Báo cáo thực tập TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG – THỰC TIỄN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ KON TUM.....................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG PHÂN HIỆU ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TẠI KON TUM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Ba tháng thực tập ngắn ngủi là cơ hội cho em tổng hợp và hệ thống hóa lại nhữngkiến thức đã học, đồng thời kết hợp với thực tế để nâng cao kiến thức chuyên môn Tuychỉ có ba tháng thực tập, nhưng qua quá trình thực tập, em đã được mở rộng tầm nhìn vàtiếp thu rất nhiều kiến thức thực tế Từ đó em nhận thấy, việc cọ sát thực tế là vô cùngquan trọng – nó giúp sinh viên xây dựng nền tảng lý thuyết được học ở trường vững chắchơn Trong quá trình thực tập, từ chỗ còn bở ngỡ cho đến thiếu kinh nghiệm, em đã gặpphải rất nhiều khó khăn nhưng với sự giúp đỡ tận tình của cô Đào Thị Nhung (GVHD) và
sự nhiệt tình của các cô chú, anh chị trong đơn vị thực tập đã giúp em có được nhữngkinh nghiệm quý báu để hoàn thành tốt kì thực tập này cũng như viết lên bài báo cáo thựctập
Trong quá trình thực tập, cũng như là trong quá trình làm bài báo cáo đề án, khótránh khỏi sai sót, rất mong các thầy, cô bỏ qua Đồng thời do trình độ lý luận cũng nhưkinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót,
em rất mong nhận được ý kiến đóng góp thầy, cô để em học thêm được nhiều kinhnghiệm
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiêm cứu của riêng em, các kết quả, số liệu,trích dẫn nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa ai công bố trong bất cứcông trình nghiên cứu nào khác Những nội dung trong luận văn có sử dụng tài liệu thamkhảo đều trích dẫn nguồn đầy đủ
Học viên Nguyễn Thị Thúy Hằng
Trang 5MỤC LỤ
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết 3
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Bố cục 5
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP 5
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của đơn vị 5
1.1.1 Tổng quan về đơn vị thực tập 5
1.1.2 Lịch sử hình thành của đơn vị 5
1.2 Sơ đồ tổ chức 6
1.3 Các quy định/nội quy của đơn vị thực tập 6
1.3.1 Vị trí và chức năng 6
1.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn 6
CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG TẠI UBND CẤP HUYỆN 9
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 9
2.1.1 Khái niệm về hoạt động công chứng 9
2.1.2 Đặc điểm về hoạt động công chứng 10
2.1.3 Nguyên tắc thực hiện công chứng 11
2.1.4 Lược sử hình thành việc công chứng 15
2.2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG TẠI UBND CẤP HUYỆN 18
2.2.1 Thủ tục thực hiện hoạt động công chứng 18
2.2.2 Thẩm quyền công chứng và người yêu cầu công chứng 22
2.2.3 Văn bản công chứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng 26
CHƯƠNG III THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG TẠI UBND THÀNH PHỐ KON TUM 27
3.1 Thực trạng hoạt động công chứng tại UBND Thành phố Kon Tum 27
3.1.1 Thực trạng công Chứng bản sao giấy tờ 27
3.1.2 Thực trạng công chứng hợp đồng giao dịch 28
3.2 Đánh giá hoạt động công chứng tại UBND Thành phố Kon Tum 28
Trang 63.3 Một số kiến nghị giải giáp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động công 30 chứng 30 KẾT LUẬN 32
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết
Một trong những nội dung của quá trình đổi mới do Đảng ta đề ra là: Cải cách nềnhành chính nhà nước là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước trong nhữngnăm trước mắt Mục tiêu của cải cách nền hành chính là nhằm xây dựng nền hành chínhhiện đại, trong sạch, vững mạnh, một nền hành chính phục vụ nhân dân
Hoạt động công chứng trong những năm vừa qua đã đóng góp một phần tích cựcvào việc lập lại trật tự trong việc chứng nhận các hoạt động giao dịch, bảo đảm an toànpháp lý, góp phần đấu tranh phòng chống vi phạm và tội phạm Tuy mới được thành lậptrong những năm gần đây, song hoạt động công chứng đã đi vào cuộc sống và có ý nghĩathiết thực đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, hoạt động công chứngkhá sôi động diễn ra trên phạm vi toàn quốc
Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của hoạt động công chứng, trong những nămqua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản về công chứng Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 đã đề ra nhiệm vụ: Hoàn thiện chế định công chứng, xác định rõ phạm vi của côngchứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng, xây dựng mô hình quản lý nhà nước vềcông chứng theo hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước điphù hợp để từng bước xã hội hóa công việc này Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng,nhiều văn bản pháp luật về công chứng được ban hành, trong đó phải kể đến Luật Côngchứng được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2006, tiếp đến là Luật Côngchứng được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 20/6/2014 có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 01/01/2015 Kể từ khi Luật Công chứng được ban hành, hoạt động công chứngtrong cả nước nói chung cũng như trên địa bàn thành phố Kon Tum nói riêng đã cónhững chuyển biến mạnh mẽ, số lượng công chứng viên và tổ chức hành nghề côngchứng tăng lên rõ rệt, ngoài các Phòng công chứng do Nhà nước thành lập còn có cácVăn phòng công chứng do công chứng viên thành lập Tuy nhiên, cùng với việc thực hiệnchủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng, việc tăng về số lượng công chứng viên và
tổ chức hành nghề công chứng cũng làm phát sinh nhiều vấn đề, đó là sự phát triển
“nóng” của các tổ chức hành nghề công chứng, các Văn phòng công chứng phát triển quánhanh và chỉ tập trung ở khu vực trung tâm, nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triểndẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh; vấn đề kiểm soát hoạt động của công chứngviên và chất lượng các văn bản công chứng v.v… Chính vì vậy, việc nghiên cứu thựctrạng hoạt động công chứng và đưa ra các giải pháp nâng cao toàn diện chất lượng hoạtđộng công chứng là một yêu cầu cấp thiết, trước mắt cũng như lâu dài Từ thực tiễn hoạtđộng công chứng ở địa phương, trên cơ sở nghiên cứu lý luận về nhà nước và pháp luật,
em quyết định chọn đề tài “Tìm hiểu pháp luật về hoạt động công chứng – Thực tiễn trên địa bàn thành phố Kon Tum” làm đề án tốt nghiệp với mong muốn là làm sáng tỏ
Trang 8cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt độngcông chứng ở địa phương nói riêng và trên cả nước nói chung
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề án là làm sáng tỏ về mặt lý luận một cách có hệ thống và toàndiện những vấn đề về hoạt động của công chứng trên địa bàn thành phố Kon Tum, trên cơ
sở đó đưa ra những phương hướng , giải pháp thực hiện có hiệu quả hoạt động côngchứng , đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới của Kon Tum nói riêng và củanước ta nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật công chứng trênđịa bàn thành phố Kon Tum trong thời gian qua, những giải pháp chủ yếu để từng bướchoàn thiện pháp luật công chứng trong thời gian tới
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nướcbằng pháp luật về công chứng trên địa bàn thành phố Kon Tum từ khi Luật Công chứng
có hiệu lực (ngày 01/01/2015) đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như phương pháp so sánh,thống kê, phân tích, tổng hợp, về phương tiện tài liệu nghiên cứu: các văn bản pháp luậthiện hành điều chỉnh các vấn đề liên quan tới hoạt động công chứng, các chính sách củaNhà nước về công chứng và xem xét về mặt lý luận và thực tiễn
5 Bố cục
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề án được chia làm 4 chương, mỗi chương sẽ tậptrung giải quyết một vấn đề liên quan đến đề tài:
Chương 1: Tổng quan về đơn vị thực tập
Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động công chứng và Quy định của pháp luật vềhoạt động công chứng
Chương 3: Thực tiễn hoạt động công chứng trên địa bàn thành phố Kon Tum
Trang 9NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của đơn vị
1.1.1 Tổng quan về đơn vị thực tập
- Tên đơn vị: Phòng Tư Pháp thành phố Kon Tum
- Địa chỉ trụ sở: 294 Lê Hồng Phong - thành phố Kon Tum - Tỉnh Kon Tum
2 Phòng Tư pháp chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chếcông chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của Ủy ban nhân dân thành phố, đồng
PHÓ TRƯỞNG PHÒNG Phạm Thị Bích Thủy
TRƯỞNG PHÒNG Phạm Văn Nghĩa
CHUYÊN VIÊN
Lê Viết Sĩ CHUYÊN VIÊN
Trương Nguyên Thảo
Trang 10thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Sở Tưpháp.
