NỘI DUNG BÀI DỰ THICứ đến những ngày mùa thu tháng 8 lịch sử, lòng tôi lại nôn nao nhớ về mộtngày kỷ niệm in rất sâu đậm trong tim mỗi người con hai dân tộc hai sườn dãyTrường Sơn oai ng
Trang 2BÀI DỰ THI TÌM HIỂU LỊCH SỬ QUAN HỆ ĐẶC BIỆT VIỆT NAM - LÀO, LÀO - VIỆT NAM NĂM 2017Người tham gia:
Tôn giáo: không
Đơn vị: Phó Bí thư Chi đoàn Công
an, Đoàn phường Phước Long, Nha
Trang, Khánh Hoà
Nơi thường trú: 372 Nguyễn Tất
Thành, Tổ 1, M’Drắk, Dak Lak
2
Trang 3NỘI DUNG BÀI DỰ THI
Cứ đến những ngày mùa thu tháng 8 lịch sử, lòng tôi lại nôn nao nhớ về mộtngày kỷ niệm in rất sâu đậm trong tim mỗi người con hai dân tộc hai sườn dãyTrường Sơn oai nghiêm, hùng vĩ: Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, đó là ngày thiếtlập quan hệ ngoại giao hai nước, điểm khởi đầu về thể thức để hai dân tộc càng gầnnhau, càng giúp đỡ, chia ngọt sẻ bùi, cùng phát huy những tương đồng từ bao đờicủa hai dân tộc nay càng có cơ hội phát triển, mang lại những hoa thơm trái ngọttrong công cuộc dựng xây xã hội chủ nghĩa của hai đất nước anh em ruột thịt, ngày
05 tháng 9 năm 1962, khi mà cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược đangbước vào cao trào với những biến chuyển mới, khó khăn, thử thách nhưng cũng thểhiện bản lĩnh, tinh thần đoàn kết, chính nghĩa hai dân tộc để đưa cuộc khởi nghĩa,
sự hợp tác đi từ thắng lợi quan trọng này đến thắng lợi quan trọng khác, quyết địnhhoà bình, độc lập, tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ mỗi quốc gia tự chủ, bìnhđẳng và hơn hết, tim tôi không bao giờ quên, cũng không lần nào không bồi hồi,xúc động và… rưng rưng khi nhớ đến câu ca của Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm sâutrong lòng mỗi người con Việt - Lào:
Việt - Lào, hai nước chúng ta Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long
Câu ca ấy có thể thay tôi nói những suy nghĩ của mình về tình đoàn kết, gắn
bó keo sơn, thuỷ chung, khăng khít giữa hai dân tộc hiếm thấy trong lịch sử nhânloại
Trải lòng mình một chút, trở lại với cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam năm 2017” được tổ chức nhiều lần, tôi vui
mừng biết bao khi biết tin cuộc lần lại một lần nữa diễn ra vì đây là cơ hội tôi mongchờ, ấp ủ để được trải lòng mình về tình cảm với những người anh em ruột thịt bênkia dãy Trường Sơn mà không dễ gì kẻe xiết cũng không phải lúc nào cũng có cơ
hội thuận lợi để “dốc bầu”.
Trang 4Lào là quốc gia Đông Nam Á trong bán đảo Đông Dương có chung đườngbiên giới dài 2069 km về phía Tây, được Việt Nam ôm trọn phía biển Đông, đườngbiên giới giữa Việt Nam và Lào trải dài suốt 10 tỉnh của Việt Nam là: Điện Biên,Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế,Quảng Nam và Kon Tum cũng thật trùng hợp tiếp giáp với 10 tỉnh phía Lào là:Phông-xa-lỳ, Luông-pha-bang, Hủa-phăn, Xiêng-khoảng, Bô-ly-khăm-xay, Khăm-muồn, Xa-van-na-khẹt, Xa-la-van, Xê-kông và Ắt-tạ-phư Quan hệ đặc biệt ViệtNam - Lào có nhiều cơ sở khách quan, tất yếu.
Về các điều kiện tự nhiên, Việt Nam và Lào nằm ở trung tâm bán đảo Ấn
-Trung, thuộc vùng Đông Nam Á lục địa Trong phạm vi của bán đảo Đông Dương,Việt Nam nằm ở phía đông dãy Trường Sơn, như một bao lơn nhìn ra biển; Làonằm ở sườn tây dãy Trường Sơn, lọt sâu vào vùng đất liền của bán đảo Như vậy,dãy Trường Sơn có thể ví như cột sống của hai nước, tạo thành biên giới tự nhiêntrên đất liền giữa Việt Nam và Lào Với địa hình tự nhiên này, về đường bộ cả ViệtNam và Lào đều theo trục Bắc - Nam Còn về đường biển, con đường gần nhất đểLào có thể thông thương ra biển đó là từ Sầm Nưa thuộc tỉnh Hủa Phăn (Lào) quaThanh Hoá; Xiêng khoảng (Lào) qua Nghệ An; Khăm Muộn (Lào) qua Hà Tĩnh;Xa-van-na-khẹt (Lào) qua Quảng Trị và Khăm Muộn (Lào) qua Quảng Bình Dođiều kiện tự nhiên nên sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và Lào có nhiềuđiểm tương đồng, lại vừa có những nét khác biệt Dãy Trường Sơn, biên giới tựnhiên giữa Việt Nam và Lào được ví như bức tường thành hiểm yếu, để hai nướctựa lưng vào nhau, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau tạo ra thế chiến lược khống chếnhững địa bàn then chốt về kinh tế và quốc phòng, trở thành điểm tựa vững chắccho Việt Nam và Lào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
Về các nhân tố dân cư, xã hội: Việt Nam và Lào đều là những quốc gia đa dân
tộc, đa ngôn ngữ Hiện tượng một tộc người sống xuyên biên giới quốc gia của hainước, hoặc nhiều nước là đặc điểm tự nhiên của sự phân bố tộc người ở khu vực
Trang 5Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam và Lào nói riêng Đặc điểm này, đến nay vẫntiếp tục chi phối mạnh mẽ các mối quan hệ khác trên đường biên giới quốc gia ViệtNam-Lào Chính quá trình cộng cư, hoặc sinh sống xen cài của những cư dân ViệtNam và cư dân Lào trên địa bàn biên giới của hai nước đã dẫn đến việc cùng khaithác và chia sẻ nguồn lợi tự nhiên, đặc biệt là nguồn lợi sinh thuỷ Điều này, thêmmột lần nữa khẳng định các quan hệ cội nguồn và quan hệ tiếp xúc chính là nhữngđiều kiện lịch sử và xã hội đầu tiên, tạo ra những mối dây liên hệ và sự giao thoavăn hoá nhiều tầng nấc giữa cư dân hai nước.
