1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi cá lồng của các hộ gia đình ở địa phương tại tổ 5 phường na lay, thị xã mường lay, tỉnh điện biên

78 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định trong đó bao gồm cả sự tăng them về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu ki

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN TUẤN NGHĨA

Tên đề tài:

"ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CHĂN NUÔI CÁ LỒNG CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH Ở ĐIA PHƯƠNG TẠI TỔ 5 PHƯỜNG NA LAY

THỊ XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN"

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN TUẤN NGHĨA

Tên đề tài:

"ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CHĂN NUÔI CÁ LỒNG CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH Ở ĐIA PHƯƠNG TẠI TỔ 5 PHƯỜNG NA LAY

THỊ XÃ MƯỜNG LAY, TỈNH ĐIỆN BIÊN"

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là một phần không thể thiếu trong chương trình đào tạo bậc đại học nhằm giúp sinh viên vận dụng những kiến thức lý thuyết đã học vào thực tiễn sản xuất, đồng thời qua đó tích lũy những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác chuyên môn sau khi tốt nghiệp

Nay thời gian thực tập kết thúc đề tài đã hoàn thành cho phép tôi được gửi lời cảm ơn đến ban giám hiệu cùng toàn thể các Thầy, Cô giáo trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy và cho tôi nhiều kiến thức quý giá trong suốt bốn năm học

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo ThS Đỗ Thị Hà Phương người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Nhân đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo, cán bộ của

Phòng Kinh Tế, Phòng Khuyến Nông – Khuyến Ngư thị xã Mường Lay, Tỉnh Điện

Biên, đã tạo điều kiện, giúp đỡ và cung cấp số liệu giúp cho tôi hoàn thành đề tài

Xin được bày tỏ lòng biết ơn tới bà con, các hộ gia đình đã rất nhiệt tình cung cấp cho tôi những thông tin sát thực, kinh nghiệm quý báu để đề tài được hoàn thành

Và cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn tới tất cả các bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Do thời gian thực tập ngắn, kiến thức và năng lực bản thân có hạn nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy

cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 3 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Tuấn Nghĩa

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Tình hình dân số, lao động của TX Mường Lay qua 3 năm 2016 - 2018 32 Bảng 4.2: Tình hình chăn nuôi cá lồng tại thị xã Mường Lay năm 2014 34 Bảng 4.3: Tình hình phân bố sử dụng đất đai của thị xã ML qua 3 năm 36 Bảng 4.4: Tình hình chăn nuôi và sản xuất cá lồng tại địa bàn thị xã Mường

lay năm 2017 37 Bảng 4.5: Tình hình cơ sở hạ tầng của TXML qua 3 năm (2016 - 2018) 37 Bảng 4.6: Số lượng lồng nuôi, sản lượng nuôi cá lồng của thị xã qua 3 năm

2015 -2017 43 Bảng 4.7: Năng suất, sản lượng của các loại cá nuôi lồng ở thị xã Mường Lay

năm 2017 44 Bảng 4.8: Số lượng các loài cá nuôi lồng tại 3 khu điều tra có lượng nuôi cá

lồng lớn nhất qua 3 năm (2016 - 2018) 45 Bảng 4.9: Kinh phí đầu tư của tỉnh Điện Biên cho các xã nằm trong dự án

nuôi cá lồng ở Thị Xã Mường Lay 47 Bảng 4.10: Chi phí sản xuất cá lồng của các hộ điều tra tại địa bàn thị xã

Mường Lay Năm 2017 51 Bảng 4.11: Kích cỡ và mật độ thả của một số loại cá nuôi lồng 56 Bảng 4.12: Ý kiến của các hộ dân về định hướng nuôi cá lồng 57

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ các yếu tố kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến phát triển nuôi cá lồng 20 Hình 4.1 Đồ thị cơ cấu diện tích nuôi trồng thủy sản theo đối tượng nuôi của

thị xã năm 2017 42 Hình 4.2 Đồ thị cơ cấu số lượng các loại cá lồng trên địa bàn thị xã mường

Lay năm 2017 44

Trang 6

LĐ Lao động

NK Nhập khẩu

NN Nông nghiệp NTTS Nuôi trồng thủy sản

SS So sánh

SL Sản lượng TĐPTBQ Tốc độ phát triển bình quân

XK Xuất khẩu UBND Uỷ ban nhân dân

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC HÌNH iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

MỤC LỤC v

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vị nghiên cứu 2

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa đề tài 3

1.5.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5

2.1 Một số vấn đề lí luận cơ bản về phát triển nuôi cá lồng 5

2.1.1 Khái niệm cơ bản 5

2.2 Cơ sở thực tiễn 9

2.2.1 Tình hình nuôi cá lồng trên thế giới 9

2.2.2 Tình hình nuôi cá lồng ở Việt Nam 10

2.2.3 Bài học và kinh nghiệm rút ra từ các nước tiên tiến trên thế giới trong phát triển và chăn nuôi cá lồng 11

Trang 8

2.3 Vị trí và vai trò, đặc điểm phát triển nuôi cá lồng 12

2.3.1 Vị trí của phát triển nuôi cá lồng 12

2.3.2 Vai trò của phát triển nuôi cá lồng 12

2.3.3 Đặc điểm của phát triển nuôi cá lồng 14

2.4 Quy trình nuôi cá lồng 16

2.4.1 Địa điểm đặt lồng 16

2.4.2 Cấu tạo lồng 16

2.4.3 Cá giống và mật độ thả 17

2.4.4 Cách cho cá ăn 17

2.5 Nội dung nghiên cứu phát triển nuôi cá lồng 18

2.5.1 Quy hoạch phát triển nuôi cá lồng 18

2.5.2 Các hoạt động cho đầu tư trong phát triển nuôi cá lồng 18

2.5.3 Các mối quan hệ liên kết trong sản xuất 18

2.5.4 Cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nuôi cá lồng 20 2.5.5 Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nuôi cá lồng 20

2.5.6 Bài học và kinh nghiệm rút ra từ các nước tiên tiến trên thế giới trong phát triển và chăn nuôi cá lồng 22

PHẦN 3 THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH NUÔI CÁ LỒNG TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ MƯỜNG LAY 24 3.1 Nội dung nghiên cứu 24

3.2 Phương pháp nghiên cứu 24

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 24

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 24

3.2.3 Phương pháp chuyên gia 25

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26

4.1.1 Tình hình cơ bản của thị xã Mường Lay 26

Trang 9

4.1.2 Đánh giá chung về tình hình cơ bản của Thị xã Mường Lay 30

4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31

4.2.1 Tình hình lao động và việc làm 31

4.2.2 Chi phí đầu tư nuôi cá lồng của các hộ 38

4.2.3 Thực trạng phát triển nuôi cá lồng ở trên địa bàn thị xã Mường Lay 39

4.2.4 Tình hình thực hiện quy hoạch phát triển nuôi cá lồng 40

4.2.5 Kết quả nuôi trồng thủy sản trên thị xã Mường lay 41

4.3 Kết quả nuôi cá lồng ở tại các khu điều tra 45

4.3.1 Hoạt động đầu tư phát triển nuôi cá lồng ở các hộ điều tra 46

4.3.2 Tình hình sử dụng giống và CN sản xuất 47

4.3.3 Các hình thức sử dụng chăm sóc và thu hoạch 48

4.3.4 Quản lý và chăm sóc 49

4.3.5 Thu hoạch 50

4.3.6 Về tình hình tiêu thụ 50

4.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế của chăn nuôi cá lồng theo kết quả điểu tra 51

4.4.1 Hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi cá lồng của các hộ 51

4.5 Cơ chế, chính sách của Nhà nước và tỉnh Điện Biên về phát triển nuôi cá lồng 53

4.5.1 Các yếu tố về kỹ thuật ảnh hưởng tới quá trình nuôi cá lồng ở các hộ điều tra 54

4.5.2 Ảnh hưởng của môi trường đến phát triển nuôi cá lồng 56

4.6 Định hướng và các giải pháp phát triển nuôi cá lồng trên địa bàn thị xã Mường Lay - Tỉnh Điên Biên trong những năm tới 57

4.6.1 Định hướng phát triển nuôi cá lồng của các hộ trong những năm tới 57

4.6.2 Giải pháp phát triển nuôi cá lồng ởTX Mường Lay, tỉnh Điện Biên trong những năm tới 59

4.6.3 Giải pháp về quy hoạch 59

4.6.4 Giải pháp nâng cao năng lực cho các hộ nuôi cá lồng 60

Trang 10

4.6.5 Giải pháp về cơ chế, chính sách 61

4.6.6 Giải pháp về môi trường 64

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65

5.1 Kết luận 65

5.2 Kiến nghị 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 11

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

 Trong nước

Việt nam là một trong những quốc gia trên thế giới có nghề nuôi trồng thủy sản phát triển và cũng là nước có lịch sử nuôi trồng thủy sản lâu đời Trải qua hàng ngàn năm lịch sử cho đến nay nuôi trồng thủy sản đã trở thành một bộ phận quan trọng đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân (giá trị sản xuất thủy sản theo giá phan theo ngành nuôi hoạt động sơ bộ năm 2013 đạt 239976,7 tỉ đồng (tổng cục thống kê năm 2013) Đóng góp không nhỏ trong hoạt động xuất khẩu nông sản nước ta Theo thống kê của Hải quan Việt Nam, tính đến 15/11/2014 xuất khẩu thủy sản đạt gần 7 tỉ USD Ngoài ra, nuôi trồng thủy sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và tạo được nhiều công ăn việc làm, có ý nghĩa xã hội to lớn Việt Nam có đường bờ biển dai 3260 km, 112 cửa sông lạch, vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1triệu km2 với hơn 4000 hòn đảo nhỏ tạo nên nhiều eo, vịnh, vụng, đầm phá và nhiều ngư trường, trữ lượng hải sản gần 3 triệu tấn Với nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng sản phẩm thủy sản của con người, ngoài hoạt động đánh bắt thủy hải sản ra thì hoạt động nuôi trồng thủy hải sản là một phương thức hữu hiệu để đáp ứng nhu cầu này Một trong những hình thức nuôi trồng thủy sản có hiệu quả là nuôi cá lồng bè Mô hình nuôi cá lồng đã phát triển từ lâu ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long nhưng lại rất mới mẻ đối với các tỉnh duyên hải miền Trung Sự phát triển của các ngành nuôi cá nước ngọt nói chung và

cá lồng nói riêng đã đang và sẽ mở ra lối đi mới cho sự phát triển kinh tế của nhiều địa phương trên cả nước

 Địa phương

Thị xã Mường lay thuộc Tỉnh Điện Biên nơi có con sông Đà chảy qua người dân ở đây đã biết tận dụng lợi thế được thiên nhiên ưu đãi này để phát triển nghề nuôi cá lồng Hiện tại xã có 200 lồng cá nuôi, nuôi cá lồng đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể và đồng thời tạo công ăn việc làm cải thiện đời sống cho người dân nơi đây Tuy nhiên hoạt động nuôi cá lồng trên sông Đà cũng đã gây ra rất nhiều hiệu quả xấu về môi trường, nguồn nước sông Đà ngày càng ô nhiễm, tiềm ẩn nguy

Trang 12

cơ dịch bệnh xảy ra gây ảnh hưởng không ít đến hoạt động nuôi cá lồng trong

những năm gần đây Xuất phát từ tình hình trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Đánh giá

hiệu quả kinh tế chăn nuôi cá lồng của các hộ gia đình ở địa phương tại tổ 5 phường Na Lay - Thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên" làm đề tài cho khóa luận tốt

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá thực trạng, kết quả, hiểu quả của mô hình nuôi cá lồng tại Thị xã

Mường Lay, tỉnh Điện Biên

- Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả nghề nuôi cá lồng

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá lồng

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nuôi cá

lồng ở nước ta

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nuôi cá lồng ở địa bàn thị

Trang 13

+ Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 8/2018 đến tháng 1/2019

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu này được tiến hành nhằm trả lời các câu hỏi sau đây liên quan đến nuôi cá lồng ở huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ

- Cơ sở lý luận nào liên quan đến phát triển nuôi cá lồng?

- Thực trạng phát triển nuôi cá lồng ở TXML, tỉnh Điện Biên như thế nào?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới phát triển nuôi cá lồng ở TXML, tỉnh Điện Biên

- Những giải pháp nào để phát triển nuôi cá lồng trên địa bàn TXML, tỉnh Điện Biên

1.5 Ý nghĩa đề tài

1.5.1 Ý nghĩa khoa học

Đây là phương pháp chung trong quá trình thực hiện đề tài nhằm nghiên cứu bản chất của các hiện tượng tự nhiên kinh tế xã hội Nó yêu cầu người nghiên cứu các hiện tượng không nghiên cứu vấn đề trong trạng thái cô lập riêng lẽ mà được đạt trong mối liên hệ bản chất chặt chẽ các hiện tượng với nhau, không phải trong trạng thái tĩnh mà trong sự vận động và phát triển không ngừng trong sự phát triển

từ thấp đến cao, trong sự chuyển biến từ số lượng sang chất lượng mới, từ quá khứ đến hiện tại và tương lai

- NC đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ ban và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế

- NC đề tài là cơ sở cho SV vận dụng sáng tạo những kiến thức cơ bản đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để SV thấy được những kiến thức cần bổ sung để phù hợp với công việc thực tế sau này

- NC đề tài nhằm là cơ hội để mỗi SV vận dụng những kiến thức đã học vào trong nghiên cứu khoa học và là cơ sở để hình thành các ý tưởng sau này

Trang 14

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Từ kết quả NC của đề tài sẽ đưa ra được tình hình nuôi cá lồng tại địa

phương Từ đó đưa ra được những nhận xét về hiệu quả, tiềm năng, thế mạnh và những khó khăn trở ngại trong quá trình nuôi cá và đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả nuôi cá lồng Kết quả NC của đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho SV của các lớp khóa sau

Trang 15

PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1 Một số vấn đề lí luận cơ bản về phát triển nuôi cá lồng

2.1.1 Khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định Tiết kiệm và đầu tư là trọng tâm, nhưng đầu tư phải hiệu quả thì mới đẩy mạnh tăng trưởng Ngoài ra đó là kết quả cảu các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra Do vậy, để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta dung mức tăng them của tổng sản lượng nền kinh tế của thời kỳ sau so với thời kỳ trước Đó là mức tăng % hay tuyệt đối hàng năm, hay bình quân trong một giai đoạn Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm liên tục trong một giai đoạn nhất định

2.1.1.2 Khái niệm phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chếkinh tế, chất lượng cuộc sống Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến

về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định trong đó bao gồm cả sự tăng them về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội Đó là sự tiến bộ thịnh vượng và cuộc sống tốt đẹp hơn Phát triển kinh tế là một khái niệm chung nhất về một sự chuyển biến của nền kinh tế, từ một trạng thái thấp lên một trạng thái cao hơn Do vậy không có tiêu chuẩn chung về sự phát triển Để nói lên trình

độ phát triển cao, thấp khác nhau giữa các nền kinh tế trong mỗi thời kì, các nhà kinh tế học phân các quá trình đó ra các nấc thang: kém phát triển, đang phát triển

và phát triển,… gắn với các nấc thang đó là những giá trị nhất định, mà hiện tại vẫn chưa có cơ sở thống nhất hoàn toàn Trong chiến lược phát triển kinh tế có thể nhấn mạnh vào tăng trưởng tức là thu nhập, nhấn mạnh vào công bằng và bình đẳng trong

xã hội hoặc nhấn mạnh vào phát triển toàn diện, tức vừa nhấn mạnh vào số lượng vừa chú ý về chất lượng của sự phát triển Tăng trưởng kinh tế phải gắn với mục

Trang 16

tiêu công bằng và sự tiến bộ của xã hội Trong thực tế phát triển kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển kinh tế xã hội, đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân Tăng trưởng kinh tế là tiền đề vật chất hỗ trợ cho việc thực hiện công bằng xã hội, ngược lại công bằng xã hội tạo ra động lực vững chắc để thúc đẩy kinh

tế Hiệu quả kinh tế phải gắn với hiệu quả xã hội thành hiệu quả kinh tế xã hội Nó

là tiêu chuẩn quan trọng của sự phát triển nền kinh tế Như vậy, phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia Theo cách hiểu như vậy, phát triển là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức:

Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển

Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc gia Để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được

Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà là việc xoá bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên về tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân vv… Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển

Như vậy, phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng

và về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề

về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia Theo cách hiểu như vậy, phát triển là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức:

Trang 17

Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình quân trên một đầu người Đây là tiêu thức thể hiện quá trình biến đổi về lượng của nền kinh tế, là điều kiện cần để nâng cao mức sống vật chất của một quốc gia và thực hiện những mục tiêu khác của phát triển

Hai là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế một quốc gia Để phân biệt các giai đoạn phát triển kinh tế hay so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau, người ta thường dựa vào dấu hiệu về dạng cơ cấu ngành kinh tế mà quốc gia đạt được

Ba là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội Mục tiêu cuối cùng của sự phát triển kinh tế trong các quốc gia không phải là tăng trưởng hay chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà là việc xoá bỏ nghèo đói, suy dinh dưỡng, sự tăng lên về tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ dân trí giáo dục của quảng đại quần chúng nhân dân vv… Hoàn thiện các tiêu chí trên là sự thay đổi về chất xã hội của quá trình phát triển

2.1.1.3 Tăng trưởng và phát triển trong sẩn xuất nông nghiệp

Tăng trưởng nông nghiệp chỉ thể hiện rằng ở thời điểm nào đó, nền nôngnghiệp có nhiều đầu ra so với giai đoạn trước, chủ yếu phản ánh sự thay đổi về kinh tế và tập trung nhiều về mặt lượng Tăng trưởng nông nghiệp thường đượcđo bằng mức tăng thu nhập quốc dân trong nước của nông nghiệp, mức tăng về sản lượng và sản phẩm nông nghiệp, số lượng diện tích, số đầu con vật nuôi

Phát triển nông nghiệp thể hiện cả về lượng và về chất Phát triển nông nghiệp không những bao hàm cả tăng trưởng mà còn phản ánh các thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền nông nghiệp, sự thích ứng của nền nông nghiệp với hoàn cảnh mới, sự tham gia của người dân trong quản lý và sử dụng nguồn lực, sự phân bố của cải và tài nguyên giữa các nhóm dân cưtrong nội bộ nông nghiệp và giữa nông nghiệp với các ngành kinh tế Phát triển nông nghiệp còn bao hàm cả kinh tế, xã hội, tổ chức thể chế

và môi trường Tăng trưởng là điều kiện cho sự phát triển nông nghiệp

2.1.1.4 Tăng trưởng và phát triển trong nuôi cá

Dựa trên cơ sở lý luận về tăng trưởng và phát triển thì phát triển nuôi cá được hiểu là quá trình tăng về quy mô và hoàn thiện về cơ cấu

