LỜI CAM ÐOAN Luận văn tốt nghiệp “Nghiên cứu vai trò của người phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu”.. Được sự nhất trí
Trang 1HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2015 - 2019
Thái Nguyên – 2019
Trang 2HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Dương Văn Sơn
Thái Nguyên - 2019
Trang 3LỜI CAM ÐOAN
Luận văn tốt nghiệp “Nghiên cứu vai trò của người phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu” Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp là công trình
nghiên cứu của riêng tôi, luận văn đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên cứu khoa học nào Khóa luận đã được giảng viên hướng dẫn xem và sửa
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019
Giảng viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện đề tài
PGS.TS Dương Văn Sơn Quàng Thị Nguyệt
XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Xác nhận sinh viên đã sửa theo yêu cầu Của hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp
(Ký, ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là thời gian để sinh viên có nhiều cơ hội áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có khả năng tự tìm hiểu, nghiên cứu, trau dồi và bổ sung kiến thức chuyên môn, rèn luyện đạo đức, phẩm chất, tác phong của mình
Được sự nhất trí của trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm
khoa Kinh tế & PTNT, tôi đã tiến hành thực tập khóa luận:
“Nghiên cứu vai trò của người phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế
hộ gia đình tại xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu”
Qua đây tôi xin cảm ơn tới ban giám hiệu trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa kinh tế và phát triển nông thôn cùng các thầy,cô giáo
đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản, giúp tôi có những kiến thức trong quá trình thực tập tại cơ sở cũng như ngoài xã hội Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Dương Văn Sơn đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành bài khóa luận này Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các đoàn thể cán bộ UBND xã Mường Mô đã quan tâm tạo điều kiện để em hoàn thành tốt kỳ thực tập tốt nghiệp trong thời gian tôi thực tập tại địa phương
Trong quá trình thực tập mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng do kiến thức còn hạn hẹp nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân chưa nhận thấy được
Tôi rất mong được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để bài khóa luận được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, Ngày tháng năm 2019
Sinh Viên
Quàng thị nguyệt
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả chọn mẫu nhóm hộ điều tra tại xã Mường Mô 15
Bảng 3.2: Tiêu chí phân loai hộ điều tra 15
Bảng 4.1: Một số thông tin chung của các hộ điều tratại xã Mường Mô 2018 25
Bảng 4.2: Nhà ở và các phương tiện sinh hoạt của các hộ điều tra 2018 27
Bảng 4.3: Thực trạng đất sản xuất của nhóm hộphân theo mức thu nhập 2018 27
Bảng 4.4 Sự phân công lao động của hộ gia đình điều tra tại xã Mường Mô trong khâu sản xuất nông nghiệp 2018 30
Bảng 4.5: Kiểm soát giá trị sản xuất nguồn lực tài chính hộ gia đình 32
Bảng 4.6 Tình hình quản lý vốn vay của hộ năm 2018 33
Bảng 4.7: So sánh thu nhập của vợ tạo ra so với chồng trong hộ gia đình ở các nhóm hộ điều tra tại xã Mường Mô năm 2018 34
Bảng 4.8: Tình hình sử dụng thời gian trong ngày của phụ nữ Thái trong các nhóm hộ điều tra ở xã năm 2018 36
Bảng 4.9: Sự tham gia của phụ nữ dân tộc Thái trong các tổ chức chính quyền và đoàn thể 37
Bảng 4.10: Thực trạng phụ nữ Thái trong các nhóm tham gia các cuộc hội họp ở địa phương 38
Bảng 4.11: Tình hình tiếp cận thông tin của phụ nữ dân tộc Thái tại xã Mường Mô 2018 40
Trang 6DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Thể hiện quyền đứng tên sử dụng đất nhóm hộ 2018 28
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC v
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Một số khái niệm về hộ 4
2.1.2 Quan điểm về tăng trưởng và phát triển kinh tế 4
2.1.3 Một số lý luận chung về giới và giới tính 5
2.1.4 Vai trò của phụ nữ trong gia đình xã hội 5
2.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá vai trò của người phụ nữ Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình 7
2.1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 8
2.2.1.Tình hình phụ nữ trên thế giới 10
2.2.2 Phụ nữ Việt Nam và vai trò của họ trong phát triển kinh tế gia đình và trong hoạt động xã hội 10
2.2.3 Bài học kinh nghiệm 11
Trang 9PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 14
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 14
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 14
3.2 Nội dung nghiên cứu 14
3.3 Phương pháp nghiên cứu 14
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 14
3.3.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 15
3.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 16
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 17