Về nhân tố văn hoá và lịch sử, do quan hệ gần gũi và lâu đời nên người Việt
và người Lào đặc biệt là người dân ở vùng biên giới am hiểu về nhau khá tường
tận Trong cuốn “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi đã mô tả khá ấn tượng về nền vănhoá độc đáo và phong tục thuần phác của dân tộc Lào, cũng như hiện tượng giaothoa văn hoá nở rộ giữa Đại Việt với các nước láng giềng Đông Nam Á, trong đó
có Lào Lạn Xạng Sự giao thương của người dân Lào với người dân Việt nhất làvới người dân các tỉnh biên giới của Việt Nam cũng khá nhộn nhịp Điều đáng chú
ý là trong quan hệ giao thương với Đại Việt, Lào Lạn Xạng đã không ít lần bộc lộmối quan tâm của mình muốn hướng ra biển, trong khi Đại Việt lại tìm cơ hội để
mở rộng buôn bán vào sâu lục địa Mặc dầu Việt Nam và Lào có tiếng nói, văn tựkhông giống nhau, sáng tạo và lựa chọn các nền văn hóa cũng như các hình thức tổchức chính trị -xã hội khác nhau, nhưng những nét tương đồng thì vẫn thấy phổbiến trong muôn mặt đời sống hàng ngày của cư dân Việt Nam và Lào Sự tươngđồng giữa văn hóa làng – nước của người Việt và văn hóa bản - mường của ngườiLào xuất phát từ cội nguồn cùng nền văn minh nông nghiệp lúa nước ở Đông Nam
Á Đồng thời, lòng nhân ái bao la và đời sống tâm linh phong phú, trong đó cónhững ảnh hưởng sâu đậm của đạo Phật mà trong cách đối nhân xử thế của mình,nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào bao giờ cũng nêu cao những phẩm chất yêuthương và hướng thiện Trong tiến trình lịch sử cả hai dân tộc đều phải ngoan
Trang 6cường chống ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập dân tộc Trải qua những biến cốthăng trầm của lịch sử, hai nước Đại Việt - Lạn Xạng, Lạn Xạng - Đại Việt mặc dùkhông phải không có những thời khắc gặp nguy nan nhưng với tinh thần lấy hoàhiếu làm trọng nên đã sáng suốt và công bằng, có ý thức đề cao không thù hận,quan hệ nương tựa vào nhau giữa nhân dân hai nước vẫn tiếp tục được nuôi dưỡng,đồng thời biết chủ động vun đắp tình thân ái và hữu nghị lâu dài giữa hai dân tộc.
Từ đầu thế kỷ 20, không cam chịu ách nô lệ, nhân dân hai nước Lào-Việt Nam
đã đoàn kết, cùng nhau đấu tranh chống Pháp Như vậy, trước 1930, hai dân tộcLào-Việt đã đoàn kết cùng chiến đấu chống kẻ thù chung, nhưng lúc đó chỉ dừnglại ở tính chất tự phát do hạn chế về trình độ nhận thức và điều kiện lịch sử
Từ thực tế tình hình trong nước và các nước Đông Dương những năm đầu thế
kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” Người luôn đặt cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam gắn bó mật thiết với cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc của nhân dân các nước trong đó có dân tộc Lào Người cũng luônquan tâm sâu sắc và coi việc giúp đỡ Lào vừa là trách nhiệm vừa là nghĩa vụ, làmột nội dung quan trọng nhất của tình đoàn kết và liên minh chiến đấu Việt - Lào.Người không chỉ đóng góp về lý luận, đường lối, phương hướng cách mạng màNgười còn quan tâm đến cả việc tổ chức, chỉ đạo thực tiễn cách mạng Lào
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các phong trào đấu tranh ở Việt Nam diễn ramạnh mẽ và lan rộng trong cả nước và có ảnh hưởng lớn đến Lào Các phong tràođấu tranh của nhân dân Việt Nam cũng đã nhận được sự ủng hộ của nhân dânLào Trước vận mệnh của các dân tộc Đông Dương, Trung ương Đảng Cộng sảnĐông Dương đã liên tiếp tổ chức các cuộc hội nghị quan trọng để bàn chủ trương
và biện pháp lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân đi đến thắng lợi Đặc biệt,tháng 5 năm 1941 lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị Ban Chấp hànhTrung ương Đảng lần thứ VIII quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng
Trang 7đầu của cách mạng Đông Dương, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từngnước và thành lập ở mỗi nước một Mặt trận Dân tộc Thống nhất rộng rãi
Từ khi có chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, đặcbiệt là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời do Chủ tịch Hồ Chí Minh sánglập, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng của hai dân tộc Lào - Việt Namtình đoàn kết đó đã được phát triển mạnh mẽ và liên tục Chủ tịch Hồ Chí Minhvượt lên mọi khó khăn, gian khổ, đã tự mình khám phá thế giới tư bản chủ nghĩa vàcác dân tộc thuộc địa, nhằm phát hiện chân lý cứu nước Người tiếp nhận và vậndụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Đông Dương đểxác định con đường giải phóng các dân tộc Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia theo conđường cách mạng vô sản Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn
Ái Quốc rất quan tâm đến tình hình Lào Người không chỉ lên án chế độ thực dânPháp nói chung mà còn tố cáo cụ thể sự tàn bạo của thực dân Pháp ở Lào Hội ViệtNam Cách mạng Thanh niên - một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộngsản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6 năm 1925 tạiQuảng Châu (Trung Quốc), đến tháng 2 năm 1927, Hội này gây dựng được cơ sởtại Lào Thông qua hoạt động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Lào,Nguyễn Ái Quốc thấy đây là điều kiện thuận lợi để người Việt Nam vừa tham giacuộc vận động cứu nước tại Lào, vừa sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng mốiquan hệ đoàn kết khăng khít giữa Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam Hội Việt NamCách mạng Thanh niên đã lập Hội Ái hữu, Hội Việt kiều yêu nước, mở các lớphuấn luyện cách mạng trên đất Lào Trên thực tế, từ nửa sau những năm 20 thế kỷ
XX, Lào là một đầu cầu trực tiếp truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng cứunước mới của Nguyễn Ái Quốc vào Đông Dương Năm 1928, đích thân Người bímật tổ chức khảo sát thực địa tại Làocàng cho thấy mối quan hệ gắn bó mật thiếtgiữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào Cũng trong năm này, chi bộ Thanhniên cộng sản đầu tiên được thành lập tại Viêng Chăn, đồng thời đường dây liên lạc
Trang 8giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Nam được tổ chức Vì vậy, mối quan hệ đặc biệtgiữa hai nước Việt – Lào được khẳng định từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lậpĐảng Cộng sản Việt Nam.
Tháng 10 năm 1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sảnViệt Nam quyết định đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương, đặt phong tràocách mạng hai nước Việt Nam và Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ĐôngDương do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Sự kiện này đánh dấu mốc quantrọng trong mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai quốc gia Việt Nam - Lào
Trên hành trình trở về Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc, Lào cũng là địa bànđầu tiên tnơi bổ sung những cơ sở thực tiễn mới cho công tác chính trị, tư tưởng và
tổ chức của Người về phong trào giải phóng dân tộc ở ba nước Đông Dương Quátrình Nguyễn Ái quốc đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào –Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp tới của cách mạng Việt Namcũng như cách mạng Lào
Việt Nam và Lào là 2 quốc gia láng giềng của nhau Trong nhiều giai đoạn lịch
sử Lào chịu sự chi phối giữa Xiêm và Đại Việt Thời kỳ nhà Nguyễn coi các quốcgia Vương quốc Luông Pha-bang, vương quốc Viêng Chăn, vương quốcPhuan, vương quốc Chăm-pha-sắc, vương quốc Khơ-me là phiên bang của ViệtNam Cho đến khi triều Nguyễn suy yếu, các vương quốc này lại chịu sự chi phốicủa Xiêm và sau đó là thực dân Pháp Trong giai đoạn đấu tranh chống thực dânPháp trong cuối thế kỷ 19, nhiều cuộc nổi dậy của người Việt Nam cũng lan sang
và phát triển tại Lào, nhưng sau đó đều bị dập tắt Năm 1930, Đảng Cộng sản ĐôngDương ra đời và nhiều đảng viên bí mật tại Lào và Cam-pu-chia xuất hiện trongĐảng, người Việt Nam chiếm tuyệt đối trong Đảng chỉ có phần nhỏ là Lào và Cam-pu-chia
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân hainước đã cùng sát cánh bên nhau viết nên những trang sử chói lọi và cùng nhau xây
Trang 9dựng mối quan hệ đoàn kết nghĩa tình đặc biệt mà tiên phong là Chủ tịch Hồ ChíMinh, Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản và Chủ tịch Xu-pha-nu-vông đã dày côngvun đắp Mối quan hệ được Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cáchmạng Lào cũng như Nhà nước hai quốc gia coi là mối quan hệ đặc biệt với vai trònhư đồng minh chiến lược của nhau mà không có bất kỳ bản cam kết đồng minhnào, chuyện hiếm trong lịch sử thế giới hiện đại Trong lịch sử quan hệ quốc tế,quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam là một điển hình, một tấm gươngmẫu mực, thuỷ chung, trong sáng, được bắt nguồn từ các điều kiện tự nhiên, nhân
tố dân cư, xã hội, văn hoá và lịch sử, truyền thống chống giặc ngoại xâm của nhândân hai nước
Ngày 05 tháng 9 năm ấy đến năm 2017 đã là 55 năm kể từ ngày Việt Nam vàLào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao (5/9/1962 - 5/9/2017) và tròn 40 nămtính từ thời điểm hai nước ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (18/7/1977 -18/7/2017) Đây là những dấu mốc trọng đại trong quan hệ truyền thống, hữu nghị,láng giềng giữa hai quốc gia cùng dựa vào dải Trường Sơn và dòng sông Mê-kông.Nhìn lại chặng đường lịch sử hào hùng, chúng ta có thể tự hào về quá trình hìnhthành và phát triển của mối quan hệ đặc biệt, hiếm có giữa hai dân tộc tinh thầnđoàn kết Việt Nam - Lào tiếp tục được hun đúc và tôi luyện hơn khi hai nước khôngngừng hỗ trợ nhau trên các mặt trận quân sự và đối ngoại, làm thất bại mọi âm mưuphá hoại và tiến hành chiến tranh của chủ nghĩa thực dân mới Ngày 05 tháng 9năm 1962, Việt Nam và Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra một giaiđoạn mới trong lịch sử quan hệ hai nước Liên minh chiến đấu của quân và dân hainước Việt - Lào ngày càng được tăng cường Dãy Trường Sơn hùng vĩ với hai nửaTrường Sơn Đông - Trường Sơn Tây đã trở thành biểu tượng sinh động của mối
quan hệ keo sơn “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” và sau này “mãi mãi keo sơn, đời đời bền vững” mà nhất là câu chuyện rơi nước mắt về mẹ Lào chia sữa của con
cứu bộ đội tình nguyện Việt Nam mà tôi đã đọc được và sẽ kể dưới đây trong
Trang 10những năm tháng gian khổ nhưng đầy vinh quang, cùng góp phần to lớn giúp nhândân và các lực lượng vũ trang hai nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác màđỉnh cao là Đại thắng Mùa Xuân 1975 tại Việt Nam và Chiến thắng ngày 2 tháng
12 năm 1975 tại Lào
Trong lịch sử cùng đấu tranh giữ đấu tranh giữ nước, Hà Nội được coi là trungtâm đầu não của toàn bộ Đông Dương, đặt các trụ sở hành chính, giáo dục, vănhóa vì vậy rất nhiều trí thức và người trong hoàng gia các vương quốc sang HàNội học tập Khi Nhật tiến vào Đông Dương, và sau đó đảo chính Pháp và lập racác quốc gia tự chủ theo danh nghĩa tại Lào và Việt Nam, nội các hai nước cũng cóquan hệ nhỏ mang tính chất hai quốc gia thuộc khối Đại Đông Á
Ngày 4 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đã mời Hoàng thân vông đang ở Vinh ra Hà Nội, đã đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng mối quan
Xu-pha-nu-hệ Việt - Lào Đến khi Pháp quay lại Đông Dương năm 1946, Lào được thống nhấtthành quốc gia chung Vương quốc Lào do Pháp bảo hộ theo cách Lào là quốc giathuộc khối Liên hiệp Pháp Lào Ít-xa-ra bị Pháp tấn công tan rã, số nhỏ rút sangThái và Việt Nam Chiến tranh Đông Dương nổ ra, tháng 8 năm 1950 hoàng thânXu-pha-nu-vông đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương đổi tên nhóm lực lượngLào Ít-xa-ra do ông lãnh đạo sang tổ chức vũ trang Pha-thét Lào, thành lập chínhphủ kháng chiến Lào Tháng 2 năm 1951 Đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương lầnthứ II được tổ chức, Cay-xỏn Phôm-vi-hản tham dự với tư cách trưởng đoàn đạibiểu Lào Tình hình tại Đông Dương liên tục thất bại, thực dân Pháp quyết địnhtrao trả độc lập cho Lào để tập trung bình định Việt Nam Tại Lào trong năm 1953,lực lượng Pha-thét Lào cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam liên tiếp đánh chiếmnhiều vùng do Pháp và chính quyền Vương quốc Lào nằm giữ Đến cuối năm 1953,Pha-thét Lào kiểm soát được Thượng Lào, một số tỉnh tại Trung và Hạ Lào
Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, lực lượng cộng sản Lào tập kết tạihai tỉnh Phông-xa-lỳ và Sầm Nưa cho tới khi có bầu cử thống nhất Lào vào năm
Trang 111955 Năm 1955 Đảng Nhân dân Cách mạng Lào được thành lập với tiền thân làĐảng Cộng sản Đông Dương, người gốc Việt chiếm đa số trong Đảng Chính phủLiên hiệp các đảng phái được thành lập và bầu cử năm 1958 diễn ra với sự thắngthế của Mặt Trận Lào Yêu Nước do hoàng thân Xu-pha-nu-vông lãnh đạo
Sau này, đến những năm 1959 - 1960 tại Lào liên tiếp xảy ra các cuộc đảochính quân sự, Hoa Kỳ và Liên Xô ủng hộ 2 chính quyền khác nhau tại Lào Do longại sự can thiệp của Đảng Cộng sản Trung Quốc vào Lào, Liên Xô và Hoa Kỳthống nhất ủng hộ giải pháp liên hiệp Chính phủ liên hiệp lần hai ra đời nhưng chỉ
ổn định tới năm 1968 Sau năm 1968, phe Cộng sản và phái hữu tại Lào lại tiếp tụcgiao tranh Xu-pha-nu-vông được Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp ủng hộ,đào tạo cán bộ cho cách mạng Lào, người Việt Nam trở thành chuyên gia, bộ độitình nguyện cho Lào
Sau Chiến dịch Hồ Chí Minh, lực lượng cộng sản tại Lào cũng phát triểnmạnh mẽ và cuối cùng cũng đã giải phóng được Viêng Chăn tháng 12 tháng 1975,thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Năm 1976, Việt Nam và Lào đã
ký hợp tác trong các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, khoa học và kỹ thuật, tiếp sau đó là
ký hiệp ước 25 năm hữu nghị và hợp tác vào năm 1977, và Hiệp ước Hoạch địnhbiên giới quốc gia, và hiệp ước này cũng gây nên sự căng thẳng trong quan hệ giữaLào và Trung Quốc
Năm 1979 nổ ra Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979, Đảng Nhân dân Cáchmạng Lào đã ủng hộ Việt Nam trong cuộc chiến chống lại Trung Quốc xâm lượccắt đứt quan hệ với Trung Quốc Do lo ngại tình hình bất ổn tại biên giới Lào -Thái, quân tình nguyện Việt Nam lại tiếp tục hỗ trợ xây dựng Quân đội Nhân dânLào phát triển như ngày nay có khả năng đủ chống lại các cuộc ngoại xâm cũngnhư các phe phái thù địch
Kể từ năm 1980, Lào và Việt Nam chính thức thành lập Ủy ban hợp tác Lào-Việt Nam sẽ thường xuyên gặp nhau để phát triển các kế hoạch Các cấp độ hợp
Trang 12tác với nhau khác của Lào Việt Nam là các cuộc họp Đảng với Đảng, giao lưu tỉnhvới tỉnh, cũng như các đoàn thể thành niên và phụ nữ khác.
Ngày 24 tháng 1 năm 1986, hai nước ký kết một nghị định thư về phân địnhbiên giới và cắm mốc Hai quốc gia dự kiến hoàn thành cắm mốc biên giới vào năm2012
Sau khi Liên Xô tan rã, Lào và Việt Nam tích cực hợp tác với các quốc giakhác, nhưng quan hệ Lào-Việt Nam vẫn là mối quan hệ đặc biệt
Bước vào thời kỳ mới, thời kỳ xây dựng đất nước trong hòa bình và quá độ đilên shủ nghĩa cộng sản, quan hệ hai nước chuyển từ quan hệ đoàn kết trong chiếnđấu chống kẻ thù chung sang quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàndiện dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạngLào Ngày 18 tháng 7 năm 1977, hai nước ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Hiệpước có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tăng cường
và mở rộng mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trong thời kỳ mới; tạo cơ sở đểhai nước thúc đẩy ký kết hàng loạt các thỏa thuận hợp tác sau này Trong quá trìnhhợp tác và giúp đỡ lẫn nhau sau chiến tranh, Việt Nam đã cử nhiều đoàn chuyên giasang giúp Lào bảo đảm an ninh, ổn định đời sống, khôi phục sản xuất và phát triểnkinh tế Quan hệ hợp tác đó được thực hiện trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; đề cao ý chí tự lực, tự cường, hợp tác bình đẳng vàcùng có lợi
Bản chất của quan hệ đặc biệt đó bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn kếthợp với chủ nghĩa quốc tế trong sáng; tình đoàn kết thủy chung và niềm tin về lòngchân thành, trong sáng mà hai dân tộc Việt Nam, Lào dành cho nhau; sự giúp đỡđến mức cao nhất nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng và tạo nềntảng vững chắc cho sự phát triển tương lai của hai dân tộc Quan hệ Việt - Lào đượcxây đắp, nuôi dưỡng bằng công sức, của cải, xương máu của nhiều thế hệ cáchmạng người Việt Nam và Lào Trải qua rất nhiều gian nan, thử thách khắc nghiệt,
Trang 13quan hệ đó vẫn vẹn nguyên, không hề bị rạn nứt và phá vỡ cho dù các thế lực thùđịch dùng nhiều thủ đoạn chống phá, chia rẽ Bản chất của quan hệ đặc biệt ViệtNam - Lào, Lào - Việt Nam, được nuôi dưỡng, phát triển bằng sức cảm hóa sâu sắc
của quan điểm “giúp bạn là mình tự giúp mình” do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn.
Đây là câu nói cô đọng, giàu ý nghĩa chính trị, nhân văn, mở ra phương hướng xử
lý hài hòa lợi ích của hai dân tộc; là vũ khí sắc bén chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi,ban ơn Dựa trên luận điểm về quyền dân tộc tự quyết, cơ quan lãnh đạo cấp caoViệt Nam, Lào đã nhất trí tiến hành liên minh, hợp tác theo nguyên tắc tôn trọng
độc lập tự chủ của bạn như Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Cán bộ Việt Nam sang công tác ở Lào phải hoàn toàn ở dưới sự lãnh đạo của Chính phủ Trung ương Lào, nhất là của Thủ tướng Xu-pha-nu-vông Tuyệt đối không được tự cao, tự đại, không được bao biện ”
Tôi nhớ mãi một câu chuyện cảm động rơi nước mắt mẹ Lào chia sữa của con
mình cứu bộ đội tình nguyện Việt Nam như là hiến dâng máu của mình Câu
chuyện tôi đọc được đã được kể lại rằng có một cô gái mười tám tuổi có đứa conđầu lòng, nhưng trước hoàn cảnh người lính tình nguyện Việt Nam bị kiệt sức vì sốtrét, thiếu dinh dưỡng và có thể mất mạng, người mẹ trẻ đó đã vượt qua sự xấu hổ,vượt qua những điều cấm kỵ của phong tục dân tộc, nhường một phần sữa của concho người lính tình nguyện Việt Nam
Những giọt sữa quý giá của người mẹ trẻ đã giúp người lính hồi phục, góp
thêm vào kho tàng những câu chuyện, những hành động cao cả của tinh thần “sẵn sàng xả thân vì nhau” một trong những yếu tố quan trọng, góp phần tạo nên mối
quan hệ đặc biệt giữa hai nước Lào và Việt Nam
Người trải nghiệm, hôm ấy, vượt qua chặng đường gần 900km từ thủ đôVientiane về Xekong trong những cơn mưa đầu mùa của Lào vào những ngày cuốitháng Sáu vừa qua, nhờ sự giúp đỡ của Sở Ngoại vụ tỉnh Xê-kông, đã đến được nhà
mẹ Kanchia, ở bản Phông, huyện La-mam, tỉnh Xê-kông, Nam Lào Nhưng mẹ đã
Trang 14đi trông chắt cho cháu gái ở cách nhà gần 190km Nghĩ tới con đường đã qua, nghĩtới cảnh mẹ đang ở cái tuổi xưa nay hiếm và thời gian chẳng chờ ai, họ quyết địnhnhờ cô con gái của mẹ dẫn đường đến nhà cô cháu gái Cô con gái của mẹ cũngchưa bao giờ đến nhà cô cháu gái và trong suy nghĩ của cô, chỉ cần chạy xe ôtô vàitiếng là tới Và phải mất gần 3 tiếng vừa đi vừa gọi điện thoại hỏi đường, họ cũng
đã gặp được Mẹ Ông kể lại rằng: “Trái với sự hình dung của chúng tôi, mặc dù không còn khỏe nhưng nhìn mẹ vẫn còn khá trẻ, lúc chúng tôi đến, mẹ vẫn đang tất
tả vừa chăm sóc cho chắt, vừa tranh thủ giúp việc bếp núc cho các cháu.
Khi chúng tôi hỏi tuổi của mẹ, mẹ trả lời chịu vì thực tế mẹ không biết mình sinh năm bao nhiêu Tuy nhiên, khi chúng tôi hỏi về việc từng chia sẻ một phần sữa của con mình để cứu mạng một bộ đội tình nguyện Việt Nam bị sốt rét kiệt sức trong những năm tháng hai nước cùng chung chiến hào chống lại kẻ thù chung trước đây, mẹ bỗng chốc trở nên hoạt bát hơn hẳn và cho biết mẹ không thể nào quên được câu chuyện đó
Giải thích cho việc này, mẹ cho biết theo phong tục của người Lào, sữa chính
là dòng máu và chỉ có thể chia sẻ cho con, việc cho người khác là điều kiêng kỵ,
đặc biệt với một cô gái trẻ mới ở tuổi 18 như mẹ vào thời điểm đó, điều này còn khó hơn nhiều, do vậy mẹ làm sao có thể quên được
Theo lời kể của mẹ, quê mẹ nằm gần vùng có tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại đi qua, thời điểm đó, mẹ đang là cô du kích 18 tuổi, trong khi đứa con đầu của lòng của mẹ mới biết bò.
Chồng của mẹ lúc đó đang là cán bộ trong một đơn vị giải phóng của Lào (không nhớ đơn vị nào), có nhiệm vụ giúp quân đội Việt Nam bảo vệ tuyến đường hành quân, vận chuyển từ miền Bắc vào miền Nam
Theo lời mẹ, khi đó (mẹ cũng không nhớ rõ năm nào), nhằm chặn tuyến đường vận tải huyết mạch của Việt Nam, giặc Mỹ ngày đêm cho máy bay B52 và các loại máy bay khác bắn pháo sáng, thả bom Napal và rải chất độc hóa học…
Trang 15vào nhà dân và các khu vực rừng núi xung quanh khiến gia đình mẹ và dân bản phải liên tục di chuyển, lẩn trốn
Khi đó, đơn vị của mẹ đang đóng ở Huoi Dua (Suối Đừa), sâu trong rừng Trường Sơn, phía trên là một đơn vị quân đội Việt Nam, một buổi sáng, mẹ đang cho con bú, một chú bộ đội Việt Nam đến xin mẹ sữa cho một đồng đội bị ốm rất nặng trong đơn vị
Vì khi đó các kho lương thực của đơn vị bị bom Mỹ phá hỏng, đường vận chuyển bị gián đoạn nên không còn lương thực bồi dưỡng cho thương bệnh binh.
Mẹ cho biết, ban đầu mẹ xấu hổ quá, không dám trả lời, tuy nhiên, khi nhìn người lính xanh rớt, kiệt sức nằm thiêm thiếp được đồng đội khiêng tới, mẹ đã quyết định không có ngại ngần gì nữa
Mẹ nói: “Tôi nghĩ người Việt cũng như người Lào, tôi thương đồng chí đó vì
sợ nếu chết đi sẽ bỏ lại bố, mẹ, vợ, con ở quê nhà Tôi thương vì họ đều là bộ độitình nguyện Việt Nam sang giúp Lào chiến đấu Trước đó, tôi cũng chưa từng biếtđất nước Việt Nam ở chỗ nào, nhưng khi thấy anh em Việt Nam sang giúp đất nướcmình, tôi thương và yêu quý nên tôi quyết định vượt qua mọi ái ngại và cho sữa Cóngười hỏi tôi tại sao lại cho sữa như vậy, tôi kệ, tôi chỉ nghĩ rằng anh em Việt Namđến ở làng mình, chiến đấu cho mình, hy sinh xương máu vì mình, nếu mình không
chăm sóc sẽ như thế nào, còn gì là đoàn kết nữa”.
Từ những giọt sữa đầy nghĩa tình này, anh bộ đội tình nguyện Việt Nam đã dần hồi phục và đến gặp mẹ Kanchia để cảm ơn ân nhân cứu mạng và xin nhận làm con.
Sau khi bình phục, anh bộ đội tình nguyện Việt Nam đó đã quay trở lại đơn vị
và tiếp tục di chuyển sang địa bàn khác chiến đấu.
Kể từ đó, anh không còn dịp để trở lại bản xưa tìm lại “người mẹ” đã cứu mình ngày nào, có lẽ vì chiến tranh ác liệt, anh đã nằm lại ở một bản làng nào đó
Trang 16của Lào, cũng có thể vì một hoàn cảnh hoặc vì nhiều lý do khác không cho anh cơ hội
Trong quá trình tìm hiểu câu chuyện, tôi được biết Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Trung ương Hội Hữu nghị Lào - Việt Nam trong nhiều năm qua, ông Xai-kông Xay- a-xin từng nghe rất nhiều về những hành động, những câu chuyện đẹp về quan hệ hữu nghị Lào - Việt Nam, nhưng với ông, câu chuyện về người mẹ trẻ mới 18 tuổi, lại đang nuôi đứa con đầu lòng mà dám vượt qua sự ngại ngùng, xấu hổ, vượt qua những rào cản kiêng kỵ của phong tục, tập quán của dân tộc, để nhường sữa cho
bộ đội tình nguyện Việt Nam vẫn là một câu chuyện đặc biệt, có lẽ chỉ có trong quan hệ giữa hai nước Lào và Việt Nam.
Ông nói: “Tôi hết sức xúc động khi được nghe về câu chuyện này, đây là tấm
lòng của một người mẹ Chỉ có mẹ mới chia sẻ dòng sữa cho chính con của mình
Tôi nghĩ rằng chỉ có Việt Nam với Lào mới làm được như vậy”.
Năm 1975, đất nước Lào được giải phóng, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ra đời trong khi Việt Nam cũng đã thống nhất đất nước, bộ đội tình nguyện Việt Nam sau đó trở về nước, chỉ còn lại con đường Hồ Chí Minh đầy vết tích của chiến tranh Mẹ Kan-chia cùng bà con trong bản cũng bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới, cuộc sống với muôn bề gian khó sau chiến tranh khiến mẹ không có nhiều thời gian để nghĩ về câu chuyện cũ, mãi cách đây 5 - 7 năm, có người nhắc lại thì mẹ mới kể lại Nhắc lại việc này, mẹ có chút hơi buồn.”
Nhường cơm sẻ áo, nhường sữa của con, thậm chí nhường cho nhau đượcsống, trong lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, có vô vàn, vô vàn những câuchuyện, những hành động, những nghĩa cử cao đẹp như vậy, tất cả những nghĩa cử,những hành động cao đẹp đó đã hun đúc lên mối quan hệ thủy chung, trong sáng,
có một không hai trên thế giới giữa Việt Nam-Lào, Lào-Việt Nam ngày nay”
Trong quá trình tìm hiểu để viết bài này, tôi biết rằng Mẹ Kan-chia có tổngcộng 12 người con; trong đó có 5 người con với người chồng đã hy sinh trong
Trang 17chiến tranh Sau này mẹ đi bước nữa và có thêm 7 người con với người chồng mới,tuy nhiên, do cuộc sống khó khăn, nghèo đói, thiếu thuốc men, đến nay chỉ còn 3người con với người chồng mới còn sống Hiện mẹ đang sống cùng con cháu tạibản Phon, huyện Lamam, tỉnh Xe-kông, Nam Lào.
Tôi mạn phép kể câu chuyện thứ hai trong rất nhiều câu chuyện về tình cảmViệt Nam – Lào trong những câu chuyện diễn ra 55 năm qua, câu chuyện có thật,những kỷ vật của mối tình này như đang lớn mạnh, rạng ngời bởi lớp lớp cháu concủa cả hai dân tộc mãi nguyện giữ gìn, vun đắp cho muôn đời sau…
Chiều thu, cánh đồng lúa chín ở Gò Chùa, thôn Đề An, xã Hành Phước (huyệnNghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi) ánh lên một màu vàng ruộm Con đường bê tôngthẳng tắp dẫn về làng tấp nập bước chân người qua lại Giữa con đường ấy, là quần
thể “Khu lưu niệm lễ xuất quân tình nguyện Việt – Lào” Cờ và những hàng chữ đỏ
khắc trên nền vàng đặt giữa khu lưu niệm làm nổi bật quần thể kiến trúc, tạo điểm nhấn thu hút mọi ánh nhìn khi ai đó có dịp qua đây…
Nhà trưng bày trong Khu lưu niệmChúng tôi về Đề An đúng vào thời khắc nhân dân nơi đây vui mừng đón nhậnbằng di tích lịch sử cấp tỉnh Khu lưu niệm làm lễ xuất quân tình nguyện Việt – Lào
Trang 18Long trọng, trang nghiêm, nhưng ấm cúng lạ thường Những người lính Việt Namtrong đoàn quân tình nguyện năm xưa; những sinh viên Lào – là con cháu của
những “lính bạn Lào” trong lễ xuất quân năm ấy cũng có mặt.
Họ đến không chỉ để chứng kiến buổi lễ Sự có mặt của họ là để cùng vớinhân dân Đề An nói riêng, Quảng Ngãi nói chung và cả đất nước Việt Nam này viếttiếp bản trường ca về tinh thần quốc tế cao cả, tình hữu nghị Việt – Lào thủy chung.Khu lưu niệm lễ xuất quân nằm trên khuôn viên rộng khoảng 1.000 m2, đượcxây dựng hoàn thành vào đầu năm 2012 Trước đó, vào năm 2009, khi chưa xâydựng thành khu lưu niệm thì Ban liên lạc quân tình nguyện Việt – Lào và cácchuyên gia quân sự Việt Nam giúp Lào đã đóng góp xây dựng Bia di tích quân tìnhnguyện Việt – Lào
Việc xây dựng bia di tích, rồi sau đó là Khu lưu niệm lễ xuất quân tình nguyện Việt – Lào và việc trao bằng di tích lịch sử cấp tỉnh nhằm đưa di tích này trở thành tài sản chung vô giá của hai dân tộc, xây đắp tình đoàn kết truyền thống đặc biệt và toàn diện Việt – Lào mãi mãi sắt son.
Du khách thăm quan Khu lưu niệm
Trang 19Biểu hiện sinh động của tình hữu nghị vĩ đại này, không chỉ có sử sách màdường đã được khắc vào tâm khảm mỗi người dân Đề An Ông Dương Mạnh – một
cán bộ đã nghỉ hưu ở thôn Đề An cho chúng tôi biết: “Dù vinh dự có mặt trong buổi lễ xuất quân năm ấy hay chỉ nghe người làng kể lại, thì chúng tôi đều nhớ về ngày làm lễ xuất quân tình nguyện Việt – Lào Đó là ngày 19 tháng 8 năm 1948 – cách nay đã 64 năm Có cả bác Phạm Văn Đồng đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộ; ông Xổm – ma – nô – vông đặc phái viên của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông đến dự”.
Bộ đội Việt – Lào lên đường làm nhiệm vụ trong ba lô thơm mùi cơm nắmmuối vừng của các bà, các mẹ, các chị thôn Đề An chuẩn bị gói ghém để các anhmang theo trong bước quân hành
Trong khuôn viên khu lưu niệm, có nhà bia, nhà trưng bày Bia di tích lịch sử
này ghi rõ: “Nơi đây, ngày 19 tháng 8 năm 1948 liên quân Việt – Lào làm lễ xuất quân đi làm nhiệm vụ quốc tế ở Hạ Lào Đông Bắc Cam-pu-chia… Tại lễ xuất quân, đồng chí Phạm Văn Đồng đã căn dặn: Chỉ có vận động nhân dân Lào đứng lên kháng chiến, thì mới đánh thắng được giặc Pháp Các đồng chí phải thương yêu đất nước, núi sông, cây cỏ và nhân dân Lào như thương yêu đất nước, núi sông, cây cỏ và nhân dân Việt Nam ta vậy Chúc các đồng chí lên đường chân cứng, đá mềm, hoàn thành tốt nhiệm vụ quốc tế vẻ vang”.
Ngay sau lễ xuất quân, Đội quân liên quân Việt – Lào gồm 240 người, trong
đó có 44 người Lào và 196 người Việt Nam đã tiến thẳng đến Bến Giằng (miền tâyQuảng Nam), qua biên giới Việt Lào vào vùng Hạ Lào- Đông Bắc Cam-pu-chia.Trong vòng 6 – 7 năm, đội quân liên quân Việt – Lào với tinh thần mưu trí,dũng cảm, linh hoạt, sáng tạo đã vượt qua muôn vàn khó khăn thử thách, kể cả hysinh tính mạng, chiến đấu và tuyên truyền vận động xây dựng lực lượng, góp phần
to lớn vào thắng lợi của cách mạng đấu trang giải phóng dân tộc hai nước Việt –Lào…
Trang 20Hiện nay, nhà trưng bày Khu lưu niệm còn lưu giữ nhiều bức ảnh chụp độiquân tình nguyện Việt – Lào lúc chiến đấu cũng như trong sinh hoạt nơi vùng HạLào Đông Bắc Cam-pu-chia những năm tháng đó Những bức chân dung lãnh đạohai đảng cộng sản Việt – Lào Màu sắc, đường nét đã phai dần theo thời gian,nhưng tình hữu nghị, thủy chung Việt – Lào vẫn ngày càng son sắt.
Hai bức thư chúc mừng, một của đồng chí Phạm Văn Đồng (viết vào năm1995) và một của đồng chí Khăm–tày–xi–phăn–đon (viết vào năm 2004) viết ở hai
đất nước khác nhau nhưng cùng gửi cho một địa chỉ: Các đồng chí quân tình nguyện Việt – Lào. Nội dung ca ngợi tinh thần quốc tế vô sản, sự đồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và nhân dân hai nước giao phó…
Hai câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thânXu-pha-nu-vông trong Khu lưu niệm - Biểu tượng đẹp của
tình hưu nghị Việt – Lào
Đặc biệt, trong khu lưu niệm còn có bức trướng xây bằng bê tông với hai dòng
chữ vàng trên nền đỏ thắm, một của bác Hồ Chí Minh “Việt Lào hai nước chúng ta Tình sâu như nước Hồng Hà, Cửu Long” và một của Hoàng thân Xu-pha-nu-vông
“Tình đoàn kết đặc biệt Việt – Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững” Đó không
Trang 21chỉ là lời nhắc nhở mà còn là “kim chỉ nam” cho việc xây dựng, vun đắp tình hữu
nghị Việt – Lào
Tình Việt - Lào sâu đậm thế đấy, có thể kiếm được ở đâu chăng, trong khuônkhổ có hạn của bài viết, tôi chỉ trình bày sơ lược vể cơ sở của quan hệ Việt Nam -Lào và sự phát triển trong lích sử cùng những kỷ niệm sâu sắc, cảm động về tìnhđoàn kết, hữu nghị của hai dân tộc Hy vọng có nhiều hơn những cuộc thi, diễn đàn
bổ ích như thể này để chúng ta có thể trải lòng mình, cùng sẻ chia, nhìn về tìnhđồng chí trong lịch sử mà hướng đến tương lai tốt đẹp với những thắng lợi rực rỡmới
Trang 22Ảnh tư liệu:
(Ảnh của phóng viên Phạm Kiên và Xuân Tú, đăng trên báo Vietnamplus)
Trang 25Ảnh: Bản đồ Việt Nam trong bán đảo Đông Dương (Nguồn: Internet)
Trang 27Ảnh tư liệu: Thượng tá Phan Văn Ngọc, Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam nâng niu
bằng khen do Nhà nước Lào trao tặng (nguồn: Phóng viên Quốc Khải, báo ĐàNẵng Online).
Trang 28Ảnh: Bản đồ hành chính nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Nguồn: Nguyễn Tiến Triển, violet.vn
Trang 29Ch t ch H Chí Minh ti p và nói chuy n thân m t v i Ch t ch Cay X n Phôm Vi H n, Tr ng đoàn ủ ị ồ ế ệ ậ ớ ủ ị ỏ ả ưở
đ i bi u Đ ng và M t tr n Lào yêu n c sang thăm h u ngh n c Vi t Nam Dân ch C ng hòa t i Hà ạ ể ả ặ ậ ướ ữ ị ướ ệ ủ ộ ạ
N i, năm 1966 ộ