Các công trình trên có hiệu quả điều trị cao, tuy nhiên chưa kết hợp điềutrị các chứng hậu sản hay gặp như huyết hư, ứ trệ, bụng dưới đau… Bài thuốc cổ phương Sinh hoá thang đã được sử d
Trang 1VŨ CAO ĐIỀN
§¸NH GI¸ T¸C DôNG LîI S÷A CñA BµI THUèC
“SINH HO¸ THANG” TR£N S¶N PHô THIÕU S÷A
Trang 2luận văn tốt nghiệp của mình Với tất cả tấm lòng, tôi xin được gửi lời cảm ơnchân thành nhất tới:
Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện YDHCT Việt Nam, Phòng Sauđại học - Học viện YHCT Việt Nam, Bệnh viện đa khoa YHCT Hà Nội
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập
và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Minh Hoàn, TS TốngThị Tam Giang - hai người thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên và chỉ dẫncho tôi những kiến thức, phương pháp luận, tư duy khoa học để tôi hoàn thành
đề tài nghiên cứu của mình
Với tất cả lòng kính trọng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy trong hộiđồng thông qua đề cương, hội đồng đạo đức, hội đồng chấm luận văn đã đónggóp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn chỉnh luận văn
Cuối cùng, xin ghi tâm những tình cảm, công lao, sự cổ vũ của bạn bèđồng nghiệp, người thân trong gia đình luôn sát cánh cùng tôi trong quá trìnhhọc tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 3 năm 2019
Vũ Cao Điền
Trang 3dẫn khoa học của tập thể cán bộ hướng dẫn.
Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và được công bố một phầntrong các bài báo khoa học Luận văn chưa từng được công bố Nếu có điều gìsai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Vũ Cao Điền
Trang 4BN : Bệnh nhân
D0 : Ngày bắt đầu điều trị
D3 : Sau 3 ngày điều trị
D7 : Sau 7 ngày điều trị
D10 : Sau 10 ngày điều trị
D15 : Sau 15 ngày điều trị
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Sữa mẹ là nguồn thức ăn quý giá nhất đối với trẻ em, không có một loạisữa nhân tạo nào có thể thay thế được Sữa mẹ là nguồn thức ăn đầy đủ chấtdinh dưỡng: đạm, đường, mỡ, vitamin và các chất khoáng [1], [6]
Trong sữa mẹ có các kháng thể, trẻ bú sữa mẹ sẽ nhận được kháng thể
có khả năng miễn dịch nên trẻ ít bị bệnh hơn Sữa mẹ dễ tiêu hoá và hấp thụ,
là thức ăn lý tưởng nhất cho sự phát triển cơ thể, phát triển trí thông minh, bảo
vệ cơ thể chống đỡ các bệnh nhiễm khuẩn Với bà mẹ cho con bú: sữa mẹ đầy
đủ sẽ tạo điều kiện gắn bó tình cảm mẹ con, là nguồn cung cấp tiện lợi vềkinh tế, góp phần bảo vệ sức khoẻ cho bà mẹ, giảm nguy cơ chảy máu, ungthư vú và buồng trứng [37], [46]
Với vai trò quan trọng của sữa mẹ vừa nêu trên, nếu như người mẹ nàothiếu sữa để nuôi con, thậm chí là không có sữa, phải nuôi con bằng nguồnsữa khác thì đó là một vấn đề khó khăn cho người mẹ, đồng thời vô cùng thiệtthòi cho trẻ Hiện nay tỷ lệ người mẹ thiếu sữa sau khi sinh rất nhiều, tỷ lệ suydinh dưỡng ở trẻ không được bú sữa mẹ còn cao [11]
Theo Y học hiện đại (YHHĐ), thiếu sữa là tình trạng sản phụ sau khisinh có ít sữa hoặc không có sữa [11]
Y học cổ truyền (YHCT) gọi chứng thiếu sữa hoặc không có sữa saukhi sinh là chứng "Sản hậu khuyết nhũ" [24], [29] Để điều trị khuyết nhũ,YHCT sử dụng nhiều biện pháp như châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, tác độngcột sống, dùng thuốc theo biện chứng, theo kinh nghiệm dân gian, theo cổphương, dùng các món ăn nhằm tăng tiết sữa [42], [47] Mỗi phương phápđều cho kết quả nhất định
Tại Việt Nam, gần đây đã có một số công trình nghiên cứu phục hồinguồn sữa mẹ như: Đỗ Thanh Hà, Lê Thị Hiền, Nguyễn Sơn Dư (2007)
Trang 10nghiên cứu "Đánh giá tác dụng của phương pháp tác động cột sống để phụchồi nguồn sữa mẹ" cho thấy kết quả tốt đạt 84,8% [12], [14] Nguyễn TàiLương (2003) "Đánh giá hiệu quả của phương pháp chẩn trị bằng tác động cộtsống đối với một số bệnh sinh sản ở phụ nữ" cho thấy kết quả tốt đạt 87,2%[28] Các công trình trên có hiệu quả điều trị cao, tuy nhiên chưa kết hợp điềutrị các chứng hậu sản hay gặp như huyết hư, ứ trệ, bụng dưới đau…
Bài thuốc cổ phương Sinh hoá thang đã được sử dụng phổ biến trongnhân dân để điều trị các chứng sản hậu huyết hư, ứ trệ, bụng dưới đau Trongquá trình sử dụng Sinh hoá thang để điều trị cho sản phụ tại Bệnh viện đakhoa YHCT Hà Nội, chúng tôi nhận thấy, ngoài tác dụng kể trên, bài thuốccòn được phản hồi tích cực trong việc tăng tiết sữa Do đó với mong muốn
mở rộng ứng dụng của bài thuốc Sinh hoá thang, cũng như để đánh giá tácdụng tăng tiết sữa một cách khoa học và khách quan, chúng tôi tiến hànhnghiên cứu đề tài “Đánh giá tác dụng lợi sữa của bài thuốc “Sinh hoá thang”trên sản phụ thiếu sữa sau sinh” với hai mục tiêu:
1 Đánh giá tác dụng lợi sữa của bài thuốc “Sinh hoá thang” trên một số chỉ
tiêu lâm sàng, cận lâm sàng ở sản phụ thiếu sữa sau sinh.