1.3.2 Nhiệm vụ và quyền hạn
1 Trình Ủy ban nhân dân thành phố ban hành quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kếhoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm về lĩnh vực tư pháp; chương trình, biện pháp tổ chứcthực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng, hoàn thiện phápluật về các lĩnh vực thuộc phạm vi thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân và Ủyban nhân dân thành phố trong lĩnh vực tư pháp
2 Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố dự thảo các văn bản về lĩnh vực tưpháp thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố
3 Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch tronglĩnh vực tư pháp sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
4 Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn nghiệp vụ về công tác tư pháp ở cấpxã
5 Về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật:
a) Phối hợp xây dựng quyết định, chỉ thị thuộc thẩm quyền ban hành của Ủy bannhân dân thành phố do các cơ quan chuyên môn khác thuộc Ủy ban nhân dân thành phốchủ trì xây dựng;
b) Thẩm định dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền banhành của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố; góp ý dự thảo văn bản quyphạm pháp luật của Hội đồng nhân dân thành phố theo quy định của pháp luật;
c) Tổ chức lấy ý kiến nhân dân về các dự án luật, pháp lệnh theo sự chỉ đạo của
Ủy ban nhân dân thành phố và hướng dẫn của Sở Tư pháp
6 Về theo dõi thi hành pháp luật:
a) Xây dựng và trình Ủy ban nhân dân thành phố ban hành và tổ chức thực hiện
Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn;
b) Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dânthành phố và công chức chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiệncông tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại địa phương;
c) Tổng hợp, đề xuất với Ủy ban nhân dân thành phố về việc xử lý kết quả theodõi tình hình thi hành pháp luật;
d) Theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực tư pháp thuộc phạm viquản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân thành phố
7 Về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật:
a) Giúp Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố tự kiểm tra văn bản doHội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố ban hành; hướng dẫn công chứcchuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện tự kiểm tra văn bản quy phạm phápluật do Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành;
b) Thực hiện kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủyban nhân dân cấp xã theo quy định của pháp luật; trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân thànhphố quyết định các biện pháp xử lý văn bản trái pháp luật theo quy định của pháp luật
8 Tổ chức triển khai thực hiện việc rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm phápluật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố theo quy định của pháp luật;đôn đốc, hướng dẫn, tổng hợp kết quả rà soát, hệ thống hóa chung của các cơ quanchuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố và của Ủy ban nhân dân cấp xã
9 Về phổ biến, giáo dục pháp luật và hòa giải ở cơ sở:
Trang 11a) Xây dựng, trình Ủy ban nhân dân thành phố ban hành chương trình, kế hoạchphổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức thực hiện sau khi chương trình, kế hoạch đượcban hành;
b) Theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra công tác phổ, biến giáo dục pháp luật tại địaphương; đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhân dân thànhphố, cơ quan, tổ chức có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc tổ chức NgàyPháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên địa bàn;
c) Thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp phổ biến, giáodục pháp luật thành phố;
d) Xây dựng, quản lý đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luậttheo quy định của pháp luật;
đ) Hướng dẫn việc xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật ở cấp xã và ởcác cơ quan, đơn vị khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật;
e) Tổ chức triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về hoà giải ở cơ sở
10 Giúp Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện nhiệm vụ về xây dựng xã, phường,thị trấn tiếp cận pháp luật theo quy định
11 Về quản lý và đăng ký hộ tịch:
a) Chỉ đạo, kiểm tra việc tổ chức thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịchtrên địa bàn; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý và đăng ký hộ tịch cho công chức Tưpháp - Hộ tịch cấp xã;
b) Giúp Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy định củapháp luật; đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố quyết định việc thu hồi, hủy bỏ những giấy
tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trái với quy định của pháp luật (trừ trường hợpkết hôn trái pháp luật);
c) Quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản sao tríchlục hộ tịch theo quy định;
d) Quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch; lưu trữ Sổ hộ tịch, hồ sơ đăng
ký hộ tịch theo quy định pháp luật
12 Thực hiện nhiệm vụ quản lý về nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật
13 Về chứng thực:
a) Hướng dẫn, kiểm tra về nghiệp vụ cho công chức chuyên môn thuộc Ủy bannhân dân cấp xã trong việc cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính,chứng thực chữ ký;
b) Thực hiện cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thựcchữ ký theo quy định của pháp luật
14 Về bồi thường nhà nước:
a) Đề xuất, trình Ủy ban nhân dân thành phố xác định cơ quan có trách nhiệm bồithường trong trường hợp người bị thiệt hại yêu cầu hoặc chưa có sự thống nhất về việcxác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật;
b) Hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc giải quyết bồi thường; c) Cung cấp thông tin, hướng dẫn thủ tục hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện quyềnyêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính;
d) Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc giải quyết bồi thường, chi trả tiền bồi thường
và thực hiện trách nhiệm hoàn trả theo quy định của pháp luật đối với trường hợp Ủy bannhân dân cấp xã có trách nhiệm giải quyết bồi thường
15 Thực hiện nhiệm vụ trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật
16 Về quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính:
Trang 12a) Giúp Ủy ban nhân dân thành phố theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và báo cáo côngtác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại địa phương;
b) Đề xuất với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiến nghị cơ quan có thẩm quyền nghiêncứu, xử lý các quy định xử lý vi phạm hành chính không khả thi, không phù hợp với thựctiễn hoặc chồng chéo, mâu thuẫn với nhau;
c) Hướng dẫn nghiệp vụ trong việc thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hànhchính;
d) Thực hiện thống kê về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi quản lý của địaphương
17 Giúp Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về thi hành
án dân sự, hành chính theo quy định của pháp luật và quy chế phối hợp công tác giữa cơquan tư pháp và cơ quan thi hành án dân sự địa phương do Bộ Tư pháp ban hành
18 Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ quản lý nhà nước vềcông tác tư pháp đối với công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã, các tổ chức và cá nhânkhác có liên quan theo quy định của pháp luật
19 Tổ chức ứng dụng khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữphục vụ công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Phòng
20 Thực hiện công tác thông tin, thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất về tìnhhình thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của Ủy ban nhân dân thành phố và Sở
Tư pháp
21 Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, tham gia thanh tra việcthực hiện pháp luật trong các lĩnh vực quản lý đối với tổ chức, cá nhân trên địa bàn; giảiquyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong hoạt động tư pháp trênđịa bàn theo quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân thành phố
22 Quản lý tổ chức bộ máy, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạchcông chức, thực hiện chế độ tiền lương, chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật,đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với công chức thuộc phạm vi quản lýcủa Phòng theo quy định của pháp luật, theo phân công của Ủy ban nhân dân thành phố
23 Quản lý và chịu trách nhiệm về tài sản, tài chính của Phòng theo quy định củapháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân thành phố
CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG TẠI UBND CẤP HUYỆN
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG
2.1.1 Khái niệm về hoạt động công chứng
Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng
chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản(sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch); Tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hộicủa bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nướcngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải côngchứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng (Theo khoản 1 Điều 2 LuậtCông chứng 2014)
Trang 13Trải qua những thời kỳ khác nhau, định nghĩa về hoạt động công chứng có nhữngthay đổi nhất định, tuy nhiên, có thể hiểu một cách nôm na nhất, công chứng là:
- Việc nhân danh nhà nước đứng ra làm chứng
- Xác thực tính hợp pháp của giao dịch, văn bản giấy tờ, bản dịch
- Ngăn ngừa rủi ro pháp lý, đảm bảo sự công bằng cho các bên tham gia giao dịch
Ví dụ: Bạn muốn mua một cái nhà Hoạt động công chứng sẽ giúp bạn xác định và xác
thực được tính hợp pháp của giao dịch mua bán nhà đó Bạn sẽ được bảo đảm rằng việcmua bán diễn ra hợp pháp, tài sản, con người, năng lực pháp luật và ý chí của các bêntham gia giao dịch là phù hợp với quy định của pháp luật
Trước đây, nói đến công chứng thì đa số mọi người đều nghĩ đến việc sao y bảnchính văn bản, giấy tờ Tuy nhiên, việc chứng nhận bản sao chỉ là một mảng trong hoạtđộng công chứng Ngày nay, người dân đã biết đến công chứng nhiều hơn qua hoạt độngmua bán, chuyển nhượng nhà đất, thế chấp vay vốn ngân hàng
Theo quy định của Luật Công chứng thì hoạt động công chứng gồm có:
- Chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằngvăn bản
- Chứng nhận bản dịch từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nướcngoài sang tiếng Việt
- Chứng nhận chữ ký
- Chứng nhận sao y bản chính giấy tờ, văn bản
2.1.2 Đặc điểm về hoạt động công chứng
2.1.2.1 Hoạt động của công chứng vừa mang tính công quyền vừa mang tính chất dịch vụ công
Tính công quyền thể hiện ở chỗ công chứng viên của phòng công chứng hay cácvăn phòng công chứng đều do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để dịch thuật công chứngcác hợp đồng giao dịch giữa các tổ chức, công dân theo quy định của pháp luật Khi tácnghiệp, công chứng viên nhân danh nhà nước thực thi công việc Hoạt động công chứngcòn mang tính chất dịch vụ công tức là thực hiện một loại dịch vụ của Nhà nước nhưngđược Nhà nước giao cho tổ chức hành nghề công chứng đảm nhiệm, đó là công chứngcác hợp đồng giao dịch mà các tổ chức và cá nhân yêu cầu Một trong những nguyên tắc
cơ bản của dịch vụ công
Hoạt động này nhằm hướng tới các lợi ích sau:
- Lợi ích của các bên tham gia giao dịch: Công chứng giúp cho các tổ chức, cá nhânthực hiện các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại theo đúng pháp luật, nhờ đó giảm
Trang 14thiểu tranh chấp, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham giagiao dịch.
- Lợi ích của nhà nước: Hoạt động công chứng góp phần làm cho các giao dịch dân
sự, kinh tế, thương mại được thực hiện theo đúng khuôn khổ của pháp luật, góp phầntăng cường pháp chế XHCN
Công chứng viên có sự độc lập, trong tác nghiệp chuyên môn, công chứng viênkhông chịu trách nhiệm trước các cơ quan cơ quan cấp trên hay trước trưởng phòng,trưởng văn phòng mà tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Vì vậy, trong tác nghiệpchuyên môn, công chứng viên không bị lệ thuộc vào cấp trên
2.1.2.2 Là hoạt động thể hiện tính chuyên môn cao
Công chứng viên có sự độc lập, trong tác nghiệp chuyên môn, công chứng viênkhông chịu trách nhiệm trước các cơ quan cơ quan cấp trên hay trước trưởng phòng,trưởng văn phòng mà tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Vì vậy, trong tác nghiệpchuyên môn, công chứng viên không bị lệ thuộc vào cấp trên
- Lợi ích của tổ chức hành nghề công chứng: Khi thực hiện hoạt động công chứng, tổchức hành nghề công chứng được thu phí và thù lao công chứng theo qui định
2.1.2.3 Chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước
Các tổ chức hành nghề công chứng được Nhà nước chuyển giao cho một phầnquyền của Nhà nước để thực hiện chức năng của Nhà nước trong một lĩnh vực cụ thể làcông chứng các hợp đồng giao dịch Đồng thời, Nhà nước cũng chuyển giao cho các tổchức hành nghề công chứng một trách nhiệm và nghĩa vụ lớn là phải thực hiện côngchứng một cách đúng pháp luật và đảm bảo được lợi ích của Nhà nước
Công chứng, chứng thực có tầm ảnh hưởng rất lớn và quan trọng đến đời sống, xãhội và phát triển kinh tế Bởi trong cuộc sống đời thường cũng như dân sự, kinh tế,thương mại diễn ra nếu không suôn sẽ thì các đương sự tìm, kiếm chứng cứ, hoặc là đẻbên vực lý lẽ của mình, hoặc là bác bỏ lập luận của đối phương
Để phòng ngừa các tranh chấp, đảm bảo an toàn pháp lý cho các quan hệ giao dịchdân sự, kinh tế, thương mại mà đương sự tham gia, họ cần đến chứng cứ công chứng –lọa chứng cứ xác thực, chứng cứ đáng tin cậy hơn hẳn các loại giấy tờ không có côngchứng hoạt tự trình bày bằng miệng
Công chứng là một hoạt động quan trọng, một thể chế không thể thiếu được củaNhà nước pháp quyền Thông qua hoạt động công chứng và các quy định hướng dẫn,điều chỉnh pháp luật trở thành hiện thực sinh động của đời sông xã hội, thành hành vi xửphạt theo đúng pháp luật
Do đó, xét trên bình diện công dân thì văn bản công chứng là một công cụ hữuhiệu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, phòng ngừa tranh chấp, tạo ra sự ổn định của
Trang 15quan hệ giao dịch dân sự, tài sản, bảo đảm trật tự, kỷ cương Mặt khác, về phương diệnNhà nước thì văn bản công chứng tạo ra một bằng chứng xác thực, kịp thời không ai cóthể phản bác, chối cãi, trừ trường hợp có ý kiến cảu người thứ ba và được quá trình tố tụcho là không đúng.
Về giá trị pháp lý, văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liênquan, trong trường hợp các bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ thì bên kia cosquyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bêntham gia hợp đồng có thỏa thuận khác Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; nhữngtình tiết, sự kiện trong văn bản công chứng không phải phải chứng minh, trừ trường hợp
bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu
Trong phát triển kinh tế, các văn bản pháp lý được công chứng tạo điều kiện thuậnlợi hơn cho cá nhân, tổ chức tiện lợi trong giao dịch hơn Đồng thời, đay là cơ sở pháp lý
đẻ giải quyết tranh chấp khi buộc các bên tham gia giao dịch phải xác nhận tính xác thựccủa hợp đồng cũng như địa vị, trách nhiệm pháp lý trong tham gia giao dịch Vì vậy, việcbắt buộc công chứng các loại hợp đồng trong giao dịch liên quan đến kinh tế sẽ tránhđược nhiều rắc rối, kiện cáo phát sinh
2.1.3 Nguyên tắc thực hiện công chứng
Luật công chứng hiện hành đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2014, có hiệu lực từngày 01 tháng 01 năm 2015 Đã quy định về quy tắc hành nghề công chứng Mục đíchnhằm xây dựng đội ngũ công chứng viên khi hành nghề công chứng phải luôn tuân thủpháp luật, có đạo đức tốt, thành vụ về chuyên môn nghiệp vụ, tận tụy với công việc, cótrình độ chuyên môn sâu và có đủ năng lực để thi hành các nhiệm vụ được giao Tronghoạt động công chứng hợp đồng, giao dịch dân sự nói chung phải tuân thủ theo nguyêntắc nhất định Nguyên tắc hành nghề công chứng được quy định tại Điều 4 Luật Côngchứng năm 2014 như sau: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; Khách quan, trung thực;Tuân thủ các quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; Chịu trách nhiệm trước pháp luật
và người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng
Hiện nay chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng đang ngày càng phát triển
và mang lại nhiều kết quả trong quá trình thực hiện Chính vì vậy, quy định về nguyên tắchành nghề công chứng lại càng cần thiết và quan trọng trong hoạt động công chứng Bởi
vì hoạt động công chứng trong đó công chứng viên là người được Nhà nước giao quyềnthay mặt Nhà nước chứng nhận tính xác thực và tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịchbằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc tổ chức, cá nhân tựnguyện yêu cầu công chứng Thông qua hoạt động nghề công chứng, công chứng viên làngườu góp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầucông chứng khi tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch tại tổ chứng hành nghề côngchứng Do vậy, việc Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; Khách quan, trung thực; Tuân thủ
Trang 16các quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; Chịu trách nhiệm trước pháp luật và ngườiyêu cầu công chứng về văn bản công chứng là những nguyên tắc không thể thiếu đối vớihoạt động hành nghề công chứng trong giai đoạn hiện nay.
Nguyên tắc hành nghề công chứng trong Luật công chứng quy định công chứngviên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng Nguyên tắc này đècao trách nhiệm, nhiệm vụ, vai trò của công chứng viên khi thi hành công việc đượcgiao Đồng thời đây cũng là nguyên tắc để công chứng viên cần thận trọng khi xem xét
ký vào văn bản công chứng
2.1.3.1 Nguyên tắc Nhà nước quản lý về tổ chức và hoạt động công chứng
Theo quy định của pháp luật ở nước ta về công chứng thì công chứng là một tổchức, là một bộ phận thuộc hệ thống hỗ trợ các cơ quan Tư pháp Phòng công chứng có
tư cách pháp nhân, có trụ sở riêng, tài khoản riêng và có con dấu theo quy định của phápluật Phòng công chứng có trưởng phòng, phó trưởng phòng, công chứng viên, chuyênviên và các nhân viên hành chính, như vậy phòng công chứng hội các điều kiện để là một
tổ chức Cơ quan công chứng hiện nay có đặc thù riêng, không ơhair là cơ quan quản lýNhà nước cũng không phải là cơ quan tư pháp mà là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp,
có quan hệ chặt chẽ với cơ quan tư pháp, là một tổ chức áp dụng pháp luật một cáchchuản mực, người thực hiện hành vi công chứng là công chứng viên được Nhà nước đàotạo và tuyển dụng, mục đích quan trọng mà công chứng viên thực hiện và mong muốn đạtđược là tính khách quan, trung thực, chính xác chứ không phải là mục đích cá nhân, kinhdoanh, cạnh tranh Nguyên tắc Nhà nước quản lý là nguyên tắc chung cho tất cả các cơquan, tổ chức nhà nước Đối với quản lý công chứng thì Nhà nước thể hiện sự quản lý ởchỗ Phòng công chứng là một cơ quan nhà nước hoạt động theo quy chế riêng với mụcđích là phục vụ lợi ích công, dịch vụ công
Theo pháp luật hiện hành, hiện nay có hai loại cơ quan khác nhau ở nhà nước tathực hiện công chứng là các phòng công chứng nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc trungương và cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài
Bộ tư pháp quản lý về tổ chức và hoạt động công chứng trong phạm vi toàn quốc,
ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý công tác công chứng ở địaphương mình Sở tư pháp giúp ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý côngchứng tại địa phương Chính phủ thống nhất quản lý tổ chức và hoạt động công chứng.Phòng công chứng do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quyếtđịnh thành lập, phân bổ kinh phí và đảm bảo cơ sở vật chất cho Phòng công chứng hoạtđộng Những người thực hiện hành vi công chứng là công chức nhà nước Nguyên tắcnày xuất phát từ quan điểm hoạt động công chứng phải thể hiện vai trò của Nhà nướctrong việc chứng nhận tính xác thực
Trang 172.1.3.2 Nguyên tắc độc lập thực hiện công chứng và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật
Nguyên tắc này cũng được quy định Điều 2 khoản 3 Nguyên tắc hành nghề côngchứng (Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp) “Chịutrách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng, bồi thường thiệt hại do lỗi của mìnhtrong trường hợp công chứng dẫn đến thiệt hại cho người yêu cầu công chứng”
Việc công chứng ở nước ta được thực hiện theo nguyên tắc nhà nước tổ chức quản
lý, cho nên những người có thẩm quyền thực hiện hành vi công chứng, chứng thực phảiđộc lập trong khi thực hiện nhiệm vụ, hoạt động công chứng không bị chi phối hoặc bị ápđặt bởi bất cứ một tổ chức hay cá nhân nào Người thực hiện hành vi công chứng phảichịu trách nhiệm cá nhân về công việc mà mình thực hiện Công chứng là lĩnh vực hoạtđộng tư pháp chuyên sâu, đòi hỏi phải có viên chức chuyên trách là công chứng viên thựchiện công việc này Ở nước ta công chứng viên là một chức danh tư pháp, công chứng làmột nghề trong số các bổ trợ tư pháp, công chứng viên được đào tạo và tuyển dụng theomột quy trình chặt chẽ, nếu làm việc trong phòng công chứng thì có ngạch lương riêng.Công chứng viên hoạt động độc lập, tuân theo pháp luật, thủ trưởng cơ quan công chứngkhông chịu trách nhiệm về văn bản công chứng do công chứng viên thực hiện Và nhữngngười có thẩm quyền thực hiện công chứng ở cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam
ở nước ngoài cũng phải chịu trách nhiệm cá nhân về các việc công chứng do mình thựchiện
Theo quy định của luật hiện hành, quan hệ giữa công chứng viên và trưởng phòngcông chứng chỉ là quan hệ hành chính khi được phân công thực hiện các việc côngchứng, còn khi thực hiện các hành vi công chứng thì công chứng viên nhân danh cá nhânmình với tư cách là công chứng viên Chính vì thế, độc lập trong hoạt động công chứng
là nguyên tắc quan trọng xác định trách nhiệm cá nhân đối với hành vi công chứng màmình thực hiện
2.1.3.3 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật xã hội chủ nghĩa Phápchế xã hội chủ nghĩa được hiểu là chế độ tuân thủ nghiêm chỉnh, chính xác hiến pháp vàluật của mọi chủ thể của các quan hệ pháp luật “Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độđặc biệt của đời sống chính trị xã hội, trong đó tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đềuphải tôn trọng và thực hiện một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác”
Công chứng ở nước ta hoạt động theo nguyên tắc việc công chứng phải tuân theo các quy định của pháp luật về công chứng Thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hộichủ nghĩa trong hoạt động công chứng tức là những người thực hiện hành vi công chứng
và những người yêu cầu công chứng phải nghiêm túc thực hiện và tuân theo pháp luật khithực hiện quyền hạn và nghĩa vụ của mình, đồng thời cơ quan quản lý công chứng phải
Trang 18thực hiện việc quản lý điều hành, phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về côngchứng, đảm bảo tính nghiêm minh trong pháp luật Mọi công dân tổ chức có quyền yêucầu thực hiện công chứng trong khuôn khổ pháp luật quy định, bảo đảm dân chủ và côngbằng xã hội, dẫn đến sự thống nhất về kỷ cương, trật tự, hiệu lực quản lý các hoạt độnggiao dịch, tránh sự tùy tiện trong hoạt động chứng nhận của những người có thẩm quyềnthực hiện hành vi công chứng Khi thực hiện công chứng phải tuân thủ các nguyên tắc,trình tự, thủ tục được quy định trong Luật công chứng, các quy định khác của pháp luật
và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc côngnhận Về mặt pháp lý, hoạt động công chứng nhà nước giúp cho công dân, tổ chức thựchiện quyền và bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ Chính vì thế, những người thực hiện hành
vi công chứng có trách nhiệm giải thích cho họ hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợppháp của họ, ý nghĩa pháp lý mà họ yêu cầu Việc từ chối thực hiện công chứng phải theođúng các quy định về trình tự, thủ tục mà luật quy định
2.1.3.4 Nguyên tắc giữ bí mật về nội dung công chứng và những thông tin có liên quan đến việc công chứng
Hoạt động công chứng theo nguyên tắc trên mang tính đặc thù Trong giao tiếp vớingười yêu cầu công chứng, công chứng viên phải nghiêm túc, khách quan, thiện chí vàphải thông tin, tư vấn cho người yêu cầu công chứng hiểu rõ về hệ quả pháp lý phát sinhsau khi hợp đồng, giao dịch được công chứng Ngoài việc đảm bảo tính hợp pháp, hợp lýcủa hợp đồng, giao dịch, công chứng viên còn phải giải đáp cho khách hàng những thắcmắc nhằm đảm bảo cho hợp đồng, giao dịch đúng với ý chí của họ và đảm bảo các bên cónhận thức đúng về pháp luật, giá trị pháp lý của văn bản công chứng Bên cạnh việc thựchiện các nguyên tắc công khai lắng nghe và tôn trọng việc bày tỏ ý chí của công dân và tổchức có yêu cầu công chức, chứng thực, thì công chứng viên phải tuyệt đối giữ bí mật cácthông tin trong hồ sơ yêu cầu công chứng và tất cả thông tin biết được về khách hàngtrong qúa trình hành nghề, cũng như khi không còn là công chứng viên (trừ trường hợpđược sự đồng ý bằng văn bản của người yêu cầu công chứng hoặc pháp luật có qui địnhkhác), và trừ những trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản
về việc cung cấp hồ sơ công chứng hoặc hồ sơ chứng thực phục vụ công tác kiểm tra,thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử có liên quan đến việc công chứng, cơ quan nhà nước cóthẩm quyền công chứng có trách nhiệm cung cấp bản sao văn bản công chứng và cácgiấy tờ khác có liên quan
2.1.3.5 Nguyên tắc bảo đảm tính khách quan, trung thực, chính xác trong hoạt động công chứng
Hoạt động công chứng trong đó công chứng viên là người được Nhà nước giaoquyền, thay mặt Nhà nước chứng nhận tính xác thực và tính hợp pháp của các hợp đồng,giao dịch bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc tổ chức, cánhân tự nguyện yêu cầu công chứng Thông qua hoạt động nghề công chứng, công chứng
Trang 19yêu cầu công chứng khi tham gia giao kết các hợp đồng, giao dịch tại tổ chức hành nghềcông chứng Do vậy, việc tuân thủ hiến pháp, pháp luật; khách quan, trung thực; chịutrách nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng; tuân theo đạo đức hành nghề côngchứng là nguyên tắc không thể thiếu đối với hoạt động hành nghề công chứng trong giaiđoạn hiện nay; trong trường hợp biết hoặc phải biết việc công chứng hoặc nội dung côngchứng là trái pháp luật, đạo đức xã hội thì không được thực hiện công chứng Đây là nộidung quan trọng quyết định tính xác thực trong hoạt đông công chứng Nguyên tắc hànhnghề công chứng đưa công chứng viên vào khuôn phép pháp luật khi hành nghề, đó là:phải thật sự khách quan, trung thực, không thiên vị, không vì lợi ích cá nhân, sự quenthân làm ảnh hưởng đến lợi ích người khác, không công chứng hợp đồng, giao dịch cónội dung trái đạo đức xã hội Công chứng viên phải luôn coi trọng uy tín của mình đốivới công việc chuyên môn, không thực hiện những hành vi làm tổn hại đến danh dự cánhân, thanh danh nghề nghiệp, không sử dụng trình độ chuyên môn, hiểu biết của mìnhtrong công việc để trục lợi, gây thiệt hại cho người yêu cầu công chứng Nguyên tắc hànhnghề công chứng trong Luật công chứng quy định công chứng viên phải chịu trách nhiệmtrước pháp luật về văn bản công chứng Nguyên tắc này đề cao nhiệm vụ, trách nhiệm,vai trò của công chứng viên khi thi hành công việc được giao Đồng thời, đây cũng lànguyên tắc để công chứng viên cần thận trọng khi xem xét ký vào văn bản công chứng.
2.1.4 Lược sử hình thành việc công chứng
Công chứng là một ngành nghề xuất hiện từ rất xưa Cách đây hàng ngàn băn từ
Hy Lạp, Ai Cập, đặc biệt là ở La Mã đã có người làm dịch vụ văn tự Nhưng nghề côngchứng bắt đầu phát triển tương đối vào khoảng thế kỷ XIV, XV Trong thời gian này cóviệc chứng nhận bản sao giấy tờ, nhưng chủ yếu vẫn là chứng nhận hợp đồng, giao dịch
2.1.4.1 Thời kì Pháp đến trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945
Hoạt động công chứng xuất hiện là do yêu cầu của việc quản lý của nhà nước đốivới các hoạt động giao dịch, yêu cầu cung cấp chứng cứ cho cơ quan tài phán Ở nước tatrước thời kì pháp thuộc, chưa thấy xuất hiện thuật ngữ công chứng Nhưng nếu xét vềlịch sử ra đời và phát triển của nhà nước phong kiến ở Việt Nam thì thấy đã có mầmmống về hoạt động công chứng Dưới thời Lê, di chúc được làm dưới dạng chúc thư; để
có giá trị thì chúc thư phải lập thành văn bản dưới hình thức nhất định, nếu người làmchúc thư không biết chữ thì chúc thư phải được xã trưởng viết hộ và chứng thực nhằmngăn ngừa việc gian lận đối với chức thư, đồng thời luật cũng quy định việc xử phạt đốivới việc làm giả mạo giấy tờ
Vào thời kì bảo hộ của pháp, công chứng với tư cách là thể chế bắt đầu xuất hiện
và được áp dụng ở Việt Nam cùng với sự thành lập tổ chức và hoạt động của tòa án Pháptại Việt Nam và được tổ chức theo mô hình công chứng của Pháp Trong giai đoạn này, tổchức và hoạt động công chứng được xác lập bằng sắc lệnh ngày 24/8/1931 của Tổngthống Cộng hòa Pháp về tổ chức công chứng được áp dụng ở Đông Dương Tổ chức và