1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm lâm sàng trạng thái bồn chồn bất an do thuốc an thần kinh ở bệnh nhân tâm thần phân liệt

82 124 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 459,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh nhân có cácchuyển động lặp đi lặp lại, chẳng hạn như bắt chéo chân, lắc lư hoặc chuyển từ chân này sang chân khác [1], - Trạng thái bồn chồn bất an phổ biến nhất và là một trong nhữ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

- Bồn chồn là một rối loạn vận động đặc trưng, bởi cảm giác chủ quanmong muốn được chuyển động liên tục không thể ngồi yên Bệnh nhân có cácchuyển động lặp đi lặp lại, chẳng hạn như bắt chéo chân, lắc lư hoặc chuyển

từ chân này sang chân khác [1],

- Trạng thái bồn chồn bất an phổ biến nhất và là một trong những đaukhổ nhất của các rối loạn vận động liên quan đến thuốc hướng tâm thần đặcbiệt là thuốc chống loạn thần, tỷ lệ mắc thay đổi lớn từ 21% đến 75% [2] Sựxuất hiện của trạng thái bồn chồn bất an cao hơn đối với thuốc chống loạnthần thế hệ thứ nhất (thuốc an thần kinh điển hình), đặc biệt là các thuốc cóhiệu lực cao như haloperidol so với thuốc chống loạn thần thế hệ thứ hai(thuốc an thần kinh không điển hình.) [3]

- Trạng thái bồn chồn trong nhiều trường hợp biểu hiện: Đi đi lại lại,đứng lên ngồi xuống, đá qua đá lại, đập phá, lo lắng, căng thẳng, tình trạngnày có thể chẩn đoán nhầm, đó là những triệu chứng của bệnh hoặc triệuchứng của những rối loạn khác như: Rối loạn lo âu, loạn động kích động, rốiloạn hành vi…, có thể gây nguy hiểm cho những người xung quanh (đập phá,đánh người), cũng có thể gây nguy hiểm cho bệnh nhân (tự sát), trạng tháibồn chồn bất an có thể khiến cho người bệnh từ chối điều trị, đó là một trongnhững lý do làm tăng tỷ lệ tái phát bệnh, và ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quảđiều trị trước mắt cũng như lâu dài, vì vậy sự phát hiện sớm và đánh giá đúngrối loạn bồn chồn bất an là rất cần thiết [4]

- Cho đến nay ở các nước trên thế giới, có nhiều tác giả đã nghiên cứu vềtrạng thái bồn chồn bất an do thuốc an thần kinh, và đưa ra nhiều kết quả khácnhau Ơ Việt Nam mới có mội đề tài nghiên cứu của tác giả Dương Minh Tâm(2004), nghiên cứu trạng thái bồn chồn do Haloperidol và Levomepromazin

Trang 2

trên bệnh nhân rối loạn tâm thần, thuốc an thần kinh hiện nay được áp dụngrất là rộng rải, trong bệnh rối loạn tâm thần, có nhiều loại thuốc có thể gây ratrạng thái bồn chồn bất an, nhưng chưa được đề cập tới, dẩn tới hiệu quả điều

trị kém, chính vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài Đặc điểm lâm sàng trạng thái bồn chồn bất an do thuốc an thần kinh ở bệnh nhân tâm thần phân liệt với mục tiêu:

Mô tả đặc điểm trạng thái bồn chồn bất an, do thuốc an thần kinh ở bệnh nhân tâm thần phân liệt.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đại cương về trạng thái bồn chồn bất an.

1.1.1 Khái niệm trạng thái bồn chồn bất an.

- Akathisia là thuật ngữ bồn chồn bất an, có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp,

có nghĩa là “chứng không thể ngồi yên’’ [5], là một tác dụng phụ thườngxuyên và phổ biến của điều trị bằng thuốc chống loạn thần (thuốc an thầnkinh) Hội chứng này bao gồm:

Các triệu chứng chủ quan, (cảm giác bồn chồn bên trong và sự thôi thúc

di chuyển)

Cũng như các triệu chứng khách quan, (đá chân khi đứng hoặc ngồi,nhấc chân như thể diễu hành tại chỗ, bắt chéo chân hoặc không duỗi chân khingồi) [6] Trạng thái này có thể gây căng thẳng cho thần kinh, cho thể chất,bồn chồn bất an ví như một triệu chứng mơ hồ mà có rất nhiều người phảichống chọi với nó, nhưng thực chất bồn chồn là một triệu chứng rất quantrọng do nhiều nguyên nhân gây ra như: Trầm cảm, lo âu, do thuốc điều trị)

- Nếu không được phát hiện kịp thời, và không biết được nguyên nhângây ra bồn chồn bất an, thì sẽ không thể xử lý được, mà làm cho tình trạng bồnchồn bất an ngày càng trầm trọng dẩn tới bệnh nhân không tuân thủ điều trị, cóthể gây ảnh hưởng tới công việc hàng ngày, gây nguy hiểm cho bản thân (tự sát),ảnh hưởng tới những người xung quanh (đập phá, đánh người…) [7]

1.1.2 Nguyên nhân gây ra trạng thái bồn chồn bất an

Nguyên nhân chính xác của trạng thái bồn chồn vẫn chưa được biết,nhưng nó được cho là do các thuốc chống loạn thần ngăn chặn thụ thể dopaminetype-2 trong não Niềm tin chung là có sự mất cân bằng giữa các hệ thốngcholinergic / dopaminergic hoặc serotonergic / dopaminergic, cơ quan nơi xảy ra

sự mất cân bằng này rất có thể là vỏ của hạt nhân accumbens [8]

Trang 4

1.1.3 Ảnh hưởng của trạng thái bồn chồn bất an

Làm tăng các triệu chứng loạn thần, dẩn tới dể chẩn đoán nhầm với cácbệnh khác, hoặc rối loạn hành vi, có thể dẩn đến kích động (đập phá, đánhngười…), nặng hơn nữa có thể dẩn đến tự sát [8]

1.2 Đặc điểm bồn chồn bất an do thuốc an thần kinh

1.2.1 Khái niệm bồn chồn bất an do thuốc an thần kinh

- Bồn chồn bất an là một rối loạn vận động đặc trưng bao gồm: Cảm giácchủ quan của sự căng thẳng bên trong, cảm giác khó chịu, lo lắng, nhu cầu dichuyển liên tục, hoạt động không ngừng nghỉ và không thể chịu đựng đượckhi không hoạt động hoặc nghỉ ngơi [8]

- Trạng thái bồn chồn bất an do thuốc được nhận diện từ những năm

1950 và 1960, sau đó lại không được chú ý, cho đến những năm 80 của thế kỷtrước, trạng thái bồn chồn bất an do thuốc mới được mô tả một cách chi tiết [8],tuy vậy trạng thái bồn chồn bất an do thuốc an thần kinh vẫn được xếp chungvào nhóm các rối loạn vận động do thuốc (các triệu chứng ngoại tháp)

Đến năm 1994, trong DSM-IV các tác giả đã phân biệt rạch ròi giữanhững rối loạn vận động do thuốc thành những hội chứng khác nhau, mỗi hộichứng có những đặc trưng riêng và cách điều trị cũng có phần khác biệt [9],trạng thái này thường xẩy ra khi sử dụng một số thuốc điều trị bệnh như:Thuốc an thần kinh, thuốc chống trầm cảm, thuốc chẹn kênh calci và nhữngthuốc chống nôn…., trong đó thuốc an thần kinh gây ra trạng thái bồn chồnbất an chiếm tỷ lệ cao nhất [10]

Trang 5

các thuốc có hiệu lực cao như haloperidol [11] Tỷ lệ trạng thái bồn chồn bất

an được báo cáo là 39% ở những bệnh nhân được điều trị bằng clozapine, và45% trong số những bệnh nhân được điều trị bằng thuốc chống loạn thần thế

hệ thứ nhất (FGA) [11]

- Kim J.H., Byun H.J (2003), tỷ lệ phổ biến của triệu chứng chủ quan(11,3%), triệu chứng khách quan (6,3%) [12]

- David M., Gardner., Ross.J., (2005) Tỷ lệ mắc trạng thái bồn chồn bất

an là 18,5% Trong khảo sát cộng đồng bị tâm thần phân liệt, đa âm với 2

thuốc chống loạn thần thế hệ thứ nhất có liên quan đến tỷ lệ mắc trạng thái

bồn chồn cao nhất ở mức 40% Tỷ lệ phổ biến là 21% ở những bệnh nhândùng đơn trị liệu chống loạn thần thế hệ thứ nhất, đối với những người dùngđơn trị liệu bằng thuốc chống loạn thần thế hệ thứ hai, tỷ lệ lưu hành là 11%,trong khi đa âm với 2 thuốc chống loạn thần thế hệ thứ hai có liên quan đến tỷ

lệ mắc là 34% [13]

- Theo Harten (2002), tỷ lệ trạng thái bồn chồn bất an ở bệnh nhân sửdụng thuốc chống loạn thần cổ điển là 20-30%, đối với người sử dụng thuốc

chống loạn thần không điển hình thì thấp hơn [14]

1.2.3 Cơ chế bệnh sinh của trạng thái bồn chồn.

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về cơ chế bệnh sinh của trạng thái bồnchồn do thuốc an thần kinh, nhưng cho tới nay cơ chế bệnh sinh của trạng tháibồn chồn vẫn chưa được giải thích một cách đầy đủ, các tác giả Per S., Granville

J M.,Christer H., et al (2019) [15] và tác giả Blaisdell G.D., (1994) [16]

- Thuyết hệ dopamin Các tác giả nhận thấy hầu hết các thuốc an thầnkinh gây ra trạng thái bồn chồn bất an, đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc giántiếp làm giảm hoạt tính của dopamine ở não [17] Năm 2000, nhờ vào kỹthuật phát xạ điện từ dương đơn (SPET), tác giả Karpur và cộng sự đã nhậnthấy mối quan hệ giữa sự gắn kết của an thần kinh vào thụ thể D2 với rối loạn

Trang 6

vận động do thuốc nói chung và trạng thái bồn chồn nói riêng Hệ thống ngoạitháp là một phần của hệ thần kinh trung ương kiểm soát vận động [18], hệthống này bao gồm:

+ Thành phần chính là nhóm các nhân xám tập hợp lại ở đáy não (thểvân, liềm đen, nhân đuôi, nhân vỏ xám…) Trong hệ thống này dopamine làchất trung gian dẫn truyền thần kinh, ở người bình thường dopamine đượcphóng thích ra từ sợi trục của vùng trước synapse vào vùng sau synapse và tạo

ra những động tác chuyển động chính xác ở bàn tay, bàn chân, mặt [19] + Thuốc an thần kinh là chất đối vận dopamine, có ái lực mạnh với thụthể D2 khi vào não sẽ gắn vào các thụ thể D2 của tế bào nhân đuôi, tranh chỗcủa Dopamine do đó làm mất tác dụng điều khiển những cử động chính xáccủa cơ thể, gây ra các triệu chứng ngoại tháp [19] [20]

+ Trong một nghiên cứu phát xạ điện từ dương (positron emission) ởnhững bệnh nhân tâm thần phân liệt được điều trị bằng thuốc an thần kinh,Farde và cộng sự (1992) đã nhận thấy trạng thái bồn chồn bất an có liên quanđến sự tranh dành các thụ thể D2 ở thể vân của các thuốc an thần kinh, chứkhông liên quan đến thụ thể D1, các nghiên cứu cho thấy bồn chồn bất anxuất hiện khi 60 - 65% D2 của thể vân bị gắn kết với thuốc an thần kinh, vàtác dụng chống loạn thần xuất hiện khi 65 - 80% D2 ở hệ thống trung não -hồi viền gắn kết với thuốc [21]

Các triệu chứng ngoại tháp, xuất hiện khi D2 ở hệ thống nhân đen thểvân bị gắn kết

Trang 7

Nhân đuôi và nhân vỏ xám

Sợi trục Trước synapse

DA

Sơ đồ 1.1 Cơ chế hoạt động của hệ dopamine [21]

- Thuyết về hệ adrenergic và serotonergic

+ Lindstrom và cộng sự (1990) đưa ra ý kiến rằng, nếu chỉ dựa vào sựđối vận với thụ thể D2 trong cơ chế sinh bệnh của trạng thái bồn chồn, thìkhông thể giải thích được, tại sao các thuốc kháng cholinergic rất có tác dụngtrong điều trị hội chứng parkinson do thuốc, lại chỉ có tác dụng từng phần đối

Túi dự trữ

DA

(MAO) Men phá hủy

Men phá hủy

Trang 8

với trạng thái bồn chồn, cũng như tại sao các thuốc có tác dụng lên hệadrenergic lại tỏ ra có hiệu quả trong điều trị các trường hợp bồn chồn bất annhư: propranolol, clonidin Hơn nữa một số loại thuốc chống trầm cảm khôngtác động trực tiếp lên hệ dopaminergic, vẫn được nhận thấy là có gây nêntrạng thái bồn chồn Vì vậy các tác giả còn đưa ra giả thuyết rằng, ngoài vaitrò của hệ dopaminergic thì hệ adrenergic và serotonergic cũng có liên quantrong cơ chế sinh học của trạng thái bồn chồn bất an Tuy nhiên cơ chế hoạtđộng của các hệ này ít nhiều đều có liên quan đến hệ dopaminergic [22].

+ Giả thuyết là các nguyên nhân giảm hoạt tính của 5HT ở não (như đốivận 5HT2A, chất đồng vận với 5HT1A, tổn thương nhân raphe) làm gia tănghoạt động của tế bào thần kinh hệ dopaminergic ở các nhân đáy não, do có tácdụng làm giảm sự xuất hiện trạng thái bồn chồn [22]

+ Những thuốc chống loạn thần có tác dụng đối vận với thụ thế 5HT2,

ít gây trạng thái bồn chồn hơn và một số chất đối vận với 5HT2 như:cyproheptadin lại có tác dụng điều trị chứng bồn chồn Nghiên cứu so sánhthuốc an thần kinh cổ điển và an thần kinh mới, nhiều tác giả đều có cùngnhận định là các thuốc an thần kinh mới ít gây ra trạng thái bồn chồn hơn sovới an thần kinh cổ điển, các an thần kinh êm dịu ít gây bồn chồn hơn nhóm

an thần kinh có hoạt lực mạnh [23]

+ Ngoài thụ thể 5-HT2A ra còn có thụ thể khác của hệ serotonergiccũng có liên quan, trong cơ chế sinh học của trạng thái bồn chồn như:5HT1, 5HT3 [23]

+ Poyurovsky và Weizmann (1999) đã chứng minh Granisetronmột chất có tác dụng ức chế thụ thể 5HT3 có tác dụng điều trị triệuchứng bồn chồn [24]

Trang 9

+ Meltzer H.Y (1999), cũng đã đưa ra những bằng chứng cho thấy, nhữngchất đồng vận với thụ thể 5HT có tác dụng giảm trạng thái bồn chồn [25].

+ Một số yếu tố như: tuổi của người bệnh, cách thức điều trị, liều điềutrị, tiền sử bị các rối loạn vận động do thuốc và bệnh cơ thể kèm theo, cũngảnh hưởng đến sự xuất hiện trạng thái bồn chồn [26]

+ Giả thuyết khác, ngoài các giả thuyết trên, tác giả Horiguchi J., cònđưa ra nhận xét rằng nồng độ sắt trong máu thấp cũng có thể liên quan đến sựxuất hiện của các triệu chứng bồn chồn [27]

1.2.4 Đặc điểm lâm sàng trạng thái bồn chồn bất an do thuốc an thần kinh Bồn chồn là một hội chứng phức tạp được đặc trưng bởi sự bồn chồn bên trong (chủ quan) và các biểu hiện vận động (khách quan) [28]

- Triệu chứng chủ quan: Cảm giác bồn chồn bên trong và sự thôi thúc dichuyển như: Cảm giác lo lắng, căng thẳng, bứt dứt, khó chịu, lo sợ hoảng hốt,

dể bị kích thích và thiếu kiên nhẫn, có mong muốn cử động chân, tay, thânmình liên tục như: lắc lư, đung đưa chân tay, đi đi lại lại mà vẫn không cảmthấy thoải mái, dể chịu [28]

- Triệu chứng khách quan: Bệnh nhân không thể đứng hoặc ngồi yên một

chổ, hoặc một tư thế trong khoãng một thời gian ngắn (một vài giây) [28]

1.2.4.1 Phân loại mức độ bồn chồn bất an

- Bồn chồn nhẹ: Bệnh nhân có cảm giác bồn chồn, bứt dứt ở chân, bệnhnhân ít hoặc không có cảm giác lo lắng, bất an, chưa có dấu hiệu đặc trưngcủa chứng đứng ngồi không yên

- Bồn chồn vừa: có dấu hiệu bồn chồn như đã miêu tả ở trên, kết hợp vớicác động tác điển hình như: hai chân đá vào nhau trong khi đứng, lúc này

Trang 10

bệnh nhân đã có cảm gác lo lắng.

- Bồn chồn nặng: bệnh nhân bắt buộc phải đi đi lại lại, tuy nhiên bệnhnhân có thể ngồi yên được khoảng 5 phút, lúc này bệnh nhân cảm thấy lo lắngbất an rõ rệt

- Bồn chồn rất nặng: bệnh nhân bắt buộc phải đi đi lại lai, không thể ngồiyên hoặc nằm yên được vài giây, sự vận động liên tục kết hợp với sự lo lắng

và mất ngủ rất nhiều [29]

1.2.5 Các hình thái lâm sàng của bồn chồn bất an do thuốc an thần kinh

Dựa vào thời gian xuất hiện và thời gian tồn tại của các triệu chứng chủquan, triệu chứng khách quan, các tác giả đã chia trạng thái bồn chồn bất an ralàm các thể lâm sàng sau:

- Bồn chồn cấp thời gian khởi phát các triệu chứng trong khoảng thời gian từvài giờ đến vài ngày sau khi dùng thuốc, hoặc tăng liều thuốc an thần kinh

- Bồn chồn bán cấp thời gian khởi phát các triệu chứng muộn hơn (trongkhoảng thời gian từ 3 ngày đến 3 tháng)

- Bồn chồn mạn tính là các triệu chứng kéo dài trên 3 tháng

- Bồn chồn muộn mang nghĩa chung là bồn chồn khởi phát muộn, thờigian thường là 3 tháng sau khi dùng thuốc, bồn chồn muộn xuất hiện không

có liên quan gì đến sự thay đổi thuốc hoặc liều lượng của thuốc [30]

1.2.6 Chẩn đoán trạng thái bồn chồn bất an do an thần kinh

- Chẩn đoán dựa vào thang đánh giá nhanh trạng thái bồn chồn củaBarnes, thang đo được sử dụng phổ biến, đáng tin cậy và được xác nhận làthang đo đánh giá của Barnes, được công bố lần đầu tiên trên tạp chí tâm thầnhọc Anh năm 1989, bằng cách định lượng cả hai thành phần khách quan vàchủ quan, thang đo đưa ra thước đo về mức độ nghiêm trọng của trạng thái

Trang 11

bồn chồn bất an, nó bao gồm những phát hiện khách quan, nhận thức chủquan về sự bồn chồn, đau khổ chủ quan và đánh giá lâm sàng toàn cầu vềtrạng thái bồn chồn bất an [31].

- Quan sát lâm sàng dấu hiệu bồn chồn bất an bao gồm các triệu chứng:Căng thằng, lo lắng, bứt rứt khó chịu, đứng ngồi không yên, bệnh nhân luôn

có mong muốn cử động các phần của cơ thể nhất là chân…, đặc biệt là cáctriệu chứng khách quan như đi đi lại lại, đứng ngồi không yên, các cử độngbất thường ở chân…., sự xuất hiện các triệu chứng trên phải liên quan đếnviệc sử dụng thuốc an thần kinh [32]

- Các triệu chứng này khởi phát trong vòng 4 tuần đầu khi dùng thuốc anthần kinh, các triệu chứng trên không phải là do một rối loạn tâm thần khácgây ra (tâm thần phân liệt, cai nghiện, kích động vật vã, tăng hoạt động trongrối loạn tăng động và giảm chú ý…), cũng không phải khi tăng liều an thầnkinh mà triệu chứng này cũng không tăng, khi giảm liều hoặc dừng thuốc anthần kinh nhưng triệu chứng không thay đổi, hoặc không thuyên giảm khiđược dùng các thuốc điều trị trạng thái bồn chồn bất an [32]

1.2.7 Cận lâm sàng

Dựa vào các thang điểm đánh giá nhanh, để đánh giá trạng thái bồn chồnbất an, các tác giả trên thế giới đã sử dụng thang đánh giá trạng thái bồn chồncủa Barnes là thang được sử dụng phổ biến nhất tại các phòng khám tâm thần(của hội tâm thần học Mỹ) Bệnh nhân cần được quan sát ở các tư thế: Tư thếngồi, đứng hoặc nói chuyện bình thường (thời gian của mỗi tư thế ít nhất 2phút), hoặc quan sát trong các tình huống khác như khi bệnh nhân đang hoạtđộng [33]

Trang 12

1.2.8 Chẩn đoán phân biệt:

Trạng thái bồn chồn cần được chẩn đoán phân biệt với những rối loạn sau:

- Rối loạn lo âu: Rối loạn lo âu cũng có các triệu chứng tâm thầntương tự trạng thái bồn chồn như: Lo lắng, sợ hãi, căng thẳng vận động(đúng ngồi không yên…) Ngoài ra còn có các triệu chứng biểu hiện sựhoạt động quá mức của hệ thần kinh thực vật (hồi hộp, vã mồ hôi, thở gấp,chóng mặt khô miệng…), các triệu chứng trên không liên quan đến việc sửdụng thuốc an thần kinh

- Loạn động muộn: Triệu chứng cũng xuất hiện sau 3 tháng hoặc muộnhơn khi sử dụng thuốc an thần kinh, để chẩn đoán phân biệt với loạn độngmuộn, thì phải bảo bệnh nhân gõ nhịp bàn tay xuống mặt bàn, trong trườnghợp loạn động muộn, động tác này càng làm càng tăng động tác loạn động, vàngược lại với trường hợp bồn chồn muộn, động tác này sẽ làm giảm sự cưỡngbức phải di chuyển, cử động ở bệnh nhân

- Bồn chồn do thuốc khác (thuốc chống trầm cảm,metoclopropamide…), cần tìm hiểu việc sử dụng thuốc của bệnh nhân trước

đó, để phát hiện trạng thái bồn chồn xuất hiện có liên quan đến việc sử dụngthuốc đang điều trị bệnh hay không

- Ngoài ra trạng thái bồn chồn, cần được chẩn đoán phân biệt với một sốrối loạn khác như: Trạng thái kích thích của bệnh loạn thần, trầm cảm kíchthích, tăng hoạt động trong rối loạn tăng động giảm chú ý [34]

1.2.9 Xử lý trạng thái bồn chồn

Điều trị trạng thái bồn chồn bất an do thuốc an thần kinh tốt nhất:

Trang 13

- Giảm liều an thần kinh.

- Hoặc thay thuốc an thần kinh khác nếu cần

- Hoặc điều trị bằng các thuốc:

+ Thuốc chẹn ß (ß Blocker), đây là thuốc có tác dụng hiệu quả nhất,gồm các thuốc:Propranolol(Inderal),atenolol (tenomin), nadolon (corgard),metoprolol (lopressor)…, cơ chế tác dụng của thuốc này là tác dụng đối vậnvới hệ adrenergic

+ Thuốc kháng cholinnergic (anticholinergic): Thuốc này thường dùng

để điều trị trong trường hợp bồn chồn kèm theo hội chứng parkinson do thuốcgây ra Trong trường hợp bồn chồn nặng có thể sử dụng các thuốc khángcholinergic theo đường tiêm tỉnh mạch 15 - 30 phút một lần

+ Benzodiazepine: Nhóm này có hiệu quả cả bồn chồn cấp và bồnchồn mãn, nhưng dễ gây tình trạng lệ thuộc thuốc, do đó khi sử dụng phải thậntrọng, nên giảm liều và ngưng thuốc sau 2 - 3 tuần, trong nhóm này clonazepamthường được dùng hơn do thuốc có thời gian bán hủy kéo dài hơn

+ Cyproheptadine: Là một chất có tác dụng đối vận với thụ thể 5HT2a

và 5HT2c, ngoài ra thuốc còn có tác dụng kháng histamin và khángcholinergic nên có kết quả trong điều trị trạng thái bồn chồn bất an, nhưngthuốc này có tác dụng tiềm tàng, do đó không nên sử dụng kéo dài

+ Clonidin: Là một chất đồng vận với α2 hoạt động trung ương, có tácdụng làm giảm chất dẩn truyền noradrenergic trung ương, thuốc này có tácdụng không mong muốn là hạ huyết áp, nếu như bệnh nhân dung nạp được thì

có thể tiếp tục điều trị và nên giảm liều từ từ

+ Mianserin: Là một chất đối vận với thụ thể 5HT2a và 5HT2c, ngoài

ra thuốc còn có tác dụng kháng histamin và không kháng cholinergic, do

Trang 14

thuốc đối vận mạnh với 5HT2a/c, nên có tác dụng điều trị bồn chồn cấp, trongmột nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đáp ứng với thuốc này là 40% [35].

+ Một số liệu pháp khác như: Dán Nicotine, Amantadine, tuy nhiênhiệu quả của những thuốc này cho đến nay vẫn chưa được khẳng địnhchắc chắn [36]

1.3 Bệnh tâm thần phân liệt

1.3.1 Khái miệm

Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng tiến triển, có khuynhhướng mãn tính và hay tái phát, biểu hiện rối loạn đặc trưng bởi sự suy giảmquá trình suy nghĩ, và sự thiếu hụt các đáp ứng cảm xúc điển hình làm chongười bệnh dần dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới bêntrong, tình cảm trở nên khô lạnh dần, khả năng làm việc học tập ngày càng sútkém, có những hành vi, ý nghỉ kỳ dị khó hiểu [37], [38]

1.3.4 Phương pháp điều trị

Hiện nay phương pháp điều trị bệnh tâm thần phân liệt hiệu quả nhất là

Trang 15

sự phối hợp giữa thuốc an thần kinh, và công tác phục hồi chức năng tâm lý

xã hội cho người bệnh [40], [41]

1.4 Khái niệm thuốc an thần kinh

1.4.1 Khái niệm

Thuốc an thần kinh còn gọi là “thuốc chống loạn thần”, dùng để điều trịcác bệnh rối loạn tâm thần, tác dụng chủ yếu là chống loạn thần (chống hoangtưởng - ảo giác), tác dụng êm dịu (chống kích động), tác dụng giải ức chế vàtác dụng trên các trệu chứng âm tính, suy giảm thể năng tâm thần, ngoài rathuốc còn gây ra một số tác dụng không mong muốn như: hội chứng ngoạitháp (giống paskinson), bồn chồn bất an, rối loạn chuyển hóa…[42]

- Thuốc chống loạn thần ra đời năm 1952, khi tổng hợp đượcchlopromazine, cũng trong năm 1952 có hai nhóm nghiên cứu đã ứng dụngchlopromazine vào điều trị các bệnh tâm thần [42]:

+ Nhóm 1 (thiếu tướng quân y pháp) đứng đầu cùng với Pataire Venluz

đã sữ dụng chlopromazime với liều 2,5 - 5mg/ngày trong 4 tuần, không thấyhiệu quả rõ rệt, các tác giả đã kết luận là thuốc không có tác dụng trong điềutrị tâm thần

+ Nhóm 2 sử dụng chlopromazin với liều 100mg/ngày, sau một thờigian thấy có kết quả rất khả quan, khi đó JDeley công bố kết quả điều trị bệnhtâm thần bằng chlopromazin, thì việc điều trị bệnh tâm thần bằng thuốc, mớichính thức trở thành một phương pháp điều trị

- Các tác giả đã nghiên cứu và hàng loạt thuốc hướng tâm thần mới đượccông bố, Năm 1958 Jansen (Bỉ) chế tạo ra Haloperidol, T.Kuhn (Thụy Sĩ)tổng hợp được Imipramin từ gốc phenothiazin và N.kline công bố tác dụngcủa IMAO [42]

Trang 16

- Năm 1960 S.Bach tổng hợp được chlordiazepoxide.

Trang 17

Năm 1956 ngành dược lý học tâm thần (Psychopharmachology) ra đờinhằm đáp ứng những yêu cầu nghiên cứu cơ chế tác dụng và phân loại thuốchướng tâm thần

Cho đến nay có hàng trăm loại thuốc an thần kinh đưa vào sử dụng tronglâm sàng, đã làm thay đổi hẳn bộ mặt chuyên ngành tâm thần học [42]

1.4.2 Cơ chế tác dụng của thuốc an thần kinh

Hiện nay cơ chế sinh bệnh học tâm thần chưa rõ ràng, tuy nhiên người tanhận thấy rằng, sự cân bằng hoạt động của hệ dẩn truyền thần kinhdopaminergic và hệ serotonergic, có vai trò quyết định đến sự phát sinh vàtiến triển các triệu chứng loạn thần, các thuốc an thần kinh tác động vào quátrình hoạt động tâm thần thông qua việc điều tiết (nồng độ, hoạt tính, sự gắnkết, thụ thể…), các chất dẩn truyền thần kinh (đặc biệt là các amin sinh học)tại các hệ phóng chiếu và các vị trí đặc biệt trong não [43]

- Việc điều tiết dopamin trên con đường nhân đen thể vân, liên quan đếntác dụng phụ ngoại tháp, tác động trên con đường ụ phểu gây ra tác dụng phụ

về nội tiết và chuyển hóa Các an thần kinh không điển hình có tác dụng kép,trên cả hệ dopanin và hệ serotonin, nên có tác dụng trên các triệu chứngdương tính và triệu chứng âm tính của tâm thần phân liệt, điều tiết serotonintrên vùng võ não trước trán, có tác dụng điều trị triệu chứng âm tính của tâmthần phân liệt, các rối loạn cảm xúc trầm cảm, lo âu [44]

- Với hệ serotoninergic (5HT) trung ương, có tới 15 loại receptor 5HT,nhưng với các bệnh loạn thần thì các receptor 5HT2 (Đặc biệt là 5HT2a) cóvai trò quan trọng hơn, trong não nhân tổng hợp 5HT nhiều nhất (có thể làduy nhất) là các nhân raphe (Raphenuclei), các nhân này còn kiểm soát sựtổng hợp dopamine ở nhân tế bào và sự giải phóng dopamin ở trước khe

Trang 18

synap của các noron hệ dopaminergic, bình thường khi serotonin gắn vào thụthể 5 HT thì sẽ ức chế giải phóng dopamin [44].

1.4.3 Phân loại các thuốc an thần kinh

- Các thuốc an thần kinh truyền thống còn gọi là thuốc an thần kinh điểnhình (an thần kinh thế hệ thứ nhất)

+ Họ phenothiazine ưu thế ở tác dụng yên dịu, chống kích động gồmcác thuốc: Aminazine, Mellaril, Majeptil, Piportil…

+ Họ reserpine, Serpasil hiện nay dùng trong lâm sàng tâm thần học.+ Họ butyrophenon ưu thế ở tác dụng chống loạn thần gồm:Haloperidol, Droleptan, Opiran, Orap…

+ Họ thioxamthene (Taractan)

+ Họ benzamide có tác dụng giải ức chế, bao gồm: Sulpiride…

+ An thần kinh có tác dụng kéo dài: Moditen, Modecat, Piportil

- An thần kinh mới còn gọi là an thần kinh không điển hình (an thần kinhthế hệ thứ 2), thuốc có hiệu quả tốt trên cả triệu chứng dương tính và triệuchứng âm tính của tâm thần phân liệt, ít gây các tác dụng phụ ngoại tháp, ởliều điều trị có thể gây hội chứng chuyển hóa (tăng cân, béo phì, rối loạn li pítmáu…), các thuốc an thần kinh không điển hình hiện có: Clozapine,Risperidone, Olanzapine, Quetiapine, Rimoxipride… [45]

1.4.4 Tác dụng của thuốc an thần kinh

Thuốc an thần kinh có tác dụng điều trị tất cả các triệu chứng dươngtính, điều trị triệu chứng âm tính của tâm thần phân liệt, và một số biểu hiệnrối loạn cảm xúc như: (Olanzapin, Quetiapin…), điều trị một số rối loạn dạng

cơ thể như: (Sulpirid…) [46]

Trang 19

1.4.5 Tác dụng không mong muốn

Tác dụng ngoại tháp (Neurological side effects) là tác dụng phụ thườnggặp của thuốc an thần kinh, đặc biệt là những thuốc an thần kinh cổ điển, cáctác dụng không mong muốn như:

- Loạn chương lực cơ (dystonie)

- Bồn chồn bất an (akathisia)

- Triệu chứng giống Parkinson loạn động muộn (Tardive dyskinesia)

- Hội chứng an thần kinh ác tính (neuroleptic maligmant syndrume)

- Buồn ngủ (sedation)

- Làm giảm ngưỡng gây co giật (lowered convulsive threshold) [47]

1.5 Những nghiên cứu về trạng thái bồn chồn bất an do thuốc an thần kinh trên thế giới và ở Việt Nam

- Trên thế giới: Trạng thái bồn chồn bất an được biết đến ngay từ nhữngnăm đầu của lịch sử phát triển thước an thần kinh, nhưng tới những năm

1980, trạng thái này mới được mô tả chi tiết

+ Nelson và cộng sự (1998), đã tiến hành nhiều nghiên cứu trạng tháibồn chồn bất an ở những bệnh nhân loạn thần được điều trị bằng thuốc anthần kinh, kết quả nghiên cứu cho thấy, giới tính không liên quan đến tỷ lệxuất hiện của trạng thái này, nhưng trạng thái bồn chồn cấp (acute akathisia)

và giả bồn chồn (pseudo akathisia) thường xảy ra ở nam, trong khi đó bồnchồn mãn tính lại thường xảy ra ở nữ hơn.Tác giả cũng cho biết, không cómột bằng chứng nào cho thấy, có chủng tộc nào đó dễ bị mắc rối loạn này [48

+ Weizman (2000) nghiên cứu trên các bệnh nhân được điều trị bằngthuốc an thần kinh tại một bệnh viện tâm thần ở Israel, theo các tác giả này

Trang 20

trạng thái bồn chồn bất an do thuốc an thần kinh thường xuất hiện cùng vớicác hội chứng ngoại tháp khác và cũng là một yếu tố nguy cơ cho sự hìnhthành rối loạn vận động muộn [49]

+ Các chiến lược điều trị bao gồm các thuốc nhóm benzodiazepin,thuốc chẹn beta-adrenergic và thuốc đối kháng serotonin cho thấy có mốiquan hệ phức tạp hơn giữa nhiều hệ thống dẫn truyền thần kinh, bao gồmdopamine, acetylcholine, axit gamma-aminobutyric (GABA), norepinephine2,5 sự tham gia của nhiều hệ thống dẫn truyền thần kinh được hỗ trợ thêm bởithực tế là các thuốc như clozapine và quetiapine, có xu hướng liên kết yếu vớicác thụ thể dopamine và mạnh hơn với các thụ thể serotonin [50]

+ Kapur (2000) sử dụng phương pháp nghiên cứu mù đôi và nhờ kỷthuật SPET, chỉ ra mối liên quan giữa sự gắn kết vào thụ thể D2, và sự xuấthiện trạng thái bồn chồn bất an do thuốc an thần kinh [51]

+ Psychiatric (2001) nghiên cứu về tác dụng phụ ở những bệnh nhânđiều trị bằng Haloperidol hoặc Olanzapin, kết quả cho thấy Haloperidol gây bồnchồn nhiều hơn Olanzapin, và các yếu tố (tuổi cao, bệnh cơ thể, tăng liều thuốc)

là những yếu tố ảnh hưởng tới sự xuất hiện trạng thái bồn chồn bất an [52]

+ Drake R.E., Ehrlich J (1985), nhận thấy 2 trường hợp tự sát xẩy ra ởbệnh nhân tâm thần phân liệt [53], khi được điều trị bằng thuốc an thần kinh

có xuất hiện trạng thái bồn chồn, và Central F., et al (2017), cũng thông báomột số trương hợp tự sát có liên quan với trạng thái bồn chồn ở những bệnhnhân được điều trị bằng Haloperidol [54]

- Ở Việt Nam: (2004) tác giả Dương Minh Tâm đã nghiên cứu về trạng thái bồn chồn do thuốc an thần kinh (Haloperidol, Levomepromazin) trên

Trang 21

bệnh nhân rối loạn tâm thần, tại viện sức khõe tâm thần Hà Nội [55], tác giả

đã tìm thấy đơn trị liệu gây ra trạng thái bồn chồn bất an chiếm tỷ lệ 22.1%, đối với Haloperidol 28.6%, trong đó 50.0% ở mức độ nặng, Levomepromazinchiếm tỷ lệ 17.5%, 100.0% bồn chồn ở mức độ nhẹ và trung bình, đa trị liệu (Haloperidol phối hợp với Levomepromazin) chiếm tỷ lệ 41.5%

Trang 22

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn nhóm nghiên cứu

- Tất cả những bệnh nhân được chẩn đoán tâm thần phân, có triệu chứngbồn chồn bất an (theo tiêu chuẩn đoán DSM IV và thang đánh giá nhanh trạngthái bồn chồn của Barner), xuất hiện trong quá trình điều trị nội trú tại bệnhviện tâm thần trung ương 1

- Tất cả bệnh nhân hoặc người nhà của họ đều được giải thích đầy đủ vàcam kết tự nguyện tham gia, chấp hành mọi nội quy, quy định của bệnh viện

và quy trình nghiên cứu đã đề ra

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Bênh nhân có bệnh cơ thể nặng

- Bệnh nhân có các khuyết tật về các giác quan không thể giao tiếp

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 8 năm 2018 đến tháng 8 năm 2019, tại bệnh viện tâm thần trung ương 1

2.3 Phương pháp chọn mẫu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả từ khi bệnh nhân có biểu hiện trạng thái bồn chồnbất an, và những ngày tiếp theo cho đến khi hết trạng thái bồn chồn, hoặc

ra viện

Trang 23

- Làm bệnh án được thiết kế chuyên biệt, để khai thác được thông tin cầnthiết về đặc điểm, cũng như xử lý và diển biến của của trạng thái bồn chồn bất

- P là tỷ lệ bồn chồn bất an do an thần kinh ở bệnh nhân tâm thần phânliệt của một nghiên cứu trước đó, p = 0,21 [10]

- α là mức ý nghĩa thống kê, chọn α = 0,05

- Z(1-α/2) = 1,96 là giá trị Z thu được từ bảng Z với α = 0,05

Thay số vào công thức ta có:

2.3.3 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

Chọn mẫu nghiên cứu theo mẫu thuận tiện, tức là chọn tất cả những bệnhnhân đủ tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ cho đến khi đủ 61 bệnhnhân

Trang 24

2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.4.1 Công cụ thu thập số liệu

+ Sử dụng thang đánh giá nhanh trạng thái bồn chồn của Barner để đánhgiá tình trạng bồn chồn bất an của bệnh nhân (đã trình bày ở phần tổng quantài liệu)

+ Bệnh án điều trị nội trú tại bệnh viện tâm thần trung ương I

+ Bệnh án nghiên cứu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu

+ Phỏng vấn trực tiếp người bệnh, người thân của người bệnh và nhữngngười có liên quan, để thu thập các thông tin về quá trình phát triển bệnh lýcũng như tiền sử của người bệnh

+ Khám lâm sàng một cách toàn diện về tâm thần, thần kinh, nội khoa vàcác bệnh chuyên khoa khác có liên quan

+ Làm các xét nghiệm cơ bản, các phương pháp thăm dò chuyên khoanhư ghi điện não để loại trừ các bệnh khác kèm theo

+ Tất cả những chi tiết trên được ghi chép đầy đủ vào hồ sơ bệnh ánnghiên cứu của bệnh nhân

2.4 Các thông số nghiên cứu

2.4.1 Thông số chung:

+ Giới tính

+ Tuổi phát bệnh lần đầu, Tuổi hiện tại, thời gian bị bệnh

Trang 25

+ Bồn chồn muộn: Xuất hiện sau 90 ngày điều trị bằng thuốc an thần kinh.

2.4.2.2 Đặc điểm của trạng thái bồn chồn bất an do thuốc an thần kinh gồm:

- Lo âu liên quan tới chứng đứng ngồi không yên, các triệu chứng nàyđược đánh giá theo ba mức độ:

+ Mức độ nhẹ: Thỉnh thoảng mới có, bệnh nhân không đáp ứng cảmxúc rối loạn và kìm chế được các xung động cảm xúc

+ Mức độ vừa: Xẩy ra ở hầu hết mọi thời gian, bệnh nhân có đáp ứng mọicảm xúc rối loạn, nhưng còn khả năng kìm chế được các xung động cảm xúc

+ Mức độ nặng: Triệu chứng xẩy ra hầu như liên tục, khó kìm chế đượccác xung động cảm xúc

- Các triệu chứng khách quan dựa vào các tư thế:

+ Tư thế ngồi: Bệnh nhân luôn thay đổi tư thế và vị trí của tay, chân.Tưthế đứng: hai chân không đứng yên, đá vào nhau hoặc luôn thay đổi vị trí vẩnkhông thấy dể chịu

Trang 26

+ Tư thế nằm: Bệnh nhân luôn xoay, thay đổi tư thế nằm, tay và châncựa quạy, co lên rồi lại duổi xuống mà không thấy dể chịu.

- Triệu chứng chủ quan dựa vào cẩm giác bồn chồn bên trong của người bệnh

- Trạng thái bồn chồn bất an ảnh hưởng tới bệnh cảnh lâm sàng: Rối loạngiắc ngủ (mất ngủ), tăng các triệu chứng loạn thần (hoang tưởng, ảo giác),tăng cả số lượng và mức độ của triệu chứng, kích động, tự sát

- Các triệu chứng ngoại tháp kèm theo, trạng thái giống Parkinson, loạnchương lực cơ cấp, loạn động muộn

- Phương thức sử dụng thuốc an thần kinh (đơn trị liệu, hoặc đa trị liệu)

- Hoàn cảnh phát sinh: Sử dụng liều ban đầu, tăng liều điều trị, hay giảmliều an thần kinh, bệnh cơ thể kèm theo

2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê toán học, có kết hợpchương trình số liệu SPSS

2.6 Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu được sự đồng ý của hội đồng khoa học bệnh viện tâm thần

trung ương 1

- Nghiên cứu có sự đồng ý của bệnh nhân và gia đình người bệnh, họ cóquyền rút khỏi nghiên cứu bằng bất kỳ lý do gì

- Nghiên cứu không ảnh hưởng đến kết quả điều trị của bệnh nhân

- Mọi thông tin của cá nhân được bảo mật theo quy chế quản lý hồ sơbệnh án

- Bệnh nhân không phải chi trả thêm bất kỳ chi phí nào

- Nghiên cứu được thông qua bởi hội đồng đề cương của bộ môn tâmthần, trường đại học Y Hà Nội

Trang 27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu tiến hành ở 61 bệnh nhân được chẩn đoán tâm thần phân liệtđiều trị bằng thuốc an thần kinh, ở bệnh viện tâm thần trung ương I, tại thờiđiểm từ tháng 8 năm 2018 – tháng 8 năm 2019

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm phân bố giới tính của đối tượng nghiên cứu

nam; 53 nữ; 48

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ phân bố giới tính của đối tượng nghiên cứu

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi 52.5% là nam giới, và 47.5% là

nữ giới, tỷ lệ giữa nam và nữ 1:1

3.1.2 Đặc điểm phân bố nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Tỷ lệ phân bố nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu

Trang 28

3.1.3 Tỷ lệ bị bệnh tâm thần phân liệt lần đầu ở các độ tuổi

Bảng 3.2 Bị bệnh lần đầu ở các độ tuổi của đối tượng nghiên cứu

Tỷ lệ bị bệnh tâm thần phân liệt lần đầu giữa các độ tuổi có sự khác nhau

rõ rệt, dưới 24 tuổi chiếm tỷ lệ 52.5% là độ tuổi có tỷ lệ bị bệnh lần đầu caonhất, tuổi ít gập nhất là >45 tuổi có tỷ lệ 1.6%

3.1.4 Tỷ lệ nghề nghiệp của đối tượng trong nhóm nghiên cứu

Bảng 3.3 Tỷ lệ nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu

Qua bảng phân tích trên cho thấy: Đối tượng nghiên cứu có nghề nghiệp

tự do chiếm 67,2% là nghề có tỷ lệ cao nhất, nội trợ chiếm 18%, làm ruộngchiếm 11.5%, trong khi đó công nhân chiếm tỷ lệ thấp nhất 3%,

3.1.5 Đặc điểm tiền sử gia đình của đối tượng nghiên cứu

Trang 29

Bảng 3.4 Tiền sử gia đình của đối tượng nghiên cứu

tỷ lệ 1.6%, có anh hoặc chị hoặc em ruột cùng bị bệnh tâm thần chiếm tỷ lệ 4.9%,

họ hàng bên nội hoặc bên ngoại có người cùng bị bệnh tâm thần chiếm tỷ lệ 3.3%,trong gia đình có >2 người cùng bị bệnh tâm thần chiếm tỷ lệ 4.9%

3.1.6 Đặc điểm số lần vào viện của đối tượng nghiên cứu

Trang 30

3.2.1 Lâm sàng trạng thái bồn bất an theo giới tính

Bảng 3.5 Trạng thái bồn chồn bất an theo giới tính

- Triệu chứng lo âu ở nam giới và nữ giới như nhau chiếm tỷ lệ 39.4%

3.2.2 Các yếu tố liên quan

Bảng 3.6 Tỷ lệ giữa các yếu tố liên quan

Nhận xét:

Trang 31

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, số bệnh nhân dùng liều ban đầuxuất hiện trạng thái bồn chồn chiếm tỷ lệ 27.9%, bệnh nhân khi tăng liều mới

có trạng thái bồn chồn chiếm tỷ lệ 21.3%, và bệnh nhân khi giảm liều điều trịcũng xẩy ra trạng thái bồn chồn chiếm tỷ lệ 6.6%, số bệnh nhân có triệuchứng ngoại tháp trước khi xuất hiện trạng thái bồn chồn chiếm tỷ lệ 16.4%,

sự khác biệt của những tỷ lệ này có ý nghĩa kê, với P<0.05, độ tin cậy 95%

3.2.3 Lâm sàng trạng thái bồn chồn bất an của nhóm đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.7 Tỷ lệ đặc điểm lâm sàng trạng thái bồn chồn bất an

T/C

Khách

quan

Biết nhưng không thể đứng hoặc ngồi yên 35 57.4Biết bắt buộc phải di chuyển hầu hết thời gian 13 21.3T/C

Chủ

quan

Di chuyển đôi chân <50% TG quan sát 22 36.1

Di chuyển đôi chân ít nhất 50% TG quan sát 23 37.1Không thể đứng hoặc ngồi yên trong TG quan sát 16 26.2Triệu

Đặc điểm triệu chứng lâm sàng trạng thái bồn chồn bất an của đối tượng:

- Triệu chứng khách quan: Bệnh nhân có cảm giác bồn chồn không đặc hiệuchiếm tỷ lệ 21.3%, bệnh nhân biết nhưng không thể đứng hoặc ngồi yên chiếm tỷ

lệ 57.4%, bắt buộc phải di chuyển hầu hết thời gian quan sát chiếm tỷ lệ 21,3%

- Triệu chứng chủ quan: Bệnh nhân di chuyển đôi chân <50% thời gianquan sát chiếm tỷ lệ 36.1%, Bệnh nhân di chuyển đôi chân ít nhất 50% thờigian quan sát chiếm tỷ lệ 37.1%, không thể đứng hoặc ngồi yên một chổ trongsuốt thời gian quan sát chiếm tỷ lệ 26.2%

Trang 32

- Triệu chứng lo âu: Có 30 đối tượng có cảm giác lo âu nhẹ, chiếm tỷ lệ40.2%, có 18 đối tượng có cảm giác lo âu trung bình, chiếm tỷ lệ 29.5%,không có đối tượng nào có cảm giác lo âu nặng

3.2.4 Thể lâm sàng trạng thái bồn chồn bất an theo giới tính

Bảng 3.8 Thể lâm sàng bồn chồn theo giới tính

Ở bảng trên cho thấy tỷ lệ các thể lâm sàng bồn chồn theo giớ tình:

Đối với thể cấp tính ở nam chiếm tỷ lệ 20%, nữ chiếm tỷ lệ 80%

Thể bán cấp tính ở nam chiếm tỷ lệ 55.4%, nữ chiếm tỷ lệ 44.6%

3.2.5 Mức độ trạng thái bồn chồn bấn an theo giới tính

Trang 33

3.2.6 Mức độ trạng thái bồn chồn bất an theo phương pháp điều trị

Bảng 3.10 Mức độ trạng thái bồn chồn theo phương pháp điều trị

PP điều trịMức độ

Đơn trị liệu Đa trị liệu

Trang 34

3.2.7 Thể lâm sàng trạng thái bồn chồn trong phương pháp điều trị

Ở bảng trên cho thấy trạng thái bồn chồn bất an trong đơn trị liệu 27.9%,

đa trị liệu 72,1%, Tỷ lệ bồn chồn giữa các phương pháp điều trị có khác nhau,

sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P<0.05, độ tinh cậy 95%

Các thể lâm sàng bồn chồn trong phương pháp điều trị:

- Đơn trị liệu: Thể cấp tính chiếm tỷ lệ 5.9%, bán cấp chiếm tỷ lệ 94.1%,không có trường hợp nào xẩy ra ở thể muộn

- Đa trị liệu: Thể cấp tính chiếm tỷ 11.4%, bán cấp tính chiếm tỷ lệ88.4%, bồn chồn muộn chiếm tỷ lệ 2.3%

Trang 35

3.2.8 Phân bố các thể lâm sàng trong đơn trị liệu

Bảng 3.12 Các thể lâm sàng trong đơn trị liệu

Trong đơn trị liệu:

- 47.1% trường hợp sử dụng Olanzapin xẩy ra trạng thái bồn chồn ở thểbán cấp tính

- 35.5% trường hợp sử dụng Clozapin xẩy ra trạng thái bồn chồn ở thểbán cấp tính

- 5.9% trường hợp sử dụng Haloperidol xẩy ra trạng thái bồn chồn ở thểcấp tính

- 5.9% trường hợp sử dụng Risperidol, Amisulpirid đều xẩy ra trạng tháibồn chồn ở thể bán cấp tính

Các thể lâm sàng đối với từng loại thuốc trong đơn trị liệu có sự khác

Trang 36

nhau, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, với P<0.05, độ tin cậy 95%

Trang 37

3.2.9 Phân bố thể lâm sàng trong đa trị liệu

Bảng 3.13 Các thể lâm sàng trong đa trị liệu.

Thể lâm sàng Thuốc

Trang 40

Mức độ bồn chồn trong đơn trị liệu:

- Haloperidol có 1 bệnh nhân sử dụng và xẩy ra ở mức độ nặng (5.9%)

- Risperidol, Amisulpiris mỗi loại đều có 1 bệnh nhân sử dụng và xẩy rabồn chồn ở mức độ nhẹ và trung bình (5.9%)

- Olanzapin xẩy ra mức độ nhẹ và trung bình chiếm tỷ lệ 35.3%, mức độnặng chiếm tỷ lệ 11.5%

- Clozapin xẩy ra mức độ nhẹ và trung bình chiếm tỷ lệ 35.3%, không cótrường hợp nào ở mức độ nặng

3.2.11 Tỷ lệ phân bố mức độ trạng thái bồn chồn bất an trong đa trị liệu

Bảng 3.15 Tỷ lệ phân bố mức độ bồn chồn trong đa trị liệu

Mức độ Mức độ nhẹ

và trung bình

Mức độNặng

Mức độrất nặng

Tổng

Ngày đăng: 05/07/2020, 16:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. David M. G., Ross J. B., and Paul Waraich (2005). Modern antipsychotic drugs: a critical overview 172(13): 1703–1711 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 172(13)
Tác giả: David M. G., Ross J. B., and Paul Waraich
Năm: 2005
14. Harten P.N. (2002). Drug-induced akathisia. Ned Tijdschr Geneeskd.146(3):110-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ned Tijdschr Geneeskd
Tác giả: Harten P.N
Năm: 2002
15. Per S., Granville J. M.,Christer H., et al (2019). D1-Dopamine Receptor Availability in First-Episode Neuroleptic Naive Psychosis Patient. Int J Neuropsychopharmacol 22(7): 415–425 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int JNeuropsychopharmacol
Tác giả: Per S., Granville J. M.,Christer H., et al
Năm: 2019
16. Blaisdell G.D. (1994). Akathisia: a comprehensive review and treatment summary. Pharmacopsychiatry, 27(4):139-46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pharmacopsychiatry
Tác giả: Blaisdell G.D
Năm: 1994
17. Nguyễn Kim Việt (2003). Các rối loạn vận động do thuốc. Các rối lọan liên quan tới stress và điều trị trong tâm thần. Nhà xuất bản y học Hà Nội tr 154-155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các rối lọanliên quan tới stress và điều trị trong tâm thần
Tác giả: Nguyễn Kim Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản y học HàNội tr 154-155
Năm: 2003
18. Kapur S., Zipursky R., Jones C., et al (2000). Relationship between dopamine D(2) occupancy, clinical response, and side effects: a double- blind PET study of first-episode schizophrenia. Am J Psychiatry.157(4):514-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am J Psychiatry
Tác giả: Kapur S., Zipursky R., Jones C., et al
Năm: 2000
19. Peng Li., Gretchen L. S., and Kimberly E. V. (2016). Dopamine Targeting Drugs for the Treatment of Schizophrenia. Past, Present and Future Curr Top Med Chem.16(29): 3385–3403 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Curr Top Med Chem
Tác giả: Peng Li., Gretchen L. S., and Kimberly E. V
Năm: 2016
20. Vinson DR., (2004). Diphenhydramine in the treatment of akathisia induced by prochlorperazine. J Emerg Med. 26(3):265-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Emerg Med
Tác giả: Vinson DR
Năm: 2004
21. Farde L. (1992). Selective D1- and D2-dopamine receptor blockade both induces akathisia in humans--a PET study with [11C]SCH 23390 and [11C]raclopride. Psychopharmacology (Berl). 107(1):23-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Psychopharmacology (Berl)
Tác giả: Farde L
Năm: 1992
23. Charlotte W., Love L.r, Marie L.W at al (2005). Adjunctive treatment with mianserin enhances effects of raclopride on cortical dopamine output and, in parallel.its antipsychotic-like effect. Neuropsychiatr Dis Treat 1(3): 253–260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Neuropsychiatr DisTreat
Tác giả: Charlotte W., Love L.r, Marie L.W at al
Năm: 2005
24. Poyurovsky M., Weizman A.(1999). Lack of efficacy of the 5-HT3 receptor antagonist granisetron in the treatment of acute neuroleptic- induced akathisia. Int Clin Psychopharmacol 14(6):357-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int Clin Psychopharmacol
Tác giả: Poyurovsky M., Weizman A
Năm: 1999
25. Meltzer H.Y. (1999). The role oj serotonin Antipsychotic Drug action.Neuropsychopharmacology 21, pp 106s-115s Sách, tạp chí
Tiêu đề: Neuropsychopharmacology
Tác giả: Meltzer H.Y
Năm: 1999
26. Jennifer E. T., Joshua C., Catherine A. H. (2015). The Incidence of Akathisia in the Treatment of Schizophrenia with Aripiprazole, Asenapine and Lurasidone. A Meta-Analysis. Curr Neuropharmaco, 13(5): 681–691 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Curr Neuropharmaco
Tác giả: Jennifer E. T., Joshua C., Catherine A. H
Năm: 2015
27. Horiguchi J 1(1991). Low serum iron in patients with neuroleptic- induced akathisia and dystonia under antipsychotic drug treatment. Acta Psychiatr Scand. 84(3):301-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ActaPsychiatr Scand
Tác giả: Horiguchi J 1
Năm: 1991
28. Miller C.H., Fleischhacker W.W. (2000). Managing antipsychotic- induced acute and chronic akathisia. Drug Saf. 22 (1): 73-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Drug Saf
Tác giả: Miller C.H., Fleischhacker W.W
Năm: 2000
29. Inada T. (2017). Drug-Induced Akathisia. Brain Nerve. 69(12):1417- 1424 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Brain Nerve
Tác giả: Inada T
Năm: 2017
30. Salem H.; Nagpal C.; Pigott T., et al (2017). Revisiting Antipsychotic- induced Akathisia. Current Issues and Prospective Challenges. Curr Neuropharmacol 15(5): 789–798 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CurrNeuropharmacol
Tác giả: Salem H.; Nagpal C.; Pigott T., et al
Năm: 2017
31. Barnes T.R.(1989). A rating scale for drug-induced akathisia. Br J Psychiatry. 154:672-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Br JPsychiatry
Tác giả: Barnes T.R
Năm: 1989
33. Durkin J., Andrew P., Coleen K. (2014). Akathisia. Journal of Palliative Medicine, 17(9), pp. 1064–1065 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of PalliativeMedicine
Tác giả: Durkin J., Andrew P., Coleen K
Năm: 2014
34. Gibb W. R., and Lees A.L. (1986). The clinical phenomenon of akathisia.JBentham Science Publishers 49(8): 861–866 Sách, tạp chí
Tiêu đề: JBentham Science Publishers
Tác giả: Gibb W. R., and Lees A.L
Năm: 1986

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w