệm kĩ năng theo khuynhhướng thứ hai: Kĩ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả một hành động, công việc nào
đó trên cơ sở nắm vững phương thức thực hiện và sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã có
để thực hiện hành động phù hợp với những điều kiện nhất định
1.2.2.2 Kỹ năng tuyên truyền miệng
Trong luận văn này, theo chúng tôi, kỹ năng TTM là khả năng vận dụng các kiếnthức về một lĩnh vực nào đó trong thực tiễn để cung cấp thông tin, thuyết phục và tạo
ra được những tác động tích cực đến nhận thức hoặc hành động của người nghe bằnglời nói trực tiếp
Công tác TTM sử dụng lời nói trực tiếp để tác động đến cá nhân hoặc tập thể,nhằm giáo dục, giải thích, nâng cao kiến thức, nhận thức đúng đắn và định hướng cho
họ tự điều chỉnh thái độ tư tưởng, hành vi ứng xử để thích ứng trong mọi lĩnh vực củacuộc sống Do đó, người thực hiện công tác này nhất thiết cần phải có kỹ năng TTM
Kỹ năng TTM của BCV gồm có một số kỹ năng cơ bản sau đây:
Một là, kỹ năng lựa chọn nội dung TTM.
Về nguyên tắc, TTM có thể đề cập đến mọi vấn đề của đời sống xã hội: nhữngvấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, an ninh - quốc phòng, đối ngoại;những vấn đề lý luận, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; các sựkiện đã và đang diễn ra trong đời sống xã hội Nhưng để đạt mục đích tuyên truyềnđặt ra, tạo khả năng thu hút sự chú ý của người nghe, khi lựa chọn nội dung tuyêntruyền miệng, cần chú ý đến các đặc trưng sau:
Thứ nhất, phải mang đến cho người nghe những thông tin mới Trong lý thuyết
giao tiếp, người ta ví quá trình trao đổi thông tin với hình tượng hai bình thông nhauchứa tin Mỗi một bình chứa tin là một vai giao tiếp Quá trình giao tiếp, trao đổi thôngtin là quá trình mở chiếc van giữa hai bình để tin từ bình này (người nói) chảy sangbình kia (người nghe) Nếu tin của hai bình ngang nhau tức là hết điều để nói, quátrình trao đổi thông tin trên thực tế không diễn ra nữa Để quá trình giao tiếp, trao đổithông tin diễn ra liên tục, giữa người nói và người nghe phải có độ chênh lệch về thôngtin, về sự hiểu biết xung quanh nội dung đang đề cập đến Độ chênh lệch về thông tin,
Trang 29về sự hiểu biết đó chính là cái mới của nội dung TTM Cái mới của nội dung tuyêntruyền tạo khả năng thu hút sự chú ý của người nghe, thuyết phục, cảm hoá họ, khẳngđịnh những quan điểm cần tuyên truyền và phê phán các quan điểm sai trái, phản diện.Trong TTM, cái mới không chỉ được hiểu là cái chưa hề được đối tượng biết đến mà
có thể là một phương pháp tiếp cận mới, một cách trình bày mới, độc đáo, một nhậnđịnh đánh giá mới về cái đã biết Để tạo ra cái mới cho nội dung TTM, người cán bộtuyên truyền cần thường xuyên tích luỹ tư liệu mới; tìm tòi, sáng tạo cách trình bày,tiếp cận mới đối với vấn đề; rèn luyện năng lực bình luận, đánh giá thông tin; tích cựcnghiên cứu thực tế, lăn lộn trong phong trào cách mạng của quần chúng để phát hiện,nắm bắt cái mới, tổng kết các kinh nghiệm hay từ thực tiễn cách mạng của nhân dândưới sự lãnh đạo của Đảng
Thứ hai, phải thiết thực, đáp ứng nhu cầu thông tin của một loại đối tượng cụ thể.