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 17
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 17
4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 19
4.1.3 Đánh giá những thuận lợi khó khăn trong phát triển sản xuất tại xã 23
4.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu 24
4.2.1 Thông tin chung về hộ điều tra xã 24
4.2.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ Thái trong các nhóm hộ điều tra tại xã 29 4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người phụ nữ Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu 39
4.3.1 Trình độ học vấn và khả năng chuyên môn của phụ nữ Thái còn thấp 39 4.3.2 Khả năng tiếp cận thông tin của người phụ nữ Thái 40
4.4 Những thành tựu và hạn chế trong việc khai thác, phát huy vai trò của phụ nữ Thái tại xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu 42
4.4.1 Mặt thành tựu 42
4.4.2 Mặt hạn chế 42
Trang 104.5 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò vai trò của phụ nữ Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh
Lai Châu 43
4.5.1 Giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới 43
4.5.2 Bản thân người phụ nữ Thái 44
4.5.3 Giải pháp 44
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1 KẾT LUẬN 46
5.2 KIẾN NGHỊ 47
5.2.2 Đối với đia phương 48
5.2.3 Đối với người nông dân 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50 PHỤ LỤC
Trang 11PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã hội Bằng lao động sáng tạo của mình, họ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người Phụ nữ luôn thể hiện vai trò của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, trong lĩnh vực hoạt động sản xuất phụ nữ là lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra con người
để duy trì và phát triển xã hội Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức đông đảo của phụ nữ
Ở Việt Nam phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nước, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội Trong suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước lịch sử Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến
to lớn của phụ nữ Trong công cuộc đổi mới của Đảng họ luôn giữ gìn nêu cao tinh thần yêu nước, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên trong cuộc sống Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là người con dâu, người vợ, người mẹ, người thầy của các con và là người thầy thuốc của gia đình
Đảng và nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội đặc biệt là ở những vùng nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa, những nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống Tạo mọi điều kiện cho phụ nữ tham gia và phát huy vai trò của mình nhất là ở khu vực nông thôn
Lai Châu là một tỉnh thuộc vùng núi phía bắc Việt Nam, đa số là đồng bào dân tộc sinh sống, vẫn còn tư tưởng “trọng nam khinh nữ” và một số dân tộc còn mang nặng phong tục tập quán lạc hậu, trong đó có dân tộc thái Do
đó vấn đề về phụ nữ trên địa bàn tỉnh cần được quan tâm hơn nữa, người phụ
nữ Thái đang chịu nhiều thiệt thòi trong các lĩnh vực kinh tế văn hóa xã hội Mường Mô là một xã tái định cư của thủy điện Lai Châu thuộc huyện biên
Trang 12giới Nậm Nhùn tỉnh Lai Châu với 52,3 % dân số là nữ Lực lượng này đã và đang đóng góp trong việc phát triển kinh tế ở địa phương Qua quá trình điều tra trong lĩnh vực liên quan đến phụ nữ nói chung và phụ nữ Thái nói riêng, nhiều câu hỏi được đặt ra cho bản thân, cho các cấp hội phụ nữ chúng ta: Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay như thế nào? Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ hiện nay như thế nào? Giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ nữ?
Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ Thái xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu trong phát triển kinh tế hộ gia đình được đặt ra như một yêu cầu cấp bách, từ đó đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng này Qua đó thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp nông thôn theo xu hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa như mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra
Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên và nhận thức sâu sắc của người phụ
nữ trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình, tôi tiến hành thực hiện khóa luận:
“Nghiên cứu vai trò của người phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế
hộ gia đình tại xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực trạng và vai trò của phụ nữ Thái trong phát
triển kinh tế hộ gia đình ở địa phương
- Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ và khả năng đóng góp của phụ nữ Thái tại xã trong phát triển kinh tế hộ gia đình trong thời gian qua
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình trong thời gian tới
Trang 131.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân sinh viên
+ Là tài liệu tham khảo cho nhà trường, cho khoa và các sinh viên khóa tiếp theo
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp nhìn nhận đúng hơn về vai trò của người phụ nữ nói chung, và phụ nữ Thái nói riêng trong phát triển kinh tế gia đình
Từ đó nâng cao nhận thức của chính người phụ nữ và người dân về vai trò của phụ nữ, góp phần phát huy hơn nữa vai trò của họ trong phát triển kinh
tế của gia đình mình nói riêng và phát triển chung của địa phương
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Một số khái niệm về hộ
Hộ gia đình, có rất nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa thế nào là hộ: Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005: “Hộ gia đình” mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này (Điều 106).[5]
* Kinh tế hộ gia đình: Là một tổ chức kinh doanh thuộc sử hữu của hộ gia đình, trong đó các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định.[4]
2.1.2 Quan điểm về tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng và phát triển kinh tế đôi khi được coi như nhau, nhưng thực chất chúng có những nét khác nhau và có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn phát triển kinh tế phải có sự tăng trưởng kinh tế, nhưng không phải
tăng trưởng kinh tế nào cũng dẫn tới phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi nhất của vấn đề
lý luận kinh tế Các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng: “Tăng trưởng kinh
tế là sự tăng thêm hay gia tăng quy mô, sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định”.[7]
Trong khi đó phát triển kinh tế được hiểu là: “Một quá trình lớn lên hay
tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kì nhất định trong đó bao gồm cả tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế” Phát
triển kinh tế xã hội là nhằn nâng cao đời sống vật chất và tinh thân của người dân bằng việc phát triển lực lượng sản xuất, thay đổi quan hệ sản xuất, quan
Trang 15hệ xã hội, nâng cao chất lượng lao động văn hóa.[7]
2.1.3 Một số lý luận chung về giới và giới tính
Nam giới và nữ giới là hai nửa hoàn chỉnh của loài người đảm bảo cho việc tái sinh sản con người và tái sản xuất xã hội Sự phân biệt về giới quy định thiên chức trong gia đình và trong cộng đồng Do đó họ có tầm quan trọng khác nhau và đảm nhận đảm nhận những khả năng xã hội cũng khác nhau
Nữ giới được coi là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình Thiên chức của phụ
nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới
Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột của gia đình, có khả năng bảo vệ và che chở, họ cứng rắn hơn về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc Đặc trưng này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội
Để thay đổi đặc trưng về giới và quan niệm cũ tức là cần phải thay đổi nhận thức, hành vi của mọi người trong xã hội quan niệm về giới, tạo điều kiện cần thiết để thực hiện hành động về sự bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội Cả nam và nữ điều đóng vai trò trong xã hội nó thể hiện trong cuộc sống thường nhật: Vai trò tái sinh sản, Vai trò sản xuất, Vai trò cộng đồng
2.1.4 Vai trò của phụ nữ trong gia đình xã hội
2.1.4.1 Vai trò của người phụ nữ trong hoạt động sản xuất phát triển kinh tế gia đình
Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển Vai trò của phụ nữ trong hoạt động phát triển kinh tế gia đình như sau:
Trang 16Phụ nữ là người lao động trong lĩnh vực buôn bán dịch vụ góp phần tạo nên nguồn thu tiền mặt trong gia đình Cùng với chồng, người vợ cũng là người tạo ra thu nhập chính Ở nông thôn khi người chồng vắng mặt trong gia đình
do đi làm ăn xa thì người vợ trở thành người lao động chính, họ là chủ thể chính phát triển kinh tế hộ nông dân ở nông thôn
2.1.4.2 Vai trò của người phụ nữ trong công việc gia đình
Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng của người vợ, người mẹ Họ phải làm hầu hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng đối với sự tồn tại phát triển của gia đình và xã hội
Theo kết quả nghiên cứu, phụ nữ nông thôn phải làm việc 8-16h/ngày gồm cả công việc nội trợ gia đình và công việc đồng áng, họ không có thời gian thư giãn giải trí,trong khi nam giới chỉ làm việc 7h/ngày, tổng thời gian giành cho công việc gia đình của phụ nữa luôn gấp 1,5 lần so với nam giới trên mỗi một ngày.[3]
2.1.4.3 Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực phát triển tiếp cận đất đai
* Tiếp cận đất đai
Luật đất đai 2003, quy định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi tên cả chồng và vợ là một bước tiến bộ lớn trong việc cải thiện sự bình đẳng giữa nam và nữ đối với đất đai, một tài sản lớn của gia đình Cho dù pháp luật quy định quyền thừa kế như nhau của con trai là con gái, nhưng theo truyền thống thì chủ yếu người con trai trong gia đình có quyền thừa kế
về nhà cửa và đất đai, phụ nữ vẫn đang bị loại khỏi việc được hưởng lợi từ các quyền lợi này.Vẫn đang có sự khác biệt tương đối lớn trong việc tiếp cận quyền về đất đai giữa phụ nữ và nam giới.[9]
* Tiếp cận vốn
Phần lớn tín dụng hiện nay là do khu vực phi chính thức, phụ nữ ít có
Trang 17hội hội tiếp cận với các khoản vay chính thức hơn so với nam giới 2/3 số người vay vốn là nam giới Đối với phụ nữ chỉ có rất ít số vốn vay được cung cấp thông qua khu vực chính thức, còn lại nguồn tín dụng phổ biến nhất là từ
họ hàng và các cá nhân khác, việc vay vốn từ nguồn các cá nhân dẫn tới việc chịu lãi xuất cao và đối với phụ nữ điều này cũng phán ánh họ thiếu khả năng tiếp cận đối với khoản vay thế chấp.[1]
2.1.4.4 Vai trò của phụ nữ trong các hoạt động xã hội cộng đồng
Gia đình là một chủ thể xã hội, khi tham gia sinh hoạt cộng đồng bao giờ cũng hiện diện với tư cách một chủ thể hoàn thiện Nhưng phụ nữ không
có nhiều thời gian giành cho các hoạt động xã hội, hoặc cho việc học tập kinh nghiệm từ người khác Đặc biệt phụ nữ các dân tộc thiểu số ít có cơ hội tham gia các lớp học văn hóa buổi tối thậm chí các lớp học có sẵn và thích hợp với
họ Kết quả là phụ nữ không thể tham gia các cuộc thôn bản cộng với việc ít
có điều kiện tiếp cận các nguồn lực và khả năng tạo thu nhập kém Đó là những yếu tố hạn chế khả năng tham gia của phụ nữ vào việc ra quyết định trong cộng đồng và ở cấp quốc gia
2.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá vai trò của người phụ nữ Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình
1 Dựa vào mức độ tham gia của phụ nữ Thái trong các hoạt động sản xuất kinh doanh: Mức độ tham gia của phụ nữ trong hoạt động sản xuất kinh
Trang 18doanh càng nhiều thì vai trò của họ càng được nâng cao trong phát triển kinh
tế hộ gia đình và xã hội
2 Dựa vào thu nhập do phụ nữ Thái tạo ra so với nam giới: Nếu chỉ dựa vào mức độ tham gia của phụ nữ nói chung và phụ nữ Thái nói riêng vào các hoạt động sản xuất kinh doanh thì chưa đủ để đánh giá vai trò của họ trong phát triển kinh tế hộ gia đình bởi tính chất công việc khác nhau tạo ra mức thu nhập khác nhau Phần trăm thu nhập của phụ nữ tạo ra càng lớn thì càng khẳng định được vai trò trong gia đình, điều này không những đem lại cho phụ nữ nhiều quyền lợi mà còn góp phần vào trong phát triển kinh tế hộ
2.1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
2.1.6.1 Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở nông thôn
Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam Á nên còn lưu giữ rất nhiều phong tục tập quán kể cả những phong tục cổ hủ lạc hậu Ở nông thôn nơi mà sự tiếp cận cơ chế thị trường rất chậm, văn minh thường đến sau cùng,
nên những tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã trở thành rào cản khiến phụ nữ
nông thôn ít tham gia vào các hoạt động xã hội, người dân không dám mạnh bạo làm ăn hạn chế tính năng động sáng tạo Đặc biệt đối với các vùng dân tộc thiểu số nơi mà quan niệm về giới và vai trò của nam giới được đề cao hơn, tại đó họ cho rằng chỉ có nam giới mới có khả năng đảm đương mọi công việc quan trọng của gia đình, cộng đồng và xã hội.[2]
2.1.6.2 Trình độ học vấn, chuyên môn khoa học kỹ thuật của người phụ nữ Thái
Ở nông thôn đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin nghe nhìn cũng như báo chí đến với người nông dân rất hạn chế, do vậy việc tiếp cận nắm bắt các thông tin khoa học liên quan đến kiến thức phát triển sản xuất và chăn nuôi trong gia đình gặp nhiều khó khăn
Với phụ nữ nông thôn hiện nay, trong quá trình sản xuất kinh doanh, họ
có một ưu điểm nổi bật là sự khéo léo, sự tính toán giỏi giang và thành đạt
Trang 19chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của mỗi người, số không thành công do học hành, đào tạo chưa nhiều Nhược điểm này sẽ là một hạn chế không nhỏ trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ để phát triển nông thôn
2.1.6.3 Yếu tố sức khỏe
Với phụ nữ nông thôn, đặc biệt là phụ nữ dân tộc Thái vừa phải lao động nặng vừa phải thực hiện thiên chức làm mẹ mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa của mình, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức khỏe của họ bị giảm sút Điều này không những ảnh hưởng đế khả năng lao động, mà vai trò của họ trong gia đình cũng trở nên thấp hơn so với người chồng
2.1.6.4 Khả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ Thái
Phụ nữ Lai Châu nói chung và phụ nữ Thái nói riêng luôn phải đối mặt
với nhiều ràng buộc về thời gian lớn hơn nam giới nên cơ hội để họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để nắm thông tin rất hiếm Điều này
đã làm ảnh hưởng rất lớn đến khả năng nhận thức và hiểu biết thông tin đối
với phụ nữ Thái trên địa bàn nghiên cứu
2.1.6.5 Yếu tố chủ quan
Một yếu tố không thể không nhắc đến làm ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ Thái đó là nguyên nhân chủ quan do chính họ gây ra Ở bản thân họ cũng tự cho các công việc nội trợ, chăm sóc gia đình là bổn phận của mình và toàn tâm chăm lo cho gia đình, trong khi họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng thì lại vô tình ràng buộc thêm trách nhiệm cho mình Vậy nên toàn bộ công việc gia đình sản xuất càng đè nặng lên đôi vai của phụ nữ khiến cho họ càng thêm mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần
2.1.6.6 Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển của phụ nữ
Chăm lo quyền lợi của phụ nữ và đẩy mạnh sự nghiệp giải phóng phụ
nữ là quan điểm xuyên suốt lịch sử 80 năm hoạt động của Đảng, 65 năm hoạt
Trang 20động của nhà nước và suốt cả cuộc đời của Bác Hồ Luận cương chính trị năm
1930 của Đảng ta đã khẳng định: “Vấn đề giải phóng phụ nữ và sự nghiệp
giải phóng phụ nữ là một trong 10 nhiệm vụ quan trọng của Đảng”
Năm 1946, bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa ra đời, tại điều 9 của hiến pháp nêu rõ: “Phụ nữ bình đẳng với nam giới
trên mọi phương diện và được hưởng mọi mọi quyền tự do của công dân”.Để
phát huy tiềm năng lao động nữ thông qua đẩy mạnh sự nghiệp giải phóng phụ nữ, góp phần phát triển kinh tế, nghị quyết 04/NQ-TW ra ngày 12/7/1993
của Bộ Chính trị “về đổi mới tăng cường công tác vận động phụ nữ trong quá
trình đổi mới”, càng thể hiện rõ vị thế của họ trong xã hội
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hiệu quả quản lí của các cơ quan hành chính nhà nước, ở Trung Ương và địa phương đối với công tác của phụ
nữ, thực hiện bình đẳng giới nhằm phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1.Tình hình phụ nữ trên thế giới
Gần đây, Báo thế giới (Đức) đã thông báo vài con số về tình hình phụ nữ trên thế giới Cả thế giới 828.000.000 phụ nữ làm kinh tế Trong số những phụ
nữ làm công tác trong ngành lập pháp, châu Mỹ la tinh chiếm tới 10% khu vực
Ả Rập chiếm 4%, châu Á chiếm 19%, bán đảo Scan – đi – na – vi chiếm 30% Trong các quan chức cấp bộ trưởng của các nước có 6% là phụ nữ
Tuổi kết hôn của nữ giới thường ít hơn từ 2 đến 6 tuổi so với nam giới Tuổi thọ bình quân của nữ giới cao hơn từ 3 đến 8 tuổi so với nam giới Cả thế giới số người góa chồng nhiều gấp 4 lần số người góa vợ.[8]
2.2.2 Phụ nữ Việt Nam và vai trò của họ trong phát triển kinh tế gia đình
và trong hoạt động xã hội
Trong lịch sử dân tộc người phụ nữ Việt Nam đã phải gánh chịu nhiều hy sinh, mất mát, nhưng vẫn luôn chịu thương chịu khó, thủy chung son sắc, anh
Trang 21dũng, kiên trung, bất khuất, sánh vai cung các cánh mày dâu ngang dọc trên chiến trường Ở hậu phương, phụ nữ cũng luôn đi đầu mang lại sự bình yên, hạnh phúc cho gia đình và cho xã hội
Từ thời Bà Trưng, Bà Triệu – Những người đã cùng toàn dân vùng đánh đuổi quân xâm lược phương bắc Về sau là những nữ anh hùng trong lịch sử đấu tranh chống đế quốc xâm lược như Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai Họ đã không tiếc máu xương hy sinh cho tổ quốc với mong muốn giản đơn: Đất nước có ngày độc lập, thống nhất, nhà nhà đoàn tụ hạnh phúc Trải qua bao thăng trầm, biến động của cuộc chiến chính nghĩa, rất nhiều tên tuổi
và chiến công của phụ nữ việt nam đã làm ngời sáng trang sử vẻ vang của dân tộc, góp phần tô điểm nét đẹp phụ nữ, xứng đáng với 8 chữ vàng mà Bác Hồ
dành tặng: “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”
Hiện nay, phụ nữ Việt Nam góp một phần rất lớn vào sự phát triển của đất nước, thể hiện ở số nữ chiến tỷ lệ cao trong lực lượng lao động Với hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ
nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức
vụ quan trọng của bộ máy nhà nước
Trong sản xuất người phụ nữ là người tạo ra phần lớn lương thực trong gia đình Người phụ nữ Việt Nam góp phần xây dựng nền văn minh dân tộc bằng lao động sáng tạo và trí tuệ thông minh, bằng tình thương và đạo đức
trong sáng của họ Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ rằng “Non sông
và gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như gia ra sức dệt thiêu và thêm tốt đẹp rực rỡ” Do vậy phụ nữ Việt Nam phải luôn khẳng định vai trò, vị thế
của mình trong gia đình và ngoài xã hội để không phụ sự kỳ vọng của bác hồ
vĩ đại.[6]
2.2.3 Bài học kinh nghiệm
- Gương mặt người phụ nữ dân tộc làm kinh tế giỏi
Ở xã Chăn Nưa (huyện Sìn Hồ) rất nhiều người biết chị Vũ Thị Gấm
Trang 22(bản Chiềng Chăn 3) là hội viên phụ nữ tiêu biểu trong phong trào phụ nữ làm kinh tế giỏi Từ mô hình kinh tế tổng hợp hàng năm gia đình chị thu về hàng trăm triệu đồng Không chỉ làm kinh tế giỏi, chị Gấm còn nhiệt tình tham gia công tác xã hội, các hoạt động của Hội Phụ nữ và các tổ chức đoàn thể trong bản, trong xã phát động.[11]
Cùng cán bộ xã, chúng tôi đến thăm cơ ngơi của gia đình chị Gấm Trong căn nhà 3 gian mới xây, chúng tôi cảm nhận được niềm vui mừng và hạnh phúc của chị khi đã trải qua bao vất vả mới có được như ngày hôm nay Trong câu chuyện, chúng tôi được biết, chị Gấm sinh ra và lớn lên ở mảnh đất được mệnh danh là “quê hương 5 tấn - Thái Bình”; đến năm 1997 chị và chồng lên Chăn Nưa làm kinh tế Để phát triển kinh tế lúc bấy giờ gia đình chị mở quán tạp hóa nhỏ bán cho người dân tại địa phương và nuôi 2 - 3 con lợn để phục vụ gia đình là chủ yếu, thi thoảng mới bán ra thị trường Dù làm lụng vất vả nhưng gia đình chị cũng chỉ đủ ăn, không khấm khá hơn được Chị Gấm chia sẻ: “Không cam chịu cái nghèo, năm 2010 thông qua Hội Liên hiệp Phụ nữ xã tôi được vay 30 triệu đồng đầu tư mua giống lợn đen của dân bản về nuôi Nhận thấy nhu cầu thị trường rất cần nguồn thịt lợn sạch nên gia đình tôi chỉ lấy cây chuối và cám gạo, ngô về nấu làm thức ăn cho lợn Nhờ kiên trì, chú trọng phòng bệnh, đàn lợn của gia đình phát triển khỏe mạnh, lớn nhanh, không bị dịch bệnh Nhất là thời điểm năm 2017 khi giá lợn hơi bị tụt dốc xuống thấp nhưng lợn của gia đình tôi vẫn được các thương lái đến thu mua tận nhà với giá cao Từ số tiền bán lợn, gia đình tôi đã trả hết tiền vay của ngân hàng từ năm 2014”.[11]
Cùng với chăn nuôi lợn, năm 2016 nhận thấy nhu cầu xay xát của người dân lớn, chị bàn với chồng đầu tư mua máy xay xát lúa gạo, ngô vừa để xay xát thức ăn cho lợn vừa có thêm thu nhập từ 50 - 100 nghìn đồng/ngày Ngoài ra, gia đình chị còn đầu tư mua bộ nồi nấu rượu để nấu rượu bán và lấy bỗng cho lợn ăn, trung bình 1 ngày gia đình chị nấu 30kg gạo thu về khoảng
Trang 2335 lít rượu, với giá bán khoảng 15 nghìn đồng/lít Đồng thời, nuôi thêm gà và vịt để tăng thu nhập.[11]
Thăm trang trại của gia đình chị Gấm, chúng tôi mới thấy được sự can đảm, dám nghĩ dám làm của người phụ nữ này Chuồng trại chăn nuôi được xây dựng mới năm 2016 sạch sẽ, thoáng và đảm bảo vệ sinh môi trường
“Hiện gia đình duy trì đàn lợn với khoảng 30 - 35 con, 50 - 60 con gà, vịt Mỗi năm xuất khoảng 2 lứa lợn Tháng 2 vừa qua, gia đình xuất bán 30 con lợn thu về gần 90 triệu đồng, từ số tiền đó chị mua thêm 21 con lợn bột về nuôi Từ mô hình kinh tế tổng hợp của gia đình, trừ chi phí ước tính mỗi năm gia đình thu về gần 100 triệu đồng” - chị Gấm khoe với chúng tôi.[11]
Qua đây cho thấy chị Vũ Thị Gấm là một tấm gương chịu khó vươn lên làm giàu từ chính đôi tay của mình.Với việc phát triển mô hình kinh tế tổng hợp hiệu quả, năm 2017 gia đình chị được công nhận là hộ sản xuất kinh doanh giỏi cấp xã và là tấm gương cho người dân trên địa bàn học theo để vươn lên làm giàu chính đáng.[11]
Chị xứng đáng là một tấm gương điển hình cho các chị em phụ nữ dân tộc khác tỉnh Tây Bắc nói chung, và phụ nữ dân tộc Thái xã Mường Mô nói riêng, để từ đó bản thân người phụ nữ biết cách vươn lên trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống hiện nay Để tự khẳng định vị trí và vai trò của mình trong các hoạt động kinh tế gia đình, nhất là phát triển kinh tế hộ, biết tận dụng các nguồn lực có sẵn ở địa phương để đưa vào làm giàu cho chính bản thân, cộng đồng và xã hội
Trang 24PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình Đối tượng điều tra là các hộ gia đình trên địa bàn xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu : Xã Mường Mô, Huyện Nậm Nhùn, Tỉnh Lai Châu
- Thời gian nghiên cứu : từ 13/08/2018 đến 23/12/2018
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
- Thực trạng vai trò của người phụ nữ Thái trong phát triển kinh tê hộ gia đình tại xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu
- Các yếu tố ảnh hưởng tới vai trò của phụ nữ Thái trong phát triển kinh
tế hộ gia đình tại xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu
- Những thành tựu và hạn chế trong việc khai thác, phát huy vai trò của phụ nữ Thái tại xã Mường Mô
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ Thái trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
* Số liệu thứ cấp: - Thông qua tài liệu, báo cáo tổng hợp số liệu thống kê của xã
- Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu
Trang 25* Số liệu sơ cấp :
- Nguồn số liệu: Thông tin sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn điều tra 60 hộ nông dân để đánh giá trách nhiệm, vị trí, vai trò và năng lực của phụ
nữ trong gia đình theo nội dung theo mẫu điều tra
- Phương pháp: Điều tra hộ bằng phiếu phỏng vấn trực tiếp
3.3.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Vì điều kiện thời gian nghiên cứu có hạn nên không thể nghiên cứu số mẫu lớn Do đó để phục vụ cho nghiên cứu đề tài và đảm bảo được tính đại diện, tôi chọn 3 trong 10 thôn điều tra chọn mẫu là 60 hộ điều tra ở mỗi nhóm
như sau: 30 hộ nghèo, 20 hộ cận nghèo và 10 hộ khác chia điều cho mỗi thôn
Bảng 3.1 Kết quả chọn mẫu nhóm hộ điều tra tại xã Mường Mô
STT Tên thôn điều tra Số hộ
Phân loại theo mức sống
Hộ nghèo Hộ cận nghèo Hộ khác
(Nguồn: tổng hợp từ phiếu điều tra 2018)
- Phân loại theo tài sản và thu nhập
Bảng 3.2: Tiêu chí phân loai hộ điều tra
Hộ khác Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng
Hộ cận nghèo Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản
Hộ nghèo Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;
- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức
độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
(Nguồn: chuẩn nghèo năm giai đoạn 2016-2020 )[10]
Trang 263.3.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Phương pháp phân tích số liệu: Các số liệu thu thập được xử bằng
máy tính cá nhân và bằng chương trình Excel để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp phân tích thống kê: Dựa vào số liệu đã được phân tổ,
chia tách trong bảng biểu để từ đó phản ánh lên những nét đặc trưng cơ bản nói lên điều gì và tìm ra ra những thay đổi cho phù hợp
- Phương pháp so sánh: Sử dụng phương pháp so sánh phân tích để
thấy được những vai trò, vị trí của người phụ nữ Thái trong gia đình, so sánh thu nhập của người phụ nữ so với nam giới để thấy được mức sống công bằng trong gia đình
Trang 27PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Xã Mường Mô là xã tái định cư của thủy điện Lai Châu thuộc huyện biên giới Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, nằm phía Tây Bắc của Tổ quốc, cách trung tâm huyện Nậm Nhùn là 25km Có tổng diện tích tự nhiên là 20.198,28
ha, toàn xã có 679 hộ với 2809 nhân khẩu, có 7 dân tộc cùng sinh sống Có vị trí giáp ranh như sau: Phía Bắc giáp với xã Kan Hồ, xã Hua Bum và xã Bum Nưa Phía Đông giáp với xã Nậm Hàng Phía Tây giáp xã Mường Toong của huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Phía Nam giáp xã Chà Cang và xã Chà
Tở của huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên
Trên địa bàn xã có đường tỉnh lộ 127 chạy qua, đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội và giao lưu, buôn bán của nhân dân trong xã
Xã Mường Mô là xã có địa hình phức tạp, địa bàn rộng Địa hình xã chia thành 2 vùng rõ rệt: Vùng thấp và vùng cao
Với đặc điểm địa hình chia cắt phức tạp dẫn tới việc xây dựng, phát triển sản xuất và giao lưu kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an ninh xã hội gặp rất nhiều khó khăn Song địa hình đó cũng tạo ra nhiều tiểu vùng sinh thái thích hợp cho việc phát triển kinh tế hàng hoá hướng tới thị trường bằng nhiều loại cây trồng vật nuôi
Xã Mường Mô có khí hậu điển hình của vùng nhiệt đới núi cao Tây Bắc, nhiệt độ trung bình năm từ 22,40C, tháng giêng có nhiệt độ 15 – 170C, tháng 7 có nhiệt độ bình quân 260C; Nhiệt độ cao tuyệt đối là 390C; Nhiệt độ thấp tuyệt đối là 10C
- Chế độ mưa: Mường Mô là vùng có lượng mưa lớn, hàng năm mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 10, trùng với thời kỳ thịnh hành của gió mùa Tây Nam Lượng mưa trung bình năm là 2.53mm/năm, trong đó
Trang 28lượng mưa trung bình trong 7 tháng mùa mưa là 2214,6 mm, chiếm 87,5% lượng mưa cả năm
Xã có diện tích tự nhiên là 20198.28 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp hiện tại là 14607,87 ha chiếm 72,32%; đất phi nông nghiệp là 1613,34
ha chiếm 7,99%; đất chưa sử dụng là 3977,07 ha chiếm 19,69%;
- Đất nông nghiệp toàn xã năm 2018 trên địa bàn có 14607,87 ha (chiếm 72,32% tổng diện tích đất tự nhiên) trong đó: Diện tích đất trồng lúa là 81,93 ha (chiếm 0,41% diện tích đất nông nghiệp);
-Trong địa bàn xã không có đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản và đất rừng đặc dụng.Do người dân chủ yếu đánh bắt thủy sản ở các con sông suối và lòng hồ thủy điện nên không có diện tích nuôi trồng thủy sản
- Đất rừng phòng hộ là 4442,23 ha (chiếm 21,99% diện tích đất nông nghiệp)
Còn đất rừng sản xuất 7929,10 ha (chiếm 39,25 % diện tích đất nông nghiệp)
- Diện tích đất trồng cây hàng năm còn lại 2154,61 ha chiếm 10,67%
- Đất phi nông nghiệp 1613,34 ha chiếm 7,99% chuyên dùng làm đất ở, đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp, xây dựng các công trình văn hóa, y tế, giáo dục, đào tạo, thể dục thể thao phục vụ cho lợi ích công cộng Nhóm đất chưa sử dụng là đất chưa có mục đích sử dụng hoặc chưa có quy
định sử dụng
- Trên địa bàn xã có tổng diện tích mặt nước 1362,04 ha, các hộ dân tiến hành khai thác đánh bắt thủy sản trên vùng lòng hồ thủy điện, sản lượng trung bình ước đạt 2,5 tấn/ tháng
Là vùng thượng lưu của sông Đà, xã Mường Mô có mật độ sông suối khá dày, phân bố tương đối đồng đều trên địa bàn xã Đây là nguồn cung cấp nước đa dạng, phong phú phục vụ cho sản xuất nông nghiệp cũng như đời sống của nhân dân trong xã
Trang 29*Nhận xét về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của địa bàn
xã Xã Mường mô
* Thuận lợi
Xã Mường Mô là xã tái định cư của thủy điện Lai Châu thuộc huyện
biên giới Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu, nằm phía Tây Bắc của Tổ quốc, Có vị trí giáp ranh như sau:
- Phía Bắc giáp với xã Kan Hồ, xã Hua Bum và xã Bum Nưa
- Phía Đông giáp với xã Nậm Hàng
- Phía Tây giáp xã Mường Toong của huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
- Phía Nam giáp xã Chà Cang và xã Chà Tở của huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên
Trên địa bàn xã có đường tỉnh lộ 127 chạy qua, đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội và giao lưu, buôn bán của nhân dân trong xã Nhờ giao thông ổn định đã rút ngắn thời gian đi lại cho phụ nữ trong thôn bằng cách, nhiều phụ nữ đã tập và biết đi xe máy nhiều hơn nhờ giao thông thuận tiện, điều này không chỉ phục vụ đi lại mà còn giúp họ chở củi, vận chuyển nông sản về đến nhà dễ dàng hơn so với trước đây phải gánh, gùi nặng nhọc vất vả trên từng đoạn đường rất xa để về nhà
4.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
Theo số liệu thống kê năm 2018 thì dân số của xã là 2809 người với
679 hộ, mật độ dân số trung bình 14 người/km2 Trong đó nam là 1375 người chiếm 48,95%, nữ là 1434 người chiếm 51,05%
Trang 30Tổng số người trong độ tuổi lao động trên địa bàn 1.288 người chiếm 45,85% Tỷ lệ lao động trong nông nghiệp chiếm trên 90%
Qua rà soát, tổng hợp, tính toán năm 2018 thu nhập bình quân của xã Mường Mô là 23 triệu/người/năm Các chương trình xóa đói - giảm nghèo, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động, xây dựng nông thôn mới … đã mang lại những hiệu quả xã hội thiết thực, số hộ nghèo và cận nghèo đã giảm đáng
kể so với những năm trước
Việc quy hoạch và đầu xây dựng CSHT kỹ thuật đồng bộ có ý nghĩa đối với việc tồn tại và phát triển ở địa phương CSHT được xây dựng đồng bộ sẽ tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn và kinh doanh có hiệu quả, là sự cần thiết đối với tất cả các hoạt động kinh tế xã hội, của Đảng Chính Quyền, MTTQ Việt Nam cùng với các tổ chức chính trị, với phương trâm Nhà Nước hỗ trợ vật liệu và nhân dân cùng làm, trong những năm trở lại đây cơ sở vật chất của
xã đã nâng lên rõ rệt
Đường trục xã và đường từ trung tâm xã đến huyện được nhựa hóa hoặc bê tông hóa được 14/26 km theo quy chuẩn giao thông nông thôn A, còn
12 km vào bản Hát Mé UBND tỉnh bố trí vốn nhựa hóa trong thời gian tới
Đường trục thôn, bản được cứng hóa đảm bảo ô tô đi lại thuận tiện quanh năm được 6,1/7,1 km với quy mô đường cấp A đạt tỷ lệ 86%
Đường trục chính nội đồng đảm bảo vận chuyển hàng hóa thuận tiện quanh năm
Hệ thống thủy lợi đã cơ bản đáp ứng nhu cầu dân sinh và sản xuất của nhân dân trong xã Xã có 10 công trình thủy lợi với tổng chiều dài kênh mương thủy lợi là 10,850 m, hiện đã kiên cố được 7500 m, 3350 m chưa kiên
cố, 5 công trình nước sinh hoạt nông thôn được đầu tư xây dựng theo chương trình dự á tái định cư
Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện: Xã có 7 trạm biến áp đều đạt yêu cầu, số km đường dây hạ thế trên địa bàn xã là 50 km đều
Trang 31đạt kỹ thuật của ngành điện Tỷ lệ số hộ được sử dụng điện thường xuyên an toàn từ các nguồn khoảng 672/679 hộ đạt 99%
- Mầm non: Tổng số lớp: 17 = 294 trẻ Số trẻ ăn, ngủ trưa tại trường:
294 Tổng số giáo viên, CNVC, BGH trường: 30 người Tỷ lệ huy động trẻ
ra lớp từ 0 - 2 tuổi = 36%, từ 3 – 5 tuổi = 100% Tỷ lệ chuyển lớp trẻ từ 2 – 4 tuổi đạt 98%; tỷ lệ chuyên cần 98% Chất lượng 5 tuổi đạt 100%
- Tiểu học: Tổng số lớp: 14 = 291 học sinh Số học sinh ăn, ở bán trú:
142 Tổng số giáo viên, CNVC, BGH trường: 35 người Tỷ lệ phổ cập giáo dục đúng độ tuổi 95%; công tác vận động học sinh ra lớp 100%.Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp, tỷ lệ HS chuyển lớp đạt 100%; tỷ lệ chuyên cần 99% Năm học
2017 – 2018 trường có 25 học sinh đạt giải học sinh giỏi cấp huyện
- THCS: Tổng số lớp: 8 = 275 học sinh Số học sinh ăn, ở bán trú: 126
Tổng số giáo viên, CNVC, BGH trường: 27 người Phổ cập giáo dục đúng độ tuổi trên 100%; công tác vận động học sinh ra lớp 100% Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp, chuyển lớp đạt 100%; tỷ lệ chuyên cần 98% Tổ chức thành công lễ công nhận trường đạt chuẩn quốc gia theo lộ trình
Năm học 2017 - 2018 trường có 03 em học sinh đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh
Trạm Y tế xã: Diện tích 2.321 m2; nhà xây kiên cố; cơ sở vật chất có 05 giường bệnh, trang thiết bị đảm bảo, vườn thuốc nam có diện tích 100 m2; có
07 y, bác sĩ (trong đó có: 03 y sỹ; 01 điều dưỡng; 01 dược sỹ; 01 hộ sinh và
01 dân số); có 02 phòng làm việc cho cán bộ Đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân Trạm y tế xã đã đạt chuẩn quốc gia Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế 92%
Xã có nhà văn hóa (hội trường đa năng) và sân thể thao phục vụ văn hóa, thể thao toàn xã, có 9/10 bản có nhà văn hóa, đạt 90%, có điểm vui chơi giải trí và thể thao cho trẻ em và người cao tuổi theo quy định
Trang 32Tổ thức thành công Đại hội thể dục thể thao xã Mường Mô lần thứ II năm 2017 Tham gia Đại hội thể dục thể thao huyện Nậm Nhùn lần thứ II năm 2017, kết quả đem lại có nhiều thành tích xuất sắc do các hội viên trong
xã tham gia
Tình hình sản xuất ngành trồng trọt trên địa bàn xã trong thời gian qua khá phát triển, đã góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội nói chung và thu nhâp ̣ của người dân trên địa phận nói riêng
* Cây công nghiệp ngắn ngày
+ Cây sắn: Diện tích đã gieo trồng 80/80 ha, đạt 100% kế hoạch, năng suất bình quân đạt 62 tạ/ha, sản lượng đạt 496 tấn
+ Cây đậu tương: Diện tích gieo trồng 40/40 ha, đạt 100% kế hoạch giao, năng suất bình quân đạt 8,5 tạ/ha, sản lượng đạt 34 tấn
+ Cây lạc: Diện tích gieo trồng 2,7 ha, đạt 14,4% kế hoạch giao, năng suất bình quân đạt 8,5 tạ/ha, sản lượng đạt 1,9 tấn
Tổng sản lượng lương thực có hạt 129,35 tấn (đạt 21,9% chỉ tiêu Nghị quyết HĐND xã giao)
- Về lâm nghiệp
Đất lâm nghiệp của xã có 12.371,33 ha, chiếm 70,9% diện tích đất tự nhiên và chiếm 97,1% diện tích đất nông nghiệp Cụ thể như sau: Đất rừng sản xuất có diện tích là 7927,10 ha; Đất rừng phòng hộ có diện tích là 4442,23 ha