DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á AFD Cơ quan Phát triển Pháp CP Chính phủ DN Doanh nghiệp DNĐMST Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo GNP Tổng thu nhập quốc
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG VƯƠNG LONG
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT SỬ DỤNG VỐN ODA ĐỂ ĐẦU TƯ CHO KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO QUA TRƯỜNG HỢP CHƯƠNG TRÌNH ĐỐI TÁC ĐỔI MỚI SÁNG
TẠO VIỆT NAM - PHẦN LAN (IPP)
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
HÀ NỘI - 2020
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG VƯƠNG LONG
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT SỬ DỤNG VỐN ODA ĐỂ ĐẦU TƯ CHO KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO QUA TRƯỜNG HỢP CHƯƠNG TRÌNH ĐỐI TÁC ĐỔI MỚI SÁNG
TẠO VIỆT NAM - PHẦN LAN (IPP)
Ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 8 34 04 12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN NGỌC CA
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là luận văn là do tự bản thân tôi thực hiện dưới sự
hỗ trợ và hướng dẫn của giáo viên và không sao chép từ các công trình nghiên cứu của người khác Các tài liệu và số liệu sử dụng trong nghiên cứu này có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này!
Tác giả
Đặng Vương Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Những lời đầu tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Học viện Khoa học và Công nghệ trong suốt khóa học đã tận tình truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS TS Trần Ngọc Ca đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của mình
Để hoàn thiện đề tài tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, các cô, chú, các anh chị làm việc tại Chương trình đổi mới sáng tạo Việt Nam - Phần Lan đã tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên
và giúp đỡ cả vật chất lẫn tinh thần trong thời gian tôi thựchiện khóa luận
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều, nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự thông cảm, chỉ dẫn, giúp đỡ và đóng góp
ý kiến của các quý thầy cô và các bạn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày tháng năm
Học viên
Đặng Vương Long
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 7
1.1 Khái niệm, phân loại vốn ODA 7
1.2 Khái niệm về khởi nghiệp ĐMST 10
1.3 Mối quan hệ giữa ODA và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo 14
Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THU HÚT SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA CHO KNĐMST TẠI IPP 16
2.1 Thực trạng của quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam 16
2.2 Vai trò của nguồn vốn ODA đối với sự phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam 21
2.3 Phương thức thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA tại Dự án IPP 22
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút sử dụng nguồn vốn ODA cho DNKNĐMST 55
Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT sử dụng NGUỒN VỐN ODA CHO KNĐMST THÔNG QUA CHƯƠNG TRÌNH IPP 62
3.1 Thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng vốn ODA cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam 62
3.2 Giải pháp tăng cường thu hút nguồn vốn ODA cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thông qua Chương trình IPP 64
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á
AFD Cơ quan Phát triển Pháp
CP Chính phủ
DN Doanh nghiệp
DNĐMST Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo
GNP Tổng thu nhập quốc dân
HIFU Quỹ Đầu tư phát triển đô thị thành phố Hồ Chí Minh IAP Chương trình Tăng tốc đổi mới sáng tạo
IPO Chào bán cổ phiếu công chúng
IPP2 Chương trình Đối tác Đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần
Lan, giai đoạn 2 IPR ISA Tài khoản tiết kiệm cá nhân
IT Công nghệ thông tin
JFC Tổng Công ty Tài chính Nhật Bản
JSC Công ty cổ phần
MOST Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam
NATIF Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia
NIS Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia
ODA Viện trợ phát triển chính thức
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
R&D Nghiên cứu và Phát triển
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH
Hình 1 Khung thời gian hỗ trợ của IPP2 30 Hình 2 Quy trình sàng lọc và lựa chọn của IPP2 36 Hình 3 Quy trình hoàn chi của IPP2 37
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là một trong những đặc tính cơ bản của các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (Startup), khởi nghiệp mà sáng tạo càng nhiều thì doanh nghiệp càng thành công, từ nguồn vốn sẵn có nhưng không đủ phát triển để nuôi những ý tưởng có tầm cao mới
Khởi nghiệp ở Việt Nam đang đòi hỏi lượng vốn rất lớn, các tổ chức, quỹ coi Việt Nam là địa bàn khởi nghiệp và họ đã và đang đề nghị Việt Nam xây dựng các hành lang chính sách tạo điều kiện cho luồng vốn ODA chảy vào khu vực tư nhân, khu vực khởi nghiệp từ năm 2010, mạnh nhất là năm
2012 Tuy nhiên, đến nay còn quá nhiều ràng buộc để với đến vốn ODA, trong khi chính sách hỗ trợ cho tư nhân, khởi nghiệp tiếp cận dòng vốn này lại không có Một số doanh nghiệp khởi nghiệp và dự án khi đã tiếp cận được nguồn vốn ODA rồi thì cũng đang loay hoay để sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả nhất Ngày 23 tháng 4 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 38/2013/NĐ-CP về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, trong đó cho phép khu vực tư nhân tiếp cận nguồn vốn này Khu vực tư nhân được hiểu là khu vực kinh tế ngoài nhà nước
Nguồn vốn ODA tại Việt Nam được thực hiện dưới 3 hình thức chủ yếu gồm: nguồn vốn ODA viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 10-12%, nguồn vốn ODA vay ưu đãi chiếm khoảng 80% và nguồn vốn ODA hỗn hợp chiếm khoảng 8-10% Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp nhu cầu vốn là rất lớn Đặc biệt là nguồn vốn viện trợ Do đó, việc nghiên cứu phương thức sử dụng vốn ODA để đầu tư cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là cần thiết và là yếu tố quan trọng góp phần làm nên thành công của các doanh nghiệp khởi nghiệp
Đó là những lý do vì sao tác giả đã lựa chọn đề tài của luận văn là: Giải pháp tăng cường thu hút sử dụng vốn ODA để đầu tư cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo qua trường hợp Chương trình Đối tác Đổi mới sáng tạo Việt Nam - Phần Lan (IPP)
Trang 92 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thực tiễn, quốc gia nào, địa phương nào phát huy được tinh thần khởi nghiệp trong toàn dân, nhất là trong giới trẻ; xây dựng được văn khóa khởi nghiệp trong cộng đồng thì nền kinh tế - xã hội tại quốc gia đó, địa phương đó sẽ không ngừng phát triển mạnh mẽ và dẫn đầu, các quốc gia như
Mỹ, Israel, Singapore, đã chứng minh điều đó
Đối với Việt Nam, là một nước đang phát triển, nếu muốn đi tắt, đón đầu
để trở thành một nước phát triển, tiên tiến, sánh vai cùng với các cường quốc năm châu thì chỉ có một con đường duy nhất là khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo Chỉ có con đường khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo thì Việt Nam mới tận dụng được các cơ hội và vượt qua thách thức khi hội nhập, mới nâng cao được năng suất lao động quốc gia, giải quyết việc làm cho lực lượng lao động, nhất là lao động trẻ, mới phát triển khoa học và công nghệ tương ứng với yêu cầu hội nhập
Ở Việt Nam, những năm gần đây, số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đang gia tăng nhanh chóng Từ khoảng 400 doanh nghiệp năm 2012, đến nay nước ta đã có khoảng 3000 doanh nghiệp (theo ước tính của tạp chí Echelon, Singapore) trong các lĩnh vực khác nhau Đặc biệt là trong các ngành truyền thông, thương mại điện tử, công nghệ cao và thực phẩm Đối với doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, vòng đời phát triển sẽ trải qua các giai đoàn từ tiền ươm mầm (pre-seed), ươm mầm (seed), giai đoạn đầu, các giai đoạn phát triển tiếp theo và cuối cùng là trải qua mua bán/sáp nhập hoặc chào bán cổ phiếu công chúng (IPO) Trong tất cả các giai đoạn, nguồn vốn và nhân lực đều hết sức quan trọng Ở các giai đoạn khác nhau, với khả năng tài chính, tiềm năng phát triển cũng như thực lực khác nhau, một starup sẽ cần lượng vốn và loại hình vốn khác nhau Các nguồn tài chính starup có thể tiếp cận gồm có các khoản tài trợ (phần lớn đến từ chính phủ), vốn vay, vay bảo lãnh, vốn đầu tư từ các quỹ đầu tư mạo hiểm, từ doanh thu và một số hình thức tài chính mới hiện nay như cho vay ngang hàng, gọi vốn cộng đồng hay ICO, Như vậy, có thể thấy viện trợ ODA sẽ giúp giải quyết phần nào cơn khát vốn cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và mang lại
Trang 10luồng sinh khí mới cho các cá nhân, tổ chức khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phát triển, góp phần làm thay da đổi thịt cho nhiều nền kinh tế nếu được sử dụng nguồn vốn ODA hiệu quả
Mặt khác, với số vốn ODA không nhiều, Dự án IPP đã đạt được thành công đề ra chính là nhờ nguyên lý linh hoạt tối đa, điều chỉnh nhanh và học hỏi nhanh từ những vấn đề gặp phải trong quá trình hoạt động dự án
Từ những lý do trên, kết quả nghiên cứu của đề tài là vô cùng cần thiết
và có tính ứng dụng cao
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá phương thức sử dụng và đưa ra giải pháp để thu hút nguồn vốn ODA thông qua trường hợp tại Chương trình đối tác Đổi mới sáng tạo Việt Nam - Phần Lan (IPP)
- Giải pháp để thu hút quả việc sử dụng nguồn vốn ODA cho khởi
nghiệp đổi mới sáng tạo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, Luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
- Đưa ra hệ thống lý thuyết có liên quan đến nguồn vốn ODA, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
- Đánh giá thực trạng sử dụng nguồn vốn ODA của dự án IPP
- Đưa ra bài học kinh nghiệm về việc sử dụng nguồn vốn ODA và giải pháp thu hút nguồn vốn ODA cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là: Dự án Đối Tác Đổi Mới Sáng Tạo Việt Nam – Phần Lan
4.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu được xác định từ năm 2013 đến hết năm 2018
Lý do: Ngày 23 tháng 4 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2013/NĐ-CP về quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
Trang 11(ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, trong đó cho phép khu vực tư nhân tiếp cận nguồn vốn này
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Dựa vào lý luận và thực tế phương thức sử dụng nguồn vốn ODA cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Dự án Đối Tác Đổi Mới Sáng Tạo Việt Nam – Phần Lan Qua đó làm rõ phương thức sử dụng vốn ODA cho các cá nhân,
tổ chức khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
Dựa vào kết quả tại các báo cáo Dự án Đối Tác Đổi Mới Sáng Tạo Việt Nam – Phần Lan để tiến hành các phân tích, đánh giá hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn ODA
Một nội dung quan trọng là đưa ra bài học kinh nghiệm trong việc sử dụng nguồn vốn ODA cho các cá nhân, tổ chức khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nhằm phát triển kinh tế xã hội và đưa ra giải pháp để thu hút nguồn vốn ODA đầu tư cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: Sử dụng phương pháp thu thập thông tin, xử lý thông tin và phương pháp so sánh từ các nguồn số liệu thống kê thu thập được
Tác giả thu thập các dữ liệu thứ cấp từ năm 2010 đến năm 2018 thông qua các bài báo, sách nghiên cứu chuyên khảo, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước và các báo cáo liên quan đến chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo Đối với trường hợp cụ thể của Dự án Đối Tác Đổi Mới Sáng Tạo Việt Nam – Phần Lan tác giả đã cũng đã nghiên cứu các tài liệu và các số liệu tổng hợp từ Dự án để đưa ra bức tranh tổng thể về việc
sử dụng vốn cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo giúp việc phân tích, lý luận có tính thực tiễn và chính xác hơn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Vấn đề quan trọng ở đây là phải hoàn thiện các văn bản quản lý, chính sách và phương pháp quản lý Đề tài nghiên cứu nhằm chỉ ra phương thức
Trang 12hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn ODA cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được tiến hành theo hướng đó Trong quá trình nghiên cứu phương thức
sử dụng nguồn vốn ODA, cần phải tham khảo kinh nghiệm hay của quốc tế, đặc biệt cần phải gắn kết với phương thức hoạt động của các dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn triển khai theo hướng xuất phát từ thực tế để đưa ra phương thức hoạt động hiệu quả và từ kết quả đó quay trở lại phục vụ cho thực tế Nói cách khác, phương thức sử dụng nguồn vốn ODA phải xuất phát từ thực tiễn hoạt động của bản thân các dự án cộng thêm hỗ trợ từ chính sách của Nhà nước
Từ năm 2010, Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp, vốn đầu tư nước ngoài không hoàn lại có xu hướng giảm Do đó, việc tăng cường quản lý, sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức( ODA) một cách hiệu quả là cấp thiết.Trong thời kỳ 2011-2016, nguồn vốn ODA có chiều hướng giảm dần trong khi hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi chưa được như mong muốn Số lượng nhà tài trợ, cả đa phương và song phương, đã giảm dần và có kế hoạch chấm dứt chương trình viện trợ chính thức dành cho Việt Nam như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) Các bộ, ngành và địa phương vẫn chưa sẵn sàng tiếp cận các nguồn vốn vay kém ưu đãi áp dụng cơ chế tài chính trong nước theo hình thức cho vay lại
Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước về quản lý và sử dụng vốn vay nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2011-2016 vừa qua cũng cho thấy, năng lực hấp thu nguồn vốn ODA còn kếm, chưa đáp ứng được nhu cầu Nhiều chương trình và dự án chậm tiến độ, nhiều trường hợp phải xin gia hạn Việc lồng ghép các chương trình và dự án của Chính phủ trên địa bàn với các chương trình và dự án ODA, nhiều khi có sự trùng lặp dẫn đến hạn chế nguồn vay ODA
Vì vậy, từ kết quả đề tài Giải pháp tăng cường thu hút sử dụng vốn oda
để đầu tư cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo qua trường hợp Chương trình
Trang 13Đối tác Đổi mới Sáng tạo Việt Nam - Phần Lan (IPP) góp phần giải quyết bài
toán tìm ra giải pháp tăng cường thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam một cách hiệu quả nhất
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận
Chương 2: Đánh giá thực trạng phương thức sử dụng nguồn vốn ODA cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Dự án IPP
Chương 3: Đề xuất giải pháp tăng cường thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo qua trường hợp của IPP
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm, phân loại vốn ODA
Khái niệm ODA
Thuật ngữ hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) xuất hiện từ sau chiến tranh Thế giới II và gắn liền với yếu tố chính trị Sau đại chiến Thế giới lần thứ II, cả Châu Âu và Châu Á đều đứng trước cảnh đổ nát, hoang tàn, chỉ có Châu Mỹ nói chung và nước Mỹ nói riêng là không bị ảnh hưởng mà ngược lại, nước Mỹ nhờ chiến tranh trở nên giàu có Trước tình hình đó, Mỹ thực hiện viện trợ ồ ạt cho Tây Âu nhằm ngăn chặn sự ảnh hưởng của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Kế hoạch viện trợ này được gọi là "Hỗ trợ phát triển chính thức"
Đến nay, thuật ngữ ODA được sử dụng khá phổ biến Tùy theo từng cách tiếp cận, có nhiều cách hiểu khác nhau về ODA, cụ thể như sau:
Theo tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) đã đưa ra khái niệm ODA là viện trợ được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% (OECD, 2018) Lợi thế khi vay nguồn viện trợ ODA là nguồn vốn khá lớn, điều kiện vay thuận lợi, lãi xuất thấp ODA là nguồn vốn rất quan trọng đối với các nước đang phát triển
Nguồn vốn ODA là nguồn vốn ưu đãi bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản vay có thời hạn dài và lãi suất thấp Nếu khoản vay đó có thành tố cho không hay là viện trợ không hoàn lại Nguồn ODA không hoàn lại thường chiếm ít nhất là 25%, còn 75% là cho vay
Theo nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính Phủ về quản
lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức có định nghĩa ODA như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (gọi tắt là ODA) được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính Phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ”
Trang 15Theo PGS TS Nguyễn Quang Thái (viện chiến lược phát triển): Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi (về lãi suất thời gian ân hạn và trả nợ) của các cơ quan chính thức thuộc các nước và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO)
Theo chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc: ODA là viện trợ không hoàn lại hoặc là cho vay ưu đãi của các tổ chức nước ngoài, với phần viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vốn vay
Cho đến nay chưa có định nghĩa hoàn chỉnh về ODA, nhưng sự khác biệt giữa các định nghĩa không nhiều Dưới các giác độ khác nhau, ODA được hiểu cũng khác nhau song có thể định nghĩa một cách chung nhất là: Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA-official development assistance) được hiểu chung là hình thức hợp tác phát triển giữa Chính phủ nước nhận tài trợ và các đối tác tài trợ ở nước ngoài
Bên tài trợ thường bao gồm các Chính phủ, các tổ chức quốc tế (UNDP, WB, IMF ) Nguồn vốn ODA là nguồn vốn hỗ trợ của các nước phát triển cho các nước đang phát triển nhằm giúp các nước này phát triển kinh tế xã hội bền vững
Nguồn vốn ODA thường bao gồm cụ thể các khoản viện trợ không hoàn lại, các khoản vay được ưu đãi về lãi suất (lãi suất thấp) và thời hạn thanh toán (thời hạn dài), tuy nhiên hiện nay, với một số nước trong nhóm các nước có mức thu nhập trung bình thì nguồn vốn ODA không hoàn toàn là các khoản vay với lãi suất thấp nữa mà có thể là theo lãi suất trên thị trường
Quá trình cung cấp ODA đem lại lợi ích cho cả hai phía: bên các nước đang và kém phát triển có thêm khối lượng lớn vốn đầu tư từ bên ngoài để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế trong quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé của mình Phía còn lại cũng đạt được những lợi ích trong các điều kiện bắt buộc kèm theo các khoản viện trợ cho vay, đồng thời gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho họat động của các công ty của mình khi thực hiện đầu tư tại các nước nhận viện trợ
Trang 16Mặt khác việnh trợ ODA mang tính nhân đạo, thể hiện nghĩa vụ đồng thời là sự quan tâm giúp đỡ của các nước giàu đối với các nước nghèo, tăng cường thúc đẩy mối quan hệ đối ngoại tốt đẹp giữa các quốc gia với nhau, giữa các tổ chức quốc tế với các quốc gia
Phân loại các loại hình ODA:
Các hình thức của ODA được chia làm 3 loại chính, trong mỗi loại lại được chia thành nhiều loại nhỏ
Phân loại theo phương thức hoàn trả thì có: Viện trợ không hoàn lại: Bên nước ngoài cung cấp viện trợ (mà bên nhận không phải hoàn lại) để bên nhận thực hiện các chương trình, dự án theo sự thoả thuận giữa các bên; Viện trợ có hoàn lại (còn gọi là tín dụng ưu đãi): nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền( tuỳ theo quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi
và thời gian trả nợ thích hợp; ODA cho vay hỗn hợp: Là các khoản ODA kết hợp một phần ODA không hoàn lại và một phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển, thậm chí có loại ODA vốn vay kết hợp tới 3 loại hình gồm một phần ODA không hoàn lại, một phần
ưu đãi và một phần tín dụng thương mại
Phân loại theo nguồn cung cấp thì có: ODA song phương: là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước kia ( nước phát triển viện trợ cho nước đang và kém phát triển) thông qua hiệp định được ký kết giã hai chính phủ; ODA đa phương: là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức quốc
tế, hay tổ chức khu vực hoặc của chính một nước dành cho Chính phủ một nước nào đó, nhưng có thể được thực hiện thông qua các tổ chức đa phương như UNDP ( Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc)…có thể các khoản viện trợ của các tổ chức tài chính quốc tế được chuyển trực tiếp cho bên nhận viện trợ
Phân loại theo mục tiêu sử dụng có: Hỗ trợ cán cân thanh toán; tín dụng thương nghiệp; viện trợ chương trình; viện trợ dự án
Hỗ trợ cán cân thanh toán là các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ ngân sách của Chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng: chuyển giao tiền tệ trực tiếp cho nước nhận ODA và Hỗ trợ nhập khẩu (viện trợ hàng hoá);
Trang 17Tín dụng thương nghiệp: tương tự như viện trợ hàng hoá nhưng có kèm theo các điều kiện ràng buộc Chẳng hạn nước cung cấp ODA yêu cầu nước nhận phải dùng phần lớn hoặc hầu hết vốn viện trợ để mua hàng ở nước cung cấp; Viện trợ dự án: chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện ODA Điều kiện để được nhận viện trợ dự án là" phải có dự án cụ thể, chi tiết về các hạng mục sẽ sử dụng ODA"; Viện trợ chương trình là nước viện trợ và nước nhận viện trợ ký hiệp định cho một mục đích tổng quát mà không cần xác định chính xác khoản viện trợ sẽ được sử dụng như thế nào
Tóm lại có rất nhiều cách định nghĩa về nguồn vốn ODA nhưng cách hiểu chung nhất là nguồn vốn ODA là tất cả các khoản hỗ trợ không hoàn lại
và các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn và lãi suất thấp của các Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liệp hợp quốc, các tổ chức phi Chính phủ (NGO), các tổ chức tài chính quốc tế (IMF, ADB, WB ) giành cho các nước nhận viện trợ ODA được thực hiện thông qua việc cung cấp từ phía các nhà tài trợ các khoản viện trợ không hoàn lại, vay ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán (theo định nghĩa của OECD, nếu ODA là khoản vay ưu đãi thì yếu
tố cho không phải đạt 25% trở lên) Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần GNP từ bên ngoài vào một quốc gia, do vậy ODA được coi là một nguồn lực từ bên ngoài
1.2 Khái niệm về khởi nghiệp ĐMST
Khái niệm về khởi nghiệp
Theo định nghĩa trên trang Wikipedia, khởi nghiệp là khi bạn bắt đầu kinh doanh, tự mình quản lý công việc, quản lý người khác để làm chủ thu nhập của mình Bạn có thể phát triển, đầu tư vào một loại sản phẩm hay dịch
vụ nào đó Bạn cũng có thể mua bán sinh lời từ một mặt hàng nào đó
Khởi nghiệp tức là bạn đã ấp ủ một công việc kinh doanh riêng, thường thì bạn sẽ thành lập một doanh nghiệp mà tại đó bạn là người quản lý, là người sáng lập hoặc đồng sáng lập Việc cung cấp những sản phẩm mới, dịch vụ mới hay thậm chí kinh doanh những mặt hàng đã có mặt trên thị trường nhưng theo ý tưởng có riêng mình đều được gọi là khởi nghiệp
Trang 18Khởi nghiệp có thể là quá trình tạo ra một lĩnh vực hoạt động mới cho riêng mình Qua đó bạn có thể thuê các nhân viên về làm việc cho bạn và bạn
là người quản lý công ty, doanh nghiệp của mình Khởi nghiệp mang lại rất nhiều giá trị cho bản thân cũng như nhiều lợi ích cho xã hội, cho người lao động
Đối với cá nhân theo đuổi việc khởi nghiệp, hoạt động này giúp họ tạo
ra công việc, thu nhập cho chính mình mà không phải bắt đầu từ việc đi làm thuê Họ được tự do trong công việc, và nếu công ty của họ phát triển tốt thì nguồn thu nhập của họ có thể cao gấp nhiều lần so với thu nhập do đi làm thuê mang lại
Đối với xã hội và nền kinh tế thì các công ty khởi nghiệp tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm Điều này giúp đất nước giải quyết tình trạng thất nghiệp, tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động nuôi sống bản thân và gia đình
Theo quy định trong bản dự thảo Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được Chính Phủ trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ 2 Quốc Hội khoá 14, nhiều khái niệm chưa từng xuất hiện trong luật bắt đầu được "luật hoá" Dự thảo này định nghĩa: „Khởi nghiệp là quá trình hiện thực ý tưởng kinh doanh, bao gồm quá trình thành lập và vận hành doanh nghiệp trong vòng 05 năm kể
từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu, chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán”
Khái niệm về khởi nghiệp i m i sáng tạo
Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (hay còn gọi là Startup) là một trong những đặc tính cơ bản của khởi nghiệp Cũng theo Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (startup) là quá trình khởi nghiệp dựa trên việc tạo ra hoặc ứng dụng kết quả nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và có khả năng tăng trưởng nhanh
Theo Blank và Dorf (2012), doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
“là tổ chức lâm thời tìm kiếm mô hình kinh doanh có khả năng tăng tốc phát triển, nhân rộng và mang lại lợi nhuận” Bên cạnh khả năng tăng tốc (có tiềm
Trang 19năng tăng trưởng), các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo cũng thường mang đặc điểm đổi mới sáng tạo (Sarkar, 2016) vì các doanh nghiệp này thường có xu hướng phát triển hoặc hướng tới tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới cho thị trường Theo Schumpeter (1934) - một trong những học giả
có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lĩnh vực khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, doanh nhân là tác nhân của đổi mới sáng tạo và chuyển đổi kinh tế Tuy nhiên, các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo chưa có nhiều thành tựu và thành công nên nhà đầu tư khó có thể hiểu rõ và định giá doanh nghiệp (Holstein, 2015a) Vì vậy, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được xem là loại hình doanh nghiệp rủi ro và khó tiếp cận được nguồn vốn vay ngân hàng Đây là một trong nhiều lý do khiến doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phải tìm kiếm các nguồn vốn khác, thường dựa trên việc trao đổi cổ phần trong các giai đoạn phát triển đầu tiên, bao gồm vốn từ nhà đầu tư thiên thần và vốn đầu tư mạo hiểm (Thiel & Masters, 2014)
Tại Việt Nam, thuật ngữ “khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” lần đầu tiên xuất hiện trong Nghị quyết 351 của Chính phủ được thông qua ngày 16 tháng
5 năm 2016, tiếp đó được định nghĩa trong Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025 (Đề án 8442) được thông qua ngày 18 tháng 5 năm 2016, và sau đó là trong Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa
và nhỏ được thông qua ngày 12 tháng 6 năm 2017 Cả Đề án 844 và Luật này đều tập trung nhấn mạnh các đặc điểm tiềm năng tăng trưởng cao và tính sáng tạo của doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và cùng định nghĩa:
“doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được thành lập để triển khai một
ý tưởng kinh doanh trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới và có tiềm năng mở rộng quy mô nhanh chóng” Sự khác biệt giữa hai văn bản chính sách này là loại hình doanh nghiệp khởi nghiệp mà từng văn bản hướng tới Đề án 844 áp dụng đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo với thời gian hoạt động tối đa 5 năm kể
từ ngày đăng ký thành lập trong khi Luật hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ không quy định giới hạn này Luật cũng xác định doanh nghiệp khởi nghiệp là
Trang 20doanh nghiệp vừa và nhỏ (dựa trên quy mô lao động và doanh thu) Khác biệt này quyết định phạm vi và phổ rộng đối tượng thụ hưởng của hai văn bản
Doanh nghiệp khởi nghiệp i m i sáng tạo (DNKNĐMST)
Doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là "loại hình doanh nghiệp
có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ,
mô hình kinh doanh mới, và có thời gian hoạt động không quá 5 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu
Một trong những yếu tố quyết định việc doanh nghiệp mới thành lập có phải là DNKNST hay không, chính là trình độ công nghệ làm nền tảng cho tính đổi mới sáng tạo Trình độ công nghệ của doanh nghiệp góp phần quan trọng tạo điều kiện cho tinh thần khởi nghiệp và DNKNST Các nước có trình độ công nghệ cao cũng thường là các quốc gia có nhiều DNKNST thành công
Đặc trưng của DNKNĐMST là tạo ý tưởng mới, suy nghĩ sáng tạo hình thành ra các sản phẩm và phương pháp mới Sự đổi mới diễn ra thông qua việc cung cấp các sản phẩm, quy trình, dịch vụ, công nghệ hoặc mô hình kinh doanh hiệu quả hơn cho thị trường, chính phủ và xã hội Qua đó, đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình, đổi mới tổ chức quản lý và đổi mới mô hình kinh doanh trong doanh nghiệp là các yếu tố quan trọng, trực tiếp đóng góp tăng năng suất doanh nghiệp Để một DNKNĐMST có thể phát triển nhanh và mạnh thì vai trò của Nghiên cứu và phát triển (R&D) là vô cùng quan trọng được coi là một trong những chìa khóa thành công của các doanh nghiệp Bộ phận R&D trong mỗi doanh nghiệp có nhiệm vụ chính là nghiên cứu và triển khai, thiết kế sản phẩm mới, cải tiến sản phẩm đang có, thiết kế/áp dụng quy trình công nghệ mới, cải tiến quy trình công nghệ đang có những sản phẩm mang tính cạnh tranh nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và thực hiện chiến lược phát triển của doanh nghiệp
Tuy nhiên hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam chưa quan tâm nhiều tới hoạt động R&D Năm 2017, trong khuôn khổ dự án FIRST do Ngân hàng Thế giới tài trợ, đã tiến hành điều tra về hoạt động đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp Trong tổng số 8.480 doanh nghiệp được gửi phiếu điều tra, có 7.641 doanh nghiệp trả lời, chiếm 90,1% Trong 7.641 doanh nghiệp trả lời
Trang 21phiếu điều tra, có 3.154 doanh nghiệp lớn và vừa, 4.487 doanh nghiệp nhỏ Theo trả lời của doanh nghiệp, trong năm 2016, có 2.423 doanh nghiệp (31,7%) có hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN), trong đó, có 997 doanh nghiệp (DN) có hoạt động nghiên cứu và phát triển (NC&PT) (chiếm 13% các doanh nghiệp điều tra; và chiếm 41,1% số các doanh nghiệp có hoạt động KH&CN)
Với vai trò quan trọng của NC&PT, Nhà nước cần có những chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho KH và CN một cách hiệu quả, tạo dựng một đơn vị nghiên cứu của chính họ như thế mới đảm bảo sự phát triển một cách bền vững
1.3 Mối quan hệ giữa ODA và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
Theo phân tích ở trên nguồn vốn ODA là nguồn vốn tài trợ hoặc vay ưu đãi có thể cung cấp trực tiếp bằng tiền hoặc đào tạo nâng cao năng lực Mục đích chính của việc cung cấp nguồn vốn ODA là thúc đẩy sự phát triển kinh tế
- xã hội của các nước đang phát triển
Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo là một tổ chức được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn nhất và
có cơ hội tăng trưởng nhanh nhất, xây dựng một phân khúc thị trường mới, tạo ra sự khác biệt không chỉ ở trong nước mà với tất cả công ty trên thế giới Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp thì nguồn vốn là một trong những thách thức lớn nhất Thị trường vốn và hoạt động đầu tư luôn yêu cầu doanh nghiệp phải có nhiều kinh nghiệm và kiến thức đặc thù, bao trùm toàn diện chiến lươcj kinh doanh, tài chính, pháp lý, mạng lưới nhưng hầu hết doanh nghiệp khởi nghiệp có tuổi đời khoảng 1 năm, quy mô nhỏ lẻ và khả năng tăng trưởng không cao, vốn đầu tư đa phần dưới 10 triệu USD, hoạt động gọi vốn nhỏ lẻ Hơn nữa, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thường đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung do đó việc gọi vốn đầu tư là giai đoạn sống còn của doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, là một trong các điều kiện tất yếu quyết định sự sống còn của doanh nghiệp
Như vậy ODA và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có mối quan hệ chặt chẽ giữa một bên cung cấp vốn và một bên cần vốn Việc cung cấp vốn ODA (tài
Trang 22trợ hoàn toàn hoặc vay ưu đãi) có vai trò to lớn đối với doanh nghiệp khởi nghiệp thể hiện như sau:
Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp trong các lĩnh vực tiếp cận kiến thức khoa học, công nghệ của thế giới và hòa nhập vào các chuỗi giá trị toàn cầu, tạo điều kiện cho việc trao đổi tri thức hiệu quả Việc tăng cường các hoạt động khoa học và công nghệ để tạo nền tảng vững chắc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, năng lực cạnh tranh và tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu
Giúp doanh nghiệp khởi nghiệp sáng taọ hiện thực hóa các ý tưởng từ đó phát huy được các ý tưởng khởi nghiệp được c nền tảng vền tảngý tưởng khởi nghiệppg nghệ để tạo nền tảng vững chắc nâng cao năng những ý tưởng sáng tạo như vậy của mọi người được sử dụng và phát huy thì sẽ đem lại một sự thay đổi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, thậm chí là tác động lớn đến các ngành, các lĩnh vực, đem lại lợi ích cho xã hội
Thông qua Ngân sách Nhà nước ODA là nguồn vốn bổ sung hết sức quan trọng thông qua hình thức cho vay Từ đó Nhà nước sẽ có các chương trình để thu hút đầu tư cho các DNKNĐMST Thường các nguồn vốn ODA đầu tư cho DNKNĐMST chủ yếu nghiên cứu và phát triển công nghệ, sản phẩm hoặc quy trình mới, chuẩn bị kế hoạch kinh doanh, nghiên cứu khả thi
về thị trường cho sản phẩm mới, chuyển giao công nghệ và áp dụng dây chuyền sản xuất mới
Tiểu kết chương 1
Trong thời đại của nền cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra manh
mẽ, việc thực hiện hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tầm nhìn chiến lược đối với nền kinh tế của một quốc gia Trong chương 1, luận văn trình bày những vấn cơ bản các khái niệm cơ bản liên quan đến nguồn vốn ODA và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
và mối quan hệ giữa vốn ODA và khởi nghiệp sáng tạo Đây là hai chủ thể chính liên quan đến các vấn đề lý luận sẽ được trình bày trong các chương tiếp theo
Trang 23Chương 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THU HÚT SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA
CHO KNĐMST TẠI IPP
2.1 Thực trạng của quá trình thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam
Với một quốc gia đang phát triển rất nhanh như Việt Nam, nhu cầu vốn rất lớn Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA là một trong những nguồn vốn đầu tư phát triển quan trọng đối với Việt Nam Trước đây,Việt Nam nhận được hai nguồn vốn ODA song phương chủ yếu, một từ các nước thuộc tổ chức SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế), trong đó chủ yếu là từ Liên
Xô (cũ) Đây là một nguồn viện trợ không nhỏ và có ý nghĩa quan trọng nhất
cả về nội dung, quy mô và chất lượng, cũng như giá cả, điều kiện tín dụng… Khoản viện trợ này đã giúp chúng ta xây dựng một số ngành quan trọng nhất của sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế
Nguồn viện trợ ODA thứ hai từ các nước DAC và một số nước khác, chủ yếu là Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Na Uy, Pháp, Ấn Độ… Nguồn ODA này đã có ý nghĩa tích cực trên một số mặt trong sự nghiệp phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam Kể từ khi nối lại quan hệ với các nhà tài trợ (từ tháng 11-1993), Việt Nam đã đón nhận được sự cam kết và viện trợ vốn ODA của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, trở thành điểm đến hấp dẫn đối với ODA cho phát triển kinh tế xã hội Trong thời kì 1993 - 2007,Việt Nam
đã đạt được những kết quả ấn tượng trong thu hút và sử dụng vốn ODA Theo thống kê, số vốn ODA các nhà tài trợ cam kết cho Việt Nam là 37 tỷ USD, chiếm khoảng 2% tổng ODA toàn cầu Trong đó 22,6 tỷ USD đã được ký kết Bình quân mỗi năm Việt Nam đã thu hút được 2,5 tỷ USD vốn ODA Dòng vốn ODA vào Việt Nam có xu hướng tăng nhưng không phải luôn luôn tăng Vốn cam kết năm 1997 và 1998 giảm sút do tác động của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu Á.Trong thời gian 1993 - 2007, vốn ODA giải ngân đã tăng hơn 4 lần Hầu hết sự gia tăng dài hạn của vốn giải ngân là ở vốn vay hơn là vốn không hoàn lại Gần một nửa (49%) nguồn vốn vay có lãi suất thấp hơn 1%/năm và thời gian trả nợ ít nhất là 30 năm, trong đó có 10 năm ân hạn Một
Trang 24phần ba nguồn vốn vay là với lãi suất hang năm từ 1% đến 2,5% Hơn nữa, phần lớn khoản vay ODA sẽ được xem xét trong điều kiện hạn chế khả năng trả nợ bên ngoài của Việt Nam Tổng nợ quy đổi của Việt Nam khoảng 37% GDP năm 2007, điều này cho thấy không có dấu hiệu nguy hiểm của khủng hoảng nợ ở Việt Nam Đặc biệt trong những năm gần đây, cam kết ODA mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam tăng khá đều: năm 2005 đạt khoảng 3,5 tỷ USD, năm 2006 đạt 3,75 tỷ USD, năm 2007 là 4,45 tỷ USD, còn cho năm
2008 con số này là 5,426 tỷ USD Đây là mức cam kết kỷ lục, nâng tổng giá trị ODA cam kết trong 2 năm 2006 - 2007 đạt gần 9,88 tỷ USD, bằng 49% dự báo cam kết vốn ODA cho cả thời kỳ 2006 - 2010 Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, năm 2007, tổng giá trị ODA được ký kết ước đạt hơn 3,6 tỷ USD (trong đó, vốn vay hơn 3,3 tỷ USD và viện trợ không hoàn lại hơn 289 triệu USD), tăng 12,3% so với năm 2006, góp phần đưa tổng vốn ODA ký kết trong 2 năm 2006 - 2007 lên 6,53 tỷ USD, tương đương 40% dự kiến ký kết trong thời kỳ 2006 - 2010 Trong 3 tháng đầu 2008, công tác vận động thu hút vốn đầu tư ODA của Việt Nam có nhiều thuận lợi do Việt Nam được đánh giá là một trong những nước sử dụng vốn ODA hiệu quả nhất Tính đến hết quý I/2008, tổng giá trị ODA ký kết thông qua các hiệp định cụ thể với các nhà tài trợ đạt 369,06 triệu USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm
2007, trong đó vốn vay đạt 342,69 triệu USD và vốn viện trợ không hoàn lại đạt 26,37 triệu USD Trong số này có những dự án tài trợ lớn như: ADB tài trợ cho dự án “Đường hành lang ven biển phía Nam thuộc tiểu vùng Mê Kông
mở rộng” 150 triệu USD; Nhật Bản tài trợ “Chương trình ngân hàng - tài chính III” 75 triệu USD; dự án “Giáo dục trung học cơ sở vùng khó khăn nhất” trị giá 50 triệu USD, “Chương trình tín dụng hỗ trợ giảm nghèo lần thứ 6” (PRRSC6) trị giá 30,67 triệu USD… Mặc dù gặp nhiều khó khăn do những biến động của thị trường, tình hình lạm phát vẫn gia tăng, nhưng nhờ những
nỗ lực và các giải pháp của Chính phủ đề ra nhằm hoàn thiện thể chế về quản
lý và sử dụng vốn ODA, tình hình thu hút vốn ODA trong quý 2/2008 vẫn được đánh giá rất khả quan Trong quý 2/2008 này Việt Nam ký với Nhật Bản các hiệp định trị giá khoảng 1 tỷ USD cho một số dự án cơ sở hạ tầng thiết
Trang 25yếu, ký với Liên minh châu Âu (EU) hiệp định trị giá 10,8 triệu USD cho dự án: “Phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam”, ký với Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) hiệp định trị giá 1,5 triệu Euro (khoảng 2,3 triệu USD) viện trợ không hoàn lại cho Quỹ Đầu tư phát triển đô thị thành phố Hồ Chí Minh (HIFU)… Ngoài ra còn một số chương trình, dự án ODA đang hoàn tất thủ tục để đi đến ký kết Những kết quả này cho thấy, sự tin tưởng, đồng tình và ủng hộ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế đối với công cuộc đổi mới và các chính sách phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam Hơn nữa, các nhà tài trợ quốc tế đánh giá rất cao về môi trường phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đang ngày một hấp dẫn, thông thoáng với những tiêu chí của một nền kinh tế thị trường Có thể nói, nguồn vốn ODA có vai trò và lợi ích rất lớn đối với Việt Nam, góp phần thúc dẩy tăng trưởng kinh tế xã hội Thông qua nguồn vốn ODA, nhiều công trình, chương trình đã được xây dựng, triển khai Đặc biệt có nhiều dự án vốn ODA đã được ký kết thực thi đem tới nhiều ý nghĩa kinh tế - xã hội quan trọng đối với quá trình phát triển đi lên của cả nước như: Góp phần vào sự thành công của chương trình dân số và phát triển; chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình dinh dưỡng trẻ em Nhiều công trình lớn được xây dựng từ nguồn vốn ODA: cầu Mỹ Thuận, cầu Sông Gianh, dự án nâng cấp quốc lộ 1A, dự án thủy lợi Cửa Đạt - Thanh Hóa…
Hiện nay, đối tác lớn cung cấp vốn ODA cho Việt Nam bao gồm: Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Qũy tiền tệ quốc tế (IMF), các tổ chức Liên Hiệp Quốc (UN) và nhiều nhà tài trợ song phương khác như Nhật Bản, Hàn Quốc Theo thỏa thuận được ký cuối tháng
8, hỗ trợ ODA của Hàn Quốc cho Việt Nam đạt 1 tỷ USD trong giai đoạn
2008 - 2011, nhiều gấp 2 lần so với quy mô trong thỏa thuận ký kết năm 2007.Với cam kết này, Hàn Quốc trở thành nhà tài trợ song phương lớn thứ hai tại Việt Nam, và Việt Nam là nước nhận hỗ trợ phát triển nhiều nhất của Hàn Quốc Kể từ năm 1993 đến nay, Chính phủ Hàn Quốc đã tài trợ 471,4 triệu USD vốn vay ưu đãi cho 16 dự án của Việt Nam Theo Đề án định hướng thu hút và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính 2006-2010 và đạt mức tăng trưởng bình quân 7,5 - 8%/năm, Việt Nam cần huy động tổng vốn đầu tư khoảng 160 tỷ USD Trong đó, 65% huy động từ các nguồn vốn trong
Trang 26nước và 35% từ các nguồn vốn ngoài nước Riêng nhu cầu về vốn ODA, trong 5 năm tới, cần thực hiện được khoảng 11 tỷ USD vốn ODA Để thực hiện được nguồn vốn trên, cần phải có vốn ODA cam kết khoảng 19 - 21 tỷ USD Đề án trên do Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập, đã được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định 290 phê duyệt, đưa ra dự báo, nước ta
có nhiều thuận lợi để tiếp tục thu hút nguồn vốn này Tuy nhiên, cũng không hiếm khó khăn khi nhu cầu về vốn ODA của các nước đang phát triển tiếp tục tăng mạnh, trong khi năng lực quản lý, thực hiện các chương trình và dự án ODA của Việt Nam còn nhiều yếu kém Chính vì vậy, sau khi phân tích các yếu tố liên quan đến chính sách, xác định nguyên tắc thu hút và sử dụng vốn ODA thời gian tới, Đề án dự báo, nguồn vốn này dành cho Việt Nam sẽ đạt mức cam kết khoảng 19 - 21 tỷ USD, bình quân 4 tỷ USD/năm, tăng trung bình 8% so với mức cam kết ODA năm 2005 Trong đó, vốn ODA ký kết trong thời
kỳ 2001-2005 chuyển tiếp sang khoảng 8 tỷ USD; nguồn vốn ký kết mới dự báo
sẽ đạt 12,35 - 15,75 tỷ USD Như vậy, tổng vốn ODA được ký kết thời kỳ 2006 -
2010 sẽ đạt khoảng 20,4 - 23,7 tỷ USD(2) Kết quả khảo sát các nhà tài trợ cũng cho con số tương đương với dự báo này Vậy nguyên nhân do đâu mà Việt Nam thu hút được nhiều ODA trong thời gian gần đây? Đó là:
Thứ nhất, chế độ chính trị ổn định và sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh
tế - xã hội của Việt Nam đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nước được cộng đồng viện trợ ưa thích
Thứ hai, Việt Nam đã hưởng lợi nhờ đạt được những kết quả ấn tượng
về tăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo nhanh đúng vào thời điểm mà các nhà tài trợ đang tập trung vào lĩnh vực giảm nghèo và sẵn sàng viện trợ cho những nước sử dụng tốt nguồn vốn này
Thứ ba, tiến trình hội nhập sâu và chủ động vào kinh tế thế giới và khu vực, sự năng động của nền kinh tế, tiến trình cải cách hành chính và mong muốn của Chính phủ Việt Nam tiếp tục gắn bó với các nhà tài trợ đã khiến họ càng nhiệt tình với Việt Nam hơn
Như vậy, có thể thấy, Việt Nam đã trở thành đối tác quan trọng của các nhà tài trợ trong các cam kết vốn ODA.Việt Nam cũng đã ký kết nhiều
Trang 27hiệp định nhận viện trợ ODA Vấn đề được đặt ra là, vốn ODA, một nguồn lực quý góp phần thúc đẩy cho tăng trưởng phát triển kinh tế - xã hội Nguồn vốn này không phải là khoản cho không của nước ngoài mà đây là vốn vay,
có vay ắt phải có trả Do đó, bên cạnh thu hút được nhiều, thì quan trọng hơn
là cần sử dụng hiệu quả, hợp lý vốn ODA Vậy Việt Nam đã quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ quan trọng này như thế nào trong công cuộc đổi mới
và phát triển kinh tế - xã hội
Tình hình vốn ODA vào Việt Nam
Trong nhiều năm qua, dòng vốn ODA chảy vào Việt Nam khá dồi dào và
đã đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội Nhiều chương trình, công trình, dự án hoàn thành đã đi vào khai thác phục vụ đời sống của người dân, góp phần phát triển kinh tế Theo thông tin từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong giai đoạn 2016 – 2020, tổng nguồn vốn ODA có thể đàm phán, ký kết đạt khoảng 20 – 25 tỷ USD và giải ngân đạt khoảng 25 – 30 tỷ USD (bao gồm cả
22 tỷ USD đã đàm phán, ký kết của các giai đoạn trước chưa kịp giải ngân) Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng nguồn vốn này đang còn nhiều đáng phải lưu ý
Quá trình giải ngân vốn ODA tại Việt Nam
Những năm qua, mặc dù Việt Nam được nhận viện trợ rất lớn tuy nhiên những thực trạng giải ngân vốn ODA lại có dấu hiệu giảm dần Chẳng hạn, theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn ODA giải ngân sau hai năm
2013 – 2014 đạt mức kỷ lục, tương ứng trên 5,1 tỷ USD và 5,65 tỷ USD, đã giảm xuống chỉ còn 2.7 tỷ USD vào cuối quý 2/2016 và 2.1 tỷ USD vào cuối quý 2 /2017 Đây là minh chứng cho thấy tốc độ giải ngân nguồn vốn này đang giảm Trong khi nước ta sắp bước qua giai đoạn “ thu nhập trung bình”
vì thế từ 01/7/2017, Worldbank sẽ ngừng cung cấp viện trợ từ nguồn IDA (nguồn vốn ODA ưu đãi nhất của WB) cho Việt Nam và từ 01/01/2019, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) chính thức không hỗ trợ Việt Nam bằng nguồn ODA ưu đãi nhất là ADF Các nhà tài trợ song phương khác như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đang giảm dần mức ưu đãi cho Việt Nam Như vậy, Việt Nam sẽ phải vay với thời gian vay ngắn hơn, lãi suất cao hơn và xuất hiện một số loại phí như phí cam kết Do vậy, việc giải ngân chậm ảnh hưởng lớn
Trang 28tới chi phí bỏ ra Theo thông tin ADB công bố, nếu chậm thực hiện dự án sẽ làm tăng chi phí 17,6% mỗi năm, trong đó có 6,5% do lạm phát đối với hạng mục chính và 11,1% chi phí do lợi ích của dự án bị mất đi, tính trung bình nếu chậm trễ 2-3 năm sẽ làm tăng chi phí lên 50% Gần đây nhất là dự án Metro Bến Thành – Suối Tiên tại Tp HCM, từ quy mô vốn 17 ngàn tỷ đồng đã đội lên thành 47 ngàn tỷ đồng Có nhiều lý do để “ bao biện” cho sự lãng phí này, tuy nhiên nguyên nhân chính vẫn là quá trình sử dụng vốn(3)
Thực tế quá trình sử dụng nguồn vốn ODA đã phát sinh nhiều bất cập, nhiều
lỗ hỏng gây thất thoát, lãng phí, tham nhũng đã ảnh hưởng đến chất lượng công trình, làm ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: công tác chuẩn bị danh mục, pháp lý, quá trình thẩm định, phê duyệt, kiểm soát chưa hiệu quả, tư duy và trách nhiệm chưa tốt,…đã ảnh hưởng đến quá trình giải ngân cũng như hiệu quả từng đồng vốn
2.2 Vai trò của nguồn vốn ODA đối với sự phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam
Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) có vai trò quan trọng giúp Việt Nam xây dựng nền tảng để thu hút các nguồn lực khác Trong 20 năm qua, các nhà tài trợ đã cung cấp cho Việt Nam một nguồn tài chính đáng
kể, góp phần thực hiện cải cách kinh tế và hội nhập quốc tế
Xuất phát từ kinh nghiệm của các nước trong khu vực như: Hàn Quốc, Malaixia và từ tình hình thực tế trong nước, trong những năm gần đây Việt Nam đã và đang thực hiện chiến lược phát triển kinh tế với xu hướng mở rộng
và đa dạng hoá các mối quan hệ kinh tế quốc tế Một trong những mục tiêu chính trong chiến lược này là thu hút ODA cho phát triển kinh tế Vai trò của ODA được thể hiện ở một số điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, ODA là nguồn bổ sung vốn quan trọng cho đầu tư phát triển ODA
đã trở thành nguồn vốn từ bên ngoài quan trọng để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu
tư phát triển Bên cạnh đầu tư cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật một lượng lớn vốn ODA đã được sử dụng để đầu tư cho việc phát triển ngành giáo dục, y tế, hỗ trợ phát triển ngành nông nghiệp …
Trang 29Thứ hai, ODA giúp cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học, công
nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực Thông qua các dự án ODA các nhà tài trợ có những hoạt động nhằm giúp Việt Nam nâng cao trình độ khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực như: cung cấp các tài liệu kỹ thuật, tổ chức các buổi hội thảo với sự tham gia của những chuyên gia nước ngoài, cử các cán bộ Việt Nam đi học ở nước ngoài, Thông qua đó sẽ góp phần đáng kể vào việc nâng cao trình độ khoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam
và đây mới chính là lợi ích căn bản, lâu dài đối với chúng ta
Thứ ba, ODA giúp cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế Các dự án ODA
mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam thường ưu tiên vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng khác nhau trong cả nước Bên cạnh đó còn có một số dự án giúp Việt Nam thực hiện cải cách hành chính nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước Tất cả những điều đó góp phần vào việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở Việt Nam
Thứ tư, ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để
mở rộng đầu tư phát triển Các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào một nước, trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lợi của vốn đầu
tư tại nước đó Bởi vậy, đầu tư của chính phủ vào việc nâng cấp, cải thiện và xây mới các cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết sức cần thiết nhằm làm cho môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn
Như vậy, ODA ngoài việc bản thân nó là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho phát triển, nó còn có tác dụng nâng cao trình độ khoa học, công nghệ, điều chỉnh cơ cấu kinh tế và làm tăng khả năng thu hút vốn từ nguồn FDI góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2.3 Phương thức thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA tại Dự án IPP
2.3.1 Tóm tắt chung về Chương trình Đối tác Đ i m i sáng tạo Việt Nam - Phần Lan
Chương trình Đối tác Đổi mới sáng tạo Việt Nam – Phần Lan (sau đây gọi tắt là IPP) được xây dựng trên cơ sở bản ghi nhớ về hợp tác Khoa học và
Trang 30Công nghệ giữa Việt Nam và Phần Lan được ký kết năm 2008 nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Phần Lan IPP là chương trình được ưu tiên lựa chọn để xây dựng và đã được hình thành trên cơ sở chia sẻ
và vận dụng những kinh nghiệm, kiến thức về đổi mới sáng tạo mà Phần Lan
đã thực hiện thành công trong khoảng 50 năm trở lại đây IPP đã được hai Chính phủ phê duyệt và chính thức ký kết trong tháng 7 năm 2009 Đây là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại do Chính phủ Phần Lan tài trợ
Chương trình Đối tác đổi mới sáng tạo (IPP) nhằm mục đích hỗ trợ Việt Nam đạt được mục tiêu trở thành xã hội tri thức và tăng cường Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia (NIS) Chương trình gồm 2 giai đoạn:
(i) Giai oạn I: Thời gian tháng 8/2009 ến tháng 2/2014
Ngân sách được duyệt ban đầu là 3,38 triệu EUR (Trong đó, Việt Nam đóng góp là 9,5 tỷ đồng tương đương 0,38 triệu EUR) Ngân sách này đã được bổ sung trong quá trình triển khai chương trình Hiện nay lên tới gần 7,2 triệu Eur
IPP giai đoạn 1 tập trung vào 4 hợp phần sau:
Hợp phần 1 : Xây dựng môi trường thể chế (0.5 triệu EUR)
Mục tiêu của hợp phần này là hỗ trợ để hoàn thiện khung pháp lý về KH&CN nhằm thúc đẩy phát triển KH&CN, đặc biệt là thúc đẩy các hoạt động đổi mới sáng tạo…vv Kết quả dự kiến của hợp phần này là năng lực xây dựng thể chế được nâng cao, môi trường thể chế về quản lý KH&CN và đổi mới sáng tạo được hoàn thiện thêm một bước
Hợp phần 2: Tăng cường năng lực về quản lý KHCN và đổi mới sáng tạo (0.8 triệu Eur)
Mục tiêu của hợp phần là hỗ trợ để nâng cao khả năng và năng lực quản
lý KH&CN và đổi mới sáng tạo thông qua việc tổ chức các khoá đào tạo ngắn hạn, các hội thảo tập huấn, học tập kinh nghiệm quốc tế về quản lý KH&CN
và đổi mới sáng tạo IPP hỗ trợ xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu và xây dựng giáo trình đào tạo về quản lý KH&CN và đổi mới sáng tạo, đào tạo các chuyên gia, giảng viên Dự kiến, sự hỗ trợ của IPP sẽ
Trang 31mang lại kết quả là năng lực và khả năng quản lý KH&CN và đổi mới sáng tạo được tăng cường
Hợp phần 3: Hỗ trợ quá trình đổi mới và quan hệ đối tác nhà nước-tư nhân (1.8 triệu Eur)
Mục tiêu của hợp phần là tăng cường hiệu quả liên kết giữa nghiên cứu
và thị trường, giữa các nhà khoa học với doanh nghiệp và thúc đẩy đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp IPP giúp xây dựng quan hệ đối tác nhà nước-tư nhân giữa các cơ quan quản lý KH&CN, các doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu, giúp xây dựng quan hệ giữa Việt Nam với quốc tế về quản lý phát triển kinh doanh và nghiên cứu phát triển Dự kiến kết quả của hợp phần là quan hệ đối tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân được hỗ trợ và tăng cường
Hợp phần 4: Tăng cường quan hệ đối tác giữa Việt Nam-Phần Lan (0.7 triệu Eur)
Mục tiêu của hợp phần này là hỗ trợ, môi giới, thúc đấy quan hệ đối tác giữa các đối tác công-tư Việt Nam và Phần Lan nhằm thúc đẩy việc chuyển giao, tiếp thu KH&CN và đổi mới sáng tạo giữa hai nước IPP hỗ trợ nâng cao nhận thức về cơ hội đối tác Việt Nam-Phần Lan thông qua việc tổ chức các hội thảo, tham quan, khảo sát trao đổi thông tin Thông qua triển khai hợp phần này, quan
hệ đối tác giữa khu vực nhà nước và tư nhân của Việt Nam và Phần Lan được tăng lên cả về số lượng và chất lượng
Như vậy mục tiêu chính của IPP 1 là hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia được tăng cường về năng lực và khả năng và thông qua các quan hệ đối tác giữa lĩnh vực nhà nước- tư nhân tạo điều kiện cho Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia đóng góp nhiều hơn cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam
Ba đối tượng tham gia chính trong Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia
là các doanh nghiệp, khu vực nhà nước và cộng đồng khoa học công nghệ/nghiên cứu triển khai
Qua hơn 4 năm triển khai, tất cả các hợp phần của Chương trình đã được thực hiện thành công và được phía Phần Lan đánh giá cao các kết quả đạt được; Các tiểu dự án của Chương trình được thẩm định, phê duyệt, quản lý và
Trang 32đánh giá theo đúng quy định; Chương trình đã tạo ra một hướng đi, trào lưu mới cho phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ vào thực tiễn sản xuất, đổi mới sáng tạo như một công cụ hữu hiệu để đưa đất nước tiến phát triển kinh
tế, xã hội theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa; Các tiểu dự án được triển khai đã có những hiệu quả rõ rệt và tích cực cho ngành, cộng đồng, địa phương, doanh nghiệp;
(ii) Giai oạn II: Từ tháng 3/2014 ến cuối tháng 12/2018
Nối tiếp những thành công đã đạt được trong giai đoạn 1 (2009 – 2013), hai chính phủ Việt Nam và Phần Lan đã ký kết hiệp định để tiếp tục phát triển giai đoạn 2 của IPP Giai đoạn 2 (IPP2) được triển khai từ năm 2014 đến 2018 với tổng ngân sách là 11 triệu euro Trong đó vốn viện trợ ODA từ Chính phủ Phần Lan là 9.9 triệu Eur (chiểm 90% ngân sách) Đóng góp của Chính phủ Việt Nam là 1.1 triệu Eur (chiếm 10% ngân sách tài trợ) Các cơ quan chủ quản của IPP2 sẽ là Bộ Khoa học Công nghệ của Việt Nam và Bộ Ngoại giao Phần Lan Chương trình sẽ tiếp cận với các đối tác hàng đầu về đổi mới sáng tạo tại Việt Nam cũng như quốc tế để tìm các giải pháp thích hợp hỗ trợ hệ thống đổi mới sáng tạo của Việt Nam, góp phần thiết thực và hiệu quả vào thực hiện những mục tiêu kinh tế của Việt Nam đến năm 2020, phấn đấu xuất khẩu được ra thị trường thế giới những sản phẩm đổi mới sáng tạo
IPP2 sẽ triển khai bước đầu phát triển một chương trình đào tạo đẳng cấp quốc tế về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp để thực hiện tại các trường đại học của Việt Nam Việc tài trợ cho các dự án đổi mới sáng tạo sẽ tập trung vào 1) Các doanh nghiệp ĐMST mới với các sản phẩm và dịch vụ đổi mới sáng tạo
có tiềm năng vươn ra thị trường quốc tế; 2) Các liên kết đối tác địa phương cùng phát triển hệ thống ĐMST hướng tới lợi ích của các doanh nghiệp ĐMST tại 4 vùng trọng điểm là Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh
và Cần Thơ Cũng trong năm 2015, IPP sẽ tổ chức đào tạo các chuyên gia đổi mới sáng tạo của Việt Nam Đây chính là những nhóm chuyên gia đầu tiên để tham gia đào tạo cũng như hỗ trợ thực hành đổi mới sáng tạo tại Việt Nam Việc lựa chọn các dự án để tài trợ sẽ được lựa chọn kỹ lưỡng dựa trên đánh giá nhu cầu thị trường, năng lực thực hiện về đổi mới sáng tạo của các
Trang 33đơn vị quan tâm, với quy trình lựa chọn cạnh tranh, bình đẳng và minh bạch
Để tạo điều kiện cho các đối tác quan tâm IPP sẽ tổ chức các sự kiện trao đổi thông tin và đồng hành với các đối tác đổi mới sáng tạo tại 4 thành phố: Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Cần Thơ trong tháng 1 năm 2015
IPP2 hướng tới các mục tiêu dài hạn là hỗ trợ phát triển kinh tế và hệ thống đổi mới sáng tạo cho Việt Nam IPP hợp tác với nhiều đối tác quan trọng trong nước và quốc tế nhằm mở rộng quy mô các hoạt động đào tạo thực tế về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp tại Việt Nam cũng như cải thiện các chương trình, các cơ chế hỗ trợ ở địa phương đối với doanh nghiệp sáng tạo mới IPP2 cũng thực hiện việc kết nối các thành phần của hệ sinh thái khởi nghiệp nhằm xây dựng một nền tảng vững chắc cho thế hệ doanh nhân Việt Nam tiếp theo, đồng thời thúc đẩy hợp tác về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp giữa Việt Nam với các nước, đặc biệt là với Phần Lan
IPP2 là đơn vị khởi xướng, kết nối, hỗ trợ thực hiện các ý tưởng nhằm củng cố và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và kinh doanh tại Việt Nam IPP2 hỗ trợ các hoạt động mới và kết nối hợp tác đổi mới sáng tạo trong phạm vi Việt Nam, khu vực và quốc tế
IPP2 đã và đang hợp tác với nhiều đối tác quan trọng trong nước và quốc
tế nhằm phát triển hoạt động đào tạo thực tiễn về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp tại Việt Nam cũng như cải thiện các chương trình, các cơ chế hỗ trợ ở địa phương đối với doanh nghiệp sáng tạo mới
IPP 2 kế thừa và tiếp tục triển khai mục tiêu tổng thể từ IPP 1 nhằm hỗ trợ Việt Nam phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia (NIS) Theo thiết
kế của Chương trình IPP2 khoản tài trợ theo các hợp phần như sau:
Hợp phần 1: Phát triển thể chế và nâng cao năng lực: 1.1 triệu Eur
Hợp phần 2: Đối tác sáng tạo: 1 triệu Eur
Hợp phần 3: Các Dự án Đổi mới sáng tạo: 3 triệu Eur
Theo trình tự triển khai của Chương trình, có thể chia làm hai giai đoạn chính + Giai đoạn đầu tiên, sau giai đoạn khởi động, tập trung vào việc tái định hướng từ việc hỗ trợ Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia (NIS) chuyển sang
hỗ trợ các các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, tập trung vào việc
Trang 34nâng cao khả năng phát triển các sản phẩm và dịch vụ mới sang các thị trường quốc tế Nhằm hiện thực mục tiêu này, Chương trình tập trung vào ba kết quả chính: 1) Phát triển thể chế và nâng cao năng lực, 2) Đối tác sáng tạo và 3) Các dự án đổi mới sáng tạo
+ Giai đoạn 2 được triển khai vào cuối Chương trình với việc thực hiện Chiến lược rút lui của Chương trình (tháng 4/2017), tập trung vào đảm bảo sự bền vững của các kết quả, cũng như các mục tiêu cấp thiết của Chiến lược chuyển đổi Theo đó, các công cụ mới phục vụ cho các đối tác kinh doanh (Chương trình đối tác và tiếp cận thị trường Việt Nam VMAP) và hợp tác liên thành phố được tích hợp vào Chương trình Trong Chiến lược rút lui, số lượng các kết quả được rút gọn thành hai kết quả chính: 1) Hỗ trợ thể chế và nâng cao năng lực; và 2) Xây dựng đối tác và Bền vững
Như vậy qua 2 giai đoạn Chương trình đối tác Đổi mới sáng tạo Việt Nam - Phần Lan đã hỗ trợ Việt Nam đạt được mục tiêu đã đề ra Đặc biệt với Chương trình Đối tác đổi mới sáng tạo Việt Nam - Phần Lan giai đoạn 2 (IPP2) đã đi tiên phong thử nghiệm các mô hình, công cụ mới nhằm tác động toàn diện tới các yếu tố cấu thành hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Trong đó, bên cạnh việc hỗ trợ Việt Nam thiết kế, xây dựng chính sách về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; đào tạo và xây dựng năng lực cho đội ngũ huấn luyện viên khởi nghiệp, giảng viên các trường đại học, cán bộ quản lý cấp trung ương và địa phương; thúc đẩy phát triển mạng lưới và quan hệ đối tác
về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo với Phần Lan; IPP2 còn thực hiện một cấu phần quan trọng là hỗ trợ các dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam bằng cơ chế tài chính thử nghiệm được thiết kế từ kinh nghiệm của Phần Lan Trong giai đoạn 2014-2018, IPP2 đã thực hiện một loạt các biện pháp can thiệp chiến lược khác nhau, giúp mang lại những thay đổi đ|ng kể trong
hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam Chương trình đã thử nghiệm thí điểm các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp tăng trưởng cao, tập trung vào các tầng khác nhau của hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mới nổi của Việt Nam Bên cạnh đó, chương trình cũng hỗ trợ xây dựng năng lực đổi mới sáng tạo của các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam thông
Trang 35qua thí điểm chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp và các tổ chức xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp, tổ chức các khóa đào tạo nâng cao năng lực và thực hiện các chương trình đào tạo chuyên gia tư vấn về khởi nghiệp (ToT)
2.3.2 Mô hình tài trợ cho khởi nghiệp i m i sáng tạo tại Chương trình Đối tác Đ i m i sáng tạo Việt Nam - Phần Lan
2.3.2.1 Cơ sở và mục tiêu của Chương trình IPP2
Năm 2015, thời điểm IPP2 khởi động đợt tài trợ đầu tiên cho doanh nghiệp khởi nghiệp, ở Việt Nam có rất ít hoặc không có các kênh hỗ trợ dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo mà phần lớn tập trung cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp thuộc các ngành, địa phương cụ thể Như đã đề cập, các mô hình hỗ trợ tài chính cho khởi nghiệp nói chung và dự án đổi mới sáng tạo nói riêng khi đó còn rất hạn chế Các chương trình vườn ươm hoạt động bằng ngân sách nhà nước đã được triển khai nhưng hầu hết chỉ cung cấp địa điểm làm việc và hạ tầng nghiên cứu mà không có các hình thức hỗ trợ tài chính và hỗ trợ mềm khác như đào tạo, tập huấn và kết nối mạng lưới Các dự
án đổi mới sáng tạo khi đó (và hiện nay) nhận được rất ít hỗ trợ trong suốt quá trình xây dựng ý tưởng do những lo ngại về việc doanh nghiệp thất bại và mức
Đổi mới tư duy và nâng cao năng lực cho các chủ thể của hệ sinh thái, bao gồm các huấn luyện viên khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, các liên danh cung cấp dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp (vườn ươm, quỹ tăng tốc, đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn, đào tạo, phát triển mạng lưới), các trường đại học, cán bộ hoạch định chính sách và chính các nhóm khởi nghiệp
Cách tiếp cận của IPP2 là hoàn toàn mới và chưa có tiền lệ trong khu vực công của Việt Nam
Trang 36IPP2 không quy định mục tiêu cứng và chi tiết (như tỷ lệ thành công của doanh nghiệp khởi nghiệp) mà đưa ra các mục tiêu có tính mở và định tính (như một số doanh nghiệp được hỗ trợ sẽ có thể xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ
ra thị trường quốc tế; các huấn luyện viên đổi mới sáng tạo được IPP2 đào tạo
sẽ trở thành các “tác nhân thay đổi”, áp dụng tri thức, kỹ năng về khởi nghiệp
và đổi mới sáng tạo vào thực tiễn sau khi khóa đào tạo kết thúc; )
2.3.2.2 Đối tượng tài trợ
Đối tượng IPP2 hỗ trợ là các nhóm khởi nghiệp trong nước và các thành
tố khác trong hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam, bao gồm:
(i) Doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong nước có tiềm năng
tăng trưởng cao, có sản phẩm, dịch vụ định hướng xuất khẩu ra thị trường quốc tế; không ưu tiên theo ngành hay sản phẩm, dịch vụ đặc thù
Huấn luyện viên đổi mới sáng tạo không phân biệt khu vực công hay tư,
có khả năng tư vấn, truyền đạt tri thức, kỹ năng khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo sau khi kết thúc khóa đào tạo của IPP2
(ii) Các dự án liên danh phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, triển khai ý tưởng và mô hình mới góp phần hỗ trợ, thúc đẩy phát triển hệ
sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam; tối thiểu liên danh phải gồm ba pháp nhân là các đơn vị phát triển hệ sinh thái trong nước cùng tham gia thực hiện (vườn ươm doanh nghiệp, tổ chức thúc đẩy kinh doanh, viện nghiên cứu và phát triển, công ty tư vấn, trường đại học,…)
(iii) Các trường đại học trong nước mong muốn phát triển hoạt động đào
tạo về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong khuôn viên các trường đại học
(iv) Các cán bộ quản lý, hoạch định chính sách và cơ quan nhà nước
trực tiếp tham gia xây dựng chính sách về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp IPP2 đã hỗ trợ tài chính và đào tạo 18 doanh nghiệp khởi nghiệp, 14 dự
án liên danh phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp với 42 đơn vị phát triển hệ sinh thái, 12 huấn luyện viên khởi nghiệp, đào tạo 150 giảng viên từ 50 trường đại học, cao đẳng trong cả nước; hỗ trợ 23 doanh nghiệp Phần Lan tham gia Chương trình Đối tác và Tiếp cận thị trường Việt Nam (VMAP và
Trang 37VMAP+), qua đó đào tạo hơn 25 cán bộ tư vấn Việt Nam; nhiều cơ quan chính phủ được hỗ trợ chuyên gia quốc tế tư vấn thiết kế chính sách và hàng trăm cán bộ hoạch định chính sách thuộc các Bộ, ngành trung ương và địa phương được tham gia các khóa đào tạo nâng cao năng lực trong nước và ở nước ngoài Hình dưới đây trình bày tổng quan khung thời gian hỗ trợ dành cho các đơn vị thụ hưởng:
Hình 1 Khung thời gian hỗ trợ của IPP2
Hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp ở Việt Nam của IPP2 bắt đầu bằng việc song song tổ chức đợt kêu gọi tài trợ đầu tiên và Khóa đào tạo huấn luyện viên về khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo (ToT1) ToT1 dành cho 12 cá nhân được lựa chọn trên cơ sở cạnh tranh, với mục tiêu giúp họ trở thành những hạt nhân nòng cốt về tư vấn khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo (ví dụ: cố vấn đổi mới sáng tạo, tư vấn chiến lược và chính sách cho các doanh nghiệp khởi nghiệp) Đây là Khóa đào tạo 8 tháng (từ tháng 6/2015), với hai tháng đầu tiên học tập trung trên lớp và sáu tháng tiếp theo thực hành trong khuôn khổ Chương trình Tăng tốc đổi mới sáng tạo (IAP) của IPP2 với 22 nhóm dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và liên danh phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đã được IPP2 lựa chọn tài trợ đợt một Sau khi ToT1 được tổng kết vào tháng 02/2016, IPP2 tiếp tục triển khai đợt kêu gọi tài trợ thứ hai, bao gồm các dự án liên danh mới về phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và các dự án tiềm năng nhất của đợt tài trợ đầu tiên Đồng thời, IPP2 triển khai sáng kiến hợp tác với các trường đại học khởi đầu bằng Khóa đào tạo giảng viên nguồn về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp
Trang 38(ToT2) dành cho 12 trường đại học và cơ sở đào tạo được lựa chọn theo
cơ chế cạnh tranh Trong hai năm tiếp theo, 2017 - 2018, Chương trình hợp tác với các đối tác tiềm năng ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Huế (Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Ngoại thương, SIHUB TP Hồ Chí Minh, DNES Đà Nẵng, Cao đẳng Công nghiệp Huế) tổ chức nhân rộng các khóa đào tạo giảng viên nguồn về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam
Tháng 11 năm 2014, IPP2 tổ chức đoàn công tác do một đồng chí Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ làm trưởng đoàn tham dự sự kiện Slush ở Phần Lan - sự kiện về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo lớn nhất châu Âu với sự tham
dự của khoảng 15.000 người Mô hình này đã góp phần thôi thúc Bộ khoa học và Công nghệ tổ chức sự kiện tương tự ở Việt Nam từ năm 2015
- TECHFEST là sự kiện quốc gia kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam
3.2.2.3 Hỗ trợ về tài chính
Công cụ mà IPP2 sử dụng để tài trợ cho các doanh nghiệp khởi nghiệp
và đơn vị phát triển hệ sinh thái là các khoản tài trợ không hoàn lại, trong đó bao gồm:
Tài trợ dự án doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
Trong đợt tài trợ đầu tiên năm 2015, 18 dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nhận được gói tài trợ (tối đa 30.000 Euro) Trong đợt tài trợ thứ hai năm
2016, 5 dự án nổi bật nhất trong số 18 dự án nói trên được lựa chọn tiếp nhận khoản tài trợ bổ sung để tăng tốc phát triển (lên đến 100.000 Euro) Đây là những doanh nghiệp thể hiện được mô hình kinh doanh hiệu quả, sự gắn kết nhóm, chứng minh được tiềm năng tăng trưởng nhanh và khả năng mở rộng thị trường cũng như áp dụng tư duy kinh doanh quốc tế
IPP2 hỗ trợ tài chính tối đa 70% chi phí dự án gồm 2 dòng/mục chi chính: Lương và các chi phí liên quan; chi phí xây dựng năng lực như tham gia Chương trình Đào tạo tăng tốc đổi mới sáng tạo (IAP), dịch vụ tư vấn thuê ngoài, đào tạo Bên cạnh đó, các chi phí thực hiện kế hoạch dự án cũng được xem xét hỗ trợ như: Nghiên cứu thị trường; kết nối và hợp tác; thuê khoán
Trang 39chuyên môn cần thiết; lập kế hoạch kinh doanh; nghiên cứu và phát triển nhằm xác định thị trường; lập kế hoạch và tìm kiếm các nguồn tài trợ bên ngoài; nghiên cứu và đăng ký quyền sở hữu trí tuệ (IPRs); phát triển sản phẩm, dịch vụ (trừ chi phí mua sắm nguyên liệu, thiết bị)
Tài trợ dự án liên danh phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
Song song với việc tài trợ các dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, IPP2 cũng tài trợ cho các dự án liên danh phát triển hệ sinh thái có tối thiểu ba đơn
vị phát triển hệ sinh thái tham gia Trong đợt tài trợ đầu tiên năm 2015, 4 dự
án liên danh phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nhận được gói tài trợ (tối đa 50.000 Euro) Trong đợt tài trợ thứ hai năm 2016, 2 dự án nổi bật nhất trong số 4 dự án nói trên được lựa chọn tiếp nhận khoản tài trợ bổ sung để tăng tốc phát triển (lên đến 100.000 Euro)
Bên cạnh đó, IPP2 cũng công bố Đợt mời nộp hồ sơ xin tài trợ mới dành cho các đơn vị phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Qua đó,
10 dự án liên danh mới về phát triển hệ sinh thái đã được lựa chọn tài trợ với mức khởi đầu là 50.000 Euro Trong đợt tài trợ tiếp theo năm 2017, 4 trong số
10 dự án này đã được lựa chọn tiếp nhận tài trợ bổ sung để tăng tốc, mở rộng quy mô phát triển
Tài trợ dự án thúc đẩy đào tạo khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo tại các trường đại học
Trong năm 2017, IPP2 cung cấp các khoản tài trợ thúc đẩy đào tạo về khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo tại các trường đại học Việt Nam (các trường đối tác đã tham gia Chương trình hợp tác với IPP2 từ năm 2016) Khoản tài trợ không quá 20.000 Euro cho dự án do một trường đại học đơn lẻ thực hiện
và lên đến 100.000 Euro cho dự án hợp tác chung có tối thiểu ba trường đại học cùng tham gia Có 4 dự án triển khai tại 8 trường đại học đã được IPP2 lựa chọn tài trợ
Tài trợ huấn luyện viên khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo
Đối với 12 học viên tham gia Khóa đào tạo huấn luyện viên khởi nghiệp
và đổi mới sáng tạo (ToT1) trong năm 2015, IPP2 đã hỗ trợ học bổng hàng tháng ở mức 1.000 Euro/người nhằm tạo điều kiện để học viên dành đủ thời
Trang 40gian tham gia học tập và tư vấn, huấn luyện cho các nhóm dự án khởi nghiệp của IPP2 tại Chương trình Tăng tốc đổi mới sáng tạo (IAP)
đề pháp lý trong sản xuất, kinh doanh; sở hữu trí tuệ; huy động vốn và kỹ năng thuyết trình gọi vốn); và (iii) huấn luyện theo hình thức một kèm một với các huấn luyện viên đổi mới sáng tạo được IPP2 đào tạo từ Chương trình ToT1
Đào tạo huấn luyện viên, giảng viên nguồn về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp
Như nêu ở phần trên, từ tháng 6/2015 đến tháng 02/2016, IPP2 triển khai Chương trình ToT1 đào tạo huấn luyện viên khởi nghiệp, gồm 2 tháng học tập trung dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia từ Thung lũng Silicon (Hoa Kỳ)
và 6 tháng tiếp theo trực tiếp thực hành, huấn luyện cho các nhóm dự án khởi nghiệp và liên danh phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp do IPP2 tài trợ
Chương trình ToT2 trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác của IPP2 với các trường đại học và cơ sở giáo dục Việt Nam, được thiết kế dành riêng cho giảng viên các trường đại học với mục đích trang bị năng lực để các trường có thể thiết kế chương trình đào tạo riêng về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp, triển khai giảng dạy thử nghiệm, tiến tới đưa chương trình đào tạo về đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp vào giảng dạy trong các trường đại học Việt Nam Khóa ToT2 đầu tiên được tổ chức vào nửa cuối năm 2016, với 12 trường đại học và cơ sở đào tạo được lựa chọn theo cơ chế cạnh tranh, mỗi trường cử 3