Là một cán bộ đang làm việc tại Trung tâm Chăm sóc và nuôi dưỡng NTT Hà Nội với mong muốn vận dụng những kiến thức về Chính sách công đ học vào thực tiễn, tôi đ chọn đề tài "Thực hiện ch
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ HƯƠNG CHÂM
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG CHĂM SÓC VÀ NUÔI DƯỠNG
NGƯỜI TÂM THẦN TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài nghiên cứu: “Thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức,
người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần trên địa bàn Hà Nội” là
kết quả nỗ lực cố gắng của bản thân tôi cùng với sự hướng dẫn tận tình của giảng
viên hướng dẫn khoa học TS Hà Thị Thư
Tôi xin cam đoan những lời trên đây là hoàn toàn đúng sự thật và tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 6 năm 2020
Học viên
Trần Thị Hương Châm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG CHĂM SÓC
VÀ NUÔI DƯỠNG NGƯỜI TÂM THẦN 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần 7 1.2 Khái niệm, mục tiêu, chủ thể, đối tượng thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần 10 1.3 Quy trình thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần 18 1.4 Các chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần 22 1.5 Các tiêu chí đánh giá thực hiện chính sách đối với CC, VC, NLĐ chăm sóc và nuôi dưỡng NTT 30
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG NGƯỜI TÂM THẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 34
2.1 Khái quát về công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần trên địa bàn thành phố Hà Nội 34 2.2 Tình hình thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần trên địa bàn thành phố Hà Nội 41 2.3 Đánh giá kết quả thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần 52 2.4 Nguyên nhân của kết quả thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần 60
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG CHĂM SÓC VÀ NUÔI DƯỠNG NGƯỜI TÂM THẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 63
Trang 53.1 Định hướng phát triển việc thực hiện chính sách cho công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần trên địa bàn thành phố Hà Nội từ nay đến năm 2025 và các năm tiếp theo 63 3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay 65 3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT tại Trung tâm Chăm sóc, Nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội 74
KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Trình độ chuyên môn của cán bộ công nhân viên năm 2019 40 Bảng 2.2 Đánh giá kết quả CC, VC, NLĐ biết về chính sách đối với CC, VC,
NLĐ CS và ND NTT 44 Bảng 2.3 Đánh giá kết quả CC, VC, NLĐ đánh giá về hình thức tuyên truyền
chính sách 45 Bảng 2.4: Mức độ tham gia của các bộ phận trong việc tuyên truyền chính
sách đối với CC, VC, NLĐ 46 Bảng 2.5 Kết quả đánh giá về việc hướng dẫn thực hiện chính sách của l nh
đạo Trung tâm và phòng 47 Bảng 2.6 Kết quả rà soát việc thực hiện chính sách đối với CC, VC, NLĐ của
Trung tâm 48 Bảng 2.7 Đánh giá về thực hiện các giải pháp nhằm làm tốt chính sách đối
với CC, VC, NLĐ 51
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chế độ chính sách đối với người lao động là một nội dung quan trọng gắn liền với quyền lợi thiết thực của người lao động Nội dung này luôn là mối quan tâm hàng đầu của các cơ quan, đơn vị và người lao động thuộc các ngành nghề khác nhau
Trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế của nước ta cùng với việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng x hội chủ nghĩa, hệ thống chính sách, pháp luật về lao động cũng được đổi mới, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Việc tạo ra hành lang pháp lý đ tạo điều kiện quan trọng cho việc hình thành và phát triển thị trường lao động, góp phần chuyển đổi cơ cấu lao động, nhất là chuyển đổi lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp - nơi có năng suất lao động thấp sang khu vực công nghiệp, dịch vụ có năng suất lao động cao hơn Chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng lên đáp ứng nhu cầu của thị trường, doanh nghiệp; tiêu chu n lao động cơ bản được bảo đảm, quan hệ lao động hình thành và hướng đến sự hài hòa
ổn định; vấn đề an sinh x hội, nhất là việc bảo đảm ổn định cuộc sống cho các đối tượng yếu thế, bị tác động trong quá trình công nghiệp hóa, của nền kinh tế thị trường được đặt ra và có sự quan tâm nhất định Hệ thống chính sách, pháp luật lao động đ góp phần quan trọng trong việc sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả để phát triển và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tận dụng tốt hơn cơ hội của thời kỳ dân số vàng cho sự nghiệp phát triển đất nước
Trong những năm qua, vấn đề thực hiện chính sách, pháp luật lao động đ đạt được những thành tựu đáng kể, hệ thống chính sách, pháp luật về lao động đ được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế; công tác quản lý nhà nước về chế độ, chính sách cho người lao động được tăng cường nhất là công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật, kiểm tra, thanh tra giám sát việc thực hiện, qua đó ý thức chấp hành của người sử dụng lao động và người lao động được nâng lên… Nhờ vậy, đời sống vật chất và tinh thần của người lao động được nâng lên Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì vẫn còn một số khó khăn, thách thức đang đặt ra, đó là: Hệ thống chính sách, pháp luật lao động tuy đ được hoàn thiện song vẫn phải tiếp tục được đánh giá để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp; Tính
ổn định và bền vững của thị trường lao động vẫn là thách thức trong thời gian tới; Năng suất lao động ở nước ta đang đứng trước những thách thức to lớn, tốc độ tăng
Trang 8chậm lại, làm cho khoảng cách giữa nước ta với các nước tiếp tục gi n ra; Việc thực hiện tiêu chu n lao động về tiền lương, giờ làm thêm và bảo hiểm x hội đang tồn tại những nhân tố phức tạp, chứa đựng lợi ích khác nhau giữa các bên như người lao động và người đại diện cho người lao động
Xuất phát từ những lý do trên, việc quan tâm tới chính sách của người lao động nói chung và công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng NTT trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói riêng là một yêu cầu cấp bách Là một cán
bộ đang làm việc tại Trung tâm Chăm sóc và nuôi dưỡng NTT Hà Nội với mong muốn vận dụng những kiến thức về Chính sách công đ học vào thực tiễn, tôi đ
chọn đề tài "Thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động
chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần trên địa bàn Hà Nội" làm luận văn thạc
sĩ chuyên ngành Chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, vấn đề thực hiện chính sách, động lực, tạo động lực, khơi dậy tiềm năng, phát huy tích cực của nhân tố con người được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm Đồng thời, đây cũng
là chủ đề cho nhiều tác giả lựa chọn để làm đề tài nghiên cứu
Bài viết: “Mấy suy nghĩ về chính sách đãi ngộ với cán bộ, công chức hiện
nay” của tác giả Nguyễn Minh Tuấn đăng trên Tạp chí Tuyên giáo tháng 3-2012
phân tích vai trò khuyến khích của chính sách đ i ngộ đối với CBCC Tác giả cho rằng chính sách đ i ngộ về vật chất là cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất Ngoài ra, chính sách đ i ngộ cán bộ phải thực sự xác định là động cơ trực tiếp, quan trọng nhất để thu hút cán bộ giỏi vào công tác tại các cơ quan Đảng, nhà nước, các tổ chức chính trị - x hội Trên cơ sở phân tích ấy, tác giả cũng đề ra nhiều giải pháp nhằm cải cách chế độ tiền lương công chức như: tinh giản bộ máy hành chính, thực hiện trả lương theo nguyên tắc: tiền tệ hoá đầy đủ tiền lương, chống bình quân, cào bằng, đồng thời chống đặc quyền, đặc lợi về thu nhập dưới mọi hình thức, tiết kiệm chi ngân sách đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học, dự án luật, nghị định, đầu tư, hội thảo, hội nghị, tiếp tục thực hiện chủ trương khoán quỹ lương theo biên chế và khoán chi phí hành chính ổn định một số năm nhằm tạo động lực giảm biên chế, khuyến khích cán bộ công chức nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác, hoàn thiện, phát huy tác dụng thực sự của chế độ tiền thưởng định kỳ, đột xuất và các hình thức khác
Trang 9Bài viết: " hính sách đ i với ng i o động: h c tr ng và gi i pháp hoàn
thiện" của tác giả Phạm Minh Huân đăng trên Tạp chí cộng sản ngày 03/11/2016
Bài viết đ đánh giá thực trạng vấn đề thực hiện chính sách ở nước ta; kết quả đạt được; những khó khăn, thách thức đặt ra; các giải pháp trong thời gian tới để làm tốt hơn nữa trong việc thực hiện chính sách đối với người lao động
Bài viết: “Về àn sóng công chức xin nghỉ việc?” của tác giả Thang Văn Phúc
đăng trên trang web caicachhanhchinh.gov.vn năm 2008 đ cho thấy rõ thực trạng cùng với những con số về số người, tỷ lệ công chức rời bỏ công việc hiện tại để ra bên ngoài làm Một số nguyên nhân được chỉ ra như nguyên nhân về việc thiếu các chính sách và giải pháp để phát triển năng lực cho CBCC; sức cạnh tranh nguồn nhân lực trên thị trường lao động diễn ra hết sức mạnh mẽ, người lao động có quyền lựa chọn nơi làm việc hấp dẫn hơn, đủ điều kiện phát triển bản thân và có một mức thu nhập tương xứng với năng lực làm việc So với thời kỳ trước những năm 2000 thì đầu thế kỷ XXI, việc công chức rời bỏ vị trí công việc, đặc biệt là những người
có trình độ, năng lực cao ở các thành phố lớn thực sự trở thành một vấn đề đáng phải quan tâm, đòi hỏi phải có sự cải cách, đổi mới trong vấn đề quản lý và phát triển nhân sự, tạo động lực làm việc để CBCC gắn bó hơn với công việc Tác giả cũng nhấn mạnh đến việc cần tập trung xây dựng các chính sách, giải pháp ngắn hạn về các chính sách khuyến khích, thu hút, trọng dụng người giỏi, có năng lực trong nền công vụ, các chính sách động lực về tiền lương, tiền thưởng, các loại phụ cấp trách nhiệm công vụ, vấn đề chính sách nhà ở cho công chức
Bài viết của tác giả Nguyễn Phú Trọng và tác giả Trần Xuân Sầm "Luận cứ
kho học cho việc nâng c o chất ợng đội ngũ cán bộ trong th i kỳ đẩy m nh công nghiệp hó hiện đ i hó đất n ớc" Nxb chính trị Quốc gia Hà Nội 2001 Trên cơ sở
các quan điểm lý luận và tổng kết thực tiễn, cuốn sách đ phân tích, lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ l nh đạo chủ chốt các cấp, từ đó đưa ra những kiến nghị về phương hướng, giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ này cả về chất lượng, số lượng và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đ y mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhìn chung, các bài viết đ được các tác giả phân tích và làm rõ những vấn đề
lý luận chung về chính sách, thực hiện chính sách đối với người lao động nói
Trang 10chung Đồng thời, các tác giả cũng đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện chính sách đối với người lao động Tuy nhiên, có rất ít đề tài nghiên cứu về thực hiện chính sách đối với người lao động trong đơn vị sự nghiệp nói chung, cán
bộ làm việc tại các cơ sở bảo trợ x hội thuộc thành phố Hà Nội nói riêng Vì vậy, nghiên cứu việc thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng NTT trên địa bàn Thành phố Hà Nội sẽ xây dựng những giải pháp mới về thực hiện chính sách cơ quan đơn vị sự nghiệp công lập
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động nói chung, luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần (NTT) làm việc tại Trung tâm Chăm sóc và nuôi dưỡng NTT trên địa bàn thành phố Hà Nội; từ đó rút ra những khó khăn, hạn chế, tồn tại của việc thực hiện chính sách và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng NTT trên địa bàn Thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa các lý luận về thực hiện chính sách; thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng NTT;
- Phân tích thực trạng vấn đề thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động lao động chăm sóc và nuôi dưỡng NTT trên địa bàn Thành phố Hà Nội; đánh giá kết quả đạt được, những tồn tại và chỉ ra những nguyên nhân;
- Phân tích đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng NTT tại thành phố Hà Nội;
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng NTT trên địa bàn Thành phố Hà Nội
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc
Trang 11và nuôi dưỡng NTT
4.2 Phạm vi nghiên cứu
hội bao gồm chính sách lao động việc làm, chính sách tiền lương và phân phối thu nhập; chính sách bảo đảm x hội, chính sách giáo dục đào tạo, khen thưởng và kỷ luật
với công chức, viên chức, người lao động làm việc tại Trung tâm Chăm sóc và nuôi dưỡng NTT thuộc thành phố Hà Nội
giải pháp có giá trị tham khảo đến năm 2020
lao động (gọi chung là người lao động) làm việc tại Trung tâm Chăm sóc và nuôi
dưỡng NTT Hà Nội
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách công
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích tài liệu: Phân tích các nguồn tư liệu, số liệu có sẵn về thực hiện chính sách
- Phương pháp điều tra, bảng hỏi: Tiến hành nghiên cứu định lượng với số lượng khoảng 190 phiếu điều tra dành cho các đối tượng là người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng NTT trên địa bàn thành phố Hà Nội Các phiếu khảo sát được đánh giá khách quan, chi tiết, đúng nội dung đề tài đề cập
- Phương pháp phân tích, thống kê: đề tài đ tiến hành thu thập thông tin về thực hiện chính sách của công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng NTT tại Trung tâm Chăm sóc và nuôi dưỡng NTT thuộc thành phố Hà Nội; đồng thời thu thập thông tin thông qua khảo sát đánh giá của chính cán bộ về thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động làm việc tại Trung tâm Chăm sóc và nuôi dưỡng NTT Hà Nội
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện chính sách đối với công
chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người
lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Định hướng phát triển và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực
hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG CHĂM SÓC VÀ
NUÔI DƯỠNG NGƯỜI TÂM THẦN
1.1 Khái niệm và đặc điểm công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần
1.1.1 Một số khái niệm
* Khái niệm công chức, viên chức, người lao động (gọi chung là người lao động)
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – x hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy l nh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – x hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy l nh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [27]
Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật."
Viên chức được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý (trừ các chức vụ quy định là công chức) Viên chức là người thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học, công nghệ, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và x hội, thông tin - truyền thông, tài nguyên môi trường, dịch vụ [28]
Một người lao động, người thợ hay nhân công là người làm công ăn lương, đóng góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản ph m cho người chủ (người
Trang 14sử dụng lao động) và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể được đóng góp vào một công việc hay chức năng
Trong hầu hết các nền kinh tế hiện đại, thuật ngữ "nhân viên", "công nhân"
đề cập đến một mối quan hệ được xác định cụ thể giữa một cá nhân và một công ty,
Người lao động có thể là người:
Lao động phổ thông, lao động chân tay (có tay nghề hoặc không có tay nghề): Công nhân, thợ, nông dân làm thuê (tá điền), người giúp việc,
Lao động trí óc (hoặc lao động văn phòng): Nhân viên (công chức, tư chức), cán bộ, chuyên gia,
* Khái niệm ng i tâm thần
Bệnh, tiếp cận từ góc độ y học, là những vấn đề bất thường về sức khoẻ Vậy bệnh tâm thần là những bất thường về sức khoẻ tâm thần Những bất thường về sức khoẻ tâm thần rất đa dạng và phong phú Biểu hiện đơn giản, những bất thường này có thể chỉ
là sự giảm sút về trí nhớ, về sự chú ý; biểu hiện phức tạp hơn, nó có thể là những hành vi kích động, sự thay đổi về tính tình, cách cư xử mà không có nguyên nhân rõ ràng
Người bị bệnh tâm thần (NTT) là những người có biểu hiện bất thường về sức khoẻ tâm thần
Đối với những NTT nặng, bị loạn thần, biểu hiện của người bệnh là có hành
vi, tác phong sai lệch nhiều, quá trình phản ánh thực tại sai lệch trầm trọng Người
bị tâm thần nhẹ, bệnh tâm căn, bệnh nhân cách, quá trình phản ánh thực tại cũng như hành vi, tác phong rối loạn ít, bệnh nhân vẫn còn có thể sinh hoạt, lao động, học tập được, tuy nhiên hiệu quả và năng lực có giảm sút
Bệnh tâm thần ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người mang bệnh và những người xung quanh có liên quan đến người bệnh như gia đình, làng xóm…
Trang 15Có một số bệnh tâm thần phổ biến như bệnh tâm thần phân liệt, bệnh động kinh… Nguyên nhân của bệnh có thể do tổn thương trực tiếp lên tổ chức n o hay tổn thương ngoài n o gây cản trở hoạt động của n o; do tâm lý như loạn thần, căng thẳng tâm lý, rối loạn hành vi, rối loạn ám ảnh và lo âu…; nguyên nhân do cấu tạo thể chất bất thường và phát triển tâm lý gây ra như các dị tật b m sinh, thiếu sót về hình thành nhân cách… và các nguyên nhân chưa rõ ràng do có sự kết hợp phức tạp của nhiều nguyên nhân khác nhau như di truyền, chuyển hoá, miễn dịch…
NTT và gia đình NTT có những nhu cầu cơ bản như nhu cầu được chăm sóc
hỗ trợ y tế, nhu cầu hỗ trợ tài chính, nhu cầu được quan tâm, thăm hỏi, chia sẻ, động viên, nhu cầu được hỗ trợ về chế độ chính sách, tham vấn tâm lý, tập huấn nâng cao kỹ năng chăm sóc NTT… Đặc biệt, đối với NTT không có khả năng hoặc
bị hạn chế khả năng lao động, thì nhu cầu được chăm sóc, có người chăm sóc, hỗ trợ, nuôi dưỡng là rất cần thiết
* Khái niệm ng i o động t i các cơ sở chăm sóc và nuôi d ỡng ng i tâm thần
Chăm sóc nuôi dưỡng người tâm thần là một trong 3 hợp phần của chính sách trợ giúp x hội cho người bị tâm thần và gia đình họ (trợ cấp tiền mặt, cứu trợ
kh n cấp và chính sách x hội), là hoạt động cung cấp dịch vụ công tác x hội (CTXH) chăm sóc sức khỏe tinh thần cho những người bị tâm thần; nuôi dưỡng chăm sóc họ và cung cấp các dịch vụ khác
Việc cung cấp dịch vụ diễn ra ở cộng đồng hoặc ở cơ sở chăm sóc nuôi dưỡng người tâm thần Người lao động tại các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng NTT thực hiện 2 chức năng chính (i) chăm sóc, nuôi dưỡng; (ii) chữa trị bệnh có tính chất chuyên môn, chuyên sâu nhằm phòng ngừa, khắc phục hậu quả do người bệnh gây ra và hướng đến hòa nhập cộng đồng trên cơ sở đáp ứng những nhu cầu thiết yếu, vấn đề tồn tại hướng đến đảm bảo an sinh x hội Người lao động làm việc tại các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng NTT ngoài việc chăm sóc, nuôi dưỡng còn kết nối thăm khám và điều trị nội trú cho NTT tại Bệnh viện tâm thần, tạo thành mạng lưới khép kín giúp đảm bảo chăm sóc sức khỏe tốt nhất cho NTT Đây là những người thực hiện dịch vụ hỗ trợ cho NTT thực hiện xuyên suốt một quá trình khép kín giúp tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần ban đầu cho đến các hoạt
Trang 16động can thiệp điều trị chuyên sâu, đồng thời giảm thiểu tối đa thời gian, công sức, gánh nặng của người chăm sóc, gia đình NTT
1.1.2 Đặc điểm người lao động làm việc tại cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng người tâm thần
Người lao động làm việc tại các Trung tâm chăm sóc nuôi dưỡng người tâm
thần có các đặc điểm sau:
- Người lao động làm việc tại các Trung tâm chăm sóc nuôi dưỡng người tâm thần phải có kiến thức chuyên môn về cơ chế chính sách liên quan đến công tác khám, điều trị NTT; nắm rõ chức năng, nhiệm vụ, các dịch vụ chăm sóc y tế cho NTT tại các đơn vị cung cấp dịch vụ trên địa bàn từ trung ương đến địa phương và các cơ quan đơn vị ngang cấp
- Tổ chức các dịch vụ giúp đỡ đối tượng giải quyết khó khăn một cách hiệu quả
- Kết nối được tiềm năng của mọi cá nhân, nhóm, cơ quan tổ chức, người dân, tài nguyên trong cộng đồng, góp phần cải thiện nâng cao đời sống mọi mặt cho NTT tại chính cơ sở đang nuôi dưỡng, hỗ trợ
- Thông qua sự tham gia của gia đình NTT trong thực hiện trợ giúp giải quyết những vấn đề tồn tại, giúp tăng tính thuyết phục cho các tổ chức, cá nhân nhận thấy sự nỗ lực của chính bản thân gia đình NTT trong việc thực hiện giải quyết những khó khăn đang gặp phải
1.2 Khái niệm, mục tiêu, chủ thể, đối tượng thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần
Trang 17Vậy, chính sách đối với cán bộ là những sách lược và kế hoạch cụ thể của Nhà nước áp dụng đối với cán bộ, công chức nhằm đạt được mục đích nhất định trên cơ sở thực hiện các quyền lợi, lợi ích đối với cán bộ dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế của đất nước
Từ góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu trong nước đ đưa ra một số định nghĩa về "Chính sách"
Từ cách phân biệt "chính sách" theo nghĩa rộng và "chính sách" theo “nghĩa hẹp”, trong bài viết: "Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn xây dựng chính sách ở nước ta", TS Nguyễn Hữu Đổng và TS Lê Minh Quân định nghĩa: "Chính sách với nghĩa rộng (nghĩa chung nhất) là tổng thể các quan điểm, các biện pháp mà chủ thể
l nh đạo, quản lý (Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị x hội) tác động lên đối tượng l nh đạo, quản lý nhằm đạt đến một mục tiêu nào đó trong một khoảng thời gian nhất định" Còn "Chính sách" theo nghĩa hẹp, là một "quy định cụ thể nào đó nhằm thực hiện đường lối, nhiệm vụ trong một thời gian nhất định" [22]
Định nghĩa về chính sách của tác giả Chu Thành phân biệt cụ thể hơn "chính sách" theo nghĩa bao quát "chính sách lĩnh vực" và "chính sách theo nghĩa hẹp": Chính sách theo nghĩa bao quát là đường lối, chủ trương quyết định chính trị để giải quyết công việc quốc gia của một chính đảng, của nhà nước Chính sách cũng là chủ trương, quyết định của Đảng, Nhà nước để giải quyết một lĩnh vực nhất định của đời sống kinh tế, chính trị, x hội của đất nước Theo nghĩa hẹp, chính sách là sự quy định chế độ, thể chế hoá các mối quan hệ lợi ích, các lợi ích nhóm, bộ phận trong x hội [22]
Trong bài viết: "Mấy khía cạnh lý luận về chính sách", TS.Vũ Hoàng Công đưa ra định nghĩa: “Chính sách là các tổng thể những quy định pháp lý có tính nhất quán, thể hiện thái độ, quan điểm của Nhà nước trong việc khuyến khích hoặc hạn chế hoạt động nào đó trong các lĩnh vực nào đó của một số đối tượng nào đó của x hội ” [22]
Trong xác định nội hàm của khái niệm chính sách trên góc độ chính trị học, tác giả Nguyễn Đăng Thành với cách tiếp cận xác lập định nghĩa là ngoài việc xác định những hình thức thể hiện của chính sách, điều quan trọng là phải chỉ rõ những đặc trưng thực chất của chính sách, giải quyết được những khác biệt nhất định các hình thức của chính sách, đó chính là trả lời câu hỏi: Ai là chủ thể quyết định chính
Trang 18sách ở nước ta, chỉ có Nhà nước? hay còn Đảng? hoặc còn là các tổ chức chính trị -
x hội? Tác giả phân tích rõ một đặc trưng cơ bản, thực chất của chính sách là tập hợp các phương án giải quyết các mâu thuẫn, các xung đột về giá trị (lợi ích) trong một cộng đồng Từ đó tác giả đưa ra định nghĩa: "Chính sách là tập hợp những văn bản theo một hướng nhất định được quyết định bởi chủ thể cầm quyền nhằm quy định quá trình hành động của những đối tượng nào đó, để giải quyết những vấn đề mà nhóm chủ thể - đối tượng đó quan tâm theo một phương thức nhất định để phân bổ giá trị" [21]
Từ các công trình của các tác giả nghiên cứu về chính sách, đ cho thấy sự thống nhất ở một số điểm cơ bản sau:
- Định nghĩa chính sách được đề cập tới đồng nghĩa với “chính sách công” (phân biệt với "chính sách tư"), chính sách quốc gia tức là những chính sách có ảnh hưởng, tác động đến toàn bộ x hội
- Chính sách có thể là đường lối, chủ trương của một chính đảng hay một chính phủ, hay một tổ chức x hội
- Thực chất chính sách là tập hợp các phương án giải quyết các mâu thuẫn, các xung đột về giá trị, có thể hiểu nó như là lời giải của bài toán xung đột các giá trị x hội trong một cộng đồng, có mục đích cuối cùng là tạo ra một trật tự quan hệ lợi ích mà cộng đồng mong đợi thông qua ý chí của chủ thể cầm quyền quyết định
- Chính sách do chủ thể quyền lực đề ra (Đảng, Nhà nước, các tổ chức trong
- Chính sách tập trung giải quyết một lĩnh vực, một vấn đề đang đặt ra trong đời sống chính trị - x hội
- Hướng vào những mục tiêu cụ thể đ xác định bởi một hệ thống tiêu chí
Từ những nhận thức trên, có thể khái niệm về chính sách như sau:
hính sách với nghĩ rộng à tổng thể các qu n điểm, các biện pháp mà chủ thể ãnh đ o, qu n ý (Đ ng, Nhà n ớc và các tổ chức chính trị xã hội) tác động ên
Trang 19đ i t ợng ãnh đ o, qu n ý nhằm đ t đến một mục tiêu nào đó trong một kho ng
th i gi n nhất định
hính sách theo nghĩ hẹp, à quy định cụ thể nào đó nhằm th c hiện đ ng
i, nhiệm vụ trong một th i gi n nhất định
* Khái niệm th c hiện chính sách
Thực hiện chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định
* Khái niệm th c hiện chính sách đ i với , V , NLĐ S và ND NTTT
Thực hiện chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NT là quá trình chuyển hoá từ chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT thành hiện thực với các đối tượng là CC, VC, NLĐ CS và ND NTT nhằm đạt mục tiêu định hướng đ đặt ra Mục tiêu của thực hiện chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT là
để khẳng định sự quan tâm của các cấp, các ban ngành đoàn thể đối với người lao động làm việc trong một lĩnh vực đặc biệt
Tổ chức thực thi chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT là một khâu hợp thành chu trình chính sách đối với người lao động, nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại Tổ chức thực thi chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách đối với người lao động làm việc trong các lĩnh vực an sinh x hội đặc biệt thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách So với các khâu khác trong chu trình chính sách, tổ chức thực thi có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hoá chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT trong đời sống x hội
Chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và NDNTT gồm 4 chính sách chính như sau:
Chính sách lao động việc làm;
Chính sách tiền lương và phân phối thu nhập;
Chính sách Bảo hiểm x hội;
Chính sách giáo dục và đào tạo
Trang 201.2.2 Nội dung thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần
sự tồn tại của chính sách với tư cách là công cụ vĩ mô theo yêu cầu quản lý của nhà nước đối với vấn đề CC, VC, NLĐ CS và ND NTT và cũng là để đạt mục tiêu mà chính sách theo đuổi Như vậy có thể hiểu việc tổ chức thực thi chính sách đối với
CC, VC, NLĐ CS và ND NTT là toàn bộ quá trình hoạt động của các chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa nội dung chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT một cách hiệu quả
Tổ chức thực thi chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT là một khâu hợp thành chu trình chính sách đối với người lao động, nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình chính sách không thể tồn tại Tổ chức thực thi chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách đối với người lao động làm việc trong các lĩnh vực an sinh x hội đặc biệt thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách So với các khâu khác trong chu trình chính sách, tổ chức thực thi có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hoá chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT trong đời sống x hội
Nếu đưa vào thực thi một chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT tốt không những mang lại lợi ích to lớn cho các nhóm người lao động, công chức, viên chức làm việc trong lĩnh vực chăm sóc, nuôi dưỡng người tâm thần, mà còn góp phần làm tăng uy tín của nhà nước trong quá trình quản lý x hội, thực hiện mục tiêu của nhà nước là quan tâm, lo lắng đến đời sống của mọi người dân thuộc các tầng lớp, làm việc trong các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là các lĩnh vực phục vụ
an sinh x hội
Trang 21Trên cơ sở nhận thức về vị trí vai trò của thực thi chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT trên đây cho thấy hoạt động này có những ý nghĩa to lớn sau đây:
hứ nhất, trong quản lý, điều hành nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động
theo cơ chế thị trường định hướng x hội chủ nghĩa, nhà nước phải đối xử với nhiều đối tượng có quan hệ khác nhau nên việc thực thi chính sách đối với CC, VC, NLĐ
CS và ND NTT nhằm biến ý đồ chính sách thành hiện thực là rất quan trọng Đối tượng của chính sách ở đây là CC, VC, NLĐ CS và ND NTT, một đối tượng mà nhà nước cần quan tâm do thực hiện công việc ở môi trường an sinh x hội đặc biệt,
có rủi ro nên nhà nước cần có các chính sách riêng, ưu đ i hơn so với các đối tượng
là người lao động làm việc trong các lĩnh vực khác Vì vậy, mục tiêu CC, VC, NLĐ
CS và ND NTT chỉ có thể đạt được thông qua thực thi chính sách, đồng thời việc đạt được mục tiêu của chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT sẽ có quan
hệ chặt chẽ, ảnh hưởng rất lớn các các mục tiêu của các chính sách đối với người lao động ở các lĩnh vực khác, chính sách x hội đối với người tâm thần và gia đình của họ và mục tiêu x hội sinh x hội nói chung
hứ h i, tính đúng đắn của chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT
sẽ được khẳng định thông qua việc giải quyết các chế độ chính sách cho CC, VC, NLĐ CS và ND NTT bằng chính sách đ hiệu quả hay không, có đạt được mục tiêu
đ đề ra hay không Vấn đề chính sách tự nó đ phản ánh nhu cầu của CC, VC, NLĐ CS và ND NTT Nếu nhu cầu đó là chính đáng, bức xúc cần được đáp ứng để đảm bảo an sinh x hội, phát triển thì vấn đề chính sách được coi là đúng đắn và ngược lại Sau khi lựa chọn đúng vấn đề chính sách, việc quan trọng tiếp theo là hoạch định chính sách đúng Chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT đúng đắn là chính sách đáp ứng đầy đủ các yêu cầu (tiêu chu n) của một chính sách tốt Tuy nhiên, một chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT sau khi hoạch định được coi là tốt thì giá trị của nó cũng chỉ mới dừng lại ở phương diện nguyện vọng, mong muốn của người lao động mà thôi Tính chu n mực của chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT ở giai đoạn này cũng mới chỉ là sự thừa nhận của
Bộ hoặc Sở Lao động thương binh x hội
hứ b , chính sách ngày càng hoàn chỉnh thông qua việc thực thi chính sách,
bởi chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT được hoạch định bởi một tập
Trang 22thể, nên không thể tránh khỏi sự ảnh hưởng của ý chí chủ quan của người hoạch định chính sách Ý chí chủ quan không chỉ ảnh hưởng đến quá trình hoạch định chính sách, mà còn tác động qua nhiều quá trình phân tích, dự báo, lựa chọn để có được mục tiêu, biện pháp chính sách Đồng thời, các quá trình kinh tế, x hội lại thường xuyên vận động phát triển, trong khi chính sách được hoạch định lại dựa chủ yếu vào thực trạng của môi trường sống và làm việc của CC, VC, NLĐ CS và ND NTT và có khoảng cách khá lớn về thời gian kể từ khi hoạch định đến lúc tổ chức thực thi Do ảnh hưởng của ý chí chủ quan và sự vận động, phát triển của môi trường nên giữa chính sách và thực tế x hội trong giai đoạn tổ chức thực thi chắc chắn có khoảng cách cần được lấp đầy bằng những điều chỉnh về chính sách hay các biện pháp tổ chức thực thi chính sách Những điều chỉnh bổ sung về mục tiêu hay biện pháp chính sách công trong quá trình thực thi, chính là hoạt động hoàn chỉnh những chính sách đang có và góp phần đúc rút kinh nghiệm cho hoạch định các chính sách kỳ sau
Như vậy, thực thi chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT có vị trí đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách, nó là giai đoạn hiện thực hóa mục tiêu chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT Mục tiêu của thực thi chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT trong chu trình chính sách được thể hiện ở những phương diện sau:
- Từng bước hiện thực hóa mục tiêu của chính sách đối với CC, VC, NLĐ
CS và ND NTT Các mục tiêu chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT chỉ
có thể đạt được thông qua quá trình thực thi chính sách, bởi thực thi chính sách bao gồm các hoạt động có tổ chức được thực hiện bởi Bộ, Sở Lao động Thương binh X hội và các CC, VC, NLĐ CS và ND NTT, hướng tới đạt được các mục tiêu và mục đích đ tuyên bố trong chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT
- Khẳng định tính đúng đắn của chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT Quá trình hoạch định chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT cho ra đời một chính sách công Tuy nhiên, chính sách đó có thực sự đúng đắn hay không chỉ có thể được nhận thức đầy đủ hơn trong giai đoạn thực thi chính sách đối với
CC, VC, NLĐ CS và ND NTT Thực thi chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và
ND NTT cung cấp những bằng chứng thực tiễn về mục tiêu chính sách có thích hợp
Trang 23tới giải quyết hay không, về phương diện lý thuyết, một chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT được ban hành đ phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chu n của một chính sách tốt và mới chỉ được thừa nhận bởi các chủ thể ban hành – Bộ và Sở LĐTBXH, nhưng khi triển khai vào thực tiễn đời sống x hội, thì tính đúng đắn của chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT mới được khẳng định một cách chắc chắn bởi x hội và các CC, VC, NLĐ CS và ND NTT
- Thực thi chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT giúp cho chính sách ngày càng hoàn thiện hơn Chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT
sẽ được cụ thể hóa cho phù hợp với bối cảnh và điều kiện cụ thể trong quá trình thực thi chính sách của Bộ, Sở và Phòng LĐTBXH Căn cứ vào mục tiêu và giải pháp chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT ban đầu, Sở LĐTBXH các tỉnh sẽ thiết kế và ban hành các quy định, thủ tục hoặc chương trình, dự án để cụ thể hóa các mục tiêu và giải pháp cho phù hợp với bối cảnh, điều kiện thực thi chính sách CC, VC, NLĐ CS và ND NTT Hơn nữa, thông qua thực thi chính sách, những người thực thi đưa ra những đề xuất điều chỉnh chính sách đối với CC, VC, NLĐ
CS và ND NTT cho phù hợp với thực tiễn đời sống và môi trường làm việc của CC,
VC, NLĐ CS và ND NTT và rút ra những bài học kinh nghiệm cho thiết kế chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT trong tương lai
* hủ thể th c hiện chính sách
Chủ thể thực hiện chính sách là những tổ chức, nhóm x hội hoặc cá nhân mà những hành động cụ thể của họ có tác dụng đưa chính sách từ lý thuyết trở thành hiện thực, từ đó tạo ra những biến đổi trong thực tế đời sống x hội Lực lượng tham gia thực hiện chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT rất đông đảo, gồm các cơ quan nhà nước, đặc biệt là hệ thống ngành dọc thuộc lĩnh vực LĐTBXH, các
tổ chức chính trị - x hội, và các đối tượng chính sách là CC, VC, NLĐ CS và ND NTT; trong đó, chủ thể triển khai trước hết và quan trọng nhất là hệ thống các cơ quan trực thuộc ngành dọc LĐTBXH từ Bộ LĐTBXH đến Sở và Phòng LĐTBXH
và các cán bộ công chức công tác trong lĩnh vực LĐTBXH tại các UBND xã, phường, thị trấn cùng với các công chức của các cơ quan đó
Tuy nhiên, trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, ngoài những chủ thể tham gia thực thi chính sách nêu trên, quá trình thực thi chính sách công còn có sự tham gia của các đối tác là các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ, các nhà tài trợ
Trang 24quốc tế Hơn nữa, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, cùng với xu hướng x hội hóa các hoạt động của nhà nước, quá trình thực thi chính sách đối với
CC, VC, NLĐ CS và ND NTT có sự tham gia tích cực của các đối tác x hội như các doanh nghiệp, các tổ chức nghiên cứu an sinh x hội, tổ chức đào tạo, hiệp hội, gia đình NTT và những người dân khác…
Như vậy, có rất nhiều chủ thể tham gia vào quá trình thực thi chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT và các chủ thể này có mối quan hệ tương tác với nhau trong quá trình thực hiện chính sách; số lượng chủ thể và vai trò của từng chủ thề tham gia tùy thuộc vào từng chính sách cụ thể và bốì cảnh của từng nước Tuy nhiên, có thể chia các chủ thể tham gia vào thực thi chính sách CC, VC, NLĐ CS và
ND NTT thành các nhóm sau: (1) Ngành dọc LĐTBXH từ Trung ương đến địa phương và nhân sự của các cơ quan đó - đây là chủ thể chịu trách nhiệm thực thi chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT; (2) Chủ thể tham gia là các đối tác phi nhà nước (các doanh nghiệp, các tổ chức nghiên cứu và đào tạo, cá nhân trong và ngoài nước); (3) Chủ thể tham gia với tư cách là đối tượng thụ hưởng chính sách - CC, VC, NLĐ CS và ND NTT
1.3 Quy trình thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần
1.3.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện triển khai chính sách
Kế hoạch triển khai thực thi chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các cơ quan triển khai thực thi chính sách từ Cấp Bộ đến cấp địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện Kế hoạch triển khai thực thi chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT bao gồm những nội dung cơ bản sau:
hứ nhất, lập kế hoạch tổ chức điều hành cần đảm bảo những dự kiến về hệ
thống các cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách đối với CC,
VC, NLĐ CS và ND NTT; số lượng và chất lượng nhân sự tham gia tổ chức thực thi; những dự kiến về cơ chế trách nhiệm của cán bộ quản lý và công chức thực thi;
cơ chế tác động giữa các cấp thực thi chính sách
hứ h i, xác định kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực như dự kiến về các cơ
sở kiến trúc, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho tổ chức thực thi chính sách; các nguồn lực tài chính, các vật tư văn phòng ph m
Trang 25hứ b , xác định thời gian triển khai thực hiện thông qua dự kiến về thời gian
duy trì chính sách; dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính sách đến tổng kết rút kinh nghiệm Mỗi bước đều có mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện mục tiêu Có thể dự kiến mỗi bước cho phù hợp với một chương trình cụ thể của chính sách
hứ t , lên kế hoạch kiểm tra thực thi chính sách là những dự kiến về tiến độ,
hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ chức thực thi chính sách
hứ năm, xây dựng dự kiến những nội quy, quy chế trong thực thi chính sách
công bao gồm nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực thi chính sách
Dự kiến kế hoạch thực thi ở cấp nào do l nh đạo cấp đó xem xét thông qua Sau khi được quyết định thông qua, kế hoạch thực thi chính sách mang giá trị pháp
lý, được mọi người chấp hành thực hiện Việc điều chỉnh kế hoạch cũng do cấp có
th m quyền thông qua kế hoạch quyết định
1.3.2 Phổ biến, tuyên truyền chính sách
Sau khi bản kế hoạch triển khai thực hiện được thông qua, Bộ hoặc Sở LĐTBXH tiến hành triển khai tổ chức thực hiện theo kế hoạch Việc trước tiên cần làm trong quá trình này là tuyên truyền, vận động mọi người tham gia thực hiện chính sách Đây là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước
và các đối tượng thực thi chính sách công Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho CC, VC, NLĐ CS và ND NTT và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ
về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định; và về tính khả thi của chính sách CC, VC, NLĐ CS và
ND NTT để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước Đồng thời còn giúp cho mỗi công chức, viên chức, người lao động có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách đối với CC,
VC, NLĐ CS và ND NTT với đời sống x hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao
Trang 26Việc làm này cần được tăng cường đầu tư về trình độ chuyên môn, ph m chất chính trị, về trang thiết bị kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền, vận động Trong thực tế có không ít cơ quan, địa phương do thiếu năng lực tuyên truyền, vận động đ làm cho chính sách bị biến dạng, làm cho lòng tin của dân chúng vào nhà nước bị giảm sút
Tuyên truyền, vận động thực thi chính sách CC, VC, NLĐ CS và ND NTT cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, kể cả khi chính sách đang được thi hành,
để CC, VC, NLĐ CS và ND NTT và người dân được tuyên truyền luôn củng cố lòng tin vào chính sách và tích cực thực thi chính sách Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách được thực hiện bằng nhiều hình thức như trực tiếp tiếp xúc, trao đổi với
CC, VC, NLĐ CS và ND NTT; gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng Tuỳ theo yêu cầu của các cơ quan quản lý, tính chất của từng loại chính sách và điều kiện cụ thể mà có thể lựa chọn các hình thức tuyên truyền, vận động thích hợp
1.3.3 Phân công phối hợp thực hiện chính sách
Bước tiếp theo sau bước tuyên truyền, phổ biến chính sách là phân công, phối hợp các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện chính sách công theo kế hoạch được phê duyệt Chính sách công được thực thi trên phạm vi rộng lớn, tối thiểu cũng là một địa phương - vì thế số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách là rất lớn Số lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách, nhân dân thực hiện và bộ máy tổ chức thực thi của nhà nước Không chỉ có vậy, các hoạt động thực hiện mục tiêu chính sách công diễn ra cũng hết sức phong phú, phức tạp theo không gian và thời gian, chúng đan xen nhau, thúc đ y hay kìm h m nhau theo quy luật Bởi vậy, muốn tổ chức thực thi chính sách có hiệu quả cần phải tiến hành phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố tham gia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chính sách
1.3.4 Duy trì thực hiện chính sách
Duy trì thực hiện chính sách CC,VC, NLĐ CS và ND NTT là toàn bộ hoạt động đảm bảo cho chính sách phát huy tác dụng trong đời sống của CC, VC, NLĐ
CS và ND NTT Để thực hiện tốt việc duy trì chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS
và ND NTT cần phải đảm bảo một số nội dung sau:
Trang 27- Cụ thể hóa nội dung triển khai bằng các văn bản mang tính pháp lý – qui định rành mạch, hợp lý trách nhiệm, quyền hạn của Bộ, Sở và Phòng LĐTBXH; tránh tình trạng lẫn lộn quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của cấp thực hiện khác nhau
- Tổ chức phối hợp thống nhất, hiệu quả, đồng bộ (giữa cơ quan chủ trì với
cơ quan khác; giữa Bộ, Sở và Phòng LĐTBXH)
- Đảm bảo các điều kiện về nhân lực, vật lực, tài lực và các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ
- Đảm bảo kế hoạch hóa về thời gian và qui trình thủ tục thực hiện
- Đảm bảo thông suốt về thông tin (mệnh lệnh và phản hồi) trong quá trình thực hiện, triển khai, duy trì chính sách
- Đảm bảo sự thống nhất giữa việc kiên trì mục tiêu chính sách đối với CC,VC, NLĐ CS và ND NTT với việc sáng tạo trong khi sử dụng các biện pháp, hình thức, chương trình hành đông cụ thể thích hợp với điều kiện cụ thể của địa phương, ngành
- Đấu tranh chống bệnh quan liêu, phô trương hình thức trong quá trình triển khai thực hiện chính sách CC,VC, NLĐ CS và ND NTT
Duy trì chính sách CC,VC, NLĐ CS và ND NTT là làm cho chính sách tồn tại và phát huy hết tác dụng trong các cơ sở chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Muốn cho chính sách được duy trì, đòi hỏi phải có sự nhất trí và quyết tâm cao của các người tổ chức, người thực thi và môi trường tồn tại
1.3.5 Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách
Đôn đốc thực hiện chính sách đối với CC,VC, NLĐ CS và ND NTT là hoạt động của Bộ, Sở LĐTBXH, cán bộ, công chức có th m quyền thực hiện thông qua các công cụ hữu ích nhằm làm cho các chủ thể thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách
1.3.6 Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm tổ chức thực hiện chính sách
Tổ chức thực thi chính sách đối với CC,VC, NLĐ CS và ND NTT được tiến hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình đó người ta có thể đánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực thi chính sách, trong đó đánh giá toàn
bộ được thực hiện sau khi kết thúc chính sách Đánh giá tổng kết trong bước tổ chức thực thi chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo - điều hành
và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách
Trang 28Đối tượng được xem xét, đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính sách là hệ thống ngành LĐTBXH từ trung ương đến địa phương Ngoài ra, còn xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chức chính trị, chính trị - x hội và x hội trong việc tham gia thực thi chính sách đối với CC,VC, NLĐ CS và ND NTT
Bên cạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của Bộ, Sở LĐTBXH, còn xem xét, đánh giá việc thực thi của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT bao gồm đối với CC, VC, NLĐ CS
và ND NTT – đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và NTT, gia đình của họ và những người có liên quan – đối tượng thụ hưởng lợi ích gián tiếp từ chính sách, nghĩa là tất cả các thành viên x hội với tư cách là công dân Thước đo đánh giá kết quả thực thi của các đối tượng này là tinh thần hưởng ứng với mục tiêu chính sách và ý thức chấp hành những quy định về cơ chế, biện pháp do Bộ, Sở LĐTBXH ban hành để thực hiện mục tiêu chính sách trong từng điều kiện về không gian và thời gian
1.4 Các chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần
Theo quy định tại Điều 45, Luật người khuyết tật số 01/2010/QH12 của Quốc hội:
- Người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ x hội
- Nhà nước cấp kinh phí nuôi dưỡng người khuyết tật cho các cơ sở bảo trợ
x hội
NTT được coi là người khuyết tật và cũng là đối tượng theo quy định của Luật này Kinh phí chăm sóc nuôi dưỡng NTT tại các cơ sở chăm sóc nuôi dưỡng
do nhà nước chịu trách nhiệm Do vậy việc thực hiện chế độ chính sách đối với CC,
VC, NLĐ CS và ND NTT được lấy trực tiếp từ ngân sách nhà nước
- Theo Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sơ trợ giúp x hội, nhiệm vụ của cơ sở CS và ND NTT bao gồm: Cung cấp các dịch vụ kh n cấp; Tham vấn, trị liệu rối nhiễu tâm trí, khủng hoảng tâm lý và phục hồi thể chất cho đối tượng; Tư vấn và trợ giúp NTT thụ hưởng các chính sách trợ giúp x hội; phối hợp với các cơ quan, tổ chức phù hợp khác để bảo vệ, trợ giúp NTT; tìm kiếm, sắp xếp các hình thức chăm sóc; Xây dựng kế hoạch can thiệp và trợ giúp NTT; giám
Trang 29sát và rà soát lại các hoạt động can thiệp, trợ giúp và điều chỉnh kế hoạch; Tiếp nhận, quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng NTT thuộc diện đặc biệt khó khăn, không tự
lo được cuộc sống và không có điều kiện sinh sống tại gia đình, cộng đồng; Cung cấp dịch vụ điều trị y tế ban đầu; Tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, trợ giúp NTT trong các hoạt động tự quản, văn hóa, thể thao, các hoạt động khác phù hợp với lứa tuổi và sức khỏe của từng nhóm đối tượng lao động sản xuất theo quy định của pháp luật; Chủ trì, phối hợp với các đơn vị, tổ chức để dạy văn hóa, dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp nhằm giúp NTT phát triển về thể chất, trí tuệ, nhân cách và hòa nhập cộng đồng; Cung cấp các dịch vụ về giáo dục x hội và nâng cao năng lực; Quản lý NTT được cung cấp dịch vụ công tác x hội; Thực hiện các biện pháp phòng ngừa NTT rơi vào hoàn cảnh khó khăn và bị xâm hại, bạo lực, ngược đ i; Phát triển cộng đồng; Tổ chức các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức; Chủ trì, phối hợp với chính quyền địa phương đưa NTT đủ điều kiện hoặc tự nguyện xin ra khỏi cơ sở trở về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng; hỗ trợ, tạo điều kiện cho NTT ổn định cuộc sống; Quản lý tài chính, tài sản, công chức, viên chức và người lao động theo quy định của pháp luật; Tổ chức vận động và tiếp nhận
sự hỗ trợ tài chính, hiện vật của cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài để thực hiện các hoạt động của cơ sở; Thực hiện các hoạt động cung cấp dịch
vụ theo yêu cầu và các nhiệm vụ khác do cấp có th m quyền quyết định
- Về kinh phí, Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ cũng quy định về kinh phí hoạt động của cơ sở CS và ND NTT bao gồm: Nguồn ngân sách nhà nước cấp; Nguồn thu phí dịch vụ từ các đối tượng tự nguyện; Nguồn thu từ hoạt động lao động sản xuất, dịch vụ của cơ sở trợ giúp x hội; Nguồn trợ giúp từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài và Nguồn khác theo quy định của pháp luật
- Về môi trường, vị trí và cơ sở vật chất, Nghị định số 103/2017 cũng quy định: Cơ sở CS và ND NTT phải đặt tại địa điểm thuận tiện về tiếp cận giao thông, trường học, bệnh viện, không khí trong lành có lợi cho sức khỏe của đối tượng; có điện, nước sạch phục vụ cho sinh hoạt; Cơ sở CS và ND NTT phải đảm bảo các điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất Đối với cơ sở chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần, diện tích đất tự nhiên phải đảm bảo tối thiểu 80 m2/đối tượng ở
Trang 30khu vực thành thị, 100 m2/đối tượng ở khu vực nông thôn, 120 m2/đối tượng ở khu vực miền núi; Diện tích phòng ở của đối tượng bình quân tối thiểu 6 m2/NTT Đối với đối tượng phải chăm sóc 24/24 giờ một ngày, diện tích phòng ở bình quân tối thiểu 8 m2/NTT Phòng ở phải được trang bị đồ dùng cần thiết phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của NTT
Cơ sở CS và ND NTT phải có khu nhà ở, khu nhà bếp, khu làm việc của cán
bộ nhân viên, khu vui chơi giải trí, hệ thống cấp, thoát nước, điện, đường đi nội bộ; khu sản xuất và lao động trị liệu (nếu có điều kiện) Các công trình, các trang thiết
bị phải bảo đảm cho NTT tiếp cận và sử dụng thuận tiện
1.4.1 Chính sách lao động việc làm
Về cơ cấu tổ chức, theo Điều 3, 4, 5 Thông tư 33/2017/BLĐTBXH hướng
dẫn về cơ cấu tổ chức, định mức nhân viên và quy trình, tiêu chu n trợ giúp x hội tại cơ sở trợ giúp x hội, cơ cấu tổ chức của cơ sở CS và ND NTT như sau:
- L nh đạo cơ sở trợ giúp x hội gồm có Giám đốc và các Phó Giám đốc
- Cơ cấu tổ chức của cơ sở trợ giúp x hội công lập được xác định theo các nhóm công việc cơ bản sau:
Mỗi phòng nghiệp vụ gồm Trưởng phòng, không quá 02 Phó Trưởng phòng
và các nhân viên Số lượng nhân viên của mỗi phòng nghiệp vụ được xác định theo
vị trí công tác và khối lượng công việc thực tế phải đảm nhiệm
Về quy trình ho t động, theo Điều 6 Thông tư 33/2017/BLĐTBXH hướng
dẫn về cơ cấu tổ chức, định mức nhân viên và quy trình, tiêu chu n trợ giúp x hội tại cơ sở trợ giúp x hội, cơ sở CS và ND NTT thực hiện quy trình trợ giúp NTT theo các bước dưới đây:
- Tiếp nhận thông tin, nhu cầu của NTT và gia đình; tổ chức sàng lọc và phân loại NTT
Trang 31- Đánh giá về tâm sinh lý, tình trạng sức khoẻ và các nhu cầu của NTT
- Lập kế hoạch trợ giúp NTT
- Thực hiện kế hoạch trợ giúp
- Thu thập dữ liệu, tổng hợp, phân tích và đánh giá sự tiến triển của NTT; giám sát, đánh giá các hoạt động chăm sóc và điều chỉnh kế hoạch chăm sóc nếu cần thiết
- Lập kế hoạch dừng trợ giúp và hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho NTT
1.4.2 Chính sách tiền lương và phân phối thu nhập
Về tiền lương, chế độ tiền lương của CC, VC, NLĐ CS và ND NTT tuân thủ theo quy định tại Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang và các văn bản pháp luật khác thi hành nghị định này
Riêng đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT, do làm việc trong lĩnh vực đặc thù nên họ có những chế độ trợ cấp ưu đ i thêm
Theo quy định tại Nghị định số 26/2016/NĐ-CP ngày 6/4/2016 của Chính phủ quy định về chế độ trợ cấp, phụ cấp đối với công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma tuý, người sau cai nghiện ma tuý và cơ sở trợ giúp x hội công lập, CC, VC, NLD CS và ND NTT sẽ được hưởng trợ cấp, phụ cấp như sau:
- Trợ cấp đặc thù: Công chức, viên chức làm việc tại các cơ sở CS và ND NTT được hưởng trợ cấp đặc thù với mức tối thiểu bằng 500.000 đồng/người/tháng
- Mức phụ cấp ưu đ i theo nghề đối với công chức, viên chức làm việc tại các cơ sở trợ giúp x hội:
Mức phụ cấp 70% áp dụng đối với công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp xét nghiệm, khám, Điều trị, chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp người bệnh HIV/AIDS, phong, lao, tâm thần; người khuyết tật đặc biệt nặng
Mức phụ cấp 60% áp dụng đối với công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp xét nghiệm, khám, điều trị, chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp cho người cao tuổi không tự phục vụ được, trẻ em dưới 4 tuổi
Trang 32Mức phụ cấp 50% áp dụng đối với công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp xét nghiệm, khám, Điều trị, chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp người khuyết tật nặng
Mức phụ cấp 40% áp dụng đối với công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp xét nghiệm, khám, Điều trị, chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp trẻ em từ 4 tuổi trở lên, đối tượng cần bảo vệ kh n cấp, người cao tuổi
Mức phụ cấp 30% áp dụng đối với công chức, viên chức quản lý, phục vụ không trực tiếp xét nghiệm, khám, Điều trị, chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ giúp đối với người nhiễm HIV/AIDS, phong, lao, tâm thần; người khuyết tật nặng và đặc biệt nặng; người cao tuổi không tự phục vụ được, trẻ em dưới 4 tuổi;
Đối với công chức, viên chức không trực tiếp làm chuyên môn công tác x hội và y tế; công chức, viên chức công tác x hội và y tế làm công tác quản lý, phục
vụ tại các cơ sở (trừ đối tượng quy định tại Khoản 5 Điều này) thì thủ trưởng đơn vị căn cứ vào đặc thù công việc và nguồn thu để xem xét, quyết định nhưng không vượt quá mức 20% so với mức lương ngạch, bậc hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ
l nh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) của đối tượng được hưởng
Các phụ cấp ưu đ i theo nghề này được tính trên mức lương theo ngạch, chức danh nghề nghiệp, bậc hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ l nh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) và được xác định bằng công thức sau:
cơ sở
x
Hệ số lương ngạch, chức danh nghề nghiệp, bậc hiện hưởng +
hệ số phụ cấp chức vụ l nh đạo (nếu có) + % (quy theo hệ số) phụ cấp thâm niên vượt khung
(nếu có)
x
Mức phụ cấp ưu
đ i theo nghề được hưởng
Mỗi công chức, viên chức chỉ được hưởng một loại phụ cấp ưu đ i theo nghề với mức phụ cấp ưu đ i cao nhất
Theo quy định tại Quyết định số 73/2011/QĐ-TTg, ngày 28 tháng 12 năm
2011 của Thủ tướng chính phủ về việc quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù đối với công chức, viên chức, người lao động trong các cơ sở y tế công lập và chế độ
Trang 33phụ cấp chống dịch, CC, VC, NLĐ CS và ND NTT được hưởng thêm các loại phụ cấp thường trực:
- Chế độ phụ cấp thường trực: Đối với cơ sở chữa bệnh được thành lập theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; cơ sở điều dưỡng thương binh, bệnh binh, người khuyết tật thực hiện định mức nhân lực trong phiên trực theo hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và X hội, Bộ Y tế;
- Người lao động thường trực 24/24 giờ được hưởng mức phụ cấp 65.000đồng/người/phiên trực đối với các bệnh viện còn lại và các cơ sở khác tương đương
- Người lao động thường trực theo ca 12/24 giờ được hưởng mức bằng 0,5 lần mức phụ cấp thường trực 24/24 giờ;
- Người lao động thường trực theo ca 16/24 giờ được hưởng mức bằng 0,75 lần mức phụ cấp thường trực 24/24 giờ
Nếu thường trực tại khu vực hồi sức cấp cứu, khu vực chăm sóc đặc biệt thì mức phụ cấp thường trực được tính bằng 1,5 lần mức quy định trên; thường trực vào ngày nghỉ hằng tuần thì mức phụ cấp thường trực được tính bằng 1,3 lần mức quy định trên; thường trực vào ngày lễ, ngày Tết thì mức phụ cấp thường trực được tính bằng 1,8 lần mức quy định trên
Người lao động thường trực 24/24 giờ được hỗ trợ tiền ăn là 15.000 đồng/người/phiên trực;
Người lao động được nghỉ và được hưởng nguyên lương sau khi tham gia thường trực như sau:
- Thường trực 24/24 giờ vào ngày thường, ngày nghỉ hằng tuần được nghỉ bù
01 ngày; vào các ngày lễ, Tết được nghỉ bù 02 ngày;
- Thường trực theo ca 12/24 giờ hoặc ca 16/24 giờ được nghỉ ít nhất 12 giờ tiếp theo
Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh huy động người lao động làm việc vào giờ nghỉ trên thì phải trả tiền lương làm thêm giờ theo quy định của pháp luật
về lao động
1.4.3 Chính sách bảo hiểm xã hội
BHXH thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia đóng bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động BHXH
Trang 34tiến hành phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH theo quy luật số đông bù số ít và tiến hành phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang
BHXH góp phần kích thích người lao động hăng hái làm việc nâng cao hiệu quả công việc của cá nhân và hiệu quả công việc của toàn đơn vị
Các lĩnh vực của BHXH
Sơ đồ 1: Các lĩnh vực của BHXH
Theo sơ đồ 1, BHXH hiện nay bao gồm 6 lĩnh vực quan trọng nhất, nhằm đảm bảo một phần thu nhập cho người lao động trong khi làm việc (như trợ cấp ốm đau, thai sản, trợ cấp bệnh nghề nghiệp, tại nạn lao động, trợ cấp thất nghiệp ), khi
về nghỉ hưu theo chế độ (lương hưu) cả khi người lao động bị chết (trợ cấp tử tuất) Đối tượng hưởng các chế độ của BHXH chủ yếu được nhận các khoản trợ cấp bằng tiền Điều kiện để hưởng các chế độ trợ cấp và mức độ của từng loại được thể hiện
1.4.4 Chính sách giáo dục đào tạo
“Đào tạo là quá trình truyền thụ kiến thức mới để người cán bộ thông qua quá trình đó trở thành người công chức có văn bằng mới hoặc cao hơn trình độ trước đó” [31] Đào tạo các cán sự, các cử nhân, các chuyên viên, hoặc chuyên viên chính (trong hệ thống ngạch bậc hiện nay) là việc tuyển dụng những công chức
Trợ cấp ốm
đau
Trợ cấp thai sản
Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Trợ cấp tử tuất
Trợ cấp thất nghiệp
Lương hưu
Trang 35hoặc những công dân khi họ trúng tuyển trở thành công chức, sau đó đưa họ vào cơ
sở đào tạo để họ học và nhận những văn bằng tương đương
“Bồi dưỡng (hay gọi là tu nghiệp) là quá trình hoạt động làm tăng thêm những kiến thức mới đòi hỏi những người mà họ đang giữ chức vụ, đang thực thi công vụ của một ngạch bậc nhất định” [31] Kết quả của khoá bồi dưỡng là người học nhận thức được những chứng chỉ ghi nhận kết quả
Các chính sách đào tạo, bồi dưỡng CC, VC, NLĐ CS và ND NTT tuân thủ theo các quy định pháp luật về đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức làm việc trong các đơn vị công lập như:
- Luật Cán bộ, Công chức năm 2008
- Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020
- Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày 04/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức;
- Quyết định số 104/2005/QĐ-BNV ngày 03/10/2005 của Bộ trưởng Bộ Nội
vụ về việc ban hành quy chế cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nước;
- Quyết định số 1374/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011- 2015;
- Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 - 2025;
- Quyết định số 579/QĐ-TTg ngày 19/04/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011- 2020
- Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định Những người là công chức; Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ quy định về Đào tạo, bồi dưỡng công chức
- Thông tư số 139/2010/TT-BTC ngày 21/9/2010 của Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước dành cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; Thông tư số 03/2011/TT-BNV ngày 25/01/2011 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
Trang 3618/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ về Đào tạo, bồi dưỡng công chức; Công văn số 4524/BNV-ĐT ngày 27/10/2014 của Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn thực hiện công tác đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
1.5 Các tiêu chí đánh giá thực hiện chính sách đối với CC, VC, NLĐ chăm sóc và nuôi dƣỡng NTT
Các tiêu chí đánh giá chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần có tác dụng đo lường những giá trị, khả năng mà chính sách có thể đem lại trong tương lai Đối với tiêu chí đánh giá việc thực hiện chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS và ND NTT việc sử dụng các tiêu chí đánh giá công khai cho phép thiết lập các tiêu chu n rõ ràng, giữ cho việc phân tích chính sách được khách quan và trọng tâm
Những tiêu chí tiêu biểu trong đánh giá thực hiện chính sách công, gồm:
* ính hiệu c
Tính hiệu lực là một trong số các tiêu chí đánh giá thực hiện chính sách đối với CC, VC, NLĐ chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Tính hiệu lực của chính sách được đo lường bằng mức độ mà hiệu quả của hoạt động đạt được mức mục tiêu Các yếu tố phản ánh tiêu chí hiệu lực của chính sách là mức độ đáp ứng các nguồn lực, kỹ thuật, phương tiện để triển khai được chính sách và nhận được sự đồng thuận, chấp hành của công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần
* ính kh thi
Tính khả thi của thực hiện chính sách được phản ánh ở khả năng thực hiện trên thực tế của một chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Tính khả thi của thực hiện chính sách dựa vào các chỉ tiêu cụ thể như: mức độ khả thi chính trị, khả thi kinh tế, hành chính và khả thi về x hội
* ính hiệu qu
Trong các chính sách của Nhà nước, phần lớn chính sách đều sử dụng ngân sách, chi tiêu bằng tiền công, chính vì vậy, xem xét đánh giá tính hiệu quả của thực hiện chính sách là xem mức độ hài lòng của công chức, viên chức, người lao động trong việc thực hiện chính sách
Trang 37Các yếu tố cần đo lường để đánh giá tính hiệu quả bao gồm:
- Số lượng các nguồn lực đầu vào (lượng đầu vào);
- Độ dài thời gian cần hoàn thành;
- Số lượng công việc cần phải làm;
- Tính cần thiết của các công việc này (hạn chế tối đa động tác thừa);
- Những chi phí cho các hoạt động phải làm;
- Tính năng suất: Hiệu suất làm việc (mức độ tập trung đạt được chất lượng công việc);
Hình thức biểu hiện của tính công bằng là tạo ra những tác động không thiên
vị cho các đối tượng thụ hưởng chính sách cả về quyền lợi và nghĩa vụ Tiêu chí công bằng trong chính sách là đòi hỏi không thể thiếu đối với hoạt động quản lý công Quan niệm về công bằng trong chính sách công hiện nay được hiểu theo hai cách, công bằng về quy trình và công bằng theo kết quả cuối cùng
Những tiêu chí đánh giá việc thực hiện chính sách trên đ phản ánh đầy đủ các tiêu chí cần thiết cho việc thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động Các tiêu chí này có tính tiêu biểu và hội tụ nhiều chỉ tiêu mà mục tiêu công cần đạt được Vì vậy, trong đánh giá thực hiện chính sách, việc vận dụng các tiêu chí trên đây là không thể thiếu được, phân tích không xa dời mục tiêu, khai thác sâu, rộng các chỉ tiêu cần thiết để có được những kết quả xác đáng Để việc đánh giá thực hiện chính sách công chất lượng, quá trình đánh giá tác động pháp luật, bên cạnh tính tuân thủ nghiêm ngặt về quy trình, cần phải coi trọng yếu tố nội dung của chính sách, được đo lường thông qua đánh giá những tác động tiêu cực, tích cực dựa trên các tiêu chí xác đáng./
Trang 381.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần
Trong quá trình thực hiện chính sách đối CC, VC, NLĐ CS, ND NTT có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách Các yếu tố đó bao gồm:
- Cơ chế chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS, ND NTT: Chính sách đối với
CC, VC, NLĐ CS, ND NTT thể hiện trách nhiệm của Nhà nước và toàn x hội đối với người lao động làm việc trong lĩnh vực đặc thù, thể hiện trong việc Nhà nước tổ chức nghiên cứu, hoạch định, ban hành hệ thống chính sách, chế độ và tổ chức thực hiện Chính sách này nhằm nâng cao và cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần cho CC, VC, NLĐ CS, ND NTT, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước và nhân dân đối với những người lao động làm các công việc an sinh x hội Việc tổ chức thực hiện chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS, ND NTT phải thích hợp, đảm bảo chắc chắn và ổn định Chính sách luôn được bổ sung, sửa đổi, cải thiện nhằm từng bước cải thiện đời sống của CC, VC, NLĐ CS, ND NTT Các cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương, sự phối hợp kết hợp với các cấp, ngành có liên quan về việc chỉ đạo điều hành triển khai thực hiện chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS,
ND NTT, nên chính sách sẽ phù hợp với thực tiễn cuộc sống thì việc thực thi chính sách sẽ thuận lợi, khả thi Nếu chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS, ND NTT không phù hợp với thực tiễn thì dẫn đến việc rất nhiều khó khăn, thậm chí không khả thi, thiếu hiệu quả như chính sách bị bó hẹp, Kế hoạch triển khai không được đồng nhất
- Môi trường thực hiện chính sách: Những đơn vị có vị trí thuận lợi, có điều kiện tài chính dồi dào, l nh đạo nhận thức, hiểu biết tốt về chính sách đối với CC,
VC, NLĐ CS, ND NTT sẽ tác động thúc đ y việc thực hiện chính sách thuận lợi Ngược lại, những đơn vị có điều kiện không thuận lợi, điều kiện tài chính kém, lãnh đạo nhận thức, hiểu biết kém về chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS, ND NTT sẽ kìm h m, ngăn trở các hoạt động này, dẫn đến thực hiện chính sách đối với CC,
VC, NLĐ CS, ND NTT kém hiệu quả Chính vì vậy, cơ quan ổn định, ít biến động
về tổ chức, tài chính dồi dào, sẽ đưa đến sự ổn định về nhân sự, cũng góp phần thực hiện hiệu quả chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS, ND NTT
Trang 39- Nhận thức của CC, VC, NLĐ CS, ND NTT: Đây là vấn đề lớn, cần sự đóng góp của CC, VC, NLĐ CS, ND NTT vừa là trực tiếp tham gia thực hiện chính sách, vừa trực tiếp thụ hưởng những lợi ích từ chính sách Nếu chính sách đối với
CC, VC, NLĐ CS, ND NTT đáp ứng nhu cầu thực tế của x hội về mục tiêu và biện pháp thừa hành thì nó sẽ nhanh chóng đi vào thực tế, được đông đảo người lao động ủng hộ trong việc thực hiện Nếu chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS, ND NTT không thiết thực, không phù hợp với điều kiện và trình độ hiện có người lao động thì sẽ bị t y chay hoặc” bỏ rơi”, chính sách sẽ khó triển khai trong thực tiễn
- Thể chế tổ chức bộ máy và cán bộ thực thi: Cần sự quan tâm đến năng lực cán bộ công chức thực hiện chính sách đối với CC, VC, NLĐ CS, ND NTT, vì đây
là yếu tố có vai trò quyết định đến kết quả của tổ chức thực hiện chính sách Vì vậy, cán bộ, công chức năng lực chuyên môn có thì thực hiện chính sách tốt, không những chủ động điều phối được các yếu tố chủ động tác động theo đinh hướng, mà ảnh hưởng tiêu cực của các yếu tố khách quan trong công tác tổ chức thực hiện chính sách mang lại kết quả
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 tác giả đ trình bày một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần, cụ thể các khái niệm về công chức, viên chức, người lao động; khái niệm
về người tâm thần, người lao động tại các cơ sở chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần, chính sách, thực hiện chính sách Những khái niệm này làm rõ về khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đồng thời, chương này cũng trình bày một số nội dung thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách đối với công
chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Ngoài ra
luận văn cũng đưa ra các chính sách cơ bản đối với công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần
Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở chương 1 sẽ định hướng cho việc nghiên cứu thực trạng vấn đề thực hiện chính sách đối với công chức, viên chức, người lao động
từ thực tiễn tại Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG NGƯỜI
TÂM THẦN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Khái quát về công chức, viên chức, người lao động chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần trên địa bàn thành phố Hà Nội
2.1.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
Trung tâm chăm sóc và nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội (tiền thân là Khu điều dưỡng tâm thần Hà Nội được thành lập từ năm 1984) là đơn vị sự nghiệp công lập, được thành lập theo Quyết định số 7322/2014/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của
Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội trên cơ sở đổi tên, xác định lại chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy Khu điều dưỡng tâm thần Hà Nội Trung tâm có chức năng, nhiệm vụ:
* Chức năng:
Trung tâm Chăm sóc và Nuôi dưỡng người tâm thần Hà Nội có chức năng tiếp nhận, quản lý, nuôi dưỡng, chăm sóc, điều trị và phục hồi chức năng cho người mắc bệnh tâm thần theo quy định của pháp luật; tổ chức nuôi dưỡng, dạy văn hóa cho trẻ em kém phát triển về trí tuệ từ 6 – 18 tuổi đi lang thang, được thu gom chuyển đến
* Nhiệm vụ, quyền hạn:
- Xây dựng, thực hiện kế hoạch tiếp nhận, phân loại, quản lý, nuôi dưỡng, chăm sóc, điều trị và phục hồi chức năng cho người bệnh tâm thần theo quyết định của cơ quan nhà nước có th m quyền;
- Tổ chức phân loại, khám chữa bệnh, lao động liệu pháp, phục hồi chức năng, hoạt động văn hóa, thể dục thể thao nhằm nâng cao sức khỏe và ổn định tinh thần cho người bệnh phù hợp với điều kiện của Trung tâm;
- Tư vấn và tập huấn cho gia đình người bệnh tâm thần về phương pháp chăm sóc, trợ giúp người bệnh;
- Tư vấn, giúp đỡ người bệnh tâm thần trở về với gia đình, tái hòa nhập cộng đồng; hỗ trợ việc chăm sóc người bệnh tâm thần tại gia đình và cộng đồng;