Đây là sáng kiến áp dụng phương pháp dạy học tích cực, phát huy năng lực của học sinh vào dạy bài oxi ozone Hóa học lớp 10 Ban cơ bản. Sáng kiến đưuọc áp dụng trong thi Giáo viên dạy giỏi cụm trường được đánh giá cao.
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN Kính gửi: Hội đồng chấm và thẩm định sáng kiến Sở Giáo dục và Đào tạo
Thái Nguyên
Tôi ghi tên dưới đây:
Số
TT
Họ và
tên
Ngày tháng năm sinh
Nơi công tác (hoặc
nơi thường
Chức danh
Trình độ chuyên môn
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo
ra sáng kiến (ghi
rõ đối với từng
SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG THPT LƯU NHÂN CHÚ
===***===
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến:
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
BÀI OXI – OZON (TIẾT 2- HÓA HỌC 10- BAN CƠ BẢN)
Tác giả: LÊ THỊ NGỌC LINH
Chức vụ: GIÁO VIÊN
Đơn vị: TỔ HÓA – SINH – CÔNG NGHỆ
TRƯỜNG THPT LƯU NHÂN CHÚ
Trang 2trú) đồng tác giả, nếu
có)
1 Lê Thị
Ngọc
Linh
14/10/1986 Trường
THPT Lưu Nhân Chú
Giáo viên
Đại học 100%
Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Áp dụng phương pháp dạy học tích
cực bài: Oxi – Ozon (tiết 2- hóa học 10 – ban cơ bản)
- Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục (môn hóa học cấp trung học phổ
thông)
- Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: 17/01/2018
- Mô tả bản chất của sáng kiến:
Dạy học là quá trình trao đổi kiến thức giữa thầy và trò Nếu thầy chỉ thuyết trình, có gì nói nấy thì những gì thầy giảng chỉ là kiến thức một chiều
Có thể người học đã biết những kiến thức ấy, hay đó là những nội dung không hữu ích đối với cuộc sống hiện tại và tương lai của họ Người thầy phải luôn đổi mới bài giảng cũng như phong cách đứng lớp Như vậy, người dạy sẽ học được từ học trò của mình rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế Mối quan
hệ thầy trò sẽ trở nên gần gũi, tốt đẹp qua việc giải quyết các tình huống liên
quan đến nội dung bài học và cuộc sống của người học
Dạy bằng phương pháp giảng dạy tích cực chính là tìm mọi cách giúp người học được chủ động trong việc học, cho họ được làm việc, được khám phá tiềm năng của chính mình Người dạy cần giúp người học có được sự tự tin, có trách nhiệm với bản thân để từ đó chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng
Trang 3Hình 1: So sánh vị trí trung tâm của giáo viên, học sinh trong dạy học
tích cực và dạy học truyền thống
Với cách dạy đọc - chép, giáo viên là người rót kiến thức vào đầu học sinh
và người dạy giữ vai trò trung tâm Nhưng kiến thức từ thầy có thể trở thành kiến thức của trò không? Chắc chắn là không nhiều Theo nhiều nghiên cứu khoa học về giáo dục thì cách dạy đọc - chép chỉ giúp người học tiếp thu được 10-20% kiến thức
Khi áp dụng phương pháp giáo dục chủ động, người học giữ vai trò trung tâm, người thầy chỉ đóng vai trò hướng dẫn, giúp đỡ Người học chủ động tìm kiếm tri thức và có thể thu nhận kiến thức không chỉ từ thầy mà còn từ rất nhiều nguồn khác nhau
Trang 4Hình 2 Vai trò của người dạy và người học trong dạy học tích cực
