Giúp nhiều bạn có thể tham khảo về Covid 19 ảnh hưởng tới dệt may như thế nào. Dịch Covid 19 đang gây ra áp lực rất lớn đến nền kinh tế trên toàn thế giới nói chung và ngành dệt may nói riêng. Các doanh nghiệp dệt may trên thế giới cũng gặp khó khăn rất lớn, nhiều doanh nghiệp phải tạm thời đóng cửa. Khó khăn này cũng do các lý do mà doanh nghiệp Việt Nam gặp phải như nhu cầu mua hàng sụt giảm mạnh, chính sách đóng cửa của nhiều quốc gia,… Nhưng sản xuất khẩu trang chính là giải pháp để cứu các doanh nghiệp dệt may trong lúc khó khăn.
Trang 1Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên làm bài:
Bài báo cáo
Phân tích tác động của đại dịch Covid-19 tới chuỗi cung ứng của Việt Nam của ngàng dệt may
Trang 21 Mô tả tổng quan về ngành dệt may
1.1 Giới thiệu tổng quan về ngành dệt may
1.1.1 Quy mô
Theo số liệu của Hiệp hội dệt may Việt Nam, tính đến năm 2017, tổng số doanh nghiệp dệt may cả nước đạt 6,000 doanh nghiệp, trong đó số lượng doanh nghiệp gia công hàng may mặc là 5,101 doanh nghiệp (chiếm 85%); Số lượng doanh nghiệp sản xuất vải, nhuộm là 780 doanh nghiệp (chiếm 13%); Số lượng sản xuất chế biến xơ, sợi là 119 doanh nghiệp (chiềm 2%) 1 Và người lao động
có tay nghề cao trong ngành dệt may Cuộc cách mạng cộng nghiệp 4.0 đã mở ra nhiều cơ hội để ngành dệt may phát triển nhanh hơn Cách mạng công nghiệp 4.0 dựa trên nhiều trụ cột trong đó có trụ cột về tự động hóa và sử dụng nhiều robot hơn nữa, tạo cơ hội thay thế những công việc lặp đi lặp lại không cần kỹ năng, giúp giải quyết những khâu yếu trong chuỗi cung ứng dệt may của Việt Nam Tuy nhiên cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đã đặt ra nhiều thách thức, dự báo máy móc công nghiệp có thể thay thế 86% lao động Việt Nam trong ngành dệt may
1.1.2 Sản lượng
Dệt may là 1 trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và là ngành
có tốc độ phát triển đáng kể với tốc độ trên dưới 20%/1 năm Cụ thể trong 6 tháng đầu năm 2018, đã có bước tăng trưởng cao hơn cùng kỳ năm trước Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2018 đạt 13,415 ty $, tăng 13,8% so với cùng
kỳ Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia xuất khẩu hàng đầu thế giới, tuy nhiên ngành thời trang VIệt Nam đang bị thương hiệu ngoài chiếm lĩnh và chưa có chỗ đứng trên thị trường quốc tế Tổng sản lượng là 2.050 tấn sợi và 2,85 tỷ m2 vải của ngành dệt sợi và 3.903 triệu sản phẩm của ngành may ( 2015, theo niên giám thống kê,FPTS tổng hợp)2
1.1.3 Xuất khẩu
1 https://www.phs.vn/data/research/PDF_Files/analysis_report/vn/20190320/Textile%20and%20Apparel
%20Industry%20Report-20190320-V.pdf
2
Trang 3http://www.fpts.com.vn/FileStore2/File/2018/01/11/FPTS-Textiles%20and%20Clothing%20Industry%20Report-Bảng 1.1 Thị trường xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam năm 2017
2
Trang 4(Nguồn Vinanet.vn thống kê từ số liệu của tổng cục
hải quan)
Trong những năm gần đây, ngành dệt may liên tục có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 2 cả nước, với giá trị xuất khẩu đóng góp khoảng 15% GDP cả nước, Trong 9 tháng đầu năm 2017, ngành sợi đã xuất khẩu 990 ngàn tấn với tổng giá trị 2,62 tỷ USD tăng 23,7% về giá trị so với năm 2016, ngành may xuất khẩu 19,2 tỷ USD, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2016 Tính riêng trong tháng 9, xuất khẩu xơ, sợi Việt Nam ước đạt 122 ngàn tấn trị giá 320 triệu USD, tuy giảm 1,1% về sản lượng nhưng lại tăng 3,5% giá trị so với cùng kỳ tháng trước Năm 2017, kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang các thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc đều ghi nhận đà hồi phục tích cực so với năm 2016, mặc dù tốc độ tăng trưởng vẫn chưa bứt phá mạnh, dao động từ 6-9% Đáng chú ý, xuất khẩu tăng cao sang các thị trường Hàn Quốc, Trung Quốc,
Trang 5ASEAN 1 Qua bảng 1 ta thấy: Kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang thị trường Mỹ tăng 7,3% so với năm 2016 - hồi phục mạnh so với mức tăng trưởng 3% của năm 2016, đạt 12,28 tỷ USD, chiếm 47,16% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang thị trường EU tăng 6,57% so với năm 2016 - hồi phục mạnh so với mức tăng 0,71% trong năm 2016, đạt 3,79 tỷ USD, chiếm 14,5% tổng kim ngạch xuất khẩu Xuất khẩu mặt hàng này của ta sang Nhật Bản tăng 7,28% so với năm 2016 (tăng khá so với mức tăng 2% trong năm 2016), đạt 3,11 tỷ USD, chiếm 11,95% tổng kim ngạch xuất khẩu Xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc tăng 15,8% so với năm 2016, đạt 2,6 tỷ USD, chiếm 10,15% tổng kim ngạch xuất khẩu Xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 34%
so với năm 2016, đạt 1,1 tỷ USD Xuất khẩu sang thị trường ASEAN tăng
25,6% so với năm 2016, đạt 886 triệu USD ( Tính toán từ số liệu của Tổng cục hải quan)
1.1.4 Chủng loại
Các mặt hàng áo thun, áo jacket và quần là 3 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của VIệt Nam, kim ngạch xuất khẩu chiếm 60% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này Các mặt hàng như áo quần trẻ em, vải, đồ lót, quần short,… trở thành mặt hàng xuất khẩu triển vọng với mức tăng trưởng 2 con số ở năm 2017 so với năm 2016
1.2 Mô tả chuỗi cung ứng ngành dệt may của việt nam
1.2.1 Những phương thức sản xuất ngành dệt may 2
*CMT:
Trong ngành may mặc, CMT là thuật ngữ chỉ 3 từ: Cut, Make, Trim Cụ thể trong thuật ngữ CMT có ý nghĩa:
Cut: Cắt vải từ cuộn vải theo rập thiết kế sẵn từ phía khách hàng
Make: May, khâu, vá lại với vải với nhau thành sản phẩm hoàn chỉnh
Trimp: Cắt chỉ và làm sạch chỉ khỏi quần áo sau khi khâu Thực hiện kiểm tra, hoàn thiện sản phẩm, đóng gói hàng thành phẩm theo yêu cầu
gia công toàn bộ đầu vào để sản xuất sản phẩm bao gồm nguyên liệu, vận chuyển, mẫu thiết kế và các yêu cầu cụ thể; các nhà sản xuất chỉ thực hiện việc cắt, may và hoàn thiện sản phẩm Doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu theo CMT chỉ cần có khả năng sản xuất và hiểu biết cơ bản về thiết kế để thực hiện mẫu sản phẩm Khi hợp tác theo phương thức này, người mua cung cấp cho doanh nghiệp
*OEM/FOB (Original Equipment Manufacturing)
1 http://m.vinanet.vn/Uploaded/Admin/2018_05_31/detmaynam_2017_OJBK.pdf
2 https://xuongmaydosi.com/4-phuong-thuc-san-xuat-nganh-det-may-cmt-oem-fob-odm-obm/
4
Trang 6FOB là phương thức xuất khẩu ở bậc cao hơn so với CMT; đây là hình thức sản xuất theo kiểu “mua nguyên liệu, bán thành phẩm” Theo phương thức FOB, các doanh nghiệp chủ động tham gia vào quá trình sản xuất, từ việc mua nguyên liệu đến cho ra sản phẩm cuối cùng Khác với CMT, các nhà xuất khẩu theo FOB sẽ chủ động mua nguyên liệu đầu vào cần thiết thay vì được cung cấp trực tiếp từ các người mua của họ Các hoạt động theo phương thức FOB thay đổi đáng kể dựa theo các hình thức quan hệ hợp đồng thực tế giữa nhà cung cấp với các khách mua nước ngoài và được chia thành 2 loại:
FOB chỉ định: Các doanh nghiệp thực hiện theo phương thức này sẽ thu mua nguyên liệu đầu vào từ một nhóm các nhà cung cấp do khách mua chỉ định Phương thức xuất khẩu này đòi hỏi các doanh nghiệp dệt may phải chịu trách nhiệm về tài chính để thu mua và vận chuyển nguyên liệu
FOB tự search: Các doanh nghiệp thực hiện theo phương thức này sẽ nhận mẫu thiết kế sản phẩm từ các khách mua nước ngoài và chịu trách nhiệm tìm nguồn nguyên liệu, sản xuất và vận chuyển nguyên liệu và thành phẩm tới cảng của khách mua Điểm cốt yếu là các doanh nghiệp phải tìm được các nhà cung cấp nguyên liệu có khả năng cung cấp các nguyên liệu đặc biệt và phải tin cậy
về chất lượng, thời hạn giao hàng Rủi ro từ phương thức này cao hơn nhưng giá trị gia tăng mang lại cho công ty sản xuất cũng cao hơn tương ứng
*ODM (Original Design Manufacturing)
Đây là phương thức sản xuất xuất khẩu bao gồm khâu thiết kế và cả quá trình sản xuất từ thu mua vải và nguyên phụ liệu, cắt, may, hoàn tất, đóng gói và vận chuyển Khả năng thiết kế thể hiện trình độ cao hơn về tri thức của nhà cung cấp
và vì vậy sẽ mang lại giá trị gia tăng cao hơn rất nhiều cho sản phẩm Các doanh nghiệp ODM tạo ra những mẫu thiết kế, hoàn thiện sản phẩm và bán lại cho người mua, thường là chủ của các thương hiệu lớn trên thế giới
*OBM (Original Brand Manufacturing)
Đây là phương thức sản xuất được cải tiến dựa trên hình thức OEM, song ở phương thức này các hãng sản xuất tự thiết kế và ký các hợp đồng cung cấp hàng hóa trong và ngoài nước cho thương hiệu riêng của mình Các nhà sản xuất tại các nền kinh tế đang phát triển tham gia vào phương thức OBM chủ yếu phân phối sản phẩm tại thị trường nội địa và thị trường các quốc gia lân cận
Bảng 2 Tóm tắt quy trình hoạt động của các đơn hàng
Trang 71.2.2 Các thành phần trong chuỗi cung ứng
*Nhà cung cấp nguyên liêu
Ngành dệt may Việt Nam vẫn chưa chủ động tạo được nguồn nguyên phụ liệu đạt chất lượng cao để sản xuất mặt hàng có thể đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu
mà phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu từ nước ngoài(khoảng 60-70%)
Đa số nguyên phụ liệu đều được nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc Do việc trồng bông để phục vụ cho ngành dệt may cần nhiều diện tích để trồng Ngành dệt may Việt Nam hiện nay đang phải nhập khoảng 90% nguyên liệu bông, 100% nhu cầu xơ sợi tổng hợp, không nhưng thế còn nhập thêm khoảng 50% sơi bông 1 Những công ty cung cấp sợi cho thị trường như tập đoàn Vinatex, cung cấp đầu vào cho các doanh nghiệp dệt nhuộm ở cửa hàng
*Công ty sản xuất thành phẩm
-Công ty dệt: Những công ty nhập khẩu nguyên liệu thô từ nước ngoài như bông, sợi tổng hợp,… để cho ra thành phẩm là vải cho các công ty may mặc
- Nhiều công ty trong nước vẫn duy trì phương thức sản xuất CMT(Hợp đồng gia công may mặc), nghĩa là các công ty vẫn nhập nguyên liệu từ người mua, sản xuất theo hợp đồng và doanh nghiệp chỉ cần hoàn thiện sản phẩm với yêu cầu thiết kế của khách hàng Thường sản xuất cho những thương hiệu khác như Levis, Uniq,… Do đó lợi nhuận rất ít và hầu như các doanh nghiệp FDI thường
đi theo phương thức sản suất này Ngành Dệt - May đã nhận thức rõ muốn phát triển bền vững và tăng phần giá trị thì phải chuyển đổi phương thức sản xuất từ gia công (CMT) sang FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm), ODM (tự chủ từ khâu thiết kế, sản xuất đến bán hàng) hay OBM (sở hữu nhãn hàng riêng) Một vài doanh nghiệp quy mô lớn bước đầu đạt được mục tiêu chuyển đổi, nhưng
1 https://enternews.vn/70-phan-tram-nguyen-lieu-cua-nganh-det-may-phai-nhap-khau-81808.html
6
Trang 8con số này còn rất nhỏ ODM hay OBM hiện vượt xa năng lực của đa số doanh nghiệp, vốn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, yếu về mặt quản trị lẫn vốn đầu tư công nghệ, máy móc Công ty cổ phần Maison phân phối 21 nhãn hàng, tập đoàn liên Thái Bình Dương phân phối các nhãn hàng thời trang phân khúc trung bình
Các công ty sản xuất thực hiện tồn trữ hàng hóa, Hàng tồn kho là một trong những tài sản lưu động vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp Hàng tồn kho phải tồn ở mức hợp lý đủ để sản xuất và chi phí lưu kho là nhỏ nhất Hàng tồn kho của ngành dệt may bao gồm: nguyên liệu, phụ liệu, công cụ, bán thành phẩm, thành phẩm và hàng hóa Chính vì lẽ đó, việc kiểm soát tốt hàng tồn kho luôn là một vấn đề hết sức quan trọng trong quản trị chuỗi cung ứng
Phần lớn hàng dệt may được sản xuất ra được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Lượng hàng dệt may được xuất ra để tiêu thụ trong nước ít hơn lượng hàng xuất khẩu
* Nhà bán sỉ(nhà phân phối) :Các nhà sản xuất hàng dệt may có thương hiệu bán hàng trực tiếp cho nhà bán lẻ hoặc thông qua các đại lý bán buôn.Tầm quan trọng của các cửa hàng chuyên doanh cùng với một số tập quán kinh doanh cụ thể như điều kiện thanh toán ở thị trường dệt may trong nước đã tạo nên sự cần thiết phải có hệ thống trung gian là các đại lý hoặc nhà phân phối bán buôn Các công ty dệt may lựa chọn một chuỗi các cửa hàng phân phối sản phẩm rộng khắp cả nước, với 3 kênh tiêu thụ gồm: xây dựng các cửa hàng độc lập, mở rộng hệ thống đại lý hiện nay và đưa các sản phẩm của mình vào các hệ thống siêu thị, trung tâm mua sắm cao cấp Ví dụ Việt Tiến là một trong những doanh nghiệp có hệ thống cửa hàng lớn nhất trong ngành với 1.300 cửa hàng giới thiệu
và bán sản phẩm trên khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước Công ty cổ phần Maison phân phối 21 nhãn hàng, tập đoàn liên Thái Bình Dương phân phối các nhãn hàng thời trang phân khúc trung bình
* Nhà bán lẻ:
Các nhà bán lẻ lớn là một trong những tác nhân chính đóng vai trò cốt yếu trong việc hình thành các mạng lưới sản xuất được phân cấp tại Việt Nam Đặc điểm chính của chuỗi giá trị do người mua quyết định là sự hợp nhất theo mạng lưới để thúc đẩy sự phát triển của các khu chế xuất và thực hiện thuê gia công toàn cầu của các nhà bán lẻ Những sản phẩm của ngành may mặc được đi đến những cửa hàng hoặc đi ra chợ hoặc nhiều trung tâm thương mại để bán sản phẩm Những đại siêu thị hàng may mặc hoành tráng như VinatexMart thì khá vắng khách Lác đác thấy một vài công ty có các cửa hàng mang thương hiệu riêng (Own-brand stores), ví dụ như công ty May Thời trang NEM, công ty Thời
Trang 9trang Việt… Còn loại hình “Cửa hàng chủ lực” – Flagship store thì gần như
không có.Các thương hiệu Việt: NEM,EVA de EVA, CANIFA,…
Các trung tâm thương mại là nơi tiêu thụ lượng hàng may mặc lớn, nhiều thương hiệu lớn đều có những cửa hàng tại các trung tâm thương mại
* Khách hàng: Người tiêu dùng sản phẩm
Trong xã hội hiện đại, nhu cầu thời trang của con người rất cao Họ luôn luôn thích những xu hướng thời trang luôn được cập nhật trên thế giới
- khách hàng cá nhân: những người tiêu dùng cá nhân -khách hàng tổ chức: trường học, các công ty may đồng phục cho nhân viên,
…
1.3 Sơ đồ chuỗi cung ứng ngành dệt may Việt Nam
*Các dòng trong chuỗi
-Dòng tài chính:
Sau khi mua hàng, khách hàng thanh toán cho cửa hàng hoặc người bán lẻ
dòng tiền này bao gồm chi phí sản xuất, chi phí tồn kho, WIP,… Sau khi được
thanh toán tiền, những nhà bán lẻ các sản phẩm dệt may phải trả tiền nhập hàng
cho các nhà phân phối, các nhà phân phối thanh toán cho nhà sản xuất như các
8
Nhà cung cấp
nguyên phụ liệu:
nhập khẩu, nguồn
cung trong nước
Nhà bán lẻ: Chuỗi cửa hàng thời trang, trung tâm thương mại , chợ,… Nhà phân phối
Nhà sản xuất:
công ty dệt, công ty may mặc
Khách hàng: người tiêu dùng cá nhân, khách hàng
tổ chức như công ty, trường học Xuất khẩu
Trang 10công ty dệt và công ty may mặc, rồi nhà sản xuất thanh toán lại cho nhà cung ứng nguyên vật liệu
- Dòng thông tin:
Bao gồm dữ liệu được lưu trữ và truy xuất mỗi khi khách hàng đặt hàng hoặc mua hang trực tiếp, dòng này được các thành phần của chuỗi quan tâm và tác động qua lại Khi khách hàng mua hàng taị cửa hàng thì thông tin này sẽ được cửa hàng bán lẻ gửi tới nhà phân phối rồi đến nhà sản xuất rồi đến nhà cung cấp
nguyên liệu từ đó họ có được thông tin về khách hàng, biết được nhu cầu của thị trường để điều chỉnh lượng cung cấp hàng hóa Hiện nay dòng thông tin được quản
lý bằng cách thông tin được khởi tạo và lưu trữ bằng Customer Order data
Có thể xác định được hàng hóa đang ở đâu, xác định được thời gian cụ thể khi hàng hóa đến nơi Giúp các thành phần trong chuỗi dễ dàng trong việc xác định thời gian lấy hàng , xuất hàng
-Dòng sản phẩm:
Nhà sản xuất thu mua nguyên phụ liệu như Sợi bông, sợi tổng hợp bằng cách nhập khẩu từ nước ngoài hoặc nguồn nguyên liệu từ trong nước Sau khi sản xuất ra thành phẩm, thành phẩm sẽ được đưa tới nhà phân phối rồi tới các cửa hàng bán lẻ rồi tới tay khách hàng Phần lớn sản phẩm được xuất khẩu ra nước ngoài, còn lại phục vụ nhu cầu trong nước
Khách hàng có nhiều kênh để mua sản phẩm dệt may như chợ, cửa hàng thời trang, trung tâm thương mại, trang thương mại điện tử
Trang 11*sơ đồ chuỗi giá trị ngành dệt may
1.4 Vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Việt Nam thuộc top 3 quốc gia có quy mô xuất khẩu ngành dệt may lớn nhất trên thế giới, chiếm 5,7 % thị phần thế giới(Năm 2016), nhưng chỉ tham gia vào công đoạn nằm ở đáy giá trị gia tăng đóng góp vào sản phẩm Theo Vinatex, Việt Nam là dối tác của 65 nước, trong đó chủ yếu là Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản 1
B ảng 3: tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang các nước khác năm 2016
Sản xuất nguyên phụ liệu là công đoạn mắc xích quan trọng đầu tiên trong sự phát triển của nền may mặc, phụ trách cung cấp đầu vào cho các hoạt động sau Sản xuất nguyên phụ liệu chỉ đáp ứng 1% nhu cầu trong nước, sản lượng sợi
1 https://www.youtube.com/watch?v=IkTtYWe0gvo
10