Tình trạng suy giảm tài nguyên nước và hạn hán không những gây ra nhiều tác động tiêu cực cho sản xuất nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế tại các địa phương thuộc lưu vực sông Cả, mà còn
Trang 1L ỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Thuỷ lợi, các đồng nghiệp, gia đình và sự nỗ lực của bản thân trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Trước hết tác giả xin chân thành cảm ơn tới Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước đã tận tình truyền đạt kiến thức, giúp đỡ tác giả trong quá trình làm luận văn
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Phạm Việt Hòa
đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tác giả xin cảm ơn tới bạn bè và người thân đã tin tưởng, giúp đỡ, động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác gi ả
Ph ạm Thị Quỳnh Thơ
Trang 2L ỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn Thạc sĩ: “Nghiên cứu thực trạng hạn hán và giải pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả kinh tế lưu vực sông Cả” là đề tài do cá nhân tôi
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy giáo PGS.TS Phạm Việt Hòa
Các số liệu sử dụng để tính toán là trung thực, những kết quả nghiên cứu trong đề tài
luận văn chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài luận văn của mình /
Tác gi ả luận văn
Ph ạm Thị Quỳnh Thơ
Trang 3M ỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU VÀ VÙNG NGHIÊN
C ỨU 4
1.1.Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 4
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 8
1.2 Tổng quan về vùng nghiên cứu 11
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên vùng nghiên cứu 11
1.2.2 Đặc điểm tự nhiên vùng Diễn - Yên – Quỳnh 18
1.2.3 Tình hình hạn hán và nguyên nhân hạn hán 34
CHƯƠNG II TÍNH TOÁN CÂN BẰNG NƯỚC, XÁC ĐỊNH LƯỢNG NƯỚC THI ẾU HỤT CHO TIỂU VÙNG 39
2.1 Tính toán nhu cầu nước của khu vực 39
2.1.1 Tính toán các yếu tố khí tượng, thủy văn 39
2.1.2 Tính toán nhu cầu nước cho nông nghiệp 44
2.1.3 Tính toán nhu cầu nước cho sinh hoạt 49
2.1.4 Nhu cầu nước cho công nghiệp 50
2.1.5 Nhu cầu nước cho nuôi trồng thủy sản 51
2.1.6 Nhu cầu nước cho chăn nuôi 51
2.1.7 Nhu cầu nước tái tạo môi trường hạ du 51
2.1.8 Tổng hợp nhu cầu nước hiện trạng 52
2.1.9 Tổng hợp nhu cầu nước tương lai theo tác động của biến đổi khí hậu 53
2.1.10 Nhận xét về nhu cầu cấp nước cho các ngành 56
2.2 Xác định khả năng nguồn nước vùng nghiên cứu 57
2.2.1 Tính toán lượng nước lấy từ Bara Đô Lương qua cống Tràng Sơn 57
2.2.2 Tính toán lượng nước lấy từ các sông suối nhỏ trong khu vực 57
2.2.3 Tính toán điều tiết hồ chứa trong khu vực 58
2.2.4 Kết quả tính toán 67
2.3 Tính toán cân bằng nước khu vực 68
2.3.1 Yêu cầu và phương pháp tính toán 68
Trang 42.3.2 Nhận xét 72
CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIẾU ẢNH HƯỞNG DÒNG CH ẢY KIỆT PHỤC VỤ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY SẢN VÙNG H Ạ DU SÔNG CẢ 74
3.1 Biện pháp phi công trình 74
3.1.1 Các giải pháp nông nghiệp 74
3.1.2 Các biện pháp quản lý điều hành hệ thống 81
3.1.3 Giải pháp quản lý nước mặt ruộng 83
3.1.4 Giải pháp nâng cao độ che phủ 84
3.1.5 Nhóm giải pháp hỗ trợ 84
3.2 Các giải pháp công trình chống hạn của từng khu tưới 85
3.2.1 Khu đầu mối 85
3.2.2 Khu vực huyện Yên Thành 90
3.2.3 Khu vực huyện Diễn Châu 90
3.2.4 Khu vực huyện Quỳnh Lưu 90
3.2.5 Khu vực huyện Hoàng Mai 91
3.2.6 Khu vực huyện Đô Lương 91
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 94
PH Ụ LỤC 95
Trang 5DANH M ỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa các loại hạn (nguồn: WMO) 5
Hình 1.2: Bản đồ các huyện thuộc hạ lưu sông Cả 11
Hình 1.3: Bản đồ vùng Diễn - Yên - Quỳnh 19
Hình 1.4: Bara Đô Lương 31
Hình 1.5: Vị trí các bãi bồi thượng lưu đ p 31
Hình 1.6: Đoạn kênh chính tại vị trí K1+800 (sát cống Mụ Bà) 32
Hình 1.7: Cống lấy nước Mụ Bà 33
Hình 2.1: Sơ đồ nguyên lý điều tiết năm một lần, phương án trữ sớm 58
Hình 3.1: Sơ đồ các tuyến kè và đập mỏ hàn chỉnh trị dòng sông 86
Hình 3.2: Bố trí mặt bằng tổng thể 89
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Phân bố diện tích theo địa bàn hành chính 12
Bảng 1.2: Nhiệt độ trung bình tháng trạm Quỳnh Lưu (Đơn vị: oC) 20
Bảng 1.3: Tốc độ gió tháng, năm trung bình nhiều năm tại trạm Quỳnh Lưu (Đơn vị: m/s) 21
Bảng 1.4: Số giờ nắng trung bình tháng tại trạm Quỳnh Lưu (Đơn vị: giờ) 21
Bảng 1.5: Độ ẩm không khí các tháng tại trạm Quỳnh Lưu (Đơn vị: %) 22
Bảng 1.6: Lượng mưa trung bình năm tại Quỳnh Lưu 22
Bảng 1.7: Diện tích trồng trọt của một số cây trồng chính 24
Bảng 1.8: Số lượng gia súc, gia cầm các năm 2010 – 2014 25
Bảng 1.9: Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 27
Bảng 1.10: Dự báo tổng đàn gia súc, gia cầm các giai đoạn 29
Bảng 1.11: Dự kiến diện tích nuôi trồng thuỷ sản đến 2025 30
Bảng 1.12: Tổng hợp công trình tưới vùng Diễn Yên Quỳnh 31
Bảng1.13: Thông số của đập Đô Lương 31
Bảng 1.14: Tổng hợp hiện trạng tưới năm 2015 các công trình lấy nước trực tiếp Sông Cả 34
Bảng 1.15: Dòng chảy năm tính toán tại trạm Nam Đàn 36
Bảng 2.1: Kết quả tính toán các thông số thống kê Xtb;Cs; Cv 39
Bảng 2.2: Thống kê chọn mô hình mưa đại diện ứng với từng thời vụ 39
Bảng 2.3: Mô hình mưa vụ xuân ứng với tần suất thiết kế P=85% 40
Bảng 2.4: Mô hình mưa vụ mùa ứng với tần suất thiết kế P=85% 40
Bảng 2.5: Mô hình mưa vụ đông ứng với tần suất thiết kế P=85% 40
Bảng 2.6: Mô hình mưa phân phối lại ứng với tần suất thiết kế P=85% 40
Bảng 2.7: Kết quả tính toán các thông số thống kê Xtb;Cs; Cv 40
Bảng 2.8: Thống kê chọn mô hình mưa đại diện ứng với từng thời vụ 41
Bảng 2.9: Mô hình mưa vụ xuân ứng với tần suất thiết kế P=90% 41
Bảng 2.10: Mô hình mưa vụ mùa ứng với tần suất thiết kế P=90% 41
Bảng 2.11: Mô hình mưa vụ đông ứng với tần suất thiết kế P=90% 41
Bảng 2.12: Mô hình mưa phân phối lại ứng với tần suất thiết kế P=90% 41
Trang 7Bảng 2.13: Kết quả tính toán các thông số thống kê Xtb;Cs; Cv 42
Bảng 2.14: Thống kê chọn mô hình mưa đại diện ứng với từng thời vụ 42
Bảng 2.15: Mô hình mưa vụ xuân ứng với tần suất thiết kế P=85% 42
Bảng 2.16: Mô hình mưa vụ mùa ứng với tần suất thiết kế P=85% 42
Bảng 2.17: Mô hình mưa vụ đông ứng với tần suất thiết kế P=85% 42
Bảng 2.18: Mô hình mưa phân phối lại ứng với tần suất thiết kế P=85% 43
Bảng 2.19: Kết quả tính toán các thông số thống kê Xtb;Cs; Cv 43
Bảng 2.20: Thống kê chọn mô hình mưa đại diện ứng với từng thời vụ 43
Bảng 2.21: Mô hình mưa vụ xuân ứng với tần suất thiết kế P=90% 43
Bảng 2.22: Mô hình mưa vụ mùa ứng với tần suất thiết kế P=90% 43
Bảng 2.23: Mô hình mưa vụ đông ứng với tần suất thiết kế P=90% 44
Bảng 2.24: Mô hình mưa phân phối lại ứng với tần suất thiết kế P=90% 44
Bảng 2.25: Cao độ và vĩ độ của trạm 44
Bảng 2.26: Thời vụ gieo trồng 45
Bảng 2.27: Hệ số Kc của lúa chiêm và lúa mùa 45
Bảng 2.28: Thời kỳ sinh trưởng và hệ số Kc của ngô, lạc, rau vụ đông 46
Bảng 2.29: Chiều sâu bộ rễ cây trồng cạn 46
Bảng 2.30: Độ ẩm trong lớp đất canh tác 46
Bảng 2.31: Các chỉ tiêu cơ lý của đất 46
Bảng 2.32: Mức tưới cho nông nghiệp, tần suất thiết kế 85% ( Đơn vị: m3/ha) 47
Bảng 2.33: Mức tưới cho nông nghiệp, tần suất thiết kế 90%( Đơn vị: m3/ha) 48
Bảng 2.34: Diện tích cây trồng năm hiện trạng (Đơn vị: ha) 48
Bảng 2.35: Tổng nhu cầu nước nông nghiệp năm 2015, P=85% 48
Bảng 2.36: Tổng nhu cầu nước nông nghiệp năm 2015, P=90% 49
Bảng 2.37: Diện tích dự kiến gieo trồng năm 2025 (đơn vị: ha) 49
Bảng 2.38: Tổng nhu cầu nước nông nghiệp, năm 2025,P=85% 49
Bảng 2.39: Tổng nhu cầu nước nông nghiệp, năm 2025,P=90% 49
Bảng 2.40: Nhu cầu nước cho sinh hoạt các giai đoạn (106m3) 50
Bảng 2.41: Nhu cầu nước cho sinh hoạt các giai đoạn (106m3) 50
Bảng 2.42: Nhu cầu nước cho NTTS các giai đoạn (106m3) 51
Bảng 2.43: Nhu cầu nước cho tái tạo môi trường hạ du các giai đoạn (106m3) 52
Trang 8Bảng 2.44: Tổng hợp nhu cầu nước, P=85% (Đơn vị: (106m3) 52
Bảng 2.45: Tổng hợp nhu cầu nước, P=90% (Đơn vị: 106m3) 52
Bảng 2.46: Mức tăng nhiệt độ trung bình (°C) so với thời kỳ 1980-1999 ở các vùng khí hậu của Việt Nam theo các kịch bản phát thải trung bình B2 53
Bảng 2.47: Nhiệt độ khu vực Diễn – Yên – Quỳnh trong tương lai 54
theo kịch bản phát thải trung bình(oC) 54
Bảng 2.48: Mức thay đổi lượng mưa (%) so với thời kỳ 1980-1999 ở các vùng khí hậu của Việt Nam theo kịch bản phát thải trung bình (B2) 54
Bảng 2.49: Lượng mưa khu vực Diễn – Yên – Quỳnh trong tương lai 55
kịch bản phát thải trung bình(B2) 55
Bảng 2.50: Cơ cấu cây trồng thời kỳ 2025 55
Bảng 2.51: Tổng hợp nhu cầu nước tại đầu mối GĐ2025, P=85% (Đơn vị: 106m3) 56
Bảng 2.52: Tổng hợp nhu cầu nước tại đầu mối GĐ2025, P=90% (Đơn vị: 106m3) 56
Bảng 2.53:Phân phối dòng chảy đến với tần suất 85% (đơn vị : m3/s) 57
Bảng 2.54: Phân phối dòng chảy đến với tần suất 90% (đơn vị : m3/s) 57
Bảng 2.55: Thống kê hồ chứa trên khu vực 60
Bảng 2.56: Kết quả tính toán nhu cầu nước tại mặt ruộng hạ lưu hồ Vực Mấu , P=85% 60
Bảng 2.57: Tính toán điều tiết hồ Vực Mấu khi chưa tính tổn thất 61
Bảng 2.58: Xác định tổn thất do thấm và bốc hơi 61
Bảng 2.59 Tính toán điều tiết hồ Vực Mấu khi tính đến tổn thất 62
Bảng 2.60 Tính toán điều tiết hồ Xuân Dương khi chưa tính tổn thất 62
Bảng 2.61 Xác định tổn thất do thấm và bốc hơi hồ Xuân Dương 63
Bảng 2.62 Tính toán điều tiết hồ Xuân Dương khi tính đến tổn thất 63
Bảng 2.63 Tính toán điều tiết hồ Bàu Gia – Mã Tổ khi chưa tính tổn thất 64
Bảng 2.64 Xác định tổn thất do thấm và bốc hơi 64
Bảng 2.65 Tính toán điều tiết hồ Bàu Gia – Mã Tổ khi tính đến tổn thất 65
Bảng 2.66: Kết quả tính toán điều tiết hồ chứa khu vực 66
Bảng 2.67: Tổng lượng nước cấp cho khu vực giai đoạn hiện trạng 67
Bảng 2.68: Tổng hợp kết quả cân bằng nước năm 2015 ,P= 85%, Đơn vị: W (106m3) 70
Trang 9Bảng 2.69: Tổng hợp kết quả cân bằng nước năm 2015 ,P=90%, Đơn vị: W (106m3)
70
Bảng 2.70: Tổng hợp kết quả cân bằng nước năm 2025 ,P= 85%, Đơn vị: W (106m3) 71
Bảng 2.71: Tổng hợp kết quả cân bằng nước năm 2025,P=90%, Đơn vị: W (106m3) 71 Bảng 3.1: Đề xuất diện tích đất canh tác lúa nước đến năm 2025 74
Bảng 3.2: Cây trồng dự kiến năm 2025 77
Bảng 3.3: Mức tưới cho nông nghiệp GĐ 2025,P=85% ( đơn vị: m3/ha) 77
Bảng 3.4: Mức tưới cho nông nghiệp GĐ 2025,P=90% ( đơn vị: m3/ha) 78
Bảng 3.5: Tổng nhu cầu nước dung cho nông nghiệp, GĐ 2025, P=85% 78
Bảng 3.6: Tổng nhu cầu nước dung cho nông nghiệp, GĐ 2025, P=90% 78
Bảng 3.7: Tổng nhu cầu nước tại đầu mối, GĐ 2025, P=85% 79
Bảng 3.8: Tổng nhu cầu nước tại đầu mối, GĐ 2025, P=90% 79
Bảng 3.9: Cân bằng nước, GĐ 2025, P=85% 79
Bảng 3.10: Cân bằng nước, GĐ 2025, P=85% 80
Bảng 3.11: So sánh lượng nước thiếu hụt trước và sau thay đổi cơ cấu cây trồng 80
Ph ụ lục Bảng 1.1: Phân vùng cấp nước trên lưu vực sông Cả 95
Bảng 2.1: Diện tích hạn năm 2008 96
Bảng 2.2: Diện tích hạn hán năm 2009 99
Bảng 2.3: Diện tích hạn hán năm 2010 100
Bảng 3.1: Nhiệt độ trung bình tháng qua các thời kỳ Trạm Cửa Rào 101
Bảng 3.2: Nhiệt độ trung bình tháng qua các thời kỳ Trạm Con Cuông 101
Bảng 3.3: Nhiệt độ trung bình tháng qua các thời kỳ Trạm Vinh 101
Bảng 3.4: Bốc hơi trung bình tháng qua các thời kỳ Trạm Cửa Rào 101
Bảng 3.5: Bốc hơi trung bình tháng qua các thời kỳ Trạm Con Cuông 101
Bảng 3.7: Lượng mưa năm tại các trạm tiêu biểu trên khu vực 102
Trang 10DANH M ỤC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ
Ký hi ệu viết tắt Nghĩa của từ viết tắt
PTNT Phát triển nông thôn
NN Nông nghiệp
Trang 11M Ở ĐẦU
1 TÍNH C ẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sông Cả là một lưu vực lớn ở vùng Bắc Trung Bộ, có chiều dài 514 km và diện tích lưu vực 27.200 km2
phân bố trên lãnh thổ 2 quốc gia: Việt Nam và CHDCND Lào Ở
Việt Nam sông Cả nằm trên địa giới hành chính của 3 tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa Phần lưu vực sông Cả thuộc địa phận tỉnh Nghệ An có diện tích khoảng 13.860 km2 chiếm trên 55% diện tích toàn lưu vực, Hà Tĩnh là 3.428km2 với dân số
hiện nay khoảng 2,5 triệu dân sinh sống từ đồng bằng, trung du đến miền núi và có 8 dân tộc anh em sinh sống, trong đó 90% là dân tộc Kinh Trong những năm gần đây
vấn đề suy thoái tài nguyên nước và hạn hán tại lưu vực sông này đã trở nên hết sức
cấp bách Lượng mưa trong mùa khô liên tục giảm mạnh, năm sau thấp hơn năm trước Cùng với tác động mạnh của gió Lào nên hạn hán tại khu vực này càng trở nên
khốc liệt Mực nước trên các sông lớn đang có chiều hướng xuống thấp dần Tại Nghệ
An tổng lượng mưa trong mùa khô 2010 chỉ 236mm, thấp hơn năm 2009 là 229mm,
một số vùng lượng mưa thấp kỷ lục như ở Quỳnh Lưu, tháng 5 vừa rồi đo được 42,2mm, Tương Dương là 86,5mm Theo Báo cáo của Sở NN và PTNT tỉnh Nghệ An mùa khô tháng 6 năm 2010 toàn tỉnh có 12.689 trong số 55.000 ha kế hoạch lúa hè thu không thể gieo cấy do thiếu nước Lớn nhất là huyện Nghi Lộc phải chuyển 3.000 ha lúa hè thu sang sản xuất vụ mùa, huyện Đô Lương vẫn còn 1.450 ha ở các xã Lam Sơn, Trù Sơn, Hiến Sơn chưa gieo cấy được và huyện Yên Thành cũng phải chuyển 1.300 ha lúa hè thu sang vụ mùa Tại Hà Tĩnh riêng mùa khô năm 2010 đã làm cho 82/262 xã thiếu nước có khoảng 290.000 người không còn nước sinh hoạt, 20 nghìn
ha lúa màu, ngô, đậu và hàng nghìn ha cây ăn quả bị chết do hạn hán Toàn tỉnh có 3.000 ha ruộng lúa chuyển sang trồng cây trồng cạn, hơn 6.000 ha lúa và trên 5.000 ha đậu, lạc; nhiều diện tích đã gieo cấy đến nay không có nước nên cây sinh trưởng, phát triển kém có nguy cơ mất trắng Hàng năm vùng hạ lưu của sông thường bị hạn nặng ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp cũng như các ngành kinh tế khác
Tác động của dòng chảy kiệt không chỉ gây ra hạn hán mà còn làm cho tình trạng xâm
nhập mặn cùng đang diễn ra mạnh mẽ tại khu vực hạ du sông Cả Tình trạng suy giảm tài nguyên nước và hạn hán không những gây ra nhiều tác động tiêu cực cho sản xuất nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế tại các địa phương thuộc lưu vực sông Cả, mà còn
Trang 12gây ra nhiều hệ lụy xã hội đáng báo động khác Trong những năm vừa qua vấn đề ly điền ly hương trên địa bàn ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh là hết sức đáng báo động
Luận văn là một nghiên cứu nhằm xác định được những biến động và tác động dòng
chảy mùa kiệt đến hạn hán và ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp, thủy sản, dân sinh kinh tế xã hội ở hạ du sông từ đó đề xuất được các giải pháp thủy lợi và nông nghiệp
để hạn chế các ảnh hưởng bất lợi của chế độ dòng chảy mùa kiệt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế xã hội vùng hạ du của lưu vực sông Cả là hết sức cần thiết
2 M ỤC ĐÍCH VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Lưu vực sông Cả, khu Diễn - Yên - Quỳnh
3 CÁCH TI ẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Theo quan điểm thực tiễn và tổng hợp đa mục tiêu
- Theo quan điểm bền vững
3.2 Theo phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra, thu thập phân tích, xử lý, tổng hợp số liệu
- Phương pháp kế thừa có chọn lọc
- Phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp thống kê xác xuất
- Ứng dụng phương pháp mô hình toán ( CROPWAT 8.0)
Trang 134 K ẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC
- Đánh giá hiện trạng và nguyên nhân hạn hán tại vùng Diễn - Yên - Quỳnh thuộc hạ lưu sông Cả và những tác động của hạn hán đến sản xuất nông nghiệp, thủy sản và đời sống kinh tế xã hội trong vùng
- Tính toán cân bằng nước xác định lượng nước thiếu hụt cho các tiểu vùng và toàn vùng hạ lưu sông Cả theo các tần suất 85%; 90%
- Đề xuất các giải pháp thuỷ lợi và nông nghiệp phù hợp phục vụ sản xuất nông nghiệp
và thuỷ sản cho vùng hạ lưu sông Cả Bao gồm các giải pháp nâng cao mực nước mùa kiệt, các giải pháp quản lý khai thác hệ thống, các giải pháp về nông nghiệp cũng như những giải pháp hỗ trợ khác
Trang 14CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU VÀ VÙNG
1.1.T ổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Hạn hán là một hiện tượng thường xuyên tái diễn của khí hậu, xảy ra ở hầu hết các vùng khí hậu, ở khu vực mưa nhiều cũng như mưa ít Hạn hán là hậu quả của việc không có mưa trong một thời gian dài và những yếu tố khí tượng đi kèm như nhiệt độ cao, gió mạnh, và độ ẩm không khí nhỏ thường làm tăng thêm mức độ khắc nghiệt của
hạn Hạn hán cũng liên quan đến thời điểm (ví dụ: mùa mưa chính vụ, sự chậm đến
của mùa mưa, sự xuất hiện mưa so với thời vụ của các loại cây trồng chính) và tính
hiệu quả của mưa (ví dụ: cường độ mưa, số trận mưa) Theo tổ chức Khí tượng thế
giới (WMO) hạn hán được phân ra thành 3 loại:
- Hạn khí tượng: thiếu hụt lượng mưa trong cán cân lượng mưa - bốc hơi
- Hạn thủy văn: dòng chảy sông suối giảm rõ rệt, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất hạ thấp
- Hạn nông nghiệp: thiếu hụt nước mưa dẫn tới mất cân bằng giữa lượng nước thực tế
và nhu cầu nước của cây trồng
Hạn hán khác với các loại thiên tai khác ở nhiểu khía cạnh Điểm đặc trưng nhất là tác động của hạn hán thường tích lũy một cách chậm chạp trong một khoảng thời gian dài
và có thể kéo dài trong một đoạn nhất định Hạn khí tượng xảy ra trước tiên do không mưa hoặc mưa không đáng kể trong thời gian đủ dài, đồng thời những yếu tố khí tượng đi kèm với sự thiết hụt mưa gây bốc thoát hơi nước gia tăng Sự thiếu hụt mưa
và gia tăng bốc hơi sẽ dẫn đến sự suy giảm/ suy kiệt độ ẩm đất - hạn đất và hạn nông nghiệp ở vùng không được tưới xảy ra Sự suy kiệt độ ẩm đất cũng đồng thời dẫn đến
sự suy giảm lượng bổ sung cho nước ngầm làm giảm lưu lượng và hạ thấp mực nước
ngầm Sự suy giảm đổng thời cả về dòng mặt và dòng ngầm dẫn đến hạn thủy văn
Hạn hán do tác động to lớn đến môi trường, kinh tế, chính trị, xã hội và sức khỏe con người Hạn hán làm giảm năng suất cây trồng, giảm diện tích gieo trồng, giảm sản lượng cây trồng, tăng chi phí sản xuất nông nghiệp, giảm thu nhập của lao động nông nghiệp, tăng giá thành và giá cả lương thực, các nhà máy thủy điện gặp nhiều khó khăn trong quá trình vận hành, Chính vì vậy, công tác nghiên cứu dự báo, cảnh báo
Trang 15hạn hán luôn được quan tâm và đầu tư tại nhiều quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam Dự báo cảnh báo giúp các cơ quan quản lý cũng như người sản xuất chủ động điều chỉnh kế hoạch sản xuất, nhằm tăng khả năng chống chịu của hệ thống trong điều
kiện hạn hán, điều chỉnh hợp lý việc dùng nước và tiết kiệm nước
Hình 1.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa các loại hạn (nguồn: WMO)
1.1.1 Trên thế giới
Hạn thường gây ra ảnh hưởng trên diện rộng Tuy không phải nguyên nhân trực tiếp gây ra tổn thất về người nhưng thiệt hại do hạn gây ra rất lớn Theo số liệu của Trung tâm giảm nhẹ hạn hán quốc gia Mỹ, hàng năm hạn hán gây thiệt hại cho nền kinh tế
Mỹ khoảng 6-8 tỷ USD (so với 2,41 tỷ USD do lũ gây ra và 1,2-4,8 tỷ do bão) Đợt
hạn hán lịch sử ở Mỹ xảy ra vào năm 1988-1989 gây thiệt hại 39-40 tỷ USD, lớn hơn nhiều so với thiệt hại kỷ lục của lũ (15-27,6 tỷ, 1993) và bão (25-33,1 tỷ USD, 1992)
Hạn hán kéo dài và khá nghiêm trọng ở một số khu vực, đặc biệt ảnh hưởng nặng nề đến miền Tây, miền Trung Tây,
Tại Trung Quốc năm 1941, một thảm họa tồi tệ nhất do hạn hán và thiếu mưa gây ra làm thiệt hại hàng triệu cây trồng và thiếu lương thực, hậu quả là gần ba triệu người đã
chết Theo kết quả nghiên cứu của Viện quản lý nước quốc tế thì đến năm 2025, Trung
Quốc là một trong những nước thiếu nước trầm trọng, mặc dù đã áp dụng các biện
Trang 16pháp tiết kiệm nước, vẫn không đủ nước để sản xuất lương thực, nên sẽ phải nhập
khẩu từ 170 đến 300 triệu tấn lương thực
Tại Ấn Độ, vào những năm đầu thế kỷ 18, thiên tai hạn hán đã gây ra tổn thất hoàn toàn mùa vụ, dẫn đến nạn đói khủng khiếp ở nước này trong các năm từ 1702 đến
1704 Tiếp đó lại có hạn từ năm 1769 đến 1770 làm cho 5 triệu người chết đói và dịch
bệnh Gần đây, năm 1987 lại xảy ra hạn hán nghiêm trọng, kèm theo nạn đói và dịch
bệnh Cũng từ năm này, chính phủ Ấn Độ đã đề ra quy chế nhà nước về quản lý hạn hán và ban hành các luật về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai hạn hán
Tại Nhật Bản, năm 1994 có một đợt sóng nhiệt độ cao kéo dài, lan rộng từ Mỹ qua
Nhật làm cho nhiệt độ trung bình lên đến 37ᵒC (cao nhất tới 40ᵒC) và kéo dài nhiều ngày tại Nhật Bản đã gây nên hạn nặng trên 1/3 lãnh thổ của nước này Nhiều vùng
phải vận chuyển nước sinh hoạt từ xa đến
Năm 1982-1983, Australia xảy ra đợt hạn tồi tệ nhất của nước này trong thế kỷ XX Đợt hạn hán này bắt đầu vào mùa thu năm 1982, với sự thiếu hụt lượng mưa nặng nề ở phía đông Australia và xuất hiện của sương giá lạnh càng khiến thời tiết trầm trọng hơn trong tháng Sáu và tháng Bảy Thời điểm đó, lượng nước ở thượng nguồn sông Murrumbidgee và các hồ chứa khắp miền đông nam Australia giảm đến mức chưa
từng có trước đó
Năm 2014, nhiều nơi ở Tây Ban Nha bị hán hán cường độ cao nhất trong hơn một thế
kỷ rưỡi Valencia và Alicante là hai trong những khu vực tồi tệ nhất bị ảnh hưởng Theo cơ quan khí tượng của nước này, trong vòng 150 năm qua, họ chưa bao giờ
chứng kiến một đợt hạn hán nào dài và dữ dội như vậy
Hạn hán cùng với sa mạc hóa là những thiên tai mang tính thường xuyên ở Châu Phi,
và là một trong hai nguyên nhân chính (hạn hán và nội chiến) dẫn đến nạn đói ở nhiều
quốc gia thuộc lục địa đen Hạn cũng gây những tổn thất lớn về kinh tế và nơi sinh ở nhiều quốc gia khác như Ấn Độ, Pakistan, Australia Đặc biệt, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha mới đây đã lên tiếng yêu cầu châu Âu tăng cường hỗ trợ tài chính để giúp các
quốc gia này ứng phó với hạn hán Tại Pháp, hạn hán đã lên tới kỷ lục kể từ 50 năm
trở lại đây và chi phí sản xuất đã phải tăng lên đáng kể
Trang 17Tại khu vực Bắc Âu, thời tiết đặc biệt khô hanh Tại Bồ Đào Nha, tháng 2/2012 được ghi nhận là tháng khô nhất trong vòng 80 năm trở lại đây Tại Tây Ban Nha, tình hình cũng không mấy khả quan hơn
Theo kênh dự báo thời tiết của Pháp, “Các biến động của thời tiết không dễ có thể vượt qua Chúng tôi đã và đang chứng kiến rất nhiều vụ cháy rừng xảy ra và mực nước thì hiện thấp hơn tới 80% so với bình thường” Trước tình hình ngày càng trở nên nghiêm trọng, Bồ Đào Nha đã "gõ cửa" Ủy ban châu Âu kêu gọi sự hỗ trợ khẩn cấp cho ngành nông nghiệp ứng phó với hạn hán Tại Tây Ban Nha, nơi mùa đông được xem là khô nhất kể từ năm 1940 trở lại đây, các thiệt hại về hoa màu cũng không
ngừng gia tăng, đó là chưa kể tới tình trạng thiếu nước nghiêm trọng cho cả con người
và vật nuôi Tại Pháp, tình hình cũng đặc biệt đáng lo ngại Sau một năm 2011 đã được xem là nóng nhất trong lịch sử với mùa xuân nóng bức như mùa hè, thì năm 2012 lại được thông báo vẫn còn tiếp tục nắng nóng và khô cằn hơn nữa Nhiều khu vực của nước Pháp chưa nhận được một giọt mưa nào kể từ đầu năm nay Theo Văn phòng nghiên cứu địa chất và khai thác mỏ, sự sụt giảm về lượng mưa trong năm 2012 được
dự báo còn nghiêm trọng hơn cả năm 1959 Những người nông dân Pháp đang đặc biệt
lo ngại trước những tác động khắc nghiệt của thời tiết và dự kiến sẽ phải chi phí thêm
rất nhiều cho quá trình sản xuất nông nghiệp Trong năm 2011, hạn hán đã khiến ngành nông nghiệp Pháp phải chịu thiệt hại 241,7 triệu Euro
Tình trạng khô hạn đặc biệt cũng tác động tới các nước Bắc Phi ven biển Địa Trung
Hải (ngành nông nghiệp chiếm tới 16,6% GDP và sử dụng 45% lao động) có thể phải
nhập khẩu lượng lúa mì kỷ lục lên tới 5 triệu tấn trong năm 2012-2013 Do tình trạng
hạn hán, ngành nông nghiệp nước này chỉ còn có thể sản xuất 2,3 triệu tấn lúa mì, so
với 6 triệu tấn năm 2011
Tại Nam Phi, Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) cũng đã rung lên hồi chuông
cảnh báo về tình hình hạn hán nghiêm trọng tác động tới đất nước Mauritania “Số lượng những người sống trong cảnh bất ổn lương thực sẽ có thể lên tới 900.000, chiếm
¼ dân số”, WFP cho biết
Trong những năm 1997, 1998 do ảnh hưởng của hiện tượng El-Nino, các nước trong khu vực Đông Nam Á (trong đó có nước ta) hầu như không có mưa, nhiệt độ không khí cao là nguyên nhân chính gây cháy rừng ở nhiều nơi, điển hình là Indonesia và
Trang 18Malaysia Ở Indonesia, hiện tượng ENSO xảy ra đồng thời với hạn hán đã làm cho 420.000 ha ruộng lúa bị ảnh hưởng do thiếu nước và 158.000 ha bị mất trắng Ngoài ra
phải kể đến 3,7 triệu ha rừng gỗ tái sinh bị cháy rụi Năm 1991, hiện tượng ENSO cùng với nắng nóng đã gây ra hạn hán ảnh hưởng trên diện tích 843.000 ha, trong đó
có 190.000 ha lúa bị hủy hoại hoàn toàn Đây là đợt hạn hán nặng nhất ở nước này đã gây ra tổn thất lớn cho sản xuất nông nghiệp Chính phủ phải nhập khẩu khẩn cấp 600.000 tấn lương thực Cũng do hạn hán năm 1991, ở Indonesia đã xảy ra cháy 88.000 ha rừng tại Kalimanan cùng với hiện tượng ENSO Rừng cháy đã tạo ra một
lớp khói dầy đặc bao phủ bầu trời đảo Kalimanan, sau đó lan tới Singapore và Malaysia trong tháng 9,10 năm 1991
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam hạn hán xảy ra ở cả vùng mưa nhiều cũng như vùng mưa ít, trong thời gian khô, thậm chí ngay trong mùa mưa Hạn hán xuất hiện tại các vùng sinh thái cũng khác nhau Vùng đồng bằng và trung du bắc bộ thường gặp hạn hán vào vụ đông xuân,
rất hiếm khi gặp hạn hán vụ mùa; vùng trung bộ từ Nghệ An đến Bình Định thường
xảy ra hạn hè thu, vùng Nam Trung Bộ thường gặp hạn hán vụ đông xuân, miền tây nam bộ thường gặp hạn hán vào cuối vụ đông xuân đến đầu vụ hè thu, miền đông nam
bộ thường gặp hạn hán vào đầu vụ đông xuân; vùng tây nguyên thường gặp hạn hán vào vụ đông xuân và đầu vụ hè thu
Theo đánh giá của chương trình hành động giảm nhẹ thiên tai của Việt Nam thì hạn hán là thiên tai gây tổn thất nghiêm trọng thứ 3 sau bão và lũ Mặc dù hạn hán không
trực tiếp gây thiệt hại về người nhưng lại gây thiệt hại lớn về kinh tế, xã hội và môi trường Những thiệt hại do hạn hán không chỉ ảnh hưởng ngay tức thời mà còn kéo dài ảnh hưởng đến nhiều vụ hoặc nhiều năm sau
Trong vòng 50 năm qua, có không ít những năm hạn nặng và nghiêm trọng Ở các tỉnh
Bắc Bộ những năm xảy ra hạn nặng vào vụ Đông xuân là 1959, 1961, 1970, 1984,
1986, 1989,1993,1998 vào vụ hè là 1960,1961,1963,1964 Hạn vụ Đông xuân năm
1998, lúc cao điểm có lúc tới 270 nghìn người thiếu nước sinh hoạt Ở vùng Đồng
bằng Bắc bộ, hạn vụ đông xuân xảy ra vào các năm 1986, 1987, 1988, 1991, 1992, hạn
vụ mùa xảy ra vào các năm 1987 và 1990 Diện tích bị hạn trong mỗi vụ sản xuất từ 30.000ha đến 140.000ha ở khu vực Duyên hải Miền Trung chỉ riêng đợt hạn kéo dài
Trang 19từ cuối năm 1997 đến tháng 4 năm 1998 đã gây thiệt hại cho hơn 100.000 ha lúa (trong
đó có 20.000 ha bị mất trắng) và 120.000 ha hoa màu (9100 ha bị mất trắng) Chỉ riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, thiệt hại ước tính lên đến khoảng 1400 tỷ đồng Đợt hạn này làm cho khoảng 1,5 triệu người bị thiếu nước sinh hoạt Ở vùng Tây nguyên chỉ trong khoảng 1990-2000 hạn hán đã xảy ra vào các năm 1994, 1995,1996, 1997 và
1998 với diện tích lúa bị hạn mỗi vụ từ 2000ha đến 130.000ha Điển hình là đợt hạn năm 1998 đã gây hạn cho 10.700ha lúa nước vụ Đông Xuân (mất trắng 5320ha), 13.330ha lúa vụ Mùa (mất trắng 2280ha) Diện tích cây ăn quả và cây công nghiệp bị
hạn là 110.630ha (bị chết 13.760ha), riêng cà phê diện tích bị hạn là 74.400ha Số người bị thiếu nước sinh hoạt trong đợt hạn này lên đến hơn 770.000 người
Năm 2001, các tỉnh Phú yên, Quảng Nam, Quảng Bình, Quảng Trị là những tỉnh bị
hạn nghiêm trọng Các tháng 6,7 hầu như không mưa, chỉ riêng ở Phú Yên, hạn hán đã gây thiệt hại cho 7200 ha mía và 500 ha sắn, 225 ha lúa nước và 300 ha lúa nương Trong 6 tháng đầu năm 2002, hạn hán nghiêm trọng đã diễn ra ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ gây thiệt hại về mùa màng, gây cháy rừng trên diện rộng, trong đó có cháy rừng lớn ở các khu rừng tự nhiên U Minh thượng và
U Minh hạ
Năm 2003 hạn hán bao trùm hầu khắp Tây Nguyên, gây thiệt hại nặng cho khoảng 300
ha lúa ở Kon Tum, 3000 ha lúa ở Gia lai và 50000 ha đất canh tác ở Đăk Lăk; thiếu nước cấp cho sinh hoạt của 100000 hộ dân, chỉ tính riêng Đăk Lăk thiệt hại ước tính
250 tỷ đồng
Năm 2004-2005, ở Bắc Bộ, mực nước sông Hồng tại Hà Nội vào đầu tháng 3 xuống
mức 1,72m thấp nhất kể từ năm 1963 đến năm 2005 Ở miền Trung và Tây Nguyên,
nắng nóng kéo dài, dòng chảy trên các sông suối ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm cùng kỳ, một số suối cạn kiệt hoàn toàn; nhiều hồ, đập dâng hết khả năng cấp nước Ninh Thuận là địa phương bị hạn hán thiếu nước khốc liệt nhất, chủ yếu do mưa ít các sông suối ao hồ đều cạn, chỉ có hồ Tân Giang còn khoảng 300.000 m3 nước nhưng ở dưới mực nước chết, hồ thủy điện Đa Nhim - nguồn cung cấp nước chủ yếu cho Ninh Thuận, cũng chỉ còn 1/3 dung tích so với cùng kì năm trước Toàn tỉnh có 47.220 người thiếu nước sinh hoạt Tại Bình Thuận, tháng 11/2004 đến 2/2005 hầu như không mưa Mực nước trên các sông gần như cạn kiệt, lượng dòng chảy còn lại rất nhỏ Toàn
Trang 20bộ lượng nước trong các hồ chứa không đáp ứng đủ nhu cầu nước sinh hoạt cho nhận dân, nước uống cho gia súc Theo thống kê chưa đầy đủ, đến cuối tháng 4 năm 2005,
tổng thiệt hại do hạn hán gây ra ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đã lên tới trên 1.700 tỷ đồng Chính phủ phải cấp 100 tỷ đồng để hỗ trợ các địa phương khắc
phục hậu quả hạn hán thiếu nước 1.500 tấn gạo để cứu đói cho nhân dân Vùng ĐBSCL, thiệt hại do xâm nhập mặn lên đến 720 tỷ đồng
Năm 2016, Việt Nam gánh chịu đợt hạn hán được cho là chưa từng có trong lịch sử
100 năm qua Đợt hạn hán kèm theo xâm nhập mặn này ảnh hưởng trực tiếp đến hơn
chục tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, sông ngòi trơ đáy đất khô nứt nẻ Thiên tai gay
gắt kéo dài, 500.000 ha lúa hè thu không thể xuống giống, tác động nghiêm trọng đến đời sống của một triệu hộ dân (tương đương 5 triệu người)
Trang 211.2 T ổng quan về vùng nghiên cứu
Hình 1.2: Bản đồ các huyện thuộc hạ lưu sông Cả
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên vùng nghiên cứu
1.2.1.1 Vị trí địa lý vùng lưu vực sông Cả:
Lưu vực sông Cả nằm ở vùng Bắc Trung bộ có toạ độ địa lý: 18015' đến 20010'30'' vĩ
độ Bắc; 103045'20'' đến 105015'20'' kinh độ Đông Điểm sông Cả chảy vào đất Việt Nam tại biên giới trên dòng Nậm Mô có toạ độ: 19024'59'' độ vĩ Bắc; 104004'12'' kinh
độ Đông
Trang 22Vùng hạ lưu sông Cả giới hạn bởi các huyện Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu, Thanh Chương, Anh Sơn, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Nghi Lộc, thị xã Cửa Lò, thành
phố Vinh (Tỉnh Nghệ An ) Huyện Đức Thọ, Nghi Xuân, Can Lộc, Lộc Hà, thị xã
Hồng Lĩnh (Tỉnh Hà Tĩnh ) Có tọa độ địa lý: 18015’ đến 1903’ vĩ độ Bắc, 1040
55’20” đến 105058’ 30” kinh độ Đông
Bảng 1.1: Phân bố diện tích theo địa bàn hành chính
Lưu vực nằm ở Đơn vị Di ện tích tự
nhiên
Di ện tích lâm nghi ệp
Di ện tích nông nghi ệp
Di ện tích khác
1.2.1.2 Điều kiện địa hình
Lưu vực sông Cả phát triển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nghiêng dần ra biển
Phần ở địa phận Việt Nam hơn 80% diện tích là đồi núi Diện tích đất có độ dốc thoả mãn cho yêu cầu phát triên nông nghiệp chỉ chiếm 19% toàn vùng và 14% toàn lưu
vực Dãy núi Phu Hoạt ở thượng nguồn sông Hiếu có đỉnh cao 2452m, thượng nguồn sông Giăng, sông La là dãy núi Trường Sơn có độ cao trên 2000 m, càng gần về phía Nam và Tây Nam núi đồi thấp dần xuống độ cao 1300-1800 m, đến vùng núi đồi Hà Tĩnh độ cao giảm còn 400 - 600 m Dải Trường Sơn và các dãy núi cao của 6 huyện
miền núi Nghệ An đã hình thành một bức tường thành ngăn gió biển thổi vào đất Lào
tạo nên sự khác biệt về chế độ khí hậu của hai nước
Địa hình sông Cả rất đa dạng, vùng đồi núi độ dốc lớn gây ra tình trạng tập trung nước nhanh dễ gây ra lũ lớn Thấp nhất là vùng đồng bằng các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, có nơi chỉ cao 0,2 m so với mặt nước biển (xã Quỳnh Thanh,
Quỳnh Lưu) Đặc điểm địa hình trên là một trở ngại lớn cho việc phát triển mạng lưới
Trang 23giao thông đường bộ, đặc biệt là các tuyến giao thông vùng trung du và miền núi, gây khó khăn cho phát triển lâm nghiệp và bảo vệ đất đai khỏi bị xói mòn, gây lũ lụt cho nhiều vùng trong tỉnh
1.2.1.4 Khí hậu, khí tượng
Nhiệt độ trên lưu vực sông Cả chia làm hai thời kỳ rõ rệt Nhiệt độ mùa Đông và nhiệt
độ mùa lũ, nhiệt độ bình quân năm trên lưu vực ít có biến đổi Vùng đồng bằng cao hơn trung du và miền núi, thể hiện theo nhiệt độ bình quân Vinh: 23,80C, Đô Lương 23,70C, Tương Dương 23,60
C, Tây Hiếu 23,20
C
Mưa là loại hình thời tiết nhìn chung là có lợi cho các hoạt động kinh tế xã hội trên lưu
vực Mưa là tác nhân điều chỉnh khí hậu rất tốt trên lưu vực Mưa phân bố theo thời gian trong năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa ít và mùa mưa nhiều Cũng như chế độ mưa vùng miền Bắc lượng mưa bình quân năm trên lưu vực dao động từ 1.100 ÷ 2.500 mm/năm, có các trung tâm mưa lớn như thượng nguồn sông Hiếu, lưu vực sông La, lưu vực sông Giăng lượng mưa bình quân năm đạt 2.000 ÷ 2.400 mm/năm Trung tâm mưa nhỏ dọc theo dòng chính sông Cả, tại Cửa Rào, Mường Xén đạt 1.100 ÷ 1.400
Trang 24mm/năm Vùng đồng bằng hạ du sông Cả có lượng mưa bình quân năm từ 1.700 ÷ 1.800 mm/năm
1.2.1.5 Mạng lưới sông ngòi, thủy văn
Dòng chính sông Cả bắt nguồn từ đỉnh núi Phulaileng thuộc tỉnh Hủa Phăm Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, sông chảy theo hướng Tây Bắc Đông Nam Nhập vào đất Việt Nam tại bản Keng Đu, dòng chính đi sát biên giới Việt Lào chừng 40 km và đi hoàn toàn vào đất Việt Nam tại chân đỉnh 1.067m Đến Bản Vẽ sông đổi dòng chảy theo hướng Bắc Nam về đến Cửa Rào sông nhập với nhánh Nậm Mô và lại chuyển dòng
chảy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam Qua nhiều lần uốn lượn đến Chợ Tràng sông
Cả nhập với sông La và đổi dòng một lần nữa theo hướng Tây - Đông Dòng chính sông Cả có chiều dài 514 Km, phần chảy trên đất Việt Nam là 360 Km còn lại là chảy trên đất Lào Phần miền núi lòng sông hẹp hình chữ V chảy len lỏi giữa các núi cao và
dọc đường nhận rất nhiều các nhánh suối nhỏ Tại đất Việt Nam đến Cửa Rào sông Cả
nhận thêm nhánh Nậm Mô ở phía hữu, đến cuối Tương Dương trên Khe Bố sông Cả
nhận nhánh sông Huổi Nguyên ở phía tả, đến Con Cuông nhận nhánh Khe Choang ở phía hữu đến ngã ba cây Chanh nhận sông Hiếu ở phía Tả và đến Thanh Chương nhận nhánh sông Giăng ở phía hữu, sông Gang ở phía tả đến Chợ Tràng sông Cả nhập với sông La ở phía hữu và cũng chảy ra biển tại Cửa Hội Đoạn sông nhập lưu cuối cùng này được gọi là sông Lam Sông Cả tính đến cửa sông có diện tích lưu vực là 27200
Km2 Phần diện tích sông Cả chảy trên đất Lào là 9.740 Km2 còn lại là nằm ở địa phận
Việt Nam Đoạn sông Cả từ Cửa Rào đến Đô Lương được gọi là sông miền núi có nhiều ghềnh cao từ 2 ÷ 3 m Điển hình là Khe Bố, bề rộng trung bình ở đoạn này mùa
kiệt là 150 ÷ 200m Nhưng mùa lũ có nơi lên đến 2000 m, lòng sông cắt sâu vào địa hình và có hướng chảy tương đối thẳng ít gấp khúc Từ Đô Lương đến Yên Thượng lòng sông mở rộng dần và có đôi chỗ gấp khúc như đoạn Rú Guộc, chiều rộng sông mùa kiệt từ 200 ÷ 250 m Mùa lũ từ 2500 ÷ 4000 m, vì khi có lũ lớn toàn bộ vùng hữu Thanh Chương đều tham gia vào dòng chảy, đến Yên Thượng do địa hình núi phát triển ngang của dãy núi thượng Nam Đàn nên dòng chảy lại bó gọn vào trong lòng chỉ
chừng 150 ÷ 200 m mùa kiệt và 800 ÷ 900 m trong mùa lũ
Trang 251.2.1.6 Hiện trạng thủy lợi
a Các hệ thống thủy lợi vùng hạ lưu sông Cả
Hạ lưu sông Cả có 7 hệ thống lớn lấy nước trực tiếp từ sông và một số hệ thống lấy nước bằng các trạm bơm Trong đó tỉnh Nghệ An có 2 hệ thống tưới lớn là đập tràn Đô Lương (Bắc Nghệ An) và hệ thống Cống Nam Đàn (Nam Nghệ An ) Hệ thống tiêu
gồm cụm tiêu cống Bến Thủy và trạm bơm tiêu Hưng Châu Tỉnh Hà Tĩnh có 3 hệ
thống Hệ thống thủy lợi gồm: Linh Cảm, Hệ thống thủy lợi Can Lộc, hệ thống thủy lợi
Hồng Lam Ngoài ra còn có 74 trạm bơm lấy nước trực tiếp từ hệ thống sông Cả để tưới Với tổng diện tích tưới thiết kế: 81691,14 ha, trong đó, Nghệ An là 54531,14 ha;
thực tưới năm 2010: 48124,37 ha Hà Tĩnh thực tưới 24645 ha
Trong đó: Tưới ổn định lúa 2 vụ: 56640,00 ha;
Tưới lúa không ổn định: 2333,00 ha;
Tưới cho màu mạ: 2473,00 ha;
Tạo nguồn: 9735,00 ha;
Nuôi trồng thuỷ sản: 1589,00 ha;
b Phân vùng nghiên cứu
- Cơ sở và nguyên tắc phân vùng cấp nước
Phân chia lưu vực sông Cả thành các vùng sử dụng nước riêng biệt dựa vào điều kiện địa hình, mạng lưới sông ngòi, địa chính Nhóm những nhánh sông nhỏ thành một nhánh sông riêng lẻ nằm trên thượng lưu của điểm lấy nước Nhóm các hồ, các đập, các trạm bơm khai thác sử dụng nước thành các nút hồ, đập, trạm bơm trên thượng lưu các điểm lấy nước Nhóm khu vực tưới nhỏ vào một công trình riêng lẻ với một điểm lấy nước Yêu cầu về dòng chảy môi trường tại các vùng được tính toán trong nhu cầu sử dụng nước tại các khu sử dụng nước
- Kết quả phân vùng cấp nước
Chia lưu vực sông Cả thành 14 tiểu vùng (chi tiết phụ lục 1) để nghiên cứu và tính toán lượng nước thiếu hụt như sau:
1 Vùng I: Vùng Nghi Xuân gồm toàn bộ diện tích huyện Nghi Xuân Phía Bắc giáp
dòng chính sông Cả, phía Đông nhìn ra biển, phía Tây và Nam là dãy núi Hồng Lĩnh, nguồn nước chính cấp cho vùng này nhờ vào nguồn nước sông Cả, nước ngầm và các
hồ chứa lớn nhỏ
Trang 262 Vùng II: Vùng hưởng lợi sông Nghèn bao gồm diện tích của 17 xã Đức Thọ toàn bộ
thị xã Hồng Lĩnh, toàn bộ huyện Can Lộc và các xã phía Bắc của Thạch Hà Phía Nam giáp khu tưới kẻ Gỗ, Phía Tây là dãy Trà Sơn, phía Bắc giáp sông Lam đoạn từ Linh
Cảm đến trạm bơm Lam Hồng, Phía Đông là dãy Hồng Lĩnh và biển
3 Vùng III: Vùng Nam Đức bao gồm 9 xã phía hữu sông Cả của Nam Đàn và 5 xã của
huyện Đức Thọ phía Nam giáp sông La phía Tây và phía Bắc giáp núi phía Đông là dòng chính sông Cả đoạn từ Yên Thượng đến Chợ Tràng Nguồn nước cung cấp cho vùng này chủ yếu dựa vào sông Cả, lấy bằng bơm và các hồ chứa nhỏ vách núi
4 Vùng IV: Vùng Hương Sơn đây chính là vùng lưu vực sông Ngàn Phố bao gồm toàn
bộ diện tích huyện Hương Sơn (Trừ xã Hương Thọ đã chuyển sang huyện Vũ Quang) Phía Tây giáp dãy núi Giăng Màn, phía Bắc là dãy núi phân cách giữa huyện Thanh Chương và huyện Hương Sơn, phía Nam giáp lưu vực sông Ngàn Trươi, phía Đông giáp sông La Nguồn nước cấp cho vùng này chủ yếu dựa vào nguồn nước sông Ngàn
Phố, hình thức lấy bằng bơm và hồ chứa nhỏ
5 Vùng V: Vùng sông Ngàn Trươi Vùng này có thể gọi là vùng trung lưu sông Ngàn
Sâu và lưu vực sông Ngàn Trươi, Đá Bạc bao gồm diện tích toàn bộ huyện Vũ Quang
nằm hai bên bờ sông Ngàn Sâu Phía Đông giáp lưu vực sông Nghèn, phía Tây là dãy núi Giăng Màn, phía Bắc giáp lưu vực sông Ngàn Phố, phía Nam là biên giới huyện Hương Khê Nguồn nước cấp cho vùng này là sông Ngàn Trươi và Ngàn Sâu
6 Vùng VI: Vùng sông Ngàn Sâu Toàn bộ vùng này là diện tích phần thượng nguồn
sông Ngàn Sâu thuộc huyện Hương Khê, phía Tây là dãy Giăng Màn giáp biên giới
Việt Lào, phía Đông là lưu vực sông Nghèn và sông Rào Cái, phía Nam giáp lưu vực sông Gianh và biên giới tỉnh Hà Tĩnh với Quảng Bình Phía Bắc giáp lưu vực sông Ngàn Trươi Nguồn nước cấp cho vùng này là nguồn nước sông Ngàn Sâu
7 Vùng VII: Vùng Nam Hưng Nghi vùng này có một phần diện tích lưu vực sông Cả
và toàn bộ lưu vực sông Cấm bao gồm các xã phía tả sông Lam của Nam Đàn, toàn bộ
diện tích huyện Hưng Nguyên, Thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò và huỵên Nghi Lộc, phía Bắc giáp lưu vực sông Bùng, phía Nam là sông Lam đoạn từ Chợ Chàng đến Cửa
Hội, phía Tây là sông Cả đoạn từ Nam Đàn đến Chợ Chàng, phía Đông giáp biển Nguồn nước cấp cho vùng này chủ yếu là nguồn sông Cả, còn lại là sử dụng nguồn nước sông Cấm do đập ngăn mặn Nghi Quang giữ lại
Trang 278 Vùng VIII: Trung lưu sông Cả bao gồm lưu vực sông Gang phần hạ lưu từ cầu Om
trở xuống, lưu vực sông Giăng và các suối nhỏ gọi là vùng tả hữu Thanh Chương Dòng chính sông Cả cắt đôi vùng thành các tiểu vùng nhỏ khác nhau Diện tích toàn
bộ huyện Thanh Chương phía Tây là biên giới Việt - Lào, phía Đông là dãy núi Đại
Huệ, Đại Vạc, phía Nam giáp huyện Nam Đàn và phía Bắc là biên giới với huyện Anh Sơn, Đô Lương Nguồn nước cấp cho vùng này là dòng chính sông Cả, sông Giăng, Rào Gang bằng bơm và hồ chứa nhỏ về lâu dài nguồn nước cấp là hồ Thác Muối
9 Vùng IX: Vùng thượng nguồn sông Cả: Đây là vùng có diện tích lớn nhất trong tất
cả các vùng, bao gồm diện tích huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông và Anh Sơn Phía Bắc và Tây giáp biên giới Việt Lào, phía Nam giáp huyện Thanh Chương,
Đô Lương, phía Đông giáp lưu vực sông Hiếu Nguồn nước cấp cho vùng dựa vào nguồn nước sông Cả bằng các đập dâng, hồ chứa nhỏ, một phần diện tích gần Đô Lương phải dùng bơm
10 Vùng X: Vùng trạm bơm Văn Tràng và các khu tưới lẻ của Đô Lương Vùng này
bao gồm các tiểu vùng Nam Bắc Đặng, Ngọc Lam Bồi, Giang Hồng Bài và khu tưới
của khe khuôn Văn Tràng Phía Đông giáp lưu vực sông Bùng, Sông Cấm, phía Nam giáp khu Hữu Thanh Chương, phía Bắc giáp lưu vực sông Hiếu, phía Tây là dòng chính sông Cả đoạn từ Dừa đến cửa ra của sông Giăng Nguồn nước chính nhờ vào sông Cả
11 Vùng XI: Vùng Diễn Yên Quỳnh: Đây là một trong 3 khu hưởng lợi từ nguồn nước
sông Cả bao gồm diện tích đất đai của huyện Diễn Châu, Yên Thành, và phần phía Nam của huyện Quỳnh Lưu Phía Bắc giáp lưu vực sông Hoàng Mai, sông Hiếu, phía Tây giáp vùng Văn Tràng (Đô Lương) phía Nam giáp lưu vực sông Cấm và phía Đông
là Vịnh Bắc Bộ Nguồn nước cấp chính cho vùng này là nguồn nước sông Cả, nguồn nước sông Bùng đã được sử dụng theo dạng các hồ chứa nhỏ tưới cho vùng đồi núi
của sông Bùng và dựa vào đập ngăn mặn Diễn Thành lấy nguồn nước ngọt cấp cho vùng cát Diễn Châu
12 Vùng XII: Vùng Thượng sông Hiếu: Vùng này bao gồm diện tích của huyện Quế
Phong ( Trừ 2 xã nằm bên lưu vực sông Chu), huyện Qùy Châu và 8 xã thượng nguồn sông Chàng của Như Xuân - Thanh Hoá Phía Đông giáp lưu vực sông Chu, sông Yên, phía Nam giáp Quỳ Hợp, phía Tây giáp lưu vực Huổi Nguyên, dòng chính sông Cả và
Trang 28phía Bắc giáp biên giới Việt - Lào Nguồn nước cấp chính cho vùng này là nguồn nước sông Hiếu
13 Vùng XIII: Vùng Trung lưu sông Hiếu: Bao gồm phần lưu vực sông Dinh của Quỳ
Hợp, vùng ven sông Hiếu của Nghĩa Đàn, Qùy Hợp, phía Bắc là biên giới với huyện
Quỳ Châu, phía Nam giáp với thị trấn Thái Hoà, phía Tây là lưu vực Huổi Nguyên, phía Đông giáp huỵên Như Xuân Nguồn nước cấp cho vùng này lấy từ sông Hiếu và các sông nhánh Đây là vùng nằm trong khu tưới của hồ Bản Mồng
14 Vùng XIV: Vùng hạ sông Hiếu: Bao gồm diện tích còn lại của huyện Nghĩa Đàn,
toàn bộ huyện Tân Kỳ và 3 xã thuộc lưu vực sông Hiếu của Anh Sơn Phía Bắc giáp lưu vực sông Dinh, phía Nam giáp lưu vực sông Bùng, phía Tây giáp sông Cả và phía Đông giáp lưu vực sông Hoàng Mai- các sông nhỏ thuộc Quỳnh Lưu Nguồn nước cấp cho vùng chủ yếu là nhờ vào nguồn nước sông Hiếu
Nhận thấy, vùng nghiên cứu rộng lớn Fct = 2019449 ha trải rộng trên địa phận 2 tỉnh
Hà Tĩnh và Nghệ An Lưu vực sông Cả chia thành nhiều nhánh nhỏ rất khó khăn trong
việc thống kê, thu thập tài liệu Vùng Diễn – Yên – Quỳnh là vùng đại diện trong sử
dụng đất, nước và các giải pháp thủy lợi cho lưu vực Hơn nữa vùng này cũng là vùng điển hình thiếu nước, vì vậy luận văn này tôi xin phép chọn vùng Diễn – Yên – Quỳnh
là vùng tính toán hạn hán cho luận văn này
1.2.2 Đặc điểm tự nhiên vùng Diễn - Yên – Quỳnh
1.2.2.1 Vị trí địa lý
Tiểu vùng Diễn -Yên - Quỳnh nằm trong vùng đồng bằng bán sơn địa phía Đông của
tỉnh Nghệ An Phía Bắc và Đông Bắc giáp với Tỉnh Thanh Hóa, huyện Nghĩa Đàn và
Biển Đông Phía Tây giáp với huyện Tân Kỳ Phía Đông giáp với biển Đông Phía Nam và Đông Nam giáp với huyện Nghi Lộc, Đô Lương
Đây là vùng có các huyện thuần nông, là vựa lúa lớn của tỉnh Nghệ An, do cách xa trung tâm kinh tế của tỉnh nên việc đầu tư thiết bị cũng như tiếp xúc khoa học kỹ thuật còn hạn chế, phát triển chủ yếu dựa vào nội lực Hướng phát triển đang dần chuyển sang phát triển các ngành dịch vụ, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp cũng như công nghiệp để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội theo hướng công nghiệp hoá và
hiện đại hoá đất nước
Trang 29Hình 1.3: Bản đồ vùng Diễn - Yên - Quỳnh
1.2.2.2 Điều kiện địa hình
Đồng bằng Diễn - Yên - Quỳnh có dạng lòng chảo, phía đồi và phía biển cao giữa đồng bằng thấp trũng cao độ biến đổi từ +4,5 ÷ +1,0 Địa hình được bao phủ bởi
những dãy núi được phân bố từ đông bắc xuống tây nam, ở giữa là đồng bằng, phía rìa
là đồng bằng ven biển nên phân thành hai vùng là vùng bán sơn địa và vùng đồng
bằng Vùng đồng bằng: gồm các xã, thị trấn có độ cao bình quân so với mặt nước biển
từ 0,8 ÷ 2,5m, là vùng trọng điểm lúa của khu vực.Vùng bán sơn địa: gồm các xã nằm trong vùng chuyển tiếp giữa đồi núi và đồng bằng của tỉnh Nghệ An, đặc điểm chung
là có đồi núi thấp, có sườn núi thoải dần về phía đông là vùng có thế mạnh phát triển cây công nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi
Trang 30Từ những đặc điểm địa hình trên cho ta thấy: Hệ thống có những thuận lợi và khó khăn nhất định như khó khăn về sự phân bố dân cư chưa đồng đều do địa hình phức
tạp gây cản trở cho việc cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu cho người dân
1.2.2.3 Đặc điểm thổ nhưỡng
Một số loại đất nằm trên địa bàn khu vực:
- Đất Feralit biến đổi do trồng lúa nước: Diện tích khoảng 5898,94ha, chiếm 10,8% Được phát triển trên đá mẹ chủ yếu là sa thạch, phấn sa Hầu hết đất thường xuyên được trồng lúa nước Đất Feralit phát triển trên phiến sét hoặc sa phiến sét: Diện tích khoảng 4118,3ha, chiếm 7,6% Đây là vùng đồi và vùng núi thấp Đất có tầng dày có thể phát triển trồng cây ăn quả và cây công nghiệp
- Đất nâu vàng phát triển dưới chân đá lèn vôi: Diện tích khoảng 3293,2ha, chiếm 6%
- Đất bạc màu trên phù sa cũ: Diện tích khoảng 2692,79ha, chiếm 5,4% Đây cũng là loại đất tốt nhưng do điều kiện địa hình dốc, nghiêng, thường bị rửa trôi chất kiềm, mùn, chất sắt Đất không được cung cấp chất màu lại bị rửa trôi nên lớp đất canh tác trở nên chua, màu bạc trắng, cát pha rời rạc, nghèo chất dinh dưỡng
- Đất phù sa ven sông suối (Ps): Diện tích khoảng 298,12ha, chiếm 0,6%
Ngoài ra còn có một số loại đất như: Nhóm đất cát phân bố ven biển Diễn Châu,
Quỳnh Lưu Nhóm đất mặn chủ yếu ven cửa sông và ven biển
Trang 31trung bình đạt 1,9÷3,0 m/s Một năm có khoảng 3 ÷ 4 đợt gió mùa gây lạnh trên lưu
vực Gió mùa hè có hướng thịnh hành là gió Đông và Đông Nam, tốc độ gió trung bình 1,5 ÷ 3,0 m/s giữa mùa Đông và mùa Hè có gió Tây và Tây Nam hoạt động Trên toàn lưu vực gió có tốc độ từ 2,0 ÷ 4,0 m/s đặc trưng của gió này là khô, nóng, thổi theo
từng đợt từ 5-7 ngày mà nhân dân thường gọi là gió Lào Một năm trên lưu vực có từ 5
÷ 7 đợt gió Tây và xuất hiện từ đầu tháng 4 đến tháng 7 Thời kỳ có gió này lượng bốc thoát hơi lớn và độ ẩm của sông tăng cao Đây là thời kỳ cuối vụ xuân và đầu vụ hè thu do vậy trên lưu vực sông Cả những tháng có gió tây cần tưới nhiều nhưng thời gian tưới lại cần vào ban đêm hoặc gần tối, gần sáng vì khi cây bốc thoát hơi nước nhanh, tưới đủ nước vào ban ngày gây tình trạng càng bị úng sinh học dễ héo chết và ủng
Theo tài liệu đo đạc của các trạm khí tượng, Số giờ nắng trung bình năm trên khu vực
biến động từ 1500 ÷1800 giờ/năm Lượng bức xạ nhiệt tổng đạt bình quân 120÷130 Kcad/cm2 năm Số giờ nắng trung bình và lượng bức xạ lớn trên lưu vực là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông lâm ngư nghiệp trên lưu vực
Bảng 1.4: Số giờ nắng trung bình tháng tại trạm Quỳnh Lưu (Đơn vị: giờ)
Quỳnh
Lưu 79,7 64,4 70,9 132,6 204,8 194,2 201,9 179,5 156,3 150,6 129,5 84,4 1648,7
d Độ ẩm không khí
Độ ẩm bình quân năm biến động từ 82% đến 85% vùng có độ ẩm bình quân năm cao
là Đô Lương 85,5 Độ ẩm cũng phù hợp với lượng bốc hơi năm vùng trung lưu có độ
ẩm lớn - độ bốc thoát hơi nước nhỏ và vùng miền núi, đồng bằng có lượng bốc hơi
lớn- độ ẩm không khí nhỏ Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 1, 2 độ ẩm cao đạt tới 94%, tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 7, có ngày độ ẩm thấp chỉ còn 36-38%
Trang 32Bảng 1.5: Độ ẩm không khí các tháng tại trạm Quỳnh Lưu (Đơn vị: %)
÷ 20% tổng lượng mưa năm Lượng mưa nhỏ nhất thường vào tháng 2, 3 Nhiều trạm
đo trong vùng lượng mưa hai tháng này chỉ đạt 1 ÷ 2% lượng mưa năm
Bảng 1.6: Lượng mưa trung bình năm tại Quỳnh Lưu
Năm 1985 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997
TB 120.5 130.6 81.95 113.03 158.21 171.47 133.67 112.94 115.03 141.95 105.13 174.53 116.8 Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
TB 87.483 130.35 94.717 132.88 118.92 74.392 108.27 125.58 158.59 88.417 154.04 105.13
1.2.2.5 Mạng lưới sông ngòi và điều kiện thủy văn
Phần thượng nguồn sông chính chảy qua khu vực bắt nguồn từ sông Lam (từ Bara Đô Lương) Đây là hệ thống tưới chính cho các xã đồng bằng và một phần cho một số xã miền núi Tuy không có sông lớn chảy qua địa bàn của khu vực 3 huyện nhưng lại có nhiều sông suối từ vùng núi huyện Tân Kỳ, Quỳnh Lưu đổ về các xã thuộc vùng bán sơn địa phía Tây và Tây Bắc, có hệ thống công trình thuỷ nông Bắc Nghệ An tưới cho các xã đồng bằng và một phần của một số xã miền núi nằm trên địa bàn của khu vực Các công trình hồ đập trung và nhỏ đã được đầu tư xây dựng tương đối đều khắp với tổng số hơn 252 hồ Có sông Dinh, sông Dền, sông Cầu Bùng trên địa bàn 3 huyện, Hồ Vực Mấu trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu và kể cả nước ngầm trong đất cùng với lượng mưa hàng năm là nguồn nước đảm bảo cơ bản cho sản xuất, sinh hoạt của cộng đồng
Trang 33dân cư trên địa bàn huyện Ngoài ra có một hệ thống kênh vách bắc làm nhiệm vụ tiêu thoát lũ tập trung chủ yếu từ tháng 8÷12
1.2.2.6 Tình hình dân sinh, kinh tế, xã hội
a.Tình hình dân sinh
Yên Thành là huyện có dân số đông của tỉnh, tính đến năm 2015 có 275165 người Cơ
cấu dân số theo giới tính thì nam chiếm 48,97% và nữ là 51,03% dân số Cơ cấu dân
số theo đô thị và nông thôn trong đó nông thôn chiếm tới 98,32%, đô thị chỉ có 1,68%
Mật độ dân số bình quân toàn huyện năm 2008 gần 503 người/km2, dân số phân bố không đều giữa 2 vùng: Vùng đồng bằng trên 628 người/km2, vùng bán sơn địa 393 người/km2 Chất lượng dân số ngày càng được nâng lên theo xu hướng phát triển đi lên của nền kinh tế xã hội như chiều cao, cân nặng, nhìn chung tuổi thọ cũng được nâng dần qua các năm
Tính đến năm 2015, dân số của huyện Diễn Châu có 218227 người Mật độ dân số là
716 người /km2 Dân cư trên toàn huyện phân bố tương đối đều do địa bàn huyện chủ
yếu là vùng đồng bằng bằng phẳng
Dân số của huyện Quỳnh Lưu tính đến năm 2015 có 384521 người, có dân số đông
nhất trong 3 huyện của tỉnh Nghệ An, mật độ dân số là 670 người/ km2 nhưng phân bố không đều do địa hình phức tạp
Lao động nông nghiệp của vùng chiếm 64%, nhân lực thuộc các ngành phi nông nghiệp chiếm 36% Nguồn nhân lực dồi dào là một lợi thế lớn cho phát triển kinh tế trên lưu vực trong tương lai
Tình hình lao động trong khu vực: Lao động trong độ tuổi từ 20-40 chiếm khoảng 35% dân số, lao động trong độ tuổi 40-60 chiếm khoảng 20% dân số Trong đó:
30-Lao động trong lĩnh vực Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản chiếm khoảng 65%
tổng lao động trong các ngành kinh tế (giảm so với năm 2005 là 77%) Lao động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 12% dân số lao động trong vùng Lao động trong lĩnh vực dịch vụ, thương nghiệp, giáo dục, chiếm khoảng 23% dân số lao động trong vùng Thu nhập bình quân đầu người trong khu vực còn rất thấp khoảng 800÷900 nghìn đồng/người/tháng
b.Tình hình kinh tế
Trang 34- Ngành nông nghiệp
Ngành trồng trọt liên tục phát triển với tốc độ tăng bình quân 4,95 % /năm trong 10 năm qua, trong đó giai đoạn 2007-2011 tăng bình quân 3,78 % /năm Bước đầu đã hình thành một số vùng cây nguyên liệu tập trung, gắn với công nghiệp chế biến, tạo nên một khối lượng nông sản hàng hoá tương đối khá, đáp ứng nhu cầu trong các tỉnh
và phục vụ xuất khẩu
Sản lượng lương thực liên tục tăng qua các năm, năm 2014 đạt 1016238 tấn, chiếm 61% sản lượng toàn lưu vực Lương thực bình quân đầu người đạt 435,2 kg năm (bình quân toàn tỉnh Nghệ An 398 kg), tăng so với năm 2010 là 18,4 kg/người (416,8 kg/người) Cơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ được chuyển dịch đúng hướng, diện tích lúa giảm, diện tích ngô tăng, nhất là ngô vụ đông trên đất hai lúa Đất đai khu vực được phân bố như sau:
- Diện tích đất canh tác hiện tại: 54531,14ha
- Di ện tích canh tác có thể khai thác trong tương lai: 3834,8 ha
Bảng 1.7: Diện tích trồng trọt của một số cây trồng chính
tích NS SL
Diện tích NS SL
Diện tích NS SL
1 Diễn Châu 18332 62.65 1148499 1543 42.25 19193 1066 70.68 7534
2 Yên Thành 17687 60.17 162404 1384 39.93 13512 1894 74.78 14163
3 Quỳnh Lưu 14928 58.86 84884 1442 38.03 13091 1799 54.99 4394
- Chăn nuôi
Điều kiện tự nhiên của khu vực thuận lợi cho phát triển chăn nuôi, chăn nuôi phát triển
về cả số lượng lẫn chất lượng đàn Tốc độ tăng trưởng nhanh, xuất hiện nhiều mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung có hiệu quả trong đó có phong trào nuôi bò thịt, nuôi lợn bán công nghiệp phát triển mạnh Tỉnh Nghệ An là một trong những tỉnh cải
tạo tốt giống đàn bò, các chương trình chăn nuôi do tỉnh đầu tư đã góp phần cải tạo nâng cao chất lượng đàn, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi Một số mô hình chăn nuôi tiên tiến với quy mô vừa và lớn đã được hình thành và phát triển góp
phần đưa tỷ trọng chăn nuôi vùng lên đến 40.15%
Trang 35Bảng 1.8: Số lượng gia súc, gia cầm các năm 2010 – 2014
- Kinh tế thủy hải sản
Có nhiều ao, hồ, đập, diện tích đồng bằng ven biển lớn, diện tích nuôi trồng thủy hải
sản tương đối lớn như ở các vùng ven biển huyện Quỳnh Lưu và Diễn Châu Khả năng
cải tạo mở rộng đến ổn định để nuôi thuỷ sản nước ngọt, cho khối lượng sản phẩm tương đối cho nội địa và xuất khẩu Ngành có sự phát triển đều và ổn định Năm 2000
diện tích nuôi trồng thuỷ sản chỉ sử dụng 897 ha ao hồ Đến năm 2010 diện tích nuôi
trồng thuỷ sản đã nâng lên 2017 ha (trong đó diện tích ao hồ 1543 ha, diện tích lúa cá,
cá vụ 3 trên đất lúa 471 ha)
Tổng sản lượng năm 2000 đạt 770 tấn, đến năm 2010 đạt 3408 ha, tăng 4,43 lần, dự
kiến đến năm 2010 là 4850 tấn, tăng 6,3 lần, giá trị của ngành tăng tương ứng gần 4
lần và 5,4 lần
Chính sách hỗ trợ phát triển của tỉnh, huyện như hỗ trợ chuyển đổi ruộng đất sang nuôi
trồng thuỷ sản, hỗ trợ giá giống cá rô phi đơn tính Đầu tư xây dựng hạ tầng ao nuôi,
hệ thống tưới cho nuôi cá rô phi đơn tính đang được thực hiện, mở ra khả năng nuôi thâm canh cho kỳ quy hoạch tới
- Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
Toàn vùng đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển nền công nghiệp mới Xuất phát từ lợi thế đất đai, sản phẩm tại chỗ của nông nghiệp, lao động dồi dào nên có điều
kiện để phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng như gạch nung, đá xây dựng; công nghiệp chế biến, may xuất khẩu, chế biến thịt hộp, thịt đông lạnh, thủy hải sản
xuất khẩu trong và ngoài nước, xuất khẩu, chế biến dứa, tinh bột sắn, phân vi sinh,
thức ăn gia súc Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
Với dân số đông đúc, nguồn lao động dồi dào, diện tích đất đai tương đối lớn, cần nhiều hàng hoá, vật tư trong sản xuất, tiêu dùng, nhằm phục vụ đời sống của người dân
Trang 36càng thúc đẩy nhanh nền công nghiệp của toàn vùng Mặt khác, vùng có thế mạnh về địa hình đa dạng như đồi núi, đồng bằng, hồ thuỷ lợi, các khu du lịch ven biển, di tích văn hóa - lịch sử, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch, dịch vụ thương mại và các ngành dịch vụ phục vụ khác
1.2.2.7 Phương hướng phát triển các ngành đến năm 2025
a Quan điểm phát triển kinh tế:
- Tiếp tục đổi mới và tạo đột phá để phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở phát huy
nội lực với tranh thủ tối đa ngoại lực trong thế chủ động hội nhập và cạnh tranh quốc
tế; trong sự hợp tác chặt chẽ với các địa phương trong cả nước, đặc biệt là các địa phương trong vùng Bắc trung bộ và vùng KTTĐ miền Trung Đảm bảo thu hẹp dần khoảng cách chênh lệch giữa vùng cả nước
- Tập trung nguồn lực tạo ra các cực tăng trưởng, vùng, khu trọng điểm và phát triển
mạnh một số lĩnh vực và sản phẩm đột phá nhằm tạo đà tăng trưởng nhanh nền kinh tế
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, hiện đại Lấy công nghiệp làm khâu đột phá trong phát triển kinh tế hàng hóa, lấy khai khoáng, cán thép, luyện kim, làm hàng hóa chủ lực và lâu dài Dần dần hình thành một số sản phẩm công nghiệp mũi nhọn và nông nghiệp có chất lượng cao, có thương hiệu và uy tín trên thương
trường Phát triển lĩnh vực dịch vụ đồng bộ, hiện đại đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp Phát triển nông lâm ngư nghiệp chú ý tác động của thời tiết khí hậu, hạn chế tác động thiên tai, tạo điều kiện sản xuất thuận lợi, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân Xây dựng hệ thống đô thị trở thành các trung tâm thương mại và dịch vụ phục vụ cho phát triển kinh tế, các khu dân cư nông thôn theo hướng hiện đại
- Phát triển nhanh các dịch vụ du lịch, thương mại, vận tải, bưu chính viễn thông, giáo
dục, y tế, tài chính - ngân hàng; các ngành công nghiệp có lợi thế tại các khu, cụm công nghiệp như công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông - lâm - thuỷ
sản, thực phẩm, điện tử, tin học,… Xây dựng một nền nông - lâm nghiệp đa dạng, gắn
với bảo vệ tài nguyên và môi trường sinh thái
- Phát triển theo hướng bền vững: Gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã
hội, môi trường như xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, nâng cao thể lực và trí
Trang 37lực cho người lao động, xây dựng các khu định cư Xây dựng hệ thống chính trị vững
mạnh, củng cố an ninh quốc phòng, bảo vệ vững chắc biên giới, chủ quyền quốc gia
- Coi trọng phát triển kết cấu hạ tâng trên các vùng để thu hút đầu tư, khai thác các nguồn lực của địa phương và bên ngoài
b Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
- Mục tiêu kinh tế:
Về tăng trưởng kinh tế: Phấn đấu từ nay đến năm 2025 tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng
bình quân 13,5%/năm, thời kỳ 2011-2015 tăng 13%/năm, thời kỳ 2021-2025 tăng
Bảng 1.9: Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Thu nhập GDP/người (giá hiện hành): Phấn đấu đến năm 2025 đạt khoảng 58 triệu
đồng/người/năm Thu hẹp khoảng cách thu nhập/người so với mức bình quân chung cả nước đạt 85% năm 2015 và đến năm 2025 đạt 94%
- Mục tiêu xã hội:
Phấn đấu tỷ lệ tăng dân số tự nhiên duy trì ở mức dưới 1,0% trong thời kỳ 2015-2025
Giải quyết tốt các vấn đề xã hội cơ bản, giảm tỷ lệ hộ nghèo: Giai đoạn 2015-2025 bình quân mỗi năm giảm 2,5-3,0% hộ nghèo, đến năm 2025 về cơ bản không còn hộ nghèo do thiếu việc làm Đến năm 2015, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng lên 40-42%%
và đạt khoảng 50% vào năm 2025 Giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp xuống 3,2% vào năm 2015 và xuống còn 2,6% vào năm 2025
- Mục tiêu môi trường:
Đảm bảo 95 - 98% nước hợp vệ sinh cho các cụm dân cư nông thôn Phủ xanh đất
trống đồi núi trọc, phấn đấu nâng độ che phủ rừng lên khoảng 60% vào năm 2025,
Trang 38tăng diện tích cây xanh ở thành phố và các đô thị khác của tỉnh Đảm bảm môi trường
sạch cho cả khu vực đô thị và nông thôn Phấn đấu đến năm 2025, 100% nước thải ở các khu công nghiệp, nhà máy được xử lý Sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học Ngăn chặn việc phá hoại tài nguyên rừng, gây ô nhiễm nguồn nước, bảo vệ môi trường sinh thái
c Dự báo xu thế phát triển
- Phát triển dân số
Theo định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nghệ An, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đến năm 2025 là 1,0%, dân số đến 2025 dự báo khoảng 850000 người
- Phát triển Nông nghiệp
Dự kiến sử dụng đất: Qua theo dõi quá trình phát triển và theo quy hoạch sử dụng đất đến 2025 của các huyện vùng lưu vực sông Cả, cho thấy đây là vùng đang trong quá trình chuyển đổi kinh tế xã hội, tình hình sử dụng đất trong vùng còn có rất nhiều biến động
+ Ngành trồng trọt:
Trong những năm tới, trồng trọt vẫn được xác định là ngành sản xuất then chốt trong nông nghiệp, mặc dù tỷ trọng giảm dần nhưng vẫn chiếm phần lớn trong cơ cấu giá trị
sản xuất của ngành Các cây trồng chủ yếu vẫn là lúa nước, ngô lai, lạc, rau đậu thực
phẩm; cây công nghiệp dài ngày có giá trị hàng hóa xuất khẩu như cà phê, cao su, hồ tiêu, cây ăn quả, Sản xuất lương thực được coi là nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm
bảo an ninh lương thực, tiến tới có hàng hoá xuất khẩu Khai thác tối đa diện tích có
khả năng sản xuất lương thực ở các huyện miền núi để giải quyết nhu cầu lương thực
tại chỗ, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất, đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất cụ thể với từng loại cây trồng
Cây lương thực có hạt: Cây lương thực có hạt chủ yếu là lúa nước, phát triển với mục tiêu góp phần đảm bảo an ninh lương thực vững chắc trên địa bàn, ổn định đời sống dân cư Hướng chủ yếu là thâm canh chiều sâu, sử dụng giống lúa mới, lúa chất lượng cao Hình thành một số vùng sản xuất lúa tập trung theo hướng cao sản, chất lượng cao, tạo lương thực hàng hóa Chuyển đổi một số diện tích đất trồng lúa hiệu quả thấp sang các cây trồng khác đem lại hiệu quả cao hơn như cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi, thuỷ sản
Trang 39+ Chăn nuôi:
Phát triển chăn nuôi góp phần tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập cho nông dân
Ðẩy mạnh quy hoạch phát triển các vùng trang trại chăn nuôi thâm canh tập trung, đưa chăn nuôi ra khỏi khu dân cư để đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trường, đi đôi với phát triển các trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp theo phương thức "đa cây đa con" như: Cá- lúa; Cá - lúa - vịt; VAC; VACR,
Phát triển chăn nuôi trâu bò theo hướng thâm canh, sản xuất hàng hoá, lấy thịt cung
cấp cho thị trường tiêu dùng trong nước và cho công nghiệp chế biến xuất khẩu Khuyến khích chăn nuôi lợn tập trung, thâm canh công nghiệp và bán công nghiệp
Cải tạo đàn Lợn hướng nạc, nâng chất lượng thịt đủ tiêu chuẩn xuất khẩu Chú trọng nuôi thâm canh, nuôi công nghiệp đàn gia cầm, với giống chất lượng cao …
Bảng 1.10: Dự báo tổng đàn gia súc, gia cầm các giai đoạn
có giá trị
Phát triển nuôi trồng thuỷ sản ven biển một cách bền vững Đẩy mạnh chương trình nuôi cá lồng trên biển với quy mô lớn, tập trung các vùng quanh đảo Ngư (Cửa Lò),
Quỳnh Lưu, mỗi năm tăng thêm trên 50 lồng với các loại cá đặc sản (cá song, cá giò, cá
mú ) để tăng sản phẩm xuất khẩu
Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, tập trung nuôi thâm canh các đối tượng nuôi đã khẳng định được tính hiệu quả như cá rô phi, cá ruộng lúa, cá lồng trên sông,
hồ đập lớn và phát triển mới các con nuôi như: tôm càng xanh, cá hồng mỹ, để đến
Trang 40năm 2025 diện tích nuôi nước ngọt đạt trên 7000ha, trong đó diện tích nuôi rô phi khoảng 700ha
Ổn định nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ trên cơ sở tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến, đưa các giống mới vào sản xuất; đưa vào nuôi vụ 2 trên ao tôm các đối tượng nuôi phù hợp như cua, cá rô phi, các vược,
Bảng 1.11: Dự kiến diện tích nuôi trồng thuỷ sản đến 2025
+ Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Tập trung phát triển các ngành có tiềm năng và lợi thế của địa phương như khai khoáng, luyện kim, vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, Đồng thời, chú trọng phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao như cơ khí chế tạo, điện tử và công nghệ thông tin, vật liệu mới thay thế nhập khẩu Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản: Nghiên cứu xây dựng mới và mở rộng các nhà máy hiện có chế biến thuỷ sản đông lạnh, thực phẩm đồ hộp, hoa quả xuất khẩu,
chế biến thức ăn gia súc, chế biến tinh bột sắn, chế biến dầu ăn, chế biến mủ cao su, tinh dầu trầm, côlôphan,… Củng cố và phát triển nhà máy nước khoáng, nhà máy rau
quả
Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: Xây dựng các nhà máy chế biến thủy tinh,
chế biến thạch cao Dành lượng đất sét để sản xuất vật liệu ốp, lát, lợp chất lượng cao
bằng công nghệ tiên tiến, cung cấp cho nhu cầu xây dựng trong, ngoài tỉnh và xuất
khẩu Ưu tiên phát triển gạch không nung để bảo đảm khoảng 50% nhu cầu gạch xây Xây dựng các nhà máy sản xuất gạch nung theo công nghệ lò tuynel, nhà máy khai thác khoáng chất Serict và sản xuất các vật liệu xây dựng khác như vật liệu xây, lợp,
đá, cát, sỏi
1.2.2.8 Hiện trạng thủy lợi
Đây là vùng hưởng lợi từ nguồn nước sông Cả thông qua hệ thống đập dâng Đô Lương, cống Mụ Bà - xi phông Hiệp Hoà và các công trình hồ, đập nhỏ trong vùng
Diện tích tự nhiên của vùng là 123827,6ha, diện tích đất canh tác là 46239,9ha Các công trình hiện trạng trong vùng bao gồm: