1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp nhằm đa dạng hóa sinh kế nông hộ trên địa bàn xã pả vi, huyện mèo vạc, tỉnh hà giang

79 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Khái niệm về nông hộ: Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm tro

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Hướng đề tài: Nghiên cứu Chuyên ngành: Phát triển nông thôn Khoa: Kinh tế và PTNT Khóa học: 2015 - 2019

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

VỪ THỊ XÍA

Tên đề tài:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐA DẠNG HÓA SINH

KẾ NÔNG HỘ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ PẢ VI, HUYỆN MÈO VẠC,

TỈNH HÀ GIANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Phát triển nông thôn Lớp: K47 – PTNT - N01 Khoa: Kinh tế và PTNT Khóa học: 2015 - 2019

Giảng viên HD: TS Nguyễn Văn Tâm Cán bộ hướng dẫn: Nông Thị Tám

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện, mỗi sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường ngoài những kiến thức lý thuyết đã được học thì thực hành thực tập là khâu vô cùng quan trọng Việc trang bị kiến thức thực tế cho sinh viên là rất cần thiết, qua đó giúp sinh viên có điều kiện kiểm tra, kiểm nghiệm, áp dụng những kiến thức đó một cách có khoa học, linh hoạt vào thực tế sản xuất, giúp sinh viên có được thời gian nhất định để học hỏi, bổ sung hoàn chỉnh những kiến thức đã tiếp thu ở trường, giúp củng cố lại kiến thức đã học, sau này có thể áp dụng vào thực tiễn để trở thành người cán bộ

có năng lực tốt, trình độ chuyên môn cao đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của

xã hội Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành - lý luận gắn với thực tiễn”,

được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, dưới

sự hướng dẫn trực tiếp của TS Nguyễn Văn Tâm, tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp nhằm đa dạng hóa sinh kế nông hộ trên địa bàn xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang’’

Để hoàn thành đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cơ quan, cá nhân

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy TS Nguyễn Văn Tâm, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình đi thực tập

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Kinh tế & PTNT đã dạy dỗ tôi trong những năm tháng học tập tại trường

Tôi trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ UBND xã Pả

Vi và các hộ điều tra trên địa bàn xã đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và kiểm nghiệm những kết quả nghiên cứu

Em xin chân thành cảm ơn

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Vừ Thị Xía

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Cấu trúc phân loại hộ điều tra theo các xóm 24

Bảng 4.1 Thời tiết, khí hậu của xã Pả Vi năm 2015 – 2017 28

Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất của xã Pả Vi qua 3 năm 29

Bảng 4.3 Diện tích, năng suất và sản lượng các loại cây trồng chính tại xã Pả Vi qua 3 năm 2015, 2016, 2017 31

Bảng 4.4 Bảng thống kê vật nuôi của xã Pả Vi qua 3 năm 32

Bảng 4.5 Trung bình số nhân khẩu, số lao động chính và độ tuổi của các hộ điều tra phân theo xóm 36

Bảng 4.6 Trung bình số nhân khẩu, số lao động chính và độ tuổi của các hộ điều tra phân theo nhóm hộ 36

Bảng 4.7 Thông tin chung của hộ điều tra về giới tính của chủ hộ

phân theo nhóm hộ 37

Bảng 4.8 Phân loại nghề nghiệp của các chủ hộ 37

Bảng 4.9 Bình quân diện tích đất đai phân theo nhóm hộ 38

Bảng 4.10 Bình quân diện tích đất đai phân theo xóm 39

Bảng 4.11 Bình quân (%) thu nhập về nông nghiệp theo xóm và nhóm hộ 40

Bảng 4.12 Bình quân % thu nhập từ trồng trọt trong tổng thu nhập từ nông nghiệp theo xóm và nhóm hộ 41

Bảng 4.13 Bình quân % thu nhập từ cây trồng trong tổng thu nhập từ nông nghiệp theo xóm 42

Bảng 4.14 Bình quân % thu nhập từ cây trồng trong tông thu nhập từ nông nghiệp theo nhóm hộ 43

Bảng 4.15 Bình quân % thu nhập về chăn nuôi trong tổng thu nhập từ nông nghiệp phân theo xóm và nhóm hộ 44

Trang 5

Bảng 4.16 Bình quân % thu nhập về các loại vật nuôi chính trong tổng thu

nhập từ chăn nuôi theo nhóm hộ 45

Bảng 4.17 Bình quân % thu nhập về các loại vật nuôi chính trong tổng thu nhập từ chăn nuôi theo xóm 45

Bảng 4.18 Bình quân (%) thu nhập về phi nông nghiệp theo xóm và nhóm hộ 47

Bảng 4.19 Chiến lược sinh kế về yếu tố tự nhiên 50

Bảng 4.20 Chiến lược sinh kế về nhân tố con người 51

Bảng 4.21 Chiến lược sinh kế về xã hội, cộng đồng 52

Bảng 4.22 Chiến lược sinh kế về nguồn vốn 53

Bảng 4.23 Chiến lược sinh kế về cơ sở vật chất 54

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Khung phân tích sinh kế 7 Hình 2.2 Nguồn vốn sinh kế 8

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập 3

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở lí luận 4

2.1.1 Sinh kế, tiếp cận sinh kế và khung sinh kế 4

2.1.2 Thu nhập 12

2.1.3 Hộ và kinh tế hộ 14

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 16

2.2.1 Quá trình phát triển sinh kế nông hộ ở một số địa phương nước ta 18

2.2.2 Một số nghiên cứu về sinh kế 20

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22

Trang 9

3.2 Địa điểm, thời gian và nội dung nghiên cứu 22

3.2.1 Địa điểm 22

3.2.2 Thời gian 22

3.2.3 Nội dung nghiên cứu 22

3.3 Phương pháp nghiên cứu 23

3.3.1 Thu thập thông tin số liệu thứ cấp 23

3.3.2 Thu thập thông tin số liệu sơ cấp 23

3.4 Hệ thống các chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu 25

3.4.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của nông hộ 25

3.4.2 Chỉ tiêu phản ánh đặc điểm của chủ hộ 26

3.4.3 Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất 26

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

4.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 27

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 27

4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 30

4.1.2.1 Tình hình dân số và lao động 30

4.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình đa dạng hóa sinh kế nông hộ trên địa bàn xã Pả Vi 33

4.2 Các hoạt động sinh kế của nông hộ trên địa bàn xã Pả Vi 35

4.2.1 Thông tin về hộ và phân loại hộ điều tra 35

4.2.2 Diện tích đất canh tác, đất rừng của các hộ điều tra 38

4.2.3 Các hoạt động sinh kế và thu nhập của nông hộ 40

4.3 Giải pháp cải thiện sinh kế nâng cao đời sống người dân 49

4.3.1 Xây dựng chiến lược cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân 49

4.3.2 Giải pháp chung 55

4.3.3 Giải pháp cụ thể đối với từng nhóm hộ 59

Trang 10

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

5.1 Kết luận 61

5.2 Kiến nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC

Trang 11

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Sinh kế bền vững đang là một mối quan tâm đặt lên hàng đầu hiện nay của con người Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển, nâng cao đời sống của con người nhưng vẫn đáp ứng được đòi hỏi về chất lượng môi trường tự nhiên

Bên cạnh đó trong giai đoạn hiện nay khi điều kiện nguồn lực còn hạn chế, Nhà nước xóa bỏ cơ chế bao cấp, hoạt động sản xuất nông nghiệp ngày càng đa dạng, phát triển theo hướng hàng hóa Mà sự phát triển nhanh chóng, vượt bậc trong nền kinh tế hàng hóa đã tạo nên sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc trong xã hội, vấn đề sinh kế và thu nhập giữa các tầng lớp dân

cư, giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn ngày càng rõ rệt Với hơn 70% dân số ở các vùng nông thôn đây là nguồn lao động dồi dào nhưng lại chưa được sử dụng hợp lý Trên thực tế đã có nhiều chương trình, tổ chức dự án hỗ trợ cho cộng đồng để hướng đến mục tiêu phát triển ổn định và bền vững Thực tế cho thấy, việc lựa chọn những hoạt động sinh kế của người dân chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhiều yếu tố: điều kiện tự nhiên, xã hội, yếu tố con người, vật chất, cơ sở hạ tầng… Hiện nay đất đai phục vụ cho sản xuất, làm nhà ở cho người dân thì có hạn mà dân số thì ngày một tăng lên Cho nên việc lựa chọn hoạt động sinh kế và việc tăng thu nhập cho hộ gia đình đã khó lại càng khó hơn

Do đó việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp nhằm đa dạng hóa sinh kế cho người dân là yêu cầu cấp thiết và cần có sự quan tâm đúng mức của các cấp, các ngành, các đoàn thể giúp ta thấy được cuộc sống người dân như thế nào, thu nhập ra sao, đã hiệu quả và ổn định chưa

Pả Vi là một xã đặc biệt khó khăn của huyện Mèo Vạc Tuy nhiên trong

Trang 12

những năm gần đây các hoạt động sinh kế tạo thu nhập của người dân đã có những thay đổi lớn nhằm đáp ứng nhu cầu của chính hộ gia đình Bên cạnh đó tại địa bàn xã đã có rất nhiều các hoạt động hỗ trợ sinh kế đã và đang triển khai thực hiện tại đây, tuy nhiên cuộc sống người dân đã thay đổi như thế nào, người dân đã được hưởng lợi những gì khi tham gia vào công tác bảo tồn, tác động của các giải pháp sinh kế ra sao? Đó là những vấn đề mà chúng ta cần nghiên cứu để có những giải pháp mang tính bền vững cho người dân nơi đây giúp cho việc quản lý sử dụng tài nguyên một cách hợp lý và thông minh, giúp người dân có những định hướng đúng đắn trong sản xuất

Từ những yêu cầu trên, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài:“Thực trạng và giải pháp nhằm đa dạng hóa sinh kế nông hộ trên địa bàn xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu chung

Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng các hoạt động sinh kế

và cơ cấu thu nhập từ các hoạt động sinh kế của nông hộ trên địa bàn Pả Vi Trên cơ sở đó đề xuất được các giải pháp phát triển sinh kế tăng thu nhập cho nông hộ tại xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang

Trang 13

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập

- Nghiên cứu đề tài giúp cho sinh viên tổng hợp và củng cố những kiến thức đã được học

- Có được tư duy một cách lôgic và biết cách vận dụng những kiến thức

đã học vào thực tiễn, đồng thời học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong thực tế

và cũng là cơ hội gặp gỡ, học tập trao đổi kiến thức với những người có kinh nghiệm và người dân địa phương

- Quá trình thực hiện đề tài thực tập sẽ nâng cao năng lực cũng như rèn luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân mỗi sinh viên

- Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa, các

cơ quan trong ngành và sinh viên các khóa tiếp theo

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Đánh giá được đúng thực trạng các hoạt động sinh kế của người dân

tại xã để đề ra các giải pháp phù hợp phát triển

- Là căn cứ giúp cho các cấp chính quyền địa phương có những giải

pháp và định hướng cho việc lựa chọn nguồn sinh kế bền vững và tăng thu nhập ổn định cho người dân trên địa bàn nghiên cứu

Trang 14

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lí luận

2.1.1 Sinh kế, tiếp cận sinh kế và khung sinh kế

- Khái niệm sinh kế:

Theo một số tác giả, sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (gồm các nguồn lực vật chất và xã hội như: cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, nước mặt, đường xá,…) cùng các hoạt động cần thiết làm phương tiện để kiếm sống của con người Theo nghiên cứu của Scoones (1998)[12]

- Khái niệm về nông hộ:

Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao Theo nghiên cứu của Ellis (1988)[7]

Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người, được thể hiện qua hai lĩnh vực chính là nông nghiệp và phi nông nghiệp

Hoạt động nông nghiệp bao gồm: Trồng trọt (lúa, ngô, tam giác mạch, đậu tương, rau màu, …), chăn nuôi (bò, lợn, dê,…) và lâm nghiệp

Hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu bao gồm các dịch vụ, buôn bán và các ngành nghề khác

Như vậy, trong phạm vi báo cáo này, sinh kế của người dân nông thôn được hiểu là các hoạt động sản xuất nông nghiệp để nuôi sống cho chính gia đình họ

- Tiếp cận sinh kế:

Tiếp cận sinh kế là khái niệm tương đối mới mẻ Nó phản ánh bức tranh tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo phương thức truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn như nông nghiệp, lâm nghiệp…) Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng đồng cũng như những người hỗ trợ từ bên ngoài cơ hội thoát nghèo, thích nghi

Trang 15

với điều kiền tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơn cho chính họ

và cho các thế hệ tiếp theo[12]

- Khung sinh kế:

+ Sinh kế là sự kết hợp các hoạt động được thực hiện để sử dụng các nguồn lực để duy trì cuộc sống Các nguồn lực có thể bao gồm các khả năng và kỹ năng cá nhân (nguồn lực con người), đất đai, tiền tích luỹ và các thiết bị (nguồn lực tự nhiên, tài chính và vật chất) và các nhóm trợ giúp chính thức hay các hệ thống trợ giúp không chính thức tạo điều kiện cho

các hoạt động được diễn ra (nguồn lực xã hội)

+ Một sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, đường xá) và các hoạt động cần có để kiếm sống