2 Theo dõi tác dụng không mong muốn của bài thuốc.
Trang 11
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Quan điểm của y học hiện đại về thiếu sữa
1.1.1 Sinh lý của sự sản xuất sữa
Sữa mẹ sản xuất từ những tế bào của nang sữa (tuyến vú) Xung quanhcác nang sữa là các tế bào cơ, nó co thắt và đẩy sữa ra ngoài qua ống dẫnsữa Ở phần quầng vú, các ống trở lên rộng hơn và hình thành các xoangsữa Đó là nơi sữa được gom lại để chuẩn bị cho một bữa ăn Ống hẹp trởlại khi nó qua núm vú Tổ chức xung quanh ống dẫn sữa và nang sữa gồm
có mô mỡ, mô liên kết, mạch máu Tổ chức mỡ và mô liên kết quyết định
độ lớn của vú Cuối thời kỳ thai nghén, vú lớn gấp 2 – 3 lần so với lúcbình thường [5], [13], [17]
Sau khi sinh, sản xuất sữa mẹ được điều chỉnh bởi hai phản xạ:
- Phản xạ sinh sữa:
Khi trẻ mút vú, xung động cảm giác đi từ vú lên não, tác động lên thuỳtrước của tuyến yên để bài tiết ra prolactine Prolactine đi vào máu đến vú làmcho các tế bào bài tiết sữa sản xuất ra sữa Phần lớn prolactine ở trong máutrong khoảng 30 phút sau bữa bú Chính vì thế, nó giúp vú tạo sữa cho bữa ăntiếp theo Đối với bữa ăn này, trẻ bú sữa mà nó đã có sẵn trong vú Vì thế, cầncho trẻ bú nhiều thì vú mẹ sẽ tạo nhiều sữa [64]
Prolactine thường được sản xuất nhiều về ban đêm, vì vậy nên cho trẻ
bú vào ban đêm để duy trì việc tạo sữa Prolactine làm cho sản phụ cảm thấythư giãn và đôi khi buồn ngủ vì thế sản phụ có thể nghỉ ngơi tốt ngay cả khicho con bú vào ban đêm Ngoài ra, prolactine còn ngăn cản sự phóng noãn vìthế có thể giúp sản phụ không có thai trở lại [4], [5], [17], [25]
Trang 12- Phản xạ xuống sữa (hay tiết sữa):
Khi trẻ bú, xung động từ vú tác động lên thuỳ sau tuyến yên để bài tiết
ra oxytocin Oxytocin đi vào máu đến vú và làm cho các tế bào cơ xungquanh nang sữa co lại, làm cho sữa đã được tập trung vào nang sữa chảy theoống dẫn sữa đến xoang sữa và chảy ra ngoài Đây là phản xạ xuống sữa (tiếtsữa hoặc phun sữa)
Các estrogen của bánh rau ức chế tiết prolactin; phải mất 3 – 4 ngày thìhiện tượng này mới mất hẳn đi Sữa bình thường cho tới lúc này còn chưađược tiết ra Khi mà các estrogen còn chế ngự (trong khi có thai và ngay saukhi đẻ) thì chỉ có sữa non được tiết ra [9] Thông thường, người đẻ con so sữa
sẽ xuống vào ngày thứ 3, thứ 4 sau đẻ; còn người đẻ con dạ sữa sẽ xuống vàongày thứ 2, thứ 3 sau đẻ [38], [55]
Hình 1.1 Phản xạ có điều kiện của sự tiết sữa [9]
Trên lâm sàng biểu hiện của xuống sữa thường có: vú căng tức, cáctuyến sữa phát triển nhiều, to, các tĩnh mạch dưới da vú nổi rõ, khó chịu, sốtnhẹ, nhiệt độ >38˚C, mạch nhanh, khi có sự xuống sữa thực sự thì các hiệntượng trên mất đi [5], [13], [17], [25], [38]
Trang 131.1.2 Prolactin và sự điều hoà bài tiết sữa
Prolactin là chất nội tiết chính trong việc điều hoà sản xuất sữa.Prolactin có thể đo được trong máu với số lượng nhỏ ngay tại những thờiđiểm đầu và tăng lên nhanh chóng trong khoảng thời gian từ tuần thứ 20 đếntuần thứ 30 của thai kỳ Prolactin ở một người bình thường vào khoảng 100 –
600 μU/mL, có thể tăng tới 4000 – 11000 μU/mL tại thời điểm sinh trẻ và rồigiảm xuống còn 600 – 900 μU/mL trong thời gian từ 180 đến 360 ngày sausinh Trẻ bú mẹ kích hoạt sự gia tăng Prolactin, sự gia tăng đạt cực đại sau 30phút và trở về mức bình thường sau 2 – 3 giờ [54], [58], [60], [63]
Hình 1.2 Prolactin trước và sau khi sinh [59]
Trong vài tháng cuối của thai kỳ, thường có một lượng nhỏ sữa tiết ra.Sau sinh, khi trẻ bú mẹ, lượng sữa được tiết ra tăng lên nhanh chóng Từ vàithìa trong ngày đầu, lượng này tăng lên vào khoảng 100 ml vào ngày thứ hai
và 500 ml vào tuần lễ thứ hai Lượng sữa sẽ được tiết ra một cách đều đặn vàđầy đủ vào ngày thứ 10 – 14 sau khi sinh Trung bình mỗi ngày trẻ khoẻ mạnhtiêu thụ khoảng 700 – 800 ml sữa trong 24 giờ [50], [57]
Độ lớn của vú không ảnh hưởng đến số lượng sữa, tuy nhiên vúquá nhỏ hay không tăng kích thước trong thời gian mang thai có thể sảnxuất ít sữa
Ở những sản phụ nuôi dưỡng kém, lượng sữa vào khoảng 500 – 700ml/ngày trong 6 tháng đầu, 400 – 600 ml/ngày trong 6 tháng sau đó và 300 –
Trang 14500 ml/ngày trong năm thứ hai Tình trạng này có thể do nguồn dự trữ của sảnphụ bị kém (thiếu dự trữ mỡ) trong thời gian mang thai [3], [5]
1.1.3 Thành phần sữa mẹ
Protein: protein sữa mẹ dễ tiêu, dễ hấp thu Một phần có thể hấp thungay ở dạ dày Protein sữa mẹ chứa α lactalbumin, casein (35%) hình thànhnhững cục mềm lỏng dễ tiêu hoá Trong sữa non, protein chiếm 10%; trongsữa vĩnh viễn là 1% Ngoài ra, acid amine của sữa mẹ có cystein và taurinecần thiết cho sự phát triển của não bộ trẻ sơ sinh Ngoài ra sữa mẹ còn cóprotein kháng khuẩn để bảo vệ cơ thể trẻ [1], [9], [58]
Lipid: sữa mẹ chứa acid béo không no, đây là loại acid béo dễ tiêu, cầnthiết cho sự phát triển của não, mắt và sự vững bền của mạch máu trẻ Sữa mẹcòn chứa lipase, gọi là lipase kích thích muối mật vì nó khởi động các hoạtđộng trong ruột non với sự có mặt của muối mật Lipase không hoạt độngtrong bầu vú hoặc trong dạ dày trước khi sữa trộn với mật [1], [9]
Hình 1.3 Nồng độ protein sữa, so sánh sữa từ các bà mẹ sinh non và đủ
tháng, theo tuổi thai khi sinh và tuần sau sinh [61]
Glucid: đường của sữa mẹ là β lactose rất dễ hấp thu, thích hợp cho sựphát triển của vi khuẩn Lactobacillus bifidus Vi khuẩn này biến β lactosethành acid lactic (là loại acid ngăn cản sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh)đồng thời giúp hấp thu dễ dàng calcium và các muối khoáng khác [1]
Trang 151.1.4 Tầm quan trọng của sữa mẹ
Sữa mẹ là thức ăn toàn diện nhất cho trẻ, đặc biệt là trong 6 tháng đầucủa cuộc sống Việc nuôi con bằng sữa mẹ có những lợi ích sau [37]:
- Sữa mẹ chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể trẻ
- Cơ thể trẻ dễ hấp thu và sử dụng sữa mẹ một cách có hiệu quả
- Bảo vệ trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn, tránh một số bệnh dị ứng
- Giúp cho trẻ phát triển tốt về tinh thần, tâm lý và thể chất
- Chi phí ít hơn là nuôi trẻ bằng thức ăn nhân tạo
- Gắn bó mẹ con và làm phát triển mối quan hệ gần gũi, yêu thương
- Giúp cho sản phụ chậm có thai
- Bảo vệ sức khoẻ cho sản phụ (cầm máu hậu sản, giảm tỷ lệ ung thư vú)
1.1.5 Phương pháp nuôi trẻ bằng sữa mẹ
Những thuật ngữ về bú mẹ [1]:
- Bú mẹ hoàn toàn (tuyệt đối): nghĩa là không cho trẻ bất cứ một đồ ăn hoặc thứcuống nào ngay cả nước (trừ thuốc, vitamin, muối khoáng hoặc sữa mẹ đãđược vắt ra)
Trang 16- Bú mẹ chủ yếu: nghĩa là nuôi trẻ bằng sữa mẹ nhưng cũng cho thêm một ítnước hoặc đồ uống pha bằng nước
- Bú mẹ đầy đủ: nghĩa là nuôi con bằng sữa mẹ kể cả bú mẹ hoàn toàn hoặc bú
- Cho trẻ bú ngay sau sinh, khoảng nửa giờ sau sinh và để mẹ nằm gần con
- Sữa non phải là thức ăn đầu tiên của trẻ để giúp ruột phát triển hoàn chỉnh vàgiảm tình trạng nhiễm khuẩn do nguồn thức ăn khác đưa vào
- Bú mẹ tuyệt đối tối thiểu trong 4 tháng đầu
- Cho trẻ bú theo nhu cầu của trẻ, tránh bú theo giờ, điều này phù hợp với lượngsữa mẹ và sự phát triển của từng trẻ
- Đứa trẻ phải ngậm bắt vú tốt để mút có hiệu quả
- Đứa trẻ nên mút thường xuyên và càng lâu càng tốt
- Không nên cho trẻ bú thêm sữa bò hoặc các loại nước khác
- Vệ sinh vú và thân thể
Cai sữa: chỉ nên cai sữa lúc trẻ được 18 – 24 tháng, sớm nhất là 12tháng Khi cai sữa trẻ phải bỏ từ từ các bữa bú Không nên cai sữa lúc trẻ bịbệnh hay vào lúc bị bệnh nhiễm trùng phổ biến Mẹ có thai vẫn cho con búnhưng cần thêm dinh dưỡng cho trẻ và cho mẹ
Săn sóc vú và đầu vú: đầu vú nhô ra rõ vào cuối thai kỳ vì thế nếu đầu
vú phẳng hoặc tụt vào trong cần phải hướng dẫn và làm cho đầu vú nhô
Trang 17ra bằng cách xoa và kéo đầu vú ra vài lần mỗi ngày Nếu làm không cókết quả thì sẽ cho bú qua một đầu vú phụ hoặc nặn sữa ra và cho trẻ ănbằng thìa và cốc
1.1.6 Thiếu sữa
1.1.6.1 Định nghĩa
Thiếu sữa là hiện tượng sản phụ sau khi sinh sữa rất ít hoặc không cóchút sữa nào [3], [7], [30], [53]
1.1.6.2 Những yếu tố làm giảm lượng sữa trong ngày:
- Cho con chậm bú sau đẻ 2 – 3 ngày, điều này sẽ hạn chế sự hoạt động của tuyến
vú bởi vì không có chất prolactine
- Sản phụ có bệnh: suy tim, lao, thiếu máu, suy dinh dưỡng
- Sản phụ quá trẻ, dưới 18 tuổi, tuyến vú chưa trưởng thành, kém tiết sữa
- Sản phụ dùng các loại thuốc ức chế sự tiết sữa: Aspirine, kháng sinh, thuốcchống dị ứng
- Sản phụ lao động nặng
- Sản phụ buồn phiền, lo âu sẽ hạn chế tiết prolactine
- Khoảng cách cho bú dài trên 3 giờ
- Con trên 12 tháng Trong năm đầu lượng sữa là 1200 ml/ngày Năm thứ hai là
500 ml/ngày Năm thứ ba là 200 ml/ngày [3]
1.1.6.3 Chẩn đoán thiếu sữa
Trang 18- Trẻ không hài lòng sau bữa bú, thường thể hiện trẻ khóc thường xuyên, đòi bútiếp mỗi khi ngừng cho bú, bụng không căng sau bú
- Trẻ tăng cân kém dưới 500 g/tháng
- Nhẹ cân nặng lúc sinh sau 2 tuần
- Trẻ đi tiểu ít, dưới 6 lần/ngày, nước tiểu cô đặc, màu vàng sẫm, mùi khai
1.1.6.4 Cách bảo vệ nguồn sữa mẹ
Đó là tái lập lại sự tạo sữa hay duy trì sữa mẹ Được áp dụng cho trẻcòn bú mẹ mà sản phụ vì lý do nào đó tạm thời ít sữa [10]:
Để cho trẻ bú thường xuyên: cho trẻ bú 5 phút ở mỗi vú, 2 – 3 giờ mộtlần mặc dù sản phụ chỉ còn ít sữa
Cho trẻ ăn thêm cho đến khi sản phụ đủ sữa Trường hợp cho ăn thêmbằng sữa bò thì pha loãng 1/2 đậm độ sữa để trẻ luôn luôn bị đói và bú mạnhthêm Điều này không nên kéo dài một tuần lễ Cho trẻ ăn thêm sau khi bú mẹ(cho trẻ ăn bằng thìa)
Để tăng cường hiệu quả tiết sữa sản phụ cần được nghỉ ngơi thoải mái
và cần được giải thích để sản phụ tin tưởng rằng sẽ có sữa trở lại; đồngthời tìm hiểu và giải quyết nguyên nhân gây ít sữa Nguyên nhân gây ítsữa phổ biến là:
- Sản phụ cho trẻ ăn thêm sớm không cần thiết
- Sản phụ lo lắng, mệt mỏi, thiếu ngủ
- Sản phụ uống thuốc ngừa thai có độ estrogen cao
Cần giải thích cho sản phụ lợi ích của việc bú mẹ so với các phươngpháp nuôi dưỡng khác Có thể dùng thuốc gây xuống sữa [3], [26], [52]:
- Dùng oxytocin dưới dạng phun (Syntonon) bơm vào mũi, 4 đơn vị/lần vào mộthoặc hai mũi, 2 – 3 phút trước khi cho con bú
Trang 19- Dùng Chlorpromazine gây kích thích sản xuất sữa đồng thời làm giảm lo lắng.Liều lượng dùng là 10 – 25 mg, 2 – 3 lần/ngày, trong 3 – 10 ngày Nếu cầntăng liều 50 mg (không quá 200 mg/ngày) trong 1 – 2 ngày, sau đó giảm liều
Khuyến khích sản phụ ăn thêm thức ăn giàu dinh dưỡng mà gia đình cóthể có Ăn thêm khoảng 1/2 hoặc 1/4 khẩu phần ăn so với khẩu phần ăn bìnhthường Nếu sản phụ bị nhiễm trùng thì điều trị nhiễm trùng nhanh và cho bú
mẹ lại sớm
Nếu làm các biện pháp trên đây không có hiệu quả và không nhờ sảnphụ thứ hai nuôi trẻ, khi đó mới cho trẻ ăn thức ăn nhân tạo Tuy vậy sản phụcòn một ít sữa thì cần cho trẻ bú vài phút trước khi ăn Cho trẻ bú như vậy cólợi hơn vì:
- Gia tăng giá trị dinh dưỡng cho trẻ bằng một ít sữa mẹ
- Trẻ được bảo vệ chống nhiễm trùng, tuy ít còn hơn không có
- Có được mối tình cảm giữa mẹ và con
- Sữa có thể có thể trở lại khi sản phụ được an tâm
1.2 Quan điểm của y học cổ truyền về vấn đề thiếu sữa
1.2.1 Định nghĩa
Sản phụ sau khi sinh không có sữa hoặc ít sữa gọi là "Khuyết nhũ".Nếu sữa không thông thì gọi là “Nhũ chấp bất hành” Nhũ chấp là chấtdịch trắng đục, bất hành là không lưu hành, tức là sữa không lưu thông[24], [29], [33], [47]
Sữa mẹ là chất dịch đục được sinh ra từ huyết Mạch nhâm đảm bảo âmhuyết của toàn thân, mạch xung thuộc kinh dương minh là bể của huyết; chonên cốc khí thịnh, bể huyết tràn đầy thì sữa xuống đầy đủ
Cơ chế sinh sữa, bài tiết sữa tuỳ thuộc ở hai mạch xung – nhâm và
có quan hệ mật thiết với tạng phủ Phụ nữ sau khi đẻ, nếu mạch xung –
Trang 20nhâm thịnh vượng, các tạng tâm, can, tỳ, phế, thận sung túc… thì đủ sữacho con bú [7].
1.2.2 Đặc điểm sinh lý về sữa mẹ theo y học cổ truyền
Vú nằm ở khoảng giữa hai tạng phế và can Sự tạo sữa liên quan nhiềuđến khí và huyết
Khí huyết tuần hoàn khắp cơ thể không lúc nào gián đoạn Khoảng 4 –
5 giờ sáng, khí huyết bắt đầu từ thủ thái âm phế kinh đi ra đến huyệt vân môn
ở trên vú, khoảng 2 – 3 giờ sáng trở về túc quyết âm can kinh ở huyệt kỳ môn.Mạch túc dương minh vị đi từ huyệt khuyết bồn xuống đến vú, mạch xung bắtđầu từ huyệt khí hải cùng kinh túc dương minh vị tiếp trên rốn đi từ trongngực mà tản ra, cho nên cổ nhân nói: "vú thuộc kinh túc dương minh vị, đầu
vú thuộc kinh túc quyết âm can" [41]
Sữa mẹ là chất dịch đục được sinh ra từ khí huyết Mạch nhâm đảm bảo
âm huyết của toàn thân, mạch xung thuộc kinh dương minh là bể của huyết,cho nên khi khí thịnh, bể huyết đầy là sữa xuống đầy đủ
Cơ chế sinh ra sữa là do hiện tượng sinh lý của kinh mạch, tạng phủ,khí, huyết, tác dụng lên vùng ngực (tuyến vú) Thành phần của sữa là tân dịch
do khí huyết sinh ra Khí huyết do công năng tạng phủ biến hoá mà thành,thông qua hệ kinh mạch mới có thể đưa tới vú để sinh ra sữa Sữa đầy đủ haykhông là do ảnh hưởng trực tiếp thịnh hay suy của kinh mạch Tạng phủ lànguồn gốc của khí huyết, với chức năng của các tạng phủ như sau: trong tạngphủ thì tạng tâm chủ huyết, tạng can tàng huyết, tạng tỳ thống nhiếp huyết, vịchủ nạp chứa đựng, nghiền nát thuỷ cốc cùng với tỳ là nguồn gốc của mọi hoásinh Thận tàng tinh, tinh ở thận là chất cơ bản sinh ra huyết Khí có tác dụngthúc đẩy vận chuyển huyết Khi lục phủ ngũ tạng điều hoà thì khí huyết đầy
đủ, lưu thông Mạch xung, mạch nhâm thịnh vượng thì sữa đầy đủ cả chấtlượng và số lượng
Trang 21Can có chức năng tàng huyết, chủ sơ tiết và điều đạt, vì vậy can gópphần rất quan trọng trong việc điều hoà bài tiết sữa
Tỳ sinh huyết và thống nhiếp huyết Quá trình biến hoá hấp thụ thức ăn
và vận chuyển dịch là sự chung sức hỗ trợ nhau giữa vị và tỳ Tiêu hoá thức
ăn là công năng của vị, hấp thu vận chuyển các chất dinh dưỡng là nhiệm vụcủa tỳ Cho nên tỳ là tạng vận hành tân dịch, vị phải thông qua đường kinhmạch để phân tán nuôi dưỡng toàn thân Theo YHCT, tinh hoa của thức ăn đồuống sau khi hấp thụ ở tạng tỳ được đưa lên phế (màu trắng) rồi qua tâm trởthành màu đỏ để biến thành huyết, huyết là nguồn gốc sinh ra sữa
Vị có chức năng nhào trộn thức ăn quan hệ biểu lý với tỳ Ngoài ramạch của kinh dương minh vị đi xuống cùng hội với mạch xung ở khí xung,
vì vậy có thuyết nói rằng “xung mạch hiện ở dương minh” Vị khí thịnh thìxung mạch cũng thịnh, huyết hải tràn đầy, sữa mới sinh ra và bài tiết đầy đủ
Như vậy cơ chế sinh sữa, bài tiết sữa tuỳ thuộc vào hai mạch xung,nhâm và có quan hệ mật thiết với tạng phủ Tuy tạng phủ có tác dụng khácnhau nhưng giữa chúng có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời Thận vàcan là quan hệ mẹ con, thận chủ tàng tinh, can tàng huyết, tinh huyết là gốc rễsinh ra khí huyết để tạo ra sữa Tỳ và vị có quan hệ biểu lý Vị chủ nạp thuỷcốc, tỳ chủ vận hoá nên khi nói đến tỳ vị là nói đến nguồn gốc của hoá sinh
Từ đó ta nhận thấy can, thận, tỳ, vị sung túc thì tạo ra nguồn khí huyết đầy đủ,khí huyết đầy đủ vào hai mạch xung nhâm, ra tới tuyến vú mà thành sữa
Sản phụ sau khi sinh nếu mạch xung nhâm vượng, tỳ vị khí mạnh, ănuống điều hoà thì sữa đủ và đặc, đảm bảo đủ sữa cho trẻ bú trong vòng 4tháng đầu mà không cần cho trẻ ăn gì thêm ngoài sữa mẹ [40], [41], [43]
1.2.3 Nguyên nhân, thể bệnh và điều trị theo y học cổ truyền
1.2.3.1 Nguyên nhân
Trang 22Nguyên nhân tình trạng thiếu sữa (ít sữa) ở sản phụ là trong khi chửa,
đẻ khí huyết quá hư suy hoặc khi sinh con sản phụ mất quá nhiều máu ảnhhưởng nghiêm trọng tới các mạch: xung, nhâm, đốc, đới và ngũ tạng, lục phủ,làm cho nguồn tân dịch bổ sung để sinh sữa thiếu hụt, lượng sữa sản sinhkhông đủ để nuôi con
Mặt khác sản phụ có thể mất sữa (có sữa sau đó bị mất sữa) hoặc không
có sữa hoàn toàn còn do trong khi mang thai, bầu sữa không to thêm hoặc có
to thêm nhưng gần đến tháng sinh không thấy biểu hiện căng hoặc cắn nhứcđầu vú, hoặc không thấy sữa non ra báo hiệu sắp sinh [24], [29], [47]
1.2.3.2 Thể bệnh
- Thể khí huyết hư nhược [7], [47]
Nguyên nhân: do thể chất sản phụ yếu, khí huyết không đầy đủhoặc lúc đẻ mất huyết quá nhiều, dẫn đến khí huyết hư, không hoá sinh
ra sữa được
Biểu hiện lâm sàng: sữa không xuống được hoặc xuống rất ít, bầu vúkhông căng đau, sắc mặt xanh nhạt hoặc sạm vàng, da dẻ khô, tinh thần mệtmỏi, thân thể ốm yếu, đầu choáng, tai ù, tâm phiền, đoản khí, ăn ít, đại tiệnlỏng, huyết hôi ra ít, đái rắt, lưỡi nhợt, mạch hư tế
Phép điều trị: bổ huyết, ích khí, sinh sữa
Bài thuốc 1: thông nhũ đơn (đảng sâm 20g, hoàng kỳ 20g, đương quy20g, mạch môn đông 20g, mộc thông 20g, cát cánh 12g, móng giò lợn 2 cái).Đun kỹ móng giò ăn, nước thuốc uống
Bài thuốc 2: xuyên sơn giáp 20g, thiên hoa phấn 20g, móng giò lợn 1cái Đun kỹ lấy nước uống và ăn thịt chân giò
Bài thuốc 3: móng giò lợn đực một bộ, thông thảo 4g Đun kỹ lấy nướcuống và ăn thịt chân giò
Bài thuốc 4: cá chép 1 con: đốt, tán nhỏ, mỗi lần uống 4g
Trang 23Phép điều trị: sơ can, giải uất, thông lợi sữa
Bài thuốc 1: tiêu dao thang gia giảm (đương quy 12g, bạch thược12g, bạc hà 8g, mộc thông 12g, thông thảo 6g, sài hồ 12g, trần bì 8g,bạch linh 12g, bạch truật 12g, sinh khương 3 lát) Sắc uống ngày 1thang, uống 5 - 10 thang
Bài thuốc 2: hạ nhũ dũng tuyền thang (đương quy 12g, sinh địa 20g,mộc thông 12g, vương bất lưu hành 20g, thanh bì 8g, sài hồ 12g, bạch thược12g, xuyên khung 8g, xuyên sơn giáp 12g, thiên hoa phấn 12g, ngưu tất 16g,cam thảo 6g) Sắc uống ngày 1 thang, uống 5 - 10 thang
Bài thuốc 3: thanh bì 8g, sài hồ 8g, hương phụ 8g, chi tử 12g, cam thảo4g Sắc uống ngày 1 thang, uống 5 - 10 thang
Bài thuốc 4: lá hoa phù dung giã nhỏ đắp ngoài
Bài thuốc 5: thông thảo 4g, vẩy tê tê 12g Sắc uống ngày 1 thang, uống
• Ăn uống chữa bệnh (Ẩm thực trị bệnh)
Trang 24- Thể khí huyết hư nhược
+ Chân giò hầm lạc: lạc nhân 200g, chân giò lợn 2 cái, muối, hành,gừng, rượu, hầm chín nhừ ăn [18]
+ Canh cá diếc: cá diếc 100 - 250g và gia vị, nấu canh, chia làm 2 bữa
ăn trong ngày [18]
+ Móng giò lợn 2 cái (rửa sạch, cạo hết lông), thông thảo 30g (cho vàotúi vải bọc kỹ), hành hoa 3 nhánh Tất cả cho vào nồi, đổ nước, hầm nhừ, bỏ
bã thuốc, nêm gia vị, ăn thịt, uống nước hầm (có thể dùng thường xuyên).Nếu người khí huyết hư nhiều, mệt mỏi, có thể thêm đương quy, hoàng kỳmỗi thứ 50g để tăng cường khí huyết [76]
+ Đương quy 100g, thịt dê 200g (rửa sạch, thái miếng), gừng tươi 5 lát,hành hoa 3 nhánh Tất cả cho vào nồi hầm nhỏ lửa, tới khi thịt dê chín nhừ,thêm gia vị vừa đủ, ăn thịt, uống nước hầm (chia nhiều bữa) [68]
+ Vừng đen 30g (giã nhỏ), gạo tẻ 50g, nấu cháo [18]
+ Canh cá chép đương quy: bạch thược 10g, đương quy 10g, bạchtruật 12g, phục linh 10g, gừng 6g nấu lấy hai chén nước sau đó hầm với
Trang 25Đồng thời sản phụ cũng cần tuân thủ theo đúng hướng dẫn của các bác sỹ đểcho trẻ bú đúng phương pháp; vệ sinh, săn sóc vú và đầu vú sạch sẽ, đúngcách [3], [10]
1.3 Tình hình nghiên cứu về thiếu sữa trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Ở Trung Quốc
1.3.1.1 Nghiên cứu về dùng thuốc điều trị thiếu sữa
- Thông nhũ linh: hoàng kỳ 40g, đảng sâm 30g, đương quy 15g, sinhđịa 15g, mạch môn đông 15g, cát cánh 10g, mộc thông 10g, vương bất lưuhành (sao) 10g, bào sơn giáp (xuyên sơn giáp) 6g, thông thảo 6g, tạo giácthích 6g, lậu lô 6g, thiên hoa phấn 6g, trư đề (móng chân lợn) 2 cái sắc trước,mỗi ngày 1 thang Điều trị 175 bệnh nhân, khỏi 170 bệnh nhân, không kết quả
5 bệnh nhân, tỷ lệ có hiệu quả 97% [73]
- Sơ can thông nhũ thang: sài hồ 12g, đương quy 12g, xuyên khung 6g,mộc thông 15g, thông thảo 15g, vương bất lưu hành 15g, cát cánh 10g, lộ lộthông 10g, xuyên sơn giáp 10g, lậu lô 10g Ngày sắc uống 1 thang Điều trịsản phụ khuyết nhũ 35 bệnh nhân, tốt 25 bệnh nhân, khá 8 bệnh nhân, không
có kết quả 2 bệnh nhân [71]
- Thông can sinh nhũ thang: bạch thược (thổ sao), đương quy 15g, bạchtruật (thổ sao)15g, mạch đông 15g, bào sơn giáp (xuyên sơn giáp) 10g, thụcđịa 10g, chích cam thảo 3g, thông thảo 3g, sài hồ 3g, viễn chí 3g, cát cánh 3g,bạch chỉ 3g Mỗi ngày 1 thang, sắc uống, dùng từ 3 đến 5 thang Điều trị sảnhậu khuyết nhũ 61 bệnh nhân, tốt 38 bệnh nhân, khá 18 bệnh nhân, tỷ lệ hiệuquả tốt và khá 91,8%, không hiệu quả 5 trường hợp (8,2%) [69]
- Vương bất lưu hành thang: vương bất lưu hành 25g, xuyên sơn giáp15g, thông thảo 15g, lộ lộ thông (quả cây sau sau) 15g, lậu lô 20g, mạch mônđông 10g, mộc thông 10g Khí huyết hư nhược gia đảng sâm 20g, đương quy15g Can uất khí trệ gia hương phụ 10g, đan sâm 15g Sắc uống ngày 1 thang,
Trang 26dùng tối thiểu 2 thang, tối đa 6 thang Điều trị sản hậu khuyết nhũ 485 bệnhnhân, khỏi 436 bệnh nhân, khá 45 bệnh nhân, không có kết quả 4 bệnh nhân,
lệ tốt và khá 98,6% [73], [79]
- Phúc phương thôi nhũ ẩm: sinh hoàng kỳ 20g, đương quy 20g, xuyênsơn giáp 10g, xuyên khung 10g, vương bất lưu hành 10g, lậu lô 10g, lộ lộthông 10g, sài hồ 6g, thông thảo 6g Sắc uống, ngày 1 thang Dùng bài thuốcđiều trị chứng nhũ thiểu 76 bệnh nhân, tốt 45 bệnh nhân, khá 24 bệnh nhân,không kết quả 7 bệnh nhân [73]
- Quy kỳ thông nhũ thang: hoàng kỳ 40g, đương quy 20g, vương bấtlưu hành 15g, bạch thược 15g, chích sơn giáp 10g, xuyên khung 10g, đàonhân 10g, bào khương 10g, tiêu chỉ thực 10g, cát cánh 6g, cam thảo 6g Sắcuống, mỗi ngày 1 thang Khí trệ, huyết ứ nặng gia sài hồ, lộ lộ thông Âm hưgia mạch môn đông, chế miết giáp Nếu nhiệt nặng bỏ bào khương, gia hoàngcầm Thấp thịnh gia thương truật, hoắc hương Thận hư gia nữ trinh tử, chung
Trang 27nhũ thạch Dùng bài thuốc điều trị chứng sản hậu khuyết nhũ 50 bệnh nhân,kết quả khỏi 43 bệnh nhân, khá 4 bệnh nhân, trung bình 1 bệnh nhân, khôngkết quả 2 bệnh nhân, tỷ lệ tốt và khá 96% [73]
- Nhị thông thang: sinh hoàng kỳ 20g, đương quy 20g, xuyên khung10g, xuyên sơn giáp 10g, vương bất lưu hành 10g, lậu lô 10g, lộ lộ thông 10g,sài hồ 6g, thông thảo 6g Sắc uống ngày 1 thang Điều trị 76 bệnh nhân, tỉ lệtốt và khá 90,8% [51], [73]
1.3.1.2 Nghiên cứu về châm cứu điều trị thiếu sữa
- Châm huyệt dũng tuyền: điều trị 414 bệnh nhân thiếu sữa Nếu sữavẫn chưa ra, sau khi châm, dùng hai tay bóp vào bầu vú, sữa sẽ chảy ra, rồicho trẻ bú Thường châm từ 2 đến 3 lần là có hiệu quả [66]
- Châm huyệt nhũ tam châm: (nhũ nguyên, nhũ hải, nhũ tuyền) điều trị
286 bệnh nhân thiếu sữa Can uất khí trệ châm thêm huyệt thái xung hoặcthiếu trạch Khí huyết đều hư châm thêm huyệt túc tam lý Đau đầu, mất ngủchâm thêm huyệt phong trì Kết quả: tốt 266 bệnh nhân, khá 15 bệnh nhân,không kết quả 5 bệnh nhân [77]
- Châm huyệt hợp cốc, khúc trì, can du, tỳ du, nhũ căn, huyết hải, túctam lý, điều trị 200 bệnh nhân thiếu sữa, có kết quả tốt 134 bệnh nhân, khá 45bệnh nhân, không kết quả 21 bệnh nhân [74]
- Châm túc tam lý, nhũ căn, chiên trung, thiếu trạch, điều trị 65 bệnhnhân thiếu sữa Kết quả: thể can khí uất trệ 249 bệnh nhân khỏi hoàn toàn 82,7%, thể khí huyết đều hư 37 bệnh nhân khỏi hoàn toàn 17,3% [80]
1.3.2 Ở Việt Nam
Đã có một số công trình nghiên cứu về thiếu sữa như:
- Nguyễn Tham Tán (1982) vận dụng phương pháp tác động cột sống
để điều trị thiếu sữa và tắc tia sữa tại khoa Đông y Bệnh viện Bạch Mai chothấy có kết quả trên lâm sàng [34]
Trang 28- Nguyễn Tài Lương và cộng sự (2001 – 2003) đã tiến hành đề tài
"Nghiên cứu phục hồi nguồn sữa mẹ bằng phương pháp tác động cột sống củaNguyễn Tham Tán" cho kết quả như sau: phương pháp phục hồi nguồn sữa
mẹ bằng tác động cột sống có hiệu quả nhanh Ngoài việc phục hồi số lượngsữa còn giúp điều chỉnh chất lượng sữa Các chỉ tiêu protein, đường, lipidtrong sữa đều tăng [28]
- Đỗ Thanh Hà, Lê Thị Hiền, Nguyễn Sơn Dư (2007) đã tiến hành đềtài "Đánh giá tác dụng phương pháp tác động cột sống để phục hồi nguồn sữamẹ" cho thấy kết quả: tốt và khá 84,8%, không kết quả 15,2% [14]
- Chu Quốc Trường (2004) đã tiến hành đề tài "Đánh giá phương pháptác động cột sống để phục hồi nguồn sữa mẹ" cho thấy kết quả tốt và khá82,6%, không kết quả 17,4% [48]
- Lê Đình Quý (2007) đã tiến hành đề tài "Đánh giá tác dụng củaphương pháp xoa bóp bấm huyệt điều trị thiếu sữa sau sinh" cho thấy kết quả:tốt 48%, khá 36%, không kết quả 16% [32]
- Trương Tấn Hưng (2009) đánh giá tác dụng của Cốm lợi sữa (thànhphần gồm đảng sâm, đương quy, mộc thông, hoàng kỳ, mạch môn, thôngthảo, cát cánh, ý dĩ, móng sừng heo ) trong điều trị thiếu sữa sau sinh 1 thángcho thấy sau uống cốm lợi sữa số bữa bú thêm giảm là 2.04 ± 0.18 bữa [19]
Qua đây, có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu về điều trị thiếusữa bằng thuốc YHCT còn rất ít mặc dù có rất nhiều bài thuốc, vị thuốc trongnhân dân sử dụng có hiệu quả cho các sản phụ thiếu sữa
1.4 Tổng quan về bài thuốc Sinh hoá thang
1.4.1 Nguồn gốc xuất xứ
Bài thuốc Sinh hoá thang của tác giả Trương Giới Tân tự Cảnh Nhạc(1563 – 1640, đời Minh), được ghi trong cuốn Cảnh nhạc toàn thư được ứngdụng khá lâu đời trong YHCT Y gia Phó Sơn, tự là Chủ Thanh sống cuối đời
Trang 29Minh đầu đời Thanh (Trung Quốc) là thầy thuốc phụ khoa đã ứng dụng bàithuốc này nhiều nhất [35], [36], [70].
1.4.2 Thành phần bài thuốc
- Đương quy - Radix Angelicae sinensis 32 gam
- Xuyên khung - Ligusticum wallichii Franch 12 gam
- Đào nhân - Prunus persica stokes 12 gam
- Bào khương - Zingiber oficinale Ross 02 gam
1.4.3 Công dụng và giải nghĩa của bài thuốc
Công dụng: kích thích tăng sữa cho người mẹ, hoạt huyết hoá ứ, ônkinh chỉ thống, trị chứng huyết hư, ứ trệ sau khi đẻ, bụng dưới đau
Giải nghĩa phương thuốc: đương quy liều cao có tác dụng bổ huyết,hoạt huyết, hoá ứ sinh tân là chủ dược; xuyên khung, đào nhân hoạt huyết hoáứ; bào khương ôn kinh chỉ thống; cam thảo điều hoà các vị thuốc
Bài thuốc trong hành huyết có bổ huyết, trong tán huyết ứ có sinh huyếtmới là thánh dược chữa các chứng sau đẻ, vì nó có công năng thay cũ đổi mớinên mới mang tên là Sinh hóa thang [22], [67], [72]
Hải thượng Lãn ông nói rằng sau đẻ đáng lý phải bổ ngay nhưng domáu hôi chưa hết nên bổ sẽ thành trệ Do đó phải làm cho máu hôi xấu tan đithì huyết mới tự sinh ra và không tổn thương tới phần khí Trong phươngthuốc vừa có bổ huyết vừa có hành huyết mới vẹn toàn Thói thường dùng bài
Tứ vật làm chủ dược chữa bệnh sau đẻ là sai lầm, vì thục địa trệ huyết, bạchthược chữa lạnh không thể bổ, cho nên lập Sinh hóa thang là có đủ công năngchữa tất cả các chứng sau đẻ [45]
Trương Bỉnh Thành nói: phàm sau khi sinh, khí huyết lại hư, vốn nênbồi bổ Nhưng có bại huyết ứ trệ thì huyết mới không sinh được, cho nên thấycác chứng đau bụng, lại không thể không trừ làm đầu Trong bài đương quy
Trang 30dưỡng huyết, cam thảo bổ trung tiêu, xuyên khung điều hoà khí tronghuyết, đào nhân hành ứ trong huyết, bào khương màu đen vào dinh, giúpquy, thảo để sinh huyết mới, giúp khung, đào để hoá dương Cái hay sinhhoá mới thần kỳ làm sao [35], [36].
1.4.4 Các nghiên cứu về bài thuốc Sinh hoá thang
1.4.4.1 Trên thế giới
Năm 2005, tại Đài Loan, Pei-Jen Chang với một nghiên cứu dọc có
24200 sản phụ, mục đích đánh giá chất lượng cuộc sống, sức khoẻ của sảnphụ khi sử dụng Sinh hoá thang trong 6 tháng sau sinh liên tục Kết quả chothấy việc sử dụng Sinh hoá thang trong tháng đầu tiên của thời kỳ hậu sản cóthể tác động tích cực đến chất lượng cuộc sống, đặc biệt là nâng cao thể trạng
và hạn chế ảnh hưởng của cảm xúc Số sản phụ cho con bú thường xuyên ởnhóm dùng Sinh hoá thang cũng cao hơn nhóm chứng với p < 0.001 [62]
Ở Trung Quốc, các thầy thuốc YHCT đã sử dụng bài “Sinh hóa thang”cho các sản phụ sau đẻ bị ứ huyết hoặc sau nạo sảy thai lưu với mục đích: vừasinh huyết mới vừa hóa huyết ứ Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện Họnhận thấy rằng các thai phụ dùng bài thuốc này thì huyết dịch ra nhanh hơn,hồi phục sức khỏe tốt hơn, lượng sữa tiết ra nhiều hơn [36]
Năm 2006, Phạm Lệ Lệ nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác dụng bàithuốc Sinh hóa thang gia giảm cho sản phụ sau mổ đẻ” Nghiên cứu được tiếnhành từ tháng 6/2006 đến tháng 12/2008 trên 360 sản phụ sau mổ đẻ ở thànhphố Trịnh Châu Đối tượng chia làm hai nhóm Nhóm nghiên cứu có 180 sảnphụ sau mổ đẻ dùng oxytocin 10UI tiêm bắp 2 lần/ngày, kháng sinh penicillinhoặc cephalecin tiêm tĩnh mạch 3-4 ngày, kèm theo dùng bài Sinh hóa thanggia vị, uống ngày 1 thang trong 5 ngày sau khi sản phụ đã trung tiện Nhómđối chứng dùng thuốc YHHĐ như nhóm nghiên cứu Kết quả cho thấy ởnhóm nghiên cứu không có sản phụ nào có triệu chứng ra máu giai đoạn
Trang 31muộn sau sinh, đau do tử cung co hồi, có 1% sản phụ bị sốt sau đẻ, có 2,7%sản phụ thiếu sữa, có 3,9% sản phụ có hiện tượng ra sản dịch không ngớt.Trong khi đó ở nhóm đối chứng có 1,7% sản phụ bị ra máu giai đoạn muộnsau sinh, 9,4% sản phụ đau do tử cung co hồi, có 5% sản phụ bị sốt sau đẻ, có11,2% sản phụ thiếu sữa, có 20% sản phụ có hiện tượng sản dịch ra khôngngớt Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Tác giả kết luận Sinh hóathang gia các vị ích mẫu thảo, chỉ xác, hoàng kỳ có tác dụng giảm đau bụngdưới do tử cung co hồi, giảm sản dịch, chống viêm [75].
Năm 2008, Đỗ Ninh Điền tiến hành đề tài: “Quan sát hiệu quả điều trịcủa thuốc Sinh hóa thang gia vị trên những phụ nữ sau thủ thuật bỏ thai” Đềtài tiến hành trên 200 bệnh nhân Kết quả cho thấy nhóm nghiên cứu trong
200 ca có 167 ca hiệu quả tốt chiếm tỷ lệ 83,5%, có hiệu quả là 12,5%, không
có hiệu quả là 8 trường hợp chiếm 4% Tác giả kết luận bài thuốc Sinh hóathang gia vị có hiệu quả đạt 96% và không có tác dụng phụ [31]
Trang 321.4.4.2 Việt Nam
Các thầy thuốc YHCT chuyên về sản phụ khoa tại Bệnh viện đa khoaYHCT Hà Nội đã sử dụng bài thuốc Sinh hóa thang cho phụ nữ sau đẻ rấtnhiều nhưng các công trình nghiên cứu còn quá ít
Năm 2011 Nguyễn Thị Thuận nghiên cứu đề tài “Đánh giá tác dụng củabài thuốc Sinh hóa thang đối với sản phụ sau đẻ” Nghiên cứu được tiến hànhtrên 60 sản phụ sau đẻ thường tại khoa phụ sản Bệnh viện đa khoa YHCT HàNội Sản phụ sau đẻ thường chia làm 2 nhóm Trong đó 30 bệnh nhân củanhóm chứng dùng kháng sinh loại amoxicillin trong 5 ngày còn 30 bệnh nhâncủa nhóm nghiên cứu vừa dùng kháng sinh vừa dùng thêm bài Sinh hóathang, mỗi ngày 1 thang trong 5 ngày Kết quả cho thấy có tới 73,3% nhómnghiên cứu đạt kết quả điều trị tốt, tác giả kết luận bài thuốc Sinh hóa thang
có tác dụng giảm đau, giảm thời gian tiết dịch và co hồi tử cung nhanh hơntrên sản phụ sau sinh với p < 0,05 [39]
- Nguyễn Thị Thu Hà, Thái Thị Hoàng Oanh (2014) nghiên cứu “Tácdụng của bài thuốc Sinh hóa thang đối với sự co hồi tử cung phụ nữ sau nạophá thai” thấy Sinh hóa thang có tác dụng giúp tử cung co hồi nhanh sau nạophá thai [15]
1.4.5 Các nghiên cứu về vị thuốc trong bài Sinh hoá thang
* Đương quy:
- Tên khoa học: Radix Angelicae Sinensis thuộc họ hoa tán apracea
- Bộ phận dùng: rễ phơi hay sấy khô của cây đương quy
- Tính vị quy kinh: vị ngọt, cay, tính ấm; quy vào kinh tâm, can, tỳ
- Thành phần chủ yếu là tinh dầu
- Chế biến: thu hoạch vào mùa thu, đào lấy rễ, rửa sạch, loại bỏ tạpchất, phơi hoặc sấy ở nhiệt độ thấp đến khô
Trang 33- Bào chế: đương quy đã loại bỏ tạp chất, rửa sạch, ủ mềm, thái látmỏng, phơi khô hoặc sấy khô ở nhiệt độ thấp.
- Tác dụng: bổ huyết, hành huyết (theo kinh nghiệm dùng thì phần đầu(quy đầu) có tác dụng chỉ huyết, phần giữa (quy thân) có tác dụng bổ huyết,phần đuôi (quy vĩ) có tác dụng hoạt huyết [44]
- Ứng dụng lâm sàng: bổ huyết, bổ ngũ tạng: dùng trong các trườnghợp thiếu máu dẫn đến da xanh, người gầy yếu [27] Hoạt huyết, giải uất điềukinh: chữa phụ nữ kinh nguyệt không đều, thống kinh, bế kinh, xung huyết, tụhuyết do sang chấn kết hợp xuyên khung, đào nhân, hồng hoa Cắt cơn đau:
dạ dày, dây thần kinh do lạnh [21], [23]
- Năm 2018, nghiên cứu của Xian Zhao, Di Qiao, Mi Hou tại Đại họcTrung y dược Thiểm Tây cho thấy đương quy có tác dụng tăng tiết Prolactintrên chuột Cụ thể, nghiên cứu gồm 4 nhóm: nhóm chứng, nhóm châm cứu,nhóm sử dụng đương quy, và nhóm vừa châm cứu vừa sử dụng đương quy.Kết quả cho thấy nhóm chuột sử dụng đương quy có hàm lượng Prolactintăng đáng kể so với nhóm chứng (p < 0.01) [65]
- Liều dùng từ 6 - 12g/ ngày
- Kiêng kỵ: tỳ vị có thấp nhiệt, đại tiện lỏng không nên dùng
* Xuyên khung
- Tên khoa học: Ligusticum chuanxiong Hort., họ hoa tán Apiaceae
- Bộ phận dùng: thân rễ phơi hay sấy khô của cây Xuyên khung
- Tính vị quy kinh: vị đắng, tính ấm; qui vào kinh can, đởm, tâm bào
- Chế biến: lấy thân rễ cắt bỏ gốc thân, rửa sạch, phơi hoặc sấy nhẹ chokhô Khi dùng thái phiến, vi sao (là phương pháp dùng lửa sao nhỏ, đảo đềutay đến khi vị thuốc có màu vàng nhạt, mùi thơm nhẹ, khô giòn) [8]
- Thành phần hóa học: chủ yếu là alcaloid dễ bay hơi [27]
- Tác dụng: hành khí, hoạt huyết, chỉ thống
Trang 34- Năm 2015, nghiên cứu của Hui-qin Li, Jing-jing Wei và cộng sự tạiĐại học Trung y dược Hoa Nam cho thấy xuyên khung có tác dụng thúc đẩy
sự lưu thông máu và loại bỏ huyết ứ [56]
- Ứng dụng lâm sàng: hoạt huyết điều kinh, chữa rối loạn kinhnguyệt, bế kinh, thống kinh, rau thai không xuống Chữa nhức đầu, đaumình, đau khớp do phong thấp Tác dụng giải uất: chữa đau mạng sườn,tình chí uất kết Bổ huyết: phối hợp với các vị thuốc khác để điều trị trongtrường hợp huyết hư [23]
- Bộ phận dùng: hạt lấy ở quả đào chín phơi khô
- Tính vị quy kinh: vị đắng ngọt, tính bình, vào hai kinh tâm và can
- Chế biến: thu hoạch quả chín vào mùa hè hoặc mùa thu, loại bỏ phầnthịt, xay vỡ vỏ lấy hạt bên trong, phơi hoặc sấy khô
- Thành phần hóa học: trong hạt đào có tới 50% là dầu [27]
- Tác dụng: phá huyết, hành ứ, nhuận táo, hoạt trường
- Ứng dụng lâm sàng: hoạt huyết khứ ứ, chữa các chứng thống kinh,kinh nguyệt không đều hoặc sau đẻ bị ứ huyết gây đau bụng, tụ máu do sangchấn Chữa huyết táo không nhuận: trường hợp tân dịch khô táo dẫn đến đạitiện bí kết [23]
Trang 35- Bộ phận dùng: rễ và thân rễ phơi hay sấy khô của cây cam thảo.
- Tính vị quy kinh: vị ngọt, tính bình vào 12 đường kinh
- Tác dụng: bổ trung khí, hòa hoãn cơn đau, giải độc
- Ứng dụng lâm sàng: điều hòa tính năng vị thuốc; cắt cơn đau dạ dày,đại tràng, đau họng; giải ngộ độc phụ tử…[27]
- Liều dùng: 4 - 10g/ngày
- Kiêng kỵ: không dùng cho người phù nề, thận trọng với ngườihuyết áp cao [44]
* Bào khương
- Tên khoa học: Zingiber oficinale Rose, họ gừng (Zingiberraceae)
- Bộ phận dùng: củ gừng phơi khô, rửa sạch, thái phiến đem sao khô
- Tính vị quy kinh: tính ấm, vị cay vào kinh tỳ, vị, tâm và phế
- Tác dụng: ôn trung tán hàn, ôn kinh chỉ thống
- Liều dùng: 4 - 8g/ngày
1.4.6 Lý do chọn bài thuốc Sinh hoá thang để nghiên cứu
- Dựa trên lý thuyết của YHCT: theo lý luận của YHCT thiếu sữa haykhuyết nhũ chủ yếu do khí huyết không đầy đủ hoặc khí huyết ứ trệ Bàithuốc Sinh hoá thang gồm các vị thuốc vừa bổ khí vừa bổ huyết lại thêm tácdụng hoạt huyết hoá ứ, sinh tân Do đó lựa chọn bài thuốc Sinh hoá thang phùhợp với lý luận của YHCT về điều trị chứng khuyết nhũ
- Các nghiên cứu trên thực nghiệm và lâm sàng cho thấy trong thànhphần bài thuốc Sinh hoá thang có đương quy làm tăng tiết Prolactin; có xuyênkhung thúc đẩy sự lưu thông máu, loại bỏ huyết ứ; an toàn khi sử dụng dàingày, số sản phụ dùng Sinh hoá thang cho con bú thường xuyên cũng nhiềuhơn so với số sản phụ không dùng thuốc Do đó, lựa chọn bài thuốc Sinh hoáthang để nghiên cứu về thiếu sữa trên các sản phụ sau sinh là lựa chọn có tínhkhoa học [56], [62], [65]
Trang 36- Dựa vào các phản hồi trên lâm sàng Bài thuốc Sinh hoá thang hiện tạiđang được sử dụng phổ biến tại khoa phụ sản Bệnh viện đa khoa YHCT HàNội để điều trị các chứng hậu sản, tăng tống sản dịch huyết hôi, giảm đaubụng… Trong quá trình điều trị, các bác sỹ ghi nhận có phản hồi tích cực
từ các sản phụ về việc lượng sữa tiết ra nhiều hơn Do đó, việc nghiên cứu
và chứng minh một cách khoa học về tác dụng tăng tiết sữa của bài thuốcSinh hoá thang là cần thiết để mở ra một ứng dụng mới của bài thuốctrong điều trị lâm sàng
Trang 37CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Chất liệu nghiên cứu - Bài thuốc Sinh hoá thang
Đương quy - Radix Angelicae sinensis 32 gam
Xuyên khung - Ligusticum wallichii Franch 12 gam
Đào nhân - Prunus persica stokes 12 gam
Bào khương - Zingiber oficinale Ross 02 gam
- Các nguyên liệu trong bài thuốc được dùng dưới dạng nguyên liệukhô và đạt tiêu chuẩn trong Dược điển Việt Nam IV
- Dạng bào chế: các vị thuốc được chuẩn bị và bào chế theo hướng dẫntrong Dược điển Việt Nam IV tại khoa dược Bệnh viện đa khoa YHCT HàNội Mỗi thang thuốc được sắc và đóng thành hai túi dưới dạng lỏng, mỗi túichứa 150 ml thuốc
- Quy trình bào chế: dược liệu được cân theo tỷ lệ của bài thuốc, sắc vàđóng túi 150 ml bằng máy sắc thuốc và đóng túi tự động Hàn Quốc SANYANBZY150K11X
- Liều lượng: ngày uống 02 túi, chia hai lần sáng – chiều, uống sau ăn
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Gồm 50 sản phụ được chẩn đoán thiếu sữa (khuyết nhũ), đến khám vàđiều trị tại khoa phụ sản Bệnh viện đa khoa YHCT Hà Nội Bệnh nhân đượcuống cao lỏng Sinh hoá thang 300 ml/ngày, chia hai lần (sáng – chiều), uốngliên tục trong vòng 15 ngày
Trang 382.2.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Sản phụ đẻ thường hoặc đẻ mổ tại khoa phụ sản Bệnh viện đa khoaYHCT Hà Nội, đã được hướng dẫn trước và sau sinh chế độ ăn uống, sinhhoạt, nghỉ ngơi sao cho có lợi nhất cho quá trình tiết sữa (Phụ lục 4)
- Sản phụ có biểu hiện thiếu sữa (khuyết nhũ) tại khoa phụ sản Bệnhviện đa khoa YHCT Hà Nội, không phân biệt tuổi, nghề nghiệp, con so haycon dạ, đẻ thường hay đẻ mổ
- Sản phụ đồng ý và tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Tại lần sinh này sản phụ chưa từng được điều trị thiếu sữa
2.2.1.1 Theo y học hiện đại
Dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán thiếu sữa của của BYT [6], [7] Chọnnhững sản phụ sau sinh ngày thứ 4 trở đi và trẻ có các biểu hiện:
- Vú không căng hoặc căng tức ít
- Thời gian một bữa bú ngắn < 5 phút hoặc quá dài > 15 phút
- Sau khi bú rồi mà trẻ vẫn khóc (do đói)
- Trẻ tiểu tiện ít dưới 6 lần/ngày
- Trẻ bú thêm sữa ngoài
2.2.1.2 Theo y học cổ truyền
Sản phụ được tuyển chọn theo tiêu chuẩn YHHĐ, sau đó tiếp tục đượcphân loại theo YHCT thông qua tứ chẩn quy nạp vào thể bệnh khí huyết hưnhược hay can khí uất kết
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân
2.2.2.1 Tiêu chuẩn loại trừ ban đầu:
- Sản phụ thiếu sữa sau sinh > 1 tháng
- Sản phụ không muốn cho con bú sữa mẹ
- Sản phụ thiếu sữa do các bệnh ở vú: nứt núm vú, áp xe vú, viêm hạch
vú, viêm ống dẫn sữa
Trang 39- Sản phụ có các bệnh mạn tính: bệnh lao, bệnh tim, bệnh tâm thần…
- Sản phụ có các biểu hiện của chứng thủy kiệt theo YHCT: táo bón, đinước tiểu vàng, môi khô/miệng luôn háo nước kéo dài từ 3 tuần trở lên
2.2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ trong quá trình điều trị:
- Sản phụ bỏ liệu trình điều trị (bỏ 3 ngày liên tiếp trở lên)
- Có các tác dụng không mong muốn phải ngừng sử dụng thuốc trongthời gian nghiên cứu
- Tự ý dùng các thuốc, phương pháp điều trị khác trong thời giannghiên cứu, thay đổi liệu trình điều trị
- Sản phụ không làm xét nghiệm, không ghi lại các thông tin trong quátrình theo dõi
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp thử nghiệm lâm sàng mở
so sánh trước và sau điều trị
2.3.2 Cỡ mẫu
- Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức:
Trong đó: n: cỡ mẫu nghiên cứu
p: tỷ lệ khỏi, q = 1 – p: giá trị tương đối
- Chúng tôi sử dụng kết quả nghiên cứu của Đỗ Thanh Hà, Lê Thị Hiền,
Đỗ Sơn Dư (2007) “Đánh giá tác dụng của phương pháp tác động cột sốngphục hồi nguồn sữa mẹ” với tỷ lệ tốt là 78% [14], vì vậy, p = 0.78
- Thay vào công thức sẽ tính được:
- Vậy cỡ mẫu là 50 sản phụ
2.3.3 Chỉ tiêu theo dõi
Trang 40Bệnh án nghiên cứu (BANC) được xây dựng theo một mẫu thống nhất.Tất cả sản phụ đều được làm bệnh án theo dõi hàng ngày, ghi đầy đủ các dấuhiệu lâm sàng và kết quả xét nghiệm (Phụ lục 1)
Các sản phụ đều được theo dõi và đánh giá đầy đủ các chỉ tiêu nghiêncứu Chỉ tiêu lâm sàng được đánh giá vào ngày bắt đầu tiến hành nghiên cứu(D0), sau 3 ngày điều trị (D3), sau 7 ngày điều trị (D7), sau 10 ngày điều trị(D10), sau 15 ngày điều trị (D15)
Các chỉ tiêu theo dõi lâm sàng:
- Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu: tuổi, nghề nghiệp, số lần sinh
- Theo dõi sự tăng tiết sữa của sản phụ thông qua: cảm giác căng vú;lượng sữa vắt được trong 1 lần (10 phút)
- Theo dõi trẻ bú mẹ: thời gian 1 bữa bú của trẻ, sự hài lòng của trẻsau bữa bú; số lần đi tiểu trong ngày; số lần bú thêm sữa ngoài; cân nặngcủa trẻ (D0, D15)
- Theo dõi sự thay đổi hormone Prolactin
- Theo dõi mức độ an toàn của sản thuốc: theo dõi các triệu chứng bấtthường như: buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy/táo bón; dị ứng, mẩn ngứa;đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, mệt mỏi, mạch, huyết áp, nhịp thở…
- Theo dõi lâm sàng theo tứ chẩn của YHCT, đánh giá sự thay đổi củamạch, lưỡi…