1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP PHÁP LUẬT VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THỰC TIỄN TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HUYỆN MANG YANG

75 826 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 456,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP PHÁP LUẬT VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THỰC TIỄN TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HUYỆN MANG YANG..........................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ - THỰC TIỄN

TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

HUYỆN MANG YANG

Kon Tum, Tháng 6 năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ - THỰC TIỄN

TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

HUYỆN MANG YANG

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN : ĐÀO THỊ NHUNG

SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN THỊ THÙY DUNG

MSSV : 15152380107060

Kon Tum, Tháng 6 năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực tập tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang, thực tếcông việc và đối chiếu với lý luận của trường em đã học hỏi được những kiến thức cầnthiết và rút ra được kinh nghiệm bổ ích phục vụ cho chuyên môn nghiệp vụ của mình.Khoảng thời gian thực tập 3 tháng tại đây là quãng thời gian quan trọng, thiết thực và bổích với em Với sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các cô chú anh chị trong cơ quan, trựctiếp làm quen tiếp xúc với công việc đã giúp em học hỏi thêm nhiều kiến thức mới vàtrau dồi những kiến thức đã học trên lớp, ngoài ra em còn học được về cách ứng xử, giaotiếp tác phong đạo đức của công chức, giúp em tích luỹ kinh nghiệm và hoàn thiện bảnthân hơn

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô Trường Đại học Đà Nẵng phânhiệu tại Kon Tum là những người luôn tâm huyết, đã nhiệt tình tận tâm chỉ bảo dạy dỗ,truyền đạt tâm huyết, kiến thức

Em xin gửi lời cảm ơn tới chú Nguyễn Hữu Tài - Thủ trưởng quan Chi cục Thi hành

án Dân sự Mang Yang, Nguyễn Tấn Tài – Phó Thủ trưởng Chi cục Thi hành án Dân sựMang Yang, đã tiếp nhận em vào thực tập Em gửi lời cám ơn chân thành đến anhNguyễn Văn Thuấn là người trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình học hỏi ở đây Vàđồng thời em xin cảm ơn các anh, chị trong Chi cục huyện đã tạo điều kiện giúp đỡ emhoàn thành tốt đợt thực tập này

Mặc dù đã có cố gắng nỗ lực trong việc tiếp thu các kinh nghiệm công tác của các

cô chú anh chị và các kiến thức từ tài liệu, song bản thân em còn nhiều hạn chế, mới tiếpxúc thực tế công việc sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy trong bài báocáo của em chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khuyết điểm Em rất mong thầy côxem xét góp ý để bài báo cáo của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn./

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ 2

1 Tính cấp thiết của đề tài 3

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Kết cấu báo cáo 5

NỘI DUNG CHÍNH 6

PHẦN 1.GIỚI THIỆU VỀ CƠ QUAN THỰC TẬP 6

1 Khái quát về huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai 6

1.1 Điều kiện tự nhiên 6

1.2 Tổng quan kinh tế - văn hoá – xã hội 6

2 Giới thiệu chung về Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang 7

2.1 Khái quát về sự hình thành và pháttriển của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang 7

2.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức biên chế của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai 9

2.2.1 Vị trí chức năng 9

2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạncủa Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai 9

2.2.3 Cơ cấu tổ chức, biên chế của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai 10

2.3 Vị trí, chức năng nhiệm phòng của người đứng đầu, đơn vị bộ phận của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang 11

2.3.1 Ban lãnh đạo 11

2.3.2 Cán bộ công chức 11

2.4.Thống kê số lượng, chất lượng biên chế cơ quan 12

2.4.1 Số lượng nhân sự 12

2.4.2 Chất lượng nhân sự 12

2.5 Cơ sở vật chất, tài chính của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang 13

Trang 5

PHẦN 2 ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Tên đề tài: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN NAY VỀ XÁC MINH TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

ÁP DỤNG VIỆC XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN TẠI CHI CỤC THI

HÀNH ÁN DÂN SỰ HUYỆN MANG YANG 15

CHƯƠNG 1: 15

NHỮNGVẤNĐỀLÝLUẬNVỀXÁCMINHĐIỀUKIỆNTHIHÀNHÁNTHEO LUẬTTHIHÌNHÁNDÂNSỰNĂM 2008 ĐƯỢCBỔSUNG, SỬAĐỔINĂM 2014 15

1.1 Khái niệm xác minh điều kiện thi hành án dân sự 15

1.2 Đặc điểm của xác minh điều kiện thi hành án 16

1.3 Ý nghĩa của xác minh điều kiện thi hành án 17

1.4 Cơ sở của việc pháp luật thi hành án dân sự quy định về xác minh điều kiện thi hành án 19

1.4.1 Cơ sở lý luận của việc pháp luật thi hành án dân sự quy định về xác minh điều kiện thi hành án 19

1.4.2 Cơ sở thực tiễn của việc pháp luật thi hành án dân sự quy định về xác minh điều kiện thi hành án 20

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 23

CHƯƠNG 2: 24

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 24

2.1 Chủ thể xác minh điều kiện thi hành án 24

2.1.1 Người được thi hành án 24

2.1.2 Người phải thi hành án 24

2.1.3 Chấp hành viên 25

2.1.4 Thừa phát lại 26

2.2 Nguyên tắc xác minh điều kiện thi hành án chặt chẽ nhanh chóng, kịp thời, đúng thời hạn luật định 29

2.3 Điều kiện để tiến hành xác minh điều kiện thi hành án 30

2.4 Thời hạn tiến hành xác minh điều kiện thi hành án 31

2.5 Trình tự, thủ tục xác minh điều kiện thi hành án 32

2.5.1 Lập kế hoạch xác minh điều kiện thi hành án 34

2.5.2 Thu thập thông tin và tiến hành xác minh điều kiện thi hành án 35

2.5.3 Lập biên bản xác minh điều kiện thi hành án 36

Trang 6

2.5.4 Đối chiếu, sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án 36

2.6 Xác minh điều kiện thi hành án trong một số trường hợp cụ thể 38

2.6.1 Xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp thi hành nghĩa vụ trả vật, trả giấy tờ, tài sản; trả nhà, giao nhà; thi hành nghĩa vụ buộc phải thực hiện một công việc hoặc không được thực hiện một công việc nhất định 38

2.6.2 Xác minh điều kiện thi hành án trong các trường hợp khác 40

2.7 Chi phí xác minh điều kiện thi hành án 43

2.8 Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án 43

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 45

CHƯƠNG 3: 46

THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MANG YANG 46

3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án 46

3.1.1 Thực tế việc xác minh điều kiện thi hành án tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mang Yang 46

3.1.2 Khó khăn, vướng mắc trong công tác áp dụng các quy định của pháp luật về xác minh điều kiện thi hành án 57

3.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật trong công tác xác minh điều kiện thi hành án Dân sự trên địa bàn huyện Mang Yang tỉnh Gia Lai 63

3.2.1 Về chủ thể xác minh điều kiện thi hành án 63

3.2.2 Về chi phí xác minh điều kiện thi hành án 64

3.2.3 Về phối hợp giữa các cơ quan trong xác minh điều kiện thi hành án 65

3.2.4 Về quy định nộp đơn yêu cầu thi hành án dân sự 65

3.2.5 Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án và các khoản thu ngân sách nhà nước 66

3.2.6 Đề nghị sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có những quy định mâu thuẫn, chồng chéo và ban hành các quy định mới còn thiếu 66

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 68

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

STT Tên bảng biểu, sơ đồ, biểu đồ Trang

2 Sơ đồ 1.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Chi cục Thi hành án huyện Mang

Yang (Nguồn: Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang)

11

3 Bảng 1.1 Số lượng nhân sự tại Chi cục Thi hành án huyện Mang

Yang (Nguồn: Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang)

12

4 Bảng 1.2 Cơ cấu độ tuổi của cán bộ công chức tại Chi cục Thi hành

án huyện Mang Yang (Nguồn:Chi cục Thi hành án Dân sự huyện

Mang Yang)

13

5 Bảng 1.3 Trình độ và số lượng của đội ngũ cán bộ công chức Chi

cục Thi hành án huyện Mang Yang

(Nguồn: Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang)

13

7 Bảng 2.1 Bảng thời hạn tiến hành xác minh điều kiện thi hành án 31

8 Sơ đồ 2.2 Sơ đồ trình tự, thủ tục xác minh điều kiện thi hành án 34

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thi hành án dân sự (THADS) có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nóichung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng Bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự

có giá trị khi được thi hành trên thực tế Hoạt động THADS bảo đảm cho bản án, quyếtđịnh của Tòa án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật vàtăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cánhân và lợi ích của Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cườnghiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước Chính vì vậy, tại Điều 106 Hiến pháp năm 2013

của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: "Các bản án và quyết định

của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh thi hành".1

Ngoài ra, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóaVII (1995), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII(1997), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụtrọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 08/NQ-TW), Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (2004)

và Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng

và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết

số 48/NQ-TW), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiếnlược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 49/NQ-TW) cũng

đã đề cao tầm quan trọng của hoạt động THADS Với nhiệm vụ thể chế đường lối, chínhsách của Đảng và Nhà nước vào hệ thống pháp luật, tại kỳ họp thứ 5, ngày 14 tháng 11năm 2008, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật THADS

Luật THADS là văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động THADS, đã kếthừa, phát triển và điển hóa được các quy định về THADS trước đó phù hợp, tiến bộ,đồng thời tham khảo có chọn lọc các quy định của các nước về vấn đề này Một trongnhững nội dung mới của Luật THADS là quy định rõ ràng hơn về trình tự, thủ tụcTHADS, thời hiệu yêu cầu thi hành án (THA), phí THA, vấn đề xác minh điều kiện thihành án (XMĐKTHA) Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai thực hiện Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật THADS (được sửa đổi bổ sung năm 2014) cho thấy vẫncònnhiều vướng mắc, bất cập trong đó có vấn đề xác minh trong THADS nên cần tiếp tụcnghiên cứu giải quyết

Bên cạnh đó, qua thời gian thực tập tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện MangYang tỉnh Gia Laivà qua nghiên cứu, tìm hiểu, có thể thấy việc xác minh điều kiệnTHADS là khâu quan trọng và cốt yếu, quyết định đến hiệu quả hoạt động của công tácThi hành án Dân sự Bởi giai đoạn xác minh điều kiện thi hành ánđược hoàn thành tốt thìmới đảm bảo cho việc thi hành bản án, quyết định được kịp thời, đầy đủ và đúng pháp

luật.Từ những lí do trên, em đã lựa chọn đề tài: “Những quy định của pháp luật về vấn

đề xác minh trong thi hành án dân sự Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng tại

3

Trang 11

Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang” để làm báo cáo thực tập trong thời

gian thực tập tại đơn vị

Đề tài này nhằm mục đích trình bày những vấn đề cốt lõi của quá trình xác mimhđiều kiện thi hành án Dân sự, thực trạng của hoạt động từ đó tìm ra các phương hướnghoàn thiện quy định pháp luật Dân sự góp phần giải quyết những vướng mắc, bất cậptrong việc XMĐKTHA của cơ quan tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang,tỉnh Gia Lai

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất: Mục tiêu nghiên cứu của Báo cáo thực tập này chính là làm rõ một số vấn

đề lý luận cơ bản về XMĐKTHA; đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật

về XMĐKTHA và thực tiễn thực hiện công tác xác minh, để từ đó tìm ra các giải phápgóp phần giải quyết những vướng mắc, bất cập trong việc XMĐKTHA để nâng cao hiệuquả, hiệu lực trong công tác THADS

Thứ hai: Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ nghiên cứu của bài báo cáo này đượcxác định trên những khía cạnh sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về XMĐKTHA như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ

sở của việc quy định pháp luật về XMĐKTHA;

- Phân tích, đánh giá thực tiễn việc áp dụng những quy định của pháp luật THADS vềxác minh trong THADS tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mang Yang để thấy đượcnhững mặt tích cực, mặt hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện các quy định này quatình huống cụ thể

Thứ ba: Làm rõ những khó khăn trong công tác xác minh điều kiện thi hành án dân

sự để từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luậtTHADS về XMĐKTHA nhất là tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Mang Yang tỉnhGia Lai

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về XMĐKTHA, các quy địnhcủa pháp luật THADS về XMĐKTHA và thực tiễn thực hiện các quy định này trongTHADS

"Xác minh điều kiện thi hành án"bao gồm nhiều nội dungkhác nhau.Tuy vậy, trong

phạm vi của đề tài báo cáo này, việc nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản

về XMĐKTHA như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở của việc pháp luật quy địnhXMĐKTH; nội dung các quy định của Luật THADS về XMĐKTHA và thực tiễn thựchiện trong công tác THADS

Phạm vi nội dung: Công tác xác minh điều kiện thi hành án Dân sự tại Chi cục Thihành án Dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai

Phạm vi không gian: Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.Phạm vi thời gian: Từ năm 2018 đến 2019

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu được học viên tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, những quanđiểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về cải cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Ngoài ra, việcnghiên cứu đề tài cũng được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp

lý truyền thống như phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp Từ đó, rút ra những đánhgiá, kết luận và đề xuất các kiến nghị

5 Kết cấu báo cáo

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì đề tài báo cáo thực tập có 3 chương gồm:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về xác minh điều kiện thi hành án theo Luật thi hình án dân sự năm 2008 được bổ sung, sửa đổi năm 2014

Chương 2 Quy định của pháp luật thi hành án Dân sự hiện hành về xác minh điều kiện thi hành án Dân sự

Chương 3 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Thi hành án Dân sự về xác minh điều kiện thi hành án trên địa bàn huyện Mang Yang

5

Trang 13

NỘI DUNG CHÍNH PHẦN 1.GIỚI THIỆU VỀ CƠ QUAN THỰC TẬP

1 Khái quát về huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai

1.1 Điều kiện tự nhiên

Mang Yang là huyện ở trung tâm tỉnh

Gia Lai Huyện được thành lập theo Nghị định

số 37/2000/NĐ-CP ngày 21-8-2000 của Chính

phủ trên cơ sở phần đất của huyện Mang Yang

cũ được tách ra thành hai huyện Đăk Đoa và

Mang Yang mới Huyện lỵ của Mang Yang

mới là thị trấn Kon Dỡng nằm trên quốc lộ 19

(Pleiku-QuyNhơn) Huyện Mang Yang có diện

tích 1126,77 km2 Huyện Mang Yang nằm về

phía Bắc của tỉnh Gia Lai, phía Bắc giáp

huyện Kbang, phía Nam giáp với huyện Chư

Sê, phía Đông giáp huyện Đăk Đoa, phía Tây

giáp huyện Đăk Pơ và Kông Chro Trong huyện có 12 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấngồm thị trấn Kon Dỡng và 11 xã: Ðăk Ya, Ðê Ar, Lơ Pang, Ðăk Trôi, Kon Thụp, KonChiêng, Ðăk Djrăng, A Yun, Hra, Ðăk Jơ Ta, Ðăk Ta Ley Mang Yang trong tiếng GiaRai nghĩa là cổng trời Tên huyện được đặt theo tên một con đèo nổi tiếng, đèoMangYang, trên quốc lộ 19 thuộc địa phận của huyện.Trên địa bàn huyện Mang Yang có một

số danh thắng như đèo Mang Yang, thác Ðăk Trôi, v.v Vườn quốc gia Kon Ka Kinh cómột phần nằm trên địa bàn của Mang Yang Mang Yang do bị ảnh hưởng của khu vựcnhiệt đới gió mùa cao nguyên nên có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 vàmùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.213mm,tập trung vào các tháng 7, 8, 9 Số ngày mưa trung bình trong năm là 154 ngày, nhiệt độtrung bình là 21,6 độ; độ ẩm trung bình là 82% Mang Yang có hệ thống sông suối mật

độ tương đối dày, phân bổ đều trên khắp địa bàn

1.2 Tổng quan kinh tế - văn hoá – xã hội

Trong giai đoạn từ năm 2010-2015, lĩnh vực kinh tế - xã hội của huyện phát triển

ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Công tác định canh định cư,phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số, an sinh xã hộiđược chú trọng, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 5,3% mỗi năm, thu nhập bình quân đầungười đạt 7,5 triệu đồng/năm Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trên 14,7%, trong

đó, nông - lâm nghiệp tăng 8,44%, công nghiệp - xây dựng có tốc độ tăng cao nhất, bìnhquân tăng 28%, dịch vụ - thương mại tăng 21,4%.Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúnghướng Hoạt động tài chính, tín dụng có nhiều tiến bộ Tổng vốn đầu tư phát triển trong 5năm qua đạt 140 tỷ đồng với 213 dự án tập trung các lĩnh vực như: Giao thông, thủy lợi,điện, nước, chợ, bến xe, trường học, y tế, các thiết chế văn hóa…

Đến nay, 9/12 xã, thị trấn có đường nhựa đến trung tâm xã; tỷ lệ hộ dùng điện đạt

HÌNH 1 B ẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH HUYỆN MANG YANG

Trang 14

ngân sách nhà nước bình quân hàng năm tăng 13,2% Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 43,49%năm 2010 xuống còn 14,91% năm 2005 Các chương trình mục tiêu quốc gia, Chươngtrình 134, 135, 167, 168 của Chính phủ được chú trọng và lồng ghép với một số dự ánkhác tổ chức thực hiện đạt kết quả tích cực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội,làm thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn, nhất là vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bàodân tộc thiểu số.

Tuy đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, song kinh tế - xã hội của Mang Yangcòn gặp nhiều khó khăn, thách thức Trước hết, huyện có xuất phát điểm về kinh tế thấp,

xa các trung tâm kinh tế lớn của tỉnh, trình độ dân trí thấp, tập quán sản xuất có nơi cònlạc hậu, đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn.Nguồn vốn tỉnh hỗ trợ chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển Tiềm năng đầu tư lớnnhưng chưa được khai thác; sông suối, rừng, khoáng sản, du lịch sinh thái vẫn còn đónhưng cơ sở hạ tầng còn hạn chế nên các nhà đầu tư chưa mặn mà

Trong 3 năm(2015 - 2018), mục tiêu của huyện là khai thác có hiệu quả các nguồnlực, phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ nhanh gắn với giảm nghèo bền vững, thu hẹpkhoảng cách giữa các vùng Một số phương hướng và giải pháp chủ yếu:

- Huy động mọi nguồn lực và tăng cường đầu tư ngân sách nhà nước cho việc đàotạo, bồi dưỡng cán bộ Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, từngbước nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở Tạo điều kiện thu hút cán bộ có trình độ cao,sinh viên tốt nghiệp đại học về công tác tại địa phương

- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu theo hướng tích cực, trong đó nông nghiệp vẫn làngành kinh tế trọng yếu của huyện, là nhân tố thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển Gắnkết phát triển nông nghiệp với thị trường tiêu thụ và phát triển công nghiệp chế biến,thương mại dịch vụ, mở rộng ngành nghề ở nông thôn, giải quyết việc làm, nâng cao thunhập cho nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số… Huyệnphấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm từ 15% trở lên

Nhìn mặt bằng chung thì huyện có xuất phát điểm về kinh tế thấp, xa các trung tâmkinh tế lớn của tỉnh, trình độ dân trí thấp, tập quán sản xuất có nơi còn lạc hậu, đời sốngđồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn

2 Giới thiệu chung về Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang

2.1 Khái quát về sự hình thành và pháttriển của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang

Tên cơ quan: Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai

Địa chỉ: Thị trấn Kon Dơng - huyện Mang Yang – tỉnh Gia Lai

Điện thoại: 0914168256

Email: chicucthihanhan.mangyang@gmail.com

Ngày 18 tháng 12 năm 1980, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của thời kỳ hoà bình, đánh dấu một dấu mốc lịch sửquan trọng khi đất nước ta chuyển mình sang một giai đoạn mới: Thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội trong phạm vi cả nước Hiến pháp năm 1980 lần đầu tiên đã ghi nhận thànhnguyên tắc hiến định về giá trị thi hành của các bản án, quyết định: Các bản án và quyết

7

Trang 15

định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, các

tổ chức xã hội và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêmtúc chấp hành (Điều 137) Đây chính là những cơ sở pháp lý quan trọng giúp các cơ quanThi hành án dân sự có những chuyển biến quan trọng trong lịch sử phát triển của mìnhtrong giai đoạn 1981-1989

Ngày 18 tháng 7 năm 1982, Bộ Tư pháp và Toà án nhân dân Tối cao đã ký Thông tưliên ngành số 472 về công tác quản lý thi hành án trong thời kỳ trước mắt, trong đó quyđịnh: Tại các Toà án nhân dân cấp tỉnh có Phòng Thi hành án nằm trong cơ cấu bộ máy vàbiên chế của Toà án giúp Chánh án chỉ đạo công tác thi hành án; tại các Toà án cấp huyện

có Chấp hành viên hoặc cán bộ làm công tác thi hành án dưới sự chỉ đạo của Chánh án.Ngày 28 tháng 8 năm 1989, Pháp lệnh Thi hành án dân sự đầu tiên được ban hành,tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tăng cường, hoàn thiện tổ chức và hoạt động thi hành

án dân sự Trên cơ sở đó, Quy chế Chấp hành viên đã được ban hành kèm theo Nghị định

số 68/HĐBT ngày 06 tháng 3 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng Theo quy định của Pháplệnh Thi hành án dân sự năm 1989 và Quy chế Chấp hành viên thì chỉ có Chấp hành viên

là người được nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án (trướcđây việc thi hành án ngoài Chấp hành viên còn có thể do cán bộ thi hành án thực hiện) Bộtrưởng Bộ Tư pháp quy định số lượng biên chế Chấp hành viên, cán bộ thi hành án chotừng Tòa án địa phương Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tưpháp quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân địa phương Chấp hành viênđược bổ nhiệm ở các Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện

Trên tinh thần đó Phòng thi hành án tỉnh Gia Lai được thành lập và huyện MangYang có 03 chấp hành viên làm công tác thi hành án dân sự thuộc chỉ đạo của Chánh ánTòa án nhân dân huyện Mang Yang

Ngày 02/6/1993 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 266-TTg về việc triểnkhai việc bàn giao và tăng cường công tác thi hành án dân sự; liên ngành giữa Bộ Tư pháp,Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Ban Tổ chức - cán bộ Chính phủ,

Bộ Tài chính và Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư liên ngành số TTLN ngày 26/5/1993 hướng dẫn việc bàn giao công tác thi hành án dân sự

01-Ngày 14/01/2004, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Thi hành án dân

sự năm 2004 với nhiều đổi mới quan trọng về thi hành án dân sự, trong đó có cả đổi mới về

tổ chức, cán bộ các cơ quan thi hành án dân sự và trình tự, thủ tục thi hành án dân sự

Để tiếp tục củng cố và hoàn thiện về tổ chức, bộ máy và cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thúcđẩy công tác thi hành án dân sự ngày càng hiệu quả, ngày 14/11/2008, Quốc hội khoá XII

đã thông qua Luật Thi hành án dân sự năm 2008, văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từtrước tới nay.Tiếp theođó,ngày 09/09/2009, Chính phủ ban hành Nghị địnhsố74/2009/NĐCP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành

án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan Thi hành án dân sự và công chứclàm công tác thi hành án dân sự Theo đó, Hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự đượcxác định rõ hơn theo nguyên tắc quản lý tập trung, thống nhất theo ngành dọc từ Trung

Trang 16

ương đến cấp huyện, với một vị thế mới, tương xứng với nhiệm vụ chính trị được giao vàphù hợp với yêu cầu của cải cách tư pháp.

Ngày 25 tháng 5 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg

về việc triển khai công tác thi hành hành chính, trong đó giao Bộ Tư pháp Bộ Tư pháp chủtrì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan: Sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chếcông chức, tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ quan thi hành án dân sự bảo đảm triểnkhai thực hiện có hiệu quả công tác thi hành án hành chính

Để tiếp tục hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự, ngày 25 tháng 11 năm 2014 tại

Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành ándân sự, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015, ngày 20 tháng 7 năm 2015,Chính phủ ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hànhLuật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, các văn bản này đã tạohành lang pháp lý vững chắc cho công tác thi hành án dân sự, góp phần nâng cao hiệu quảcông tác thi hành án dân sự trong thời gian tới

Hiện tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mang Yang cũng đã được thành lậptrên tinh thần của Nghị định số 74/2009/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hànhmột số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quanThi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự phát triển từ đó đến nay

2.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức biên chế của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai

2.2.1 Vị trí chức năng

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang là cơ quan thi hành án dân sự huyệntrực thuộc Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai Chi cục Thi hành án dân sự huyện thựchiện chức năng thi hành án dân sự và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quyđịnh của pháp luật

Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang là cơ quan trực thuộc Bộ tư pháp,

thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về côngtác thi hành án dân sự và thi hành án hành chính trong phạm vi cả nước; thực hiệnquản lý chuyên ngành về thi hành án dân sự và thi hành án hành chính theo quy định củapháp luật

Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang có tư cách pháp nhân, con dấu cóhình Quốc huy, tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước Trụ sở của Chi cục Thi hành ánDân sự huyện Mang Yang đặt tại Trung tâm hành chính của Ủy ban nhân dân huyện tạiThị trấn Kong Dỡng, huyện Mang Yang

2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạncủa Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai

Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Trực tiếp tổ chức thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quy địnhcủa pháp luật

9

Trang 17

- Thực hiện quản lý công chức, cơ sở vật chất, kinh phí và phương tiện hoạt độngđược giao theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.

- Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án theoquy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh

- Lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự

- Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy địnhpháp luật

- Báo cáo công tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân dân khi có yêu cầu

2.2.3 Cơ cấu tổ chức, biên chế của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai

a)Cơ cấu tổ chức

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang hiện có 07 cán bộ, công chức và 03nhân viên hợp đồng theo Nghị định 68 (02 bảo vệ; 01 tạp vụ) Trong đócó 01 Chi cụctrưởng đồng thời là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, 01 Phó Chi cục trưởng đồngthời là Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, 01 Chấp hành viên sơ cấp, 01 Thư ký,

01 Thẩm tra viên thi hành án, 01 kế toán trưởng, 01 văn thư

Về trình độ chuyên môn có 06 cán bộ, công chức có bằng đại học, 01 công chức cóbằng trung cấp

Lý luận chính trị có 01 đồng chí có trình độ Cao cấp lý luận chính trị; 02 dồng chí

có trình độ trung cấp lý luận chính trị

Bồi dưỡng nghiệp vụ có 05 đồng chí đã qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thi hành án.Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện phụ trách và theo dõi một số mặtcông tác, chịu trách nhiệm trước Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh và trước phápluật về toàn bộ hoạt động của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phó Chi cục trưởng Chicục Thi hành án dân sự huyện chịu trách nhiệm trước Chi cục trưởng Chi cục Thi hành

án dân sự huyện và trước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công phụ trách KhiChi cục trưởng vắng mặt Phó Chi cục trưởng ủy nhiệm điều hành điều hành các hoạtđộng của cơ quan

Về việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, biệt phái, đánh giá, khen thưởng, kỷluật, miễn nhiệm, cho từ chức và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với Chi cụctrưởng, Phó Chi cục trưởng do Cục trưởng Thi ành án Dân sự Tỉnh quyết định theo quyđịnh

Chuyên viên theo dõi công tác cơ sở thì có nhiệm vụ tiếp nhận, xử lý các hồ sơ,công văn và các văn bản chỉ đạo về công tác xây dựng

Trang 18

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang:

(Nguồn: Phòng Chi cục thi hành án Dân sự huyện Mang Yang)

2.3 Vị trí, chức năng nhiệm phòng của người đứng đầu, đơn vị bộ phận của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang

2.3.1 Ban lãnh đạo

Ông Nguyễn Hữu Tài – Thủ trưởng cơ quan: Phụ trách việc điều động, hướng

dẫn nghiệp vụ, chỉ đạo, kiểm tra công tác thi hành án đối với Chấp hành viên, công chứckhác thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ và những việc khác theo hướng dẫn, chỉđạo của cơ quan quản lý thi hành án dân sự cấp tỉnh thuộc Bộ Tư pháp

Ông Nguyễn Tấn Tài – Phó Thủ trưởng: Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự

phân công hoặc ủy quyền của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và chịu trách nhiệmtrong phạm vi công việc được giao

2.3.2 Cán bộ công chức

Ông Tô Đình Huấn – Thẩm tra viên: Có những nhiệm vụ sau:

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Thủ trưởng cơ quan giao và tham mưu cho Thủtrưởng cơ quan trả lời kháng nghị, kiến nghị của Viện Kiểm sát nhân dân theo thẩmquyền

- Thực hiện việc thẩm tra, kiểm tra những vụ việc thi hành án đã và đang thi hành;thẩm tra xác minh các vụ việc có đơn thư khiếu nại, tố cáo theo sự chỉ đạo của Thủtrưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự; thẩm tra thống

kê, báo cáo, dữ liệu thi hành án dân sự và những hồ sơ, tài liệu khác có liên quan đếncông tác thi hành án dân sự

11

Chi cục trưởng Phó Chi cục trưởng

Chấp hành viên

Thẩm tra viên

Kế toán trưởng

Trang 19

- Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liênquan để xác minh, kiểm tra và đề xuất biện pháp giải quyết theo nhiệm vụ được phâncông.

Ông Bùi Quang Vinh- Chấp hành viên:

-Tham mưu cho Thủ trưởng cơ quan trong việc tổ chức thi hành vụ việc được phân

công; ra các quyết định về thi hành án

- Triệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thihành án

- Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu cơquan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản củangười phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng

- Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hànhán; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án

- Lập biên bản về hành vi vi phạm pháp luật về thi hành án; xử phạt vi phạm hànhchính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạmhành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm

- Quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả chođương sự không đúng quy định của pháp luật, thu phí thi hành án và các khoản phải nộpkhác

Ông Nguyễn Văn Thuấn – Thư ký: Tham mưu giúp Chấp hành viên thực hiện các

trình tự, thủ tục trong công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính hoặc giúpThẩm tra viên cao cấp, Thẩm tra viên chính thực hiện nhiệm vụ thẩm tra những vụ việc

đã và đang thi hành án, thẩm tra, xác minh các vụ việc có đơn thư khiếu nại, tố cáo về thihành án dân sự theo quy định của pháp luật

Bà Nguyễn Thúy Hằng: Tham mưu cho lãnh đạo cơ quan theo dõi các lĩnh vực:

Thi đua – khen thưởng; thực hiện công tác văn thư – lưu trữ

Bà Nguyễn Thị Phúc: Tham mưu cho lãnh đạo phòng theo dõi các lĩnh vực: Tổ

chức bộ máy; vị trí việc làm; biên chế công chức và cơ cấu ngạch công chức trong các cơquan, tổ chức hành chính nhà nước; vị trí việc làm, cơ cấu cán bộ theo chức danh nghềnghiệp và số lượng người làm việc trong đơn vị; tiền lương đối với cán bộ, công chức laođộng hợp đồng trong cơ quan

2.4.Thống kê số lượng, chất lượng biên chế cơ quan

2.4.1 Số lượng nhân sự

Bảng 1.1 Số lượng nhân sự tại Chi cục Thi hành án huyện Mang Yang(Nguồn: Chi

cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang)

Trang 20

2.4.2 Chất lượng nhân sự

Yang (Nguồn: Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang)

Thông qua bảng số liệu cho thấy, nguồn công chức của Chi cục Thi hành án Dân sựhuyện Mang Yang có tuổi đời trẻ chiếm phần lớn Dưới 40 tuổi chiếm đến 80 % Đây lànguôn nhân lực trẻ và giàu năng động, sáng tạo và thích ứng được môi trường công việc.Bên cạnh đó, đội ngũ CBCC lớn tuổi cũng là nguồn kinh nghiệm dày dặn cho các thế hệ

đi sau học hỏi

04 Ngoại ngữ Đại học trở lênChứng chỉ (A, B, B1) 07 0100

Bảng 1.3 Trình độ và số lượng của đội ngũ CBCC

Thông qua bảng thống kê trình độ của Cán bộ, công chức tại phòng cho thấy chấtlượng nhân sự tương đối cao Trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và quản lý nhà nướcđược trang bị khá đồng đều Bên cạnh đó, trình độ ngoại ngữ và tin học được trang bị đầy

đủ phục vụ cho quá trình thực thi nghiệp vụ

2.5 Cơ sở vật chất, tài chính của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mang Yang

- Chi cục THADS huyện Mang Yang có 01 Trụ sở làm việc tại đường TrườngChinh, thị trấn Kon Dơng, huyện Mang Yang, Tỉnh Gia Lai

- Hiện Chi cục THADS chưa được cấp xe, trụ sở xuống cấp do đã được xây lâunăm(xây từ năm 2001)

- Nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động được chi từ nguồn ngân sách và được cấptheo dự toán ngân sách hàng năm

Stt Tên thiết bị Số

lượng Stt Tên thiết bị

Số lượng

Trang 22

PHẦN 2 ĐỀ TÀI BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Tên đề tài: PHÁP LUẬT VỀ XÁC MINH TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

-THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CHI CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HUYỆN

MANG YANG.

CHƯƠNG 1:

NHỮNGVẤNĐỀLÝLUẬNVỀXÁCMINHĐIỀUKIỆNTHIHÀNHÁNTHEO LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008 ĐƯỢC BỔ SUNG, SỬA ĐỔI

NĂM 2014

1.1 Khái niệm xác minh điều kiện thi hành án dân sự

Thi hành án dân sự xuất phát và gắn liền với hoạt động xét xử của TA Tuy nhiên,còn có nhiều quan điểm khác nhau về THADS Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, THADS làmột dạng của hoạt động hành chính, bởi THADS là hoạt động mang tính điều hành vàchấp hành, đây là đặc điểm đặc trưng của hoạt động hành chính Loại ý kiến thứ hai lạicho rằng, THADS là một dạng của hoạt động hành chính - tư pháp vì THADS là hoạtđộng mang tính điều hành và chấp hành quyết định của TA Hơn nữa, trong quá trìnhTHADS còn tiến hành các hoạt động mang tính hành chính như chứng thực bản sao giấy

tờ, ủy quyền THADS… Hoạt động xét xử và thi hành án là hai giai đoạn kế tiếp nhau,không cắt khúc và gián đoạn, do đó, luôn luôn có sự gắn kết, liên thông giữa Tòa án đã rabản án, quyết định đó bằng việc giao cho Tòa án ra quyết định THA; cơ quan THA tổchức thi hành theo quyết định THA của Tòa án Loại ý kiến thứ ba cho rằng, THADS làmột dạng của hoạt động tư pháp vì THADS gắn liền với hoạt động xét xử và do cơ quan

tư pháp có thẩm quyền tổ chức thực hiện.1 Do vậy, việc xác định bản chất của THADSvẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận cả từ góc độ lý luận và thực tiễn

Theo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam do Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh xuấtbản năm 1998 thì "xác minh" được hiểu là làm cho rõ với chứng cứ cụ thể, còn theo Đại

Từ điển Tiếng Việt do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin xuất bản năm 1998 thì "xácminh" được hiểu là làm rõ thực chất sự việc với những chứng cứ cụ thể Như vậy, có thểhiểu "xác minh" là việc đi tìm các chứng cứ, tài liệu để tìm hiểu, làm rõ một hoặc nhiềuvấn đề nào đó Xác minh được tiến hành bởi chủ thể nhất định, tùy theo mục đích và yêucầu của vấn đề cần được xác minh mà chủ thể tiến hành xác minh là chủ thể nào Cũngtheo Từ điển Từ và ngữ Việt Nam thì "điều kiện" là điều cần thiết phải có để đạt đượcmục đích còn theo Đại Từ điển Tiếng Việt thì "điều kiện" là điều cần phải có để có thểthực hiện được, đạt được mục đích

Trong pháp luật Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có điều luật nào định nghĩa về "có

điều kiện thi hành án" và "xác minh điều kiện thi hành án" Trong các công trình nghiên cứu

khoa học pháp lý về THA đã được công bố cũng chỉ đề cập đến những vấn đề thuộc vềchủ thể, nội dung và một vài thủ tục của XMĐKTHA mà chưa đưa ra định nghĩa, khái

niệm về "có điều kiện thi hành án" và "xác minh điều kiện thi hành án"

Trang 23

Xác minh điều kiện thi hành án dân sự là hoạt động trung tâm, quan trọng nhấttrong quá trình tổ chức thi hành án dân sự Kết quả xác minh là cơ sở để Chấp hành viên(CHV) thuyết phục đương sự tự nguyện, thỏa thuận thi hành án, là cơ sở để Thủ trưởng

cơ quan thi hành án ra các quyết định ủy thác, hoãn, đình chỉ thi hành án hay lựa chọnbiện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp Có thể nói, xác minh điều kiện thi hành

án chính là căn cứ làm phát sinh hàng loạt các tác nghiệp khác trong quá trình tổ chức thihành các bản án, quyết định, đòi hỏi CHV cần thiết phải nắm vững cơ sở pháp lý của việcxác minh, kỹ năng xác minh và xử lý kết quả xác minh phù hợp với quy định của phápluật về thi hành án dân sự.2

Tuy nhiên, trong quá trình công tác thi hành án dân sự có thể đúc kết khái niệm như

sau: "Xác minh điều kiện thi hành án dân sự là việc chấp hành viên thu thập thông tin,

tiếp cận, xác định đối tượng mục tiêu cần phải thi hành (tài sản, thu nhập của người phải thi hành án, vật, giấy tờ, nhà phải trả…) và các thông tin khác phục vụ cho quá trình tổ chức thi hành án như: nhân thân, hoàn cảnh gia đình của người phải thi hành án…".

1.2 Đặc điểm của xác minh điều kiện thi hành án

Với tính chất là một thủ tục rất quan trọng, quyết định đến kết quả, thành công củacác hoạt động tiếp theo của toàn bộ quy trình, thủ tục THA, XMĐKTHA có đặc điểm cơbản sau đây:

Thứ nhất, việc XMĐKTHA được thực hiện tại nhiều thời điểm, nhiềuđịa điểm khác

nhau trong quá trình THA.Việc XMĐKTHA được thực hiện tại nhiều thời điểm khácnhau trong quá trình THA Chẳng hạn, trong trường hợp người được THA tựXMĐKTHA của người phải THA thì việc xác minh được tiến hành trước khi người đượcTHA nộp đơn yêu cầu THA Trường hợp THA chủ động hoặc xác minh theo yêu cầu củađương sự thì việc XMĐKTHA được thực hiện ngay tại thời điểm ra quyết định THA.Trường hợp sau khi người được THA tiến hành XMĐKTHA của người phải THA và nộpđơn yêu cầu THA mà Chấp hành viên không đồng ý với kết quả xác minh này thì Chấphành viên sẽ tiến hành XMĐKTHA lại Trường hợp thi hành quyết định áp dụng biệnpháp khẩn cấp tạm thời thì việc XMĐKTHA được thực hiện trước, trong và sau khi ápdụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Việc XMĐKTHA cũng được thực hiện tại nhiều địa điểm khác nhau tùy thuộc vàođối tượng xác minh Chẳng hạn, khi xác minh hiện trạng nhà đất thì địa điểm tiến hànhxác minh là tại nơi có nhà đất, khi xác minh chủ sở hữu phương tiện giao thông thì địađiểm tiến hành xác minh là tại Phòng cảnh sát giao thông; khi xác minh về tiền, tài khoảnthì địa điểm xác minh là tại Ngân hàng, các tổ chức tín dụng…

Thứ hai, việc XMĐKTHA có thể do người đượcTHA,Chấp hànhviên hoặc Thừa

phát lại thực hiện.Nghĩa vụ làm rõ điều kiện THA của người phải THADS trước hết làcủa người được THA vì họ là một trong những người đưa ra yêu cầu THADS Tuy vậy,trong những trường hợp cơ quan THADS chủ động THA hay trong những trường hợpngười được THA không thể XMĐKTHA của người phải THA được thì cơ quan THADS

Trang 24

phải tiến hành xác minh THA Ngoài ra, các Văn phòng Thừa phát lại cũng được tổ chứcTHA khi đương sự yêu cầu Vì vậy, tương ứng với ba trường hợp này là ba chủ thể thựchiện việc XMĐKTHA, cụ thể là:

- Người được THA thực hiện việc XMĐKTHA của người phải THA trong trườnghợp THA theo đơn yêu cầu Người được THA có thể tự mình hoặc ủy quyền cho ngườikhác XMĐKTHA

- Chấp hành viên thực hiện việc XMĐKTHA trong trường hợp chủ động ra quyếtđịnh THA hoặc theo yêu cầu của người được THA sau khi họ đã áp dụng các biện phápcần thiết mà không thể tự mình xác minh được điều kiện THA của người phải THA hoặckhi không đồng ý với kết quả xác minh của người được THA

Thứ ba, nội dung XMĐKTHA chủ yếu là làm rõ thông tin về thunhập, tài sản của

người phải THA.Phần lớn nghĩa vụ THADS là nghĩa vụ về tài sản Vì vậy, trừ nhữngtrường hợp đặc biệt cần xác minh về nhân thân, thái độ của người phải THADS để thihành nghĩa vụ bắt buộc thực hiện hoặc không thực hiện một công việc nhất định thì nộidung chủ yếu của việc xác minh là làm rõ thông tin về thu nhập, tài sản của người phảiTHA Để tổ chức THADS thì phải làm rõ tài sản, thu nhập của người phải THADS cónhững gì? Số lượng và chủng loại cụ thể? Tài sản của người phải THA do họ giữ hay dongười khác giữ? Tài sản vô hình hay tài sản hữu hình? Tài sản hiện có hay tài sản đượchình thành trong tương lai?…

Thứ tư, việc XMĐKTHA phải được thực hiện một cách đầy đủ, chínhxác theo đúng

trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định.Pháp luật THADS quy định cụ thể về trình tự, thủtục THADS nhằm đảm bảo hiệu quả THADS XMĐKTHA là một khâu của quá trìnhTHADS.Vì vậy, việc XMĐKTHA phải được thực hiện một cách đầy đủ, chính xác theođúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định từ chủ thể yêu cầu xác minh, thể thức vănbản yêu cầu xác minh, chủ thể tiến hành xác minh, thời hạn thực hiện việc xác minh; nơithực hiện việc xác minh, biên bản xác minh… để tránh những trường hợp áp dụng mộtcách tùy tiện

1.3 Ý nghĩa của xác minh điều kiện thi hành án

Việc XMĐKTHA của người phải THA là cơ sở pháp lý để Chấp hành viên áp dụngcác biện pháp tiếp theo nhằm tổ chức THA như trả đơn yêu cầu THA, ủy thác, hoãn, tạmđình chỉ, đình chỉ THA, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế THA… Mặtkhác, việc XMĐKTHA còn là cơ sở để phân loại án, là căn cứ cho việc thống kê số ántồn đọng Vì vậy, việc XMĐKTHA có các ý nghĩa sau đây:

Thứ nhất, giúp cho việc phân loại án được chính xác, góp phần nângcao chất lượng

và hiệu quả công tác THA, giảm bớt áp lực đối với cơ quan THADS vì không mất nhiềuthời gian, công sức để giải quyết những việc THADS chưa có điều kiện thi hành

Trong THADS thì án dân sự được phân làm hai loại là án dân sự có điều kiện thihành và án dân sự chưa có điều kiện thi hành Căn cứ để phân loại án dân sự có điều kiệnthi hành và án dân sự chưa có điều kiện thi hành dựa trên điều kiện THADS Vì vậy,XMĐKTHA là thủ tục quan trọng, cần thiết để xác định xem việc THADS đó có điềukiện thi hành hay chưa có điều kiện thi hành Nếu XMĐKTHA được thực hiện đầy đủ và

17

Trang 25

đúng quy định của pháp luật thì việc phân loại việc THADS (có điều kiện thi hành vàchưa có điều kiện thi hành) sẽ chính xác, từ đó cơ quan THADS sẽ tập trung thời gian,nhân lực, chi phí cho việc thi hành những việc THADS có điều kiện thi hành và khôngphải mất thời gian, công sức vào những việc THADS chưa có điều kiện thi hành Do đó,việc XMĐKTHA có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần nâng cao chất lượng và hiệuquả của công tác THADS, giảm án tồn đọng, giảm áp lực đối với cơ quan THADS.

Thứ hai, góp phần bảo đảm quyền của người đượcTHA.Trong các giao dịch dân sự,

các bên thực hiện trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, cam kết, thỏa thuận và được phápluật bảo vệ Tại Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: " Mọi cá nhân, pháp nhân đềubình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộnhư nhau về các quyền nhân thân và tài sản.Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấmdứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận.Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội cóhiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng."

Như vậy, pháp luật bảo vệ các giao dịch dân sự bằng cơ chế tài phán: Khi một trongcác bên không tôn trọng, không thực hiện các cam kết, thỏa thuận thì tranh chấp phátsinh và các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Do các giao dịch dân sự được xáclập trên nguyên tắc tự nguyện, các bên tự thỏa thuận và tự giao kết giao dịch với nhaunên để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp thì các bên có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ

và chứng minh cho yêu cầu của mình (khác với vụ án hình sự) Người được THA cóđược THA hay không phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện THA của người phải THA Dovậy, việc quy định người được THA có nhiệm vụ XMĐKTHA của người phải THA cũng

là một hình thức để bảo đảm quyền, lợi ích của người được THA do họ có trách nhiệmhơn trong việc chủ động tìm kiếm thông tin về tài sản và điều kiện THA của người phảiTHA

Thứ ba, XMĐKTHAcòngóp phần nâng cao ý thức của người dântrong việc

THA.Căn cứ vào kết quả XMĐKTHA, Chấp hành viên sẽ tiến hành các công việc tiếptheo như áp dụng biện pháp bảo đảm THA, áp dụng biện pháp cưỡng chế THA… Nếungười phải THA không tự nguyện thi hành bản án, quyết định của Tòa án thì sau khingười được THA hoặc Chấp hành viên tiến hành XMĐKTHA thì họ sẽ có thể bị áp dụngbiện pháp bảo đảm THA, biện pháp cưỡng chế THA và họ chắc chắn phải chịu những chiphí phát sinh không đáng có Do vậy, việc quy định về XMĐKTHA góp phần nâng cao ýthức của người dân nói chung và ý thức của người phải THA nói riêng trong việc thihành bản án, quyết định của Tòa án

Tóm lại, việc XMĐKTHA có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, ảnh hưởngtrực tiếp đến

kết quả giải quyết việc THA vì việc xác minh này là căn cứ, cơ sở để CHV ra các quyếtđịnh tác nghiệp của mình Kết quả XMĐKTHA như là chứng cứ để chứng minh, bảo vệquyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong vụ án dân sự Vì vậy, để bảo đảm quyền, lợiích hợp pháp của mình thì người làm đơn yêu cầu THA phải chứng minh được ngườiphải THADS có điều kiện THA, làm cơ sở cho cơ quan THADS thụ lý hồ sơ và tổ chức

Trang 26

dân trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tăng tính chủ động cho cácbên đương sự, đồng thời giảm sức ép đối với cơ quan THADS, giảm án tồn đọng và gópphần nâng cao chất lượng hoạt động THADS.3

1.4 Cơ sở của việc pháp luật thi hành án dân sự quy định về xác minh điều kiện thi hành án

1.4.1 Cơ sở lý luận của việc pháp luật thi hành án dân sự quy định về xác minh điều kiện thi hành án

XMĐKTHA là một trong những hoạt động cơ bản của THADS Việc pháp luậtTHADS quy định về XMĐKTHA xuất phát từ những cơ sở lý luận sau đây:

Thứ nhất, từ yêu cầu bảo đảm hiệu lực các bản án, quyết định của Tòaán được thi

hành.Thi hành án là giai đoạn cuối cùng nhằm bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa

án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, tăng cường phápchế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhànước Với tầm quan trọng như vậy, THA có mục đích và nhiệm vụ làm cho các quyếtđịnh của Tòa án trong các bản án, quyết định trở thành hiện thực trên thực tế Tuy vậy,điều này lại phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thực tế người phải THA có tài sản, thunhập để THA hay không? Nói cách khác là người phải THA có điều kiện THA haykhông? Vì vậy, để tổ chức thi hành được các bản án, quyết định của Tòa án thì trước khi

tổ chức THA cần phải làm rõ người phải THA có điều kiện THA hay không, tức là phảiXMĐKTHA của người phải THA Chính vì vậy, việc pháp luật THADS quy địnhXMĐKTHA là để bảo đảm việc tổ chức thi hành có hiệu quả các bản án, quyết định củaTòa án và bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật

Thứ hai, từ yêu cầu xã hội hóa công tácTHA.Chủ trương xã hội hóa đã được đề cập

nhiều trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng Nghị quyết số 24/2008/QH12 của BộChính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã xác địnhcần xã hội hóa một số hoạt động tư pháp Trong lĩnh vực THA, đặc biệt là THADS cầnphải tích cực xã hội hóa, bởi có xã hội hóa thì mới chia sẻ được gánh nặng công việcTHA cho Nhà nước, mới nâng cao được hiệu quả công tác THA Hiện nay, một số côngviệc về THA mà tư nhân có thể thực hiện được thì nên chuyển giao cho tư nhân thực hiệnnhư việc sao, gửi các bản án, quyết định của Tòa án; đôn đốc các bên tự nguyện THA;xác minh tài sản, điều kiện THA của người phải THA… Đây là chủ trương vừa phù hợpvới truyền thống THADS của Việt Nam, vừa phù hợp với xu hướng phát triển của kinh

tế, xã hội Do đó, Nghị quyết số 49/2005/NQ-TW của Bộ Chính trị đã khẳng định: "Từng

bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án" Bên cạnh đó,

Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị cũng nêu: "Nghiên cứu chế định Thừa phát lại

(thừa hành viên); trước mắt, có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo".

Mục đích của THADS là thực hiện các quyết định trong bản án, quyết định dân sựđược đưa ra thi hành nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ

3 http://luanvan123.info/threads/xac-minh-dieu-kien-thi-hanh-an-dan-su.39576/

19

Trang 27

chức và lợi ích của Nhà nước Công tác THADS bao gồm nhiều công việc khác nhau,nếu chỉ do cơ quan THADS thực hiện thì nhiều khi cơ quan này không thể thực hiệnđược vì bị quá tải trong công việc và sẽ dẫn đến sự chây ỳ, chậm trễ trong THADS Nếuviệc THADS chỉ do các cơ quan THADS thực hiện thì cũng không thể huy động đượccác nguồn lực trong xã hội để tạo ra sức mạnh tổng hợp cho công tác tổ chức THADS.Việc THADS chỉ do các cơ quan THADS thực hiện sẽ rất lớn và là một trong nhữngnguyên nhân gây bội chi ngân sách nhà nước Hơn nữa, THADS trước hết là vì quyền,lợi ích của các đương sự vì các đương sự là người được hưởng lợi ích trực tiếp từ việcTHADS cho nên nếu mọi việc về THADS đều do cơ quan THADS đảm nhiệm thực hiện

là chưa phù hợp Vì vậy, việc xã hội hóa một số nội dung hoạt động trong THADS sẽmang nhiều ý nghĩa quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của THADS

Như vậy, qua phân tích trên cho thấy, việc pháp luật THADS quy định XMĐKTHA

là dựa trên cơ sở yêu cầu của việc bảo đảm hiệu lực các bản án, quyết định của Tòa ánđược thi hành và thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác THA mà Đảng và Nhà nước

đã đề ra, đã được đề cập trong nhiều văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước

1.4.2 Cơ sở thực tiễn của việc pháp luật thi hành án dân sự quy định về xác minh điều kiện thi hành án

Ngoài cơ sở lý luận được phân tích ở trên thì quy định về XMĐKTHA còn xuấtphát từ cơ sở thực tiễn như sau:

Thứ nhất, trong suốt thời gian dài từ trước cho đến khi ban hành LuậtTHADS,

chúng ta vẫn luôn cho rằng những việc tranh chấp đã được Tòa án thụ lý giải quyết thì cơquan THADS phải có trách nhiệm thi hành, có trách nhiệm sử dụng quyền lực nhà nước

để bảo vệ, khôi phục quyền lợi cho các đương sự Người dân luôn nghĩ rằng việc cơ quanTHADS buộc người phải THA nộp tiền hoặc xử lý phát mãi tài sản là việc rất hiển nhiên

và việc này được thực hiện đơn giản, nhanh chóng Tuy nhiên, thực tế cho thấy thì mặc

dù người phải THA có tài sản, có điều kiện thi hành nhưng nếu họ không tự nguyện thihành thì việc cưỡng chế xử lý tài sản của họ cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy địnhcủa pháp luật về trình tự, thủ tục, tốn khá nhiều thời gian, công sức Thực tế thì rất nhiềungười được THA cho rằng, việc họ được thi hành bản án, quyết định của Tòa án là việcđương nhiên, họ chỉ cần đến cơ quan THADS nhận tiền, tài sản của mình mà không cầnbiết cơ quan THADS khó khăn, vất vả mới có được để trao trả cho họ Khi được cán bộTHA giải thích việc làm đơn yêu cầu THA phải thực hiện theo trình tự, thủ tục do phápluật quy định; khả năng bản án, quyết định được thực hiện đến đâu phụ thuộc vào nhiềuyếu tố, trong đó có yếu tố là điều kiện THA của người phải THA mà không hẳn là do cơquan THADS quyết định… thì đa phần họ tỏ thái độ bức xúc, khó chịu với cơ quanTHADS Thực tế này cho thấy, người dân không nghĩ rằng hiệu lực thi hành trên thực tếcủa bản án, quyết định của Tòa án không chỉ phụ thuộc vào việc tổ chức thi hành của cơquan THADS mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Trong THADS, quyền vànghĩa vụ dân sự được xác lập, phát sinh từ bản án, quyết định của Tòa án cũng có thểđược thực hiện bằng nhiều cách khác nhau Đương sự có quyền thỏa thuận trực tiếp với

Trang 28

trường hợp sau khi có phán quyết của Tòa án thì các bên đã trực tiếp thực hiện quyền vànghĩa vụ với nhau mà không cần có sự can thiệp nào của cơ quan THADS Hơn nữa, cơquan THADS chỉ đứng ra tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án khi hai bênđương sự không tự thỏa thuận được cách thực hiện Quan trọng nhất của việc bản án,quyết định của Tòa án có được thực hiện hay không chính là điều kiện THA của ngườiphải THA là như thế nào Hơn ai hết, chính người được THA là người biết và cần phảibiết về điều kiện THA của người phải THA như tình hình tài sản, thu nhập của ngườiphải THA Vì vậy, pháp luật quy định người được THA phải cung cấp thông tin về điềukiện THA của người phải THA là hợp lý, phù hợp với thực tiễn và giảm áp lực cho cơquan THADS, tiết kiệm thời gian và chi phí cho công tác THADS.

Thứ hai, ở nước ta trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Thừa phát lạicó nhiệm vụ,

quyền hạn quan trọng trong hoạt động THADS Dù với tư cách là người làm dịch vụnhưng Thừa phát lại không được từ chối yêu cầu của người được THA nếu thuộc phạm

vi chức năng của mình, vì vậy, hiệu quả của THADS rất cao Thừa phát lại vẫn có nhiệm

vụ THADS sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 đến năm 1950 Với quy định của Sắc lệnhngày 10/10/1945 về việc tạm thời giữ các luật lệ hiện hành của chế độ cũ với điều kiệnnhững điều khoản trong luật này không trái với nền độc lập của nước Việt Nam và chínhthể dân chủ cộng hòa , chế định Thừa phát lại trong pháp luật của chế độ cũ vẫn được ápdụng và Thừa phát lại với đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của thời kỳ trước đã mang lạinhững hiệu quả nhất định trong những năm đầu xây dựng chính quyền cách mạng Vớinhững ưu điểm vốn có của nó, lực lượng Thừa phát lại đã có những đóng góp rất lớntrong việc hỗ trợ hoạt động tư pháp, bảo đảm cho mọi bản án, quyết định của Tòa án đã

có hiệu lực pháp luật được thi hành nghiêm minh, tình trạng án tồn đọng hầu như khôngxảy ra

Đến năm 1950, theo Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp

và luật tố tụng thì các thẩm phán huyện làm nhiệm vụ THA dưới sự chỉ đạo trực tiếp củaChánh án Ở Miền Bắc, sau khi giải phóng trở đi thì không có Thừa phát lại Tuy vậy, ởMiền Nam, chính quyền Sài Gòn vẫn duy trì tổ chức Thừa phát lại và Thừa phát lại làmột cơ chế trợ giúp cho các cơ quan tư pháp trong hoạt động tố tụng như hỗ trợ đắc lựccho hoạt động xét xử của Tòa án và hoạt động THA của cơ quan THA Trải qua nhiềuthời kỳ phát triển của đất nước, cho dù Thừa phát lại được pháp luật quy định một cáchtrực tiếp hoặc gián tiếp, mô hình tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại đượcquy định khác nhau trong từng giai đoạn nhưng có thể thấy rằng, hoạt động Thừa phát lại

đã góp phần không nhỏ vào hiệu quả hoạt động của THA Kết quả THADS của Thừaphát lại đã chứng minh cho việc cần tiếp tục quy định chế định "Thừa phát lại", trong đóquy định đầy đủ và chi tiết hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Thừa phát lại; quy địnhphạm vi, công việc mà Thừa phát lại được làm nhằm thực hiện chủ trương xã hội hóa,trong đó đặc biệt lưu ý đến các quy định về XMĐKTHA Có như vậy thì mô hình Thừaphát lại mới phát huy được năng lực, góp phần bảo đảm quyền và nghĩa vụ cho các bêntrong quá trình THA, đồng thời giảm tải cho cơ quan THADS trong việc thi hành án, gópphần giảm án tồn đọng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác THADS Vì vậy, việc quy

21

Trang 29

định về XMĐKTHA còn dựa trên cơ sở thực tiễn là những kết quả đạt được của chế địnhThừa phát lại trong hoạt động THADS.4

Tóm lại, bên cạnh các cơ sở lý luận đã nêu trên thì thực tiễn tổ chức THA cũng chothấy việc pháp luật THADS quy định XMĐKTHA là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng.Việc áp dụng quy định này vừa góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động THA, giảm áp lựccho cơ quan THADS vừa tăng cường ý thức pháp luật, nâng cao tính chủ động của cácbên đương sự trong việc thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án

Trang 30

từ yêu cầu xã hội hóa công tác THA và thực tiễn thực hiện THA từ trước đến nay,XMĐKTHA cần thiết phải được quy định rõ ràng, cụ thể trong văn bản quy phạm phápluật về THADS và cần khẳng định XMĐKTHA là một giai đoạn bắt buộc trong thủ tụcTHADS Qua quá trình nghiên cứu mô hình, tổ chức của cơ quan có nhiệm vụ thi hànhcác bản án, quyết định của Tòa án cho thấy, XMĐKTHA được quy định một cách giántiếp thông qua nhiệm vụ của Chấp hành viên tại Pháp lệnh THADS năm 1989 nhưng quyđịnh này mới chỉ là bước đầu Tuy nhiên, XMĐKTHA đã được quy định cụ thể hơn tạiPháp lệnh THADS năm 2004 và được quy định thành điều riêng tại Luật THADS đượcsửa đổi và bổ sung năm 2014 XMĐKTHA được quy định trong phần trình tự, thủ tụcTHA và là điều kiện bắt buộc trong quá trình thi hành án đã góp phần nâng cao hiệu quảthi hành các bản án, quyết định của Tòa án.

23

Trang 31

CHƯƠNG 2:

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN HÀNH

VỀ XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

2.1 Chủ thể xác minh điều kiện thi hành án

Trước đây, pháp luật THADS quy định trách nhiệm XMĐKTHA của người phảiTHA thuộc về cơ quan THADS, không phải thuộc về người được THA Để khắc phụcnhững hạn chế, vướng mắc trong THADS, Luật THADS đã mở rộng đối tượng có tráchnhiệm XMĐKTHA của người phải THA Tại khoản 1 Điều 44 Luật THADS được sửa

đổi và bổ sung năm 2014 quy định:"Trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án,

Chấp hành viên phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành

án Trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu, nếu người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì có thể yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh".

Ngoài ra, tại Điều 30 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ

về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minhcòn quy định:Thừa phát lại có quyền xác minh điều kiện thi hành án liên quan đến việcthi hành án mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành của các cơ quan thi hành án dân sựtại Thành phố Hồ Chí Minh Khi thực hiện, Thừa phát lại có quyền xác minh ngoài địabàn Thành phố Hồ Chí Minh trong trường hợp đương sự cư trú, có tài sản hay có điềukiện thi hành án ngoài địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Như vậy, theo các quy định này thì các chủ thể thực hiện XMĐKTHA bao gồm:

2.1.1 Người được thi hành án

Bước đột phá trong quy định của Luật THADS chính là việc quy định ngoài Chấphành viên có trách nhiệm XMĐKTHA thì người được THA có nghĩa vụ xác minh trongtrường hợp THA theo đơn yêu cầu Chỉ khi người được THA đã áp dụng các biện phápcần thiết mà không thể tự XMĐKTHA của người phải THA thì mới có thể yêu cầu Chấphành viên tiến hành xác minh Người được THA có thể áp dụng nhiều biện pháp để xácminh tài sản, thu nhập của người phải THA như thông qua mối liên hệ từ trước với ngườiphải THA để biết được loại tài sản và các nguồn tài chính của người phải THA; yêu cầucác cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan cung cấp các thông tin về tài sản, thu nhập củangười phải THA, thuê các tổ chức, cá nhân làm dịch vụ pháp lý xác định tài sản, thu nhậpcủa người phải THA… Sự thay đổi về chủ thể có quyền XMĐKTHA xuất phát từ bảnchất của giao dịch dân sự là các bên tự do giao kết hợp đồng và việc thi hành bản án,quyết định của Tòa án, trước tiên là thỏa thuận cùng nhau để tự nguyện thi hành Chỉ khikhông thỏa thuận được thì cơ quan THA mới đứng ra làm bên trung gian để yêu cầu cácbên thực hiện đúng phần quyết định trong bản án, quyết định đó Do vậy, để bảo đảmquyền và lợi ích của mình, tránh việc trông chờ, ỷ lại vào cơ quan THADS thì việc quyđịnh trách nhiệm của đương sự trong việc XMĐKTHA của người phải THA là phù hợp

2.1.2 Người phải thi hành án

Theo Điều 44 Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định: “Người phải

Trang 32

kiện thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khaicủa mình”.

Và tại Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định về xác minh điều kiện thi

hành án: "Khi tiến hành xác minh, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án kê khai

trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án Nội dung kê khai phải nêu rõ loại, số lượng tiền, tài sản hoặc quyền tài sản; tiền mặt, tiền trong tài khoản, tiền đang cho vay, mượn; giá trị ước tính và tình trạng của từng loại tài sản; mức thu nhập định kỳ, không định kỳ, nơi trả thu nhập; địa chỉ, nơi cư trú của người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng; khả năng và điều kiện thực hiện nghĩa vụ thi hành án".Chính vì thế, khi tiến hành công tác thi hành án Dân sự thì

Chấp hành viên cần phải nêu rõ trong biên bản xác minh điều kiện thi hành án về việcđương sự kê khai hoặc không kê khai tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án

Tuy nhiên, trong trường hợp người phải thi hành án không kê khai hoặc phát hiệnviệc kê khai không trung thực thì tùy theo mức độ vi phạm, Chấp hành viên có thể xửphạt hoặc đề nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo quy định của phápluật…”

2.1.3 Chấp hành viên

Chấp hành viên thực hiện XMĐKTHA trong ba trường hợp sau:

Thứ nhất, trong trường hợp chủ động ra quyết địnhTHA.Trong trường hợp chủ

động ra quyết định THA thì Chấp hành viên có nghĩa vụ XMĐKTHA của người phảiTHA Trường hợp chủ động ra quyết định THA đối với phần bản án, quyết định đượcquy định tại khoản 1 Điều 36 Luật THADS năm 2008, gồm: Hình phạt tiền, truy thu tiền,tài sản thu lợi bất chính, án phí; tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng,tài sản; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; quyếtđịnh áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Thứ hai, trongtrường hợpTHAtheo đơn yêu cầu, nếu người đượcTHA đã áp dụng

các biện pháp cần thiết mà không thể tự XMĐKTHA của người phải THA và họ yêu cầuChấp hành viên tiến hành xác minh.Trong trường hợp THA theo đơn yêu cầu, ngườiđược THA đã áp dụng các biện pháp mà không thể tự XMĐKTHA của người phải THAthì họ có quyền yêu cầu Chấp hành viên tiến hành xác minh Nhận được yêu cầu củangười được THA về XMĐKTHA của người phải THA, Chấp hành viên tiến hành xácminh Tuy nhiên, yêu cầu XMĐKTHA phải được lập thành văn bản, đồng thời ghi rõ cácbiện pháp đã áp dụng nhưng không có kết quả, kèm theo tài liệu chứng minh

Thứ ba, trong trường hợp Chấp hành viên thấy cần thiết phải xác minh lại.Khi tổ

chức THA, Chấp hành viên được căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu và các thông tin về tàisản, thu nhập của người phải THA do người được THA cung cấp Tuy nhiên, theo quyđịnh tại Điều 6 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP của Chính phủ, trong trường hợp cần thiếtChấp hành viên có quyền xác minh lại Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn

10 ngày kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp Thời hạn chung

để Chấp hành viên tiến hành việc xác minh là trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày chủđộng ra quyết định THA hoặc kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh của người được

25

Trang 33

thi hành; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phảixác minh ngay.

2.1.4 Thừa phát lại

Cùng với việc ban hành Luật THADS, ngày 14/11/2008, Quốc hội đã ban hànhNghị quyết số 24/2008/QH12 về thi hành Luật THADS (Nghị quyết số 24/2008/QH12),trong đó có quy định: "Để triển khai thực hiện chủ trương xã hội hóa một số công việc cóliên quan đến thi hành án dân sự, giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểmchế định Thừa phát lại tại một số địa phương" Tiếp đó, ngày 24/7/2009, Chính phủ đãban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thựchiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh Theo Khoản 1 Điều 2 của Nghị định này, thì

"Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân

sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan" Và theo Khoản 3 Điều 3 của Nghị định này, thì công việc Thừa

phát lại được làm bao gồm cả "xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đươngsự" Như vậy, ngoài Chấp hành viên và người được THA có nhiệm vụ XMĐKTHA thìThừa phát lại cũng là chủ thể XMĐKTHA theo yêu cầu của đương sự

Trong THADS, việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án bao gồm nhiềucông đoạn, nhiều hoạt động tác nghiệp khác nhau, các vụ việc về THA cũng rất khácnhau, có vụ việc đơn giản, có vụ việc phức tạp, có vụ việc đương sự tự nguyện thi hành,

có vụ việc cơ quan THADS phải áp dụng biện pháp cưỡng chế Vì vậy, xác định phạm vicủa hoạt động Thừa phát lại là nội dung đặc biệt quan trọng Theo quy định tại điểm đkhoản 1 Điều 31 Luật THADS năm 2008 thì người được THA phải cung cấp thông tin vềđiều kiện thi hành của người phải THA, nội dung này là nội dung bắt buộc trong đơn yêucầu THA Do đó, Thừa phát lại được thực hiện các công việc về xác minh tài sản, điềukiện THA của người phải THA theo đơn yêu cầu của đương sự Trên cơ sở kết quả xácminh của Thừa phát lại, đương sự có thể yêu cầu cơ quan THADS tổ chức thi hành theoquy định của pháp luật THA

Về phạm vi xác minh, Thừa phát lại có quyền XMĐKTHA của đương sự trong bản

án, quyết định đã có hiệu lực thi hành mà theo quy định của pháp luật THADS, vụ việc

đó thuộc thẩm quyền của cơ quan THADS có cùng địa bàn với địa bàn của Thừa phát lại.Thừa phát lại có quyền thực hiện việc xác minh ngoài địa bàn trong trường hợp đương

sự cư trú, có tài sản hay có điều kiện THA ngoài địa bàn của Thừa phát lại Người yêucầu và Thừa phát lại thỏa thuận về việc XMĐKTHA của đương sự; văn bản thỏa thuận

về xác minh tài sản dưới hình thức hợp đồng

Về thủ tục xác minh, Thừa phát lại có quyền yêu cầu bằng văn bản hoặc trực tiếpyêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp các thông tin về điều kiện THA của đương sựtheo quy định của pháp luật về THADS Nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiệnyêu cầu của Thừa phát lại, thì Thừa phát lại có quyền lập biên bản về sự từ chối đó; cơquan, tổ chức, cá nhân phải chịu trách nhiệm về việc từ chối trái pháp luật yêu cầu củaThừa phát lại Khi thực hiện việc xác minh tài sản, Thừa phát lại có quyền đề nghị cơ

Trang 34

Để bảo vệ thông tin về tài sản của người phải THA, pháp luật quy định Văn phòng Thừaphát lại, cá nhân Thừa phát lại không được sử dụng các thông tin về điều kiện THA củađương sự ngoài mục đích THA Văn phòng Thừa phát lại và cá nhân Thừa phát lại cótrách nhiệm giữ bí mật các thông tin xác minh được theo quy định của pháp luật và theoyêu cầu của người cung cấp, người yêu cầu, nếu yêu cầu đó không trái pháp luật vàkhông cản trở việc THA.5 Kết quả XMĐKTHA của Thừa phát lại là cơ sở để cơ quanTHADS, Văn phòng Thừa phát lại tổ chức thi hành Theo Khoản 2 Điều 4 Nghị định số61/2009/NĐ-CP thì cơ quan THADS không được từ chối kết quả xác minh của Thừaphát lại, trừ trường hợp có căn cứ cho rằng, kết quả xác minh đó không đúng thực tế,không phù hợp với việc THA Trong trường hợp từ chối thi hành theo kết quả xác minhcủa Thừa phát lại, thì cơ quan THADS phải trả lời bằng văn bản cho đương sự và phảinêu rõ lý do từ chối.

Như vậy, theo quy định của Luật THADS thì chủ thể tiến hành XMĐKTHA trướchết là Chấp hành viên và người được THA Cùng với việc ban hành Luật THADS, Quốchội đã ban hành Nghị quyết thi hành Luật THADS trong đó giao Chính phủ thực hiện thíđiểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương mà một trong những nhiệm vụ củaThừa phát lại là XMĐKTHA Thí điểm Thừa phát lại là giai đoạn trung gian, quá độnhằm đánh giá hiệu quả của chế định Thừa phát lại trước khi chế định này được chínhthức quy định trong văn bản quy phạm pháp luật Việc thí điểm có thể mang lại kết quảcao hoặc ngược lại, nhưng thí điểm này là căn cứ cho việc quyết định có quy định chếđịnh Thừa phát lại vào trong luật hay không Vì vậy, trong giai đoạn thí điểm hiện nay,ngoài Chấp hành viên và người được THA thì Thừa phát lại cũng là chủ thể được phéptiến hành XMĐKTHA

2.2 Nguyên tắc thực hiện xác minh điều kiện thi hành án

Luật THADS không có quy định riêng nào quy định về nguyên tắc XMĐKTHAtrong THADS Tuy nhiên, trong một số điều luật cụ thể có quy định mang tính nguyêntắc về kê biên, xử lý tài sản; điều luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên Mặtkhác, để áp dụng trong thực tế thì một số công văn hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quanquản lý công tác THADS đã yêu cầu Chấp hành viên phải tuân thủ những thủ tục, trình

tự chặt chẽ trong quá trình xác minh Có hai nguyên tắc cơ bản mà Chấp hành viên phảituân thủ khi tiến hành xác minh, đó là:

2.2.1 Nguyên tắc xác minh điều kiện thi hành án một cách trực tiếp

Xác minh điều kiện THA một cách trực tiếp là nguyên tắc quan trọng mà Chấphành viên phải tuân thủ khi tiến hành XMĐKTHA của người phải THA Việc xác minhtrực tiếp đòi hỏi Chấp hành viên phải xác minh cụ thể hiện trạng tài sản, điều kiện kinh

tế, không chỉ căn cứ vào nội dung trình bày của đương sự hoặc xác nhận của Ủy bannhân dân xã, phường, thị trấn Nếu không trực tiếp xác minh, thì Chấp hành viên khôngthể biết chính xác các điều kiện THA của đương sự được Và thông qua đó, Chấp hành

Trang 35

viên sẽ khó mà quyết định được là sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế nào, hoặc là sẽ kêbiên tài sản nào (tài sản thuộc sở hữu riêng hay tài sản thuộc sở hữu chung của ngườiphải THA với người khác, tài sản là động sản hay tài sản là bất động sản của người phảiTHA) hoặc khi đã kê biên tài sản chung của người phải THA thì Chấp hành viên sẽ kêbiên toàn bộ hay chỉ kê biên phần tài sản có giá trị tương ứng với nghĩa vụ của ngườiphải THA Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều nơi Chấp hành viên vẫn sử dụng phiếu điều trakhả năng kinh tế, với sự xác nhận của cơ quan công an địa phương về tình hình kinh tếcủa người phải THA Tuy nhiên, đây chỉ là một việc làm mang tính bắc cầu, có nghĩa làChấp hành viên có thể sử dụng phiếu điều tra khả năng kinh tế làm cơ sở để lập phương

án xác minh cụ thể, phiếu điều tra khả năng kinh tế không thể thay thế được biên bản xácminh Trong hồ sơ THA, Chấp hành viên có thể lưu phiếu điều tra này, nhưng không thểcăn cứ vào phiếu điều tra khả năng kinh tế để ra các quyết định THA hoặc thực hiện cácquá trình THA tiếp theo

Trực tiếp xác minh đối với Chấp hành viên và thư ký còn thể hiện nhiệm vụ, quyềnhạn của chấp hành viên được quy định tại khoản 4, điều 20 Luật thi hành án dân sự được

sửa đổi, bổ sung năm 2014: “Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi

hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án”.Trong quá trình tổ

chức thi hành án, Chấp hành viên và thư ký được chấp hành viên phân công thực hiệnviệc xác minh, là người được nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định cóhiệu lực hoặc chưa có hiệu lực của các cấp Tòa án nhân dân, Hội đồng xử lý vụ việc cạnhtranh, Trọng tài thương mại và bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, quyếtđịnh trọng tài nước ngoài được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Namtheo quy định Chấp hành viên phải chịu trách nhiệm toàn bộ kết quả thi hành của hồ sơthi hành án đã được Thủ trưởng cơ quan thi hành án giao cho Trong khi đó kết quả thihành án phụ thuộc rất nhiều vào kết quả xác minh; kết quả xác minh có chính xác, đầy đủkịp thời giúp chấp hành viên giải quyết hồ sơ đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền,nghĩa vụ của các bên thi hành án Đây chính là yêu cầu từ thực tiễn đặt ra cho chấp hànhviên, thư ký thi hành án phải trực tiếp xác minh

Trong quá trình tổ chức thi hành án, căn cứ vào tính chất của mỗi vụ việc chấp hànhviên, thư ký thi hành án phải trực tiếp xác minh để có các biện pháp áp dụng kịp thời,hiệu quả và đúng pháp luật Và đa số trường hợp thì Chấp hành viên đều phải xác minhtrực tiếp Việc xác minh trực tiếp đòi hỏi Chấp hành viên phải xác minh cụ thể hiện trạngtài sản, điều kiện kinh tế, thu nhập của người phải thi hành án, không chỉ căn cứ vào nộidung trình bày của đương sư hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã Xác minh trựctiếp, cụ thể là vô cùng quan trọng bởi lẽ Chấp hành viên sẽ khó mà quyết định được việc

áp dụng biện pháp cưỡng chế nào hoặc sẽ kê biên tài sản nào nếu tài sản được xác minhthuộc quyền sở hữu riêng hay sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác,tài sản là động sản hay tài sản là bất động sản của người phải thi hành án hoặc khi đã kê

Trang 36

biên tài sản chung của người phải thi hành án Chấp hành viên sẽ kê biên toàn bộ hay chỉ

kê biên phần tài sản có giá trị tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án

Đây vừa là yêu cầu và cần thiết để Chấp hành viện thực hiện quyền của mình, tạonên một phong cách làm việc nghiêm túc, chuyên nghiệp, tạo sự tin tưởng cho ngườicung cấp thông tin

2.2.2 Nguyên tắc xác minh điều kiện thi hành án chặt chẽ nhanh chóng, kịp thời, đúng thời hạn luật định

Để bảo đảm quyền của các bên THA, giảm chi phí phát sinh không cần thiết thìviệc XMĐKTHA cũng được tiến hành nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm thời hạn xác minhđối với từng trường hợp, có như vậy mới nâng cao được hiệu quả hoạt động THA Tínhkịp thời ở đây thể hiện sự đúng lúc, không chậm trễ của việc xác minh Khi có đượcthông tin về tài sản, Chấp hành viên, thư ký thi hành án phải kịp thời xác minh, có nhưvậy mới ngăn chặn kịp thời những hành vi tẩu tán tài sản của đương sự, nhất là tài khoảnhoặc động sản.Mặt khác, tính kịp thời còn thể hiện sự tuân thủ pháp luật của Chấp hànhviên đã được quy định tại khoản 1, Điều 44 Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm

2014 có sự thay đổi về thời điểm xác minh: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời

hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay.

Tính kịp thời, đầy đủ còn thể hiện ở chỗ, theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật

THADS được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì: “Người phải thi hành án phải kê khai

trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai của mình" Vấn đề này

được làm rõ tại Điều 9 Nghị định 62/2015/NĐ-CP Chấp hành viên phải nêu rõ trongbiên bản xác minh điều kiện thi hành án về việc đương sự kê khai hoặc không kê khai tàisản, thu nhập, điều kiện thi hành án.10Tính chính xác và đầy đủ là một yêu cầu của mộtbiên bản xác minh và quá trình tác nghiệp của một hồ sơ Sự chính xác và đầy đủ ở đâykhông phải là số lượng, trọng lượng,…mà chính là hàm lượng thông tin được thể hiệnbằng ngôn ngữ pháp luật qua kết quả xác minh Thông qua các thông tin chính xác vàđầy đủ giúp ít rất nhiều cho chấp hành viên khi áp dụng các biện pháp thi hành án (thỏathuận, tự nguyện hay cưỡng chế) Đặc biệt, tính chính xác của kết quả xác minh giúpChấp hành viên trong việc xây dựng kế hoạch cưỡng chế sát tình hình vụ việc, dự liệucác tình huống có thể xảy ra trong khi cưỡng chế gần với thực tiễn, từ đó Chấp hành viên

có thể chủ động trước các tình huống có thể xảy ra

Mỗi biên bản xác minh rất cần sự chính xác và đầy đủ cả hình thức (mẫu biên bảnxác minh, chữ ký, dấu), có những vụ việc chỉ cần một biên bản xác minh là giải quyếtđược hồ sơ, nhưng cũng có hồ sơ phải có rất nhiều biên bản xác minh mới giúp chấphành viên có đủ cơ sở để giải quyết hồ sơ đúng quy định pháp luật Tính chính xác vàđầy đủ của công tác xác minh đòi hỏi Chấp hành viên phải luôn trăn trở để tìm ra nhữngcâu trả lời một cách xác đáng đối với những vụ việc cụ thể Kết quả xác minh phải tránhviệc thiếu chính xác và không đầy đủ

29

Trang 37

Nguyên tắc XMĐKTHA chặt chẽ và đầy đủ là nguyên tắc rất quan trọng, Chấphành viên không được vi phạm trong quá trình tác nghiệp của mình Nếu vi phạm nguyêntắc này thì Chấp hành viên sẽ phải bồi thường nếu gây ra thiệt hại Trên thực tế, có những

vụ việc do công tác xác minh thiếu chính xác, thiếu đầy đủ mà Chấp hành viên đã đưa ramột quyết định không đúng Hoặc có trường hợp do biên bản xác minh của Chấp hànhviên thiếu chặt chẽ, thiếu đầy đủ nên khi Thủ trưởng cơ quan THADS căn cứ vào để ápdụng các điều luật để ra quyết định trả lại đơn yêu cầu THA, quyết định ủy thác, quyếtđịnh tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ THA… thiếu chính xác, gây thiệt hại cho đươngsự

Ví dụ: Bản án dân sự sơ thẩm số 128/2018/DS-ST ngày 01/02/2019 của TANDhuyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tuyên buộc ông Nguyễn Văn A phải bồi thường cho ôngNguyễn Văn B số tiền 100.000.000 đồng Quá trình xác minh, Chấp hành viên chỉ pháthiện ông A có tài sản duy nhất là chiếc xe tải trị giá 110.000.000 đồng có giá trị THA Vàtheo trình bày của ông A, thì đây là tài sản của ông mua và do ông đứng tên Đối chiếutheo quy định, Chấp hành viên tiến hành kê biên, thẩm định và bán đấu giá thành tài sảntrên và đã có người mua trúng đấu giá Sau khi giao tài sản cho người mua trúng đấu giá

và giao tiền cho người được THA đúng theo quyết định THA (chi đủ 80.000.000 đồngcho ông B), vợ ông A là bà Trần Thị C khiếu nại việc kê biên tài sản của Chấp hành viên,yêu cầu hủy kết quả kê biên và bán đấu giá, vì tài sản nói trên là do cha ruột của bà muacho vợ chồng bà làm của hồi môn, ông A chỉ là người đứng tên, quyền sở hữu tài sản làcủa chung hai vợ chồng Nếu Chấp hành viên xử lý tài sản thì chỉ được quyền xử lý 1/2giá trị tài sản của ông A, 1/2 giá trị tài sản còn lại là của bà, Chấp hành viên không đượcquyền xử lý, và nếu có xử lý thì phải thông báo cho bà biết và thông báo quyền ưu tiênmua tài sản này cho bà Nay, bà nộp số tiền 55.000.000 đồng để THA cho ông A và yêucầu cơ quan THADS phải trả lại tài sản cho bà, nếu không bà sẽ khởi kiện yêu cầu bồithường Hiện nay, cơ quan THADS đang tiến hành thỏa thuận với bà C theo trình tự, thủtục quy định về trách nhiệm bồi thường trong THADS

Qua đó cho thấy, việc XMĐKTHA một cách chặt chẽ, đầy đủ là một nguyên tắc rấtquan trọng mà Chấp hành viên phải tuân thủ khi tiến hành XMĐKTHA nếu không muốnmắc sai lầm ở những giai đoạn THA tiếp theo Điều này đòi hỏi ở Chấp hành viên mộttinh thần trách nhiệm rất cao nhằm đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ được phân công

2.3 Điều kiện để tiến hành xác minh điều kiện thi hành án

Theo quy định tại Điều 44 Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy

định về xác minh điều kiện thi hành án như sau: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết

thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh.”

Như vậy, đã có những quy định cụ thể về việc bắt buộc Chấp hành viên phải xácminh điều kiện thi hành án, liên quan đến xác minh trong trường hợp người được thihành án làm đơn yêu cầu thi hành án Luật THADS được sửa đổi, bổ sung năm 2014 cóquy định mới về việc người làm đơn yêu cầu thi hành án không bắt buộc phải tự mình

Ngày đăng: 06/07/2020, 09:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w