Tài liệu mô tả những thành tựu của sự nghiệp Đổi mới kinh tế từ năm 1986 đến nay, đồng thời đưa ra một số giải pháp giúp tháo gỡ những tồn đọng trong nền kinh tế Việt Nam. Trên phương diện quản lý kinh tế, đổi mới là quá trình chuyển đổi từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ nền kinh tế hiện vật tự cung tự cấp, khép kín sang nền kinh tế mở với sự thâm nhập của công nghệ hiện đại ngày càng tăng; từ chỗ Nhà nước độc quyền quản lý sang kết hợp giữa Nhà nước và thị trường. Công cuộc đổi mới được triển khai toàn diện trên tất cả các mặt của đời sống xã hội nhưng được đặt trọng tâm ở lĩnh vực kinh tế, mang ý nghĩa là sự nghiệp cải biến cách mạng vĩ đại nhằm khơi dậy, giải phóng và phát huy mọi nguồn lực cho phát triển. Đổi mới đã tạo ra động lực cho phát triển kinh tế xã hội, đem lại biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống, có ý nghĩa to lớn trong việc giải phóng và phát huy các tiềm năng phát triển. Nền kinh tế thị trường thúc đẩy cạnh tranh và qua đó kích thích người lao động làm việc, tạo lập môi trường kinh tế xã hội để mọi người phát huy tài năng, sức lực và nguồn vốn để làm giàu cho bản thân, gia đình và đóng góp cho xã hội.
Trang 1Mục Lục
A Dẫn luận.
1 Thông tin đề tài.
Vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, tình hình thế giới có những biếnđộng phức tạp Mô hình chủ nghĩa xã hội quan liêu bao cấp ngày càng tỏ ra trì trệ
và kém hiệu quả Một số nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng và vào thờiđiểm đó tiến hành cải tổ, cải cách, đổi mới, kinh tế - xã hội của nước ta cũng bộc lộnhững khó khăn trên nhiều lĩnh vực Những bức xúc của tình hình đất nước cùngvới xu thế của thời đại đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải đổi mới để tìm tòi bước đi,hình thức và biện pháp thích hợp để đưa sự nghiệp cách mạng nước ta tiếp tục đilên Đổi mới được đặt ra như một yêu cầu bức thiết, có ý nghĩa sống còn của cáchmạng xã hội chủ nghĩa nước ta, đồng thời là vấn đề có ý nghĩa phù hợp với xu thếchung của thời đại
Trên phương diện quản lý kinh tế, đổi mới là quá trình chuyển đổi từ cơ chếquan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từnền kinh tế hiện vật tự cung tự cấp, khép kín sang nền kinh tế mở với sự thâm nhậpcủa công nghệ hiện đại ngày càng tăng; từ chỗ Nhà nước độc quyền quản lý sangkết hợp giữa Nhà nước và thị trường
Trang 2Công cuộc đổi mới được triển khai toàn diện trên tất cả các mặt của đời sống
xã hội nhưng được đặt trọng tâm ở lĩnh vực kinh tế, mang ý nghĩa là sự nghiệp cảibiến cách mạng vĩ đại nhằm khơi dậy, giải phóng và phát huy mọi nguồn lực chophát triển Đổi mới đã tạo ra động lực cho phát triển kinh tế - xã hội, đem lại biếnđổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống, có ý nghĩa to lớn trong việc giảiphóng và phát huy các tiềm năng phát triển Nền kinh tế thị trường thúc đẩy cạnhtranh và qua đó kích thích người lao động làm việc, tạo lập môi trường kinh tế - xãhội để mọi người phát huy tài năng, sức lực và nguồn vốn để làm giàu cho bảnthân, gia đình và đóng góp cho xã hội Kinh tế thị trường với vị thế là một “côngnghệ hiện đại nhất” để phát triển kinh tế, tác động mạnh đến xu hướng biến đổi củađạo đức, kích thích tính năng động, sáng tạo cá nhân Cùng với thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, Đảng và Nhà nước cũng dành nhiều quan tâm đến giải quyết côngbằng xã hội và thu được những kết quả quan trọng về xóa đói giảm nghèo và trongcác lĩnh vực khác của phát triển xã hội (nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giảiquyết việc làm, phát triển giáo dục, chăm lo sức khỏe nhân dân, ) Nhờ công cuộcđổi mới, đất nước đã vượt qua những khó khăn, ra khỏi khủng hoảng kinh tế và cóbước tăng trưởng khá nhanh, giữ vững được ổn định chính trị - xã hội, củng cốquốc phòng - an ninh, phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vâycấm vận, tham gia tích cực vào đời sống cộng đồng quốc tế Sự nghiệp đổi mớicàng đi vào chiều sâu, nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội càng được đẩy nhanh,thành tựu đạt được càng lớn; sức mạnh tổng hợp và vị thế nước ta trên trường quốc
tế không ngừng được nâng cao, tạo điều kiện để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa và hội nhập quốc tế
Để tìm hiểu rõ thêm về thành tựu này, nhóm em xin làm đề tài : “Nhữngthành tựu kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 1986 – nay”
Trang 32 Lịch sử nghiên cứu đề tài.
Viết về Đổi mới và đổi mới kinh tế thì hiện nay khá là nhiều tư liệu Tuynhiên, để viết về thành tựu kinh tế và làm rõ nó thì còn là điều khá mới mẻ Do đó,các tài liệu của nhóm em chủ yếu đề cập đến các tài liệu có liên quan, để phục vụviệc viết đề tài
Nhóm tư liệu về văn kiện, văn bản, quyết định liên quan.
- Tư liệu văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam toàn tập, Văn kiện Đảng Đạihội VIII, IX, X, XI, XII, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội
- Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội năm 2011, kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội năm 2012 và 5 năm 2011 – 2015
- Công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội năm 2012, Cổng thông tin điện
tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
Nhóm tư liệu các sách chuyên khảo
- GS.TS Phạm Quang Minh, Việt Nam sau 30 năm Đổi mới, DHQG Hà Nội
- GS Phùng Hữu Phú, Một số vấn đề lý luận – thực tiễn về chủ nghĩa xãhội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam qua 30 năm Đổimới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Nhóm tư liệu các bài báo.
- Võ Hồng Phúc: Những thành tựu về kinh tế - xã hội qua 20 năm đổi mới (1986 - 2005), trong Việt Nam 20 năm đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia,
H, 2006
- Dương Ngọc: Kinh tế Việt Nam: 67 năm qua các con số, VnEconomy.
- Phạm Xuân Nam: Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong mô hình phát triển của Việt Nam ở thời kỳ đổi mới, Tạp chí Khoa
học xã hội Việt nam, số 12-2010
Trang 4- Nguyễn Duy Quý: Công cuộc đổi mới: những thành tựu và bài học kinh nghiệm, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
3 Mục tiêu nghiên cứu.
Làm rõ những thành tựu kinh tế của Việt Nam sau 30 năm thực hiện đường lốiĐổi mới
4 Đối tượng nghiên cứu.
- Là những thành tựu kinh tế của đất nước được biểu hiện qua các số liệu,chỉ số kinh tế
- Là những thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân
- Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Là cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa hiện đạihóa
5 Phạm vi nghiên cứu.
Không gian: Trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Thời gian: từ năm 1986-nay
6 Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử, kết hợpphương pháp lịch sử và phương pháp logic
Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp và phương pháp so sánh
7 Kết cấu đề tài.
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục, nội dung đềtài được chia làm 3 chương:
Trang 5Chương I Bối cảnh Đổi mới kinh tế.
Chương II Thành tựu kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 1986 – nay Chương III Những tồn đọng trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
Chương I Bối cảnh công cuộc Đổi mới kinh tế.
1 Tình hình trong nước.
Trong nhiều thập kỷ trước đổi mới, cũng giống như ở các nước XHCN khác,Việt Nam thực hiện công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo mô hìnhXHCN được quan niệm lúc bấy giờ Theo đó, chế độ sở hữu toàn dân và tập thể về
tư liệu sản xuất và cơ chế kế hoạch hóa tập trung đóng vai trò là những yếu tố chủđạo của mô hình phát triển nền kinh tế quốc dân
Cần nhấn mạnh rằng trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, nhân dân ViệtNam phải ra sức động viên và tập trung sức mạnh toàn dân tộc để vừa xây dựngđất nước, vừa thực hiện cuộc chiến tranh không cân sức nhằm bảo vệ độc lập dântộc, thống nhất Tổ quốc Việc thực hiện mô hình phát triển này đã mang lại nhữngkết quả to lớn không thể phủ nhận Đó là sự bảo đảm quyết định để giành thắng lợitrong cuộc chiến giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, tạo lập những cơ sở vật chất - kỹthuật ban đầu rất quan trọng của XHCN, mang lại cho nhân dân cuộc sống tự do,việc làm, quyền làm chủ xã hội cùng với những cải thiện đáng kể trong đời sốngvật chất và tinh thần
Tuy nhiên, thực tế trước đổi mới, nhất là của hơn 10 năm tiến hành xây dựngCNXH trên phạm vi cả nước (1975 - 1986), chứng tỏ rằng trong nền kinh tế mangđậm bản sắc nông dân - nông nghiệp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, mô hìnhphát triển gắn với cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở trình độ cao có những khiếm
Trang 6khuyết lớn trong việc giải quyết các nhiệm vụ phát triển, nhất là trong lĩnh vựckinh tế Sau nhiều năm vận hành trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở trình độcao, tuy đất nước có đạt được những thành tựu to lớn, song nhiều vấn đề mấu chốt
và thiết yếu nhất của cuộc sống nhân dân (ăn, mặc, ở) vẫn chưa được giải quyếtđầy đủ ; đất nước chưa có những thay đổi sâu sắc và triệt để trong phương thứcphát triển ; tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế ngày càng trầm trọng ; nhiệttình lao động và năng lực sáng tạo của nhân dân, tài nguyên và các nguồn lực chưađược khai thác, phát huy đầy đủ, thậm chí bị xói mòn
Nhìn tổng quát, với cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở trình độ cao, nền kinh tếViệt Nam vận động thiếu năng động và kém hiệu quả Những mất cân đối và nguy
cơ bất ổn định tiềm tàng trong đời sống kinh tế - xã hội bị tích nén lại Tình trạngthiếu hụt kinh niên làm gia tăng các căng thẳng trong đời sống xã hội Lòng tin củaquần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước giảm sút.Trên thực tế, đến cuối những năm 70, đất nước đã thực sự lâm vào cuộc khủnghoảng kinh tế - xã hội Vấn đề cấp bách đặt ra cho Đảng Cộng sản và Nhà nướcViệt Nam lúc này là tìm kiếm cách thức phát triển mới có khả năng đáp ứng cácmục tiêu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong đó quan trọng nhất làphải tháo gỡ các ràng buộc về mô hình kinh tế và thể chế để giải phóng các nguồnlực phát triển của đất nước
Cần phải nói rằng ngay khi đất nước mới lâm vào khủng hoảng, trong nềnkinh tế Việt Nam, dưới áp lực của thực tiễn, đã diễn ra hai cuộc thử nghiệm quantrọng : 1) áp dụng chế độ khoán sản phẩm đến hộ gia đình nông dân trong HTXnông nghiệp và 2) triển khai chế độ "kế hoạch 3 phần" ở các xí nghiệp công nghiệpquốc doanh Về nguyên tắc, cả hai cuộc thử nghiệm này đều diễn ra theo một xuhướng chung : nới lỏng các ràng buộc của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, mở rộnghơn phạm vi hoạt động của các quan hệ thị trường, trao nhiều quyền chủ động kinh
Trang 7doanh hơn cho các chủ thể kinh tế và người lao động Phong trào lan rộng ra khắpnền kinh tế và đã nhanh chóng đưa lại những thành tựu nổi bật, trước hết là trênmặt trận nông nghiệp.
Tuy nhiên, kết quả của xu hướng cải cách này còn bị hạn chế do việc thựchiện những cải cách theo hướng thị trường mới mang tính cục bộ và chỉ dừng lại ởcấp vi mô, trong khuôn khổ cố gắng bảo tồn cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở tầm
vĩ mô Vì vậy, những cuộc thử nghiệm này tuy đưa đến những thành tựu nổi bậttrong nông nghiệp nhưng vẫn không ngăn cản được cuộc khủng hoảng ngày càngtrở nên trầm trọng Tình hình đó đã khiến cho đổi mới trở thành một nhu cầu hếtsức bức bách, là đòi hỏi bức thiết của cuộc sống
Nhận rõ nhu cầu bức thiết ấy, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam 1986) đã chính thức khởi xướng sự nghiệp đổi mới, mà trọng tâm ở đây chính làĐổi mới về lĩnh vực kinh tế
(12-2 Tình hình Quốc tế.
Giữa lúc Việt Nam chính thức quyết định tiến hành công cuộc đổi mới, trênthế giới cũng diễn ra nhiều biến đổi quan trọng Những biến đổi ấy vừa có ảnhhưởng tới Việt Nam, vừa gợi ra những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thểtham khảo với các mức độ khác nhau Đó là:
1 Công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc theo hướng thị trường - mở cửabắt đầu diễn ra từ năm 1978 Tiếng vang của những thành tựu cải cách nổi bật màTrung Quốc thu được đã được Đảng và Chính phủ Việt Nam quan tâm do có sựtương đồng nhiều mặt về các điều kiện kinh tế - xã hội giữa hai nước, mặc dù trongthời gian này quan hệ Việt Nam - Trung Quốc vẫn còn căng thẳng, chưa được bìnhthường hóa
Trang 8Giai đoạn này gọi là giai đoạn chuyển đổi thể chế kinh tế (1978 - 1986): ĐảngCộng sản Trung Quốc với phương châm “giải phóng tư tưởng, thực sự cầu thị”,chuyển trọng tâm công tác từ “lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh” sang “lấyxây dựng kinh tế làm trung tâm” nhằm mục tiêu xây dựng hiện đại hóa xã hội chủnghĩa Giai đoạn đầu tập trung vào chuyển đổi thể chế kinh tế với việc “khoánruộng đất”, “phát triển xí nghiệp hương trấn” ở nông thôn, sau đó tiến hành mởrộng thí điểm quyền tự chủ kinh doanh của xí nghiệp quốc hữu ở thành phố, tiếnhành mở cửa, xây dựng đặc khu kinh tế, xây dựng các loại thị trường Việc xâydựng các đặc khu kinh tế (SEZs) ở Trung Quốc tương đối thành công SEZs đãphát huy được vai trò “cửa sổ” và “cầu nối” có ảnh hưởng tích cực đối với trong vàngoài nước SEZs của Trung Quốc đã đạt được thành công bước đầu trong sự kếthợp giữa kế hoạch và thị trường Những năm 1984, cải cách xí nghiệp quốc hữu làtrọng tâm, cải cách giá cả là then chốt trong toàn bộ cuộc cải cách Trong giai đoạnchuyển đổi thể chế kinh tế (1979 - 1986), Trung Quốc đã tìm tòi, tổ chức thí điểm,từng bước tiếp nhận cơ chế thị trường, sửa chữa những khuyết điểm của thể chếkinh tế kế hoạch.
