Người sảnxuất rau, hoa Đà Lạt đã biết kết hợp các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinhnghiệm, ứng dụng khoa học công nghệ tạo ra những sản phẩm rau, hoa tốtcung cấp cho thị trường.Tuy nhiê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -VŨ THỊ DIỆP
BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC TRỒNG TRỌT ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO CHO NÔNG DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- -VŨ THỊ DIỆP
BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC TRỒNG TRỌT ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO CHO NÔNG DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ HUỆ
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học,trường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện cho em trong quá trìnhhọc tập và hoàn thành luận văn này
Xin gửi lời tri ân tới quý thầy, quý cô đã tận tình giảng dạy lớp Cao họcK27, chuyên ngành Giáo dục và phát triển cộng đồng, trường Đại học SưPhạm Hà Nội, niên khoá 2017 – 2019
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo, PGS.TS Nguyễn Thị Huệngười đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu đềtài luận văn tốt nghiệp này
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các đồng chí cùng công tác tại
cơ quan, gia đình, bè bạn đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho em trongsuốt quá trình nghiên cứu
Mặc dù đã dành nhiều thời gian, công sức và cố gắng rất nhiều, nhưng
do khả năng của bản thân còn hạn chế, kinh nghiệm nghiên cứu khoa họcchưa nhiều nên luận văn tốt nghiệp của em còn nhiều thiếu sót, kính mong cácthầy, cô góp ý và chỉ bảo để em được tiến bộ và trưởng thành hơn về chuyênmôn cũng như về công tác nghiên cứu khoa học
Xin chân thành cảm ơn!
Đà Lạt, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Vũ Thị Diệp
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC TRỒNG TRỌT ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO CHO NÔNG DÂN 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Ở Việt Nam 12
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 20
1.2.1 Bồi dưỡng và bồi dưỡng kiến thức 20
1.2.2 Bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao 22
1.2.3 Bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC TRỒNG TRỌT ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO CHO NÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG 44
2.1 Vài nét khai quát về thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 44
2.1.1 Vị trí, địa lý 44
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 45
2.1.3 Điều kiện kinh tế – xã hội - dân cư 46
2.2 Tổ chức và phương pháp khảo sát thực trạng 48
2.2.1 Mục đích khảo sát 48
2.2.2 Nội dung khảo sát 49
Trang 52.2.3 Đối tượng và địa bàn khảo sát 49
2.2.4 Phương pháp và công cụ khảo sát 50
2.3 Kết quả nghiên cứu thực trạng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao của nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 53
2.4 Thực trạng nhu cầu bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 54
2.4.1 Thực trạng nhu cầu bồi dưỡng 54
2.4.2 Thực trạng mục tiêu bồi dưỡng 55
2.4.3 Thực trạng chương trình, nội dung bồi dưỡng 58
2.4.4 Thực trạng chủ thể và đối tượng bồi dưỡng 60
2.4.5 Thực trạng phương pháp và hình thức bồi dưỡng 63
2.4.6 Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng 65
2.4.7 Thực trạng điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn kinh phí phục vụ cho quá bồi dưỡng 66
2.4.8 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân 67
2.5 Đánh giá chung về những ưu điểm và hạn chế của công tác bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và nguyên nhân 69
2.5.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 69
2.5.2 Những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân 70
Tiểu kết chương 2 71
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC TRỒNG TRỌT ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO CHO NÔNG DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT -TỈNH LÂM ĐỒNG 72
3.1 Định hướng đề xuất biện pháp 72
3.1.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển trồng trọt ứng dụng công nghệ cao 72
3.1.2 Văn bản chỉ đạo của tỉnh Lâm Đồng và thành phố Đà Lạt về phát triển trồng trọt ứng dụng công nghệ cao 74
Trang 63.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 77
3.2.1 Nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống và toàn diện 77
3.2.2 Nguyên tắc bảo đảm tính phù hợp và khả thi 77
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả và bền vững 78
3.2.4 Tính pháp lý 79
3.2.6 Tính thực tiễn 80
3.2.7 Tính kế thừa phát triển 81
3.3 Biện pháp bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 81
3.3.1 Đổi mới nhận của người dân về việc ứng dụng công nghệ cao trong trồng trọt 81
3.3.2 Biện pháp lập kế hoạch xác định các nguồn lực tổ chức bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng cao cho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 83
3.3.3 Biện pháp đa dạng hóa các phương thức tổ chức bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 87 3.3.4 Biện pháp chú trọng phát huy vai trò tự bồi dưỡng của nông dân về kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao 89
3.3.5 Biện pháp xây dựng môi trường tạo động lực cho nông dân trong trồng trọt ứng dụng công nghệ cao 91
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 92
3.5 Khảo nghiệm các biện pháp nâng cao kiến thức của nông dân về trồng trọt ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 92
3.5.1 Những vấn đề chung về khảo nghiệm 92
3.5.2 Phân tích kết quả khảo nghiệm 95
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7QĐ-UB Quyết định – Ủy ban
R&D Nghiên cứu và phát triểnQĐ-TTg Quyết định / Thủ tướngNNCNC Nông nghiệp công nghệ cao
NN 4.0 Nông nghiệp thời kỳ 4.0 KH&CN Khoa học và công nghệ
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thực trạng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao của nông
dân tỉnh Lâm Đồng 53 Bảng 2.2 Thực trạng nhu cầu bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công
nghệ cao của nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 54 Bảng 2.3 Thực trạng mục tiêu bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công
nghệ cao của nông dân tỉnh Lâm Đồng 55 Bảng 2.4 Thực trạng chương trình, nội dung bồi dưỡng trồng trọt ứng dụng
công nghệ cao của nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 58 Bảng 2.5 Thực trạng được đối tượng bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng
dụng công nghệ cao của nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 60 Bảng 2.6 Thực trạng chủ thể tham gia bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng
dụng công nghệ cao cho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 62 Bảng 2.7.1 Thực trạng phương pháp bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng
dụng công nghệ cao của nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 63 Bảng 2.7.2 Thực trạng hình thức bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng
công nghệ cao của nông dân, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 64 Bảng 2.9 Đánh giá về điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn kinh
phí phục vụ cho quá bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao của nông dân tỉnh Lâm Đồng 66 Bảng 2.9.1 Thực trạng các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến bồi dưỡng
kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân 67 Bảng 2.9.2 Thực trạng các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến bồi dưỡng kiến
thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân 68
Trang 9Bảng 3.1 Đánh giá về mức độ cần thiết của các biện pháp bồi dưỡng kiến thức
trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng 95 Bảng 3.2 Đánh giá về tính khả thi của các biện pháp bồi dưỡng kiến thức
trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân thành phố Đà lạt tỉnh Lâm Đồng 97
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, việc ứng dụng công nghệ cao vào trong sản xuất nông nghiệpứng dụng công nghệ cao ngày càng phát triển mạnh và giữ vai trò quan trọngtrong việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất Việc sản xuấtnông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại địa phương không chỉ giúp nhiều laođộng nâng cao trình độ canh tác, mà còn có sức lan tỏa lớn đối với việc sảnxuất nông nghiệp của địa phương Đã có không ít người dân địa phương thấyđược hiệu quả kinh tế và lợi ích của việc sản xuất nông nghiệp ứng dụng côngnghệ cao đã tìm hiểu và từng bước áp dụng vào việc sản xuất nông nghiệp củagia đình, ngày càng nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
Lâm Đồng được coi là một trong những địa phương tiên phong trongphát triển nông nghiệp công nghệ cao và hiện tại là tỉnh dẫn đầu về mức độứng dụng công nghệ cao trong sản xuất giống cây trồng Từ những năm đầucủa thập niên 90, Lâm Đồng đã xác định nông nghiệp công nghệ cao là mộttrong những đột phá phát triển; nhiều mô hình sản xuất giống cây trồng ứngdụng công nghệ cao như: Công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, côngnghệ hoá học, trồng rau thủy canh công nghệ cao và cả công nghệ quản lý tạo
ra sản phẩm mới vượt trội so với sản xuất bình thường đã được hình thành vàhoạt động có hiệu quả Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã ban hành quyếtđịnh số 56/2004/QĐ-UB ngày 2/4/2004 phê duyệt “Chương trình phát triểnnông nghiệp công nghệ cao” giai đoạn 2004 - 2010
Thành phố Đà Lạt được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu, thổ nhưỡng;không chỉ được nhiều người biết đến là điểm du lịch hấp dẫn mà còn là trungtâm nông nghiệp cung cấp các mặt hàng nông sản hàng đầu của cả nước.Thương hiệu rau, hoa Đà Lạt nổi tiếng một phần lớn là sự đóng góp của ngườinông dân Đà Lạt Cũng như nông dân cả nước, nông dân Đà Lạt với bản chất
Trang 11cần cù chịu khó, cộng với kinh nghiệm nhiều năm trong canh tác Người sảnxuất rau, hoa Đà Lạt đã biết kết hợp các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinhnghiệm, ứng dụng khoa học công nghệ tạo ra những sản phẩm rau, hoa tốtcung cấp cho thị trường.
Tuy nhiên, nông dân Đà Lạt có một số hạn chế làm ảnh hưởng đến chấtlượng sản phẩm rau, hoa: Trình độ tiếp thu, ứng dụng khoa học, công nghệvào sản xuất còn thiếu, người nông dân vẫn còn có thói quen canh tác cũ, việcsản xuất còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết; Thiếu vốn sản xuất dẫn đến mứcđầu tư thấp làm hạn chế việc đưa khoa học, công nghệ mới vào phục vụ sảnxuất; Cơ sở hạ tầng và các dịch vụ như bảo quản, chế biến, phục vụ sau thuhoạch sản phẩm còn yếu; Quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ; Sản xuất còn mangtính tự phát chưa gắn với nhu cầu của thị trường; Nông dân không tham giahoặc có tham gia nhưng chưa tích vào Hội Nông dân hoặc Trung tâm Nôngnghiệp để phổ biến kiến thức, kinh nghiệm, ứng dụng mô hình sản xuất tốtcho nhau
Phát triển nông nghiệp theo Chương trình sản xuất rau, hoa ứng dụngcông nghệ cao là một nhiệm vụ quan trọng của một địa phương về kinh tế chủyếu vẫn là nông nghiệp, nên vấn đề thực hiện chương trình sản xuất rau, hoaứng dụng công nghệ cao là việc làm cấp bách và là nhiệm vụ hàng đầu đểphát triển kinh tế, cải thiện đời sống cho người nông dân, xây dựng cơ sở vậtchất kỹ thuật cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Do đó,
việc xây dựng và triển khai thực hiện đề tài “Bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng”
là cần thiết
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lí luận và thực trạng, luận văn đề xuất một
số biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng kiến thức trồng trọtứng dụng công nghệ cao cho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng góp
Trang 12phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương và nâng cao đời sống ngườinông dân.
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao chonông dân
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ caocho nông dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
4 Giả thuyết khoa học
Bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dânthành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng chưa thực sự đạt được kết quả như mongmuốn Nếu đánh giá một cách toàn diện về thực trạng của hoạt động này, trên
cơ sở đó đề ra những biện pháp nâng cao nhận thức, thay đổi thực trạng bồidưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân thành phố
Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả việc ứng dụng côngnghệ cao vào sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xây dựng cơ sở lí luận bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụngcông nghệ cao cho nông dân
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứngdụng công nghệ cao cho nông dân tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.5.3 Đề xuất biện pháp bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng côngnghệ cao cho nông dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Về nội dung nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác bồidưỡng kiến thức trồng trọtứng dụng công nghệ cao cho nông dân thành phố ĐàLạt, tỉnh Lâm Đồng
Trang 136.2 Về khách thể khảo sát
Chúng tôi tiến hành khảo sát 250 hộ nông dân, 05 Hợp tác xã, 10phường, xã tại thành phố Đà Lạt và huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng và 05chuyên gia trong lĩnh vực này
6.3 Về thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 5 năm 2019
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
Phương pháp này dùng để thu thập các tài liệu có liên quan, trên cơ sở
đó xây dựng cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản được sử dụng để nghiên cứucác văn kiện, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà Nước; các nghiên cứutrong nước và nước ngoài, các tư liệu, số liệu thống kê có liên quan đến nộidung nghiên cứu của đề tài
7.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Phương pháp này nhằm đánh giá thực trạng bồi dưỡng kiến thức trồngtrọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.Các mẫu phiếu trưng cầu ý kiến dành cho nông dân nhằm tìm hiểu: Thựctrạng bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân;Thực trạng bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nôngdân, các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó
7.3 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia được sử dụng trong đề tài này nhằm thu thập ýkiến của những người có kinh nghiệm, có kiến thức chuyên sâu trong lĩnh vực
mà đề tài quan tâm, bởi đây là một đề tài mới, mang tính liên ngành và liênmôn cao
Trang 147.4 Phương pháp chuyên gia
Thu thập những ý kiến nhận xét, đánh giá của các chuyên gia trong quá trìnhnghiên cứu thực trạng đội ngũ báo cáo viên, xây dựng các biện pháp và khảonghiệm các biện pháp bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ caocho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
7.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Đề tài xem xét lại những kết quả thực tiễn bồi dưỡng kiến thức trồng trọtứng dụng công nghệ cao cho nông dân trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh LâmĐồng, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, những kết luận khoa học bổ ích,những ưu điểm cần học hỏi và phát triển, những hạn chế cần khắc phục
7.6 Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp thống kê toán học nhằm xử lí, phân tích định tính và định
lượng kết quả thu được như tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, phầntrăm và biểu đạt bằng đồ thị, biểu bảng, biểu đồ trên cơ sở ứng dụng cácphần mềm tin học
8 Cấu trúc của luận văn
Gồm phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,phụ lục và 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận về bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng
công nghệ cao cho nông dân
Chương 2 Thực trạng bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công
nghệ cao cho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Chương 3 Biện pháp bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ
cao cho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC TRỒNG TRỌT ỨNG
DỤNG CÔNG NGHỆ CAO CHO NÔNG DÂN
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Từ những năm giữa thế kỷ XX, các nước phát triển đã quan tâm đến việcxây dựng các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhằm thúc đẩy sángtạo khoa học công nghệ giúp cho kinh tế phát triển Đầu những năm 80, tạiHoa Kỳ đã có hơn 100 khu vườn khoa học công nghệ Ở Anh Quốc, đến năm
1988 đã có 38 khu vườn khoa học công nghệ với sự tham gia của hơn 800doanh nghiệp Phần Lan đến năm 1996 đã có 9 khu khoa học nông nghiệpcông nghệ cao Phần lớn các khu này đều phân bố tại nơi tập trung các trườngđại học, viện nghiên cứu để nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa họccông nghệ mới và kết hợp với kinh nghiệm kinh doanh của các doanh nghiệp
để hình thành nên một khu khoa học với các chức năng cả nghiên cứu ứngdụng, sản xuất, tiêu thụ và dịch vụ Từ những năm giữa thế kỷ XX, các nướcphát triển đã quan tâm đến việc xây dựng các khu nông nghiệp ứng dụng côngnghệ cao nhằm thúc đẩy sáng tạo khoa học công nghệ giúp cho kinh tế pháttriển Đầu những năm 80, tại Hoa Kỳ đã có hơn 100 khu khoa học công nghệ
Ở Anh quốc, đến năm 1988 đã có 38 khu vườn khoa học công nghệ với sựtham gia của hơn 800 doanh nghiệp Phần Lan đến năm 1996 đã có 9 khukhoa học nông nghiệp công nghệ cao Phần lớn các khu này đều phân bố tạinơi tập trung các trường đại học, viện nghiên cứu để nhanh chóng ứng dụngnhững thành tựu khoa học công nghệ mới và kết hợp với kinh nghiệm kinhdoanh của các doanh nghiệp để hình thành nên một khu khoa học với cácchức năng cả nghiên cứu ứng dụng, sản xuất, tiêu thụ và dịch vụ.[48, tr.10]
Trang 16Bên cạnh các nước tiên tiến, nhiều nước và khu vực lãnh thổ ở Châu Ácũng đã chuyển nền nông nghiệp theo hướng số lượng là chủ yếu sang nềnnông nghiệp chất lượng, ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ tự độnghoá, cơ giới hoá, tin học hoá… để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, an toàn,hiệu quả [48, tr.13]
* Việc ứng dụng công nghệ cao (ƯDCNC) trong trồng trọt trên thế giới bao gồm:
- Công nghệ lai tạo giống: Đây là công nghệ được ứng dụng phổ biến
trong việc nghiên cứu và chọn tạo các giống cây trồng, con vật nuôi có nhữngtính chất ưu việt cho hiệu quả, năng suất cao hoặc có khả năng chống chịu caođối với điều kiện ngoại cảnh tác động góp phần đẩy nhanh sự phát triển vềmặt năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi, có nhu cầu ứng dụng caotrong nông nghiệp
- Công nghệ nuôi cấy mô thực vật In vitro: Công nghệ nuôi cấy mô
được hơn 600 công ty lớn trên thế giới áp dụng để nhân nhanh hàng trăm triệucây giống sạch bệnh Thị trường cây giống nhân bằng kỹ thuật cấy mô vàokhoảng 15 tỷ USD/năm và tốc độ tăng trưởng khoảng 15%/năm [48, tr.13]
- Công nghệ trồng cây trong nhà kính: nay được gọi là nhà màng do
việc sử dụng mái lớp bằng màng polyethylen thay thế cho kính (green house)hay nhà lưới (net house) Trên thế giới, công nghệ trồng cây trong nhà kính đãđược hoàn thiện với trình độ cao để canh tác rau và hoa Ứng với mỗi vùngmiền khác nhau những mẫu nhà kính và hệ thống điều khiển các yếu tố trongnhà kính cũng có sự thay đổi nhất định cho phù hợp với điều kiện khí hậu củatừng vùng, trong đó hệ thống điều khiển có thể tự động hoặc bán tự động Tuynhiên đối với các vùng thường chịu nhiều tác động của thiên tai như bão lũ,động đất thì lại cần cân nhắc kỹ giữa lợi ích và chi phí do rủi ro [48, tr.13]
- Công nghệ trồng cây trong dung dịch (thủy canh), khí canh và trên giá thể: Trong đó các kỹ thuật trồng cây thủy canh (hydroponics) dựa trên cơ sở
Trang 17cung cấp dinh dưỡng qua nước (fertigation), kỹ thuật khí canh(aeroponics) – dinh dưỡng được cung cấp cho cây dưới dạng phun sương
mù và kỹ thuật trồng cây trên giá thể - dinh dưỡng chủ yếu được cung cấp
ở dạng lỏng qua giá thể trơ Kỹ thuật trồng cây trên giá thể (solid mediaculture) thực chất là biện pháp cải tiến của công nghệ trồng cây thủy canh
vì giá thể này được làm từ những vật liệu trơ và cung cấp dung dịch dinhdưỡng để nuôi cây [48, tr.13]
- Công nghệ tưới nhỏ giọt: Công nghệ này phát triển rất mạnh mẽ ở các
nước có nền nông nghiệp phát triển, đặc biệt ở các nước mà nguồn nước tướiđang trở nên là những vấn đề quan trọng chiến lược Thông thường hệ thốngtưới nhỏ giọt được gắn với bộ điều khiển lưu lượng và cung cấp phân bón chotừng lọai cây trồng, nhờ đó tiết kiệm được nước và phân bón [48, tr.13]
Quá trình đó đòi hỏi phải bồi dưỡng các kiến thức liên quan cho ngườinông dân Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này như sau: Ứngdụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp của Israel như công nghệ tướitiêu tự động, tiết kiệm nước, hệ thống nhà lưới, hệ thống tưới nhỏ giọt, côngnghệ sau thu hoạch hay sản xuất theo tiên chuẩn GlobalGAP của tổ chứcGlobalGAP, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP của Bộ Nông nghiệp & PTNTViệt Nam [48, tr.13]
Israel là một quốc gia nhỏ bé (với diện tích 21.000 km2), nổi tiếng vớikhí hậu và địa hình phức tạp, có nơi cận nhiệt đới nơi lại khô cằn, có khu vựcthấp hơn mực nước biển 400m, lại có những vùng là đụn cát, gò đất phù sa….Hơn nửa diện tích đất đai của quốc gia này là hoang mạc và bán hoang mạc,nửa còn lại là rừng và đồi dốc; trong đó, chỉ 20% diện tích đất đai (khoảng4.100 km2) là có thể trồng trọt
Trước áp lực từ việc dân số tăng nhanh lại thêm lượng người nhập cư đổ
về ồ ạt từ cuối những năm 1980 dẫn đến nhu cầu về các sản phẩm nôngnghiệp gia tăng đáng kể, Israel đã không ngừng nghiên cứu, đẩy mạnh ứng
Trang 18dụng công nghệ cao trong nông nghiệp Kết quả là chỉ trong thời gian ngắnquốc gia này đã chuyển từ tình trạng thiếu lương thực đến tự túc lương thực,thực phẩm và trong 5 năm gần đây, giá trị sản xuất nông nghiệp luôn vượt con
số 3,5 tỷ USD/năm, trong đó xuất khẩu chiếm trên 20% Luôn đi đầu trongứng dụng khoa học vào sản xuất nông nghiệp, Israel đã trở thành một điểnhình nông nghiệp của thế giới [48, tr.13]
1 Công nghệ nhà kính
Ngoài mục tiêu sản xuất ra các nông sản thực phẩm “sạch” an toàn cho
sử dụng, canh tác nhà kính đã tạo ra một cuộc cách mạng về năng suất chocác loại cây trồng Nhờ canh tác nhà kính mà năng suất cà chua ở Israel đã đạtmốc 500 tấn.ha/vụ hay 3 triệu bông hồng/ha; cũng nhờ công nghệ canh tácnhà kính mà Israel đã biến sa mạc Negev toàn cát đá (chiếm 65% diện tích đấtnước) trở thành một "cánh đồng xanh công nghệ cao" có năng suất cây trồngcao nhất thế giới Trong mấy thập kỷ qua, nhà kính ở Israel chủ yếu sử dụngcho canh tác hoa, rau, các loại cây màu thực phẩm đòi hỏi chất lượng sảnphẩm cao, như ớt, hành, tỏi, dưa
Hiện tại, Israel đang phát triển loại hình nhà kính dùng để sản xuất một
số loại cây cảnh, cây ăn quả lưu niên vì mục tiêu thương mại và xuất khẩunhư nho, táo, đào, lê Những năm gần đây các loại hình công nghệ nhà kính
ở Israel không ngừng được phát triển nâng cao trình độ công nghệ đáp ứngchi tiết hơn, đa dạng hơn các nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp côngnghệ cao Cùng với việc đẩy mạnh phát triển công nghệ nhà kính cho ngànhtrồng trọt, Israel còn phát triển thêm một số loại hình nhà kính sử dụng chongành chăn nuôi, chủ yếu cho chăn nuôi gia cầm và nuôi trồng thuỷ hải sảncông nghệ cao trên sa mạc [48, tr.13]
2 Công nghệ tưới tiêu tự động, tiết kiệm nước
Có thể nói rằng, với địa hình hầu hết là sa mạc và bán sa mạc, nước làthứ tài nguyên mà Israel luôn luôn thiếu và được coi là tài nguyên quốc gia
Trang 19Mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp của đất nước này xoay quanh ba chữ
“Tiết kiệm nước” Chính vì vậy, các nhà khoa học Israel đã nghiên cứu và cho
ra đời hệ thống tới tiêu hiện đại, tiết kiệm tối đa nguồn nước như: tưới nhỏgiọt, sử dụng các van tự động, lọc nhiều tầng, dùng vòi phun áp lực thấp vàphun mưa loại nhỏ Nhờ tưới nhỏ giọt, nông dân tiết kiệm được 60% lượngnước [48, tr.13]
3 Hệ thống tưới nhỏ giọt của Israel
Các cánh đồng của Israel được trang bị mạng lưới đường ống dẫn nước,
có các ống nhỏ như mao mạch dẫn tới từng gốc cây Hệ thống này được điềukhiển bằng máy tính, tự động đóng mở van tưới khi độ ẩm của rễ cây đạt tớimức nhất định Hệ thống tưới nhỏ giọt này còn kiêm luôn nhiệm vụ bón phân.Người sử dụng pha phân bón vào bể chứa nước và phân bón sẽ theo mạnglưới tới từng bộ rễ cây Với những loại cây cần tưới cả trên mặt lá, người tadùng thêm hệ thống phun sương [48, tr.13]
4 Ứng dụng công nghệ thông tin
Từ những năm 90, Chính phủ Israel đã không ngừng đầu tư mạnh đểnông dân tiếp cận các ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) Cho đến nay,hầu như toàn bộ các khâu từ canh tác đến thu hoạch, bảo quản, tiêu thụ hiệnnay ở Israel đều được áp dụng công nghệ thông tin Người nông dân có thể tựquản lý toàn bộ các khâu sản xuất với diện tích canh tác 5 - 6 nghìn hécta màkhông còn phải làm việc ngoài đồng ruộng [48, tr.13]
Theo đó, chỉ cần một chiếc máy tính bảng hay điện thoại thông minh cókết nối mạng, các thiết bị cảm ứng và phần mềm điều khiển tự động từ xa sẽgiúp nông dân biết vườn cây nào cần bón phân gì, số lượng bao nhiêu, diệntích nào cần tưới nước, tưới bao nhiêu là vừa Căn cứ vào các dữ liệu đó, máytính sẽ cho nông dân biết cần phải điều chỉnh các chỉ tiêu nào và mọi hoạtđộng đều được điều khiển thông qua các thiết bị thông minh
Trang 20Ngoài ra, để hỗ trợ nông dân xuất khẩu nông sản ra thị trường thế giới,Chính phủ nước này cũng chủ trương đẩy mạnh quảng cáo, tiếp thị trực tiếpsản phẩm sang các thị trường tiềm năng thông qua mạng Internet Do đó, đếnnay, khoảng 60% tổng sản lượng hoa sản xuất ra được bán trực tiếp từ nôngdân cho các nhà đấu giá hoa ở Tây Âu; 20% còn lại xuất sang các thị trườngtruyền thống như Đông Âu, Mỹ; một phần nhỏ bán sang châu Á – chủ yếu làNhật Bản [48, tr.13]
5 Công nghệ sau thu hoạch
Chính phủ Israel đã thành lập Viện nghiên cứu khoa học thực phẩm vàsản phẩm sau thu hoạch thuộc Tổ chức nghiên cứu nông nghiệp (ARO), tạiđây các nhà khoa học thực hiện các nghiên cứu và cho ra đời nhiều công nghệbảo quản giúp nông sản được tươi ngon trong thời gian dài và vẫn giữ đượcgiá trị dinh dưỡng cao chẳng hạn như phương pháp bảo quản khoai tây không
sử dụng hóa chất để giảm đáng kể tỉ lệ nảy mầm trong quá trình lưu trữ (với
bí quyết chính là ở thành phần dầu bạc hà), tăng thời hạn sự dụng cho quả lựutới 4 tháng mà vẫn duy trì lượng dinh dưỡng, sử dụng các túi khí vi đục, haycác hệ thống sưởi ấm giúp giải quyết vấn đề về hình thức cho hành tây vàtiêu [48, tr.13]
Ngoài ra còn có các công nghệ mới khác như các phương pháp kéo dàituổi thọ của táo Granny Smith; phát triển loại ngũ cốc giàu protein đặc biệtcho thức ăn gia súc giúp tăng sản lượng sữa; công nghệ không sử dụng GMO(biến đổi gien) với tên gọi Enhanced Ploidy (EP) có thể giúp tăng sản lượngcác loại cây trồng như ngô lên tới 50%.[48, tr.13]
6 Nghiên cứu và phát triển (R&D)
Bất chấp các điều kiện khắc nghiệt về thời tiết, hạn chế về diện tích đấtcanh tác, sản lượng nông nghiệp của Israel liên tục tăng trưởng nhờ vào hoạtđộng nghiên cứu và phát triển (R&D)
Trang 21Lĩnh vực nông nghiệp hiện nay của Israel hầu như gắn chặt với sự liênkết 4 nhà (Nhà nước, nhà khoa học, nông dân và các doanh nghiệp) Tất cảphối hợp với nhau nhằm tìm kiếm các giải pháp để giải quyết các vấn đềtrong nông nghiệp mà nước này gặp phải Đối mặt với hàng loạt các vấn đề,
từ giống di truyền, kiểm soát bệnh dịch tới canh tác trên đất cằn, R&D trongnông nghiệp của Israel đã phát triển các công nghệ để tạo ra sự biến chuyểnngoạn mục không chỉ trong số lượng mà cả chất lượng các sản phẩm nôngnghiệp của đất nước [48, tr.13]
Chìa khóa của thành công này là nhờ các thông tin hai chiều giữa bảnthân các nhà khoa học và các nhà nông Thông qua mạng lưới dịch vụ mởrộng nông nghiệp (và sự tích cực tham gia của nhà nông vào toàn bộ tiến trìnhR&D), các vấn đề trong nông nghiệp được chuyển trực tiếp tới các nhànghiên cứu để kiếm tìm giải pháp Từ đó, các kết quả nghiên cứu khoa họccũng được nhanh chóng chuyển tới đồng ruộng để thử nghiệm, thích nghi vàđiều chỉnh [48, tr.13]
Động lực muốn đạt mức tối ưu trong sản lượng nông nghiệp và chấtlượng giống đã dẫn tới việc ra đời các loại giống mới, đối với giống cây trồnghoặc vật nuôi, tới các cải tiến trong tưới tiêu, phân bón, thiết bị nông nghiệp,
tự động hóa, hóa học, canh tác và thu hoạch Nhờ vậy, các phát kiến khoa học
và công nghệ này không chỉ phục vụ nông nghiệp trong nước mà rất nhiềutrong số đó đã được xuất khẩu ra nước ngoài [48, tr.13]
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, phát triển nông nghiệp công nghệ cao đã được Nhà nướcquan tâm đầu tư phát triển thể hiện qua các chủ trương, chính sách: Luật côngnghệ cao năm 2008; Quyết định 176/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ vềviệc phê duyệt Đề án Phát triển nông nghiệp công nghệ cao đến năm 2020;chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020 Hiện cácViện, Trường, Trung tâm đã nghiên cứu, hoàn thiện nhiều quy trình tiến bộ kỹ
Trang 22thuật, công nhận hàng chục giống rau, hoa, cây ăn trái, cây công nghiệpđưa vào sản xuất Nhiều công nghệ cao, công nghệ sinh học, vật liệu mớiứng dụng trong sản xuất đã làm cho năng suất cây trồng vật nuôi tăng lênđáng kể góp phần giải quyết công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo mộtcách hiệu quả [48, tr.14]
Nghiên cứu phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp đã được chútrọng và đạt được những kết quả ban đầu Một số công nghệ tiên tiến đượcphát triển phục vụ sản xuất như: công nghệ mô hom nhân giống cây lâmnghiệp, công nghệ sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, công nghệtưới nước tiết kiệm cho cây trồng, công nghệ che phủ nilon cho một số câytrồng, công nghệ thuỷ canh sản xuất rau trong nhà lưới, công nghệ chiếu xạbảo quản thanh long,…
Nhờ việc ứng dụng công nghệ cao để sản xuất hàng hoá, một số sảnphẩm nông nghiệp đã hình thành một số doanh nghiệp, khu nông nghiệp vàvùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao [48, tr.14]
Tác giả Nguyễn Thị Miền, Viện Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh với bài viết Phát triển nông nghiệp công nghệ cao: Những ràocản và giải pháp khắc phục đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2017 đãnhận định rằng Phát triển nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) là xu hướngtất yếu, đã và đang tạo ra động lực mới cho nền nông nghiệp Việt Nam trongbối cảnh hội nhập quốc tế, biến đổi khí hậu và cách mạng công nghiệp 4.0.Tuy nhiên, phát triển (NNCNC) ở nước ta vẫn còn gặp những rào cản cầnsớm được tháo gỡ để ngành nông nghiệp phát triển bền vững Trong nghiên
cứu này, tác giả đã đưa ra những tình hình phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, những rào rào cản trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam và đồng thời đề xuất pháp phát triển nông nghiệp công nghệ cao của Việt Nam trong thời gian tới [55]
Trang 23Theo Bộ khoa học và công nghệ, nông nghiệp thời kỳ 4.0 (NN 4.0) sẽthay đổi phương thức quản lý trang trại, doanh nghiệp, hộ gia đình Từ sảnxuất, chế biến đến tiêu thụ đều có thể ứng dụng kỹ thuạ ̂t số, nhờ đó sẽ giảmcông lao động trực tiếp, tiết kiệm vật tư đầu vào, hạ giá thành sản phẩm và
đảm bảo an toàn thực phẩm Đồng thời với nhận định này, Trung tâm Nghiên
cứu và Phát triển truyền thông KH&CN đã có bài viết Ứng dụng công nghệcao là xu hướng tất yếu của Việt Nam trong diễn đàn “Ứng dụng, chuyển giaocông nghệ mới trong nông nghiệp" diễn ra chiều 4/10/2018 tại Cần Thơ do BộKhoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp với Ủy ban nhân dân (UBND)thành phố Cần Thơ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (PTNT) tổchức Hoạt động này nằm trong khuôn khổ sự kiện Trình diễn, kết nối cungcầu công nghệ quốc tế và Hội nghị về hoạt động của các Trung tâm ứng dụngtiến bộ (KH&CN) năm 2018 [56]
Trang 24Ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp cũng được các tỉnhkhác quan tâm Hội Khuyến nông Thái Bình đã nghiên cứu thực trạng và một
số giải pháp cơ bản công tác nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa họccông nghệ trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp,nông dân, nông thôn tại Thái Bình Bài viết cho thấy thực trạng đội ngũ cán
bộ khoa học và công nghệ của tỉnh và các cơ chế chính sách khuyến khíchngười dân được ban hành như hỗ trợ nông dân mua máy sản xuất nôngnghiệp, khắc phục thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh gia súc, gia cầm để ổnđịnh, phát triển sản xuất, hỗ trợ giống cây, giống con, đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng khu chăn nuôi và vùng thủy sản tập trung; đầu tư xây dựng, nâng cấpcác công trình thủy lợi, kiên cố hóa kênh mương,…[62]
Tác giả Mai Văn Bảo với bài viết Công nhận vùng nông nghiệp côngnghệ cao đầu tiên tại Lâm Đồng được đăng trên nhandan.com.vn cho biếtngày 22-9-2017, (UBND) tỉnh Lâm Đồng cho biết, địa phương vừa ban hànhQuyết định công nhận vùng sản xuất hoa ứng dụng công nghệ cao Thái Phiên,thuộc phường 12, TP Đà Lạt Đây là vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệcao đầu tiên tại Lâm Đồng [58]
Tác giả Ngô Thanh Tứ (2016) với bài viết Áp dụng công nghệ cao trongnền nông nghiệp - hướng đi đột phá của nông nghiệp Việt Nam trong thời kỳhội nhập, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đã nhận định rằng
“Nông nghiệp Công nghệ cao là nền nông nghiệp được áp dụng những côngnghệ mới vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giới hóacác khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệvật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi cónăng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích
và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ” đó là ý kiến của Vụ Khoahọc Công nghệ và Môi trường - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.Trong điều kiện tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP),
Trang 25với quy định gỡ bỏ hàng rào thuế quan về 0% theo lộ trình đối với các sảnphẩm nông nghiệp, thì nền nông nghiệp truyền thống của nước ta sẽ là ngànhgặp nhiều khó khăn nhất Do đó hướng đi đúng đắn của sản xuất nông nghiệptrong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập sâu rộng đó là phát triển nông nghiệpcông nghệ cao – mô hình phát triển này đã và đang mang lại những hiệu quả
vô cùng to lớn Tác giả cũng chỉ ra những ưu điểm của nền nông nghiệp côngnghệ cao trong tình hình hiện nay nên đã đề xuất rằng để nông nghiệp thực sự
là một thế mạnh của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập, có thương hiệu mạnh
và đủ sức cạnh tranh ở thị trường trong nước và quốc tế cần phải tiến hànhđầu tư mạnh mẽ và bài bản cho sản xuất nông nghiệp, mở rộng và phát triểnhơn nữa các khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, đào tạo và hỗtrợ người nông dân trong sản xuất với sự đồng hành của mô hình liên kết 4nhà: Nhà nước – nhà khoa học – nhà doanh nghiệp và nhà nông sẽ là hướng
đi đột phá của nông nghiệp Việt Nam trong thời đại mới.[59]
Tác giả Lê Tất Khương và Trần Anh Tuấn (2014), Một số vấn đề về pháttriển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Việt Nam - kinh nghiệm và bài
học của Trung Quốc, đã cho thấy rằng trong những năm gần đây, cùng với sự
phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, nông nghiệp cũng đã cónhững bước tiến mới, đạt được năng suất và sản lượng cao Tuy nhiên, sảnphẩm nông nghiệp nước ta chưa có sức cạnh tranh cao về giá trị và chấtlượng Bên cạnh các nước phát triển, nhiều nước ở châu Á cũng đang chuyểnnền nông nghiệp theo hướng số lượng là chủ yếu sang nền nông nghiệp chấtlượng - nông nghiệp công nghệ cao, bằng việc ứng dụng công nghệ sinh học,công nghệ tự động hóa, cơ giới hóa, tin học hóa… để tạo ra sản phẩm nôngnghiệp có năng suất, chất lượng và giá trị cao, an toàn và hiệu quả Tuy nhiên,trên thực tế, giá trị kim ngạch thu được từ xuất khẩu hàng hóa nông sản củaViệt Nam còn rất thấp Nguyên nhân căn bản dẫn đến tình trạng này là phầnlớn nông sản hàng hóa của Việt Nam sản xuất ra từ công nghệ lạc hậu, hầu
Trang 26hết chỉ bán dạng thô, hoặc cung cấp nguyên liệu để cho các công ty nướcngoài chế biến thành các mặt hàng có giá trị cao Vì vậy đổi mới công nghệtrong nông nghiệp và kết hợp phát triển mô hình nông nghiệp ứng dụng côngnghệ cao theo hướng sản xuất hàng hóa để nâng cao năng suất, chất lượng vàgiá trị nông sản là hướng đi đúng đắn đối với Việt Nam [61]
Các tỉnh thành cũng xây dựng những Đề án phát triển nông nghiệp côngnghệ cao, chẳng hạn như Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao gắn với tái cơ cấu ngành nông nghiệp (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 254/2016/NQ-HĐND ngày 26 /4/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh Long An),
đề án “đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nhằm tăng năng suất,
chất lượng sản phẩm nông nghiệp phục vụ đô thị” huyện Hòa Vang, Đà Nẵng;
việc thực hiện các Nghị quyết 09-NQ/TU của Tỉnh ủy An Giang về phát triểnnông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, báo cáo “Kết quả 05 năm triển khaiNghị quyết 09-NQ/TU, ngày 27-6-2012, của Tỉnh ủy về phát triển nôngnghiệp ứng dụng công nghệ cao” của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh AnGiang (tháng 9-2017)…[64]
Tại Hà Nội, Hải Phòng, một số khu nông nghiệp đã nhập khẩu trọn góicông nghệ của Israel, từ nhà màng, thiết bị bên trong đến giống và kỹ thuậtcanh tác để sản xuất rau và hoa [48, tr.15]
Công ty HASFARM tại Đà Lạt, Lâm Đồng đã ứng dụng công nghệ của
Hà Lan để trồng hoa hồng, cúc, đồng tiền, lily, cho hiệu quả kinh tế cao gấp20-30 lần so với trồng thông thường Công ty Javeco đã ứng dụng công nghệtiên tiến trồng hoa lan trong nhà kính, nhà lưới tại Thường Tín, Hà Nội vàbước đầu thu được kết quả tốt [48, tr.15]
Tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có dự án đầu tư xây dựng khu nôngnghiệp công nghệ cao đa chức năng với quy mô gần 90 ha để nghiên cứucông nghệ, trình diễn công nghệ và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vựctrồng trọt, chăn nuôi, thú y và thủy sản [48, tr.15]
Trang 27Trong các địa phương có khu Nông nghiệp Công nghệ cao; thành phố
Hồ Chí Minh được đánh giá là đảm bảo được tính đồng bộ liên hoàn từ khâunghiên cứu đến sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm Trong khu bao gồm khuthí nghiệm và trưng bày sản phẩm, khu nhà kính, khu học tập và chuyển giaocông nghệ, khu bảo quản và chế biến, khu sản xuất kêu gọi đầu tư Nhà nướcđầu tư vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng tại tất cả các khu Các doanh nghiệp thuhút vào khu chủ yếu đầu tư vào sản xuất giống cây trồng như các loại rau,hoa…, đồng thời, có thể cung cấp vật tư nông nghiệp để cung cấp cho nôngdân sản xuất Các loại nông sản sẽ được doanh nghiệp mua lại với giá theođúng hợp đồng đã ký kết với nông dân [48, tr.15]
Các doanh nghiệp tham gia sản xuất trong Khu có sản lượng hàng hóatập trung, kiểm soát được tiêu chuẩn, chất lượng nông sản, giảm được chi phíđầu tư về cơ sở hạ tầng trên một đơn vị diện tích Được hưởng một số chínhsách ưu đãi của Nhà nước về thuê đất, thuế các loại [48, tr.16]
Các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao thông thường do mộtdoanh nghiệp đầu tư, quy mô tùy theo khả năng đầu tư vốn và sản phẩm của
mô hình là sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp
Chẳng hạn như ở TP Hồ Chí Minh, Công ty Liên doanh hạt giống ĐôngTây đã đầu tư trại sản xuất hạt giống rau với việc nhân dòng bố mẹ và sảnxuất hạt giống lai F1 cùng với đầu tư phòng thí nghiệm về công nghệ sinhhọc, xưởng chế biến hạt giống phục vụ cho công tác nghiên cứu, lai tạo vàchế biến hạt giống đạt tiêu chuẩn cung cấp cho thị trường trong nước và xuấtkhẩu Công ty Dalat Hasfarm và Công ty Cổ phần Rừng Hoa sản xuất các lọaihoa ôn đới cao cấp Sản phẩm chính là hoa cắt cành, bao gồm hoa hồng, lily,cúc đơn, cúc chùm, cẩm chướng đơn, cẩm chướng chùm, đồng tiền, baby, saotím, salem và các loại lá trang trí, hoa trồng chậu Ngoài việc cung cấp cho thịtrường trong nước thông qua mạng lưới phân phối vững chắc và rộng khắp,
Trang 28Dalat Hasfarm còn xuất khẩu sang Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Đài Loan,Cambodia, v.v [48, tr.16]
Xây dựng vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
Đây là lọai hình phổ biến và mang tính đại trà, có ý nghĩa trong thực tiễnsản xuất nông nghiệp của nước ta trong điều kiện hiện nay
Việc phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
có khả năng ứng dụng cao trên một vùng chuyên canh tạo nên khối lượnghàng hóa lớn; tận dụng được các lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động tạivùng Chỉ sử dụng một số công nghệ cao phù hợp với một số khâu canh tácnên chi phí đầu vào giảm, phù hợp với khả năng đầu tư của nông dân Tuynhiên, do áp dụng công nghệ cao không đồng bộ nên chất lượng sản phẩmvẫn chưa đồng đều và cao Khâu tiêu thụ sản phẩm phụ thuộc vào các hợpđồng với các doanh nghiệp nên chưa ổn định
Dẫu vậy, vẫn có những địa phương đã cố gắng khắc phục những hạn chếtrên để xây dựng các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ caothành công, mang lại cho ta nhiều bài học kinh nghiêm quý giá
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện cả nước có khoảng 4.000doanh nghiệp đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp trong tổng số 600.000 doanhnghiệp hiện có Với số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp còn quá ít thìviệc tham gia của các “đại gia” vào ngành được kỳ vọng sẽ mở ra “chương mới”cho nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam trong thời gian tới [48, tr.17]
Nông nghiệp công nghệ cao sắp trở thành lĩnh vực “nóng” về thu hút vốnđầu tư trong năm 2017, với sự vào cuộc mạnh mẽ của các doanh nghiệp, ngânhàng và sự quyết tâm cao độ của Chính phủ
Như vậy, tại Việt Nam, nghiên cứu phát triển công nghệ cao trong nôngnghiệp đã được chú trọng và đạt được những kết quả ban đầu Một số côngnghệ tiên tiến được phát triển phục vụ sản xuất như: công nghệ mô hom nhângiống cây lâm nghiệp, công nghệ sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn
Trang 29VietGAP, công nghệ tưới nước tiết kiệm cho cây trồng, công nghệ che phủnilon cho một số cây trồng, công nghệ thuỷ canh sản xuất rau trong nhà lưới,công nghệ nuôi gà, heo lạnh, công nghệ di truyền tạo cá rô phi đơn tính, côngnghệ nuôi siêu thâm canh cá tra, công nghệ chiếu xạ bảo quản thanh long, …Nhìn chung, những bài viết, những công trình nghiên cứu nhỏ, những đề
án, những nhận định về nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đều xoay quanh
các nội dung: những ưu điểm của nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, những biện pháp của nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, những hướng phát triển của nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, những lợi ích của nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Đối với việc bồi dưỡng kiến thức nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao cho nông dân, tôi chưa tìm thấy một nghiên cứu nào nghiên cứu
về vấn đề kiến thức nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cho nông dân Đồngthời, trong giới hạn nghiên cứu của mình tôi cũng chưa tìm thấy một nghiêncứu nào nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng kiến thức sản xuất rau, hoa ứng dụngcông nghệ cao cho nông dân, cụ thể là nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm
Đồng Với những lý do trên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” nhằm bổ sung thêm về mặt lý luận và thực tiễn đối với chuyên
ngành giáo dục và phát triển cộng đồng về vấn đề bồi dưỡng kiến thức sản xuấtrau, hoa ứng dụng công nghệ cao cho nông dân [48, tr.17]
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Bồi dưỡng và bồi dưỡng kiến thức
Theo quan niệm của tổ chức Unesco là: “Bồi dưỡng với ý nghĩa nângcao nghề nghiệp Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầunâng cao kiến thức hoặc kĩ năng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân nhằmđáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”
Trang 30Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (Từ điển Bách khoa, HàNội, 2010), Bồi dưỡng: đó là làm cho –1) tăng thêm sức của cơ thể bằng chất
bổ và – 2) tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất.[48]
Theo Đại từ điển do Nguyễn Như Ý chủ biên (Nxb.Văn hóa - Thông tin,
Hà Nội, 1998), Bồi dưỡng: đó là làm cho –1) khỏe thêm, mạnh thêm và –2)tốt hơn, giỏi hơn.[49]
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường “Bồi dưỡng có thể coi là một quátrình cập nhật kiến thức và kĩ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấphọc, bậc học và thường xuyên được xác định bằng một chứng chỉ”
Theo lý thuyết và quan điểm đào tạo, phát triển nhân lực của tổ chức, đốitượng cần được đào tạo trong tổ chức là người lao động đang lao động trong
tổ chức, đơn vị nào đó (như tại Ngân hàng Nông nghiệp) Dễ nhận thấy đó lànhững người lớn (adult learner), đã được đào tạo kiến thức ở cấp bậc nhấtđịnh (đại học, trung học, chuyên nghiệp hay đào tạo nghề), đã có kinh nghiệmsống và kinh nghiệm nghề nghiệp – họ có thể khác hoàn toàn với đối tượngsinh viên Như đã nêu, trên phương diện tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng(training), huấn luyện (coaching) là hướng tới nâng cao độ lành nghề, độ tinhsảo nghiệp vụ, tính chuyên nghiệp cho nhân viên theo chiến lược của tổ chức.Theo Nghị định 18/NĐCP về đào tạo cán bộ công chức Nhà nước của Chínhphủ Việt Nam, “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống nhữngtri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học” và “Bồi dưỡng làhoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”; “Bồidưỡng theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theochương trình quy định cho ngạch công chức”; “Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêuchuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý là trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháplàm việc theo chương trình quy định cho từng chức vụ lãnh đạo, quản lý”;
“Bồi dưỡng theo vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng,phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao” Như vậy “Đào tạo,
Trang 31bồi dưỡng” là quá trình liên tục nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức, kỹnăng nghề nghiệp, nâng cao năng lực trên cơ sở của mặt bằng kiến thức đãđược đào tạo trước đó Thực tế cũng cho thấy khái niệm “huấn luyện”(coaching) thường được dùng trong quân sự, hay trong thể thao; Do đó, trongbài viết này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “bồi dưỡng” cùng với “đào tạo” mộtcách phổ biến nhưng không có ý loại trừ khái niệm “huấn luyện” [36, tr.25].Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức là quá trình truyền thụ kiếnthức, kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ dưới các hình thức khác nhau chocông chức, viên chức phù hợp với yêu cầu giải quyết có chất lượng công việcđược các cơ quan nhà nước giao, do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức,viên chức thực hiện Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức giữ vai trò bổtrợ, tăng cường kiến thức, kỹ năng để người công chức, viên chức có đủ nănglực đáp ứng hoạt động quản lý, điều hành [1, tr.3].
Nếu như đối với lĩnh vực đào tạo, thì đây là một quá trình dài, khép kínnhằm trang bị và xây dựng cho khách thể các tố chất mà trước đó khách thể
đó không có; còn đối với bồi dưỡng thì đây chỉ là một giai đoạn ngắn, bổ trợ,nhằm bồi bổ thêm, làm tốt thêm và nâng cao hơn các tố chất vốn đã có sẵncủa khách thể
Qua các quan điểm trên, có thể nói bồi dưỡng thực chất là bổ sung kiến thức, kĩ năng để nâng cao trình độ trong lĩnh vực chuyên môn nào đó, giúp con người mở mang hoặc nâng cấp hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công việc đang làm.
1.2.2 Bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao
Theo Luật trồng trọt số 31/2018/QH14 thì trồng trọt là ngành kinh tế - kỹ
thuật trong nông nghiệp có liên quan đến việc gieo trồng cây nông nghiệp,cây cảnh và nấm ăn để phục vụ mục đích của con người [37]
Trang 32Hay trồng trọt là hoạt động con người nhằm tác động vào đất đai vàgiống cây trồng để tạo ra sản phẩm trồng trọt khác nhau.
Trồng trọt là lĩnh vực sản xuất quan trọng của nông nghiệp, cung cấplương thực, thực phẩm cho con người; thức ăn cho chăn nuôi; nguyên liệu chocông nghiệp; nông sản để xuất khẩu Do vậy, nghề trồng trọt vẫn là nghềmuôn đời và đang ngày càng có giá trị bởi sức ép về lương thực thực phẩmcho con người ngày một gia tăng [37]
Bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ở đây bao gồm: kiến thức về sản xuất rau, hoa, về giống cây trồng; phân bón, canh tác; thu hoạch, sơ chế, bảo quản, chế biến, thương mại và quản lý chất lượng sản phẩm cây trồng.
Canh tác là quá trình con người sử dụng tài nguyên thiên nhiên, trangthiết bị, vật tư nông nghiệp và áp dụng quy trình sản xuất để tạo ra các sảnphẩm cây trồng khác nhau
Sản phẩm cây trồng là bộ phận thu hoạch của cây nông nghiệp, cây cảnh
* Về công nghệ và công nghệ cao
Về công nghệ: Theo “ATLAT – Công nghệ của ESCAP (Ủy ban Kinh tếChâu Á-Thái Bình Dương) thì “Công nghệ là tổng hợp các kiến thức, kỹnăng, các bí quyết, phương tiện kỹ thuật, các phương pháp được dùng đểchuyển hóa các nguồn lực sử dụng trong sản xuất hoặc dịch vụ công nghiệp,dịch vụ quản lý”.[47,tr.7]
Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học vàphát triển công nghệ, được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiệnđại, tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng, thân thiện
Trang 33với môi trường, có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất,dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có [47,tr.7]
Theo Luật Công nghệ Cao (2008): “Công nghệ cao là công nghệ có hàmlượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, được tích hợp từthành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, tạo ra sản phẩm có chất lượng, tínhnăng vượt trội, giá trị gia tăng, thân thiện với môi trường, có vai trò quantrọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hoángành sản xuất, dịch vụ hiện có”.[16, tr.4]
Theo Vụ Khoa học Công nghệ - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:
“Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là nền nông nghiệp được áp dụng những
công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp (cơ giớihóa các khâu của quá trình sản xuất), tự động hóa, công nghệ thông tin, côngnghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi cónăng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích vàphát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ” [47,tr.7]
Như vậy, mục tiêu cuối cùng của phát triển nông nghiệp ứng dụng côngnghệ cao là giải quyết mâu thuẫn giữa năng suất nông nghiệp thấp, sản phẩmchất lượng thấp, đầu tư công lao động nhiều, hiệu quả kinh tế thấp với việc ápdụng những thành tựu khoa học công nghệ để đảm bảo nông nghiệp tăng trưởng
ổn định với năng suất và sản lượng cao, hiệu quả và chất lượng cao Thực hiệntốt nhất sự phối hợp giữa con người và tài nguyên, làm cho ưu thế của nguồn tàinguyên đạt hiệu quả lớn nhất, hài hòa và thống nhất lợi ích xã hội, kinh tế vàsinh thái môi trường (Dương Hoa Xô, Phạm Hữu Nhượng, 2006)
Về trình độ công nghệ cao: Có thể phân thành 4 mức độ: Công nghệ hiệnđại, công nghệ tiên tiến, công nghệ trung bình tiên tiến, công nghệ trung bình.Trong đó, công nghệ hiện đại là công nghệ đã phối hợp, sử dụng các thành tựucủa công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới [47,tr.7]
Trang 34Hệ thống Nông nghiệp công nghệ cao là hệ thống sử dụng các loại côngnghệ: Công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học, côngnghệ sau thu hoạch và công nghệ quản lý nhằm nâng cao năng suất, chấtlượng, hiệu quả, sức cạnh tranh nông sản hàng hóa hiện đại hóa nông nghiệp,nông thôn [47,tr.7]
Sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao là sản phẩm hàng hóa mang tínhđặc trưng của từng vùng sinh thái, đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao trênđơn vị diện tích, có khả năng cạnh tranh cao về chất lượng với các sản phẩmcùng loại trên thị trường trong nước và thế giới, có điều kiện mở rộng quy môsản xuất và sản lượng hàng hóa khi có yêu cầu của thị trường [47,tr.7]
Sản xuất nền nông nghiệp công nghệ cao tạo ra sản phẩm phải theo mộtchu trình khép kín, trong sản xuất khắc phục được yếu tố rủi ro của tự nhiên
và hạn chế rủi ro của thị trường
Cho đến nay, khái niệm Bồi dưỡng kiến thức sản xuất rau, hoa ứng dụng công nghệ cao chưa được đề cập đến trong bất cứ một tài liệu nghiên cứu nào Tuy nhiên, căn cứ vào những khái niệm “Bồi dưỡng”, “ Bồi dưỡng kiến thức trồng trọt”
“Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao” đã có, chúng ta có thể hiểu Bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao là thực chất bổ sung kiến thức, kĩ năng để nâng cao trình độ trong lĩnh vực trồng trọt ứng dụng công nghệ cao, giúp con người mở mang hoặc nâng cấp hệ thống tri thức,
kĩ năng, kĩ xảo chuyên môn nghiệp về trồng trọt ứng dụng công nghệ cao nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công việc đang làm.
1.2.3 Bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân
* Nông dân
Theo đại từ điển tiếng Việt, nông dân là “người sống bằng nghề làm ruộng”; nông nghiệp là “ngành sản xuất chủ yếu của xã hội có nhiệm vụ cung cấp sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi”, và trang trại là “trại sản xuất nông
Trang 35nghiệp có quy mô lớn nói chung” [43]
- Người điều hành một trang trại
- Người sống bằng nghề trồng trọt trên đất Đây là cách để con người tồntại từ buổi đầu của nền văn minh
- Người sống bằng hoạt động trồng trọt, chăn nuôi
- Một cá nhân (hoặc nhóm người và những tổ chức hợp pháp khác) tiếnhành những hoạt động nông nghiệp theo hình thức cổ phần
- Một người độc lập, có trang trại thừa kế hay được cho tặng có cácquyền về thừa kế [43]
- Một người quản lý trang trại bằng việc trồng trọt và chăn nuôi [43]
- Bao gồm các ý nghĩa là: người sở hữu, chủ đất, người chiếm giữ, vàngười thuê mướn của một trang trại,[43]
- Bất cứ người nào điều hành một trang trại hay gián tiếp liên quan đến việccanh tác trên đất, sở hữu hay trực tiếp kiểm soát các cây trồng và vật nuôi [43]Các môn khoa học xã hội, khi đề cập tới tình hình các nước đang pháttriển, đều không thể nào bỏ qua được vấn đề nông nghiệp và nông dân Trongkhi đó, một cách có phần nghịch lý, từ “nông dân” (peasant) lại là ví dụ điểnhình về sự nhầm lẫn về nghĩa của một từ thông dụng với nghĩa xã hội học của
nó Thậm chí, có lẽ, cách dùng thông dụng của từ này lại dễ nắm bắt hơn cả.Người ta luôn hiểu khi nào thì một người là nông dân, và khi nào thì không,ngay cả khi bàn về trường hợp những tiểu chủ giàu có, người lĩnh canh, ngườilao động nông nghiệp không có đất, trong một loạt những bối cảnh lịch sử vàvăn hoá đặc thù Nhìn chung, giới nghiên cứu khoa học xã hội đã mất nhiềucông sức để thảo luận về một định nghĩa chính xác
Các nhà nghiên cứu nhân học định nghĩa nông dân thông qua những thóiquen và chuẩn mực văn hoá, đặc trưng bằng sự thu hẹp tầm nhìn và địnhhướng đến truyền thống Những nỗ lực mô tả nông dân như là một phạm trùkhái quát như thế, lẫn lộn với các loại hình học nhằm kết hợp mọi hình thức
Trang 36kinh tế xã hội khác nhau được gọi là nông dân Tuy nhiên, cũng như tronggiới kinh tế học Marxist, không có một định nghĩa chính xác hay hữu dụngnào được nêu ra, và thuật ngữ này vẫn bị coi là một phạm trù kinh tế - xã hội
có tính mô tả hơn là tính khám phá hữu ích [43]
Cuốn sách nổi tiếng của Eric Wolf về các cuộc chiến tranh nông dân thế
kỷ XX, dành một phần viết về Việt Nam, đều lấy cảm hứng từ sự phân tíchkinh tế nông dân như là cội nguồn của các phong trào xã hội và các cuộc
chiến tranh nổi dậy Ngoài cuốn Nông dân, các bài báo gần đây nhất của tác giả đều nỗ lực làm rõ sự phân biệt giữa nông dân và các hình thức khác của
người sản xuất nông nghiệp
Wolf xác định các đặc trưng của nông dân bằng cách đối lập nó với cái
mà ông gọi là “người nguyên thủy” và nông gia Nông dân được định nghĩa lànhững người trồng trọt ở nông thôn và họ không phải là nông gia (chủ cácnông trại) Nông trại về cơ bản là một doanh nghiệp, ở đó các yếu tố đầu vàocủa sản xuất được kết hợp lại, sau đó các sản phẩm của nông trại sẽ được bán
ra ngoài thị trường với giá cao hơn Còn người nông dân, xét về phương diệnkinh tế lại không điều hành doanh nghiệp, mà quản lý nền kinh tế gia đình.Vậy điều gì là cái giúp phân biệt giữa nông dân và người nguyên thủy, làngười cũng sống ở nông thôn bằng trồng trọt và chăn nuôi?
Wolf đồng ý với Sahlins rằng "xã hội nông dân" có đặc trưng riêng biệt
so với các xã hội cổ truyền khác, là vì nó phụ thuộc rất nhiều vào những hìnhthức chính trị và kinh tế cao hơn Các cộng đồng nông dân phải phục tùngquyền lực từ bên ngoài, và họ phải cung đốn lương thực, thực phẩm, trích từnền kinh tế tự cung tự cấp của họ Mỗi một nông dân phải mang đến lâu đàimột phần mùa màng của mình, phải đến đó làm lao dịch và đóng thuế chochính quyền trung ương Kinh tế nông dân vừa phải cung cấp cho việc sinhtồn của làng, vừa phải trích ra để nuôi sống xã hội (Wolf, 2000)
Vị trí của gia đình gắn liền với cái bối cảnh chính trị xã hội xung quanh,được thảo luận trong nhiều bài nghiên cứu, như là một cách diễn giải về
Trang 37người nông dân Theo nhiều học giả, thì gia đình là then chốt để đánh giá vịtrí “đầy mâu thuẫn” của nông dân với tư cách là người kiểm soát các nguồnlực sản xuất nông nghiệp (đất đai, gia súc ), và là đối tượng của các quan hệbóc lột Bản thân gia đình có khả năng đưa ra các quyết định sản xuất chủ yếu
và để làm điều đó, gia đình phải cân đối các nhu cầu tiêu dùng của mình vớicác đòi hỏi từ phía tầng lớp cai trị (Meillassoux, 1979;W Roseberry, 2000;H.Friedmann , 2001) [6]
Một mặt nông dân tiến hành các hoạt động kinh tế tự túc, nhằm vào tiêudùng bản thân và gia đình, mặt khác, họ được coi là những đơn vị sản xuất của
hệ thống kinh tế nói chung và do đó họ phụ thuộc vào một hệ thống quan hệ bóclột (W Roseberry, 2000) H Friedmann cố gắng tìm cách thay thế cho kháiniệm nông dân bị phê phán là quá trừu tượng và đề nghị thay bằng một kháiniệm mới về “những người sản xuất hàng hóa giản đơn” Tác giả này đối lập sảnxuất hàng hóa giản đơn với sản xuất nông dân, theo đó, nông dân được coi nhưđơn vị sản xuất hộ gia đình, chỉ liên kết phần nào với thị trường, còn người sảnxuất giản đơn lại liên kết hoàn toàn với thị trường (dẫn lại W Roseberry, 2000).[6]
Có thể tổng hợp rằng nông dân là những người lao động cư trú ở nôngthôn, tham gia sản xuất nông nghiệp
Cho đến nay, khái niệm Bồi dưỡng kiến thức sản xuất rau, hoa ứng dụng công nghệ cao cho nông dân chưa được đề cập đến trong bất cứ một tài liệu nghiên cứu nào Tuy nhiên, căn cứ vào những khái niệm “Bồi dưỡng kiến thức trồng trọt”, “Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao”,
“Nông dân” chúng ta có thể hiểu Bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân là thực chất bổ sung kiến thức, kĩ năng để nâng cao trình độ cho người tham gia trồng trọt ứng dụng công nghệ cao, giúp người tham gia trồng trọt mở mang hoặc nâng cấp
hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo chuyên môn, nghề nghiệp nhằm nâng cao chất lượng hiệu công việc đang làm.
Trang 381.3 Quá trình bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân
Bồi dưỡng chính là quá trình bổ sung, cập nhật kiến thức và kỹ năngnhằm nâng cao tay nghề cho người lao động, đáp ứng một cách tốt nhất yêucầu năng lực trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân gắn liền với sựphát triển của ngành nông nghiệp nước nhà và tỉnh nhà
1.3.1 Khảo sát nhu cầu bồi dưỡng
Việc xác định nhu cầu bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng côngnghệ cao cho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng có ý nghĩa vô cùngquan trọng, nó tạo ra cở sở giúp cho các nhà tổ chức là Phòng Nông nghiệp vàPTNT, Trung tâm Khuyến nông, Trung tâm Nông nghiệp, Hội Nông dân xâydựng kế hoạch bồi dưỡng, đáp ứng nhu cầu nâng cao kiến thức trồng trọt ứngdụng công nghệ cao cho người nông dân
Khảo sát nhu cầu bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ caocho nông dân là cách so sánh sự khác biệt giữa yêu cầu và thực tế thực hiệncông việc để xác định nhu cầu bồi dưỡng Sự khác biệt càng lớn thì nhu cầubồi dưỡng càng cao, càng cấp thiết trong việc thu hẹp và san bằng khoảngcách này Có nhiều hình thức xác định nhu cầu bồi dưỡng: tổ chức khảo sát,thông qua sinh hoạt tổ chuyên môn, căn cứ kết quả đánh giá của nhà trường,
tự đánh giá của mỗi cá nhân trước bối cảnh đổi mới.[13]
1.3.2 Tổ chức quá trình bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân
1.3.2.1 Xác định mục tiêu bồi dưỡng
Mục đích bồi dưỡng là một thành tố quan trọng, định hướng cho quátrình bồi dưỡng Nó quy định việc lựa chọn nội dung, chương trình,phương pháp và hình thức tổ chức bồi dưỡng, xác định các điều kiện đểthực hiện quá trình bồi dưỡng Đồng thời, nó là cơ sở để xác định chuẩnđánh giá chất lượng bồi dưỡng
Trang 39Mục tiêu tổng quát của bồi dưỡng trồng trọt ứng dụng công nghệ cao chonông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng giúp người nông dân cập nhậtkiến thức việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, nâng cao trình độ canh tác, nângcao hiệu quả kinh tế trong sản xuất, mà còn có sức lan tỏa lớn đối với việc sảnxuất nông nghiệp của địa phương [14]
1.3.2.2 Chương trình, nội dung bồi dưỡng
Chương trình, nội dung bồi dưỡng trồng trọt ứng dụng công nghệ caocho nông dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng là thành tố không thể thiếuđối với quá trình bồi dưỡng trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dânthành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Chương trình, nội dung bồi dưỡng phù hợpđược các cấp có thẩm quyền phê duyệt là một trong những yếu tố quan trọng,quyết định chất lượng bồi dưỡng Không có chương trình bồi dưỡng sẽ không
có căn cứ để xem xét, đánh giá bậc bồi dưỡng của các đối tượng tham gia vàcông tác bồi dưỡng sẽ diễn ra một cách tự phát không theo một tiêu chuẩnthống nhất Nội dung chương trình bồi dưỡng kiến thức trồng trọt ứng dụngcông nghệ cao cho nông dân là tổng thể những kiến thức, kỹ năng và thái độtương ứng với mục tiêu chương trình bồi dưỡng, trong đó chú trọng vàonhững kỹ năng, kỹ thuật mới, những thao tác nghiệp vụ về kiến thức trồngtrọt ứng dụng công nghệ cao phong phú, đa dạng, linh hoạt nhằm thay đổimạnh mẽ năng lực của nông dân đáp ứng yêu cầu nông nghiệp ứng dụng côngnghệ cao, cụ thể là sản xuất rau, hoa ứng dụng công nghệ cao theo hướng tăngnăng suất và chất lượng sản phẩm.[14]
Các quy trình kỹ thuật thực hiện theo Quyết định của Sở Nông nghiệp &(PTNT) Lâm Đồng về việc ban hành tạm thời quy trình canh tác một số loạicây trồng theo hướng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnhLâm Đồng, Cẩm nang Kỹ thuật trồng và chăm sóc một số cây trồng chính tại
Đà Lạt của Hội Nông dân thành phố Đà Lạt (2016); đồng thời cũng được sựủng hộ, góp ý của các chuyên gia đầu ngành về nông nghiệp
Trang 40Với thành phố Đà Lạt, chương trình, nội dung bồi dưỡng bồi dưỡng kiếnthức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao cho nông dân chính là kỹ thuật trồng vàchăm sóc một số loại cây trồng chính tại Đà Lạt:
Bao gồm:Kiến thức trồng và chăm sóc 11 loại hoa, 13 loại rau ứng dụng công nghệ caochủ yếu sau: Hoa cát tường, cẩm chướng, cúc, địa lan, đồng
tiền, hồng, hồng môn, lay-ơn, lily, loa kèn, salem; Rau bó xôi, cà rốt, bắp cải,cải thảo, dưa leo baby, đầu cô ve, đậu hòa lan, hành tây, khoai tây, măng tây,
ớt, súp lơ xanh, xà lách
Sản xuất các sản phẩm rau, hoa có chất lượng an toàn và hiệu quả cao ápdụng quy trình quản lý cây trồng tổng hợp (ICM), VietGAP, GlobalGap.Sản xuất rau, hoa trong nhà lưới, nhà kính
Sản xuất theo công nghệ thông tin điều khiển tự động, bán tự động trongnhà kính; công nghệ sinh học, ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô thực vậtInvitro, hệ thống tưới thông minh; công nghệ trồng cây trong dung dịch (thủycanh), khí canh và trên giá thể; công nghệ canh tác đảm bảo an toàn thựcphẩm, có chứng nhận,… và công nghệ bảo quản sản phẩm sau thu hoạch
Hệ thống kiến thức trồng trọt ứng dụng công nghệ cao bao gồm: giốngcây trồng (rau, hoa); phân bón, canh tác; công nghệ, thu hoạch, sơ chế, bảoquản, chế biến, thương mại và quản lý chất lượng sản phẩm
Quy trình trồng rau, hoa ứng dụng công nghệ cao
Kỹ thuật trồng và chăm sóc bao gồm:
- Các yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh: Nhiệt độ, ánh sánh, độ ẩm, yêucầu về đất, chất dinh dưỡng
- Các kỹ thuật về giống và tiêu chuẩn giống