1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo Đề tài tốt nghiệp CHẾ ĐỊNH LY HÔN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

52 191 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 3,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo Đề tài tốt nghiệp CHẾ ĐỊNH LY HÔN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM.............................................................................................................................................................................................................................................. ....................................................................................................................... ....................................................................................................................... ....................................................................................................................... ....................................................................................................................... .......................................................................................................................

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

PHAN VŨ ÁNH DUYÊN

ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CHẾ ĐỊNH LY HÔN THEO QUY ĐỊNH CỦA

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Kon Tum, tháng 6 năm 2019

Trang 4

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CHẾ ĐỊNH LY HÔN THEO QUY ĐỊNH CỦA

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : ĐÀO THỊ NHUNG

SINH VIÊN THỰC HIỆN : PHAN VŨ ÁNH DUYÊN LỚP : K915LK2

Trang 5

3 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

3.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3

6 Đóng góp của đề tài 3

7 Bố cục của đề tài 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH LY HÔN 4

1.1 KHÁI NIỆM VỀ LY HÔN VÀ CHẾ ĐỊNH LY HÔN 4

1.1.1 Khái niệm ly hôn 4

1.1.2 Khái niệm chế định ly hôn 5

1.1.3 Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định chế định ly hôn 6

1.2 KHÁI LƯỢC PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CĂN CỨ LY HÔN QUA CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ 7

1.2.1 Căn cứ ly hôn theo pháp luật thời kỳ phong kiến 7

1.2.2 Căn cứ ly hôn theo pháp luật thời kì Pháp thuộc 9

1.2.3 Căn cứ ly hôn từ năm 1945 tới nay 10

1.2.4 Căn cứ ly hôn của luật hôn nhân gia đình từ năm 1975 đến 11

1.3 CĂN CỨ LY HÔN THEO PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA 13

1.3.1 Căn cứ ly hôn theo pháp luật nước Pháp 13

1.3.2 Căn cứ ly hôn theo pháp luật Thái Lan 13

CHƯƠNG 2 CHẾ ĐỊNH LY HÔN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 15

2.1 CĂN CỨ LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP THUẬN TÌNH LY HÔN 15

2.2 CĂN CỨ LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP LY HÔN DO MỘT BÊN VỢ HOẶC CHỒNG YÊU CẦU 18

2.2.1 Trường hợp có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được 18

2.2.2 Vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn 24

2.3 CĂN CỨ LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP LY HÔN THEO YÊU CẦU CỦA CHA, MẸ, NGƯỜI THÂN THÍCH KHÁC 25

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH LY HÔN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LY HÔN TẠI VKSND TỈNH GIA LAI 28

3.1 NHẬN XÉT CHUNG 28

3.2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH LY HÔN TẠI VKSND TỈNH GIA LAI 34

3.2.1 Thực trạng ly hôn trong thời gian qua 34

Trang 6

3.2.2 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng ly hôn 36

3.2.3 Một sô kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật về căn cứ ly hôn 37

3.2.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giải quyết vụ án ly hôn 39

3.2.5 Nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật về ly hôn và căn cứ ly hôn cho người dân 40

KẾT LUẬN 42

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN 44

Trang 7

CÁC TỪ ĐƯỢC VIẾT TẮT

Bộ luật dân sự BLDSLuật Hôn nhân và gia đình Luật HN&GĐLuật Tố tụng dân sự Luật TTDSViện Kiểm Sát nhân dân VKSND

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Luật Hôn nhân và gia đình là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đượctạo thành bởi nhiều chế định khác nhau như chế định kết hôn, chế định ly hôn nhằm điềuchỉnh những quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình như quan hệ nhân thân,quan hệ tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên trong gia đìnhvới nhau Tuy nhiên, so với các quan hệ trong lĩnh vực pháp luật khác thì quan hệ phápluật trong hôn nhân gia đình đặc biệt hơn Chế định Ly hôn được coi là chế định quantrọng, thiết yếu của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam

Đời sống hôn nhân gia đình luôn là một vấn đề rất nhạy cảm và phức tạp Hiện nay,tình trạng ly hôn ngày càng có xu hướng tăng cao Lĩnh vực hôn nhân, gia đình đã đượcnhà nước ta quan tâm từ rất lâu thể hiện qua các văn bản Luật điều chỉnh lĩnh vực này.Vậy Luật Hôn nhân & Gia đình 2014 thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

đã có những qui định như thế nào về căn cứ ly hôn và việc áp dụng các thực tiễn nàytrong thực tiễn xét xử ra sao?

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, số lượng vụ án ly hôn xảy ra rất nhiều và có xuhướng tăng mạnh, bên cạnh đó có nhiều vụ án chưa được xử lý, giải quyết thỏa đáng,chưa đúng căn cứ lý hôn theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Cónhiều nguyên nhân của vấn đề này đó là:

Chuyên môn nghiệp vụ chưa đồng đều, một số ít công chức chưa đạt chuẩn về trình

độ, chủ yếu mới qua tập huấn đào tạo, chế độ chính sách còn thấp Việc thực thi công vụ

do đó vừa thiếu tính chuyên nghiệp, vừa không đáp ứng kịp thời yêu cầu của người dân

Khi đời sống hôn nhân không thể duy trì đươc nữa thì ly hôn là môt giải pháp cần

thiết cho cả đôi bên vợ chồng cũng như cho xã hội Ly hôn có thể coi là điểm cuối củahôn nhân khi quan hê ̣này thưc sự tan rã Ly hôn giải thoát cho các căp vơ ̣chồng vànhững thành viên trong gia đình khỏi xung đôṭ, mâu thuân bế tắc trong cuộc sống Dùquan hệ gia đình có đổ vỡ thì sự bình đẳng về quyền và lợi ích giữa vợ và chồng vẫnđược đảm bảo

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời đã bảo vệ quyền lợi của mọi thành viêntrong gia đình, hướng tới xây dựng hạnh phúc, mô hình xã hội chủ nghĩa, là căn cứ đểTòa án giải quyết các vụ việc hôn nhân gia đình một cách thấu tình đạt lý Bằng các quyđịnh về ly hôn, Nhà nước cũng hướng tới bảo vệ lợi ích của gia đình, của xã hội khi xácđịnh những điều kiện cho phép chấm dứt quan hê ̣hôn nhân trước pháp luâṭ

Vì những lí do trên, em đã quyết định chọn đề tài báo cáo thực tập tốt nghiệp của

mình là “Chế định ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam”.

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề chế định hay căn cứ ly hôn trong luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng đã

và đang được nhắc tới khá nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa học Một số côngtrình nghiên cứu khoa học đề cập sâu đến vấn đề về này phải kể đến đó là:

Bài viết “Căn cứ ly hôn trong cổ luật Việt Nam”, thạc sỹ Nguyễn Thị Thu Vân, tạp chí

Nhà nước và pháp luật.- 8/2005.- Số 208.- Tr.55-61 Bài viết đề cập đến diện mạo của căn

cứ ly hôn trong cổ luật Việt Nam, giai đoạn được tính từ khi ra đời Bộ luật Hồng Đức đếntrước thời kỳ pháp thuộc, khi pháp luật Việt Nam nói chung và căn cứ ly hôn nói riêngchịu ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết Nho giáo và tư tưởng pháp lý Trung Hoa

Trang 9

Khóa luận tốt nghiệp “Căn cứ ly hôn: Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng”,

tác giả Dương Thị Hồng Cẩm; Người hướng dẫn: ThS Lê Thị Mận - Tp Hồ Chí Minh,

2013 51tr

Khoá luận tốt nghiệp “Căn cứ ly hôn theo quy định pháp luật hôn nhân và gia đình

Việt Nam hiện hành” của tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh; Người hướng dẫn: ThS.Lê Vĩnh

Châu Tp.Hồ Chí Minh, 2015 - 58tr

Luận văn thạc sỹ: “Căn cứ ly hôn – một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng tại

Lạng Sơn”, của tác giả Nông Thị Nhung, năm 2014.

Luận văn thạc sỹ: “Căn cứ ly hôn theo luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam 2014”,

của tác giả Nguyễn Thị Thơm, năm 2015

Như vậy, vấn đề căn cứ ly hôn trong luật hôn nhân và gia đình Việt Nam đã đượcnghiên cứu khá nhiều trong các công trình nghiên cứu khoa học Đa phần các đề tài trênmới chỉ nghiên cứu các căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000, hiện chưa có nhiều

đề tài nghiên cứu tới căn cứ ly hôn theo pháp luật HN&GĐ 2014

Như vậy, đề tài “Chế định ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam” vẫn là một

nội dung nghiên cứu khá mới mẻ Vì vậy, em đã lựa chọn đề án này và lấy thực tiễn tạiViện Kiểm Sát nhân dân Tỉnh Gia Lai để làm luận văn tốt nghiệp của mình

3 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về ly hôn trongLuật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan tới vấn đề lyhôn Với việc đi sâu nghiên cứu các quy định về ly hôn của các nước như Pháp, TháiLan; ly hôn theo pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ và các quy định hiện hành về ly hôn,thực tế giải quyết các vụ án về ly hôn để cho thấy sự thừa kế, phát triển cũng như nhữngbất cập của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời so sánh Luật hôn nhân và giađình năm 2014 với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Cũng như giải quyết ly hôn tại Viện Kiểm Sát Từ những lý luận đó, có những nhậnxét, những kiến nghị phù hợp, nhằm đóng góp ý kiến về những mặt ưu điểm và hạn chếcủa Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 qua đánh giá thực trạng giải quyết vụ án ly hôn

ở VKSND địa phương, cụ thể là Viện Kiểm Sát nhân dân Tỉnh Gia Lai, qua đó đề xuấtcác giải pháp các biện pháp làm hạn chế, giảm thiểu các vụ án ly hôn và hướng để nângcao hiệu quả giải quyết các vụ án ly hôn, để góp phần làm cho Gia Lai ngày một pháttriển mạnh mẽ, xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của quê hương, giữ vững và phát triểnbản sắc văn hóa, để góp phần vào sự phát triển chung của đất nước

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Về lý luận: Đề tài này nghiên cứu về chế định ly hôn theo quy định của pháp luật ViệtNam – một đề tài không bao gồm giải quyết việc ly hôn có yếu tố nước ngoài và khôngnghiên cứu trình tự, thủ tục tố tụng về ly hôn Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận của căn

cứ ly hôn theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014; làm rõ thực trạng lyhôn khi áp dụng căn cứ ly hôn; đưa ra quan điểm, đề xuất giải pháp về căn cứ ly hôn đểhoàn thiện hơn pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam.về chế định ly hôn được quyđịnh trong Luật hôn nhân và gia đình 2014 và các văn bản có liên quan

Về thực tiễn: Thực trạng ly hôn được nhắc đến trong đề tài này là thực trạng diễn ra ởTỉnh Gia Lai và được đánh giá, khảo sát thông qua việc tổng hợp và phân tích số liệuđược lấy từ Viện Kiểm Sát nhân dân Tỉnh Gia Lai

Trang 10

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là dựa trên cơ sở các quy định của Luật Hônnhân và gia đình về ly hôn, có sự kết hợp với các thủ tục giải quyết các vụ việc ly hôn đểphân tích, đánh giá, từ đó kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề ly hôn theo Luật Hôn nhân

và gia đình Việt Nam

Đề tài thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề khái quát chung về ly hôn như: khái niệm ly hôn, căn cứ

ly hôn, tìm hiểu một cách đầy đủ có hệ thống về chế định ly hôn trong pháp luật ViệtNam qua các giai đoạn phát triển

- Nghiên cứu những vấn đề về căn cứ ly hôn, đồng thời so sánh căn cứ ly hôn của

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 với Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Từ đó rút

ra những nhận xét về căn cứ ly hôn, những ưu điểm và hạn chế của quy định của phápluật hôn nhân và gia đình Việt Nam

- Nghiên cứu phân tích thực trạng về việc thực hiện các căn cứ ly hôn của các quy

định của pháp luật thông qua một số vụ án điển hình, đồng thời đưa ra các kiến nghị, giảipháp nhằm hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về căn cứ ly hôn trong pháp luậthôn nhân và gia đình Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với từng vấn đề, từng lĩnh vực của đềtài được vận dụng như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp phân tíchquy phạm, phương pháp luận giải và diễn dịch, phương pháp thống kê, phương pháp sosánh, tổng hợp kết hợp với khảo sát thực tiễn để luận giải các vấn đề đặt ra trong đề tài

6 Đóng góp của đề tài

Đề tài phân tích được những căn cứ ly hôn theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Ngoài ra, Đề tài đưa ra được những vấn đề thực tiễn, khó khăn và tồn tại của căn cứ ly hôn, cũng như những ưu điểm, hạn chế của các quy định về căn cứ ly hôn theo pháp luật hôn nhân và gia đình năm 2014 so với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Đặc biệt, bàiviết đi sâu vào phân tích các căn cứ ly hôn, nhận xét đưa ra những ưu điểm, hạn chế của các quy định về căn cứ ly hôn Trên cơ sở đó, đưa ra các quan điểm, giải pháp về căn cứ

ly hôn theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam

7 Bố cục của đề tài

Ngoài lời nói đầu, kết luận và tư liệu tham khảo, đề tài chia làm ba chương:

Chương 1: Khái quát chung về chế định ly hôn

Chương 2: Chế định ly hôn theo pháp luật hiện hành

Chương 3: Thực trạng áp dụng chế định ly hôn và một số kiến nghị, giải pháp nhằm nângcao hiệu quả việc giải quyết vụ án ly hôn tại VKSND Tỉnh Gia Lai

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH LY HÔN

1.1 KHÁI NIỆM VỀ LY HÔN VÀ CHẾ ĐỊNH LY HÔN

1.1.1 Khái niệm ly hôn

Cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra những xung đột, mâu thuẫn sâu sắc đếnmức họ không thể chung sống với nhau nữa Ly hôn là giải pháp cho cả vợ và chồng cùngcác thành viên khác khi mà tình cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lêninthể hiện quyền tự do kết hôn của nam nữ nhằm xác lập quan hệ vợ chồng và quyền tự do

ly hôn của vợ chồng nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng và quyền tự do ly hôn theo đúng

bản chất của một sự kiện – đó là hôn nhân "đã chết", sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và

lừa dối

Pháp luật về ly hôn của mỗi nước trên thế giới là khác nhau Pháp luật của Nhà nước

xã hội chủ nghĩa công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không cấmhoặc đặt ra những những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn Pháp luật của nhànước phong kiến, nhà nước tư sản quy định có thể cấm ly hôn, không quy định căn cứ lyhôn mà chỉ công nhận quyền vợ chồng được sống tách biệt nhau bằng chế định ly thân;bằng hạn chế quyền ly hôn theo thời gian xác lập quan hệ hôn nhân; theo độ tuổi của vợchồng; và thường quy định xét xử ly hôn dựa trên cơ sở lỗi của vợ, chồng hay của cả hai

vợ chồng Một số nước Châu Âu mới từ bỏ quan niệm cấm ly hôn cách đây không lâu: ở

Ý từ năm 1975, ở Tây Ban Nha từ năm 1982, hay ở các nước theo đạo Thiên Chúa, vớiquan niệm sự gắn bó giữa vợ chồng để trở nên một là do Thiên Chúa thiết lập Bởi đó,

“Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”, vì phá đổ sự kết hợp này

chính là phá đổ công trình của Thiên Chúa, là bôi bác hình ảnh của Thiên Chúa đã có đótrong cuộc sống hôn nhân

Theo từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, ly hôn được hiểu là:

“chấm dứt quan hệ vợ chồng do Tòa án nhân dân công nhận hoặc quyết định theo yêu

cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng”[31, Tr 460] Cách giải thích này được sử

dụng nhiều trong các nghiên cứu, giải thích cho các đương sự liên quan trong thực tiễngiải quyết vụ việc ly hôn Theo khái niệm này, ly hôn được phản ánh rõ nét, đó là việc

“chấm dứt quan hệ vợ chồng”, nghĩa là giữa hai bên vợ chồng không còn tồn tại quan hệ

hôn nhân, mọi quyền và nghĩa vụ của hai bên sẽ được pháp luật giải quyết thỏa đáng,đảm bảo quyền lợi cho các bên

Theo Lê-nin: “thực ra tự do ly hôn tuyệt không có nghĩa là làm “tan rã” những mối

liên hệ gia đình mà ngược lại, nó củng cố những mối liên hệ đó trên những cơ sở dân chủ, những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh” [32, Tr.

355], Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, ly hôn là hiện tượng xã hội mang tínhgiai cấp sâu sắc Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khácnhau, giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước, bằng pháp luật (hay tục lệ) quy định chế

độ hôn nhân phù hợp với ý chí của Nhà nước Tức là Nhà nước bằng pháp luật quy địnhnhững điều kiện nào xác lập quan hệ vợ chồng, đồng thời xác lập trong những điều kiệncăn cứ nhất định mới được phép xóa bỏ (chấm dứt) quan hệ hôn nhân

Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật hôn nhân và gia đình nói riêng,việc đưa ra khái niệm đầy đủ về ly hôn có ý nghĩa quan trọng, phản ánh quan điểm chungnhất của nhà nước ta về ly hôn, tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất pháp lý của

Trang 12

ly hôn, xác định nội dung, phạm vi điểu chỉnh của các quan hệ pháp luật hôn nhân và giađình về ly hôn và các vấn đề phát sinh khác

Điều 8 Khoản 8 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 quy định: “8 Ly hôn

là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng;” Điều 3 Khoản 14 Luât Hôn nhân và gia đình

Việt Nam năm 2014 quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án,

quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”

Nhìn chung, khái niệm ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có sự thay đổi

cơ bản so với khái niệm ly hôn trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Tuy nhiên, vềbản chất, hai điều luật đó đều phản ánh được ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng,quan hệ hôn nhân, để giúp các bên trong quan hệ hôn nhân được giải thoát khỏi tình trạnghôn nhân đổ vỡ Khái niệm ly hôn trong luật hôn nhân và gia đình năm 2014 mang tính

chất chặt chẽ hơn khi đề cập tới nội dung: “bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của

Tòa án” Thông qua đó để phản ánh tính quyền lực của nhà nước, cũng như phản ánh bản

chất của ly hôn nói riêng là mang tính chất giai cấp Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩmquyền xét xử, có vai trò quan trọng trong việc đóng góp phần tuân thủ, chấp hành các quyđịnh của pháp luật, phán quyết ly hôn của Tòa án thể hiện dưới hình thức: bản án, quyếtđịnh Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly hôn, giải quyết với nhau được tất cả các nộidung sau khi ly hôn thì Tòa án công nhận ly hôn và ra quyết định dưới hình thức quyếtđịnh công nhận thuận tình ly hôn Nếu vợ chồng mâu thuẫn, tranh chấp thì Tòa án xét xử

và ra phán quyết ly hôn dưới dạng bản án Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan

hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, điều đó là hoàn toàn có lợi cho vợ, chồng, con cái và cácthành viên trong gia đình Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực của việc ly hôn, thì lyhôn có nhiều điểm tiêu cực: gây chia rẽ quan hệ gia đình, gây ảnh hưởng trực tiếp tới đờisống và tương lai của các thành viên, đặc biệt là các con, bên cạnh đó còn ảnh hưởng tới

xã hội

Như vậy, ly hôn chính là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án,quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng,

nó là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình

1.1.2 Khái niệm chế định ly hôn

Hôn nhân là hiện tượng mang tính xã hội mang tính giai cấp sâu sắc Ở mỗi chế độ xãhội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua nhà nước, bằng pháp luật quy định chế độhôn nhân phù hợp với lợi ích của giai cấp mình nhà nước xác định rõ những trường hợpđược phép kết hôn và những trường hợp được phép ly hôn

Nhà nước quy định những căn cứ để được kết hôn và những điều kiện để được ly hôn,

ý chí của các bên đương sự không phải là điều kiện quyết định để phá bỏ hôn nhân màviệc ly hôn phải căn cứ vào điều kiện được quy đinh trong Luật hôn nhân và gia đình, nóphản ánh hôn nhân không thể tồn tại được nữa nghĩa là hôn nhân đã chết

Việc quy định những căn cứ ly hôn phải phù hợp với bản chất của sự việc, phù hợpvới tình trạng thực tế của hôn nhân, phải xác định trong điều kiện nào thì cuộc hôn nhân

đã không còn tồn tại Việc tòa án xét xử cho ly hôn chỉ là công việc công nhận một thực

tế khách quan là cuộc hôn nhân đó không tồn tại nữa Chính vì vậy mà căn cứ ly hôn làrất khó, nó đòi hỏi phải hết sức khoa học, phù hợp với bản chất, đạo đức Nhà nước xã hộichủ nghĩa, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân laođộng

Như vậy, căn cứ ly hôn là những tình tiết hay các điều kiện pháp lý do pháp luật quyđịnh Và chỉ khi có những tình tiết, hay điều kiện đó, thì Tòa án mới quyết định cho vợ

Trang 13

chồng ly hôn Đó là điều kiện cần và đủ được quy định một cách thống nhất trong phápluật, dựa trên các điều kiện đó thì Tòa án cho phép vợ chồng ly hôn

1.1.3 Cơ sở và ý nghĩa của việc quy định chế định ly hôn

Hệ thống pháp luật Hôn nhân và gia đình của nhà nước ta từ năm 1945 đến nay đãquy định căn cứ ly hôn ngày càng hoàn thiện, phù hợp, là cơ sở pháp lí để tòa án giảiquyết các án kiện ly hôn

Cơ sở để quy định căn cứ ly hôn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin Quanđiểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thể hiện quyền tự do kết hôn của nam nữ nhằm xác lậpquan hệ vợ chồng và quyền tự do ly hôn của vợ chồng nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng

và quyền tự do ly hôn theo đúng bản chất của một sự kiện – đó là hôn nhân "đã chết", sự

tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối Đương nhiên, không phải ý chí của nhà lập pháp,cũng phải sự tùy tiện của các cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được

cuộc sống hôn nhân này "đã chết" hay chưa Nhà lập pháp chỉ có thể xác định những

điều kiện bản chất của mối quan hệ, theo đó những trường hợp nào về mặt pháp lý hônnhân được coi là sự tan vỡ nghĩa là về thực chất, hôn nhân tự nó đã phá vỡ và việc tòa áncho phép phá bỏ hôn nhân chỉ là việc ghi biên bản công nhận sự tan vỡ bên trong của nó

và chỉ khi nào hôn nhân xét về bản chất không còn là hôn nhân nữa, tòa án mới được xửcho ly hôn

Hệ tư tưởng tôn giáo luôn có ảnh hưởng không nhỏ tới các quy định của pháp luật,đặc biệt là vấn đề ly hôn là quan hệ tình cảm, bị chi phối bởi các tư tưởng tôn giáo, xã hộiđương thời Đối với những nước chịu ảnh hưởng của tôn giáo theo kinh thánh, hôn nhân

là do sự tác hợp của Chúa – không thể tự ý xóa bỏ nên nhiều nước chịu ảnh hưởng củatôn giáo không cho phép vợ chồng ly hôn Chế độ Ngô Đình Diệm với Luật gia đình năm

1959 quy định vấn đề ly thân nhưng lại cấm ly hôn

Căn cứ ly hôn được quy định trên cơ sở các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa trongtừng thời kỳ lịch sử Pháp luật phong kiến đề cao bảo vệ quyền gia trưởng của người đàn

ông, trách nhiệm của người đàn ông Do đó, pháp luật phong kiến luôn “trọng nam,

khinh nữ” gây ra sự bất bình đẳng trong vấn đề ly hôn giữa vợ và chồng Căn cứ ly hôn

trên cơ sở đạo đức Nho giáo, đặt ra đối với người đàn ông với vai trò gia trưởng trong giađình Tới thời kỳ thực dân Pháp, chủ nghĩa nhân dân ảnh hưởng tới từng gia đình, từngquy định pháp lý Luật cho phép thuận tình ly hôn trong trường hợp vợ chồng không hợptính tình Nhiều quy định của pháp luật hôn nhân thời kỳ Pháp thuộc có ảnh hưởng rấtlớn tới đời sống nhân dân ta Khi tới thời kỳ xã hội chủ nghĩa, kinh tế phát triển, vị thếcủa người phụ nữ ngày càng được nâng cao Các quy định của pháp luật về ly hôn nóichung và căn cứ ly hôn nói riêng có sự quy định cụ thể, rõ ràng hơn, bình đẳng hơn giữa

vợ và chồng, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên

Sắc lệnh số 159/SL quy định căn cứ ly hôn vẫn dựa trên cơ sở “lỗi” của vợ chồng.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 (Điều 26), Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986(Điều 40), Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 89) và hiện nay là Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2014 (Điều 55 và Điều 56) đã quy định căn cứ ly hôn theo quan điểmcủa chủ nghĩa Mác - Lênin Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam trước đây không quyđịnh những căn cứ ly hôn riêng biệt mà quy định căn cứ ly hôn chung nhất, dựa vào bảnchất của quan hệ hôn nhân đã tan vỡ Nhưng với Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã

có sự lồng ghép quy định về căn cứ ly hôn vào quy định về thuận tình ly hôn cũng như lyhôn theo yêu cầu của một bên

Như vậy, căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 của Nhà nước tađược quy định dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, từ thực tiễn kinh tế, văn

Trang 14

hóa, xã hội Các căn cứ ly hôn có cơ sở khoa học và đã qua thực tiễn kiểm nghiệm trongmấy chục năm qua, từ khi Nhà nước ta ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959.Nhà nước quy định về căn cứ ly hôn, đây là căn cứ pháp lý, công vụ để Tòa án có thểgiải quyết yêu cầu ly hôn một cách chính xác và thỏa đáng Quy định căn cứ ly hôn trongpháp luật là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng được thể hiện trong một số nội dung sau:

Thứ nhất, quy định căn cứ ly hôn đảm bảo lợi ích của giai cấp thống trị, của nhà

nước, của xã hội trong việc điều chỉnh quan hệ gia đình, trong đó có quan hệ vợ chồng

Xã hội muốn vững mạnh thì tế bào của xã hội – gia đình phải ổn định Nhà nước chỉ chấpnhận cho phép chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng khi việc ly hôn không tráivới lợi ích gia đình Ví dụ: trong pháp luật phong kiến, lợi ích của gia đình được chútrọng đứng trên lợi ích của vợ và chồng, do đó, khi có căn cứ làm ảnh hưởng tới lợi íchcủa gia đình, thì vợ chồng được ly hôn

Thứ hai, căn cứ ly hôn đảm bảo sự công bằng về lợi ích giữa các bên đương sự Khi

giải quyết ly hôn, cần hiểu điều đó nói lên một thực trạng hôn nhân đã tan vỡ, quan hệ vợ

chồng không thể tồn tại được nữa, vì “sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và giả dối” và ly

hôn là một giải pháp tích cực để giải phóng cho vợ chồng, đảm bảo lợi ích của vợ chồng,của gia đình và xã hội Ly hôn bảo đảm quyền lợi ích các bên, giải thoát xung đột, bế tắctrong đời sống hôn nhân, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệhôn nhân

Thứ ba, quy định căn cứ ly hôn giúp cho vợ chồng nhận thức, điều chỉnh hành vi của

mình để có thể tự dàn xếp, thỏa thuận để quan hệ vợ chồng tốt đẹp hơn; hoặc đưa raquyết định ly hôn Thông qua đó, là biện pháp hữu hiệu trong việc củng cố quan hệ giađình, bảo vệ lợi ích chính đáng của các đương sự và trên hết là bảo vệ cuộc hôn nhân đãđược xác lập, vì chỉ có người trong cuộc mới thực sự hiểu tình trạng thực tế của cuộcsống vợ chồng

Thứ tư, căn cứ ly hôn là cơ sơ pháp lý để cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết

việc ly hôn của vợ chồng khi có yêu cầu Tòa án chỉ giải quyết ly hôn khi việc ly hôn làcần thiết, phù hợp với thực tế của quan hệ vợ chồng và đảm bảo sự thống nhất trong việcxét xử Trường hợp Tòa án xét thấy quan hệ hôn nhân của vợ và chồng không có đủ căn

cứ để đưa ra quyết định, bản án ly hôn thì Tòa sẽ không ra quyết định, bản án ly hôn.Đồng thời, Tòa tiến hành cho các bên hòa giải tại cơ sở, phân tích, giải thích để cho cácbên hiểu và suy nghĩ lại

Thứ năm, căn cứ ly hôn nhằm bình ổn quan hệ hôn nhân, bảo vệ và thúc đẩy sự phát

triển của xã hội, góp phần củng cố chế độ một vợ một chồng, tự nguyện, tiến bộ, gópphần khẳng định nguyên tắc bình đẳng giữa vợ chồng Căn cứ ly hôn là cơ sở đảm bảo sựnhất quán, thống nhất trong việc xây dựng những chế định, những quy phạm pháp luậthôn nhân và gia đình Khi tế bào gia đình của một xã hội ổn định thì xã hội đó cũng được

ổn định Các quy định về căn cứ ly hôn được quy định chặt chẽ thì sẽ góp phần giảm tìnhtrạng ly hôn, khi tình trạng hôn nhân chưa đáp ứng đủ các căn cứ ly hôn theo pháp luậtquy định thì Tòa sẽ không giải quyết ly hôn Căn cứ ly hôn thể hiện sự bình đẳng ở việcpháp luật không “thiên vị” chủ thể nào, pháp luật quy định quyền yêu cầu ly hôn, đưa ra

và chứng minh các căn cứ ly hôn là quyền của cả vợ và chồng Điều này được quy địnhtrong Luật HN&GĐ 2014 là hoàn toàn tiến bộ so với pháp luật ở những thời kỳ trước –thiên vị người chồng hơn

Trang 15

1.2 KHÁI LƯỢC PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CĂN CỨ LY HÔN QUA CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ

1.2.1 Căn cứ ly hôn theo pháp luật thời kỳ phong kiến.

Lịch sử Việt Nam gắn liền với chế độ phong kiền tập quyền kéo dài hàng nghìn năm.Thời kỳ phong kiến có bộ luật Quốc triều hình luật ban hành dưới triều vua Lê ThánhTông (Luật Hồng Đức) và Hoàng Việt Luật lệ được ban hành dưới triều vua Gia Long(Luật Gia Long) Bộ quốc triều hình luật gồm sáu quyển, 13 chương, trong đó có 3 quyểngồm 58 điều quy định về hôn nhân

Trong pháp luật phong kiến Việt Nam, căn cứ ly hôn thường được biết dưới dạng

“duyên cớ ly hôn”, các căn cứ này được chia thành 3 loại: thứ nhất: người chồng đơn phương bỏ vợ khi vợ phạm “thất xuất”; ly hôn bắt buộc và ly hôn thuận tình.

Luật pháp về hôn nhân và gia đình ở thời kỳ phong kiến chịu ảnh hưởng của nhiều tưtưởng triết học Nho giáo, Phật giáo; có liên quan đến nhiều phong tục và đạo đức, rấtnhiều điều luật bắt nguồn từ phong tục tập quán của Việt Nam và đi sâu vào tiềm thức vàthành thói quen ứng xử trong nhân dân

Dưới thời Lê, pháp luật phong kiến đã quy định căn cứ ly hôn phản ánh sự bất bìnhđẳng, tùy tiện và có lợi cho đàn ông, lỗi luôn thuộc về người đàn bà Quan hệ hôn nhân

gia đình được thiêt lập trên những nguyên tắc mang tính chất “bảo thủ”: bảo đảm tôn ti

trật tự, bình đẳng trong quan hệ giữa các thành viên, trọng nam khinh nữ, xác lập quyềntối cao của người gia trưởng…

Trong quan hệ ly hôn, người chồng có quyền tự ý bỏ vợ hoặc hai bên thỏa thuận hoặc

bị bắt buộc Theo điều 388 của bộ Luật Hồng Đức, người chồng có quyền bỏ vợ khi vợ

phạm tội “thất xuất” - bảy lỗi của người vợ, người chồng buộc phải bỏ vợ, nếu không bỏ

vợ thì pháp luật cũng buộc họ phải bỏ, đồng thời người chồng còn bị xử biếm Điều 310

Bộ luật Hồng Đức quy định khi vợ hay nàng hầu phạm lỗi sau mà nếu người chồng

không bỏ sẽ bị chém đầu bao gồm:“ không có con, dâm đãng, ghen tuông, trộm cắp, bất

hòa, ác tật, không kính trọng bố mẹ chồng”… Như vậy sự bất bình đẳng được thể hiện

giữa vợ và chồng bởi chỉ thừa nhận quyền bỏ vợ đơn phương từ phía người chồng

Trường hợp ly hôn bắt buộc, Bộ luật Hồng Đức cũng có những quy định để bảo vệ

quyền lợi của người vợ: Điều 308 có quy định: “Phàm chồng đã bỏ lửng vợ năm tháng

mà không đi lại (vợ được trình với quan sở tại và quan làm chứng), thì mất vợ Nếu vợ

đã có con thì cho thời hạn một năm, vì việc quan phải đi xa thì không theo luật này Nếu

đã bỏ vợ mà ngăn người khác lấy vợ mình thì phải tội biếm.” Như vậy, pháp luật thời kỳ

này cũng có những quy định bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ

Tuy nhiên, trong cái xã hội phong kiến, người phụ nữ bị xem thường thì mặc dù phápluật phong kiến có quy định cho họ một chút đi chăng nữa thì thực tế quyền lợi đó không

có điều kiện để thực hiện Người đàn bà trong xã hội phong kiến đời sống bị duy trì kìmhãm trong vòng tối tăm hà khắc của xã hội

Như vậy, những điều kiện quy định về ly hôn trong pháp luật của nhà nước phongkiến dưới thời Lê đã không phản ánh thực chất được tình trạng cuộc hôn nhân tan vỡ haychưa mà nó chỉ là những cái cớ để người chồng bỏ vợ mà thôi

Dưới triều Nguyễn, Luật Gia Long có một số căn cứ ly hôn điển hình như sau: quyđịnh các trường hợp bắt buộc ly hôn đó là trường hợp vợ mưu sát chồng, chồng bán vợlàm lẽ, chồng cho thuê hay cầm cố … Điều 108 Bộ luật Gia Long quy định: “Khi người

vợ không ở trong trường hợp “thất xuất” hay không làm một hành vi nào tuyệt nghĩa vợ

chồng, nếu người chồng tự tiện bỏ vợ sẽ bị phạt 80 trượng”

Trong trường hợp người vợ phạm vào điều “thất xuất” nhưng chứng minh được rằng

ở trong tình trạng “tam bất khứ” mà người chồng vẫn bỏ thì người chồng bị phạt trượng

Trang 16

và buộc hai vợ chồng về đoàn tụ Có ba trường hợp người chồng không được bỏ vợ (tam

bất khứ): “Tiền bần tận, hậu phú quý (khi lấy nhau vợ chồng nghèo nhưng sau giàu có),

giữ canh niên tam tang (khi vợ đã để tang nhà chồng 3 năm), sở thú vô sở quy (khi lấy nhau vợ còn bà con hàng xóm nhưng khi bỏ nhau, vợ không có nơi nương tựa)”

Trong trường hợp người vợ “tuyệt nghĩa” mà người chồng vẵn không bỏ thì bị phạt

80 trượng Quy định này thể hiện tính nhân đạo, quan tâm tới người phụ nữ Quy địnhnày xuất phát từ phong tục, tình nghĩa vợ chồng nhằm bảo vệ quyền lợi cơ bản tối thiểunhất của người vợ phù hợp với đạo lý của Việt Nam

Như vậy, Quốc Việt Luật lệ đã có đôi chút tiến bộ so với Luật Hồng Đức về vấn đề lyhôn của vợ chồng, đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ hơn, và đã ưng thuận vấn đề ly hôn của

cả hai bên mà không xét tội

Thông qua việc nghiên cứu hai bộ luật trên ta thấy căn cứ ly hôn chia làm 3 loại:

Thứ nhất, trường hợp “thất xuất” không nằm trong hoàn cảnh “tam bất khứ” Căn cứ

này chỉ dành cho người chồng có quyền bỏ vợ

Thứ hai, trường hợp “tuyệt nghĩa” căn cứ cho người chồng có quyền bỏ vợ, người

vợ có quyền bỏ chồng

Thứ ba, thuận tình ly hôn: quy định này mang tính hình thức, trên thực tế ít khi được

áp dụng do sự trói buộc chặt chẽ của lễ giáo phong kiến kết hợp với tư tưởng trọng namkhinh nữ hai vợ chồng ít khi có quyền tự do ly hôn

Điểm chung của hai bộ luật trên là đều coi sự đồng tình xin ly hôn theo cả bộ luật

Hông Đức và bộ luật Gia Long đều là căn cứ ly hôn Những quy định “thất xuất” trong

bộ luật Gia Long cũng giống như trong bộ luật Hồng Đức Quan hệ vợ chồng được củng

cố bằng nhiều nghĩa vụ khác nhau và được duy trì bởi lễ giáo phong kiến Các nhà làmluật đã đặt lợi ích, danh dự của gia đình lên trên lợi ích của cá nhân Nhìn chung, lễ giáophong kiến có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các quy định về căn cứ ly hôn trong pháp luậtphong kiến

Như vậy, căn cứ ly hôn được quy định trong pháp luật phong kiến tuân theo trật tự tựnhiên Ngoài ra còn các trường hợp cưỡng bức ly hôn nếu hai vợ chồng tuyệt nghĩa vớinhau

1.2.2 Căn cứ ly hôn theo pháp luật thời kì Pháp thuộc.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, nước ta chia thành ba miền và áp dụng ba bộ luật để điềuchỉnh các vấn đề hôn nhân và gia đình, trong đó có các căn cứ ly hôn Có thể khẳng địnhrằng ở thời kỳ này pháp luật quy định về căn cứ ly hôn có nhiều tiến bộ hơn

Căn cứ ly hôn vẫn dựa trên yếu tố lỗi, tuy nhiên có sự tiến bộ hơn là không chỉ có sựdựa vào lỗi của vợ, chồng mà còn dựa vào lỗi của cả hai người vợ và chồng Vấn đề lyhôn ở thời kỳ này chủ yếu được xây dựng dựa theo tư tưởng Nho giáo phong kiến, vàtheo Dân Luật của Pháp năm 1804 với quan điểm thuần túy coi hôn nhân là một hợpđồng do Dân luật điều chỉnh, chính vì vậy, yếu tố lỗi được đặt lên trước tiên

Tại Điều 118 Bộ dân luật Bắc kỳ(1931), Điều 155 Bộ dân luật Trung kỳ (1936), quyđịnh: Ly hôn phải do tòa án xét xử, phải có những lý do đã được quy định trong luật Cả

Bộ Dân luật Bắc kỳ và Bộ Dân luật Trung kỳ đã chia căn cứ ly hôn ra làm 3 loại:

Thứ nhất, căn cứ để chồng xin ly hôn: vợ ngoại tình; người vợ thứ đánh chửi, hành

hạ vợ chính; vợ tự ý bỏ về nhà mẹ đẻ mặc dù đã được chồng đến gọi về nhà chồng Tuynhiên hai bộ luật này cũng quy định cụ thể trường hợp việc bỏ nhà ra đi của vợ là dochồng có thái độ, cách xử xự khiến cuộc sống chung trở nên bức bối hoặc không thể chấpnhận được nữa thì không được coi là căn cứ ly hôn

Thứ hai, căn cứ để vợ xin ly hôn: người chồng không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

cho con; chồng bỏ nhà hơn hai năm (Bộ dân luật bắc kỳ) và hơn một năm (Bộ dân luật

Trang 17

Trung kỳ) mà không có lý do chính đáng; chồng đuổi vợ ra khỏi nhà mà không có lý dochính đáng; chồng làm rối loan trật tự thê thiếp.

Thứ ba, căn cứ chung cho hai bên xin ly hôn: vợ hay chồng phạm tội đại hình (trừ tội

chính trị); vợ hoặc chồng thiếu đaọ đức khiến cuộc sống chung không thể tiếp tục được;

vợ hoặc chồng ngược đãi, hành hạ, sỉ nhục bản thân hoặc ông bà, cha mẹ người kia; mộtngười bị bệnh điên hoặc bị bệnh kinh niên ở vĩnh viễn trong bệnh viện

1.2.3 Căn cứ ly hôn từ năm 1945 tới nay.

a Quy định cuả pháp luật về căn cứ ly hôn giai đoạn từ 1945- 1954

Sau tháng Tám 1945 Nhà nước tiến hành phong trào “vận động đời sống mới”, nhằm

vận động quần chúng nhân dân tự nguyện xóa bỏ những hủ tục phong kiến lạc hậu trongđời sống hôn nhân và gia đình

Năm 1950 nhà nước ta ban hành sắc lệnh 97- SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một sốquy lệ và chế định trong dân luật, có 15 điều trong đó có 8 điều quy định về hôn nhân vàgia đình

Sắc lệnh 159- SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn, gồm 9 điều chia thành

3 mục: duyên cớ ly hôn, thủ tục ly hôn và hiệu lực của việc ly hôn Sắc lệnh 159- SLngày 17/11/1950 thừa nhận khả năng ly hôn do lỗi, do một các bên mắc bệnh tâm thầnhoặc bệnh hiểm nghèo, thậm chí do không hợp tính tình ( Điều 2) Đây cũng là một trongnhững điểm hạn chế của sắc lệnh sắc lệnh 159- SL ngày 17/11/1950

Sắc lệnh quy định duyên cớ ly hôn cho cả hai vợ chồng: vợ, chồng, có quyền ly hônnếu một bên ngoại tình, một bên can án phạt giam, một bên mắc bệnh điên hoặc bệnh khóchữa; một bên bỏ nhà đi không có duyên cớ chính đáng; vợ chồng tính tình không hợphoặc đối xử với nhau đến nỗi không thể sống chung được (Điều 2)

Các văn bản pháp luật dân sự do thực dân Pháp ban hành trước năm 1945 thường quy

định căn cứ ly hôn dựa vào “lỗi” của vợ Nhưng có thể thấy trong giai đoạn (1945-1954)

điểm tiến bộ lớn là quy định về quyền yêu cầu ly hôn đã đến với người vợ Sắc lệnh thựchiện nguyên tắc bảo vệ phụ nữ có thai và thai nhi khi ly hôn Trường hợp mà người vợ cóthai thì vợ hay chồng có thể xin tòa án hoãn đến sau kỳ sinh nở mới xử việc ly hôn (Điều5)

Sắc lệnh 97- SL ngày 22/5/1950 và sắc lệnh 159-SL ngày 17/11/1950 quy định về lyhôn đã được ban hành lúc đó nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách, góp phần vào việcxóa bỏ ảnh hưởng của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến đế quốc, thực hiện bìnhđẳng giữa nam và nữ

Như vậy, hai sắc lệnh đã có những điểm tiến bộ hơn so với pháp luật hôn nhân thờiphong kiến, thể hiện tính dân chủ và tiến bộ của một nền pháp chế mới

b Quy định cuả pháp luật về căn cứ ly hôn giai đoạn từ 1954-1975

Ở miền Bắc, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực kể từ ngày 13/1/1960,lần đầu tiên căn cứ ly hôn được xác định hoàn toàn khác, dựa trên thực trạng của quan hệhôn nhân Trong vấn đề căn cứ ly hôn luật Hôn nhân gia đình năm 1959 Điều 26 quyđịnh: “Khi một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, cơ quan có thẩm quyền sẽ điều tra và hòagiải Hòa giải không được, Tòa án nhân dân sẽ xét xử Nếu tình trạng trầm trọng, đờisống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thì Tòa án nhândân sẽ cho ly hôn.” Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 đã có những điểm tiến bộ hơn

so với pháp luật ở những thời kỳ trước, chỉ quy định căn cứ ly hôn dựa trên yếu tố “lỗi”.

Ở Miền Nam, năm 1959 Luật hôn nhân gia đình của Ngô Đình Diệm ra đời cấm vợchồng ruồng bỏ và ly hôn Những trường hợp đặc biệt muốn được ly hôn phải do tổngthống xem xét (điều 55 luật này) Luật hôn nhân gia đình năm 1959 nhấn mạnh đến

Trang 18

trường hợp lấy nhầm phải đầu sỏ cộng sản giết người thì phải ly hôn Căn cứ này thể hiện

ý chí của chính quyền Diệm một chính quyền chống “cộng sản” điên cuồng, đồng thời

thấy được chế độ hôn nhân gia đình ở thời kỳ này không được quan tâm đúng mực

Điều 170 Bộ dân luật 1972 coi ngoại tình là căn cứ ly hôn Mặc dù đã bãi bỏ chế độ

đa thê, nhưng vẫn thể hiện sự bất bình đẳng, bảo vệ quyền gia trưởng, người vợ phụthuộc chồng Quy định về căn cứ ly hôn chỉ mang tính vỏ bọc, hình thức Bộ hình luậtđịnh tội ngoại tình của vợ sẽ bị trừng phạt (điều 336, điều 338) còn chồng ngoại tình thìkhông bị trừng phạt Trong khi theo Bộ dân luật 1972 muốn có chứng cứ về việc ngoạitình thì nguyên đơn phải có bản án do tòa án hình sự xét xử Người vợ không thể có bản

án đó vì người chồng không được coi là phạm tội, muốn chứng minh chồng có ngoại tình

vợ phải dùng các biện pháp khác được pháp luật chấp nhận nhưng khó khăn hơn nhiều.Như vậy, căn cứ ly hôn do chế độ cũ quy định nhìn chung đều mang tính hình thức vàthể hiện sự không bình đẳng trong xã hội Giai cấp thống trị chỉ đưa ra những quy định vềcăn cứ ly hôn theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị nay

1.2.4 Căn cứ ly hôn của luật hôn nhân gia đình từ năm 1975 đến

Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 1986 ra đời, luật HN&GĐ mới được ban hànhthay thế cho luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 đã ghi nhận nhiều quy định tiến bộ,góp phần xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu và tàn tích của chế độ hôn nhân và giađình phong kiến;

Theo điều 40 Luật hôn nhân và gia đình 1986 quy định: “Khi vợ hoặc chồng, hoặc cả

hai vợ chồng có đơn xin ly hôn thì Toà án nhân dân tiến hành điều tra và hoà giải Trong trường hợp cả hai vợ chồng xin ly hôn, nếu hoà giải không thành và nếu xét đúng là hai bên thật sự tự nguyện ly hôn, thì Toà án nhân dân công nhận cho thuận tình ly hôn Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, nếu hoà giải không thành thì Toà án nhân dân xét xử Nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án nhân dân xử cho ly hôn”.

Điều 40 đã nêu ra những căn cứ ly hôn có mối liên hệ mật thiết không tách rời nhau.Tình trạng trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài bao hàm vấn đề về tình cảm và

cả mâu thuẫn vợ chồng sâu sắc đến mức không thể giải quyết được, ảnh hưởng đến đờisống mọi người trong gia đình, ảnh hưởng đến việc giáo dục con cái

Quan hệ đời sống hằng ngày phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết: tính cách khácnhau, quan điểm sống khác nhau, sinh hoạt khác nhau, sở thích cá nhân…nếu vợ chồngkhông cùng nhau giải quyết thì gây nên mâu thuẫn giữa quan hệ giữa vợ chồng, hoặc vớicác thành viên trong gia đình bên vợ hoặc bên chồng, là điều đương nhiên, từ đó phátsinh mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng Ví dụ: việc cư xử không khéo giữa nàng dâu với

mẹ chồng, anh em bên chồng…là một trong những nguyên nhân gây nên mâu thuẫntrong quan hệ vợ chồng dẫn đến ly hôn

Điểm chung của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 1986, là trường hợp thuận tình ly hôn không áp dụng căn cứ ly hôn, nếu các bên tựnguyện ly hôn thì Tòa án ra quyết định thuận tình ly hôn Căn cứ ly hôn chỉ áp dụng đốivới trường hợp ly hôn do một bên yêu cầu, khi vợ chồng có đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án

có trách nhiệm điều tra, hòa giải, xem xét “tình trạng trầm trọng” có đúng hay không,

“mục đích hôn nhân” có đạt được hay không để Tòa án có những quyết định đúng đắn,

Trang 19

tế hôn nhân đã tan vỡ, Tòa án cho phép phá bỏ hôn nhân, chỉ là ghi biên bản công nhận

sự tan rã bên trong của nó

Căn cứ ly hôn theo Luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2000

Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 có quy định về căn cứ ly hôn:

“ 1 Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống

chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì tòa án quyết định cho ly hôn.

2 Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bi Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.”

Ngoài sự kế thừa của các căn cứ ly hôn ở thời kỳ trước, đặc biệt là Luật hôn nhân vàgia đình năm 1986 thì Luật hôn nhân gia đình 2000 đã quy định thêm căn cứ ly hôn nữa

là “trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bi Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì

Tòa án giải quyết cho ly hôn” Trong quan hệ vợ chồng, việc chồng hoặc vợ bị mất tích,

chết đã ảnh hưởng sâu sắc tới quan hệ vợ chồng và các thành viên trong gia đình Đây làđiềm tiến bộ về căn cứ ly hôn của Luật hôn nhân gia đình 2000 phù hợp với yêu cầu củathực tế Quy định này đã cụ thể hóa hậu quả của việc tòa án tuyên bố mất tích trong Bộluật dân sự của Nhà nước ta

Như vậy, so với Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 đã kế thừa, phát triển, mở rộng và cụ thể, chi tiết hơn nhằm mục đích giải quyết tốtnhất vấn đề ly hôn trong xã hội Việt Nam thời kỳ đó

Căn cứ ly hôn theo Luật hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2014

Kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và Luật hôn nhân và giađình năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Luật hôn nhân và gia đình năm

2014 có quy định về căn cứ ly hôn tại Điều 55 và Điều 56

Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về thuận tình ly hôn Điềunày được giữ nguyên như điều 90 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

Điều 56 được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở điều 91 Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 Theo đó, bổ sung sau quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại

Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn” nội dung “nếu có căn cứ về việc

vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của

vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” Và bổ sung: Trong trường hợp vợ hoặc

chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho lyhôn Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật nàythì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực giađình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định căn cứ ly hôn tại Điều 89 là áp dụngcho cả thuận tình ly hôn và ly hôn do một bên yêu cầu, bởi vậy thực tế, nguyên nhân phátsinh tranh chấp trong cuộc sống vợ chồng dẫn tới ly hôn hay thuận tình ly hôn đều dotình cảm các bên rạn nứt, các bên đã không làm tròn nghĩa vụ với nhau Trong khi đó,Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 lại quy định rõ ràng, cụ thể hơn về căn cứ ly hôn:Điều 55 về thuận tình ly hôn; Điều 56 về Ly hôn theo yêu cầu của một bên Pháp luật đãquy định cụ thể chi tiết về quyền nghĩa vụ của các bên trước khi ly hôn, cũng như các căn

cứ để Tòa án xác định tình trạng hôn nhân để đưa tới quyết định ly hôn

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Điều 55 và Điều 56) đã quy định căn cứ ly hôntheo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam trướcđây không quy định những căn cứ ly hôn riêng biệt mà quy định căn cứ ly hôn chungnhất, dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân đã tan vỡ Nhưng với Luật hôn nhân và gia

Trang 20

đình năm 2014 đã có sự lồng ghép quy định về căn cứ ly hôn vào quy định về thuận tình

ly hôn cũng như ly hôn theo yêu cầu của một bên

Tóm lại, ta có thể thấy rằng pháp luật hôn nhân gia đình nói chung và pháp luật về cáccăn lý ly hôn nói riêng, từ năm 1945 đến nay, các căn cứ ly hôn đã được sửa đổi, bổ sung

để trở lên hoàn thiện hơn, phù hợp với từng thời kỳ lịch sử Căn cứ ly hôn được quy địnhtrong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là tiến bộ nhất, bởi các quy định về căn cứ lyhôn đã được quy định chi tiết, rõ ràng hơn đối với từng trường hợp: thuận tình ly hôn, lyhôn theo yêu cầu của một bên

1.3 CĂN CỨ LY HÔN THEO PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA

1.3.1 Căn cứ ly hôn theo pháp luật nước Pháp

Cộng hòa Pháp là quốc gia có nền độc lập phát triển và có ảnh hưởng lớn tới các nướctrong khu vực và thế giới Bộ luật Napoleon 1804 là sản phẩm pháp điển hóa, là khuôn mẫu để các nước khác xây dựng luật pháp

Hôn nhân là sự gắn kết đời sống của hai bên nam nữ dựa trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, chân chính Trường hợp các bên có lỗi nghĩa là đã tự mình phá vỡ quan hệ tình cảm, hôn nhân giữa các bên

Pháp luật Pháp căn cứ trên cơ sở lỗi và xem xét đến tình trạng hôn nhân thực tế của

vợ chồng, với các quy định “lỗi” một cách bình đẳng cho cả vợ và chồng Trường hợp vợ

hoặc chồng có lỗi, một bên có quyền kiện đòi ly hôn Điều 229 Bộ luật Napoleon quy

định: “Có thể giải quyết cho ly hôn trong các trường hợp sau: ly hôn do lỗi” Điều 243

Bộ luật Napoleon quy định: “vợ hoặc chồng có thể xin ly hôn khi nêu ra toàn bộ những

sự việc bắt nguồn từ bên vợ hoặc chồng là do cuộc sống chung không thể tiếp tục” Một

bên vợ hoặc chồng làm đơn đến Tòa xin ly hôn trong đó nêu lỗi của bên kia, được bên kiathừa nhận lỗi trước Tòa án thì Tòa sẽ ra quyết định tuyên bố ly hôn

Trường hợp hai bên thuận tình ly hôn, không xem xét tới yếu tố lỗi: Điều 230 Bộ luật

Napoleon quy định: “Nếu hai vợ chồng cùng xin ly hôn thì phải nói rõ lý do”, quy định

này có phần tiến bộ vì đã đảm bảo quyền tự do ý chí cũng như quyền bình đẳng của các bên trong quan hệ hôn nhân Trong trường hợp này, các căn cứ ly hôn được xác định nếu việc ly hôn do bên kia làm cho đời sống hôn nhân không thể tiếp tục và bên kia chấp nhận ly hôn thì Thẩm phán tuyên bố cho ly hôn mà không cần xem xét tới yếu tố lỗi Quyđịnh này phù hợp với bản chất của hôn nhân theo quy định của pháp luật Pháp là một hợpđồng dân sự

Trường hợp cả hai vợ chồng đã sống riêng biệt từ hai năm trở lên, tính từ thời điểm cóquyết định triệu tập ra tòa để giải quyết việc ly hôn (Điều 238 Bộ luật Napoleon) Từ thờiđiểm đó, quan hệ vợ chồng được coi là hoàn toàn chấm dứt

1.3.2 Căn cứ ly hôn theo pháp luật Thái Lan

Pháp luật Thái Lan coi hôn nhân là một hợp đồng dân sự, vợ và chồng có quyền vànghĩa vụ ngang nhau về quan hệ nhân thân và tài sản Pháp luật Thái Lan thừa nhận haitrường hợp ly hôn là thuận tình ly hôn và theo quy định của Tòa án khi một bên vợ chồng

có đơn yêu cầu

Pháp luật Thái Lan rất tôn trọng nguyên tắc một vợ một chồng, đề cao sự chung thủycủa vợ chồng Điều 1516 Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan quy định căn cứ để lyhôn, một trong hai bên có quyền kiện đòi ly hôn:

Thứ nhất, người chồng đã nuôi dưỡng hoặc thờ phụng một người đàn bà khác như vợ

mình hoặc người vợ có ngoại tình Pháp luật Thái Lan quy định chi tiết về các hành vi,điều kiện của vợ chồng để làm căn cứ ly hôn

Trang 21

Thứ hai, Căn cứ khoản 2, 3 Điều 1516 Bộ Luật dân sự và thương mại Thái Lan, vợ

hoặc chồng có phạm lỗi, có hành vi đạo đức xấu, bất kể hành vi đó có phải là một tộihình sự hay không, nếu nó gây hại cho người kia vợ hoặc chồng bị hành hạ nghiêmtrọng về thể xác và tinh thần, lăng mạ người kia hoặc con cái người đó

Thứ ba, nếu người vợ hoặc chồng đã rời bỏ người kia hơn một năm; bị tuyên bố mất

tích hoặc rời khỏi nơi cư trú của mình hơn ba năm mà không biết chắc là người đó sốnghay chết thì người còn lại có quyền kiện đòi ly hôn

Thứ tư, vợ hoặc chồng đã phá vỡ cam kết của mình để giữ đạo đức tốt.

Khi quan hệ vợ chồng không thể tiếp tục bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyênnhân là họ không chung sống, không chăm sóc nhau trong một thời gian dài: hơn mộtnăm hoặc hơn ba năm thì như vậy, quan hệ tình cảm giữa vợ và chồng cũng như cácthành viên trong gia đình – mục đích của hôn nhân đã không đạt được Hôn nhân đổ vỡ,một trong hai bên vợ hoặc chồng có quyền xin ly hôn, đó là nhu cầu chính đáng xuất phát

từ bản thân nguyện vọng của mỗi cá nhân, từ thực tiễn của quan hệ hôn nhân

Ta có thể nhận thây điểm chung của pháp luật Thái Lan và Cộng hòa Pháp đó là chia

ra hai trường hợp ly hôn theo thuận tình và ly hôn theo yêu cầu của một bên Cũng nhưpháp luật Pháp, pháp luật Thái Lan cũng đề cao yếu tố lỗi trong quan hệ hôn nhân giữa

vợ chồng Pháp luật của cả hai nước luôn đề cao sự bình đẳng trong quan hệ hôn nhângiữa vợ và chồng, tôn trọng quyền ly hôn của các bên, hạn chế tình trạng bạo lực giađình

Tóm lại, qua nghiên cứu về căn cứ ly hôn theo pháp luật của Pháp và Thái Lan, ta cóthể thấy đây là hai quốc gia phát triển, có những quy định tiến bộ, mang tính nhân văntiên tiến trong quan hệ hôn nhân, những quy định có tính dự trù sâu sa về quan hệ hônnhân

Trang 22

CHƯƠNG 2 CHẾ ĐỊNH LY HÔN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH2.1 CĂN CỨ LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP THUẬN TÌNH LY HÔN

Điều 55 Luật HN&GĐ 2014 quy định về thuận tình ly hôn:

“Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự

nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.”

Việc giải quyết ly hôn cần dựa trên các điều kiện nhất định phải được tiến hành ở Tòa

án nhân dân, pháp luật quy định việc thuận tình ly hôn là công nhận và đảm bảo quyền tự

do ly hôn chính đáng của hai bên vợ chồng Thuận tình ly hôn là trường hợp cả hai vợchồng cùng yêu cầu chấm dứt hôn nhân được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợchồng Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì trong trường hợp hai vợchồng cùng có yêu cầu thuận tình ly hôn, sự tự nguyện của hai vợ chồng khi yêu cầuchấm dứt hôn nhân là một căn cứ quyết định việc chấm dứt hôn nhân

Tự nguyện ly hôn là cả hai vợ chồng đều tự do trình bày nguyện vọng, ý chí, khôngcưỡng ép, không bị lừa dối trong việc thuận tình ly hôn Việc thể hiện ý chí thật sự tựnguyện ly hôn phải xuất phát từ trách nhiệm đối với gia đình, phù hợp với yêu cầu củapháp luật và chuẩn mực đạo đức xã hội và nhu cầu của bản thân chủ thể trong việc quyếtđịnh ly hôn; đồng thời cả hai bên đều nhận thức được hậu quả của việc ly hôn

Theo quy định của pháp luật, người vợ và người chồng cùng thuận tình ly hôn là thểhiện rõ ý chí, ý nguyện của các bên về việc giải quyết mối quan hệ hôn nhân giữa hai vợchồng Khi bản thân hai vợ chồng xét thấy cuộc sống gia đình không hạnh phúc, cuộcsống chung có nhiều khúc mắc, không đạt được mục đích của cuộc hôn nhân và họ tựnhận thức được việc ly hôn là cần thiết thì hai vợ chồng đồng tình cùng nhau yêu cầu Tòa

án giải quyết việc ly hôn

Căn cứ để Tòa án quyết định cho vợ chồng ly hôn là ý chí tự nguyện của các bên, thật

sự nghiêm túc và chắc chắn, không bị cưỡng ép, không bị lừa dối của vợ và chồng trongviệc thuận tình ly hôn bảo đảm thật sự tự nguyện ly hôn Trong quá trình hòa giải, thẩmphán có thể tiến hành tất cả các biện pháp điều tra, xác minh cần thiết, thậm chí có thểtìm hiểu để làm rõ động cơ xin ly hôn của các đương sự

Cũng trong Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định trong việc thuậntình ly hôn, ngoài ý chí thật sự tự nguyện xin thuận tình ly hôn của vợ chồng, đòi hỏi hai

vợ chồng còn phải có sự thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng,chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con Quy địnhnày có nghĩa rằng thỏa thuận của hai bên vợ chồng là việc thống nhất quan điểm về toàn

bộ các vấn đề: “tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở

bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con”.

Về vấn đề tài sản: các bên sẽ tiến hành tự thỏa thuận dựa trên những nguyên tắcchung mà pháp luật dân sự đã quy định tại BLDS 2015 Tài sản chung của vợ chồng gồm

Trang 23

tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoalợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng,trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có đượcthông qua giao dịch bằng tài sản riêng Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi Tuynhiên, việc chia tài sản dựa trên các nguyên tắc sau: một là, hoàn cảnh của gia đình vàcủa vợ, chồng; hai là, công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và pháttriển khối tài sản chung Việc nội trợ của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động

có thu nhập; ba là, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh vànghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; bốn là, lỗi của mỗibên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng

Vấn đề con cái: về nguyên tắc, việc ai là người nuôi con khi ly hôn có thể được cácđương sự (vợ, chồng) tự thỏa thuận với nhau và được tòa ghi nhận trong bản án Sau khi

ly hôn, vợ, chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưathành niên (dưới 18 tuổi) hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân

sự, hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Bên còn lại –tức là bên không được trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng (mức cấp dưỡng tuỳ theođiều kiện kinh tế hoặc theo thoả thuận) để người kia chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đếnkhi trưởng thành

Về vấn đề bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con: Quy định của luật HN&GĐ

về việc thuận tình ly hôn cũng đã hướng tới việc bảo vệ quyền làm mẹ của người vợ bằng

việc quy định “chỉ cho phép vợ chồng đồng thuận ly hôn khi đảm bảo được quyền lợi

chính đáng của người vợ và con”.

Khoản 4 Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014 có quy định về nguyên tắc vấn đề bảo vệ

quyền lợi chính đáng của bà mẹ và trẻ em: “4 Nhà nước, xã hội và gia đình có trách

nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình” Quy định về căn cứ ly hôn khi đảm bảo quyền lợi chính

đáng của vợ và con đã thể hiện tính thống nhất, quy định chặt chẽ của pháp luật hôn nhân

và gia đình

Bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em bằng pháp luật là việc Nhà nước ghi nhận quyền phụ

nữ và trẻ em đồng thời ban hành những quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm việc thựchiện các quyền phụ nữ và trẻ em trên thực tế.Trẻ em có vai trò quan trọng đối với giađình, với xã hội, với quốc gia và thế giới Vì vậy, việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em khicha mẹ ly hôn phải được đặc biệt quan tâm

Trong trường hợp thuận tình ly hôn, cả vợ và chồng đều thống nhất và đồng thuậntrong việc giải quyết các hậu quả của việc ly hôn: hai bên thật sự có ý nguyện ly hôn,không bị cưỡng ép hay chi phối bởi yếu tố nào khác; hai bên phân chia tài sản rõ ràng,không có khúc mắc gì; hai bên cùng nhau thỏa thuận đầy đủ về việc trông nom, nuôidưỡng, chăm sóc, giáo dục con Với những điều kiện đặt ra như trên mà thật sự có sựđảm bảo quyền lợi chính đáng cho người vợ và con thì Tòa án nhất trí giải quyết cho vợchồng ly hôn Tuy nhiên, pháp luật lại quy định chặt chẽ hơn, nếu trong trường hợpnhững vấn đề đã nêu trên mà không đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người vợ, ngườicon thì Tòa án sẽ xem xét lại việc thuận tình ly hôn của hai bên

Pháp luật chưa có quy định cụ thể về khái niệm “không bảo đảm quyền lợi chính

đáng của vợ và con” Tuy nhiên, ta có thể hiểu rằng, không bảo đảm quyền lợi chính

đáng của vợ và con là việc thỏa thuận về tài sản, nhân thân, con cái của hai bên làm ảnhhưởng hoặc chưa đáp ứng được nhu cầu của vợ và con Thông qua quy định này, ta có thể

Trang 24

thấy được pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam có xu hướng bảo vệ phụ nữ và trẻ em

– “thế yếu” trong quan hệ hôn nhân và gia đình Không chỉ dừng lại ở đó, việc ghi nhận

của pháp luật đối với vấn đề bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của phụ nữ và trẻ emkhi vợ chồng ly hôn còn là sự tiếp nối truyền thống đạo đức của dân tộc

Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được với nhau về việc vợ/chồng haychồng/vợ là người trực tiếp nuôi con; cũng như nếu vợ/ chồng có đủ cơ sở để chứng minhviệc chồng/vợ không đảm bảo được các quyền lợi của con (như điều kiện về nuôi dưỡng,chăm sóc, giáo dục; đặc biệt là các điều kiện cần thiết cho sự phát triển về thể chất, bảođảm về việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần của con) trongkhi đó, vợ/chồng lại đáp ứng được đầy đủ được những điều kiện này, thì Tòa án có thểxem xét, quyết định cho vợ/chồng được quyền nuôi con Nhìn chung, khi quyết định traoquyền nuôi con cho người vợ hay người chồng, Tòa án đều phải xem xét quyền lợi vềmọi mặt của cháu bé trên thực tế

Ví dụ: trường hợp anh A và chị B thỏa thuận về việc ly hôn, hai bên thỏa thuận vềviệc con chung là C đủ 6 tuổi – chưa thành niên, sẽ do chị B nuôi nấng, tuy nhiên, do tínhchất công việc của chị B là thường xuyên đi công tác, không có thời gian chăm sóc concái; kinh tế khó khăn hơn anh A vì phải nuôi mẹ già Như vậy, thỏa thuận của A và B làkhông hợp lý, không đảm bảo được quyền lợi chính đáng của C

Trong trường hợp hòa giải tại Tòa mà không thỏa thuận được một trong các điều kiệntrên thì Tòa án sẽ lập biên bản về việc hòa giải không thành Trong đó nêu rõ những vấn

đề hai bên không thoả thuận được hoặc có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợichính đáng của vợ và con, đồng thời tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án ly hôn theo thủtục chung

Trường hợp sự thỏa thuận không thể hiện đầy đủ quyền và lợi ích chính đáng của vợ

và con, thẩm phán có thể đi đến quyết định bác đơn xin thuận tình ly hôn của các bên; tuynhiên, trên thực tế, thẩm phán chỉ bác đơn khi đã xem xét thỏa thuận ban đầu và đã yêucầu các bên về việc sửa đổi những chi tiết cần thiết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chínhđáng của vợ và con mà các bên không sửa đổi hoặc sửa đổi không thỏa đáng Trongtrường hợp các đương sự chỉ báo cho thẩm phán nội dung thỏa thuận về vấn đề con cái

mà không làm rõ các thỏa thuận về tài sản, thì thẩm phán phải yêu cầu các đương sựthông báo bổ sung về các thỏa thuận cần thiết đó Trên thực tế, thẩm phán vẫn quyết địnhcho ly hôn trong trường hợp này và, về phần tài sản được ghi nhận một cách đơn giảntrong bản án: các đương sự đã thỏa thuận xong hoặc các đương sự không yêu cầu Tòa ángiải quyết

Thực tế, nguyên nhân phát sinh tranh chấp trong cuộc sống vợ chồng dẫn đến ly hônhay thuận tình ly hôn cũng là do tình cảm của vợ chồng bị rạn nứt, một trong hai bên đãkhông làm tròn nghĩa vụ của mình với gia đình hay vì tự ái cá nhân hoặc hiểu lầm trongquan hệ của vợ hoặc chồng mình nên đã quyết định yêu cầu Tòa án giải quyết cho họđược ly hôn Nhưng khi có sự giải thích, phân tích đúng, sai trong quan hệ của họ củangười làm công tác hòa giải để khuyên họ nên bỏ qua những lầm lỗi, tha thứ cho nhau đểquay lại chung sống với nhau thì họ đã hiểu ra và quay lại đoàn tụ chung sống với nhau

và Tòa án cũng không phải giải quyết về các vấn đề kéo theo như con và tài sản Nếu hoàgiải thành tức là vợ chồng rút đơn thuận tình ly hôn thì Toà án lập biên bản hoà giảithành, sau 15 ngày kể từ ngày Toà án lập biên bản hoà giải thành mà các bên đương sựkhông thay đổi ý kiến thì Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 10, Điều

186, Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự 2011)

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì Toà án vẫn tiến hành hoà giải.Việc cho ly hôn trong trường hợp thuận tình này đối với Tòa án là không phải dễ, bởi vì

Trang 25

khó có thể định lượng khi chỉ dựa trên yếu tố thỏa thuận tự nguyện thật sự của hai vợchồng nếu không xem xét đến các yếu tố tình trạng mâu thuẫn vợ chồng đến đâu, mức độảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân đến cấp độ nào và gắn với việc thỏa thuận của họ đếnđâu về việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

Trong thực tế có nhiều trường hợp các bên “giả tự nguyện ly hôn” và “giả thỏa thuận

ly hôn” nhằm lừa dối cơ quan có thẩm quyền vì một mục đích nào đó Việc ly hôn “để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân” xem là hành vi ly

hôn giả tạo và bị xử phạt hành chính Khoản 15 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014 có quy định

về khái niệm ly hôn giả tạo: “Ly hôn giả tạo là việc lợi dụng ly hôn để trốn tránh nghĩa

vụ tài sản, vi phạm chính sách, pháp luật về dân số hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích chấm dứt hôn nhân” Hiện tượng ly hôn giả tạo nhằm mưu cầu lợi

ích riêng Họ tự nghĩ ra nhưng mâu thuẫn và lý do chính đáng nhưng thực tế họ lại khôngmong muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng và giữa họ không hề có mâu thuẫn Nếu khôngđiều tra kỹ thì Tòa án có thể kết luận là họ đã có đủ căn cứ để công nhận thuận tình lyhôn Trong những trường hợp này Tòa án cần xử bác đơn xin thuận tình ly hôn của đương

sự đồng thời phê phán, giáo dục đương sự về những hành vi sai trái đó

Như vậy, vấn đề xác định căn cứ ly hôn là sự tự nguyện và tự thỏa thuận của các bênrất khó để xác định sự tự nguyện thực sự Bởi vậy, Tòa án cần đưa ra các quyết địnhchính xác để bảo vệ quyền lợi của các bên Tránh trương hợp các bên thuận tình ly hôngiả nhằm mục đích: chuyển hộ khẩu, phụ cấp người ăn theo; lấy vợ lẽ nhằm tẩu tán tàisản, trốn tránh nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với người khác

2.2 CĂN CỨ LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP LY HÔN DO MỘT BÊN VỢ

HOẶC CHỒNG YÊU CẦU

Ly hôn theo yêu cầu của một bên là trường hợp chỉ có một trong hai vợ chồng, hoặccha, mẹ, người thân thích của một trong hai bên yêu cầu được chấm dứt quan hệ hônnhân

Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu củamột bên như sau:

“1 Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án

giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.”

Quy định về căn cứ ly hôn do một bên yêu cầu của Luật hôn nhân và gia đình ViệtNam năm 2014 có tính chi tiết, cụ thể hơn Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm

2000 Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 quy định về ly hôn theo

yêu cầu của một bên: “Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án

không thành thì Tòa án xem xét, giải quyết việc ly hôn” Quy định của Luật hôn nhân và

gia đình Việt Nam năm 2000 vẫn còn mang tính chung chung và chưa mô tả đầy đủ cáctrường hợp, căn cứ ly hôn

Như vậy, từ sự kế thừa của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Luật hônnhân và gia đình Việt Nam năm 2014 đã có những điểm mới, tiến bộ hơn về các căn cứ lyhôn quy định tại Điều 56 Khi có yêu cầu ly hôn của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ

Trang 26

chồng, Tòa án phải tiến hành xác định tình trạng quan hệ hôn nhân đó và áp dụng căn cứ

ly hôn để giải quyết, việc giải quyết ly hôn cần phải chính xác và đòi hỏi sự linh hoạttrong việc vận dụng căn cứ ly hôn đối với mỗi trường hợp cụ thể

2.2.1 Trường hợp có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Thứ nhất, về hành vi bạo lực gia đình: Theo khoản 2 Điều 1 Luật phòng chống bạo

lực gia đình số 02/2007/QH12 quy định về khái niệm bạo lực gia đình: “2 Bạo lực gia

đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”.

Các hành vi được coi là hành vi bạo lực gia đình được liệt kê rất cụ thể tại Điều 2

Khoản 1 Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007: “a) Hành hạ, ngược đãi, đánh

đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng; b) Lăng mạ hoặc hành vi

cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục; e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng

ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính; i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở”.

Một bên vợ hoặc chồng có một trong số các hành vi kể trên đều bị coi là có hành vibạo lực gia đình Hành vi vi phạm đó tác động tới một bên vợ hoặc chồng, làm ảnhhưởng không nhỏ tới thể lực, trí lực, tâm tư tình cảm của vợ hoặc chồng, làm rạn nứtquan hệ tình cảm trong thời kỳ hôn nhân Tình trạng bạo lực trong gia đình ngày càng giatăng và thể hiện tính chất nghiêm trọng xảy ra với nhiều lý do khác nhau Việc LuậtHN&GĐ năm 2014 quy định như vậy phù hợp với thực tiễn hiện nay Bởi qua thực tiễngiải quyết các án ly hôn của Tòa án cho thấy số vụ ly hôn có hành vi ngược đãi, đánh đậpchiếm tỉ lệ cao nhất và phụ nữ đa phần là nạn nhân của tình trạng này

Thứ hai, về hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng: khi tham

gia quan hệ hôn nhân, vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau vềmọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quyđịnh trong Hiến pháp, pháp luật có liên quan (Điều 17 Luật HN&GĐ 2014) Vợ chồngkhông chỉ có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡnhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; mà còn có nghĩa vụ sốngchung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghềnghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý

do chính đáng khác Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhânphẩm, uy tín cho nhau

Hôn nhân của vợ chồng là do cả vợ và chồng xây dựng, vun đắp lên Nhưng khi cácbên không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình đối với vợ, chồng, đối với cuộc hônnhân thì quan hệ hôn nhân đó sẽ dần đổ vỡ và dẫn tới bế tắc

Hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng là một trong những căn

cứ để Tòa án quyết định giai quyết việc ly hôn cho vợ và chồng Tuy nhiên, hiện naypháp luật cũng chưa có quy định cụ thể về việc: hành vi vi phạm như thế nào được coi là

Ngày đăng: 06/07/2020, 14:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w