Nội dung TTM do mục đích của công tác giáo dục tư tưởng và nhu cầu thoả mãn thôngtin của đối tượng quy định Nhu cầu thông tin của đối tượng lại xuất hiện do nhu cầu củahoạt động nhận thức (nghe để biết), hoặc của hoạt động thực tiễn (nghe để biết và đểlàm) Chính trong quá trình hoạt động thực tiễn mà ở công chúng xuất hiện nhu cầuthông tin và đòi hỏi được đáp ứng Hoạt động thực tiễn của công chúng lại rất đa dạng,
do đó nhu cầu thông tin của từng đối tượng công chúng cũng khác nhau, không thểchọn một nội dung để nói cho các đối tượng khác nhau Nội dung TTM bao giờ cũnghướng tới một đối tượng, một nhóm người nghe cụ thể, xác định Cho nên, phân loạiđối tượng, nắm vững mục đích công tác giáo dục tư tưởng và nhu cầu thông tin, sựhứng thú của từng đối tương đối với nội dung thông tin, kích thích và đáp ứng nhu cầu
ấy vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện đảm bảo cho sự thành công của công tác TTM.Trong trường hợp ở công chúng chưa xuất hiện nhu cầu thông tin về một vấn đề quantrọng nào đó, nhưng vấn đề đó lại được đặt ra do yêu cầu giáo dục tư tưởng thì cần chủđộng hướng dẫn, khêu gợi, kích thích sự quan tâm ở họ Chỉ khi nào ở người nghe xuấthiện nhu cầu thông tin và đòi hỏi được đáp ứng thì khi đó ở họ mới xuất hiện tâm thế,thái độ chủ động sẵn sàng tiếp nhận, chủ động nhằm thoả mãn nhu cầu đó (tìm tài liệu
để đọc, đến hội trường nghe nói chuyện và chú ý lắng nghe )
Thứ ba, phải mang tính thời sự, tính cấp thiết, phản ánh những vấn đề nóng bỏng
của cuộc sống Giá trị và sức lôi cuốn người nghe, ý nghĩa giáo dục tư tưởng và chỉ
Trang 30đạo hành động của nội dung TTM được nâng cao rõ rệt khi chọn đúng thời điểm đưatin, thời điểm tổ chức buổi nói chuyện Nếu buổi nói chuyện được tổ chức đúng thờiđiểm thì sức thu hút của nó đối với người nghe càng lớn, vì đó là một điều kiện giúpcon người hành động có hiệu quả Nếu triển khai kế hoạch tuyên truyền chậm, thôngtin thiếu tính thời sự thì hiệu quả tác động kém, sức hấp dẫn bị hạn chế Để đáp ứngyêu cầu này, BCV một mặt cần nắm vững chương trình, kế hoạch tuyên truyền của cấp
uỷ hoặc cấp trên đề ra; mặt khác, bằng bản tính chính trị, sự nhạy cảm và tính năng độngnghề nghiệp, cán bộ tuyên truyền có thể chọn một trong số những vấn đề lý luận và thựctiễn cấp bách nhất, những sự kiện có tiếng vang lớn, đang kích thích sự quan tâm củađông đảo quần chúng làm chủ đề cho nội dung tuyên truyền Những vấn đề và sự kiệnnhư vậy thường có sức mạnh thông tin, cổ vũ cao, tác động sâu sắc đến ý thức và hành
vi của con người Hướng vào phản ánh những vấn đề bức xúc trong phong trào cáchmạng của quần chúng, các điển hình tiên tiến trong thực hiện đường lối, chính sáchcủa Đảng; phát hiện, giải đáp kịp thời, có sức thuyết phục những vấn đề do thực tiễncuộc sống sinh động đang đặt ra là một trong những cách thức nâng cao tính cấp thiết,tính thời sự của nội dung tuyên truyền miệng
Thứ tư, phải đảm bảo tính tư tưởng và tính chiến đấu Bài nói của cán bộ tuyên
truyền có mục đích tư tưởng rất rõ rệt Mục đích tư tưởng này do chức năng của côngtác tuyên truyền đặt ra và là đặc trưng cơ bản nhất trong hoạt động nghề nghiệp củacán bộ tuyên truyền Khi nói trước công chúng cán bộ tuyên truyền thực hiện chức năngcủa nhà tư tưởng bằng công cụ lời nói, bằng nghệ thuật sử dụng ngôn từ Nội dung TTM
dù về đề tài gì, trước đối tượng công chúng nào cũng đặt ra không chỉ mục đích thôngtin mà quan trọng hơn là mục đích tác động về mặt tư tưởng nhằm hình thành mềm tin
và cổ vũ tính tích cực hành động của con người Cho nên, nội dung TTM không chỉ đạttới yêu cầu cung cấp thông tin đa dạng, nhiều chiều, hấp dẫn, mà quan trọng hơn là đạttới yêu cầu định hướng thông tin Nội dung TTM không chỉ nhằm cung cấp thông tin vềcác chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về những sự kiện quan trọng trongnước và trên thế giới mà quan trọng hơn là qua thông tin đó định hướng nhận thức, giáodục tư tưởng, quán triệt quan điểm và hướng dẫn hành động của quần chúng Tính tưtưởng, tính chiến đấu đòi hỏi cán bộ tuyên truyền khi thông tin về những quan điểmkhác nhau phải có chính kiến rõ ràng, phân tích theo lập trường, quan điểm của Đảng;
Trang 31khi nêu các hiện tượng tiêu cực, lạc hậu, các tư tưởng xa lạ, đối lập phải tỏ rõ thái độphê phán kiên quyết, triệt để, tránh gây hoài nghi, hoang mang, làm giảm lòng tin củacông chúng bởi cái gọi là “thông tin nhiều chiều” thiếu cơ sở khoa học
Căn cứ vào kế hoạch, đề tài tuyên truyền của cấp uỷ, những đặc trưng trên, thực
tế tình hình tư tưởng xã hội, đặc điểm đổi tượng, cán bộ làm công tác tuyên truyền cầnlựa chọn nội dung tuyên truyền miệng cho phù hợp
Hai là, kỹ năng lựa chọn, nghiên cứu và xử lý tài liệu.
Lựa chọn, thu thập tài liệu là một nhiệm vụ quan trọng vì nó là cơ sở để lựa chọn nộidung tuyên truyền và là yếu tố tạo ra chất lượng cho một buổi nói chuyện
Thứ nhất là chọn nguồn tài liệu Nguồn tài liệu quan trọng nhất mà cán bộ tuyên
truyền thường xuyên sử dụng là tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng và Nhà nước Đây vừa là nội dung, vừa là
cơ sở lý luận - tư tưởng của nội dung tuyên truyền Người làm công tác TTM phải cókiến thức vững chắc và hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,đường lối, chính sách của Đảng, để trên cơ sở đó đánh giá, phân tích các sự kiện, hiệntượng Các loại từ điển (Từ điển tiếng Việt, Từ điển triết học Từ điển kinh tế…), tàiliệu thống kê là nguồn tài liệu chủ yếu để tra cứu các khái niệm, khai thác số liệu chobài nói Các sách chuyên khảo phù hợp là nguồn tài liệu rất quan trọng Qua các tàiliệu này có thể thu thập khối lượng lớn kiến thức hệ thống, sâu sắc về nội dung tuyêntruyền, đặc biệt là tuyên truyền chuyên đề Các báo, tạp chí chính trị - xã hội, tạp chíchuyên ngành cũng là một nguồn tài liệu Tạp chí cung cấp những thông tin khái quát,mang tính lý luận, nhưng tính thời sự ít hơn so với báo Cần chú ý rằng, một tờ báo cóthể cung cấp thông tin về những sự việc, sự kiện nhiều người đã biết Tuy nhiên, cán
bộ tuyên truyền cần thông qua các sự việc, sự kiện đó để phân tích, rút ra ý nghĩachính trị, tư tưởng nằm sâu trong cái diễn ra hàng ngày mà ai cũng biết ấy Cho nên,cần lưu trữ báo và tạp chí, lên thư mục hoặc cắt ra những bài báo và ghi rõ nguồn gốcxuất xứ của chúng Sổ tay tuyên truyền, sổ tay BCV là những tài liệu hướng dẫn nộidung, nghiệp vụ tuyên truyền và một số tư liệu chung cần thiết cho cán bộ tuyêntruyền rất thiết thực, bổ ích Các bản tin nội bộ, đặc biệt là thông tin được cung cấpthông qua các hội nghị BCV định kỳ là nguồn thông tin trực tiếp mà dựa vào đó báocáo viên tuyên truyền viên xây dựng nội dung bài nói Ngoài ra, có thể sử dụng các
Trang 32băng ghi âm, các băng hình phù hợp, các báo cáo tình hình của cơ sở, các ghi chép quanghiên cứu thực tế tham quan các điển hình tiên tiến, các di tích lịch sử - văn hoá…;các tác phẩm văn học để khai thác hình tượng văn học, câu nói, câu thơ liên quan, làmnổi bật ý của bài nói chuyện.
Muốn có nguồn tài liệu phong phú, cần tuân theo chỉ dẫn sau đây của Bác Hồ:
“Muốn có tài liệu thì phải tìm, tức là:
1 Nghe: Lắng nghe các cán bộ, nghe các chiến sĩ, nghe đồng bào để lấy tài liệu
mà viết
2 Hỏi: Hỏi những người đi xa về, hỏi nhân dân, hỏi bộ đội những việc, nhữngtình hình khắp nơi
3 Thấy: Mình phải đi đến xem xét mà thấy
4 Xem: Xem báo chí, sách vở Xem báo chí trong nước, xem báo chí nước ngoài
5 Ghi: Những cái gì đã nghe, đã thấy, đã hỏi được, đã học được thì chép lấy đểdùng và viết Có khi xem mấy tờ báo chỉ được một tài liệu thôi Tìm tài liệu cũng nhưnhững công tác khác phải chịu khó
Có khi xem tờ báo này có vấn đề này, xem tờ báo khác có vấn đề khác, rồi góphai ba vấn đề, hai ba con số làm thành một tài liệu mà viết
Muốn có nhiều tài liệu thì phải xem cho rộng”
Thứ hai là đọc và nghiên cứu tài liệu Đọc tài liệu: thoạt đầu nên đọc lướt qua mục
lục, lời chú giải (nếu có) của từng tài liệu cũng như của tất cả các tài liệu đã thu nhận được
để trên cơ sở đó hình thành quan niệm về nội dung, kết cấu bài nói Sau đó đọc kỹ, tìm cáimới có phân tích, suy nghĩ, lựa chọn Có thể đọc cả tài liệu phản diện để hiểu nội dung vàcách xuyên tạc của các thế lực xấu, xây dựng lập luận phê phán sát với nội dung, có hiệuquả; nâng cao tính chiến đấu của bài phát biểu, tuyên truyền miệng
Ghi chép: tuỳ kinh nghiệm của một người để ghi chép sao cho đạt được mục tiêu:
hệ thống, dễ đọc, dễ tìm…, ghi tóm tắt những điều đã đọc được, có thể ghi thêm lờibình luận ra lề, hoặc bổ sung thêm những số liệu, ý kiến nhận xét khác khi tài liệu côđọng hoặc trừu tượng Khi cần giữ lại ý kiến của tác giả một cách hoàn chỉnh, có thểtrích nguyên văn từng câu, từng đoạn và chú giải xuất xứ của đoạn trích (ghi rõ tên tácgiả, tác phẩm, nơi xuất bản, năm xuất bản, lần xuất bản, số trang) Đoạn trích phải lấy
từ tài liệu gốc hoặc tra cứu lại từ tài liệu gốc, không trích dẫn từ tài liệu của người
Trang 33khác Trong lúc đọc tài liệu, có thể ghi được rất nhiều nhưng nói chung chỉ nên ghi lạinhững chỗ hay nhất, những khái niệm, những tư liệu chính xác, cần thiết nhất, tư liệumới có liên quan đến chủ đề tuyên truyền.
Có thể ghi vào sổ tay hoặc ghi trên phích Khi ghi nên ghi trên một mặt giấy,hoặc trang ghi chừa lề rộng để lấy chỗ ghi thêm những vấn đề mới, thông tin mới hoặc
ý kiến bình luận của mình Phích được làm bằng giấy cứng, kích thước thông thườngkhoảng 8 x 12,5 cm, đựng vào hộp hoặc phong bì Việc ghi phích có nhiều ưu điểm
Nó giúp cho khảo cứu dễ dàng, thuận tiện nhờ việc phân loại chúng theo hệ thống cácvấn đề
Trước khi sử dụng bất kỳ tư liệu nào đều phải xem xét nó bằng “lăng kính” củangười cán bộ tư tưởng Đó là sở nhạy cảm về tư tưởng, là bản lĩnh chính trị, là tráchnhiệm người cân bộ trước Đảng, trách nhiệm công dân Không được để lộ bí mật củaNhà nước Khi sử dụng các tài liệu mật, thông tin nội bộ cần xác định rõ vấn đề nàokhông được nói, hoặc chỉ được nói đến đối tượng nào Trong điều kiện bùng nổ thôngtin hiện nay, cần thiết phải định hướng thông tin theo quan điểm của Đảng Sử dụng tàiliệu là một kỹ năng, phụ thuộc vào năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp của cán bộtuyên truyền Cùng một lượng tài liệu như nhau, ai dày công và sáng tạo hơn sẽ có bàinói chuyện chất lượng cao hơn
Ba là, kỹ năng xây dựng đề cương TTM
Đề cương tuyên truyền miệng là văn bản mà dựa vào đó người tuyên truyền tiếnhành buổi nói chuyện trước công chúng Đề cương TTM cần đạt tới các yêu cầu sau:(1) phải thể hiện mục đích tuyên truyền, cụ thể hoá, quán triệt mục đích tuyên truyềntrong các phần, các mục, các luận điểm, luận cứ, luận chứng của bài nói; (2) phải chứađựng, bao hàm nội dung tuyên truyền một cách logic, cần xây dựng nhiều phương áncủa đề cương, từ đó chọn phương án tối ưu - là phương án đạt mục đích tuyên truyền
và phù hợp với một đối tượng công chúng cụ thể, xác định
Quá trình xây dựng đề cương có thể thay đổi, bổ sung, hoàn thiện dần từ thấp lêncao, từ đề cương sơ bộ đến đề cương chi tiết Đối với những vấn đề quan trọng, phátbiểu trước những đối tượng có trình độ cao, có sự hiểu biết và giầu kinh nghiệm thựctiễn, đề cương cần được chuẩn bị với các số liệu thật chính xác, có giá trị cao, càng chitiết càng tốt
Trang 34TTM có nhiều thể loại: bài nói chuyện thời sự, báo cáo chuyên đề, báo cáo nhanhhoặc giới thiệu về nghị quyết của các cấp uỷ đảng, kể chuyện người tốt việc tốt, gươnganh hùng, chiến sĩ thi đua, diễn văn đọc trong các cuộc mít tinh Mỗi thể loại trên đều
có kết cấu đề cương riêng Nhưng khái quát lại, đề cương được kết cấu bởi ba phần:phần mở đầu, phần chính và phần kết luận Mỗi phần có chức năng riêng, yêu cầuriêng, phương pháp xây dựng và thể hiện riêng
1 Phần mở đầu: là phần nhập đề cho chủ đề tuyên truyền Đồng thời là phươngtiện giao tiếp với người nghe nhằm kích thích sự hứng thú của người nghe với nộidung tuyên truyền Phần này tuy ngắn, nhưng rất quan trọng đối với các nội dungtuyên truyền có tính trừu tượng, đối với đối tượng mới tiếp xúc lần đầu, với đối tượng
là thanh niên, sinh viên Yêu cầu đối với lời mở đầu: phải tự nhiên và gắn với các phầnkhác trong bố cục toàn bài cả về nội dung và phong cách ngôn ngữ; ngắn gọn, độc đáo
và hấp dẫn đối với người nghe
2 Phần chính của bài nói Đây là phản dài nhất, quan trọng nhất, quy định chấtlượng của bài nói, là phần thể hiện và phát triển nội dung tuyên truyền một cách toàndiện, theo yêu cầu đặt ra Nếu như chức năng, đặc trưng của phần mở đầu là thu hút sùchú ý của người nghe ngay từ đầu thì chức năng đặc trưng của phần chính là lôi cuốnngười nghe, kích thích sự hứng thú, định hướng tư tưởng, phát triển tư duy của họbằng chính sự phát triển phong phú của nội dung và lôgíc của sự trình bày Khi chuẩn
bị phần chính của bài nói cần đạt tới các yêu cầu: (1) Bố cục chặt chẽ, được trình bày,lập luận theo những quy tắc, phương pháp nhất định Phần chính được bố cục thànhcác luận điểm hay các mục (mục lớn tương ứng với luận điểm cấp một, mục nhỏ tươngứng với luận điểm cấp hai) Các luận điểm phải được làm sáng tỏ bởi các luận cứ.Giữa các luận điểm hay các phần, các mục phải có đoạn chuyển tiếp làm cho bài nói
có tính liên tục và giúp người nghe chủ động chuyển sang tiếp thu những mục, nhữngluận điểm tiếp theo Tư liệu, cứ liệu dùng để chứng minh, làm sáng tỏ luận điểm cầnđược sắp xếp một cách lôgíc theo phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch,phương pháp loại suy hoặc phương pháp nêu vấn đề Mỗi luận điểm, mỗi phần, mỗimục có thể trình bày theo một trong các phương pháp trên Việc chọn phương pháptrình bày, sắp xếp tư liệu nào là do nội dung bài nói, đặc điểm người nghe và hoàncảnh cụ thể của buổi tuyên truyền miệng quy định (2) Tính xác định, tính nhất quán
Trang 35và tính có luận chứng: Nhìn chung, quá trình trong ý thức của mỗi cá nhân trong xãhội đã hình thành những mối quan hệ lôgíc nhất định Nếu lôgíc bài nói phù hợp vớilôgíc trong tư duy, ý thức người nghe thì bài nói sẽ trở nên dễ hiểu, dễ thuyết phục.Chính vì vậy, khi thiết lập đề cương bài nói, hình thành các luận điểm, các phần, cácmục phải vận dụng các quy luật lôgíc (quy luật đồng nhất, quy luật mâu thuẫn, quyluật loại trừ cái thứ ba, quy luật có lý do đầy đủ) Việc vận dụng các quy luật này trongkhi lập luận, trình bày, kết cấu đề cương sẽ đảm bảo cho bài nói có tính rõ ràng, chínhxác (tính xác định), tính nhất quán và tính có luận chứng (3) Tính tâm lý, tính sưphạm Khi xây dựng phần chính của bài nói và trình bày, lập luận nội dung, ngoài việcvận dụng các quy luật của lôgíc hình thức cần vận dụng các quy luật của tâm lý họctuyên truyền như: Quy luật hình thành và biến đổi của tâm thế, quy luật đồng hoá vàtương phản của ý thức, quy luật đứng đầu trong niềm tin, quy luật về sự tác động củacái mới…
Đề cương phần chính bài nói còn được sắp xếp theo yêu cầu của phương pháp sưphạm: Trình bày từ cái đơn giản, đã biết đến cái phức tạp, cái chưa biết và nêu bậtđược những luận điểm quan trọng nhất của bài
3 Phần kết luận: là phần không thể thiếu của cấu trúc một bài nói, nó có các chứcnăng đặc trưng sau: tổng kết những vấn đề đã nói; củng cố và làm tăng ấn tượng về nộidung tuyên truyền; đặt ra trước người nghe những nhiệm vụ nhất định và kêu gọi họ điđến hành động Kết luận phải ngắn gọn, giàu cảm xúc nhưng tự nhiên, không giả tạo
và được sử dụng để kết thúc bài nói Giống như mở đầu, kết luận có nhiều phươngpháp khác nhau như: mở rộng, ứng dụng, phê phán, tương ứng… dù phương pháp nàothì kết luận cũng được cấu trúc bởi hai phần: phần đầu gọi là phần tóm tắt, hay toátyếu, tóm lược các vấn đề trình bày trong phần chính; phần hai là phần mở rộng vàmang đặc trưng của phương pháp
Vào đề và kết luận cho buổi nói chuyện là một kỹ xảo, một thủ thuật - thủ thuậtgây hấp dẫn, lôi cuốn, gây ấn tượng đối với người nghe Việc tìm tòi các thủ thuật này
là yêu cầu sáng tạo của mỗi cán bộ tuyên truyền
Bốn là, kỹ năng lựa chọn, sử dụng ngôn ngữ, văn phong.
Ngôn ngữ là công cụ quan trọng đảm bảo cho cán bộ tuyên truyền thực hiện mụcđích của hoạt động TTM Bằng ngôn ngữ, cán bộ tuyên truyền chuyển tải thông tin,
Trang 36thúc đẩy sự chú ý và sự suy nghĩ của người nghe, điều khiển, điều chỉnh hoạt độngnhận thức của đối tượng và cổ vũ họ đi tới những hành động tích cực Ngôn ngữ tuyêntruyền miệng có các đặc trưng sau:
1 Tính hội thoại: TTM có đặc trưng là sự giao tiếp trực tiếp giữa người nói vàngười nghe thể hiện cả trong độc thoại và đối thoại Cho nên, một đặc điểm văn phongquan trọng của TTM là tính hội thoại, tính sinh động, phong phú của lời nói Nhữngbiểu hiện của tính hội thoại là sử dụng từ vựng và câu cú hội thoại, sự đơn giản củacấu trúc câu và không tuân theo những quy tắc ngữ pháp nghiêm ngặt như văn viết.Biểu hiện đầu tiên của tính hội thoại trong văn phong TTM là việc sử dụng câu ngắn,câu không phức tạp (câu đơn) Do đặc điểm tâm, sinh lý của việc tri giác thông tinbằng thính giác, một mệnh đề càng dài thì càng khó ghi nhớ Sử dụng câu ngắn, câuđơn sẽ làm cho người nghe dễ nhớ, dễ hiểu vấn đề và không ảnh hưởng đến việc thởlấy hơi của người nói Ngoài ra, việc sử dụng câu ngắn, câu nhiều mệnh đề kế tiếpnhau có thể trở thành phương tiện văn phong làm cho bài nói sôi nổi, có kịch tính, trên
cơ sở đó thu hút sự chú ý của người nghe
Khi đặt câu, những thông tin quan trọng không nên đặt ở đầu câu và cuối câu Dođặc điểm của sự chú ý, nếu đặt những thông tin quan trọng ngay ở đầu câu, thì khi bắtđầu nói người nghe có thể chưa chú ý, thông tin bị thất lạc, cho nên chỉ đưa thông tinvào câu sau 3 - 4 từ đầu tiên Cũng không nên đặt thông tin quan trọng ở cuối câu vìnghe đến cuối câu, thính giả có thể đã giảm thiểu sự chú ý, thông tin cũng có thể bịthất lạc Cũng do điều này, mà khi đặt câu, không bắt đầu bằng một mệnh đề phụ quádài Ngoài ra, BCV cũng có thể sử dụng cấu trúc liên kết giúp làm nổi bật, nhấn mạnhmột vấn đề nào đó, thực hiện sự ngắt hơi hoặc xuống giọng để tạo ra cảm giác thoảimái, ngẫu hứng Sự liên kết thường được sử dụng với liên từ: “và”, “còn”, “nhưng”,
“song”, “hơn nữa” và các trợ từ: “mặc dù”, “chẳng lẽ”, “thậm chí”!, “thật vậy”,
2 Tính chính xác: là sự phù hợp giữa tư tưởng muốn trình bày và từ ngữ, thuậtngữ được chọn để diễn đạt tư tưởng đó Tính chính xác đảm bảo cho lời nói truyền đạtchính xác nội dung khách quan của vấn đề, sự việc, sự kiện được đề cập trong bài phátbiểu, tuyên truyền miệng Tính chính xác của lời nói trong tuyên truyền miệng baogồm: sự chính xác về phát âm (không phát âm sai, lẫn lộn giữa l và n, giữa ch và tr,giữa r và gi ); sự chính xác về từ, các từ được dùng phải rõ nghĩa, đơn nghĩa, tránh
Trang 37dùng từ đa nghĩa, diễn đạt mập mờ, nước đôi, không rõ ràng; sự chính xác về câu baohàm cả sự chính xác về ngữ pháp (đặt câu đúng) và chính xác về ngữ nghĩa, tránh đặtnhững câu tối nghĩa; sự chính xác của lời nói còn được biểu hiện ở việc chọn từ ngữphù hợp với đề tài, với trình độ người nghe và bối cảnh giao tiếp.
3 Tính phổ thông: thể hiện ở việc chọn từ, cách diễn đạt rõ ràng, đơn giản, dễhiểu, phù hợp với trình độ chung, phổ biến của một nhóm đối tượng công chúng, làbiết "phiên dịch" ngôn ngữ hàn lâm, ngôn ngữ chuyên gia sang ngôn ngữ của côngchúng rộng rãi Tính phổ thông của lời nói đảm bảo cho thính giả hiểu được, tiếp thuđược những vấn đề phức tạp, thu hút người nghe hướng vào tiếp nhận những tư tưởngmới của người tuyên truyền Tính phổ thông, sự đơn giản, dễ hiểu của lời nói, của cáchtrình bày không có nghĩa là dung tục hoá các khái niệm khoa học, là làm nghèo nànnội dung bài nói Sự đơn giản của diễn ngôn, sự dễ hiểu của cách trình bày và sựphong phú, tính khoa học của nội dung không mâu thuẫn với nhau Trong vấn đề nàyviệc cụ thể hoá các khái niệm trừu tượng, việc lấy các thí dụ minh hoạ, sử dụng đoạnmiêu tả rất có hiệu quả
Tính phổ thông của lời nói đòi hỏi cán bộ tuyên truyền hạn chế việc sử dụng cácthổ ngữ, từ địa phương, các thuật ngữ có tính nghề nghiệp, chuyên dụng Không lạmdụng từ nước ngoài, mặc dù sự hiện diện của một số từ nước ngoài trong ngôn ngữ cuamột dân tộc là một thực tế khách quan do những quy luật của quá trình phát triển ngônngữ và giao lưu văn hoá Trong những điều kiện cần thiết chúng ta có thể sử dụng các
từ nước ngoài nhất là các từ Hán - Việt, để biểu đạt chính xác nội dung tư tưởng,nhưng không lạm dụng và tốt nhất vẫn là chọn dùng những từ có trong vốn từ vựngcủa người nghe Sử dụng tục ngữ, thành ngữ, ca dao, dân ca, vốn gần gũi với đông đảonhân dân để trình bày, diễn đạt, giải thích các khái niệm mới, trừu tượng cũng là cáchphổ thông hoá lời nói của bài phát biểu, TTM
4 Tính truyền cảm: là đặc trưng riêng có của ngôn ngữ nói Việc khai thác, vậndụng đặc trưng này sẽ đem lại thành công cho bài nói Một bài nói có chất lượng là bàinói vận dụng tốt các phương tiện lôgíc và phương tiện cảm xúc - thẩm mỹ Nhờ yếu tốtruyền cảm của lời nói mà người nghe bỏ qua những thông tin nhiễu khác như tiếng
ồn, các tác động của môi trường, sự nóng nực, tập trung chú ý để tiếp thu những từthức mới, tích cực, chủ động nâng cao nhận thức của mình về những điều tưởng như
Trang 38đã biết, thích thú trong việc tiếp nhận thông tin Để tạo ra tính truyền cảm cho bài nói,
có thể sử dụng các biện pháp tu từ ngừ âm: các ẩn dụ, so sánh, các từ láy điệp ngữ,
và các biện pháp tu từ cú pháp: câu ẩn chủ ngừ, câu hỏi tu từ, câu đối chọi, câu có bổngữ đứng ở trước, câu đảo đối, câu có thành phần giải thích… Đồng thời có thể sửdụng các yếu tố cận ngôn ngữ như ngữ điệu, trường độ, cao độ của tiếng nói, sự ngừnggiọng và kết hợp chúng với các yếu tố phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt
Năm là, kỹ năng tiến hành phát biểu khi thực hiện đối thoại với người nghe, điều khiển sự chú ý và trả lời câu hỏi.
Trong quá trình phát biểu, cán bộ tuyên truyền thực hiện sự tác động đến ngườinghe chủ yếu thông qua hai kênh: kênh ngôn ngữ và kênh phi ngôn ngữ Mối quan hệngược người nghe - cán bộ tuyên truyền cũng được thực hiện bằng hai kênh này.Kênh ngôn ngữ (có tài liệu gọi là cận ngôn ngữ, tức là những yếu tố đi liền vớingôn ngữ) Thuộc về kênh này có thể sử dụng các yếu tố như ngữ điệu, cường độ, âmlượng, nhịp độ lời nói và sự ngừng giọng để tạo nên sự hấp dẫn cho bài nói Ngữđiệu của lời nói phải phong phú biến hoá, có sự vận động của âm thanh, tránh cách nóiđều đều, đơn điệu, buồn tẻ Cường độ của lời nói to hay nho cần phù hợp với khuônkhổ kích thước hội trường, số lượng và đặc điểm người nghe Cần điều chỉnh cường
độ lời nói đủ để người ngồi xa nhất có thể nghe được Nhịp độ lời nói, nói nhanh haynói chậm do nội dung bài nói, tình huống và không gian giao tiếp, khả năng hoạt độngcủa tư duy và sự chú ý của người nghe quy định Việc tăng nhịp độ lời nói làm cho quátrình tiếp thu thông tin diễn ra nhanh, nhưng nếu tăng đến một giới hạn nào đó, lượngthông tin cung cấp trong một đơn vị thời gian sẽ cao hơn khả năng của trí nhớ, khảnăng tri giác thông tin của não giảm xuống Cho nên, nhịp độ lời nói cần vừa phải.Thông thường, khi trình bày bài nói, nhịp độ chậm hơn đọc khoảng 1/5 lần Ngừnggiọng cũng là một yếu tố của kỹ năng sử dụng kênh ngôn ngữ trong tuyên truyềnmiệng Việc sử dụng kỹ năng ngừng giọng là để nhấn mạnh tầm quan trọng, tạo ra sựtập trung chú ý của người nghe đối với một vấn đề nào đó Chính vì vậy mà thời điểmngừng giọng được chọn là ở những chỗ có ý quan trọng, còn độ dài ngừng giọng phụthuộc vào cảm xúc của người nói và ý muốn tạo ra sự chú ý ở ngườii nghe
Kênh phi ngôn ngữ (có tài liệu gọi là kênh tiếp xúc cơ học hay các yếu tố về hànhvi) Thuộc về kênh này có các yếu tố như tư thế sự vận động và cử chỉ, nét mặt, và nụ
Trang 39cười Chúng là những yếu tố được quy định bởi phong cách và thói quen cá nhân.Hình thành kỹ năng này đòi hỏi phải có sự tập luyện công phu và kiên trì Đứng trướccông chúng phải tự nhiên linh hoạt Trong suốt buổi nói chuyện nên có vài lần thay đổi
tư thế để người nghe không cảm thấy mệt mỏi nhưng cũng không nên thay đổi tư thếquá nhiều Cử chỉ và diện mạo phải phù hợp với ngữ điệu của lời nói và cảm xúc, với
sự vận động của tư duy và tình cảm Nét mặt, nụ cười, ánh mắt có thể truyền đạt hàngloạt các cảm xúc, niềm vui hay nỗi buồn, sự kiên quyết hay nhân nhượng, sự khẳngđịnh hay nghi vấn mà nhờ nó người nói thể hiện được thái độ tình cảm của mình vềvấn đề đang nói và qua đó tạo được lòng tin và sự lôi cuốn người nghe Các yếu tố trênđây tác động lên thị giác của người nghe và có tác dụng nâng cao hiệu quả tri giácthông tin của họ Chúng còn được kết hợp phù hợp với tính chất, nội dung thông tin vàvới các yếu tố ngôn ngữ để nâng cao chất lượng tuyên truyền miệng
Trong TTM, chúng ta không chỉ thực hiện các phương pháp độc thoại, mà cònthực hiện các phương pháp đối thoại như toạ đàm, trao đổi, thảo luận, hỏi - đáp Trongcác phương pháp đối thoại thì hỏi - đáp (người nghe hỏi và cán bộ, tuyên truyền trảlời) là phương pháp được sử dụng nhiều hơn cả Do đó, việc trả lời các câu hỏi cuangười nghe là công việc bình thường của cán bộ tuyên truyền, nhất là trong điều kiệndân chủ hoá và tăng cường các phương pháp đối thoại với quần chúng Cán bộ tuyêntruyền cần thiết phải trả lời câu hỏi của quần chúng và tạo điều kiện, giành thời giantrong mỗi lần nói chuyện để họ được hỏi về những vấn đề mà họ quan tâm nhưng chưađược giải thích hoặc giải thích chưa rõ
Quá trình trả lời câu hỏi của người nghe cần chú ý một số đặc điểm sau: (1) Quan
hệ giao tiếp thay đổi từ độc thoại (nói một mình) sang đối thoại (trao đổi giữa hai haynhiều ngườivới nhau), hơn nữa, người tuyên truyền đang đối thoại không phải với mộtngười mà là đại diện của cả tập thể người nghe, do đó phải tuyệt đối tôn trọng và chú ýlắng nghe ý kiến của người hỏi (2) Có nhiều câu hỏi khó, bất ngờ nhưng yêu cầu phảitrả lời ngay Nếu trả lời đúng, chính xác, đáp ứng nhu cầu của công chúng thì rất tốt,
uy tín của cán bộ tuyên truyền được đề cao; nhưng ngược lại, nếu trả lời sai, nhất là saikiến thức cơ bản, phổ thông thì rất nguy hại Vì vậy, nên thận trọng khi trả lời Nếucần, có thể đề nghị người hỏi nhắc lại câu hỏi để có thêm thời gian chuẩn bị phương ántrả lời trong đầu (3) Khi trả lời, không chỉ riêng người hỏi nghe mà tất cả mọi người
Trang 40cùng nghe Do đó, trả lời cũng có yêu cầu cao về nội dung, về cách lập luận, về kỹnăng và phong cách sử dụng ngôn ngữ
Các kỹ năng cần thiết khi trả lời câu hỏi: trả lời rõ ràng, đúng, trúng yêu cầu củacâu hỏi; lập luận có cơ sở khoa học, có căn cứ xác đáng, trên cơ sở các quy luật lôgíc
và phương pháp chứng minh, lời nói nhã nhặn, khiêm tốn, phù hợp với vị trí của mìnhtrong quan hệ giao tiếp; có thể đặt tiếp những câu hỏi gợi ý để người nghe tự trả lờicâu hỏi của mình thông qua việc tra lời câu hỏi gợi ý của cán bộ tuyên truyền; có thểtrả lời ngay hoặc hẹn vào một thời điểm khác (cuối giờ, cuối buổi, hoặc sang ngàykhác nếu còn tiếp tục nói chuyện) để có thêm thời gian chuẩn bị trả lời, không nên trả lờinhững vấn đề mà thấy mình chưa nắm vững; nếu người nghe đưa ra nhiều câu hỏi quá thì
có thể tìm cách hạn chế bớt phạm vi vấn đề của các câu hỏi Đối với ít số người (có ngườinước ngoài) có thái độ châm chọc, đặt những câu hỏi thiếu tế nhị, vu cáo, thăm dò thì tuỳtrường hợp mà chọn cách trả lời thích hợp Nếu do họ thiếu hiểu biết về vấn đề của chúng tathì cần trả lời, giải thích về vấn đề đó, tuyên truyền để họ hiểu về chúng ta hơn Nếu họ hỏivới thái độ châm chọc, khiêu khích, thiếu tế nhị thì cần lập luận để bác bỏ, đồng thời tiếptục giải thích để họ và mọi người hiểu đúng về vấn đề Dù thế nào thì trên diễn đàn phải giữthái độ điềm tĩnh, có văn hoá, tuyệt đối tránh bị kích động Thái độ bình tĩnh, lịch sự, tôntrọng tập thể sẽ được sự ủng hộ, đồng tình của số đông trong hội trường Đối với những câuhỏi liên quan đến các lợi ích quốc gia, nếu không có trách nhiệm trả lời thì có thể từc chốihoặc chỉ dẫn người hỏi tìm gặp những người có trách nhiệm để nhận sự trả lời, không tự ýtrả lời tuỳ tiện những vấn đề này
Trả lời câu hỏi trong đối thoại trực tiếp là việc khó, nhưng có hiệu quả cao Do
đó, người cán bộ, tuyên truyền phải thường xuyên tích luỹ kinh nghiệm, rèn luyện kỹnăng, vươn tới sự hiểu biết đa ngành, sâu sắc về văn hóa chung, có trình độ cao về vănhoá đối thoại
Sáu là, một số kỹ năng thu hút sự chú ý và gây ấn tượng đối với người nghe khi thực hiện TTM.
Trong quá trình trình bày, có thể sử dụng các kỹ năng, các thủ thuật sau để tạo sựchú ý và gây ấn tượng ở người nghe đối với nội dung bài nói: tăng hàm lượng thông tinbằng cách xử lý tốt lượng dư thừa của ngôn ngữ diễn đạt; tăng sức hấp dẫn của thôngtin bằng cách sử dụng yếu tố bất ngờ, cách trình bày độc đáo; sử dụng một số biện