+ Sinh kế của con người phụ thuộc vào khối lượng và chất lượng của những nguồn vốn mà họ có hoặc có thể tiếp cận Sự thành công của các chiến lược và hoạt động sinh kế tùy thuộc và mức độ hiểu biết mà con người có thể kết hợp cũng như quản lý những nguồn lực mà họ có Vì thế, bàn về sinh kế và sinh kế bền vững có rất nhiều ý kiến, cách tiếp cận khác nhau

+ Có ý kiến cho rằng sinh kế là phương tiện, cách thức để kiếm sống

Có ý kiến cho rằng sinh kế của một hộ gia đình hay của một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai, là cách thức kiếm sống Hoặc sinh kế là thu nhập ổn định có được nhờ áp dụng các phương thức, biện pháp khác nhau Và có ý kiến cho rằng sinh kế có thể được miêu tả như những quyết định, những hành động mà họ sẽ được thực hiện không những để kiếm sống mà còn để đạt được những ước vọng của họ

+ Ta có thể miêu tả một sinh kế như là sự kết hợp các hoạt động được thực hiện để sử dụng các nguồn lực để duy trì cuộc sống Các nguồn lực có thể bao gồm các khả năng và kỹ năng cá nhân (nguồn lực con người), đất đai, tiền tích luỹ và các thiết bị (nguồn lực tự nhiên, tài chính và vật chất) và các nhóm trợ giúp chính thức hay các hệ thống trợ giúp không chính thức tạo điều kiện cho các hoạt động được diễn ra (nguồn lực xã hội)

+ Theo DFID sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: nguồn lực và khả năng con người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế Có quan niệm cho

Trang 16

rằng sinh kế không đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi

ở Mà nó còn đề cập đến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kĩ năng,

các mối quan hệ,….(Wallmann, 1984) Sinh kế cũng được xem như là “sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ”(DFID) Về cơ bản các hoạt động sinh kế

là do mỗi cá nhân hay hộ gia đình tự quyết định dựa vào năng lực, khả năng của họ và đồng thời chịu tác động của các thể chế chính sách và các mối quan

hệ xã hội, mỗi cá nhân và hộ gia đình tự thiết lập trong cộng đồng [12]

- Khung sinh kế bền vững:

Khái niệm khung sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo Brundland (1987) tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển Một sinh kế được cho là bền vững khi con người có thể đối phó và khắc phục được những áp lực và cú sốc Đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện tại và trong tương lai mà không gây tổn hại đến

cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái

niệm phát triển vào những năm đầu 1990 Tác giả Chambers và Conway (1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như

dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào lợi ích tác động đến sinh kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ

những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai[2]

- Chiến lược sinh kế:

Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lí các nguồn vốn, tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để đạt được mục tiêu nguyện vọng của họ[12]

Trang 17

* Khung phân tích sinh kế bền vững theo DFID (2001)

Khung phân tích SKBV do Bộ Phát triển quốc tế Anh (DFIT) đưa ra được các học giả và các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi Ba thành tố chính của sinh kế theo DFIT là: (1) nguồn lực và khả năng mà con người có được, (2) Chiến lược sinh kế (thể hiện ra là các hoạt động sinh kế) và (3) kết quả sinh kế Các nhân tố của một sinh kế có mối quan hệ nhân quả và chiến lược sinh kế của con người chịu sự tác động bởi các yếu tố bên ngoài Điều này được thể hiện trong khung phân tích sinh kế dưới đây (DFID, 2001)[2]

tế, xã hội và môi trường

Những thay đổi trong thực trạng tài sản và chiến

Kết quả sinh kế

- Thu nhập tốt hơn

- Đời sống nâng cao

- Khả năng tổn thương giảm

CHIẾN LƯỢC SINH KẾ

Vốn xã hội

V ốn vật chất Vốn tài chính

Vốn tự nhiên Vốn con người

Thể chế, chính sách

Chính sách và pháp luật Các cấp chín quyền Dịch vụ Nhà nước, tư nhân

- Luật tục, tập quán

- Thể chế cộng đồng

Trang 18

* Khái niệm chiến lược sinh kế

Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn

và quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lí các nguồn vốn

và tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để đạt được mục tiêu nguyện vọng của họ[12]

* Khái niệm các nguồn vốn sinh kế

đó được hiểu như sau:

- Nguồn vốn con người:

Con người là cơ sở nguồn vốn này Vốn con người bao gồm các yếu tố như cơ cấu nhân khẩu của hộ gia đình, kiến thức và giáo dục của các thành viên trong gia đình (bao gồm trình độ học vấn, kiến thức truyền được hoặc được kế thừa trong gia đình ), những kỹ năng và năng khiếu của từng cá nhân, khả năng lãnh đạo, sức khỏe, tâm sinh lí của các thành viên trong gia đình, quỹ thời gian, hình thức phân công lao động Đây là một yếu tố được xem như là quan trọng nhất vì nó quyết định khả năng một cá nhân, một hộ gia đình sử dụng và quản lí các nguồn vốn khác[2]

Trang 19

- Nguồn vốn tự nhiên:

Vốn tự nhiên là những yếu tố được sử dụng trong các nguồn lực tự nhiên Nó cung cấp và phục vụ rất hữu ích cho phương pháp kiếm sống của con người Có rất nhiều nguồn lực hình thành nên vốn tự nhiên Từ các hàng hóa công vô hình như không khí, tính đa dạng sinh học đến các tài sản có thể phân chia được sử dụng trực tiếp trong sản xuất như: Đất đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi,…[2]

- Nguồn vốn tài chính:

Tài chính là yếu tố, là nguồn lực quan trọng đối với bất kỳ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào Các hoạt động sinh kế của người dân nông thôn cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng của các nhân tố vốn sản xuất (tài chính) Trước đây vốn của các hộ sản xuất thường là vốn tự có của từng gia đình hoặc vay mượn của bà con họ hàng, láng giềng nên quy mô sản xuất không được

mở rộng Ngày nay, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, nhu cầu về vốn đã khác trước, đòi hỏi các hộ sản xuất phải có lượng vốn nhiều hơn để đầu tư, cải tiến công nghệ, đưa thiết bị máy móc tiên tiến vào một số khâu, công đoạn, công việc này có thể thay thế kỹ thuật lao động thủ công được, nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân[2]

- Nguồn vốn vật chất

Nguồn vốn vật chất được phân chia làm 2 loại: Tài sản của cộng đồng

và tài sản của hộ Tài sản của cộng đồng trong nghiên cứu này xem xét các cơ

sở vật chất cơ bản phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt như: điện, đường, giao thông, trường học, trạm y tế, công trình thủy lợi, thông tin liên lạc Tài sản của hộ trong nghiên cứu này khá phong phú bao gồm cả các tài sản phục

vụ sản xuất và các tài sản phục sinh hoạt của hộ[2]

Trang 20

- Nguồn vốn xã hội

Bao gồm các mạng lưới xã hội, các mối quan hệ với họ hàng, người xung quanh, bao gồm ngôn ngữ, các giá trị về niềm tin tín ngưỡng, văn hóa, các tổ chức xã hội, các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để có được những lợi ích và cơ hội khác nhau,… Việc con người tham gia vào xã hội và sử dụng nguồn vốn này như thế nào cũng tác động không nhỏ đến quá trình tạo dựng sinh kế của họ Vốn xã hội được duy trì, phát triển và tạo ra những lợi ích mà người sở hữu nó mong muốn như khả năng tiếp cận và huy động nguồn lực có từ các mối quan hệ, chia sẻ thông tin, kiến thức hay các giá trị chuẩn mực Vốn xã hội của mỗi cá nhân được tích lũy trong quá trình xã hội hóa của họ thông qua sự tương tác giữa các cá nhân[2]

* Quan điểm lý thuyết cấu trúc chức năng

Cơ cấu chức năng được các nhà xã hội học như A.Comte và H.Spencer, E.Durkheim khởi xướng, sau được các nhà xã hội học hiện đại phát triển thành một trong những chủ thuyết của xã hội học hiện đại Chủ thuyết chức năng hay còn gọi là cấu trúc chức năng được nhắc đến với tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể Trong hệ thống đó mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần làm nên sự tồn tại với 2 mặt tĩnh

và động, tồn tại trong sự vận động biến đổi nhưng lại là một thực thể thống nhất trong đa dạng H.Spencer đưa thuyết sinh vật học vào để giải thích sự tồn tại của xã hội và cho rằng xã hội tồn tại như một cơ thể sống, nó có đầy đủ các bộ phận và thực hiện các chức năng khác nhau trong một cơ thể thống nhất, tiến hóa từ đơn giản đến phức tạp

Lý thuyết này sẽ được vận dụng để giải thích các mối quan hệ kinh tế -

xã hội trong đời sống của người dân 04 xóm Từ đó đưa ra giải thích hợp lí cho lựa chọn hợp lí các hoạt động sinh kế của họ Việc vận dụng lý thuyết sẽ được đưa vào trong từng phần của bài nghiên cứu Thôn, xóm được xem như

Trang 21

là một chỉnh thể xã hội thống nhất trong hệ thống quản lí chức năng đoàn thể Xóm nằm trong sự kiểm soát và quản lí của một hệ thống xã hội lớn hơn là UBND xã Pả Vi Xét về phạm vi tổ chức, cư dân trong xóm được quản lý trực tiếp bởi ban điều hành như trưởng xóm, phó xóm, đội trưởng đơn vị, ban công

an, ban mặt trận, ban dân sự,… Là một chỉnh thể thống nhất, các hộ gia đình trong xóm đều tồn tại với vai trò và chức năng riêng song đều nằm trong mỗi liên kết chặt chẽ với những mối quan hệ hàng xóm láng giềng thân thích và môi trường sống xung quanh

* Quan điểm lý thuyết lựa chọn hợp lý

Lý thuyết lựa chọn hợp lý có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học, nhân học thế kỷ XVIII - XIX đại diện là các nhà xã hội học như: G.Simmel, Hormans, J.Elster Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào việc cho rằng con người luôn hành động có chủ đích với những hành động xã hội Khi làm việc gì, người ta cũng suy nghĩ để lựa chọn phương án nhằm sử dụng các nguồn lực có được để đạt được kết quả tối đa với chi phi thấp nhất Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh sự cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng phương tiện tối ưu nào

mà đạt được kết quả cao trong một điều kiện nguồn lực khan hiếm Bắt nguồn từ việc vận dụng quy luật này để giải thích các hiện tượng kinh tế, các nhà xã hội học áp dụng vào nhằm giải thích các hành động xã hội Vận dụng lý thuyết này vào trong đề tài nghiên cứu để giải thích cho việc tại sao người dân ở địa bàn nghiên cứu lại lựa chọn phương thức sinh kế hiện tại mà không phải lựa chọn phương thức sinh kế khác, với lựa chọn phương thức đó liệu họ có đạt được hiệu quả tối đa trong cuộc sống hay không Ngoài ra quan điểm về lựa chọn hợp lý sẽ được lồng ghép phân tích và vận dụng trong việc đưa ra các giải pháp cho một chiến lược sinh kế bền vững

Trang 22

2.1.2 Thu nhập

2.1.2.1 Khái niệm về thu nhập

Thu nhập là khoản tiền thu từ việc sở hữu và cung ứng các nhân tố sản xuất trong 1 thời kỳ nhất định

Cơ cấu thu nhập bao gồm: Thu nhập từ kết quả lao động (tiền công, tiền lương: bao gồm lương hưu, các khoản trợ cấp và bao gồm cả học bổng) và thu nhập tài chính (lãi do gửi tiết kiệm, lãi do mua bán đầu tư chứng khoán, thu từ các khoản cho thuê bất động sản) và các thu nhập khác

Thu nhập từ lao động là tổng các khoản thu mà người lao động nhận được do đã bỏ ra sức lao động của họ trong quá trình tham gia sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế

Thu nhập từ lao động của người lao động bao gồm:

Tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp, thu nhập khác có tính chất như lương: gồm tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp thường xuyên mang tính chất cố định và tiền thưởng trong lương; các khoản phụ cấp và thu nhập khác của người lao động được tính vào chi phí sản xuất, vào giá thành của sản phẩm như: phụ cấp ca 3, phụ cấp đắt đỏ, phụ cấp đi lại, phụ cấp tiền điện thoại cố định, phụ cấp xăng xe, tiền công tác phí, ăn giữa ca (trường hợp thuê dịch vụ ăn uống bên ngoài không tính vào yếu tố này), trợ cấp thuê nhà

….và các khoản phụ cấp thường xuyên khác cho người lao động, bao gồm các hình thức trả bằng tiền, bằng hiện vật như: thực phẩm, đồ uống, nhiên liệu, quần áo (trừ quần áo bảo hộ lao động)

Các khoản thu nhập khác không tính vào chi phí sản xuất kinh doanh:

Là các khoản chi phí trực tiếp cho người lao động nhưng không hạch toán vào chi phí sản xuất mà nguồn chi lấy từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, lợi nhuận của chủ doanh nghiệp hoặc từ các nguồn khác (quà tặng, thưởng của cấp trên…)

Trang 23

2.1.2.2 Phân loại thu nhập

Phân loại theo hình thức thu nhập có:

- Thu nhập trực tiếp: Là thu nhập của lao động trực tiếp tạo ra sản phẩm

- Thu nhập gián tiếp từ phân phối lại : Là thu nhập của những lao động làm công việc tiêu thụ sản phẩm như những người đi buôn…những người này không trực tiếp tạo ra sản phẩm

Phân loại theo mức thu nhập thì có :

- Thu nhập cao

- Thu nhập trung bình

- Thu nhập thấp

2.1.2.3 Tầm quan trọng của thu nhập

Trong thực tế cuộc sống thu nhập là một yếu tố rất quan trọng, nó biểu hiện ở số tiền, hay các sản phẩm do quá trình lao động mà chúng ta tạo ra và

nó có giá trị cho cuộc sống Để duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống, con người cần phải có thu nhập và chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng trong đời sống hàng ngày thu nhập quan trọng như thế nào Với mỗi người, với các mức thu nhập khác nhau thì có thể nói rằng chất lượng cuộc sống mà họ được hưởng cũng khác nhau, với những mức thu nhập cao thì sẽ có được cuộc sống với chất lượng của các dịch vụ và sự sinh hoạt hàng ngày tốt hơn chẳng hạn như: Bữa ăn hàng ngày sẽ đủ chất dinh dưỡng hơn, các đồ dùng sinh hoạt cũng tốt hơn, con cái được học tập trong những ngôi trường chất lượng tốt hơn, nói tóm lại sẽ có được những thứ gần với sự mong muốn hơn, ngược lại những người có thu nhập thấp, những người nghèo thậm chí là đói thì với thu nhập thấp đó họ có thể ăn không đủ no, mặc không đủ ấm chứ nói gì đến việc

sử dụng các dịch vụ mà cần đến tiền mới có được

Trang 24

Mặt khác, mức sống của người dân bắt nguồn từ thu nhập Thu nhập là một trong những chỉ tiêu quan trọng đánh giá mức sống của một gia đình nông thôn

Tăng thu nhập là yếu tố quan trọng hàng đầu để cải thiện và nâng cao mức sống, là cơ sở để tăng tích lũy và tăng đầu tư cho quá trình sản xuất tiếp theo Tăng thu nhập cho mỗi người dân đồng nghĩa với việc thu nhập bình quân đầu người mỗi khu vực tăng lên và từ đó thu nhập bình quân quốc gia tăng lên, điều đó thể hiện sự tăng trưởng của mỗi vùng, mỗi quốc gia

2.1.3 Hộ và kinh tế hộ

- Một số khái niệm về hộ:

Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về hộ gia đình Hộ là một tổ chức kinh tế - xã hội ra đời từ rất lâu, trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước Trong bất kỳ giai đoạn nào hộ luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới theo đó cũng có những khái niệm khác nhau

Liên hợp quốc cho rằng: “Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ”

Tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”[6]

Tại cuộc thảo luận Quốc tế lần thứ tư về quản lý nông trại tại Hà Lan

năm 1980, các đại biểu nhất trí rằng: “Hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác”

Theo Raul Ituna, một nhà nghiên cứu của trường Đại học Tổng hợp Lisbon, khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số

Trang 25

nước Châu Á đã chứng minh: “Hộ là tập hợp những người có chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân của họ và cộng đồng”

Theo Dương Văn Sơn và Nguyễn Trường Kháng (2010): “Hộ gia đình

là khái niệm chỉ một hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm nền tảng Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có chất hành chính

và địa lý Còn gia đình là một nhóm người, một cộng đồng người mà các thành viên gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, vừa nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng tư của các cá nhân, vừa thoả mãn nhu cầu xã hội về tái sản xuất dân cư theo cả nghĩa thể xác lẫn tinh thần Gia đình là một hệ thống phức tạp các vị trí và vai trò xã hội mà các thành viên chiếm giữ và thực hiện, là những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa - xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục, giữa các thành viên”[7],[8]

- Hộ nông dân:

Theo Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá

và các hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”[10]

Theo Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”[11]

Tác giả Frank Ellis định nghĩa: “Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường

và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”[6]

Trang 26

Theo Nguyễn Sinh Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2011

cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật…) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp”[4]

- Kinh tế hộ nông dân:

Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình,

sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”[6]

Tác giả T.G.Mc Gee (1989), Giám đốc Viện nghiên cứu Châu Á thuộc

trường Đại học Tổng hợp Britiah Columbia, cho rằng: “Ở các nước Châu Á hầu hết người ta quan niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc, hay không cùng chung huyết tộc ở chung một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung một ngân quỹ”

“Kinh tế hộ nông dân là một hình thức kinh tế cơ bản và tự chủ trong nông - lâm - nghiệp được hình thành và tồn tại trên cơ sở sử dụng đất đai, sức lao động, tiền vốn,… của gia đình mình là chính”[9]

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Nghiên cứu về ảnh hưởng này được thực hiện ở xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang Nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông thôn Đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu tìm kiếm phương thức sinh kế của người dân, phân tích các nguồn vốn về con người và nguồn vốn tự nhiên, các khả năng sử dụng nguồn đất sẵn có và những nguồn tài nguyên khác như: Tài nguyên nước, tài nguyên rừng…tác động đến hoạt động sinh kế của người dân Ngoài ra, đề tài cũng vẽ nên một bức tranh về cuộc sống của người dân

Trang 27

qua các chỉ báo về thu nhập, cơ cấu chỉ tiêu, tình hình giáo dục y tế, tình hình kinh tế- xã hội của địa phương

Thực tiễn cho thấy, quá trình xây dựng và phát triển sinh kế nông hộ của các nước đã có nhiều kinh nghiệm để chúng ta học tập

* Thái Lan: Là một nước trong khu vực Đông Nam Á của châu Á,

chính phủ Thái Lan đã thực hiện nhiều chính sách để đưa đất nước từ lạc hậu trở thành nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến Một số chính sách có liên quan đến việc phát triển sinh kế vùng núi ban hành (Từ 1950 đến năm 1980)

- Thứ nhất: Xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng ở nông thôn Mạng lưới đường bộ bổ sung cho mạng lưới đường sắt, phá thế cô lập các vùng ở xa (Bắc, Đông bắc, Nam…), đầu tư xây dựng đập nước ở các vùng

- Thứ hai: Chính sách mở rộng diện tích canh tác và đa dạng hóa sản phẩm như cao su ở vùng đồi phía Nam, ngô, mía, bông, sắn, cây lấy sợi ở vùng núi phía Đông Bắc

- Thứ ba: Đẩy mạnh công nghiệp hóa công nghiệp hóa chế biến nông sản để xuất khẩu như: Ngô, sắn,… sang các thị trường Châu Âu và Nhật Bản

- Thứ tư: Thực hiện chính sách đầu tư nước ngoài và chính sách thay thế nhập khẩu trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ Nhà nước cũng thực hiện chính sách trợ giúp tài chính cho nông dân như: cho nông dân vay tiền với lãi suất thấp, ứng trước tiền cho nông dân và cam kết mua sản phẩm với giá trị định trước,… cùng với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng núi Thái Lan phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Hàng năm có khoảng 95% sản lượng cao su, hơn 4 triệu tấn dầu cọ do nông dân sản xuất ra Song trong quá trình thực hiện có bộc lộ một số vấn đề còn tồn tại: Đó là việc mất cân bằng sinh thái, là hậu quả của một nền nông nghiệp làm nghèo kiệt đất đai Kinh tế vẫn mất cân đối giữa các vùng, xu hướng nông dân rời bỏ nông thôn ra thành thị lâu dài hoặc rời bỏ nông thôn theo thời vụ ngày càng gia tăng[13]

Trang 28

* Trung Quốc: Trong những năm qua phát triển rất mạnh trong lĩnh

vực đầu tư cho nông nghiệp nông thôn Một trong những thành tựu của Trung Quốc trong cải cách mở cửa là phát triển nông nghiệp hương trấn, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó tăng trưởng với tốc độ cao Nguyên nhân của thành tựu đó có nhiều, trong đó điều chỉnh chính sách đầu tư rất quan trọng, tăng vốn đầu tư trực tiếp cho nông nghiệp để tạo ra tiền đề vật chất cho sự tăng trưởng trước hết là đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, mở rộng sản xuất lương thực, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên cứu ứng dụng cây trồng, vật nuôi, vào sản xuất nhất là lúa, ngô, bông[13]

* Malaysia: Mục tiêu của Malaysia là xây dựng một nền nông nghiệp

hiện đại, sản xuất hàng hóa có giá trị cao Vì thế chính sách nông nghiệp của Malaysia tập trung chủ yếu vào khuyến nông và tín dụng Bên cạnh đó chính phủ nước này cũng chú trọng tìm kiếm thị trường xuất khẩu nông sản Nhờ đó một vài năm gần đây kinh tế nông hộ của người dân nước này có thu nhập cao

và ổn định hơn[13]

2.2.1 Quá trình phát triển sinh kế nông hộ ở một số địa phương nước ta

* Trong thời kỳ Pháp thuộc: Ở thời kỳ này đại bộ phận nông dân đi làm

thuê cho địa chủ, một bộ phận rất ít nông dân sản xuất hàng hóa nhỏ theo kiểu

cổ truyền với kinh nghiệm và kỹ thuật thô sơ Trong thời kỳ này Chính phủ đưa ra chính sách giảm tô cho nông dân, vận động gia tăng sản xuất thực hiện tiết kiệm nhờ vậy mà sản lượng quy thóc năm 1954 đạt 3 triệu tấn tăng 13,70% so với năm 1946

* Từ năm 1955 đến năm 1959: Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng,

Đảng và Chính phủ ta đã thực hiện chính sách cải cách với mục đích ‘‘Người cày có ruộng’’ Năm 1957 cải cách ruộng đất cơ bản được hoàn thành cải cách ruộng đất đã chia 81 vạn hecta ruộng, 74 nghìn con trâu bò cho 2,1 triệu

hộ nông dân Kết quả là nông dân có đất canh tác, trâu bò để sản xuất đời

Trang 29

sống kinh tế có phần cải thiện

* Từ 1960 đến 1980: Đây là giai đoạn chúng ta tiến hành cải cách

ruộng đất, thực hiện tập thể hóa một cách ồ ạt, xong đây cũng là tập thể thể hiện rõ tính yếu kém của mình, thời kì này kinh tế nông hộ không được coi trọng Đây là thời kỳ xuống dốc của nền kinh tế nước ta

* Từ 1981 đến 1987: Chỉ thị 100CT/TW được ban bí thư trung ương

Đảng ban hành, quyết định chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, đây là việc làm có ý nghĩa trong việc thực hiện quyền tự chủ trong sản xuất hộ nông dân đời sống của nhân dân phần nào được cải thiện, nhờ vậy mà sản lượng lương thực tăng lên liên tiếp (mỗi năm tăng gần 1 triệu tấn Năm 1985 đạt 15,875 triệu tấn)

* Từ 1988 đến 2003: Ngày 5/5/1988 Bộ Chính Trị và Ban chấp hành

Trung ương Đảng đã ban hành nghị quyết 10 về ‘‘Đổi mới quản lý kinh tế bản trong nông nghiệp và nông thôn’’ Thừa nhận kinh tế hộ là đơn vị kinh tế cơ bản trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn đổi mới Hộ gia đình được giao quyền sử dụng đất lâu dài, hộ trở thành đơn vị kinh tế độc lập Hàng loạt những chính sách đổi mới đó đã tạo được động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Kết quả là sản lượng lương thực từ chỗ dưới 18 triệu tấn năm 1984 - 1987 đã đạt 21,5 triệu tấn vào năm 1989 bình quân giai đoạn 1986 - 1990 sản lượng lương thực tăng 13,50% năm Từ một nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu lương thực, năm 1989 xuất khẩu được 1,4 triệu tấn gạo, năm 1990 được 1,6 triệu tấn gạo, Đến năm 2003 Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan

* Từ 2010 đến nay: Đã cho thấy kinh tế hộ có nguồn thu nhập rất đa

dạng, bao gồm cả sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp Việc tập chung phát triển kinh tế hộ mang lại nhiều lợi ích do hộ là đơn vị kinh tế nhỏ, năng động, có khả năng ứng phó nhanh với những cú sốc thị trường, trợ giúp kinh

Trang 30

tế hộ cũng dễ đảm bảo tính công bằng hơn Ngoài ra, đối với cấp hộ cũng dễ

áp dụng nông nghiệp xanh, hạn chế việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu trên diện rộng

2.2.2 Một số nghiên cứu về sinh kế

- Sinh kế của các hộ dân tái định cư ở vùng bán ngập huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

Đề tài nghiên cứu và đánh giá thực trạng, sinh kế của các hộ dân tái định

cư vùng bán ngập của công trình thủy điện Sơn La Trên cơ sở đánh giá phân tích, đề xuất một số giải pháp tạo sinh kế nhằm ổn định sản xuất và đời sống của các hộ dân di chuyển đến nơi ở mới[3]

- Nghiên cứu đặc điểm văn hóa kiến thức bản địa và chiến lược sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại Đakrong - Quảng Trị (Đại học Nông Lâm Huế)

Đề tài này nghiên cứu về kiến thức bản địa và mối liên hệ của nó với chiến lược sinh kế của vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đề tài cũng đưa ra những điểm được và chưa được trong việc vận dụng kiến thức bản địa vào các hoạt động sinh kế, đề cập đến việc xây dựng một chiến lược sinh kế bền vững

để người dân tự xây dựng và phát triển chiến lược sinh kế cho bản thân và gia đình vừa đảm bảo điều kiện sống hiện tại vừa bảo đảm cho sự phát triển vững chắc cho tương lai[3]

- Nghiên cứu phát triển nông thôn bền vững tại xã Phong Mỹ, miền Trung Việt Nam của trường Đại học Khoa học & đời sống Praha - Czech

Nghiên cứu này được thực hiện tại xã Phong Mỹ huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế, đề tài này nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông thôn, bảo tồn đa dạng sinh học Đặc biệt đi sâu tìm hiểu phương thức sinh

kế của người dân, phân tích các nguồn vốn về con người và nguồn vốn tự nhiên, các khả năng sử dụng nguồn đất sẵn có và nguồn tài nguyên khác: nước, rừng,… tác động đến hoạt động sinh kế của người dân Ngoài ra, đề tài cũng vẽ lên một

Trang 31

bức tranh về cuộc sống của người dân qua các chỉ tiêu về thu nhập, cơ cấu chi tiêu, tình hình giáo dục - y tế, tình hình kinh tế - xã hội tại địa phương[3]

- Đánh giá hoạt động sinh kế của người dân miền núi thôn 1 - 5, Cẩm Sơn, Anh Sơn, Nghệ An (Đại học Nông Lâm Huế)

Đề tài này phân tích các hoạt động sinh kế của người dân miền núi Qua đó xem xét và rút ra những phương thức, tập quán trong lao động sản xuất của người dân nhằm tìm ra một số giải pháp khả thi cho chiến lược sinh

kế bền vững phù hợp với điều kiện của cư dân địa phương

Nhận xét về các công trình nghiên cứu về sinh kế trên đây: Đây là

những công trình nghiên cứu mới tại Việt Nam, góp phần nâng cao năng lực, thay đổi nhận thức của người dân trong vấn đề phát triển kinh tế hộ gia đình Trên cơ sở đó giúp người dân thay đổi được nhận thức, tư duy, phương thức, tập quán sản xuất Tất cả các nghiên cứu trên đây đều đi từ việc phân tích hiện trạng sinh kế để từ đó đề xuất các can thiệp và giải pháp nhằm phát triển sinh

kế bền vững, cải thiện và nâng cao giá trị sản xuất tại địa phương, giúp người dân ổn định cuộc sống[3]

Trang 32

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hoạt động sinh kế của nông hộ tại xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Các hoạt động sinh kế tạo thu nhập cho hộ bao gồm cả hoạt động nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp) và hoạt động phi nông nghiệp

- Không gian: Nghiên cứu tại 4 xóm: Pả Vi Hạ, Pả Vi Thượng, Kho Tấu, Há Súng thuộc xã Xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang

3.2 Địa điểm, thời gian và nội dung nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm

Xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang

3.2.2 Thời gian

Thời gian: từ ngày 13/8/2018 – 23/12/2018

3.2.3 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương có liên

quan đến hoạt động sinh kế của nông hộ

- Phân tích các hoạt động sinh kế, thu nhập của nông hộ trên địa bàn xã

- Đề xuất ra một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn của nông hộ, nhằm giúp nông hộ nâng cao và ổn định nguồn thu nhập cho nông

hộ ở xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang

Trang 33

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Thu thập thông tin số liệu thứ cấp

Đây là phương pháp được sử dụng để thu thập các thông tin số liệu đã

có sẵn từ tất cả các nguồn có thể tiếp cận được Đó là các số liệu, tài liệu được thu thập từ UBND xã Pả Vi, từ thư viện của Khoa Kinh tế và PTNT (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên), từ các trang mạng khai thác trên Internet thông qua công cụ tìm kiếm Google,…

Đây là những nguồn tài liệu có giá trị để xây dựng tổng quan, cũng như những thông tin cơ bản liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sản xuất nông nghiệp của địa phương

3.3.2 Thu thập thông tin số liệu sơ cấp

3.3.2.1 Phương pháp chọn mẫu

Qua tham khảo những thông tin từ cán bộ xã, cán bộ trong xóm và người dân, thấy rằng các hộ nông dân tại các xóm trong xã Pả Vi tương đối đồng nhất Vì vậy đề tài được thực hiện tại 4/6 xóm (Pả Vi Hạ, Pả Vi Thượng, Kho Tấu, Há Súng) tại xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang Với tổng số

hộ điều tra là 85 hộ.Vì vậy việc lựa chọn các hộ điều tra tại các xóm được

thực hiện một cách ngẫu nhiên Công thức tính mẫu Slovin (1960):

(1 + N 𝑒2) n: kích cỡ mẫu

N: Tổng số hộ

e: (10%)

- Bộ câu hỏi phỏng vấn nông hộ được thiết kế trước, sau khi điều tra thử tại thực địa đã được chỉnh sửa và bổ sung hoàn thiện Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình là các câu hỏi đóng, kết hợp với một số câu hỏi mở nhằm làm

Trang 34

rõ thêm hoặc chuyển tiếp chủ đề trong thu thập cơ sở dữ liệu sơ cấp Bảng câu hỏi được trình bày trong phụ lục

Số liệu được thu thập tại bốn xóm xác định Pả Vi Hạ, Pả Vi Thượng, Kho Tấu, Há Súng Tổng số có 85 phiếu điều tra trong 04 xóm trên Nghiên cứu chọn mẫu dựa trên phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có điều kiện

Bảng 3.1 Cấu trúc phân loại hộ điều tra theo các xóm

Tỷ lệ (%) Số hộ

Tỷ lệ (%)

Trong tổng số 85 hộ điều tra lựa chọn 28 hộ nghèo, 22 hộ cận nghèo, 35

hộ trung bình

Trong đó có xóm Pả Vi Hạ và Pả Vi Thượng có số dân nhiều nên được chọn nhiều hộ điều tra nhất chiếm 29,4% số phiếu điều tra Sau đó đến xóm Kho Tấu chiếm 21,2%, xóm Há Súng chiếm 20% số phiếu điều tra

Mục tiêu của hoạt động điều tra thực địa nhằm thu thập đầy đủ, toàn diện

và chính xác các thông tin về đời sống sinh hoạt, các hoạt động sản xuất - kinh doanh, tư tưởng, ý thức của người dân

Ngoài ra, để hoàn thành đề tài này, tôi còn sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp để ghi nhận những hành vi của bà con nông dân và lý giải những kết quả đánh giá liên quan

Trang 35

3.3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin

* Phương pháp điều tra bảng hỏi

Đây là phương pháp chủ yếu để thu thập số liệu liên quan đến đề tài Một bảng hỏi (xem phụ lục) được hình thành, gồm nhiều bộ phận khác nhau,

từ những thông tin cơ bản của chủ hộ, an ninh lương thực, sinh kế và thu nhập nông hộ, những liên quan đến tác động can thiệp trong sản xuất nông nghiệp,

những tác động liên quan đến chăn nuôi bò, lợn, dê…

Trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ tập trung phân tích và đánh giá các hoạt động sinh kế, thu nhập và thời gian giành cho các hoạt động sinh kế (nông nghiệp và phi nông nghiệp) của cộng đồng địa phương Đây là cơ sở

để có các tác động của can thiệp liên quan nhằm cải thiện sinh kế của cộng đồng địa phương

* Phương pháp quan sát trực tiếp

Để ghi nhận con số, sự kiện và những hành vi của bà con nông dân và lí

giải những kết quả đánh giá liên quan đến đề tài Phương pháp này được sử

dụng để quan sát, ghi chép các hiện tượng, sự kiện thực tế tại hiện trường, đồng thời để có thể giải thích một số vấn đề liên quan có được khi sử dụng các phương pháp khác

* Phương pháp phân tích số liệu

- Các thông tin số liệu thứ cấp được tổng hợp, phân tích và sử dụng theo các phương pháp phân tích tài liệu thông dụng

+ Phương pháp định tính

+ Phương pháp định lượng

- Số liệu điều tra bảng hỏi được nhập vào máy tính trên Excel

3.4 Hệ thống các chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu

3.4.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của nông hộ

- Diện tích đất nông nghiệp bình quân/hộ

Trang 36

- Số nhân khẩu bình quân/hộ

- Số lao động bình quân/hộ

- Trình độ văn hóa của chủ hộ hay của lao động chính

3.4.2 Chỉ tiêu phản ánh đặc điểm của chủ hộ

- Tuổi đời, nghề nghiệp

- Trình độ văn hóa

3.4.3 Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất

- Giá trị sản xuất (GO: Gross Output): Là giá trị bằng tiền của các sản phẩm sản xuất ra ở hộ bao gồm phần giá trị để lại để tiêu dùng và giá trị bán

ra thị trường sau một chu kỳ sản xuất thường là một năm Được tính bằng sản lượng của từng loại sản phẩm nhân với đơn giá sản phẩm được xác định chi tiết theo các chỉ tiêu giá trị sản xuất trên 1ha canh tác; GTSX trên 1 ngày công lao động; GTSX trên 1 đồng chi phí Công thức tính GO như sau:

Trong đó: GO là giá trị sản xuất

Q i là khối lượng sản phẩm loại i

P i Giá cả sản phẩm i

- Số lao động bình quân/hộ = Tổng số lao động/ tổng số hộ

Trang 37

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Pả Vi là một xã thuộc huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, Việt Nam Xã Pả Vi

có tuyến tỉnh lộ nối giữa thị trấn Mèo Vạc và quốc lộ 4C, cách huyện Mèo Vạc 3km

- Phía Bắc giáp xã Pải Lủng, xã Xín Cái, huyện Mèo Vạc

- Phía Nam giáp thị trấn Mèo Vạc, xã Tả Lủng, huyện Mèo Vạc

- Phía Tây giáp xã Sủng Trà, huyện Mèo vạc và xã Tả Lủng, huyện Đồng Văn

- Phía Đông giáp xã Giàng Chu Phìn, huyện Mèo Vạc

sở hạ tầng và khu dân cư

4.1.1.3 Điều kiện khí hậu

Xã Pả Vi, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang là vùng khí hậu nhiệt đới gió

mùa, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, khí hậu ẩm và mưa nhiều; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3, gió mùa Đông Bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô Đặc trưng khí nhiệt đới nóng ẩm thể hiện rõ qua các chỉ số:

+ Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 22 - 23°C

+ Mưa: Tổng lượng mưa bình quân trong năm là 2.400 – 2.700mm (chiếm 85% lượng mưa cả năm)

Trang 38

+ Nắng: Số giờ nắng trong năm là 1.600 – 1.700 giờ

+ Độ ẩm: Trung bình năm đạt khoảng 82%

+ Gió: Hướng gió thịnh hành chủ yếu là gió mùa Đông Nam gió mùa Đông

Bắc, nên xã ít chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió

Bảng 4.1 Thời tiết, khí hậu của xã Pả Vi năm 2015 – 2017

Tháng

Nhiệt độ TB ( o C)

Lượng mưa TB ( mm )

Ẩm độ không khí ( % )

Số giờ nắng ( h )

Do ảnh hưởng của vị trí địa lý, đặc biệt là các dãy núi bao bọc xã Pả Vi,

huyện Mèo Vạc có lượng mưa lớn, trung bình lượng mưa hàng năm từ 1800mm –

2000mm rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông - lâm - nghiệp của xã Pả Vi,

huyện Mèo Vạc

4.1.1.5 Tài nguyên đất

Trên địa bàn huyện đất được hình thành bởi 8 nhóm, trong đó có 4 nhóm đất chính là:

- Đất xám mùn trên núi có: 16,400 ha chiếm tỷ lệ 28,37%

- Đất Feralit phát triển trên đá biến chất: 15,107 ha chiếm 26,14%

- Đất Feralit phát triển trên phù sa cổ: 1,3036 ha chiếm 22,55%

- Đất phù sa Gley phát triển trên phù sa cổ: 13,247 ha chiếm 22,94%

Trang 39

Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất của xã Pả Vi qua 3 năm

Diện Tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện Tích (ha)

Cơ cấu (%)

Diện Tích (ha)

Cơ cấu (%)

4.1.1.6 Tài nguyên nước

- Nguồn nước mặt: Trên địa bàn xã Pả Vi có nguồn nước kham hiếm, nên chỉ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của người dân

- Nguồn nước ngầm: Năm 2010, tại thôn Pả Vi Thượng đã phát hiện ra

mỏ nước ngầm ở độ sâu 170m dưới lòng đất, trữ lượng rất lớn, chất lượng nước tốt với tổng lưu lượng đạt 414m³/ngày đêm Mỏ nước ngầm cung cấp nước sạch đủ dùng cho người dân ở xã Pả Vi

4.1.1.7 Tài nguyên rừng

Theo số liệu kiểm kê diện tích đất lâm nghiệp của xã có 1.187 ha, trong

đó rừng sản xuất có 50 ha và rừng phòng hộ có 1.137 ha Hiện tại chất lượng rừng chủ yếu là rừng trung bình, rừng non với các loại cây trồng chính như: cây thông và các loại cây chịu hạn khác Trên địa bàn xã nhiều khu vực đang áp

Ngày đăng: 06/07/2020, 15:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm