1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh yên bái thực trạng và giải pháp

75 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò cầu nối của Quỹ được thực hiện dưới hình thức: Quỹ BLTD thẩm định dự án, nếu dự án mang lại hiệu quả và có tính khả thi thì Quỹ sẽ giới thiệu doanh nghiệp đến tổ chức tín dụng có

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHAN THUỲ DUNG

Tên đề tài:

BẢO LÃNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Ngành : Kinh tế nông nghiệp

Khóa học : 2015 – 2019

Thái Nguyên - năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PHAN THUỲ DUNG

Tên đề tài:

BẢO LÃNH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA NHỎ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH YÊN BÁI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Ngành : Kinh tế nông nghiệp

Khóa học : 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn : TS Đỗ Xuân Luận

Thái Nguyên - năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và phát triển nông thôn và thầy giáo hướng dẫn TS Đỗ Xuân Luận tôi

đã tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp “Bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp

vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Yên Bái: Thực trạng và giải pháp”

Để hoàn thành được khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình nghiên cứu và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn TS Đỗ Xuân Luận đã tận tình, chu đáo, hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ

để tôi có thể hoàn thành tốt kỳ thực tập tốt nghiệp trong thời gian tôi thực tập tại

Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Phan Thuỳ Dung

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

BLTD DNVVN ĐVSXKD

TW TCTD SXKD NHTM UBND

TP

Nghĩa đầy đủ

Bảo lãnh tín dụng Doanh nghiệp vừa và nhỏ Đơn vị sản xuất kinh doanh Trung Ương

Tổ chức tín dụng Sản xuất kinh doanh Ngân hàng thương mại

Ủy ban Nhân dân Thành phố

Trang 5

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Bảng 3.1 Thu thập dữ liệu và thông tin thứ cấp 30

Sơ đồ 1: Quy trình bảo lãnh tín dụng tại Quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái 37

Biểu đồ 4.3.1 Số lượng hợp đồng bảo lãnh tín dụng của Quỹ BLTD 44

từ năm 2005 đến 2009 44

Biểu đồ 4.2.2 Bình quân giá trị bảo lãnh tín dụng của Quỹ BLTD 45

từ năm 2005 đến năm 2009 45

Biểu đồ 4.3.3 Số lượng hợp đồng bảo lãnh tín dụng của Quỹ BLTD 46

từ năm 2010 đến 2017 46

Biểu đồ 4.2.4 Bình quân giá trị bảo lãnh tín dụng của Quỹ BLTD 47

từ năm 2010 đến năm 2017 47

Trang 6

MỤC LỤC

Phần 1.MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục tiêu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

2.3 Ý nghĩa 2

2.3.1.Ý nghĩa học tập 2

2.3.2.Ý nghĩa thực tiễn 2

Phần 2.CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 3

2.1.2 Quỹ bảo lãnh tín dụng 9

2.2 Cơ sở thực tiễn 25

2.2.1 Tình hình thế giới 25

2.1.2 Bài học kinh nghiệm về bảo lãnh tín dụng rút ra ở Việt Nam 26

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.1 Đối tượng nghiên cứu 29

3.2 Phạm vi nghiên cứu 29

3.3 Nội dung nghiên cứu 29

3.4 Phương pháp thu thập thông tin 29

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

4.1 Khái quát về cơ sở thực tập: 33

4.1.1 Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã của tỉnh Yên Bái năm 2017: 33

4.1.2 Quá trình hình thành Quỹ BLTD 34

4.1.3 Tổ chức bộ máy: 35

Trang 7

4.1.4 Thực trạng các quy định bảo lãnh tín dụng

của quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái 35

4.1.5 Quy trình bảo lãnh tín dụng của Quỹ 36

4.1.6 Hoạt động của quỹ: 40

4.2 Đánh giá kết quả bảo lãnh tín dụng tác dụng đến khách hàng

của Quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái 42

4.2.1 Về đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp và các hộ sản xuất kinh doanh 42

4.2.2 Kết quả tư vấn và hỗ trợ khách hàng tại Quỹ bảo lãnh tín dụng Yên Bái 42

4.2.3 Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được cấp BLTD 43

4.3 Thực trạng và kết quả hoạt động bảo lãnh tín dụng

tại Quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái 43

4.3.1 Kết quả hoạt động bảo lãnh tín dụng tại Quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái 43

4.3.2 Đánh giá chung 47

4.4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động bảo lãnh tín dụng

của quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái 48

4.4.1 Quy định của nhà nuớc về hoạt động bảo lãnh của quỹ bảo lãnh tín dụng và chính quyền địa phương 48

4.4.2 Yếu tố thuộc về quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái 53

4.4.3 Các yếu tố thuộc về bản thân khách hàng 54

4.5 Định hướng và giải pháp phát triển bảo lãnh tín dụng

tại quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái 56

4.5.1 Định hướng 56

4.5.2 Giải pháp phát triển bảo lãnh tín dụng tại quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái 56 Phần 5.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

5.1.Kết luận 60

5.2 Kiến nghị 61

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong nước đang gặp nhiều khó khăn, sản xuất kinh doanh đình đốn, khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn với lãi suất thấp, đặc biệt là những doanh nghiệp không có hoặc có ít tài sản thế chấp dẫn đến có rất nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, tạm dừng hoạt động hoặc giải thể, phá sản Chính vì vậy nhằm gián tiếp hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ

và vừa mà chính phủ đã thành lập nên quỹ bảo lãnh tín dụng Quỹ bảo lãnh tín dụng giúp các doanh nghiệp tháo gỡ vướng mắc, tạo động lực duy trì, ổn định sản xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm cho lao động địa phương

Quỹ bảo lãnh tín dụng là một mô hình mới, lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam nên gặp phải rất nhiều khó khăn Đến nay, theo những quy định hiện hành, những vấn đề cụ thể như đối tượng bảo lãnh, tỷ lệ bảo lãnh, phí bảo lãnh vẫn chưa được phân loại chi tiết Quỹ cũng chưa có kinh nghiệm trong việc thẩm định các dự dự án kinh doanh cần bảo lãnh, quy trình xin cấp bảo lãnh cũng chưa được thuận tiện

Theo chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh, năm 2005 quỹ Bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái được thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng Yên Bái đã trở thành người bạn đồng hành, hỗ trợ và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cường nguồn lực, thúc đẩy sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, Quỹ vẫn chưa hoạt động hiệu quả, chưa góp phần giúp các DNVVN phát triển Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh Yên Bái: Thực trạng và giải pháp”

Trang 9

2 Mục tiêu

2.1 Mục tiêu chung

Thông qua việc nghiên cứu thực trạng, vai trò của quỹ bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, những tồn tại của quỹ bảo lãnh tín dụng, để từ đó đưa ra giải pháp phù hợp nhằm tăng cường cung ứng tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua quỹ bảo lãnh của tỉnh Yên Bái

Giúp sinh viên củng cố lý thuyết, rèn luyện kỹ năng đã học

Giúp sinh viên nắm được phương pháp học, phương pháp làm việc nghiên cứu khoa học trong thực tiễn Trong quá trình thực hiện đề tài, giúp sinh viên có điều kiện học hỏi, củng cố kiến thức thông qua các cán bộ quản lý, các cán bộ chuyên môn tại cơ quan mình thực tập để sau khi ra trường sẽ thực hiện tốt công việc với đúng chuyên nghành của mình

2.3.2.Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài sẽ là cơ sở cho các cấp chính quyền địa phương, các nhà đầu tư đưa ra những quyết định mới, hướng đi để xây dựng các kế hoạch phát triển, mở rộng mô hình trên địa bàn cũng như những khu vực khác

Trang 10

Phần 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

a Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo mục 7 điều 1 chương 1 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được cấp giấy đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường.”

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự, hoạt động kinh tế theo chế độ hoạch toán tự động, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế và chịu sự quản lý của Nhà nước, bởi luật Doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật Nói cách khác doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được thành lập và tổ chức sản xuất ra sản phẩm để kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ, kể cả những sản phẩm hàng hóa không do mình làm ra nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường và kết quả thu về là lợi nhuận, tích lũy được vốn để tiếp tục tái đầu tư phát triển kinh doanh ngày càng cao hơn

Loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển khá phổ biến ở các nước đang phát triển, nhất là ở các nước trong khu vực ASEAN Ở Việt Nam, nhóm doanh nghiệp này vị thế quan trọng trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Có nhiều định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa: Theo hầu hết các nước trên thế giới, doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa là doanh nghiệp

có tư cách pháp nhân, thực hiện hoạt động kinh doanh với số vốn và lực lượng lao động có quy mô nhỏ và trung bình so với các doanh nghiệp có quy mô lớn khác

Ở Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa được định nghĩa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo luật pháp hiện hành, có vốn đăng

Trang 11

kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 200 người (theo định nghĩa công văn 681/CP – KTN ngàu 20 tháng 6 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ)

Theo điều 3 của Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ thì doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa như sau: doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người

Theo định nghĩa này, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô nhỏ và vừa đăng kí kinh doanh theo Luật doanh nghiệp Nhà nước, các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ và vừa được đăng kí theo Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh theo hình thức hộ kinh doanh cá thể được điều chỉnh bởi quy định của Chính phủ

Theo điều 3 Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 6 năm 2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, thì: ” Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở kinh doanh đã đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”

Tóm lại, doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, xét trên tiêu chí doanh thu, số lượng lao động bình quân hoặc nguồn vốn kinh doanh xét trên các quy tắc phân loại quy mô của các loại hình doanh nghiệp

b Đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa

Thứ nhất, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Theo Viện Phát triển doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2011), Việt Nam có 543.963 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 97%, đóng góp hơn 40% GDP cả nước và sử dụng 51% tổng số lao động xã hội

Trang 12

Thứ hai, doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô vốn nhỏ, gặp khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn chính thức, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Điều này là một cản trở không nhỏ trong việc triển khai, áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ mới vào hoạt động thương mại nói chung và xúc tiến thương mại trực tuyến nói riêng

Thứ ba, doanh nghiệp vừa và nhỏ chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các công

ty, tập đoàn lớn và từ chính các doanh nghiệp với nhau Trong quá trình hội nhập, các tập đoàn lớn thường có xu hướng vươn mình ra thế giới, thành lập các chi nhánh, công ty con ở các quốc gia có nhiều lợi thế, vì vậy, các doanh nghiệp vừa

và nhỏ ở các quốc gia này phải tìm ra những phương thức, công cụ mới trong hoạt động kinh doanh

Thứ tư, với nguồn vốn nhỏ hẹp, các doanh nghiệp này thường tập trung vào các ngành hàng gần gũi với người tiêu dùng hơn là đầu tư vào các ngành công nghiệp nặng, sản xuất khai thác cần nhiều vốn Ở Việt Nam, theo Cục xúc tiến thương mại (2012) trong cơ cấu ngành nghề, khoảng 43% doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, 24% trong lĩnh vực thương mại và phân phối, số còn lại hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và liên quan đến nông nghiệp

c Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế nhiều thành phần

Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước, kể cả các nước có trình độ phát triển cao Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay thì các nýớc ðều chú ý hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm huy động tối đa các nguồn lực và hỗ trợ cho DN lớn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm

Đối với Việt Nam thì vị trí doanh nghiệp vừa và nhỏ lại càng quan trọng Điều này thể hiện rõ nét nhất trong những năm gần đây Cụ thể:

Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các doanh nghiệp: Trong các loại hình sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay doanh nghiệp vừa và nhỏ có sức lan tỏa trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Theo tiêu chí mới, doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 93% tổng số các doanh nghiệp gồm các hình thức: Doanh nghiệp Nhà nước, DNTN, Công ty Cổ phần,

Trang 13

doanh nghiệp có vốn đầu tư Nước ngoài Có thể nhận định rằng hầu hết các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ

Doanh nghiệp vừa và nhỏ là nơi tạo ra việc làm chủ yếu ở Việt Nam: Thực tế trong những năm qua, đã cho thấy toàn bộ các doanh nghiệp vừa

và nhỏ, đặc biệt là phần lớn các doanh nghiệp thuộc khu vực ngoài quốc doanh

là nguồn chủ yếu tạo ra công ăn việc làm cho tất cả các lĩnh vực

Cụ thể từ số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy: Các doanh nghiệp vừa

và nhỏ tuyển dụng gần 1 triệu lao động chiếm 49% lực lượng lao động trên phạm

vi cả nước;

Ở các tỉnh duyên hải miền Trung số lao động làm việc tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ so với số lao động trong tất cả các lĩnh vực chiếm cao nhất trong cả nước (67%); Đông Nam Bộ có tỷ lệ thấp nhất (44%) so với mức trung bình của

cả nước

Qua đó, chúng ta có thể thấy các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra phần lớn các công việc ở Việt Nam, đáp ứng nhu cầu việc làm của người dân, góp phần tạo ra thu nhập và nâng cao mức sống cho người dân

Hình thành và phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động:

Sự xuất hiện và khả năng phát triển của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào những nhà sàng lập ra chúng

Do đặc thù là số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ là rất lớn và thường xuyên phải thay đổi để thích nghi với môi trường xung quanh, phản ứng với những tác động bất lợi do sự phát triển, xu hướng tích tụ và tập trung hóa sản xuất

Sự sáp nhập, giải thể và xuất hiện các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường xuyên diễn ra trong mọi giai đoạn Đó là sức ép lớn buộc những người quản lý

và sáng lập ra chúng phải có tính linh hoạt cao trong quản lý và điều hành, dám nghĩ, dám làm và chấp nhận sự mạo hiểm Chính sự có mặt của đội ngũ những người quản lý này cùng với khả năng, trình độ, nhận thức của họ về tình hình thị trường và khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh sẽ tác động lớn đến hoạt động của từng doanh nghiệp vừa và nhỏ Họ luôn là những người đi đầu trong đổi mới,

Trang 14

tìm kiếm phương thức mới, đặt ra nhiệm vụ chuyển đổi cho phù hợp với môi trường kinh doanh Đối với một quốc gia thì sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào sự có mặt của đội ngũ này, và chính đội ngũ này sẽ tạo ra một

cơ cấu kinh tế năng động, linh hoạt phù hợp với thị trường

Khai thác và phát huy tốt các nguồn lực tại chỗ

Từ các đặc trưng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ

đã tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế về địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã có mặt ở hầu hết các vùng, địa phương Chính điều này đã giúp cho doanh nghiệp tận dụng và khai thác tốt các nguồn lực tại chỗ Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã sử dụng gần 1/2 lực lượng sản xuất lao động phi nông nghiệp (49%) trong cả nước, và tại một số vùng nó đã sử dụng tuyệt đại

đa số lực lượng sản xuất lao động phi nông nghiệp Ngoài nguồn lao động, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn sử dụng nguồn tài chính của dân cư trong vùng, nguồn nguyên liệu trong vùng để hoạt động sản xuất kinh doanh

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang là động lực cho phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm và huy động nguồn vốn trong nước… Vì những lý do đó, việc khuyến khích, hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ là giải pháp quan trọng để thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nhằm đảm bảo cho

sự phát triển bền vững của nền kinh tế nước ta

d Khái niệm bảo lãnh tín dụng

Khái niệm về bão lãnh:

Trong pháp luật dân sự nước ta khái niệm bảo lãnh được nêu trong điều 366

Bộ luật Dân sự: “ Bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là người được bảo lãnh), nếu khi đến hạn mà nguời được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ ” Trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế: “ Bảo lãnh tài sản là sự bảo đảm bằng tài sản thuộc quyền

sở hữu của người nhận bảo lãnh để chịu trách nhiệm tài sản thay cho người được bảo lãnh khi người này vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết ” Từ đó ta đưa ra

khái niệm chung về bảo lãnh như sau: “Bảo lãnh là sự cam kết của người nhận

Trang 15

bảo lãnh sẽ thực hiện đầy đủ các nghiã vụ và quyền lợi nếu người xin bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với bên yêu cầu bảo lãnh”

Hoạt động bảo lãnh ngày nay được phát triển phong phú và đa dạng trong mọi mặt của nền kinh tế xã hội Để phân loại, người ta dựa vào một số các tiêu thức như:

-Dựa trên chủ thể bảo lãnh:

+Bảo lãnh nhà nước với doanh nghiệp

+Bảo lãnh công ty mẹ với công ty con

+ Bảo lãnh của ngân hàng với doanh nghiệp

- Dựa trên mục đích kinh tế:

+Bảo lãnh vì mục đích kinh tế

+Bảo lãnh vì mục đích phi kinh tế

e Khái niệm về hoạt động bảo lãnh tín dụng:

Hoạt động bảo lãnh tín dụng là cam kết bằng văn bản của bên bảo lãnh với

tổ chức tín dụng cho vay vốn (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ trả

nợ thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ cam kết với bên nhận bảo lãnh Bên được bảo lãnh phải nhận nợ bắt buộc và hoàn trả cho bên bảo lãnh số tiền đã được trả thay Nguyên lý hoạt động cơ bản của Quỹ BLTD là Quỹ thực hiện vai trò cầu nối giữa tổ chức tín dụng với DNNVV trong việc thẩm định dự án của doanh nghiệp để kiến nghị ngân hàng cho vay Vai trò cầu nối của Quỹ được thực hiện dưới hình thức: Quỹ BLTD thẩm định dự án, nếu dự án mang lại hiệu quả và có tính khả thi thì Quỹ sẽ giới thiệu doanh nghiệp đến tổ chức tín dụng có phối hợp

để tiếp cận với nguồn vốn tín dụng, Quỹ bảo lãnh cho những doanh nghiệp còn thiếu tài sản thế chấp và trả nợ thay cho các doanh nghiệp nếu doanh nghiệp chưa

có khả năng trả nợ Các DNNVV luôn có nhu cầu về vốn rất lớn để đầu tư xây dựng nhà xưởng, đối mới công nghệ, xúc tiến thương mại, nâng cao trình độ quản

lý, đào tạo nhân lực, nhưng với đặc điểm chung của hầu hết các DNNVV ở Việt Nam (như quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ phải trả so với vốn tự

có cao ), là nguyên nhân chính làm cho các doanh nghiệp này khó tiếp cận

Trang 16

nguồn vốn ngân hàng Do đó, Quỹ BLTD phải đảm đương vai trò là cầu nối giữa người đi vay và người cho vay, đôi khi cũng là điều kiện tiền đề để các DNNVV tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng

f Khái niệm Quỹ Bảo lãnh tín dụng:

Theo Nguyễn Văn Thịnh (2000) quỹ bảo lãnh tín dụng là: “Hệ thống các tổ chức ra đời nhắm đến khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm giúp các doanh nghiệp này vượt qua những khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng; đồng thời giúp ngân hàng có thể cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn

mà vẫn hạn chế được các rủi ro có liên quan”

Theo ngân hàng thế giới (2011) thì quỹ bảo lãnh tín dụng là: “ Tổ chức ra đời

để bảo lãnh cho những đối tượng nhằm đảm bảo trả nợ vay một phần hoặc toàn bộ, thúc đẩy các đối tượng đi vay chưa đủ điều kiện tiếp vận với vốn tín dụng”

Tại Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Quyết định 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/12/2001 về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Nghị định này quy định việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi tắt là Quỹ bảo lãnh tín dụng hoặc Quỹ) để cấp bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại các tổ chức cho vay theo quy định tại Nghị định này

Quỹ bảo lãnh tín dụng là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách do UBND cấp tỉnh thành lập, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bảo toàn và phát triển vốn; thực hiện chức năng cấp bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định tại Nghị định này và pháp luật có liên quan Quỹ bảo lãnh tín dụng hoạt động theo mô hình Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ

2.1.2 Quỹ bảo lãnh tín dụng

2.1.2.1 Đặc điểm của quỹ bảo lãnh tín dụng

- Quỹ bảo lãnh tín dụng là một đơn vị nửa hành chính sự nghiệp, nửa kinh doanh dịch vụ tài chính

Trang 17

Quỹ BLTD được UBND cấp tỉnh, TP trực thuộc TƯ thành lập và quản lý,

sử dụng vốn ngân sách nhà nước để thực hiện nhiệm vụ BLTD không vì mục tiêu lợi nhuận nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên quỹ lại được coi như là doanh nghiệp loại 2 (với mô hình tổ chức độc lập) hoặc được thực hiện chế độ quản lý tài chính, hạch toán kế toán như doanh nghiệp

- Quỹ BLTD hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận

Quỹ BLTD được thành lập với mục tiêu giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng khả năng tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng từ đó tăng cường phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Để đảm bảo cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa không phải chịu mức chi phí sử dụng vốn quá cao so với các doanh nghiệp lớn (chi phí sử dụng vốn bằng chi phí trả cho tổ chức tín dụng cộng với phí bảo lãnh tín dụng) Và hoạt động của quỹ BLTD không vì mục tiêu lợi nhuận, đảm bảo bảo toàn vốn và bù đắp chi phí

- Hoạt động BLTD có mức độ rủi ro và tính phụ thuộc cao

Khách hàng của quỹ BLTD đều là các doanh nghiệp loại nhỏ và vừa có khó khăn về tài chính cũng như tài sản thể chấp khi vay vốn sản xuất kinh doanh và

đa phần trong số các doanh nghiệp này đều hạn chế về công nghệ, quản lý, marketing, thị phần… Có thể nói, khách hàng của quỹ BLTD là những doanh nghiệp nhìn chung yếu về lợi thế trong cạnh tranh Chính vì vậy, thực hiện BLTD cho nhóm doanh nghiệp này có mức độ rủi ro cao hơn so với hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng đối với các doanh nghiệp không phải vay vốn thông qua quỹ BLTD, đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp được BLTD kinh doanh thua

lỗ không trả được vốn vay thì quỹ BLTD phải trả nợ thay cho doanh nghiệp và rất khó khăn để thu hồi đủ vốn thông qua phát mại tài sản thế chấp và tài sản hình thành từ vốn vay của doanh nghiệp

Ngoài việc có mức độ rủi ro cao trong hoạt động, quỹ BLTD còn gặp khó khăn trong việc phụ thuộc vào quyền quyết định của các tổ chức tín dụng khi bảo lãnh tín dụng cho khách hàng Khó khăn này xuất phát từ việc chưa có các quy định cụ thể về cơ chế phối hợp giữa quỹ bảo lãnh tín dụng với các tổ chức tín dụng Vì vậy mặc dù hoạt động BLTD đem lại thêm lợi ích cho hoạt động tín

Trang 18

dụng (giảm rủi ro và tăng thêm khách hàng cho các tổ chức tín dụng nhận bảo lãnh, nhưng việc chấp nhận của quỹ BLTD chỉ là điều kiện cần đối với khách hàng Muốn vay được vốn thông qua quỹ BLTD, khách hàng vẫn phải có thêm điều kiện đủ là sự chấp thuận vay của tổ chức tín dụng

2.1.2.2 Chức năng của quỹ bảo lãnh tín dụng

- Bảo lãnh tín dụng cho các đơn vị sản xuất kinh doanh:

Đây là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng nhất của Quỹ BLTD Nguyên lý hoạt động cơ bản của Quỹ BLTD là Quỹ thực hiện vai trò cầu nối giữa tổ chức tín dụng với ĐVSXKD trong việc thẩm định dự án của doanh nghiệp để kiến nghị ngân hàng cho vay Vai trò cầu nối của Quỹ được thực hiện dưới hình thức:

Quỹ BLTD thẩm định dự án, nếu dự án mang lại hiệu quả và có tính khả thi thì Quỹ sẽ giới thiệu doanh nghiệp đến tổ chức tín dụnge có phối hợp để tiếp cận với nguồn vốn tín dụng

Quỹ bảo lãnh cho những doanh nghiệp còn thiếu tài sản thế chấp và trả

nợ thay cho các doanh nghiệp nếu doanh nghiệp chưa có khả năng trả nợ Các ĐVSXKD luôn có nhu cầu về vốn rất lớn để đầu tư xây dựng nhà xưởng, đổi mới công nghệ, xúc tiến thương mại, nâng cao trình độ quản lý, đào tạo nhân lực, nhưng với đặc điểm chung của hầu hết các ĐVSXKD ở Việt Nam (như quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ phải trả so với vốn tự có cao ), là nguyên nhân chính làm cho các doanh nghiệp này khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng Do đó, Quỹ thông qua chương trình hỗ trợ nghiên cứu, phát triển công nghệ sản xuất các sản phẩm mới, chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Giới thiệu, cung cấp thông tin về công nghệ, thiết bị cho các ĐVSXKD, hỗ trợ đánh giá, lựa chọn công nghệ

- Tạo điều kiện phát triển thị trường thông qua thực hiện các hoạt động xúc tiến mở rộng thị trường cho ĐVSXKD Bên cạnh, dành tỉ lệ nhất định cho các ĐVSXKD thực hiện các hợp đồng hoặc đơn đặt hàng để cung cấp một số hàng hoá, dịch vụ công

Trang 19

- Cung cấp thông tin về các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp, các chính sách, chương trình trợ giúp phát triển ĐVSXKD và các thông tin khác hỗ trợ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Trợ giúp phát triển nguồn nhân lực, trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho các ĐVSXKD, chủ yếu tập trung vào quản trị doanh nghiệp

Thành lập vườn ươm doanh nghiệp để thực hiện hỗ trợ có thời hạn doanh nghiệp trong giai đoạn khởi sự theo quy trình và có hệ thống thông qua việc cung cấp cho các doanh nghiệp được ươm tạo không gian, các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và các nguồn lực cần thiết nhằm giúp các doanh nghiệp hiện thực hoá, thương mại hoá các ý tưởng kinh doanh và công nghệ

Các hoạt động trên, khi được gắn kết đồng bộ với hoạt động phối hợp của Quỹ BLTD với các TCTD tại các địa phương để cấp tín dụng và BLTD cho các ĐVSXKD sẽ tăng thêm nguồn lực tài chính cho các ĐVSXKD, đồng thời thực hiện các chương trình trợ giúp phát triển có hiệu quả cao hơn

Kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn vay và tài sản hình thành từ vốn vay của bên được bảo lãnh

Khi thực hiện chức năng cấp BLTD cho ĐVSXKD, Quỹ cũng có thể gánh chịu những rủi ro khi doanh nghiệp không có khả năng hoặc không muốn trả nợ

Do đó công tác kiểm tra, giám sát tín dụng là khâu khá quan trọng nhằm mục tiêu bảo đảm cho tiền vay được sử dụng đúng mục đích đã cam kết Việc kiểm soát rủi ro tín dụng, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những sai phạm có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ sau này, đảm bảo việc bảo lãnh vay vốn hiệu quả, Quỹ không phải trả nợ thay cho doanh nghiệp Các phương pháp giám sát tín dụng có thể áp dụng bao gồm:

- Giám sát hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng;

- Phân tích các báo cáo tài chính của khách hàng theo định kỳ;

- Giám sát khách hàng thông qua việc trả lãi định kỳ;

- Viếng thăm và kiểm soát địa điểm hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nơi

cư ngụ của khách hàng đứng tên vay vốn;

- Giám sát hoạt động khách hàng thông qua mối quan hệ với khách hàng khác;

Trang 20

- Giám sát khách hàng thông qua những thông tin thu thập khác

Việc kiểm tra, giám sát tín dụng theo các hình thức kể trên phải tiến hành thường xuyên, liên tục nhưng phải có sự phối hợp với bên cho vay (TCTD) để tránh gây nên sự khó khăn cho khách hàng, tránh rườm rà, khách hàng không mất nhiều thời gian để cung cấp thông tin

2.1.2.3 Vai trò hoạt động bảo lãnh tín dụng của quỹ bảo lãnh tín dụng

a Góp phần thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Hoạt động BLTD của Quỹ BLTD nhằm thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước trong việc hỗ trợ các ĐVSXKD tiếp cận vốn tín dụng Quỹ BLTD sẽ tư vấn, hỗ trợ cho các ĐVSXKD lập phương án, dự án đầu tư phát triển SXKD để vay vốn đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho ĐVSXKD, hỗ trợ hoạt động đổi mới phát triển sản phẩm có tính cạnh tranh cao và thân thiên với môi trường, đầu tư, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, phát triển công nghiệp

hỗ trợ, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp

Các Quỹ BLTD địa phương đều hoạt động gắn liền với các TCTD để trợ giúp cho các ĐVSXKD theo chủ trương, chính sách của Nhà nước như Câu lạc

bộ doanh nghiệp trẻ, Các hiệp hội ngành nghề thuộc các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, giao thông, nông nghiệp, Các TCTD bước đầu đã phát huy vai trò quan trọng trong việc chia sẻ thông tin, hỗ trợ về kinh nghiệm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, kinh doanh Quỹ BLTD cùng với các TCTD đã trở thành cầu nối giữa các doanh nghiệp với Uỷ Ban nhân dân tỉnh và các Ngành, các cấp trong việc cung cấp thông tin về chủ trương chính sách đồng thời tiếp thu những ý kiến, kiến nghị của các doanh nghiệp về những khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp trong hoạt động SXKD; phản ánh với Uỷ ban nhân dân tỉnh kịp thời chỉ đạo các ngành, các cấp hỗ trợ cho các ĐVSXKD

b Tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn tín dụng tại các

tổ chức tín dụng

Trang 21

Quỹ BLTD ngoài việc thực hiện nhiệm vụ của mình, góp phần thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước về trợ giúp phát triển ĐVSXKD, còn có thể bảo lãnh cho các ĐVSXKD vay vốn tại các TCTD để đầu tư và bổ sung vốn phát triển SXKD, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường; đổi mới công nghệ, thay đổi cơ cấu sản xuất và khai thác tốt các

cơ hội kinh doanh

Các ĐVSXKD đều muốn gia tăng đầu tư và mở rộng SXKD, nhưng phần lớn các doanh nghiệp vốn ít Khi đã sử dụng hết vốn chủ sở hữu, các doanh nghiệp này có nhu cầu vay vốn từ các TCTD, cũng như huy động nguồn vốn khác khá lớn Trong khi đó, các TCTD yêu cầu các chủ thể vay vốn phải có tài sản đảm bảo nợ vay, mà đây là điều kiện mà hầu hết các ĐVSXKD khó đạt được

Do vậy đối với ĐVSXKD chưa đủ tài sản đảm bảo nợ, nhưng có phương án SXKD, dự án đầu tư khả thi, đảm bảo thu hồi vốn và hoàn trả nợ vay sẽ được Quỹ BLTD bảo lãnh để vay vốn tại các TCTD Qua đó, Quỹ BLTD góp phần khơi thông thêm nguồn vốn tín dụng của các TCTD, tăng khả năng tiếp cận và

sử dụng vốn vay cho các ĐVSXKD, giúp các doanh nghiệp thực thi có hiệu quả các phương án đầu tư, phát triển SXKD, tăng thu nhập, tạo tích luỹ, tiếp tục đầu

tư mở rộng để đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường, cũng như nhu cầu đa dạng hoá lĩnh vực hoạt động…

Để tiếp tục đầu tư phát triển SXKD và vay vốn đáp ứng nhu cầu, các ĐVSXKD phải có vốn tham gia tối thiểu theo quy định, do vậy các ĐVSXKD thường chủ động bổ sung vốn từ tích luỹ thu nhập hàng năm, tăng thêm vốn điều

lệ để tiếp tục sử dụng vốn vay cho nhu cầu bổ sung vốn, nhu cầu đầu tư phát triển

c Góp phần gián tiếp trong việc ổn định và thu hút lao động cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Qua hoạt động BLTD, các ĐVSXKD tăng quy mô SXKD, tăng tích luỹ và năng lực tài chính, giúp cho SXKD được ổn định lâu dài và mở rộng Từ đó giúp cho lao động tại ĐVSXKD ổn định hơn và thu hút thêm nhiều lao động để đáp

Trang 22

ứng nhu cầu lao động theo quy mô gia tăng, góp phần tăng thu nhập cho người lao động tại các ĐVSXKD

d Góp phần tăng năng lực quản lý và điều hành cho các doanh nghiệp nhỏ

và vừa

Quỹ BLTD chỉ chấp nhận bảo lãnh cho doanh nghiệp nếu doanh nghiệp đó đáp ứng được các điều kiện theo quy định, trong đó có quy định phương án SXKD phải thuyết phục, báo cáo tài chính phải rõ ràng và minh bạch Để giúp cho các ĐVSXKD đáp ứng các điều kiện này, Quỹ BLTD sẽ tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp thiết lập phương án SXKD có tính thuyết phục

Qua hoạt động tư vấn, hướng dẫn doanh nghiệp chuẩn bị các điều kiện để được tăng thêm năng lực quản lý điều hành trong kinh doanh, trong hoạt động tài chính, cũng như hoạt động quản lý sản xuất,

Qua hoạt động hướng dẫn, Quỹ góp phần hỗ trợ và thúc đẩy các ĐVSXKD chấp hành tốt hơn các quy định, chuẩn mực về tài chính kế toán góp phần nâng cao năng lực quản trị tài chính Vì để được BLTD phải có dự án đầu tư, phương

án SXKD tốt, cam kết trả được nợ, quản lý nguồn vốn, sử dụng vốn đúng mục đích, , các ĐVSXKD phải chấp hành tốt các quy định về ghi nhận và báo cáo

kế toán, cũng như lập báo cáo tài chính; có đội ngũ quản lý chuyên môn nghiệp

vụ để chuẩn bị hồ sơ, lập dự án theo quy định và phải có tính thuyết phục để có thể vay vốn các TCTD

2.1.2.4 Quy trình hoạt động bảo lãnh tín dụng của quỹ BLTD

1 Tổ chức nhận hồ sơ bảo lãnh tín dụng

Quỹ bảo lãnh tín dụng chịu trách nhiệm tiếp nhận toàn bộ hồ sơ đề nghị bảo lãnh của khách hàng Khi khách hàng đề nghị bảo lãnh tín dụng, cán bộ nghiệp

vụ của Quỹ hướng dẫn khách hàng cụ thể, đầy đủ về các thủ tục, hồ sơ cần thiết

để khách hàng lập hồ sơ đề nghị bảo lãnh tín dụng Đối với mỗi khách hàng khác nhau thì yêu cầu về hồ sơ đề nghị bảo lãnh tín dụng khác nhau Đây là khâu quan trọng trong hoạt động bảo lãnh tín dụng vì đó là bước đầu xác định đối tượng nào được quỹ bảo lãnh tín dụng bảo lãnh tín dụng

Khách hàng là những đối tượng sau :

Trang 23

- Các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được xếp vào loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật (doanh nghiệp có vốn điều lệ không quá mười tỷ đồng hoặc có số lao động trung bình trong năm không quá

300 người)

- Các hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã

- Các hộ gia đình kinh doanh cá thể

- Các chủ trang trại, các hộ nông dân, ngư dân thực hiện các dự án nuôi thuỷ sản, đánh bắt xa bờ, trồng cây công nghiệp, chăn nuôi …

Hồ sơ gồm bốn phần phần chính:

- Hồ sơ pháp lý: Chứng minh năng lực pháp lý và năng lực dân sự của khách hàng (của doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp)

- Hồ sơ về dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh

- Hồ sơ về tình hình tài chính của doanh nghiệp trong hai năm gần nhất và tại thời điểm đề nghị vay vốn/bảo lãnh (Bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, thuyết minh báo cáo tài chính, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo chi tiết một số tài khoản: phải thu, phải trả, hàng tồn kho, tài sản cố định,

nợ ngắn hạn/dài hạn, nguồn vốn kinh doanh…)

- Hồ sơ về tài sản đảm bảo

- Phân tích các hệ số tài chính và mối quan hệ giữa các hệ số: Hệ số về khả năng thanh toán (Tỷ suất thanh toán ngắn hạn, tỷ suất thanh toán vốn lưu động,

Trang 24

tỷ suất thanh toán tức thời, tỷ suất thanh toán nhanh…); Hệ số về cơ cấu vốn hoặc khả năng cân đối vốn (Hệ số nợ tổng quát, hệ số nợ cổ phần, hệ số khả năng thanh toán lãi vay, hệ số cơ cấu tài sản, hệ số cơ cấu nguồn vốn, hệ số sinh lợi doanh thu,

hệ số sinh lợi của tài sản, hệ số sinh lời vốn chủ sở hữu, vòng quay hàng tồn kho, vòng quay vốn lưu động, hiệu suất sử dung tài sản cố định, kỳ thu tiền bình quân,

tỷ suất tài trợ…) cấp BLTD, Quỹ BLTD đã giúp cho các ĐVSXKD điều chỉnh và kết luận về tình hình tài chính của doanh nghiệp

3 Ra quyết định bảo lãnh tín dụng

Kết quả thẩm định được cán bộ thẩm định lập thành Báo cáo kết quả thẩm định và trình Trưởng phòng nghiệp vụ Trưởng phòng nghiệp vụ xem xét, cho ý kiến cụ thể vào Báo cáo thẩm định của cán bộ nghiệp vụ và trình lãnh đạo quỹ quyết định việc bảo lãnh hay từ chối bảo lãnh

4 Phát hành thư bảo lãnh, hợp đồng bảo lãnh

Sau khi thống nhất các nội dung, Quỹ bảo lãnh tín dụng và khách hàng tiến hành ký Hợp đồng bảo lãnh tín dụng (có mẫu theo phụ lục kèm theo) gồm 4 bản, khách hàng giữ 1 bản, Quỹ bảo lãnh tín dụng giữ 3 bản (Giám đốc Quỹ 1 bản, bộ phận chuyên môn 1 bản và kế toán 1 bản)

Nội dung hợp đồng bảo lãnh tín dụng:

- Tên, địa chỉ Quỹ bảo lãnh tín dụng, tổ chức tín dụng nhận bảo lãnh và khách hàng được bảo lãnh

- Mục đích, đối tượng và phạm vi bảo lãnh

- Tổng giá trị khoản vay của khách hàng tại các tổ chức tín dụng

- Tổng số giá trị tài sản thế chấp, cầm cố tại tổ chức tín dụng

- Số tiền bảo lãnh, thời hạn bảo lãnh, phí bảo lãnh và phương thức thu phí bảo lãnh

- Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng bảo lãnh

- Quy định về nhận nợ và bồi hoàn bảo lãnh

- Giải quyết tranh chấp phát sinh

Trang 25

- Căn cứ vào đặc thù cấp bảo lãnh tín dụng trên địa bàn, Trưởng bộ phận nghiệp vụ chỉ đạo xây dựng kế hoạch kiểm tra sử dụng vốn vay

- Đối với các khoản vay để thực hiện dự án đầu tư, các khoản vay ngắn hạn

có đặc điểm riêng biệt…cán bộ nghiệp vụ cần xây dựng kế hoạch kiểm tra sử dụng vốn vay riêng phù hợp với Hợp đồng bảo lãnh tín dụng, Hợp đồng tín dụng sau khi khách hàng thực hiện món vay đầu tiên

- Kế hoạch kiểm tra sử dụng vốn vay phải được Trưởng bộ phận nghiệp vụ phê duyệt Trường hợp xét thấy cần thiết, Trưởng bộ phận nghiệp vụ có thể xin

ý kiến phê duyệt trực tiếp của Giám đốc hoặc người được ủy quyền

- Nội dung bản kế hoạch kiểm tra vốn vay cần nêu rõ: kiểm tra theo từng lần nhận tiền vay, kiểm tra đột xuất hay kiểm tra định kỳ, các căn cứ kiểm tra theo chứng từ, các căn cứ kiểm tra theo thực tế …

2.1.2.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động bảo lãnh tín dụng của quỹ bảo lãnh tín dụng

a Yếu tố bên ngoài

- Môi trường kinh tế xã hội

- Môi trường chính trị

Chính trị và kinh tế là hai nhóm yếu tố có liên quan mật thiết với nhau Chính trị ổn định là điều kiện cho kinh tế phát triển và ngược lại, kinh tế phát triển là yếu tố quan trọng góp phần làm cho chính trị ổn định Mặt khác thể chế

và đường lối chính trị quyết định đường lối các chính sách kinh tế Chính trị ảnh hưởng đến các doanh nghiệp trước hết là thông qua kinh tế

Trang 26

Môi trường chính trị ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của bất kỳ tổ chức kinh tế - xã hội nào trong xã hội Quỹ BLTD hiện nay ở Việt Nam do nhà nước thành lập, hoạt động dưới sự lãnh đạo của nhà nước, do đó môi trường chính trị

sẽ có ảnh hưởng đáng kể hiệu quả hoạt động của Quỹ BLTD Trong tình hình chính trị bất ổn như: đình công, bãi công, biểu tình, chiến tranh, tranh chấp biên giới, sẽ ảnh hưởng vừa trực tiếp vừa gián tiếp đến hoạt động BLTD của Quỹ

Cụ thể là:

Tác động trực tiếp: Trong điều kiện môi trường chính trị xấu, hoạt động BLTD của Quỹ với tư cách là công cụ của chính phủ nhằm thực hiện các mục tiêu trợ giúp phát triển ĐVSXKD sẽ bị ảnh hưởng ngay từ khâu hoạch định chính sách và tổ chức hoạt động Khi môi trường chính trị không ổn định, tổ chức hoạt động của Quỹ sẽ bị phân tán, không tập trung thực hiện nhiệm vụ của mình Ngược lại, nếu môi trường chính trị tốt thì những tiêu cực này sẽ bị hạn chế và hoạt động của Quỹ sẽ được nâng cao và hiệu quả

Tác động gián tiếp: Khi môi trường chính trị không ổn định, các doanh nghiệp sẽ không lo tập trung vào sản xuất, không mở rộng sản xuất kinh doanh, hiệu quả kinh doanh giảm sút, khả năng làm đình trệ sản xuất, gia tăng nợ xấu đối với các TCTD, thậm chí dẫn đến phá sản Mặt khác, khi môi trường chính trị bất ổn, người dân sẽ không tin tưởng vào các tổ chức chính trị, chính trị xã hội làm cho việc huy động vốn cho nền kinh tế khó khăn, khả năng tích luỹ hạn chế, không có nguồn vốn để cấp tín dụng cho doanh nghiệp

Trang 27

lập đã lâu nhưng hệ thống các văn bản pháp lý vẫn chưa được hoàn thiện, đang tiếp tục nghiên cứu để triển khai Hệ thống pháp lý về Quỹ BLTD chưa đồng bộ

đã ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của Quỹ

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, mọi chủ thể hoạt động trong nền kinh tế đều chịu sự chi phối của hệ thống pháp luật

Do đó, một hệ thống pháp luật đầy đủ, minh bạch, đồng bộ sẽ giúp cho các chủ thể tuân thủ pháp luật và từ đó sẽ làm hạn chế những rủi ro không đáng có như lừa đảo để chiếm đoạt tiền từ các TCTD, gia tăng nợ xấu, tham nhũng,

- Môi trường kinh tế xã hội

Môi trường kinh tế xã hội là tổng hoà các mối quan hệ về kinh tế và xã hội tác động lên mọi chủ thể tham gia vào nền kinh tế Môi trường kinh tế xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện cho lưu thông hàng hoá, thúc đẩy sản xuất phát triển, làm cho hoạt động tín dụng sẽ thuận lợi hơn Tốc độ phát triển kinh tế ổn định sẽ giúp cho các TCTD huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng; các doanh nghiệp sẽ hoạt động hiệu quả và tăng khả năng tích luỹ, vì thế sẽ có khả năng hoàn trả nợ vay cho các TCTD và Quỹ BLTD sẽ giảm thiểu rủi ro về hoạt động bảo lãnh Môi trường kinh tế xã hội không ổn định sẽ ảnh hưởng đến các dự án

mà Quỹ đã cấp BLTD cho các doanh nghiệp, các doanh nghiệp không triển khai được dự án hoặc dự án không có hiệu quả sẽ dẫn đến doanh nghiệp không có khả năng trả được nợ vay cho các TCTD; lúc này Quỹ BLTD sẽ đứng ra trả nợ thay

và làm tăng khả năng rủi ro trong hoạt động bảo lãnh

b Chính sách Bảo lãnh tín dụng của Nhà nước

Chính sách BLTD hỗ trợ phát triển ĐVSXKD của nhà nước (bao gồm chính sách tín dụng và chính sách nguồn vốn) cũng ảnh hưởng đến việc hỗ trợ các ĐVSXKD của Quỹ BLTD

Chính sách tín dụng bao gồm chính sách lãi suất, quản lý và giám sát tín dụng cũng như các điều kiện tín dụng như: tài sản đảm bảo, lãi suất cho vay, phí BLTD, hạn mức tín dụng, thời hạn vay, điều kiện bắt buộc nhận nợ,…

Mặc dù hoạt động BLTD cho ĐVSXKD là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng Quỹ BLTD vẫn phải bảo tồn được vốn của mình nhằm có nguồn

Trang 28

vốn tái đầu tư, hạn chế sự bao cấp của nhà nước, phát triển hoạt động, thực hiện đắc lực hơn mục tiêu đã đề ra cho hoạt động này Trong trường hợp thị trường biến động, lãi suất cho vay của các TCTD quá cao thì nhiều ĐVSXKD sẽ quan ngại đi vay, do đó hoạt động BLTD của Quỹ sẽ bị ảnh hưởng rất mạnh Bên cạnh

đó, các chính sách về hạn chế bảo lãnh, giám sát tín dụng nếu không được xây dựng chặt chẽ, đồng bộ và phù hợp thực tiễn sẽ dẫn tới những nguy cơ về rủi ro đạo đức, rủi ro tín dụng, tác động trực tiếp đến hiện quả hoạt động của Quỹ BLTD

Chính sách nguồn vốn là một yếu tố sống còn của bất kỳ một tổ chức nào, hiện nay nhiều Quỹ BLTD ở các địa phương chưa có đủ nguồn vốn điều lệ tối thiểu (30 tỷ đồng) để hoạt động là một minh chứng cho chính sách nguồn vốn Việc nhà nước có những chính sách về nguồn vốn hợp lý để Quỹ BLTD có thể huy động ngoài vốn ngân sách là hết sức quan trọng (như huy động từ các TCTD, các tổ chức hiệp hội,…) Nếu thiếu vốn để bảo lãnh hoặc nguồn vốn điều lệ quá

ít sẽ không đáp ứng được yêu cầu của các ĐVSXKD Nếu như vốn không được đảm bảo đầy đủ, liên tục và kịp thời thì cũng đồng nghĩa với việc Quỹ BLTD không đảm đương được vai trò, nhiệm vụ của mình chứ chưa nói đến hiệu quả

Do đó, nếu chính sách về nguồn vốn (gồm: chính sách huy động, lãi suất cho vay của TCTD, phí bảo lãnh, chính sách đãi ngộ,…) không hợp lý sẽ dẫn đến không huy động đủ nguồn vốn để cấp BLTD cho ĐVSXKD

c Năng lực của khách hàng (doanh nghiệp, hộ sản xuất và hợp tác xã)

Năng lực của các ĐVSXKD bao gồm: năng lực tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh, năng lực quản lý của doanh nghiệp Năng lực của ĐVSXKD cũng

là nhân tố ảnh hưởng đến sự hỗ trợ phát triển ĐVSXKD của Quỹ BLTD

Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khối lượng vốn tự có và tỷ trọng vốn tự có trong tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp sử dụng Điều kiện tín dụng quy định một tỷ lệ cụ thể, tối thiểu của vốn tự có trong tổng số nguồn vốn hoạt động hay tỷ lệ vốn tự có tương ứng với khối lượng vốn vay, tỷ lệ vốn

tự có tham gia vào dự án Năng lực tài chính của doanh nghiệp còn thể hiện ở khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đó là sự so sánh giữa số tiền có thể thanh

Trang 29

toán và các khoản nợ thanh toán Việc đáp ứng các yêu cầu thanh toán còn lệ thuộc khá lớn vào cơ cấu tài sản của doanh nghiệp xếp theo tính lỏng của tài sản Năng lực tài chính của doanh nghiệp trong tín dụng trung dài hạn còn đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn lưu động tối thiểu cho việc duy trì hoạt động thường xuyên của TSCĐ Năng lực tài chính của doanh nghiệp càng cao, khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng cũng như BLTD của Quỹ BLTD càng lớn, góp phần nâng cao hoạt động BLTD

Năng lực sản xuất kinh doanh biểu hiện cụ thể ở quá trình sản xuất sản phẩm, công nghệ sản xuất, quá trình phát triển của doanh nghiệp Nãng lực sản xuất kinh doanh thể hiện ở quy mô của doanh nghiệp Việc nghiên cứu năng lực sản xuất kinh doanh cho thấy tính cấp thiết và quy mô phải đầu tư mới Năng lực thị trường và năng lực sản xuất tạo nên khả năng tìm kiếm lợi nhuận Tình hình sản xuất ổn định và kinh doanh có lãi thể hiện ở năng lực thị trường và năng lực sản xuất tốt của doanh nghiệp

Năng lực tổ chức, quản lý của doanh nghiệp thể hiện ở bộ máy quản lý phù hợp, trình độ quản lý kém thì dù dự án được tính toán là rất hiệu quả nhưng vẫn

có thể bị thua lỗ và sẽ không trả được nợ vay Năng lực quản lý còn thể hiện ở

hệ thống tổ chức bộ máy kế toán phù hợp, tuân thủ pháp luật kế toán, thống kê

và thuế Việc chú trọng nâng cao hệ thống báo cáo tài chính thể hiện tính minh bạch trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp sẽ làm cho các TCTD cũng như Quỹ BLTD yên tâm hơn trong việc cấp BLTD và cấp tín dụng cho doanh nghiệp

d Nhu cầu Bảo lãnh tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Quỹ BLTD sẽ không hoạt động có hiệu quả nếu như ĐVSXKD không có nhu cầu BLTD Tuy nhiên, điểm yếu cơ bản nhất của ĐVSXKD là thiếu vốn hoạt động, một số ĐVSXKD thì có đủ tài sản thế chấp tại các TCTD để được cấp tín dụng, số khác thì huy động vốn thông qua bạn bè, người thân, cổ đông, Thực

tế các doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn này là rất ít, hầu hết các ĐVSXKD thiếu vốn SXKD nhưng không có tài sản thế chấp ngân hàng Do đó, nhu cầu cần Quỹ BLTD hỗ trợ để các doanh nghiệp này tiếp cận với nguồn vốn tín dụng ngân hàng là rất lớn Khi doanh nghiệp có vốn ít, quy mô nhỏ bé thì nhu cầu bảo lãnh

Trang 30

vay vốn cao, ngược lại khi doanh nghiệp lớn mạnh, quy mô vốn tăng thì nhu cầu bảo lãnh vay vốn sẽ giảm Để thấy được thực trạng về nhu cầu BLTD của các ĐVSXKD, đề tài tiến hành khảo sát và kiểm định mô hình định lượng về nhu cầu BLTD của các ĐVSXKD tại Việt Nam

Các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau thì có nhu cầu BLTD khác nhau Ví dụ: Doanh nghiệp trong ngành nông, lâm, thủy sản và xây dựng thường cần nhiều vốn do quy mô đầu tư lớn và thường bán hàng trả chậm, do vậy, các doanh nghiệp này cần nhiều vốn vay hơn các doanh nghiệp trong các ngành khác để bổ sung vốn lưu động và thanh toán cho các công trình

2.1.2.6 Yếu tố thuộc bản thân quỹ bảo lãnh tín dụng

a Nguồn vốn của quỹ bảo lãnh tín dụng

Nguồn vốn hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng đóng vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của quỹ bảo lãnh Tuy nhiên nó chỉ phát huy tác dụng khi biết cách quản lý, sử dụng một cách đúng hướng tiết kiệm

và hiệu quả

Tại các quỹ bảo lãnh tín dụng hiện nay ngay từ khi mới thành lập được cấp một lượng vốn nhất định từ ngân sách nhà nước Với mức vốn 30 tỷ đồng do ngân sách cấp và hầu như rất ít các quỹ bảo lãnh tín dụng trên cả nước huy động được vốn góp của tư nhân Do đó theo quy định nên mức bảo lãnh cho các doanh nghiệp và các hộ sản xuất kinh doanh thấp Vì vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động bảo lãnh tín dụng của quỹ

Để đáp ứng được nhu cầu bảo lãnh của khách hàng, quỹ bảo lãnh phải đáp ứng được nhu cầu về loại hình bảo lãnh cũng như số tiền bảo lãnh mà khách hàng

đề nghị

b Cơ cấu tổ chức và quản lý

Cơ cấu tổ chức quản lý của Quỹ bảo lãnh tín dụng gồm có: Hội đồng quản

lý, Ban kiểm soát, Ban điều hành.Hội đồng quản lý Quỹ bảo lãnh tín dụng gồm

03 thành viên chuyên trách là Chủ tịch Hội đồng quản lý đại diện cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, 01 Phó Chủ tịch Hội đồng quản

lý kiêm Giám đốc Quỹ bảo lãnh tín dụng và Trưởng ban kiểm soát; các thành

Trang 31

viên kiêm nhiệm là đại diện các tổ chức tham gia góp vốn vào Quỹ bảo lãnh tín dụng Còn lại là nhân viên các ban hành chính, kiểm soát, thẩm định và bảo lãnh tín dụng

Cơ cấu tổ chức và quản lý ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động bảo lãnh tín dụng của quỹ Quỹ có hoạt động tốt và phát triển tốt hay không chịu ảnh hưởng rất lớn của cơ cấu tổ chức và quản lý

2.1.2.7 Các điều kiện cần thiết để bảo lãnh tín dụng

Các đối tượng được bảo lãnh tín dụng chỉ được Quỹ bảo lãnh tín dụng xem xét cấp bảo lãnh khi đáp ứng đủ các điều kiện sau: Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có khả năng hoàn trả vốn vay; Dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh được quỹ bảo lãnh tín dụng thẩm định và quyết định bảo lãnh theo quy định; Có phương án về vốn chủ sở hữu tối thiểu 20% tham gia dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh tại thời điểm quỹ bảo lãnh tín dụng thẩm định để xem xét cấp bảo lãnh

Ngoài ra, tại thời điểm đề nghị bảo lãnh, doanh nghiệp không có các khoản

nợ thuế từ 1 năm trở lên theo Luật quản lý thuế và nợ xấu tại các tổ chức tín dụng Trường hợp nợ thuế do nguyên nhân khách quan, doanh nghiệp phải có xác nhận của cơ quan quản lý thuế trực tiếp; Có biện pháp bảo đảm cho bảo lãnh vay vốn theo quy định

Quỹ bảo lãnh tín dụng xem xét cấp bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ

và vừa tối đa bằng 100% giá trị khoản vay (bao gồm cả vốn lưu động và vốn trung, dài hạn) tại tổ chức cho vay Căn cứ vào tính khả thi, mức độ rủi ro của doanh nghiệp, dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của quỹ, quỹ bảo lãnh tín dụng xem xét, quyết định cụ thể mức bảo lãnh cho doanh nghiệp

Thời hạn cấp bảo lãnh tín dụng của quỹ bảo lãnh tín dụng được xác định phù hợp với thời hạn vay vốn đã thoả thuận giữa các bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh tại hợp đồng tín dụng và được quy định rõ trong hợp đồng bảo lãnh tín dụng, chứng thư bảo lãnh ký kết giữa các bên liên quan theo quy định

Trang 32

Trong thời hạn cấp bảo lãnh, khách hàng không đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn là doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì quỹ bảo lãnh tín dụng tiếp tục cấp bảo lãnh tín dụng cho khách hàng theo hợp đồng bảo lãnh tín dụng đã ký với bên được bảo lãnh cho đến khi hết thời hạn bảo lãnh theo hợp đồng

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình thế giới

1 Quỹ Bảo lãnh tín dụng tại Malaysia

Theo Viện nghiên cứu kinh tế Malaysia (2000), các ĐVSXKD ở Malaysia chiếm khoảng 90% tổng số doanh nghiệp của cả nước và giải quyết 29,7% tổng

số việc làm Nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp này tiếp cận vốn nguồn vốn tín dụng, tại Malaysia đã tồn tại 4 hệ thống (schemes) BLTD, đó là:

+ Hệ thống BLTD chung (General Guarantee schemes) được thành lập từ năm 1972;

+ Hệ thống bảo lãnh các khoản vay đặc biệt (Special Loan schemes): tài trợ cho những doanh nghiệp xuất khẩu, có các dự án đặc biệt,… được thành lập từ năm 1981;

+ Hệ thống BLTD cơ bản (Principal Guarantee schemes) được thành lập từ năm 1989;

+ Hệ thống BLTD chủ yếu mới (New Principal Guarantee schemes) được thành lập từ năm 1994;

Hệ thống BLTD chung được gọi là Tổng Công ty BLTD Malaysia (CGC),

là tổ chức ra đời sớm nhất để phục vụ cho việc BLTD cho các ĐVSXKD do Chính phủ khởi xướng thành lập từ năm 1972, với số vốn góp từ các NHTM, các công ty tài chính của Chính phủ Hiện nay, hệ thống này có doanh số bảo lãnh cao nhất trong 4 hệ thống bảo lãnh nêu trên Tổng công ty BLTD đến 90% giá trị khoản vay (người được bảo lãnh phải có ít nhất 10% vốn tự có tham gia dự án); phí bảo lãnh từ 0,5% đến 1% giá trị bảo lãnh

Ba hệ thống BLTD (Special loan, Principal, New principal) hoạt động vì mục đích lợi nhuận, do các tổ chức tư nhân thành lập (có sự góp vốn của các

Trang 33

NHTM) nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng về sản phẩm của ĐVSXKD Mức phí dịch vụ cao hơn so với CGC, tuỳ thuộc và thoả thuận giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh Ba hệ thống này đã góp phần đáng kể vào việc BLTD, giúp các ĐVSXKD tiếp cận với nguồn vốn tín dụng tại Malaysia

2.1.2 Bài học kinh nghiệm về bảo lãnh tín dụng rút ra ở Việt Nam

a Bài học kinh nghiệm

Qua nghiên cứu hoạt động của Quỹ BLTD tại Hàn Quốc, Malaysia về việc BLTD cho ĐVSXKD có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm:

Thứ nhất, Chính phủ coi DNNVV là thành phần kinh tế quan trọng bậc nhất

và có nhiều chính sách để hỗi trợ phát triển Xuất phát từ chính sách của Chính phủ về việc BLTD cho các ĐVSXKD, ĐVSXKD là thành phần kinh tế quan trọng bậc nhất và có nhiều chính sách để hỗ trợ pháQuỹ BLTD được xây dựng sớm và thống nhất với các chính sách khác, có tính thực thi cao

Thứ hai, chính sách BLTD cho ĐVSXKD là một chính sách quan trọng trong hầu hết chính sách kinh tế quốc gia và được hình thành từ rất sớm do vậy

sự phát triển của ÐVSXKD ở các nýớc này luôn ðạt ðýợc tốc ðộ cao và tạo tiền

ðề cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ

Thứ ba, Chính sách bảo ðảm tín dụng phải ðảm bảo ðýợc lợi ích của các bên nhý ngýời bảo lãnh (quỹ BLTD), người thụ hưởng bảo lãnh (TCTD) và người được bảo lãnh (ĐVSXKD)

- Người bảo lãnh: an toàn tương đối về vốn, thu được phí, phục vụ được nhiều đối tượng cần bảo lãnh, bảo toàn và phát triển được vốn

- Người nhận bảo lãnh: cho vay an toàn và thu hồi được đầy đủ nợ gốc và lãi đúng hạn

- Người được bảo lãnh: nhận được vốn dễ dàng, thủ tục nhanh gọn và sử dụng vốn tạo giá trị thặng dư

Thứ tư, hầu hết các nước đều thành lập các Quỹ BLTD chuyên ngành, như Quỹ BLTD công nghệ chuyên BLTD cho các ĐVSXKD trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông; Quỹ BLTD nông nghiệp chuyên BLTD cho các ĐVSXKD trong lĩnh vực nông nghiệp; Quỹ BLTD trong lĩnh vực xuất khẩu,

Trang 34

Thứ năm, các mô hình Quỹ BLTD bao gồm mô hình 1 cấp và mô hình 2 cấp Hầu hết các các nước trên thế giới đều có mô hình Quỹ BLTD đối với DNNV thống nhất từ Trung ương đến địa phương, Quỹ BLTD Trung ương được xem là “bà đỡ” để các Quỹ BLTD địa phương ra đời và phát triển

Thứ sáu, về mô hình Quỹ BLTD có ba mô hình, đó là: một là do Chính phủ thành lập, hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận (như mô hình hiện nay ở Việt Nam); hai là do các tổ chức hiệp hội thành lập (vốn hoạt động của Quỹ BLTD do các thành viên trong tổ chức hiệp hội đóng góp) nhằm bảo lãnh, trợ giúp các ĐVSXKD thành viên, hoạt động phi lợi nhuận; ba là do các tổ chức, công ty thành lập, hoạt động kinh doanh chính là bảo lãnh, trợ giúp các doanh nghiệp, doanh thu là từ phí thu được từ hoạt động cấp BLTD và tư vấn, trợ giúp các khách hàng là các ĐVSXKD, hoạt động vì mục đích lợi nhuận; thực tế trên thế giới mô hình này chiếm một tỷ lệ cấp BLTD cao nhất trong ba mô hình kể trên

b Những chủ trương chính sách về quỹ bảo lãnh tín dụng

Để đảm bảo hoạt động và phát triển, Quỹ bảo lãnh tín dụng Yên Bái cũng như các Quỹ bảo lãnh của các địa phương khác đều phải dựa trên những cơ sở pháp lý nhất định Việc xây dựng hệ thống các văn bản pháp lý mang tính riêng biệt và phù hợp với điều kiện của đơn vị và thực tế của địa phương là yêu cầu cần thiết để các hoạt động nghiệp vụ được thực hiện đúng quy tắc, quy trình, phù hợp với chính sách, chế độ của Nhà nước nhằm đạt được hiệu quả cao nhất

a Những chủ trương chính sách của chính phủ

- Quyết định 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ V/v ban hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV

- Quyết định số 115/2004/QĐ-TTg ngày 25/6/2004 Thủ tướng Chính phủ V/v sửa đổi, bổ sung Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV ban hành kèm theo Quyết định 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ

- Công văn số 7397 TC/TCNH ngày 05/7/2004 của Bộ Tài chính V/v sửa đổi Quyết định 193/2001/QĐ-TTg

Trang 35

- Thông tư số 93/2004/TT-BTC ngày 29/9/2004 của Bộ Tài chính Hướng dẫn một số nội dung Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVVQuy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV

- Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg ngày 21/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng thương mại

- Quyết định số 60/2009/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg ngày 21/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng thương mại

Các quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc trợ giúp các DNNVV tiếp cận vốn tín dụng của Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong điều kiện nhiều địa phương chưa thành lập được lập Quỹ BLTD cho các DNNVV (Ngân hàng phát triển cho vay theo từng dự án trong đó không chỉ có DNNVV

mà còn những doanh nghiệp lớn)

Trang 36

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng và giải pháp bảo lãnh tín dụng của Quỹ bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Yên Bái

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Các doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ bảo lãnh tín dụng, các ngân hàng trên địa bàn tỉnh Yên Bái

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế xã của tỉnh Yên Bái năm 2017

- Quá trình hình thành Quỹ BLTD

- Tổ chức bộ máy

- Thực trạng các quy định bảo lãnh tín dụng của quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái

- Quy trình bảo lãnh tín dụng của Quỹ

- Hoạt động của quỹ

- Đánh giá kết quả bảo lãnh tín dụng tác dụng đến khách hàng của Quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái

- Thực trạng và kết quả hoạt động bảo lãnh tín dụng tại Quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái

- Một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động bảo lãnh tín dụng của quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái

- Giải pháp phát triển bảo lãnh tín dụng tại quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái

3.4 Phương pháp thu thập thông tin

* Phương pháp thu thập số liệu:

Trang 37

Bảng 3.1 Thu thập dữ liệu và thông tin thứ cấp

Cơ sở lý luận của đề tài,

+ Các tài liệu từ các website

+ Các luận văn liên quan đến đề tài nghiên cứu

+ Internet + Sách, báo và các tài liệu có liên quan

Số liệu về tình hình hoạt

động bảo lãnh tín dụng

+ Báo cáo kết quả hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái qua các năm

+ Các quyết định, thông

tư hướng dẫn thi hành luật bảo lãnh tín dụng + Niên giám thống kê tỉnh Yên Bái

+ UBND tỉnh Yên Bái + Quỹ bảo lãnh tín dụng tỉnh Yên Bái

+ Sở tài chính tỉnh Yên Bái

- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Các thông tin được lấy từ nhiểu

nguồn khác nhau như: quỹ bảo lãnh tín dụng, ngân hàng, các doanh nghiệp nhỏ

và vừa trên địa bàn tỉnh, tài liệu thống kê, internet,…

Nguồn thông tin đã công bố phục vụ cho nghiên cứu cơ sở lý luận về bảo lãnh, bảo lãnh tín dụng; thực tiễn về hoạt động bảo lãnh tín dụng của các nước trên thế giới và Việt Nam, tôi lấy trong sách báo, các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố và các Website liên quan đến đề tài nghiên cứu Thu thập từ các

cơ quan Nhà nước những văn bản Luật, Pháp lệnh, Nghị định, Chỉ thị, Thông tư, những sổ sách báo cáo, tổng hợp, hướng dẫn có liên quan đến hoạt động bảo lãnh tín dụng

Ngày đăng: 06/07/2020, 15:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w