Trang 18

 Quá trình tăng về quy mô

- Tăng về diện tích: Diện tích nuôi trồng tăng dần theo thời gian, số người

dân và các đơn vị tổ chức tham gia nuôi cá phải tăng lên về số lượng

Tuy nhiên mở rộng diện tích nuôi cá phải đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội và lợi ích của người nuôi, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế của từng vùng, từng địa phương nhằm khai thác lợi thế so sánh, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh trên thị trường

- Tăng về năng xuất: Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nuôi cá

nhằm tăng năng suất trên một đơn vị diện tích ngày một cao hơn

- Tăng về sản lượng: Cùng với sự tăng lên về diện tích và năng suất trong

nuôi cá, sản lượng thu được cũng tăng lên theo thời gian Nếu xét trên phạm vi nhiều loại sản phẩm thì đó là sự gia tăng về tổng giá trị sản xuất (GO) hay giá trị gia tăng (VA)

 Quá trình hoang thiện cơ cấu

Đối với nuôi cá, quá trình hoàn thiện cơ cấu được xét trên một số phương diện chủ yếu sau:

- Quy mô nuôi: Trong các quy mô nuôi nên áp dụng quy mô nào mang lại

hiệu quả kinh tế cao nhất cho từng vùng, từng địa phương cũng như từng quốc gia

- Hình thức nuôi: Thực hiện tổ chức sản xuất theo hình thức nuôi nào là phù

hợp cho từng vùng, từng địa phương (nuôi quảng canh, nuôi bán thâm canh, nuôi thâm canh, nuôi siêu thâm canh), hình thức nuôi theo hộ gia đình hay theo mô hình sản xuất tập trung quy mô lớn

 Trình độ áp dụng khoa học – kĩ thuật

Ngày nay, việc phát triển nuôi cá ngoài việc phụ thuộc vào nhiều yếu tố truyền thống như thời tiết, vốn, lao động, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật, thì các yếu tố của sản xuất trong thời đại mới như tổ chức quản lý, khoa học công nghệ (nhất là công nghệ sinh học), không thể thiếu trong quá trình phát triển Sự phát triển nuôi cá không chỉ biểu hiện ở sự tăng trưởng về quy mô hay về số lượng mà còn thể hiện ở mặt chất lượng của sản xuất, đó là sản phẩm có chất lượng cao nhằm cải thiện dinh dưỡng cho người dân Tuy nhiên, thực tế vấn đề đó không đơn giản vì

nó liên quan đến hàng loạt vấn đề như tự nhiên, kinh tế, xã hội, nhu cầu thị trường,

Trang 19

thị hiếu tập quán tiêu dùng, thu nhập của người dân và hiệu quả kinh tế mang lại cho người sản xuất

Ngoài ra tính hiệu quả kinh tế, những lợi ích về xã hội và môi trường do phát triển nuôi cá mang lại cũng là biểu hiện của sự phát triển Phát triển nuôi cá nhanh nhưng phải bền vững, mang lại hiệu quả cao trong sựphát triển và bảo vệ môi trường sinh thái Ngày nay, đối với việc phát triển nuôi cá còn phải đặc biệt chú ý đến các yêu cầu cao cấp hoá thực phẩm, hiện đại hoá công nghệ sản xuất nông nghiệp, đô thị hoá nông thôn và tiếp tục đổi mới quản lý kinh tế - xã hội nông thôn Nhưvậy, ngày càng hoàn thiện cơcấu trong nuôi cá sẽ góp phần thúc đẩy chất lượng của ngành thuỷ sản chuyển dịch theo hướng tích cực, kim ngạch xuất khẩuthuỷ sản không ngừng tăng qua các năm, duy trì được mức tăng trưởng cao, có đóng góp nhất định vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế trong nước

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình nuôi cá lồng trên thế giới

Nuôi trồng thủy sản là ngành sản xuất vật chất sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất đai diện tích mặt nước, thời tiết khí hậu…để sản xuất ra các loại sản phẩm thủy sản phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người Nuôi cá được coi

là ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia tiếp giáp với biển như: Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Nhật Bản… sản phẩm chủ yếu là tôm, cua, cá… đây là những mặt hàng có giá trị kinh tế cao và giàu dinh dưỡng

Hiện nay các nước vẫn đang không ngừng phát triển nuôi cá cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, hình thức nuôi chủ yếu là nuôi công nghiệp Đây là hình thức nuôi mang lại hiệu quả kinh tế rất cao nhưng đòi hỏi phải có chi phí lớn cùng với trình độ

kỹ thuật cao

Ngư dân Nhật Bản đã rong buồm khắp các vùng biển trên thế giới để đánh bắt hải sản, với mục đích là tăng thêm nguồn cung cấp thực phẩm cho nhân dân Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nước biển ngày càng ô nhiễm và việc đánh bắt quá mức đã khiến cho sản lượng đánh bắt tự nhiên đã giảm đáng kể trong khi

đó, nhu cầu về các sản phẩm thủy sản có chất lượng của người Nhật không ngừng tăng cao Trong hoàn cảnh đó, việc nuôi cá lồng trở nên cần thiết Để đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng, các trang trại cá bắt đầu ra đời và có thể cung cấp một số lượng

Trang 20

cá thường xuyên với giá thấp Đến nay, Nhật Bản đã có những bước thành công đáng kể trong việc cải thiện phương pháp đánh cá và chăn nuôi cá lồng, kỹ thuật bảo quản, các khâu phân phối và thu được năng suất cao từ việc nuôi trồng thủy sản Sau nhiều năm nỗ lực, hiện nay Nhật Bản là nước có cách thức nuôi cá tiên tiến nhất thế giới

2.2.2 Tình hình nuôi cá lồng ở Việt Nam

Tại Việt Nam, nghề nuôi cá lồng, bè trên hồ chứa và sông đã phát triển rộng rãi từ miền Bắc tới miền Nam Đối tượng nuôi cũng rất phong phú với khoảng gần

20 loài cá, từ những loài nuôi với quy mô lớn phục vụ xuất khẩu như cá tra, ba sa tới những đối tượng cá thuỷ đặc sản nuôi ở quy mô nhỏ hơn như chiên, bỗng, lăng Năng suất nuôi cá cũng tăng đáng kể, từ mức 30-40kg/m3 năm 1990, đến nay năng suất nuôi lên đến 150-160kg/m3

Việt Nam là một quốc gia nằm ở phía tây biển Đông, có bờ biển dài 3.260

km với 112 cửa sông, có nhiều eo biển, hồ, đầm phà ven biển có thể phát triển nuôi trồng thuỷ sản với nhiều loại thuỷ sản khác nhau Trong những năm gần đây nuôi cá lồng đã phát triển nhanh trên tất cả các mặt: Mở rộng diện tích, phát triển các hình thức nuôi tiến bộ, thâm canh tăng năng suất, đa dạng chủng loại nuôi và phát triển mạnh các loại cá có giá trị kinh tế cao

Về sản xuất

Việt Nam là nước có tiềm năng lớn về nuôi cá với diện tích mặt nước nội địa khoảng 1 triệu ha, vùng triều khoảng 0,7 triệu ha và hộ sống đầm phà ven biển có thể nuôi cá Trong khi đó diện tích có khả năng nuôi của cả nước ước tính khoảng gần 2 triệu ha thì mới sử dụng 902.900 ha năm 2004

Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài rất thuận lợi phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản Sản lượng thủy sản Việt Nam

đã duy trì tăng trưởng liên tục trong 17 năm qua với mức tăng bình quân là 9,07%/năm Với chủ trương thúc đẩy phát triển của chính phủ, hoạt động nuôi trồng thủy sản đã có những bước phát triển mạnh, sản lượng liên tục tăng cao trong các năm qua, bình quân đạt 12,77%/năm, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng tổng sản lượng thủy sản của cả nước Từ giữa thập kỷ 90 trở lại đây, nuôi cá của Việt Nam phát triển rất nhanh không chỉ về chiều rộng mà còn phát triển cả về chiều sâu Nuôi

Trang 21

cá từ chỗ là một nghề sản xuất phụ, mang tính tự cấp tự túc đã trở thành một nghề sản xuất hàng hoá tập trung với trình độ kỹ thuật tiên tiến, phát triển ở tất cả các thuỷ vực nước ngọt, nước lợ, nước mặn theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường, hài hoà với các ngành kinh tế khác, diện tích nuôi cá đã tăng đều đặn theo từng năm kéo theo đó thì sản lượng đưa vào nuôi trồng cũng tăng theo Năm 1990, diện tích nuôi trồng thuỷ sản mới đạt 491.723 ha, sản lượng nuôi trồng là 310.000 tấn và sản lượng khai thác đạt 709.000 tấn, đến năm 2000 thì diện tích nuôi trồng tăng lên 652.000 ha, sản lượng nuôi trồng tăng lên 723.110 tấn và kéo theo sản lượng khai thác là 1.280.590 tấn Đến năm 2010 diện tích nuôi trồng tăng lên đến 1.050.000 ha, sản lượng nuôi trồng là 2.706.825 tấn và sản lượng khai thác tăng lên 2.420.800 tấn

và đến năm 2014 diện tích nuôi trồng tăng lên đến 3.393.000 tấn, sản lượng khai thác đạt 2.918.000 tấn

2.2.3 Bài học và kinh nghiệm rút ra từ các nước tiên tiến trên thế giới trong phát triển và chăn nuôi cá lồng

Nghề nuôi cá bằng lồng là một nghề nuôi trồng thuỷ sản mới được phát triển mạnh trong một vài năm trở lại đây Với nhiều ưu điểm so với nuôi trong ao như nước thường xuyên được thay đổi nên có thể nuôi cá ở mật độ cao; môi trường nuôi

cá sạch, không bị ô nhiễm bởi các chất thải của cá nên cá lớn nhanh; hao hụt ít, hạn chế được dịch hại; chăm sóc, quản lý, thu hoạch thuận lợi; năng suất cao… Đặc biệt

là do tận dụng môi trường tự nhiên nên chất lượng thịt cá thơm ngon, được khách hàng ưa chuộng Vì vậy hiện nay tại Việt Nam, nghề nuôi cá bằng lồng trên hồ chứa

và sông đã phát triển rộng rãi từ miền Bắc tới miền Nam, riêng diện tích nuôi cá lồng bè tại các tỉnh miền núi phía Bắc năm 2013 đã là 3.408 lồng, đạt sản lượng 5.689 tấn Đây là một nghề mới mang lại hiệu quả kinh tế cao mà tiết kiệm được rất nhiều diện tích mặt nước Phát triển cá lồng là một trong những chương trình thủy sản quan trọng đang được Chi cục Thủy sản tỉnh Phú Thọ triển khai ở các địa phương có điều kiện phù hợp Tuy nhiên, để phát triển cá lồng một cách bền vững thì cần phải có sự quy hoạch chi tiết đối với từng địa phương và phổ cập kỹ thuật chăn nuôi cho người dân 32 nghề nuôi cá lồng có nhiều tiềm năng và lợi thế Đây

là một mô hình mới, có khả năng nhân rộng và phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên của huyện Qua bốn năm triển khai đã khẳng định mô hình nuôi cá lồng ở

Trang 22

huyện Tam Nông mang lại lợi nhuận kinh tế cao cho hộ nuôi, mở ra một hướng đi mới trong phương thức nuôi trồng thủy sản của huyện Phát triển nghề nuôi cá lồng vừa tận dụng được tài nguyên đất, nguồn nước, vừa giải quyết bài toán việc làm, tăng thu nhập cho hộ nông dân Do vậy, chính quyền địa phương cần có những bước đi mạnh mẽ và quyết liệt hơn để giúp đỡ người dân địa phương mình phát triển nghề nuôi cá lồng để nâng cao đời sống, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, việc phát triển nghề nuôi cá lồng và khai thác các nguồn thủy lợi sẵn có của vùng cũng phải đi đôi với tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ để tránh làm ô nhiễm nguồn nước, gây dịch bệnh cho thủy sản và khai thác cạn kiệt nguồn lợi tự nhiên, đảm bảo vừa tăng thu nhập vào ngân sách địa phương cũng như phát triển việc nuôi cá lồng một cách bền vững

2.3 Vị trí và vai trò, đặc điểm phát triển nuôi cá lồng

2.3.1 Vị trí của phát triển nuôi cá lồng

Nuôi cá là một ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, Đảng và Nhà nước ta coi việc phát triển thuỷ sản nói chung, phát triển nuôi cá lồng nói riêng là một trong những yếu tố bảo đảm cho sự phát triển kinh tế ổn định vững chắc, thể hiện trong các cơ chế chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, khai thông và mở rộng thị trường xuất khẩu thuỷ sản, đầu tư khoa học công nghệ, vốn, đào tạo nguồn nhân lực,

2.3.2 Vai trò của phát triển nuôi cá lồng

Hiện nay, cùng với sự phát triển của các ngành trong lĩnh vực nông nghiệp thì nuôi trồng thủy sản trong đó có ngành nuôi cá lồng đang được xem là một mũi nhọn kinh tế nhằm tạo ra những bước đột phá lớn trong phát triển nông nghiệp nông thôn ở nước ta Bởi ngành này không những có ưu thế trong việc khai thác hợp lý nguồn tài nguyên ven sông mà còn làm giảm sự quá tải trong việc khai thác thủy sản và làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên Bên cạnh đó, nuôi cá lồng còn phát huy thế mạnh về lợi thế so sánh trong việc tận dụng các nguồn tài nguyên có sẵn, từđó đóng góp vào sự phát triển ổn định của nền kinh tế quốc dân

Sự phát triển của nghề nuôi cá lồng không những đóng vai trò tích cực khai thác lợi thế mặt nước, phát triển kinh tế, giải quyết việc làm ở địa phương mà còn

mở ra cơ hội để thay đổi kỹ thuật, quy trình sản xuất thủy sản Trong những năm

Trang 23

qua, nghề nuôi cá lồng, bè trên sông và hồ chứa đã tạo được công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho hàng nghìn hộ dân

- Nuôi cá lồng cung cấp những sản phẩm, thực phẩm quý cho tiêu dùng, cung cấp nguyên liệu cho phát triển một số ngành khác Nuôi cá là một trong những ngành tạo ra thực phẩm, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp Ở tầm vĩ mô, dưới giác độ ngành kinh tế quốc dân, nuôi cá lồng đã góp phần bảo đảm an ninh lương thực, thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn Có thể nói nuôi cá lồng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm, góp phần chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của người dân Từ các vùng đồng bằng đến trung du miền núi, tất cả các ao hồ nhỏ đều được sử dụng triệt để cho các hoạt động nuôi cá Trong thời gian tới, các mặt hàng cá sẽ ngày càng có vị trí cao trong tiêu thụ thực phẩm của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam

- Nuôi cá lồng cung cấp một phần thức ăn cho chăn nuôi, đặc biệt cho chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp Bột cá và các phế phẩm, phụ phẩm thuỷ sản là nguồn chế biến thức ăn giàu đạm dùng để làm thức ăn hoặc chế biến thức ăn phục

vụ chăn nuôi gia súc, gia cầm Nuôi cá lồng cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và một số ngành công nghiệp khác Nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến thực phẩm bao gồm các loại thuỷ sản như: Tôm, cá, nhuyễn thể, rong biển, Các nguyên liệu của ngành thuỷ sản còn được sử dụng để làm nguyên liệu cho các ngành công nghệ dược phẩm, mỹ nghệ

- Nuôi cá lồng đóng góp quan trọng trong tăng trưởng của toàn ngành nông, lâm, ngư nghiệp nói chung: Nuôi cá lồng có khả năng tạo ra nhiều giá trị gia tăng

Vì vậy phát triển mạnh nuôi cá lồng sẽ góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp Trong những năm qua,tỷ trọng đóng góp của khu vực nông, lâm, thuỷ sản vào tốc độ tăng trưởng chung có xu hướng giảm dần và chỉ còn đóng góp trên dưới 10% Nguyên nhân cơ bản là tỷ trọng của nông, lâm, thuỷ sản trong GDP giảm, từ 24,53% năm 2000 xuống còn 21,65% trong 9 tháng năm 2003 Đây

là xu hướng phù hợp với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong khi tỷ trọng đóng góp của ngành nông, lâm, thuỷ sản giảm, thì tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng của ngành thuỷ sản lại tăng lên, từ 11,4% năm 2001 nên 13% năm 2003 Đó là kết quả của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong khu vực

Trang 24

nông, lâm, thuỷ sản theo xu hướng tiến bộ để khai thác có hiệu quả thế mạnh mặt nước và nguồn lợi thuỷ sản ở nước ta

- Nuôi cá lồng góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội đất nước: Với nhiều lợi thế đặc biệt về mặt nước và nguồn lợi thuỷ sản, phát triển mạnh mẽ ngành thuỷ sản nói chung và nuôi cá lồng nói riêng của nước ta sẽ góp phần phát triển kinh tế –

xã hội đất nước Về mặt kinh tếở nhiều địa phương trong cả nước phát triển nuôi cá lồng là con đường làm giàu của các chủ trang trại, các cơ sở, các hộ nuôi trồng, ở các địa phương có tiềm năng về biển, sông hồ… Phát triển nuôi trồng thuỷ sản nói chung, nuôi cá nói riêng là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn cho hiệu quả cao,tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập Việc sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thuỷ sản tại chỗ còn góp phần cải thiện dinh dưỡng bữa ăn, làm tăng sức khoẻ người dân Đối với một số vùng biển hay trong đất liền, phát triển nuôi cá lồng cũng góp phần vào phát triển ngành du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch văn hoá

Như vậy, ngành nuôi cá lồng nói riêng và ngành nuôi trồng thủy sản nói chung, là một ngành kinh tế mũi nhọn, nó góp phần thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nền sản xuất nông nghiệp và từng bước làm thay đổi bộ mặt nông nghiệp nông thôn nước ta

2.3.3 Đặc điểm của phát triển nuôi cá lồng

- Ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và ngành nuôi cá lồng nói riêng là

ngành có đặc điểm đặc thù riêng nhưng nó cũng có tương đồng với ngành sản xuất nông nghiệp như phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu, thủy văn, nguồn nước

và địa hình Đây được coi là yếu tố cơ bản để nuôi cá lồng cũng như nuôi trồng các loại thủy sản khác đạt kết quả và hiệu quả cao Nghề nuôi cá lồng ở nước ta đang phát triển mạnh đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho người nông dân Nhiều diện tích hồ, đầm, sông (cả ngọt, lợ, mặn) rất đa dạng, môi trường phù hợp cho nghề nuôi các lồng Nếu phát triển sẽ tận dụng được mặt nước tự nhiên, giải quyết được công ăn việc làm cho người lao động, tạo thêm nguồn thực phẩm dồi dào cho xã hội Tuy nhiên mỗi vùng đều có cách nuôi cá lồng khác nhau, phù hợp với đặc điểm

tự nhiên, tập quán của cư dân địa phương

Trang 25

- Nuôi cá lồng thường chịu tác động lớn của môi trường, đặc biệt là môi trường nước Nuôi cá lồng bè trên sông, hồ chứa phải có nguồn nước trong sạch, không bị nhiễm bẩn bởi nước thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp và chất thải của các nhà máy hoá chất Môi trường nuôi phải đảm bảo pH từ 6,5-8,5, lưu tốc dòng chảy từ 0,2-0,3m/s, ôxy hoà tan trên 5mg/l Tuy nhiên, nuôi cá lồng trên sông có thể gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm môi trường do mất cân bằng sinh thái, do tác động quá lớn của con người vào dòng chảy của tự nhiên cũng như lượng hóa chất, thuốc chữa bệnh, thức ăn chăn nuôi khổng lồ thải ra có những tác động tiêu cực tới

hệ sinh thái, tới những loài động khác sinh sống ở trên sông Vì vậy, biện pháp trong việc giảm thiểu những thiệt hại, gìn giữ môi trường chăn nuôi thủy sản trên mặt nước chính là công tác quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản cần dựa trên cơ

sở phân vùng sinh thái, phát triển hạ tầng kỹ thuật cấp thoát nước và xử lý chất thải đối với ngành nuôi trồng thủy sản công nghiệp, thâm canh

- Trước đây phần lớn các hộ dân với kỹ thuật nuôi làm lồng còn hạn chế, vật liệu làm lồng chủ yếu tận dụng các nguyên liệu tự nhiên sẵn có như tre, gỗ… Hiện nay nhờ được tiếp cận với các loại lồng nuôi cải tiến bằng khung và lưới sắt nên đã giảm được chi phí đầu tư và dễ dàng chăm sóc và quản lý, đem lại hiệu quả cao hơn Trung bình một lồng nuôi khung thép, thân lưới, kích thước 6x6x3m, thể tích 108m3 /lồng (loại lồng đang được áp dụng phổ biến hiện nay), sau 5-6 tháng nuôi

có thể cho thu hoạch 5-7 tấn cá thương phẩm/lồng, tương đương với 1 ha ao nuôi thâm canh Mặt khác, đối tượng nuôi lồng chủ yếu là các loài cá đặc sản như: Lăng chấm, Chép lai, Ngạnh, Diêu hồng, Trắm đen vốn khó nuôi thâm canh ở các thủy vực nước tĩnh, giá bán thường cao gấp 2-5 lần các đối tượng nuôi truyền thống khác, nên hiệu quả kinh tế của nuôi cá lồng là rất cao Do đặc tính nước chảy, giàu ô

xy và dinh dưỡng nên nuôi cá lồng cho năng suất, sản lượng cao Năng suất nuôi cá lồng trung bình từ 25-30 kg, cao gấp nhiều lần so với nuôi cá nước tĩnh trong ao Mặt khác nuôi cá lồng còn tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên vốn rất phong phú tại các sông có dòng chảy yếu, nên chi phí thức ăn giảm, từ đó đem lại hiệu quả kinh tế cao

- Tuy nhiên, nuôi cá lồng cũng chịu ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết Thời

tiết diễn biến bất thường, đặc biệt trong mùa mưa bão, lũ lớn sẽ làm thay đổi đột

Trang 26

ngột hàm lượng ôxy, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của các giống cá Hơn nữa, vốn đầu tư khá lớn, nhiều hộ gia đình rất muốn xây dựng mô hình cá lồng nhưng không có vốn để đầu tư và nếu không nắm vững các kỹ thuật sẽ dẫn đến nhiều bất lợi, rủi ro Bởi vậy, địa phương và những người trực tiếp tham gia thả nuôi rất cần

sự vào cuộc, giúp đỡ của các cấp, các ngành chuyên môn trong việc hướng dẫn người dân những kiến thức cơ bản trong chăm sóc, phát hiện và phòng trừ dịch bệnh trên đàn cá, từ đó có những biện pháp ứng phó kịp thời với diễn biến bất thường của thời tiết, giảm thiểu thiệt hại do thiên nhiên gây ra Đồng thời tạo điều kiện cho người dân vay vốn với lãi suất thấp để bà con yên tâm đầu tư Mặt khác, các cơ quan chức năng tạo điều kiện cho các hộ dân về diện tích mặt nước, giúp đỡ các gia đình giữ gìn trật tự, an toàn trên sông

2.4 Quy trình nuôi cá lồng

- Nuôi cá lồng bao gồm các quy trình sau:

2.4.1 Địa điểm đặt lồng

- Nuôi cá lồng trên sông phải có mực nước sâu trên 3m, lưu tốc dòng nước

không quá 0,3-0,5m/s, có nguồn nước sạch không bị nhiễm bẩn bởi nước thải sinh hoạt hoặc nước thải công nghiệp

- Môi trường nước phải đảm bảo pH từ 7,5-8,5; oxy hoà tan > 5mg/l

- Nuôi cá lồng trên sông nên chọn các điểm khuất gió và có nước lưu thông tốt, đáy lồng phải cách đáy sông hồ ít nhất 1m Không đặt lồng gần bờ có nhiều bóng cây, rong cỏ làm cá dễ bị thiếu oxy

- Nếu trong gia đình có nhiều lồng thì phải đặt cách nhau từ 3-5m và đặt so

le nhau để tăng lưu tốc dòng nước qua lồng

2.4.2 Cấu tạo lồng

- Lồng nuôi cá có thể tích từ 10-15m3, vật liệu làm khung lồng phải nhẵn để không làm cá bị tổn thương, khoảng cách giữa các thanh đảm bảo để không làm cản dòng nước, tăng khả năng lưu thông nước qua lồng và cho phép tất cả chất thải của

cá thoát ra ngoài dễ dàng

- Mặt đáy lồng đóng ván khít để giữ thức ăn trong lồng cho đến khi cá ăn hết Mặt trên của lồng phải làm chắc chắn để tránh thất thoát cá

Trang 27

- Lồng phải làm chắc chắn để tăng thời gian sử dụng, giữ cá không bị thất thoát và đủ độ bền chắc để chịu sức nặng toàn bộ lượng cá trong lồng

- Lồng được giữ nổi bằng hệ thống phao hoặc thùng nhựa gắn cố định vào khung lồng

2.4.3 Cá giống và mật độ thả

- Đối với cá Trắm: Kích cỡ cá giống: 0,5-0,7 kg/con, mật độ thả: 20 con/m3

- Đối với cá Rô phi: kích cỡ 5 - 6cm, trọng lượng 10-15g/con, mật độ thả: 120-200 con/m3

- Đối với cá chép: kích cỡ 5 - 6cm, trọng lượng 10-15g/con, mật độ thả:

- Đối với cá trắm

+ Thức ăn: Đối với thức ăn tinh cho cá ăn 2 lần/ngày vào các giờ cố định với lượng thức ăn từ 2-3% trọng lượng cá trong lồng và cho thức ăn vào khung cho ăn

+ Thức ăn xanh (gồm lá chuối, cỏ, lá ngô, rong ) với lượng 30% trọng lượng

cá, cho ăn 2 lần/ngày, nên cho thức ăn vào lồng từ từ để tránh thất thoát ra ngoài

- Cá chép và cá rô

+ Thức ăn dùng để nuôi đối tượng này là thức ăn chế biến, giai đoạn cá nhỏ dưới 300g có thể cho cá ăn thức ăn tự chế với hàm lượng đạm 22-30% hoặc thức ăn công nghiệp Giai đoạn cá trên 300g nên cho ăn thức ăn công nghiệp vì cá yêu cầu dinh dưỡng cân bằng Lượng thức ăn được điều chỉnh theo trọng lượng cá nuôi tránh tình trạng dư thừa ảnh hưởng đến môi trường cũng như hiệu quả kinh tế

Trang 28

+ Ðối với thức ăn tự chế phải chế biến có độ kết dính cao, tránh thất thoát khi cho cá ăn bằng cách cho ăn từ từ Thành phần dinh dưỡng cân đối do các chuyên gia dinh dưỡng thiết kế

2.5 Nội dung nghiên cứu phát triển nuôi cá lồng

2.5.1 Quy hoạch phát triển nuôi cá lồng

- Quy hoạch là một khâu rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển

kinh tế Mục đích của quy hoạch là sắp xếp và bố trí lại cho phù hợp với điều kiện sản xuất và tổ chức sản xuất hợp lý

- Nội dung quy hoạch cần cụ thể, xác định rõ ràng các vùng đủ điều kiện, đảm bảo tính khả thi, phù hợp với quy định hiện hành về điều kiện sản xuất, đạt được hiệu quả sau đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đảm bảo gắn kết giữa sản xuất và tiêu thụ

- Quy hoạch phát triển là yếu tố cực kỳ quan trọng quyết định tới sự phát triển bền vững Cơ sở cơ bản để xây dựng được một quy hoạch mang tính khoa học và khả thi là công tác nghiên cứu đánh giá về tiềm năng nguồn lợi và nhu cầu thị trường

2.5.2 Các hoạt động cho đầu tư trong phát triển nuôi cá lồng

- Trong những năm gần đây, Thị xã Mường Lay với lợi thế gần sông, sống,

hồ chứa đã nhận thấy được tiềm năng của nuôi cá lồng vừa tận dụng được lợi thế mặt nước, vừa cho sản phẩm chất lượng cao với nguồn thu nhập ổn định Do vậy, các hoạt động đầu tư cho nuôi cá lồng ngày càng được quan tâm và phát triển Ngành nuôi trồng thủy sản được sự quan tâm tạo điều kiện của chính quyền các cấp,

từ cấp tỉnh đến cấp huyện đều xác định nuôi trồng thủy sản, trong đó nuôi cá lồng đóng vai trò mũi nhọn phát triển kinh tế của địa phương

- Bằng cách tăng cường đầu tư, phát triển mở rộng vùng nuôi, quy hoạch lại vùng nuôi, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông tạo điều kiện cho các hộ vay vốn phục vụ sản xuất Tăng cường áp dụng các biện pháp KHKT, đảm bảo số lượng

và chất lượng con giống

2.5.3 Các mối quan hệ liên kết trong sản xuất

- Việc sản xuất theo công nghệ mới, sản xuất theo vùng tập trung có sự liên

kết giữa 4 nhà (Nhà nông, Nhà khoa học, Nhà nước và Nhà doanh nghiệp) đang là vấn đề được các nhà nông tiến bộ hiện nay áp dụng

Trang 29

- Nhà nông: Nông dân là những người trực tiếp nuôi cá lồng Trong tình hình hiện nay, đơn vị có thể làm tốt nhất vai trò trung gian giúp cho người dân chính là HTX Tổ chức này có thể đại diện cho các xã viên nông dân thương lượng về giá cả

và phương thức mua bán với DN

- Nhà nước: Nhà nước cần có chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho DN để họ chủ động giải quyết những vấn đề phát sinh trong mối liên kết Ví dụ: hỗ trợ lãi suất vay vốn, miễn thuế, khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, hỗ trợ trụ sở… Hỗ trợ như vậy để các DN khi tham gia vào chuỗi này họ cảm thấy yên tâm Bên cạnh đó, Nhà nước cần có cơ chế bảo hiểm trong trường hợp giá biến động lớn, đảm bảo quyền lợi hài hòa cho cả DN, nông dân Đối với nông dân, quy hoạch được vùng sản xuất hàng hóa đủ lớn, dễ dàng tiếp cận thị trường và đảm bảo đầu ra

- Nhà khoa học: Nhà khoa học giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình này nhằm giúp nông dân nâng cao năng suất, chất lượng, giảm chi phí sản xuất nhưng việc thiếu những cơ chế rõ ràng khiến vai trò của "nhà" này không được đề cao Sự tham gia của các nhà khoa học hiện nay còn ít và hạn chế

- Nhà Doanh nghiệp: DN là cơ sở sản xuất kinh doanh với mục đích kiếm lời

là chính Các DN hiện nay còn lo sợ đầu tư vào lĩnh vực nhiều rủi ro này Đặc biệt

là khu vực tư nhân, khó khăn lớn nhất chính là việc thiếu vốn, sự quan tâm hỗ trợ của các "nhà" khác, và lại phải chịu rủi ro cao khi ứng vốn cho nông dân Trong trường hợp xảy ra thiên tai hay các nguyên nhân bất khả kháng không trả được nợ,

DN phải kéo dài thời gian nợ ngân hàng làm tăng vốn vay, giá thành sản phẩm tăng ảnh hưởng đến hoạt động tài chính Vì vậy, DN khi ký hợp đồng còn ngần ngại đầu

tư cho sản xuất kinh doanh nông - lâm - ngư nghiệp vì đầu tư thì cao nhưng tỷ lệ rủi ro lớn

- Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất phải hướng tới tiêu dùng và lấy tiêu dùng làm mục tiêu để hoạt động sản xuất kinh doanh, người nông dân phải tự tìm thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình Vì thế mà tiêu thụ sản phẩm kịp thời và nhanh chóng là tiền đề quan trọng để thực hiện tốt phân phối sản phẩm và kết thúc quá trình sản xuất của nông hộ

Trang 30

2.5.4 Cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nuôi cá lồng

- Tất cả các hoạt động sản xuất đều dựa trên tình hình thực tế của thị trường

Đối với phát triển nuôi cá lồng, hệ thống chính sách và công tác quản lý là nhân tố hết sức quan trọng Các chính sách luôn là yếu tố quyết định cho sự phát triển Phát triển nuôi cá lồng phụ thuộc lớn vào nhiều chính sách của Nhà nước và cơ chế của từng địa phương cụ thể Chủ trương, chính sách đúng đắn sẽ tạo sự tin tưởng cho hộ nuôi cá lồng yên tâm đầu tư, đem lại kết quả, hiệu quả ngày càng cao và ổn định Đồng thời phải hình thành chính sách hỗ trợ đầu tư, chính sách tín dụng đầu tư, chính sách bảo hiểm, chính sách về tiêu thụ sản phẩm và nhiều chính sách khác Vì vậy, đòi hỏi đổi mới và hoàn thiện chính sách luôn là yêu cầu cấp bách đối với các ngành kinh tế nói chung và đối với phát triển nuôi cá lồng nói riêng

2.5.5 Yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nuôi cá lồng

- Nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi cá lồng nói riêng chịu ảnh hưởng rất

nhiều bởi các yếu tố Có nhiều yếu tố tác động đến phát triển nuôi cá, mỗi yếu tố có vai trò, vị trí nhất định, song tác động của chúng mang tính chất tổng hợp và bổ xung cho nhau Vì vậy, khi nghiên cứu và vận dụng cần có quan điểm toàn diện và tổng hợp mới đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể, cần thấy

rõ ý nghĩa của một yếu tố nào đó nổi nên như là yếu tố chủ yếu cần được nhấn mạnh thì kết quả sản xuất sẽ đạt kết quả, hiệu quả cao hơn

- Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nuôi cá lồng bao gồm:

Các yếu tố về

môi trường

Chất dinh dưỡng,

mật độ nuôi

Trang 31

- Nguồn vốn: Vốn là biểu hiện bằng giá trị của tài sản bao gồm máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nhà kho và cơ sở hạ tầng kỹ thuật nuôi cá, có tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất để tạo ra tổng số đầu ra của quá trình sản xuất Đối với phát triển nuôi cá lồng, vốn là nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng quy mô và nâng cao trình độ thâm canh Nuôi cá lồng yêu cầu có vốn đầu tư ban đầu lớn Năng suất, chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức quản lý sản xuất theo đúng yêu cầu của quy trình kỹ thuật Vì vậy, đòi hỏi người nuôi phải có đủ vốn

để xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư con giống tốt tất cả các khâu phải thực hiện đồng

bộ, hợp lý Vì vậy, việc huy động vốn và sử dụng vốn hiệu quả là nhân tố quyết định để phát triển sản xuất đạt hiệu quả cao

- Lao động: Trong nuôi cá lồng lao động là yếu tố hàng đầu Lao động gắn liền với lao động nông thôn và nông nghiệp Lao động trong nuôi cá lồng là những lao động vừa chuyên, vừa tận dụng, có cả lao động có kỹ thuật nuôi lâu năm kinh nghiệm, lao động được đào tạo, tập huấn nhưng đồng thời tỷ lệ lao động phổ thông cũng khá cao Do đó, việc phát triển nuôi cá lồng trong nông thôn có thể phát huy Các yếu tố về môi trường Lao động Phát triển nuôi cá lồng Chất dinh dưỡng, mật

độ nuôi, chăm sóc… Thị trường tiêu thụ Giống Nguồn vốn 20 được lao động có trình độ có kinh nghiệm, vừa có thể tận dụng được lao động dư thừa và tạo việc làm cho lao động nhàn rỗi trong nông thôn Vì vậy, việc sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn lao động trong nuôi cá lồng là hết sức quan trọng

- Giống: Giống là yếu tố quyết định hàng đầu trong nuôi trồng thủy sản cũng như nuôi cá lồng, nó quyết định thành bại trong việc nuôi cá lồng Con giống tốt và phù hợp sẽ có khả năng kháng bệnh cao, nhanh lớn, tăng nhanh khả năng chống chịu khi có

sự thay đổi về môi trường, giảm chi phí Vì vậy cần phải xác định, kiểm tra nguồn giống và lựa chọn giống phù hợp với điều kiện và môi trường nuôi cá lồng

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Thị trường là yếu tố quan trọng đối với bất

kỳ ngành sản xuất hàng hoá nào Đối với nuôi cá lồng thì thị trường tiêu thụ sản phẩm luôn có vai trò quyết định đến việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá ngày càng cao Do tính đa dạng của nhu cầu thị trường tác động, làm cho sản xuất biến đổi về mặt cơ cấu sản phẩm để phù hợp với tính đa dạng của nhu cầu thị trường Cũng như các thị trường nông sản hàng hoá khác, thị trường sản

Trang 32

phẩm cá lồng là thị trường đa cấp bao gồm: cấp cơ sở, cấp địa phương, cấp trong nước và cấp ngoài nước, hay cấp thị trường bán buôn, bán lẻ, tiêu dùng, Trong những năm qua, cùng với sự tăng trưởng và phát triển nhanh của nền nông nghiệp, thị trường nông sản nói chung và thị trường sản phẩm cá nói riêng cũng có những chuyển biến mạnh mẽ Việc lưu thông hàng hoá diễn ra thuận lợi, thông thoáng hơn Xét trong mối quan hệ sản xuất, đó vừa là kết quả của sự phát triển sản xuất nuôi và đánh bắt cá vừa là yếu tố quan trọng nhằm thúc đẩy ngành cá phát triển

- Chất dinh dưỡng, mật độ nuôi, cách quản lý, chăm sóc: Các yếu tố này chiếm nhiều thời gian nhiều nhất, quyết định đến dự thành bại của nghề nuôi trồng thủy sản Nếu không đầy đủ chất dinh dưỡng, cá sẽ chậm phát triển Mật độ cá nuôi trong lồng cũng ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của cá Nếu thả con giống quá ít sẽ ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch Nếu thả quá nhiều con giống, cá sẽ không có

đủ môi trường để phát triển Quá trình quản lý, chăm sóc cá sẽ thể hiện ở năng suất cũng như chất lượng sản phẩm

- Môi trường vùng nuôi cá lồng: Nuôi cá lồng có đặc tính là yêu cầu khắt khe

về điều kiện môi trường và chịu tác động lớn của môi trường Vì vậy, trong phát triển nuôi cá lồng nếu không chú ý tới quản lý môi trường vùng nuôi, để môi trường vùng nuôi bị ô nhiễm sẽ dẫn tới việc đối tượng nuôi bị dịch bệnh và chết hàng loạt, gây thất thu lớn cho người nuôi

2.5.6 Bài học và kinh nghiệm rút ra từ các nước tiên tiến trên thế giới trong phát triển và chăn nuôi cá lồng

Nghề nuôi cá bằng lồng là một nghề nuôi trồng thuỷ sản mới được phát triển mạnh trong một vài năm trở lại đây Với nhiều ưu điểm so với nuôi trong ao như nước thường xuyên được thay đổi nên có thể nuôi cá ở mật độ cao; môi trường nuôi

cá sạch, không bị ô nhiễm bởi các chất thải của cá nên cá lớn nhanh; hao hụt ít, hạn chế được dịch hại; chăm sóc, quản lý, thu hoạch thuận lợi; năng suất cao… Đặc biệt

là do tận dụng môi trường tự nhiên nên chất lượng thịt cá thơm ngon, được khách hàng ưa chuộng Vì vậy hiện nay tại Việt Nam, nghề nuôi cá bằng lồng trên hồ chứa

và sông đã phát triển rộng rãi từ miền Bắc tới miền Nam, riêng diện tích nuôi cá lồng bè tại các tỉnh miền núi phía Bắc năm 2013 đã là 3.408 lồng, đạt sản lượng 5.689 tấn Đây là một nghề mới mang lại hiệu quả kinh tế cao mà tiết kiệm được rất

Trang 33

nhiều diện tích mặt nước Phát triển cá lồng là một trong những chương trình thủy sản quan trọng đang được Chi cục Thủy sản tỉnh Phú Thọ triển khai ở các địa phương có điều kiện phù hợp Tuy nhiên, để phát triển cá lồng một cách bền vững thì cần phải có sự quy hoạch chi tiết đối với từng địa phương và phổ cập kỹ thuật chăn nuôi cho người dân 32 Nghề nuôi cá lồng có nhiều tiềm năng và lợi thế Đây

là một mô hình mới, có khả năng nhân rộng và phát triển phù hợp với điều kiện tự nhiên của huyện Qua bốn năm triển khai đã khẳng định mô hình nuôi cá lồng ở huyện Tam Nông mang lại lợi nhuận kinh tế cao cho hộ nuôi, mở ra một hướng đi mới trong phương thức nuôi trồng thủy sản của huyện Phát triển nghề nuôi cá lồng vừa tận dụng được tài nguyên đất, nguồn nước, vừa giải quyết bài toán việc làm, tăng thu nhập cho hộ nông dân Do vậy, chính quyền địa phương cần có những bước đi mạnh mẽ và quyết liệt hơn để giúp đỡ người dân địa phương mình phát triển nghề nuôi cá lồng để nâng cao đời sống, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, việc phát triển nghề nuôi cá lồng và khai thác các nguồn thủy lợi sẵn có của vùng cũng phải đi đôi với tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chặt chẽ để tránh làm ô nhiễm nguồn nước, gây dịch bệnh cho thủy sản và khai thác cạn kiệt nguồn lợi tự nhiên, đảm bảo vừa tăng thu nhập vào ngân sách địa phương cũng như phát triển việc nuôi cá lồng một cách bền vững

Trang 34

PHẦN 3 THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH

NUÔI CÁ LỒNG TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ MƯỜNG LAY

3.1 Nội dung nghiên cứu

 Đánh giá thực trạng, kết quả, hiệu quả của mô hình nuôi cá lồng tại Thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên

 Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả nghề nuôi cá lồng

 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá lồng

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp là nguồn số liệu sẵn có, được tôi thu thập từ các nguồn sau,

để phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài của mình

- Phòng kinh tế TXML về các số liệu nuôi trồng thủy sản của các khu, các báo cáo kinh tế-xã hội năm 2016, 2017, 2018 năm 2014

- Phòng Nông nghiệp và KN - KN TXML về các số liệu liên quan đến hoạt động nuôi trồng thủy sản của huyện Quảng Điền trong 3 năm 2016, 2017, 2018

- Các số liệu về hoạt động nuôi trồng thủy sản được thu thập từ trang web tổng cục thống kê Việt Nam

3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp là nguồn số liệu được thu thập thông qua bảng hỏi điều tra của

50 hộ nuôi cá trắm cỏ trong lồng tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Bảng hỏi điều tra được thiết kế dựa vào nguồn số liệu thứ cấp và sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn Bảng hỏi điều tra các thông tin:

- Thông tin chung của các hộ điều tra: tuổi, trình độ văn hóa, hoạt động vay vốn, lao động, tình hình đầu tư trang thiết bị phục vụ sản xuất cá trắm cỏ…

- Thông tin về cá loại chi phí: chi phí xây dựng lồng nuôi, chi phí mua giống, chi phí đầu tư thức ăn, chi phí về công lao động,…

- Thông tin về hoạt động nuôi cá như hộ có bao nhiêu lồng, năng suất, sản lượng, giá bán là bao nhiệu,… Các số liệu trê sau khi được thu thập tôi tiến hành xủ

Trang 35

lí qua phần mền excell, SPSS, để biến nguốn số liệu sơ cấp thành thứ cấp, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu của mình

3.2.3 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã tiến hành trao đổi tham khảo ý kiến của các cán bộ ở cơ quan chức năng của địa phương như: phòng thống kê, phòng khuyến nông - khuyến ngư, phòng Nông Nghiệp, phòng kinh tế trao đổi và thảo luận với các hội nuôi, từ đó bổ sung và hoàn thiện nội dung cũng như kiểm chứng kết quả nghiên cứu của mình

Trang 36

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

4.1.1 Tình hình cơ bản của thị xã Mường Lay

4.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

a) Vị trí địa lí

 Thị xã được chia thành 3 vùng chính:

Địa hình

Thị xã Mường Lay có địa hình đa dạng, phức tạp Đồi núi cao, độ dốc lớn và

bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối nhiều (5,5 - 6km/km2) Độ dốc tự nhiên lớn hơn 250 chiếm hơn 90% tổng diện tích của Thị xã, hướng dốc chính thấp dần về phía Bắc (sông Đà) Độ cao trung bình 510m, nơi thấp nhất là 169,43m (khu vực ven sông Đà), nơi cao nhất là 1.150m

Thị xã được chia ra làm 3 vùng:

- Vùng đồng bằng: Phân bố dọc theo suối Nậm Lay, được hình thành do quá

trình bồi đắp lâu dài của suối Nậm Lay, có địa hình bằng phẳng, rất thích hợp để canh tác lúa nước

- Vùng núi thấp: Tiếp giáp với vùng đồng bằng, độ cao trung bình từ 300 - 700m, bao gồm các dãy núi song song và so le với nhau Cấu tạo địa chất của dạng địa hình này chủ yếu là tầng trầm tích dày gồm đá phiến sét xen kẽ bột kết và cát kết Địa hình đồi núi thấp khá chia cắt, hiểm trở, thích hợp để phát triển lâm nghiệp, cây lâu năm và đồng cỏ chăn nuôi gia súc

- Vùng núi trung bình và cao: Tiếp giáp với vùng núi thấp, độ cao trên 700m

là đầu nguồn của các con suối nhỏ thuộc lưu vực sông Đà và suối Nậm Lay, cấu tạo địa chất chủ yếu là đá macma axit (granit), đá phiến sét, đá vôi và đá biến chất, thích hợp để phát triển lâm nghiệp

- Thị xã Mường Lay có diện tích tự nhiên 11.403,50 ha Đất sản xuất nông nghiệp chiếm 1.852,97 ha, ngoài trồng lúa nước truyền thống, người dân còn phát triển trồng lúa nương, các loại cây hoa màu, cây lương thực khác và các loại cây ăn

Trang 37

quả Đất lâm nghiệp chiếm 4.602,3 ha, chủ yếu là rừng phòng hộ, hình thức khai thác phổ biến là khoanh nuôi và bảo vệ rừng

Sông suối

- Đặc thù sông suối ở đây độ dốc lớn, có lượng dòng chảy lớn, không đều,

giảm dần từ Bắc xuống Nam Thị xã nằm trong thung lũng hẹp, dài, nơi ngã ba giao cắt của các con sông: Sông Đà, sông Nậm Na và suối Nậm Lay Phần lớn đất đai Thị xã thuộc lưu vực của suối Nậm Lay

- Sông Đà bắt nguồn từ núi Ngụy Sơn của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), qua huyện Mường Tè (tỉnh Lai Châu) - Thị xã Mường Lay - huyện Tủa Chùa rồi chảy

về Sơn La, theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Do địa hình trên lưu vực sông Đà chủ yếu là núi cao, độ dốc lớn và có sức nước chảy xiết nên sông Đà được các nhà nghiên cứu xếp vào loại “sông hung dữ bậc nhất ở Đông Dương” Các dãy núi chạy sát bờ sông đã khiến cho thung lũng sông hẹp, có nhiều thác, ghềnh Các lưu vực của sông nhỏ, độ dốc của lưu vực, cũng như độ dốc lòng sông lớn, lại nằm trong khu vực có lượng mưa lớn và lớp thảm thực vật bị tàn phá nặng nề chưa được phục hồi; điều đó dẫn đến mức độ tập trung nước nhanh, là tiền đề gây nên những trận lũ quét lớn, làm thiệt hại lớn về tính mạng và tài sản Dòng lũ sông Đà có môđun dòng chảy lớn nhất Việt Nam, đoạn từ Lai Châu đến Hoà Bình có M0 = 4.00l/s/km2 Bên cạnh đó, dòng sông cũng tạo nên một cảnh quan sông núi hữu tình, cùng với cây cầu Hang Tôm đã làm nên vẻ đẹp của Thị xã, tạo điều kiện thuận lợi để Thị xã phát triển về du lịch

- Sông Nậm Na bắt nguồn từ nhiều nhánh nhỏ, nhưng chủ yếu là từ hai nhánh: Nhánh thứ nhất bắt nguồn từ dãy Hoàng Liên Sơn chảy xuống vùng thung lũng Bình Lư - Tam Đường (Lai Châu), xuôi về Mường So (Phong Thổ); nhánh thứ hai bắt nguồn từ Kim Thuỷ Hà (Trung Quốc) chảy qua Nậm Cúm hợp với nhánh kia ở huyện Phong Thổ Từ đây, Nậm Na đã tích đủ một lượng nước lớn, chảy qua

vô vàn những ghềnh đá hộc to bằng cả gian nhà và xẻ đứt hoàn toàn sườn tây dãy Hoàng Liên Sơn rồi hợp lưu với sông Đà tại Thị xã Mường Lay Đây là con sông đã từng chứng kiến những chiến tích “xưa nay chưa ai dám làm” của quân và dân địa phương ở dọc hai bên bờ sông: Giúp bộ đội công binh phá được gần 100 cái thác trong đó có 9 cái lớn nhất, 100 km đường sông đã được khai thông; một khối lượng

Trang 38

lớn lương thực, thực phẩm được chuyển từ Pa Nậm Cúm (Phong Thổ) qua thị trấn Mường Lay về huyện Điện Biên để phục vụ kịp thời cho chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi

- Suối Nậm Lay nằm trong lòng Thị xã, chảy từ Mường Tùng, huyện Mường Chà về Thị xã Năm 1990 và năm 1996, dòng suối đã từng chứng kiến những trận lũ lịch sử kinh hoàng làm thiệt hại lớn về tính mạng và tài sản của nhân dân Đây cũng

là một trong những nguyên nhân chính mà năm 1995 các cơ quan tỉnh lỵ phải di chuyển về Thị xã Điện Biên Phủ

Hệ thống sông suối của Thị xã đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy điện và phục vụ cho sinh hoạt của nhân dân

Khí hậu

- Khí hậu Thị xã thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa miền Bắc Việt Nam Là vùng núi cao đón gió Tây và Đông Nam, khí hậu mang nét đặc trưng của khí hậu nội địa Mùa hè chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam (gió Lào) khô và nóng, được che chắn bởi dãy Hoàng Liên Sơn nên ít bị ảnh hưởng của bão và gió mùa Đông Bắc Hàng năm có hai mùa rõ rệt: Mùa đông tương đối lạnh, ít mưa và sương muối, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3năm sau Mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 10 nóng, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình cả năm 230C, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm 26,60C (tháng 8), nhiệt độ trung bình thấp nhất 17,20C (tháng 1), nhiệt

độ cao nhất 380C - 42,50C, nhiệt độ thấp nhất đến 3,40C Biên độ nhiệt ngày trung bình năm là 9,90C, cao nhất 13,10C (tháng 3), thấp nhất 7,50C (tháng 7) Các tháng

có nhiệt độ trung bình dưới 200C (phổ biến từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau), các tháng có nhiệt độ trung bình >250C (phổ biến từ tháng 5 đến tháng 9) và chỉ xảy ra

ở những khu vực có độ cao <500 m

- Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.066,1mm, mưa tập trung theo mùa Tháng 7 có lượng mưa trung bình cao nhất (434,1mm), tháng 12 lượng mưa trung bình thấp nhất (20,6mm) Mùa mưa, lượng mưa chiếm khoảng 87% tổng lượng mưa cả năm, mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Số ngày mưa trung bình cả năm là 144,1 ngày, số ngày mưa trung bình trong tháng mùa mưa 18,4 ngày/tháng, tháng mùa khô 5,5 ngày/tháng, tháng 1 có số ngày mưa ít nhất 4,1 ngày Trên địa bàn Thị xã cũng xuất hiện mưa phùn, mưa đá và dông: Số ngày mưa

Trang 39

phùn trung bình cả năm là 16,4 ngày, tháng 12 có số ngày mưa phùn cao nhất 5,1 ngày/tháng, tháng 5 không xuất hiện Mưa đá thường xuất hiện vào cuối mùa khô (tháng 3,4) Số ngày có dông tại Thị xã cao nhất tỉnh Điện Biên 70,3 ngày/năm, tháng 5 có số ngày dông cao nhất trung bình 12,8 ngày/tháng, tháng 12 ít dông nhất 0,3 ngày/tháng Độ ẩm trung bình năm 82%, tháng 7 có độ ẩm cao nhất là 87%, tháng 3 có độ ẩm thấp nhất 75% Lượng bốc hơi hàng năm từ 807mm - 895mm, thấp nhất là 600mm

- Yếu tố gió phụ thuộc vào địa hình rất nhiều, song nhìn chung có 3 hướng gió chính: gió Đông Nam, gió mùa Đông Bắc và gió Tây Nam vào mùa hè Vận tốc gió trung bình từ 1 - 1,9 m/s, tốc độ gió lớn nhất 28m/s Số giờ nắng trung bình cả năm 1.962 - 1.986 giờ Sương mù trung bình cả năm là 41,1 ngày, tháng 12 có số ngày sương mù lớn nhất 11,9 ngày/tháng, tháng 6 và 7 có số ngày sương mù ít nhất 0,03 ngày/tháng Ở Thị xã Mường Lay sương muối xuất hiện không nhiều từ 1 - 3 ngày trong năm, song đã ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là gây tác hại đến một số loại cây nhiệt đới ưa nóng Ngoài ra trên địa bàn Thị xã còn chịu tác động của mưa đá làm ảnh hưởng đến các loại cây trồng, hoa màu và rau xanh

Thủy văn

- Là khu vực chịu tác động trực tiếp của sông Đà cũng như hệ thống sông

suối thượng nguồn của dòng sông này Cùng với dự án thủy điện Sơn La là các dự

án thủy điện Nậm Nhùn, thủy điện Nậm He, thủy điện Nậm Na và các dự án thủy lợi đang nghiên cứu triển khai đầu tư, khi hoàn thành sẽ ảnh hưởng lớn đến thủy văn trên địa bàn Thị xã trong tương lai Hệ thống sông suối của Thị xã là điều kiện thuận lợi để phát triển thủy điện với nhà máy thủy điện Nậm Cản 120KW trong tổng công suất phát điện 18.140KW của tỉnh, góp phần đảm bảo điện cho sản xuất

và tiêu dùng của Thị xã

Thổ nhưỡng

- Thị xã Mường Lay thuộc đới đứt gãy Điện Biên - Lai Châu có khả năng

xảy ra động đất lớn; cấu trúc đất đá ở khu vực cũng hết sức phức tạp bao gồm nhiều nhóm khác nhau Đất đai của Thị xã gồm 6 loại đất chính:

Đất cát ven sông suối: Diện tích 6,39 ha, chiếm 0,36%, phân bố thành những dải nhỏ hẹp ven suối Nậm Lay và thường bị ngập nước vào mùa mưa

Ngày đăng: 06/07/2020, 15:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w