Trung Quốc đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội với bước chuyển biếnlịch sử là “lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm” Thể chế kinh tế, xã hội có bướcchuyển biến mạnh mẽ theo hướng xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủnghĩa
2 Sự không thành công của công cuộc cải tổ đã dẫn tới sự sụp đổ của CNXH
ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu là một bài học phản diện Sự sụp đổ đó là bằngchứng về sự thất bại của con đường cải tổ theo kiểu "phủ định sạch trơn", sử dụng
"liệu pháp sốc", giải quyết không đúng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trongquá trình cải tổ Cái giá phải trả là rất đắt
Trang 9Bài học kinh nghiệm về công tác kinh tế được rút ra thông qua biến cố này làxây dựng nền kinh tế ổn định và phát triển vững chắc, giữ được độc lập tự chủtrong hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng và sựquản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế
Sự ổn định và phát triển vững chắc của nền kinh tế là nền tảng vật chất bảođảm sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước Khi kinh tế lâm vào khủnghoảng suy thoái, đất nước dễ lâm vào mất ổn định chính trị, tạo điều kiện cho cácthế lực thù địch lôi kéo, kích động nhân dân chống lại Đảng và chính quyền, làmchuyển hóa chế độ xã hội theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản
Cần giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với nềnkinh tế, bảo đảm đúng định hướng phát triển của quốc gia, không để cho bất kỳmột thế lực nào điều khiển và thao túng nền kinh tế Cần duy trì được tốc độ tăngtrưởng hợp lý và ổn định, phát huy tốt năng lực nội sinh, tạo được nhiều việc làm
để tăng thu nhập của người dân, bảo đảm công bằng xã hội, an sinh xã hội, tạo cơ
sở vật chất để đất nước ổn định và phát triển bền vững Mở rộng hội nhập quốc tếtrong điều kiện toàn cầu hóa, đặc biệt là hợp tác về kinh tế là xu thế khách quan màcác nước XHCN phải tham gia, nếu không thì khó có thể tồn tại và phát triển được.Vấn đề đặt ra là các nước XHCN mở rộng hội nhập quốc tế để tận dụng đượcnhững thành tựu khoa học cộng nghệ, tận dụng được nguồn lực tài chính của cácnước phát triển làm cho sản xuất của đất nước ngày càng lớn mạnh đủ sức canhtranh, lợi ích quốc gia - dân tộc và cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội ngày càngđược củng cố
3 Thành công của các nước "công nghiệp mới" ở Đông Á đưa ra những gợi ý
về cách thức và giải pháp phát triển đối với những nước vốn xuất phát từ nhữngnước nông nghiệp và có quan hệ xã hội theo kiểu những giá trị văn hóa phương
Trang 10Đông Đó là những thành công của các chiến lược phát triển: phát huy mạnh nộilực, thị trường - mở cửa, hướng vào xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài.
Thuật ngữ “các nước mới công nghiệp hóa” được bắt đầu sử dụng phổ biến từnhững năm 1970 Nhóm bốn nước và vùng lãnh thổ Đông Á bao gồm Đài Loan,Hàn Quốc, Hồng Kông và Singapore, còn được biết đến với tên gọi “Những con hổchâu Á” (Asian Tigers)
Đối với ba nền kinh tế mới công nghiệp hóa còn lại ở Châu Á, lĩnh vực sảnxuất được xem là động lực cho sự phát triển kinh tế nhờ tận dụng được lợi thế sosánh về chi phí đầu vào trong tương quan với các nước công nghiệp phát triển Cóthể kể tên một số ngành công nghiệp sản xuất góp phần vào sự phát triển kinh tếcủa các nước này như ngành chế tạo và sản xuất ô-tô, sản xuất hàng điện – điện tửtiêu dùng, đóng tàu, công nghiệp sản xuất thép và dệt may Ngoài ra, chế độ chínhtrị ổn định và nền kinh tế mở tạo điều kiện cho việc thu hút đầu tư nước ngoài cũng
là những nhân tố góp phần vào sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của các nước này
Bốn con hổ Châu Á được xem là những nước mới công nghiệp hóa thuộc thế
hệ thứ nhất Các nước và vùng lãnh thổ này ngày nay đều được xếp vào nhóm cácnước có thu nhập bình quân đầu người cao
4 Xu hướng hợp tác và cạnh tranh trên thế giới đang từng bước thay thế xuhướng đối đầu và xung đột Tình huống này buộc các quốc gia phải định hướng lại
tư duy về các vấn đề phát triển Khác hẳn trước đây, trong hoàn cảnh phát triểnmới, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành nhu cầu tự thân bên trong đốivới nền kinh tế nông nghiệp vốn mang đậm tính chất khép kín, tự cấp tự túc củaViệt Nam
Trang 11Nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới, sau khi mất dần các nguồn viện trợ
từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, phải cần đến các thị trường kinh tế mới
để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu dân sinh, phát triển
và làm chủ công nghệ nhằm đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn,khủng hoảng
Toàn bộ tình hình trên đây, ở trong cũng như ngoài nước đã tác động đến ViệtNam về cả hai phương diện Một mặt, nó đòi hỏi phải đổi mới tư duy phát triển,đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế theo một phương thức mới Mặt khác, nó tạo racác cơ hội và điều kiện để sự thay đổi đó diễn ra thuận lợi Đó là điểm khởi đầu cả
về lịch sử lẫn lý luận của quá trình đổi mới
Chương II Thành tựu kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội 1986 – nay.
2.1 Đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh.
Giai đoạn 1986 - 1990: Đây là giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới Chủtrương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế dần dần khắc phục được nhữngyếu kém và có những bước phát triển
Kết thúc kế hoạch 5 năm (1986 - 1990), công cuộc đổi mới đã đạt được nhữngthành tựu bước đầu rất quan trọng: GDP tăng 4,4%/năm; tổng giá trị sản xuất nôngnghiệp tăng bình quân 3,8 - 4%/năm; công nghiệp tăng bình quân 7,4%/năm, trong
đó sản xuất hàng tiêu dùng tăng 13 -14%/năm; giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng28%/năm 1 Việc thực hiện tốt ba chương trình mục tiêu phát triển về lương thực -thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu đã phục hồi được sản xuất, tăng
1 Võ Hồng Phúc: Những thành tựu về kinh tế - xã hội qua 20 năm đổi mới (1986 - 2005), trong Việt Nam 20 năm đổi
mới, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2006, tr 141.
Trang 12trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát,… Đây được đánh giá là thành công bước đầu cụthể hóa nội dung của công nghiệp hóa XHCN trong chặng đường đầu tiên Điềuquan trọng nhất, đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chếquản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế - xã hội vàbước đầu giải phóng được lực lượng sản xuất, tạo ra động lực phát triển mới.
Giai đoạn 1991 - 1995: Đất nước dần dần ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái.Nền kinh tế tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng: đã khắc phục được tìnhtrạng trì trệ, suy thoái, tốc độ tăng trưởng đạt tương đối cao, liên tục và toàn diện,hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu đều vượt mức: GDP bình quân tăng 8,2%/năm; giá trịsản xuất công nghiệp tăng 13,3%/năm; nông nghiệp tăng 4,5%/năm; lĩnh vực dịch
vụ tăng 12%/năm; tổng sản lượng lương thực 5 năm (1991 - 1995) đạt 125,4 triệutấn, tăng 27% so với giai đoạn 1986 - 19902 Hầu hết các lĩnh vực kinh tế đều đạtnhịp độ tăng trưởng tương đối khá “Nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế -
xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một số mặt chưa vững chắc,song đã tạo được tiền đề cần thiết để chuyển sang một thời kỳ phát triển mới: đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”3
Giai đoạn 1996 - 2000: Đây là giai đoạn đánh dấu bước phát triển quan trọngcủa kinh tế thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mặc dùcùng chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực (giai đoạn 1997 -1999) và thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp, đặt nền kinh tế nước ta trướcnhững thử thách khốc liệt, tuy nhiên, Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởngkhá GDP bình quân của cả giai đoạn 1996 - 2000 đạt 7%; trong đó, nông, lâm, ngưnghiệp tăng 4,1%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,5%; các ngành dịch vụ tăng
2 Võ Hồng Phúc: Sđd, tr 143
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, H,
1996, tr 12.
Trang 135,2%4 “Nếu tính cả giai đoạn 1991 - 2000 thì nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân
là 7,5% So với năm 1990, GDP năm 2000 tăng hơn hai lần”5
Giai đoạn 2001 - 2005: Sự nghiệp đổi mới ở giai đoạn này đi vào chiều sâu,việc triển khai Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 và Kế hoạch 5năm 2001 - 2005 mà Đại hội IX của Đảng thông qua đã đạt được những kết quảnhất định Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, theo hướng tích cực, nămsau cao hơn năm trước GDP tăng bình quân 7,5%/năm, riêng năm 2005 đạt 8,4%;trong đó, nông nghiệp tăng 3,8%; công nghiệp và xây dựng tăng 10,2%; các ngànhdịch vụ tăng 7% Riêng quy mô tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế năm
2005 đạt 837,8 nghìn tỷ đồng, tăng gấp đôi so với năm 1995 GDP bình quân đầungười khoảng 10 triệu đồng (tương đương 640 USD), vượt mức bình quân của cácnước đang phát triển có thu nhập thấp (500 USD)6 Từ một nước thiếu ăn, mỗi nămphải nhập khẩu từ 50 vạn đến 1 triệu tấn lương thực, Việt Nam đã trở thành nướcxuất khẩu gạo lớn trên thế giới Năm 2005, Việt Nam đứng thứ nhất thế giới vềxuất khẩu hạt tiêu; đứng thứ hai về các mặt hàng gạo, cà phê, hạt điều; thứ 4 về caosu; …
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, sự ổn định kinh tế vĩ mô được duy trì, bảođảm sự ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh, bước đầu phát huy đượcnhiều lợi thế của đất nước, của từng vùng và từng ngành; cải cách thể chế kinh tế,từng bước hoàn thiện các cơ chế chính sách quản lý và hệ thống điều hành; cảicách và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính, tiền tệ; phát triểnnguồn và chất lượng lao động, khoa học và công nghệ;…
4 Võ Hồng Phúc: Sđd, tr 144
5 Hà Đăng: Đổi mới - Những thành tựu lớn, trong Việt Nam 20 năm đổi mới, Sđd, tr 572.
6 Võ Hồng Phúc: Sđd, tr 146.
Trang 14Giai đoạn 2006 - 2010: Nền kinh tế vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềmlực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, từnhóm nước thu thập thấp đã trở thành nước có thu nhập trung bình (thấp) GDPbình quân 5 năm đạt 7% Mặc dù bị tác động của khủng hoảng tài chính và suythoái kinh tế toàn cầu (từ cuối năm 2008), nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoàivào Việt Nam vẫn đạt cao Tổng vốn FDI thực hiện đạt gần 45 tỷ USD, vượt 77%
so với kế hoạch đề ra Tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 150 tỷ USD,gấp hơn 2,7 lần kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so với giai đoạn 2001 - 2005.Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỷ USD, gấp hơn 1,5 lần so với mục tiêu đề ra;giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỷ USD, vượt 16% GDP năm 2010 tính theo giáthực tế đạt 101,6 tỷ USD, gấp 3,26 lần so với năm 20007
Trong năm 2011, mặc dù sự phục hồi kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàncầu còn rất chậm, song mức tăng trưởng kinh tế bình quân vẫn đạt 7%/năm, tuythấp hơn kế hoạch (7,5% - 8%), nhưng vẫn được đánh giá cao hơn bình quân cácnước trong khu vực8
Như vậy, trong vòng 20 năm (1991 - 2011), tăng trưởng GDP của Việt Namđạt 7,34%/năm, thuộc loại cao ở khu vực Đông Nam Á nói riêng, ở châu Á và trênthế giới nói chung; quy mô kinh tế năm 2011 gấp trên 4,4 lần năm 1990, gấp trên2,1 lần năm 2000 (thời kỳ 2001 - 2011 bình quân đạt 7,14%/năm)9
Năm 2012, GDP tăng 5,03% so với năm 2011 Mức tăng trưởng tuy thấp hơnmức tăng 5,89% của năm 2011, nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khănthì đây là mức tăng trưởng hợp lý Về sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản ướctính tăng 3,4% so với năm 2011; công nghiệp tăng 4,8% so với năm 2011 Chỉ số
7 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2011, tr 151
8 Báo cáo Tình hình kinh tế - xã hội năm 2011, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 và 5 năm 2011 - 2015,
chinhphu.vn
9 Dương Ngọc: Kinh tế Việt Nam: 67 năm qua các con số, VnEconomy
Trang 15giá tiêu dùng năm 2012 tăng 6,81% Đầu tư phát triển tăng 7% so với năm trước vàbằng 33,5% GDP Xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng 18,3%10 Kim ngạch xuất khẩu
có thể vượt qua mốc 100 tỷ USD, tỷ lệ kim ngạch xuất, nhập khẩu so với GDP năm
2011 đã đạt xấp xỉ 170%, đứng thứ 5 thế giới Vốn FDI tính từ 1988 đến tháng
7-2012 đăng ký đạt trên 236 tỷ USD, thực hiện đạt trên 96,6 tỷ USD Vốn ODA từ
1993 đến nay cam kết đạt gần 80 tỷ USD, giải ngân đạt trên 35 tỷ USD11
Nhìn chung, các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế đều có bước phát triển khá,trong đó sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lươngthực đã bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; sản phẩm công nghiệp phát triểnngày càng đa dạng và phong phú về chủng loại, chất lượng được cải thiện, từngbước nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo đảm cung cầu của nền kinh tế, giữ vữngthị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu; chú trọng đầu tư phát triểnmột số ngành công nghiệp mới, công nghệ cao; khu vực dịch vụ có tốc độ tăngtrưởng ổn định Sự phục hồi và đạt mức tăng trưởng khá này đã tạo cơ sở vữngchắc để quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm (2011 - 2015) trong những năm sau đạtkết quả vững chắc hơn, tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2015 của Việt Namtuy đã chậm lại nhưng vẫn đạt 5,9%/năm, là mức cao của khu vực và thế giới.Quy mô nền kinh tế tăng nhanh Năm 2003, sau 16 năm đổi mới, GDP bìnhquân đầu người ở nước ta mới đạt 471 USD/năm thì đến năm 2015, quy mô nềnkinh tế đạt khoảng 204 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người đạt gần 2.300 USD.Lực lượng sản xuất có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng Chất lượng tăngtrưởng có mặt được cải thiện, trình độ công nghệ sản xuất có bước được nâng lên
10 Công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội năm 2012, Cổng thông tin điện tử Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
11 Dương Ngọc: Tài liệu đã dẫn
Trang 162.2 Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn sản xuất với thị trường.
Những nỗ lực đổi mới trong 30 năm qua đã giúp môi trường đầu tư liên tụcđược cải thiện, nhờ đó thu hút ngày càng nhiều hơn vốn đầu tư cho phát triển Cơcấu kinh tế của Việt Nam bước đầu chuyển dịch theo hướng hiện đại Cơ cấungành kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm khu vực nông nghiệp, tăng khu vựcdịch vụ và công nghiệp
Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1986 là 46,3%, năm 2005còn 20,9%, năm 2010 còn 20,6%; cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi đã chuyển dịchtheo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản phẩm có năng suất và hiệu quả kinh tếcao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăngnhanh và liên tục với thiết bị, công nghệ ngày càng hiện đại: năm 1988 là 21,6%,năm 2005 lên 41% Tỷ trọng khu vực dịch vụ đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên38,1% năm 2005
Khu vực nông nghiệp phát triển khá ổn định; CNH, HĐH nông nghiệp, nôngthôn có sự chuyển biến quan trọng, từ lúc cả nước còn thiếu ăn, nay trở thành nướcxuất khẩu gạo với khối lượng lớn, đứng thứ hai thế giới, góp phần vào an ninhlương thực quốc tế; xuất khẩu cà-phê, cao-su, hạt điều, hạt tiêu, thủy sản với khốilượng lớn đứng thứ hạng cao trên thế giới Xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tăngdần tỷ trọng sản phẩm công nghiệp và giảm dần tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp,giảm dần sản phẩm nguyên liệu thô
Ngành công nghiệp và xây dựng duy trì tốc độ tăng trưởng khá liên tục, tốc độtriển khai ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ được cải thiện Sản phẩmcông nghiệp phát triển ngày càng đa dạng và chất lượng, từng bước nâng cao khảnăng cạnh tranh, bảo đảm cung cầu của nền kinh tế, giữ vững thị trường trong
Trang 17nước và mở rộng thị trường xuất khẩu; chú trọng đầu tư phát triển một số ngànhcông nghiệp mới, công nghệ cao.
Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhucầu của sản xuất và đời sống: ngành du lịch, bưu chính viễn thông phát triển vớitốc độ nhanh; các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp lý; có bướcphát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả
Việc khai thác, sử dụng tài nguyên quốc gia và bảo vệ môi trường gắn với yêucầu phát triển bền vững được quan tâm và đem lại kết quả bước đầu Kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội phát triển, nhất là hạ tầng giao thông, điện, thông tin, viễnthông, thủy lợi, hạ tầng đô thị, giáo dục, y tế Việc ứng dụng khoa học công nghệ,nhất là công nghệ cao, đã tạo những tiền đề để bước đầu chuyển sang xây dựngkinh tế tri thức
2.3 Thực hiện hiệu quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, tích cực phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế.
Ba mươi năm đổi mới kinh tế cũng đã chứng kiến vai trò tích cực của các chủthể kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, tự do kinh doanh và cạnh tranh theo quyđịnh của pháp luật:
- Kinh tế nhà nước dần phát huy tốt hơn vai trò chủ đạo; hệ thống doanh nghiệp nhànước từng bước được cơ cấu lại, cổ phần hóa theo Luật Doanh nghiệp và đanggiảm mạnh về số lượng Kinh tế nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chấtlượng và hiệu quả, tập trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vựctrọng yếu của nền kinh tế Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mớimột bước quan trọng theo hướng xóa bao cấp, thực hiện mô hình công ty, phát huyquyền tự chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp trong kinh doanh Kinh tế tập thể
Trang 18bước đầu được đổi mới, các hình thức hợp tác kiểu mới được hình thành phù hợphơn với cơ chế thị trường.
Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, tăng nhanh về số lượng, từng bước nâng caohiệu quả kinh doanh, giải quyết việc làm, đóng góp ngày càng lớn vào GDP, huyđộng ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng trong nhân dân, là một độnglực rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Năm 2005, khu vựckinh tế tư nhân đóng góp khoảng 38% GDP của cả nước
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trởthành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; được khuyếnkhích phát triển, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có những đónggóp quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giải quyếtviệc làm và xuất khẩu; là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao côngnghệ, giao thông quốc tế, đóng góp vào ngân sách nhà nước và tạo việc làm chonhiều người dân
Ngoài ra còn có các tổ chức xã hội - nghề nghiệp không ngừng phát triển vàngày càng phát huy vai trò quan trọng của mình trong nền kinh tế
2.4 Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hoàn thiện từng bước, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định.
Qua 30 năm đổi mới, Việt Nam đã dần hình thành đầy đủ, đồng bộ các yếu tốthị trường và các loại thị trường, vận hành cơ bản thông suốt, gắn kết với thịtrường khu vực và quốc tế Thị trường hàng hóa, dịch vụ có bước phát triển vàhoàn thiện về quy mô, cơ cấu hàng hóa - thị trường trong và ngoài nước, kết cấu hạtầng thương mại, dịch vụ, cơ chế quản lý, mức độ cạnh tranh Thị trường tài chính,tiền tệ phát triển khá mạnh và sôi động Bên cạnh kênh huy động vốn từ ngânhàng, thị trường chứng khoán bước đầu hình thành, góp phần đa dạng hóa nguồn
Trang 19vốn đầu tư Đồng thời, hoạt động của thị trường bảo hiểm đã đóng góp tích cực vàoviệc ổn định sản xuất và đời sống dân cư, huy động vốn cho sự nghiệp CNH, HĐHđất nước Thị trường bất động sản có bước phát triển nhanh chóng Thị trường laođộng được hình thành trên phạm vi cả nước Thị trường khoa học - công nghệ đanghình thành và phát triển, số lượng và giá trị giao dịch công nghệ có bước tiến đáng
kể trong những năm gần đây Thị trường một số loại dịch vụ công cơ bản, nhất là
về y tế, giáo dục có bước phát triển mới, huy động được các nguồn lực ngoài ngânsách nhà nước tham gia
Hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng bộ Hoạt động của cácloại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều thành phần và bộ máy quản lý củaNhà nước được đổi mới một bước quan trọng
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xâydựng và hoàn thiện; chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng tiếp tục được thể chếhóa thành luật pháp, cơ chế, chính sách ngày càng đầy đủ, đồng bộ hơn; môitrường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; các yếu tố thị trường và các loại thịtrường tiếp tục hình thành, phát triển; nền kinh tế nhiều thành phần có bước pháttriển mạnh
Qua 30 năm đổi mới, việc tăng trưởng kinh tế cơ bản gắn kết hài hòa với pháttriển văn hóa, xây dựng con người, tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên
và môi trường Tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hộingay trong từng bước phát triển Từ chỗ Nhà nước bao cấp toàn bộ trong việc giảiquyết việc làm đã dần chuyển trọng tâm sang thiết lập cơ chế, chính sách để cácthành phần kinh tế và người lao động đều tham gia tạo việc làm; từ chỗ không chấpnhận có sự phân hóa giàu - nghèo đã đi đến khuyến khích mọi người làm giàu hợppháp đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo An sinh xã hội cơ bản được bảo đảm;
Trang 20hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội phát triển khá đồng bộ, nhất là trong vấn
đề giảm nghèo, giải quyết việc làm, phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, chínhsách ưu đãi người có công với nước, trợ giúp xã hội, chính sách bảo hiểm y tế toàndân tạo điều kiện để người dân được hưởng thụ nhiều hơn về văn hóa, y tế và giáodục Trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều khó khăn, Việt Nam đã tăng thêm ngânsách và huy động nguồn lực để thực hiện các chính sách xã hội; đồng thời hoànthành trước thời hạn nhiều mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc.Với chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trênnhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trườngtoàn cầu Quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế ngàycàng được mở rộng Việt Nam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN), thực hiện các cam kết về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA),Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới(WTO),
Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnhthổ, ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương với các nước, Việt Nam đã kýkết mười Hiệp định thương mại tự do khu vực và song phương (gồm sáu FTA kýkết với tư cách là thành viên ASEAN; bốn FTA đàm phán với tư cách là một bênđộc lập); vừa hoàn tất đàm phán hai FTA (Liên minh châu Âu và TPP); đang tíchcực đàm phán ba FTA khác (ASEAN - Hồng Công; EFTA; RCEP) Việc tham gia
ký kết và đàm phán tham gia các FTA có tác động tích cực tới phát triển kinh tế,nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm, nhất là đến nayViệt Nam đã tham gia vào ba chuỗi giá trị có vai trò ngày càng quan trọng đối vớinền kinh tế toàn cầu đó là: Chuỗi giá trị lương thực và an ninh lương thực; chuỗigiá trị năng lượng và an ninh năng lượng (dầu mỏ, khí, than) và chuỗi giá trị hàng
Trang 21dệt may và da giày,… đã tạo ra một bước phát triển mới rất quan trọng về kinh tếđối ngoại.
Những thành tựu đạt được nêu trên là nhờ có nhận thức đúng đắn, đổi mới tưduy lý luận của Đảng về tính tất yếu của phát triển kinh tế thị trường; quyết địnhchuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướngXHCN; xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, kiên trì lãnh đạo, chỉ đạothực hiện các quyết sách về kinh tế, được nhân dân đồng tình ủng hộ và tích cựctham gia Sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với kinh tế thị trường sát thực vàhiệu quả hơn Mở rộng, phát huy dân chủ trong lĩnh vực kinh tế, thực hiện ngàycàng tốt vai trò làm chủ về kinh tế của nhân dân Vai trò lãnh đạo cũng như nộidung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với phát triển nền kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN ngày càng rõ nét, theo đó đã xác định tiếp tục đổi mới tư duykinh tế, nâng cao năng lực lãnh đạo kinh tế của các tổ chức đảng, tăng cường lãnhđạo và kiểm tra về phát triển kinh tế
Ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng có ý nghĩa trọng đạitrong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt củaĐảng, Nhà nước và nhân dân ta; là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để; là
sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân, vì mục tiêu “dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Nền kinh tế thị trường định hướng XHCNtừng bước hình thành và phát triển; thể chế kinh tế thị trường định hướngXHCN được quan tâm xây dựng và từng bước hoàn thiện Môi trường đầu tưkhông ngừng được cải thiện, thế và lực của nước ta vững mạnh, vị thế của ViệtNam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo ra những tiền đề quan trọng để đẩynhanh Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhândân
Trang 22Chương III Những tồn đọng trong nền kinh tế Việt Nam
hiện nay.
- Công nghiệp sản xuất chưa phát triển và đóng vai trò chủ đạo.
Trang 23Sau hơn 30 năm đổi mới, công nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triểnmạnh mẽ, đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới đất nước Cụ thể, theo số liệutính đến điểm mốc năm 2015 của giai đoạn 2011-2015, ngành công nghiệp và xâydựng đóng góp hơn 38,5% giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Tỷ trọng hàngcông nghiệp xuất khẩu (nhóm nhiên liệu, khoáng sản và nhóm hàng công nghiệpchế biến) chiếm 79,38% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Sản phẩm côngnghiệp phát triển ngày càng đa dạng và phong phú hơn về chủng loại, chất lượngđược cải thiện, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo đảm cung cầu củanền kinh tế, giữ vững thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Mặc dù về cơ bản đã đạt được những mục tiêu đặt ra, ngành công nghiệp cầnkhắc phục một số vấn đề tồn tại, hạn chế cụ thể như: Tăng trưởng ngành côngnghiệp chưa thật bền vững, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp thấp, thể hiện chấtlượng tăng trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của ngành còn chậm được cải thiện.Đặc biệt, ngành công nghiệp chế tạo, sản xuất hiện nay lại khá nhỏ về cả vềquy mô vốn và lao động Như chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt
Nam nhận định: “Sau 30 năm đổi mới, Việt Nam vẫn chưa có được một thế hệ các nhà công nghiệp ngang tầm thế giới Chỉ 14% doanh nghiệp Việt có lĩnh vực hoạt động chính là chế tạo” 12
Thực tế, ngành công nghiệp chế tạo sản xuất là xương sống của bất kỳ môhình kinh tế nào, là động lực thúc đẩy và phát triển nền kinh tế quốc dân Đóng gópcủa các ngành công nghiệp chế tạo sản xuất cho GDP hiện nay tương đối thấp,chưa tương xứng với tiềm năng mà ngành công nghiệp nghiệp mang lại, chưa trởthành cơ sở thúc đẩy cho tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nước nhà
12 Vũ Phong, Báo điện tử TrithucVN, Báo cáo CPI 2017: Doanh nghiệp Việt ngày càng nhỏ đi.