Trong giảng dạy môn Hóa học lớp 10, bài Oxi – Ozon được chia thành 2 tiết Tiết 1 tìm hiểu về oxi với đầy đủ kiến thức mà học sinh có thể tự nghiên cứu trong sách giáo khoa Tiết 2 tìm hiểu về ozon với nội dung kiến thức trong sách giáo khoa tương đối ngắn gọn Để giảng dạy phần nội dung tiết 2 tôi thiết nghĩ nên để cho học sinh tự nghiên cứu tìm hiểu thêm nội dung liên hệ thực tế ngoài sách giáo khoa để học sinh có thể hiểu biết hơn về khoa học, đời sống và giá trị, vai trò của mỗi cá nhân trong cuộc sống Qua đó tôi đưa ra sáng kiến kinh nghiệm về giảng dạy bài Oxi – Ozon (tiết 2) – Hóa học 10 – Ban cơ bản, giúp học sinh phát huy tốt tính tích cực, chủ động trong học tập, tự tin phát huy năng lực của bản thân
Bài giảng được thiết kế theo hướng: giáo viên là người tổ chức, định hướng các hoạt động học tập còn học sinh thực hiện các nhiệm vụ do giáo viên chuyển giao một cách chủ động, tích cực Giáo viên theo dõi quá trình thực hiện nhiệm vụ của học sinh hỗ trợ kịp thời những khó khăn, vướng mắc nhằm giúp học sinh giải quyết vấn đề học tập một cách hiệu quả, phù hợp với mục tiêu phát triển năng lực cho học sinh
Phương pháp dạy học: phương pháp nghiên cứu bài học, phương pháp hợp tác, thuyết trình
Kĩ thuật dạy học: kĩ thuật sử dụng sơ đồ tư duy, phối hợp kĩ thuật trạm – góc, kĩ thuật trò chơi
Trang 5Bài giảng thực hiện trong 1 tiết học.
I- Mục tiêu
1 Kiến thức, kĩ năng, thái độ
a) Kiến thức
Học sinh trình bày được:
- Tính chất vật lí, tính chất hóa học, ứng dụng của ozon
- Vai trò của ozon đối với sự sống trên trái đất, đối với con người
b) Kĩ năng
- Dự đoán tính chất hóa học, kiểm tra dự đoán bằng thí nghiệm và rút ra kết luận
- Viết các phương trình hoá học minh họa tính chất hoá học của ozon
- Quan sát thí nghiệm rút ra kết luận cần thiết về tính chất của ozon
c) Thái độ
- Say mê, hứng thú học tập môn hóa học, phát huy khả năng tư duy của học sinh từ đó tin tưởng vào khoa học
- Vận dụng tính chất của ozon vào thực tế cuộc sống
- Có ý thức bảo vệ môi trường sống
2 Định hướng các năng lực có thể hình thành và phát triển
- Năng lực tự học; năng lực hợp tác;
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ hoá học;
- Năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào cuộc sống;
- Năng lực về công nghệ thông tin;
- Năng lực về thẩm mĩ: tạo ra sản phẩm có tính thẩm mĩ
II- Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
1 Giáo viên
- Chuẩn bị hệ thống câu hỏi và bài tập sách giáo khoa
- Máy tính, máy chiếu, video thí nghiệm phân biệt oxi, ozon
- Các phiếu học tập, câu hỏi kiểm tra đánh giá theo từng mức độ
2 Học sinh
- Ôn lại các kiến thức đã học có liên quan: tính chất hóa học của oxi
- Hoàn thành nội dung về nhà theo yêu cầu của giáo viên
- SGK, vở ghi bài, giấy nháp, giấy A2 để vẽ sơ đồ tư duy, bút…
- Đọc trước bài ozon, tóm tắt nội dung chính
III- Chuỗi các hoạt động học
1 Giới thiệu chung
Giáo viên huy động các kiến thức học sinh đã được học về phản ứng oxi hóa- khử và tính chất hóa học chung của oxi dự đoán tính chất hóa học của ozon
Hoạt động trải nghiệm, kết nối: Rèn luyện kĩ năng về tin học, kĩ năng
thuyết trình để tìm hiểu về tầng ozon và sự suy giảm tầng ozon
Trang 6Hoạt động hình thành kiến thức: Thông qua hoạt động nhóm, trả lời
phiếu học tập và các kiến thức đã học học sinh hình thành kiến thức về cấu tạo, tính chất, ứng dụng của ozon
2 Thiết kế chi tiết từng hoạt động học
Giao việc về nhà cho học sinh chuẩn bị trước ít nhất 5 ngày: tìm hiểu về cấu tạo, tính chất vật lí, tính chất hóa học, ứng dụng của ozon
Chia lớp thành 4 nhóm chuyên sâu, mỗi nhóm từ 7 đến 8 học sinh tùy theo sĩ số lớp, quy định số thứ tự của nhóm Mỗi nhóm làm 1 bài thuyết trình dạng powerpoint trình bày nội dung về tầng ozon, sự suy giảm tầng ozon, tác hại, nguyên nhân và giải pháp Độ dài bài powerpoint không quá 5 slide, trình bày bài thuyết trình không quá 5 phút
Giáo viên kiểm tra nội dung bài thảo luận nhóm của học sinh, hướng dẫn học sinh hoàn thiện, gửi lại bài và những nội dung cần điều chỉnh cho học sinh, yêu cầu học sinh hoàn thiện, nộp lại bài trước buổi học 2 ngày
2.1 Hoạt động trải nghiệm kết nối (10 phút)
Giáo viên bốc thăm ngẫu nhiên 1 học sinh lên thuyết trình bài của nhóm mình về sự suy giảm tầng ozon, tác hại, nguyên nhân, giải pháp (5 phút) Các nhóm còn lại theo dõi, nhận xét, bổ sung (3 phút)
Giáo viên chốt kiến thức: bổ sung phần còn thiếu, sai sót trong báo cáo của học sinh (2 phút)
Kết quả:
+ Tầng ozon: tầng bình lưu cách mặt đất từ 17 – 50 km, có tác dụng hấp thụ tia tử ngoại, làm giảm lượng tia tử ngoại chiếu xuống trái đất
+ Sự suy giảm tầng ozon: là hiện tượng giảm lượng ozon trong tầng bình lưu
+ Tác hại: Làm tăng lượng tia tử ngoại chiếu xuống trái đất, phá hủy hệ thống miễn dịch của con người và động vật; ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển của thực vật, giảm năng suất cây trồng; làm giảm tuổi thọ, độ bền chắc của các loại vật liệu…
Trang 7Hình 3 Ảnh chụp từ vệ tinh về lỗ thủng tầng ozon ở Nam Cực
+ Nguyên nhân: các khí NxOy, CFC… phản ứng với phân tử ozon làm giảm lượng ozon
- Khí thải công nghiệp, phương tiện giao thông: NO2, SO2…
- Khí thải CFC (freon) từ bộ phận làm lạnh của máy lạnh: tủ lạnh, điều hòa…
- Các vụ thử hạt nhân, nhà máy điện hạt nhân thải ra các khí…
- Từ tự nhiên: khí thải núi lửa, cháy rừng…
+ Giải pháp:
- Tránh sử dụng những sản phẩm có chứa chất gây hại cho tầng ozon: máy lạnh chứa chất CFC, bình cứu hỏa chứa các dẫn xuất halogen, các chất
xử lí bề bặt chứa etyl brommua; thải bỏ đúng cách máy lạnh, tủ lạnh sản xuất trước năm 1995…
- Vận động bảo vệ tầng ozon: sử dụng phân bón hiệu quả…
- Thay đổi thói quen để bảo vệ tầng ozon: tăng cường sử dụng phương tiện công cộng (xe bus, ), dùng xe đạp, hạn chế sử dụng phương tiện giao thông cá nhân (xe máy, ô tô riêng…)
Sau khi giáo viên chốt kiến thức, học sinh chấm bài nhóm đại diện theo
hướng dẫn chấm số 1, sau đó ghi nhanh kiến thức trọng tâm của hoạt động
này
Hướng dẫn chấm số 1
Trang 8STT Nội dung Điểm Cách tính điểm
1 Khái niệm tầng ozon, sự
suy giảm tầng ozon
2 Mỗi nội dung sai -1 điểm
2 Nguyên nhân của sự suy
giảm tầng ozon
2 Thiếu mỗi nguyên nhân -0,5 điểm
3 Tác hại của sự suy giảm
tầng ozon
2 Thiếu 1 tác hại -0,25 điểm
4 Đề xuất giải pháp giảm
thiểu sự suy giảm tầng
ozon
2 Đề xuất được giải pháp 1,5 điểm
Giải pháp có tính sáng tạo 0,5 điểm
5 Điểm cộng thêm:
- Thuyết trình tốt
- Tính khoa học, thẩm
mĩ của bài powerpoint
1 1
Bài thuyết trình bằng powerpoint của các nhóm còn lại giáo viên sẽ chuyển cho tất cả các nhóm về nhà cùng xem sau buổi học Mỗi nhóm sẽ làm một phiếu nhận xét, đánh giá về nội dung bài powerpoint của các nhóm còn
lại, cho điểm từng nhóm theo hướng dẫn chấm số 1 của giáo viên Giáo viên
tổng hợp, công bố điểm hoạt động 1 trước lớp vào tiết học sau.
2.2 Hoạt động hình thành kiến thức (25 phút)
Mục tiêu hoạt động
- Học sinh giải thích được tính chất hóa học của ozon, viết được phương trình hóa học chứng minh tính oxi hóa của ozon
- Rèn luyện năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học, năng lực thẩm mĩ
Phương thức tổ chức hoạt động
GV: Cho 4 nhóm HS chuyên sâu tiến hành nghiên cứu mục B – OZON (SGK
trang 126 – Hóa học 10 - ban cơ bản) thảo luận vẽ sơ đồ tư duy tóm tắt kiến thức về ozon theo 4 nội dung (trong 7 phút)
(1) Cấu tạo phân tử (2) Tính chất vật lí
(3) Tính chất hóa học
(4) Ứng dụng của ozon
Trang 9Nhiệm vụ của nhóm chuyên sâu: hoàn thành sơ đồ tư duy, truyền đạt lại cho
các bạn trong nhóm mảnh ghép về những gì mình nghiên cứu được, đặt câu hỏi, thảo luận, ghi nhận kết quả
Sau 7 phút các HS của từng nhóm chuyên sâu sẽ tách ra về các nhóm mảnh ghép (HS có số thứ tự giống nhau trong các nhóm chuyên gia sẽ về cùng
1 nhóm mảnh ghép (TRẠM), TRẠM được đánh số thứ tự từ 1 đến 4)
Hình 4 Sơ đồ thực hiện kĩ thuật mảnh ghép
Nhiệm vụ của mỗi nhóm mảnh ghép: thảo luận về nội dung theo yêu cầu tại mỗi trạm Sau đó các nhóm mảnh ghép sẽ di chuyển lần lượt theo thứ tự qua hết các trạm để thảo luận các nội dung còn lại, thời gian tại mỗi trạm là 2 phút
Sơ đồ di chuyển của các nhóm mảnh ghép
GV: Nhận kết quả của 1 học sinh bất kì, chiếu lên bảng
HS: Theo dõi, nhận xét kết quả
GV: Nhận xét, bổ sung, chốt kiến thức.
Các nhóm chấm chéo sơ đồ theo hướng dẫn chấm số 2 (3 phút)
Hướng dẫn chấm số 2
hoặc thiếu trừ 0,5
điểm
5 Điểm cộng thêm: - Tính khoa học
- Tính thẩm mĩ
1 1
Trang 10Sau khi học sinh chấm xong, giáo viên thu phiếu chấm, công bố điểm của hoạt động 2 trước lớp, yêu cầu học sinh giải thích các lỗi trừ điểm, chốt điểm cuối cùng của hoạt động này
Điểm của toàn bài là điểm trung bình của 2 hoạt động được lấy vào điểm
hệ số 1 cho học sinh.
Hình 5 Gợi ý sơ đồ tư duy về ozon
2.3 Hoạt động luyện tập (10 phút): hình thức game show
- Nhóm giơ tay trả lời đúng nhiều nhất được tặng 1 phần quà bí mật, bất ngờ (Giáo viên chuẩn bị quà trước)
Các câu hỏi:
Câu 1: Hãy chọn phát biểu đúng về oxi và ozon.
A Oxi và ozon đều có tính oxi hoá mạnh như nhau
B Oxi và ozon đều có số proton và nơtron giống nhau trong phân tử
C Oxi và ozon là các dạng thù hình của nguyên tố oxi
D Cả oxi và ozon đều phản ứng được với các chất như Ag, KI, PbS ở nhiệt
độ thường
Câu 2: Hoạt động nào sau đây không gây phá hủy tầng ozon?
A Sử dụng chất làm lạnh có chứa CFC
B Thải khí của các phương tiện giao thông, nhà máy công nghiệp
C Thử hạt nhân
D Trồng cây xanh
Trang 11Câu 3: Khi máy in, máy photo đang hoạt động thường sinh ra một chất khí
có mùi khó chịu Khí đó là
Câu 4: Ở các bệnh viện, trại dưỡng lão, khu nghỉ dưỡng người ta thường
trồng cây thông do nguyên nhân chủ yếu là do
A cây thông tạo bóng mát tốt
B gỗ thông có giá trị lớn
C nhựa thông rất dễ bị ôxi hóa giải phóng lượng nhỏ ozon làm cho không khí trong lành hơn
D cây thông dễ trồng
Câu 5: Để phân biệt khí O2 và O3 ta không thể dùng cách nào sau đây?
A Cho tác dụng với dung dịch KI cùng với hồ tinh bột
B Cho tác dụng với PbS (đen)
C Cho tác dụng với Ag tạo Ag2O có màu đen
D Cho than nung đỏ vào 2 bình khí
2.4 Hoạt động vận dụng, tìm tòi, mở rộng
Câu 1 Trình bày phương pháp hóa học để phân biệt oxi, ozon?
- Học sinh trả lời
- Giáo viên nhận xét, bổ sung một số phản ứng có thể phân biệt được oxi với ozon, nhấn mạnh cách đơn giản nhất là dùng dung dịch KI có hòa thêm một ít
hồ tinh bột
Sau đó giáo viên cho học sinh theo dõi video thí nghiệm phân biệt oxi, ozon bằng dung dịch KI
Hình 3 Phản ứng của oxi, ozon với dung dịch KI (được cắt ra từ video)
Trang 12Bảng: Một số thuốc thử có thể dùng để phân biệt oxi và ozon
1 Kim loại Ag Kim loại Ag chuyển sang màu xám đen
2Ag + O3 → Ag2O + O2 O2 + Ag → Trắng bạc Đen
2 Muối PbS Muối PbS từ màu đen chuyển sang màu trắng
PbS + 2O3 → PbSO4 + O2 O2 + PbS → Đen Trắng
3 Dung dịch KI
có hòa thêm
dung dịch hồ
tinh bột
Dung dịch xuất hiện màu xanh tím
2KI + H2O + O3 → 2KOH + I2 ↓ + O2↑
KI + H2O + O2 →
Lưu ý các phản ứng đều xảy ra ở điều kiện thường
Câu 2 Một số thiết bị điện có thể sản sinh ra ozon mà con người có thể ngửi
thấy dễ dàng: các thiết bị sử dụng điện cao áp (như ti vi, máy phôtôcopy, máy in), các động cơ lớn (những chiếc được sử dụng cho máy nâng hay máy bơm thủy lực…) có khả năng gây hại cho người tiếp xúc thường xuyên Em hãy giải thích tại sao ozon lại gây hại và đề xuất các phương pháp giảm thiểu
sự gây hại của ozon trong các trường hợp trên?
Nhiệm vụ về nhà: Em hãy tìm, kể tên các vật dụng trong gia đình mình có
chứa chất làm lạnh Hãy cho biết vật dụng đó có sử dụng chất làm lạnh là CFC không? Dựa vào đâu em biết điều đó?
- Về khả năng áp dụng của sáng kiến:
Sáng kiến được áp dụng thử trong dạy học bài Oxi – Ozon (tiết 2 – Hóa học lớp 10 – Ban cơ bản) tại lớp 10A6, 10A7 trường THPT Lưu Nhân Chú được học sinh đón nhận và thực hiện nhiệm vụ một cách tích cực, hứng thú Qua việc chuẩn bị bài theo yêu cầu của giáo viên giao cho học sinh về nhà làm, các em đã chủ động tìm hiểu, nghiên cứu về bài học từ các nguồn kiến thức: sách, báo, internet…Các em hiểu rõ nội dung bài học, tự tìm hiểu, trải nghiệm, và tự trình bày kết quả tìm hiểu, trải nghiệm của mình Từ đó, các em
có thể áp dụng kiến thức vào cuộc sống một cách tự nhiên, biết cách bảo vệ sức khỏe bản thân, bảo vệ môi trường, bảo quản đồ dùng…
- Những thông tin cần được bảo mật: Không
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: