1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG của TRẺ NGHE kém từ 2 đến 10 TUỔI được cấy ốc TAI điện tử

75 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 291,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẦN MỸ HƯƠNGCHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA TRẺ NGHE KÉM TỪ 2 ĐẾN 10 TUỔI ĐƯỢC CẤY ỐC TAI ĐIỆN TỬ ĐỀ CƯƠNG DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH HÀ NỘI - 2019... TRẦN MỸ HƯƠNGCHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA TRẺ

Trang 1

TRẦN MỸ HƯƠNG

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

CỦA TRẺ NGHE KÉM TỪ 2 ĐẾN 10 TUỔI

ĐƯỢC CẤY ỐC TAI ĐIỆN TỬ

ĐỀ CƯƠNG DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

TRẦN MỸ HƯƠNG

CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

CỦA TRẺ NGHE KÉM TỪ 2 ĐẾN 10 TUỔI

ĐƯỢC CẤY ỐC TAI ĐIỆN TỬ

Chuyên ngành : Y Tế Công Cộng

ĐỀ CƯƠNG DỰ TUYỂN NGHIÊN CỨU SINH

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Nguyễn Đăng Vững

2 TS Nguyễn Tuyết Xương

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

ASHA Hiệp hội Phát âm – Ngôn ngữ - Thính học MỹCLCS Chất lượng cuộc sống

WHO Tổ chức y tế thế giới

Trang 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Khái quát chung về nghe kém ở trẻ em 3

1.1.1 Định nghĩa 3

1.1.2 Phân loại nghe kém 3

1.1.3 Mức độ nghe kém 4

1.1.4 Dịch tễ học nghe kém ở trẻ em 5

1.1.5 Các ảnh hưởng của nghe kém 6

1.1.6 Các biện pháp can thiệp nghe kém 7

1.1.7 Cấy ốc tai điện tử 8

1.2 Khái quát chung về chất lượng cuộc sống 10

1.2.1 Khái niệm về chất lượng cuộc sống 10

1.2.2 Đánh giá chất lượng cuộc sống ở trẻ em 11

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14

2.1 Đối tượng nghiên cứu 14

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhi 14

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân 14

2.1.3 Cách phân nhóm tuổi 14

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 14

2.2.1 Thời gian nghiên cứu 14

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 15

2.3 Phương pháp nghiên cứu 15

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 15

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu 15

2.3.3 Cỡ mẫu nghiên cứu 15

2.4 Phương tiện nghiên cứu 16

2.5 Các biến số trong nghiên cứu: 16

2.5.1 Đặc điểm của đối tượng trong nghiên cứu: 16

2.5.2 Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe: 16

Trang 5

2.6.2 Mục tiêu 2 18

2.6.3 Mục tiêu 3 18

2.7 Phương pháp xử lý số liệu 18

2.8 Đạo đức nghiên cứu 18

Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ 21

3.1 Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu 21

3.1.1 Đặc điểm xã hội học của đối tượng nghiên cứu 21

3.1.2 Đặc điểm xã hội học của gia đình trẻ được cấy ốc tai điện tử 22

3.1.3 Đặc điểm bệnh lý của nhóm đối tượng nghiên cứu 24

3.2 Chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém trước khi cấy ốc tai điện tử 24

3.2.1 Chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém từ 2 đến 5 tuổi do bố/mẹ báo cáo .24 3.2.2 CLCS của nhóm trẻ 6-10 tuổi trước khi cấy ốc tai điện tử 25

3.3 Chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém sau khi cấy điện cực ốc tai 26

3.3.1 Chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém từ 2 đến 5 tuổi do bố/mẹ báo cáo 26

3.3.2 CLCS của nhóm trẻ 6-10 tuổi sau khi cấy ốc tai điện tử 27

3.4 Tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố với CLCS ở trẻ nghe kém được cấy ốc tai điện tử 28

3.4.1 Một số yếu tố liên quan đến CLCS trước và sau khi cấy ốc tai điện tử 3 tháng 28

3.4.2 Một số yếu tố liên quan đến CLCS sau khi cấy ốc tai điện tử 6 tháng ở trẻ từ 2 đến 10 tuổi 29

Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 30

DỰ KIẾN KẾT LUẬN 30

DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Bảng 1.1: Mức độ nghe kém theo ASHA 4

Bảng 1.2: Phân loại nghe kém ở trẻ sơ sinh ở một số nghiên cứu ở

Việt Nam 5

Bảng 1.3 Phân loại mức độ nghe kém theo khuyến cáo tại hội nghị Tai Mũi Họng châu Á – Thái Bình Dương tổ chức tại Seoul Hàn Quốc năm 2012 5

Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi của nhóm trẻ mắc nghe kém được cấy ốc tai điện tử 21

Bảng 3.2 Trình độ học vấn của trẻ nghe kém được cấy điện cực ốc tai 21

Bảng 3.3: Đặc điểm gia đình của nhóm trẻ cấy ốc tai điện tử 22

Bảng 3.4 Đặc điểm nhóm bố me trẻ nghe kém được cấy ốc tai điện tử 23

Bảng 3.5 Đặc điểm bệnh lý của đối tượng nghiên cứu 24

Bảng 3.6: Chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém từ 2 đến 5 tuổi do bố/mẹ báo cáo 24

Bảng 3.7 Tương quan về điểm CLCS giữa trẻ và bố/mẹ báo cáo ở nhóm tuổi từ 6-10 tuổi 25

Bảng 3.8: Chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém từ 2 đến 5 tuổi do bố/mẹ báo cáo 26

Bảng 3.9 Tương quan ghép cặp về CLCS giữa trẻ và bố/mẹ đánh giá ở nhóm tuổi 6-10 27

Bảng 3.10 Đối chiếu điểm CLCS (các khía cạnh) do bố/mẹ trẻ nghe kém được cấy ốc tai điện tử báo cáo sau 3 tháng 28

Bảng 3.11 Đối chiếu điểm CLCS (các khía cạnh) do bố/mẹ trẻ nghe kém được cấy ốc tai điện tử báo cáo sau 6 tháng 29

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghe kém (hay mất thính lực) được định nghĩa là hiện tượng mất hoàntoàn hoặc một phần khả năng nghe từ một hoặc cả hai tai Theo Tổ chức y tếthế giới (WHO), có khoảng 6,1% dân số, tương đương với 466 triệu ngườitrên toàn thế giới bị nghe kém, trong số đó có 7,3% tương đương với 34 triệutrẻ em mắc nghe kém Phần lớn những người nghe kém sống ở những nước

có thu nhập thấp hoặc trung bình [1] Nghe kém không được điều trị có thểgây ra hậu quả nghiêm trọng mặt kinh tế và xã hội [2]

Ảnh hưởng của nghe kém đến sự phát triển của trẻ em là rất lớn Trẻnghe kém sẽ chậm phát triển ngôn ngữ, trí tuệ và gặp khó khăn trong cuộcsống Khó khăn trong giao tiếp có thể có những hậu quả về cảm xúc và tâm lý

ở trẻ, nếu kéo dài có thể dẫn đến cảm giác bị cô lập, cô đơn và trầm cảm [3], [4],[5] Tác động đến gia đình cũng sâu sắc không kém, bố mẹ của những đứa trẻ mắcnghe kém phải đối phó với những nguy cơ bị căng thẳng cao hơn, phải chi trả tiềnđiều trị và nghỉ làm nhiều hơn so với các bậc phụ huynh khác [6]

Sau khi được chẩn đoán nghe kém, trẻ em nên được điều trị và can thiệpsớm; mục tiêu là để phát triển kỹ năng nói, ngôn ngữ và giao tiếp ở trẻ, giúptrẻ hòa nhập cộng đồng Sử dụng máy trợ thính hay cấy ốc tai điện tử cungcấp cho trẻ quyền truy cập tối đa vào các tính năng âm thanh của lời nói trongphạm vi nghe an toàn và thoải mái Cấy ốc tai điện tử đã được chứng minh làmột lựa chọn điều trị hữu ích cho những người bị mất thính lực nặng đến trầmtrọng [7] Trên thực tế, trẻ em nghe kém nặng hoặc điếc sâu được cấy ốc taiđiện tử đã được chứng minh nhiều năm sau đó có kỹ năng ngôn ngữ tương tựnhư trẻ em cùng tuổi có thính giác bình thường [8]

Trang 8

Đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) ở trẻ nghe kém trước và sau cấy

ốc tai điện tử sẽ đưa ra một cách nhìn toàn diện hơn về gánh nặng bệnh tật vàhiệu quả điều trị bệnh Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về chất lượngsống ở bệnh nhi trước và sau phẫu thuật cấy ốc tai điện tử [9], [10], [11] Tuynhiên, ở Việt Nam cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào trả lờicâu hỏi: CLCS của trẻ em ở Việt Nam được cấy ốc tai điện tử như thế nào?Những yếu tố nào liên quan đến CLCS của trẻ được cấy ốc tai điện tử Do đó,

để trả lời những câu hỏi trên, nghiên cứu Chất lượng cuộc sống của trẻ nghekém từ 2 đến 10 tuổi được cấy ốc tai điện tử tại Bệnh viện nhi Trung ương sẽđược tiến hành từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 12 năm 2022 với những mụctiêu sau:

1 Đánh giá chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém từ 2 đến 10 tuổi trước khi cấy ốc tai điện tử năm 2020

2 Đánh giá chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém từ 2 đến 10 tuổi sau khi cấy ốc tai điện tử

3 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém từ 2 đến 10 tuổi trước và sau cấy ốc tai điện tử để nâng cao hiệu quả chăm sóc và phục hồi cho trẻ.

4

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Khái quát chung về nghe kém ở trẻ em

1.1.1 Định nghĩa

Theo từ điển tiếng Việt, điếc được hiểu là mất hoặc giảm khả năng nghe[12], còn theo tài liệu hỏi đáp về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Việt Nam,khiếm thính chỉ những người nghe không rõ và không nghe thấy [13]

Nghe kém là hiện tượng giảm một phần hay toàn bộ khả năng cảm nhận

về âm thanh [14], [15]

1.1.2 Phân loại nghe kém

Nghe kém có thể được chia theo ba loại cơ bản tùy thuộc vào các vùngtổn thương của hệ thống nghe [16]

1.1.2.2 Nghe kém tiếp nhận

Nghe kém (điếc) tiếp nhận xảy ra khi có hiện tượng phá hủy tai trong (ốctai) hoặc phá hủy dây thần kinh số VIII từ tai trong tới vỏ não Các nguyên

Trang 10

nhân của nghe kém tiếp nhận bao gồm do di truyền, nhiễm độc (thuốc, hóachất), nhiễm trùng (đặc biệt là vi-rút), chấn thương sọ não (khu vực xươngthái dương), điếc nghề nghiệp (tiếp xúc với tiếng ồn cường độ lớn, thời giandài), não bị phá hủy, tai biến, viêm não Điếc tiếp nhận không thể dùng thuốchay phẫu thuật để điều trị

Bảng 1.1: Mức độ nghe kém theo ASHA [17].

Mức độ nghe kém Ngưỡng nghe dB

Trang 11

Bảng 1.2: Phân loại nghe kém ở trẻ sơ sinh ở một số nghiên cứu ở

1.1.4.1 Tình hình nghe kém ở trẻ em trên thế giới

Theo WHO ước tính rằng có 1,7% trẻ dưới 15 tuổi bị nghe kém ở cácmức độ khác nhau, tương đương với 32 triệu trẻ em trên toàn thế giới [1],[19], [20] Nam Á là khu vực có trẻ bị nghe kém cao nhất thế giới chiếm 2,4

%, tiếp theo là khu vực châu Á Thái Bình Dương chiếm khoảng 2,0 % trẻdưới 15 tuổi bị nghe kém [21]

Các nghiên cứu tổng quan trên toàn thế giới cho biết, nghe kém ở mức

độ nhẹ (20-34 dB) là mức độ phổ biến nhất ở trẻ em dưới 15 tuổi, chiếm 53%

Trang 12

trong tổng số các mức độ nghe kém, tiếp theo là nghe kém ở mức độ trungbình (35-49 dB), chỉ chiếm 9,1 % Các mức độ nghe kém nặng hơn chiếm tỷ

lệ thấp hơn (dưới 2%) trong các mức độ nghe kém [21] Khu vực Nam Á làkhu vực có tỷ lệ trẻ nghe kém ở mức độ nhẹ và vừa cao nhất trong số các khuvực khác trên thế giới, lần lượt là 69,3/1.000 và 12,0/1.000 trẻ Tiếp theo sau

là khu vực châu Á Thái Bình Dương, chiếm 60,1/1.000 trẻ bị nghe kém mức

độ nhẹ và 10,2/1.000 trẻ bị nghe kém mức độ trung bình [21]

Một nghiên cứu thuần tập ở Atlanta, Mỹ ở trẻ từ 3 đến 10 tuổi cho thấy

tỷ lệ trẻ bị nghe kém nặng tăng dần theo độ tuổi, từ 0,67/1.000 trẻ 3 tuổi đến1,38/1.000 ở trẻ 10 tuổi Nghiên cứu cũng cho thấy nghe kém ở mức độ vừa làmức độ chủ yếu trong các mức độ nghe kém chiếm 46% [22]

1.1.4.2 Tình hình nghe kém ở trẻ em Việt Nam

Ở Việt Nam các nghiên cứu về giảm thính lực, nghe kém ở trẻ em khôngnhiều Trong những năm gần đây, có một vài công trình nghiên cứu về tìnhhình tàn tật và giảm thính lực ở Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉtiến hành thu thập thông tin trên một quần thể nghiên cứu nhỏ

Năm 1996, một nghiên cứu đánh giá về tình hình tàn tật tại các tỉnhmiền núi phía Bắc cho thấy tỷ lệ gặp khó khăn về nghe nói ở tất cả các lứatuổi chiếm 22,7% [23] Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tính đến năm

2016, cả nước có tổng số 6.225.519 người khuyết tật, trong đó có 671.659trẻ em khuyết tật từ 2 đến 18 tuổi chiếm 2,79% Tỷ lệ khuyết tật về nghenói ở trẻ em từ 2 đến dưới 18 tuổi là 0,22% dân số, tương đương 7,89%trong nhóm khuyết tật [24]

1.1.5 Các ảnh hưởng của nghe kém

Thính lực đóng vai trò quan trọng trong công việc, cuộc sống cá nhân,sức khỏe thể chất và sự an toàn Một trong những ảnh hưởng của nghe kém

Trang 13

trong cuộc sống là khả năng giao tiếp với người khác Những trẻ bị nghe kémnặng và điếc thường không phát triển về ngôn ngữ, lời nói như những đứa trẻbình thường khác [25] Nghe kém và các bệnh về tai như viêm tai giữa còngây ản hưởng nặng nề tới khả năng học tập của trẻ [26] Các nghiên cứu vềnghe kém ở trẻ em tiểu học đã cho thấy có một mối tương quan giữa nghekém tới việc học kém ở những trẻ em này [27].

Những người nghe kém thường không được tham gia, hòa nhập mộtcách thoải mái vào các hoạt động xã hội Đôi khi họ còn bị loại ra khỏinhững hoạt động cộng đồng do có những quan điểm nghe kém hoặc điếc làkhông thể làm những việc như những người bình thường khác Điều này cóthể dẫn đến những ảnh hưởng về mặt tâm lý cũng như xã hội cho nhữngngười bị vấn đề này

1.1.6 Các biện pháp can thiệp nghe kém

Hiện nay có nhiều giải pháp can thiệp cho người bị nghe kém Tùy theo điều kiện thực tế của các đối tượng bị nghe kém, các giải pháp can thiệp nghe kém phù hợp sẽ được áp dụng, bao gồm các giải pháp sau:

Trang 14

1.1.6.2 Các phương pháp phục hồi ngôn ngữ

Có rất nhiều phương pháp phục hồi ngôn ngữ để giúp trẻ có thể giao tiếpvới mọi người và đi học được Tuy nhiên có 5 phương pháp sau là nhữngphương pháp phục hồi ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi:

Phương pháp nghe – nhìn miệng (Auditory – Oral)

Phương pháp nghe – nói (Audiotory – Verbal)

Phương pháp dùng dấu (Bilingual – Biculture (sign language))

Phương pháp lời nói dấu hiệu (Cused speed)

Phương pháp giao tiếp tổng hợp (Total communicaiton)

1.1.7 Cấy ốc tai điện tử

1.1.7.1 Định nghĩa và nguyên lý

Cấy ghép ốc tai điện tử là một phẫu thuật cấy một điện tử vào dưới dađầu với dãy điện cực luồn vào trong ốc tai để thay thế tế bào lông, kíchthích các dây thần kinh thính giác Dòng điện tạo ra điện thế hoạt độngtrong các sợi thần kinh thính giác và chúng được truyền tới vỏ não Nhưvậy, các điện cực sẽ thay thế các tế bào lông ở trong ốc tai mà bình thường

nó mã hóa âm thanh [29]

Điện cực ốc tai bao gồm một máy kích thích – thu nhận, nhận nănglượng và giải mã các hướng dẫn để kiểm soát sự kích thích điện và một mạchđiện cực, trong đó có các điện cực đặt gần các nhánh của dây thần kinh thínhgiác để kích thích các sợi dây thần kinh thính giác còn lại [29]

Trang 15

- Thần kinh VIII bình thường, không tổn thương não.

- Ốc tai không dị dạng nặng hay vôi hóa toàn bộ

1.1.7.4 Cơ chế hoạt động của ốc tai điện tử

Một microphone nhỏ thu nhận âm thanh, được gắn trực tiếp vào bộ phận

xử lý âm thanh bên ngoài và được đeo sau tai

Bộ phận xử lý âm thanh thật sự là một máy vi tính nhỏ tiến hành lọc,phân tích và số hóa các tín hiệu âm thanh thành những tín hiệu điện đãđược mã hóa

Bộ phận xử lý âm thanh gửi những tín hiệu đã được mã hóa tới cuộntruyền dẫn, cuộn truyền dẫn này thật sự là một anten vận chuyển sóng tần

số radio Cuộn truyền dẫn được dính với bộ phận tiếp nhận trong ở dưới

da bằng nam châm

Cuộn truyền dẫn gửi những tín hiệu đã được mã hóa (giống tín hiệuradio) qua da tới bộ phận tiếp nhận trong nằm dưới da Bộ phận tiếp nhậntrong này thực chất là một anten tiếp nhận sóng tần số radio và một máy

vi tính nhỏ khác, tại đây các tín hiệu đã mã hóa được biến đổi thành cáctín hiệu điện

Bộ phận tiếp nhận trong chuyển các tín hiệu điện này đến dây điện cựcnằm bên trong ốc tai Mỗi điện cực nằm dọc theo dây điện cực đều có dây kếtnối với bộ phận tiếp nhận trong, mỗi điện cực đều có một chương trình riêngbiệt để chuyển đổi các tín hiệu điện đặc trưng cho từng loại âm thanh khácnhau cả về độ lớn cũng như tần số Khi các điện cực tiếp nhận một tín hiệuđiện, chúng kích thích những sợi dây thần kinh ốc tai thích hợp trong ốc tai đểgửi thông tin về não

Trang 16

1.2 Khái quát chung về chất lượng cuộc sống

1.2.1 Khái niệm về chất lượng cuộc sống:

CLCS (quality of life) là khái niệm được sử dụng để đánh giá sức khỏechung của cá nhân và xã hội Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi trong khoahọc xã hội, liên quan tới các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống như y học,kinh tế và chính trị học, triết học, tâm lý, xã hội học…[30] CLCS không nênnhầm lẫn với mức sống chỉ dựa chủ yếu vào thu nhập Thay vào đó, các tiêuchuẩn của CLCS bao gồm không chỉ sự giàu có và việc làm, mà còn là xâydựng môi trường, thể chất và sức khỏe tinh thần, giáo dục, giải trí và hoạtđộng xã hội

Khái niệm CLCS ra đời khá lâu, nhưng đến nay vẫn chưa có sự thốngnhất trong định nghĩa Hiện tại có bốn quan niệm khác nhau về CLCS:

- Một là: quan niệm mang tính khách quan dựa vào điều kiện sống vậtchất và không có bệnh tật

- Hai là: quan niệm mang tính chủ quan coi CLCS biểu hiện ở mức độhài lòng hoặc cảm nhận về cuộc sống hạnh phúc

- Ba là: khái niệm tích hợp coi chất lượng sống mang đồng thời quanniệm chủ quan và quan niệm khách quan, chẳng hạn khái niệm được đề xuấtbởi WHO “CLCS là nhận thức mà cá nhân có được trong đời sống của mình,trong bối cảnh văn hoá, và hệ thống giá trị mà cá nhân sống, trong mối tươngtác với những mục tiêu, những mong muốn, những chuẩn mực, và những mốiquan tâm Đó là một khái niệm rộng phụ thuộc vào hệ thống phức hợp củatrạng thái sức khoẻ thể chất, trạng thái tâm lý hay mức độ độc lập, những mốiquan hệ xã hội và môi trường sống của mỗi cá nhân” [30]

Trang 17

- Bốn là khái niệm tích hợp linh hoạt coi “CLCS là sự đánh giá đa chiềucủa cá nhân về những mối quan hệ mà cá nhân tương tác với môi trường theonhững tiêu chuẩn đồng thời khách quan và chủ quan” [31].

Dù chưa có sự thống nhất hoàn toàn nhưng rõ ràng CLCS là một kháiniệm chủ quan, thay đổi theo từng cá nhân và môi trường sống Đây là cáchcảm nhận, đánh giá cuộc sống, hay nói cách khác, là cách định ra cho cuộcsống một giá trị nào đó Nhìn chung, CLCS là một tình trạng tinh thần hơn làsức khỏe thể chất đơn thuần, phản ánh sự thoải mái và những phản ứng chủquan đối với sức khỏe, mối quan hệ với gia đình, hoạt động xã hội, nghềnghiệp, đời sống tinh thần, sự sáng tạo, niềm hi vọng, thành đạt… [30]

1.2.2 Đánh giá chất lượng cuộc sống ở trẻ em

1.2.2.1 Lịch sử phát triển đánh giá CLCS ở trẻ em:

Trong khi việc đánh giá CLCS ở người lớn đã có những bước phát triển

từ những năm 1960 [32] thì sự tập trung chú ý đến CLCS của trẻ em chỉ mớibắt đầu từ những năm 1980 [33]

Những nỗ lực ban đầu mô tả CLCS ở trẻ em thường tập trung vào cácvấn đề chức năng và vẫn dựa vào những đánh giá của các nhà lâm sàng.Henning và đồng nghiệp là một trong những tác giả đầu tiên đã thử nghiệmđánh giá CLCS ở trẻ em theo cách này [34] Nghiên cứu này đã mở đườngcho các cách đánh giá hiện đại về CLCS ở trẻ em với hai phát hiện chính Thứnhất, nghiên cứu nhấn mạnh rằng trẻ em có thể thích nghi với những vấn đềsau stress hay tổn thương lớn Thứ hai, cái nhìn của trẻ em về bệnh tật củachính chúng là rất quan trọng

Những công trình nghiên cứu một cách chính thức hơn về CLCS ở trẻ emgiai đoạn sau chủ yếu nằm trong lĩnh vực ung thư và điều trị tích cực sơ sinh.Những nghiên cứu đầu tiên này được ghi nhận trong y văn thuộc về Lansky vàcộng sự Phương pháp đo lường được cha mẹ hoặc nhà lâm sàng trả lời bộ câu

Trang 18

hỏi rất đơn giản của các tác giả vẫn còn được sử dụng đến ngày nay (cha mẹđược hỏi chọn ra 1 trong 11 mô tả về hoạt chơi của con họ) [35], [36].

Năm 1995, bác sĩ Bullinger và Ravens-Sieberer tổng kết các tài liệu yvăn cho thấy sự quan tâm đối với CLCS của trẻ em đang tăng lên Tuy nhiên,các tác giả kết luận rằng, phần lớn các công trình đã xuất bản vẫn chỉ là cácbáo cáo về việc phát triển các phương pháp đo lường mới [37]

Những năm gần đây, một số đánh giá tổng hợp về các phương pháp đánhgiá CLCS ở trẻ được thiết kế chung [38], [39] và thiết kế cho các bệnh riêng[40], [41] đã được xuất bản Càng ngày, các bộ công cụ dùng để đánh giáCLS ở trẻ em càng được hoàn thiện hơn Các tác giả không chỉ chú trọng vàoxây dựng câu hỏi, mà còn đưa ra các ứng dụng của các đo lường CLCS vàolâm sàng Đồng thời, các vấn đề đặc biệt chỉ gặp ở đánh giá CLCS ở trẻ cũngdần được xem xét và đánh giá kỹ hơn

1.2.2.2 Sự khác biệt trong đánh giá CLCS ở trẻ em và người lớn:

Lịch sử phát triển bộ công cụ để đánh giá CLCS ở trẻ em chậm hơn rấtnhiều so với bộ công cụ đánh giá CLCS ở người lớn Vì thế, có những lí luậncho rằng có thể sử dụng bộ công cụ đánh giá CLCS ở người lớn để làm môhình thực hành ở trẻ em Hơn nữa, việc phát triển bộ công cụ CLCS ở trẻ emdựa trên bộ công cụ đánh giá CLCS ở người lớn đã được xây dựng sẵn sẽ cólợi hơn về mặt kinh tế

Tuy nhiên, nếu sử dụng bộ công cụ đánh giá CLCS ở người lớn được sửdụng để đánh giá CLCCS ở trẻ em sẽ có những điểm bất lợi nhất định Thứnhất, đặc điểm phát triển, căn nguyên và đặc tính tự nhiên của bệnh tật ở trẻ

em khác người lớn Thứ hai là khi cho trẻ hoàn thành các bộ câu hỏi chongười lớn, nhà nghiên cứu sẽ phải tính tới mức độ đọc hiểu và trả lời của trẻ

em với các bộ câu hỏi này

Trang 19

1.2.2.3 Tình hình nghiên cứu CLCS ở trẻ em được cấy ốc tai điện tử

Đánh giá CLCS liên quan sức khỏe ở trẻ bệnh là một vấn đề mới đangđược quan tâm trong những năm gần đây Trên thế giới đã có một số côngtrình nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém được cấy ốc taiđiện tử Theo nghiên cứu tổng quan hệ thống (systematic review) của LaurenRoland và cộng về cấy ốc tai điện tử ở trẻ em, trẻ mắc nghe kém thường cóCLCS thấp hơn so với các trẻ cùng trang lứa; tuy nhiên, sau khi cấy ốc tai điện

tử thì CLCS của những trẻ nghe kém được cải thiện rất nhiều [42] Nghiên cứucủa Umansky năm 2011 cho thấy những trẻ nghe kém sử dụng thiết bị trợ thính

có CLCS tốt hơn những trẻ nghe kém không được can thiệp [43]

Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu đánh giá về CLCS liênquan sức khỏe ở trẻ em Việt Nam, nhưng chủ yếu chỉ tập trung ở nhóm trẻ bịbệnh như hen, hội chứng thận hư tiên phát, bệnh tim, ung thư… Các nghiêncứu này chỉ ra rằng một số trẻ tỏ ra bi quan, chán nản vì bệnh tật, vì khôngtheo kịp bạn bè, vì mặc cảm thấy mình là gánh nặng cho gia đình, chất lượngcuộc sống giảm sút [44], [45].Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có một nghiên cứunào tìm hiểu về CLCS ở trẻ khiếm thính được cấy ốc tai điện tử

Trang 20

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhi

- Bệnh nhi được chẩn đoán nghe kém nặng hoặc điếc sâu và được chỉđịnh cấy ốc tai điện tử

- Tuổi: từ 2 tuổi đến 10 tuổi

- Giới: cả bệnh nhi nam và nữ

- Trẻ và/hoặc gia đình đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

- Gia đình trẻ không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Bố, mẹ (người được phỏng vấn) có các rối loại tâm thần, tâm lý

- Trẻ có các bệnh lý ảnh hưởng đến chức năng nhận thức (chậm pháttriển trí tuệ, tâm thần phân liệt, tự kỷ, bại não…), rối loạn cảm xúc hành vi đãđược bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán

- Trẻ có rối loạn về chức năng vận động

- Trẻ đang mắc hội chứng Jervell và Lange – Nielsen, viêm tai giữa cấptính, viên tai ứ dịch và viêm màng não thì sẽ không làm được phẫu thuật cấy

ốc tai điện tử [31]

2.1.3 Cách phân nhóm tuổi

- Nhóm 1: trẻ từ 2 đến 5 tuổi

- Nhóm 2: trẻ từ 6 đến 10 tuổi

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

2.2.1 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2020 đến tháng 6/2022

- Thời gian dự kiến lấy mẫu: từ tháng 1/2020 đến hết tháng 12/2021

- Thời gian dự kiến phân tích số liệu: từ tháng 1/2022 đến 6/2022

Trang 21

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Tai mũi họng – Bệnh viện Nhi trungương Từ năm 2010 đến nay, khoa Tai mũi họng – Bệnh viện Nhi trung ương

đã thực hiện thành công hàng trăm trường hợp cấy ốc tai điện tử cho bệnh nhi

từ 2 đến 5 tuổi Theo báo cáo của khoa Tai mũi họng, bệnh viện Nhi Trungương, năm 2018, khoa đã có 95 ca phẫu thuật cho bệnh nhi cấy ốc tai điện tử

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang tại hai thờiđiểm trước khi cấy ốc tai điện tử và sau khi cấy điện cực ôc tai; phương phápdịch tễ học mô tả để mô tả các số liệu của bộ câu hỏi CLCS và phương phápdịch tễ học phân tích các kết quả của bộ câu hỏi CLCS để đánh giá và đốichiếu CLCS của trẻ trước và sau cấy ốc tai điện tử

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu

Mẫu nghiên cứu được lấy theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện do sốlượng bệnh nhi được chẩn đoán nghe kém nặng hoặc điếc sâu được chỉ địnhcấy ốc tai điện tử không lớn Trong nghiên cứu không sử dụng mẫu chứng

2.3.3 Cỡ mẫu nghiên cứu

n= p1 (100 - p1) + p2 (100 -p2)(p1 – p2)2 x f (α,β))Trong đó:

 p1 là tỷ lệ có CLCS đạt ở nhóm bệnh nhi trước khi cấy ốc tai, 50%

 p2 là tỷ lệ có CLCS đạt ở nhóm bệnh nhi trước khi cấy ốc tai, 70%

 f (α,β)): giá trị tương ứng với mức ý nghĩa và lực cảu test, ở mức ýnghĩa 5%, lực mẫu 80% thì f (α,β))= 7,85

Áp dụng công thức trên, cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên là n=90 bệnh nhi

2.4 Phương tiện nghiên cứu

Trang 22

Bộ câu hỏi trong nghiên cứu được thiết kế để đánh giá chất lượng cuộcsống của trẻ từ 2 đến 10 tuổi trưpớc và sau khi cấy ốc tai điện tử Có 3 loại:

- Bộ câu hỏi đánh giá CLSC của trẻ từ 2 đến 5 tuổi do cha mẹ trẻ báo cáo

- Bộ câu hỏi đánh giá CLSC của trẻ từ 6 đến 10 tuổi do cha mẹ trẻ báo cáo

- Bộ câu hỏi đánh giá CLSC của trẻ từ 6 đến 10 tuổi do trẻ tự báo cáoTrước khi tiến hành nghiên cứu, bộ câu hỏi đánh giá CLCS sẽ được nhànghiên cứu chuẩn hóa và thử nghiệm phỏng vấn trước

2.5 Các biến số trong nghiên cứu:

2.5.1 Đặc điểm của đối tượng trong nghiên cứu:

Đặc điểm xã hội học của trẻ: tuổi, giới, địa dư, tình trạng học tập, trình

- Kết quả đo thính giác: Kết quả đo OAE, ABR, đơn âm, free field

2.5.2 Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe:

Điểm CLCS của trẻ sẽ được đánh giá dựa vào bộ câu hỏi do bố mẹtrẻ báo cáo và bộ câu hỏi do trẻ tự báo cáo (đối với trẻ từ 6 đến 10 tuổi)Điểm CLCS của trẻ do bố mẹ báo cáo sẽ bao gồm 8 khía cạnh:

 Về lĩnh vực Vận động: 6 câu hỏi về kỹ năng thô và 6 câu hỏi

về kỹ năng tinh

 Về lĩnh vực Giao tiếp: 7 câu hỏi

 Về lĩnh vực Cảm xúc: 8 câu hỏi

 Về lĩnh vực Sinh hoạt hàng ngày: 7 câu hỏi

 Về lĩnh vực Xã hội: 7 câu hỏi

 Về lĩnh vực Trường học: 6 câu hỏi

Trang 23

 Về rào cản Điều trị: 6 câu hỏi

 Về ảnh hưởng tới Gia đình: 4 câu hỏi

Điểm CLCS của trẻ do bản thân trẻ báo cáo sẽ bao gồm 7 khía cạnh:

 Về lĩnh vực Vận động: 6 câu hỏi về kỹ năng thô và 6 câu hỏi

về kỹ năng tinh

 Về lĩnh vực Giao tiếp: 7 câu hỏi

 Về lĩnh vực Cảm xúc: 8 câu hỏi

 Về lĩnh vực Sinh hoạt hàng ngày: 7 câu hỏi

 Về lĩnh vực Xã hội: 7 câu hỏi

 Về lĩnh vực Trường học: 6 câu hỏi

 Về rào cản Điều trị: 6 câu hỏi

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

Cách đánh giá CLCS theo thang điểm:

0 điểm: chưa bao giờ gặp khó khăn

1 điểm: hầu như chưa bao giờ gặp khó khăn

2 điểm: thỉnh thoảng gặp khó khăn

3 điểm: thường gặp khó khăn

4 điểm: hầu như thường xuyên gặp khó khăn

2.6.1 Mục tiêu 1

Trước khi trẻ được cấy ốc tai điện tử:

- Với nhóm trẻ từ 2 đến 5 tuổi: Bố hoặc mẹ của trẻ tham gia nghiên cứu

sẽ trực tiếp trả lời các câu hỏi trong bộ câu hỏi đánh giá

- Với nhóm trẻ từ 6 đến 10 tuổi: Bố hoặc mẹ và trẻ sẽ sẽ trực tiếp trả lời các câu hỏi trong bộ câu hỏi đánh giá CLCS

Sau đó, nghiên cứu viên sẽ tính điểm trung bình của từng chỉ số CLCS

Trang 24

+ Điểm trung bình của từng lĩnh vực = Tổng điểm các câu trả lời chia cho tổng số các câu có trong lĩnh vực được đánh giá

+ Tổng điểm (Total score) = Tổng điểm tất cả các lĩnh vực cộng lại trong bộ câu hỏi

2.6.2 Mục tiêu 2

Điểm CLCS sẽ được đánh giá tại 2 thời điểm sau khi trẻ được cấy ốc tai điện tử

- Lần 1: sau 3 tháng từ khi trẻ được cấy ốc tai điện tử

- Lần 2: sau 6 tháng từ khi trẻ được cấy ốc tai điện tử

2.6.3 Mục tiêu 3

Nhà nghiên cứu sẽ so sánh điểm CLCS trước và sau phẫu thuật để tìm ra

sự khác biệt và xác định các yếu tố có liên quan

- So sánh biến định lượng bằng t-student, paired-samples T test, kiểmđịnh Anova…

- Xác định mối liên quan với một số yếu tố (hồi quy logistic)

2.8 Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành với mục đích tìm hiểu thêm về CLCS liênquan đến sức khỏe của trẻ chẩn đoán nghe kém được cấy điện cực ốc tai đểnâng cao chất lượng điều trị và phục hồi cho trẻ sau phẫu thuật

Trang 25

- Thông báo rõ mục đích nghiên cứu với gia đình bệnh nhi và chỉ đưavào danh sách nghiên cứu khi được sự đồng ý của gia đình trẻ

- Các thông tin cá nhân thu được từ bệnh nhi và gia đình chỉ được sửdụng vào mục đích nghiên cứu khoa học Các thông tin này được đảm bảo bímật, chỉ được công bố khi có sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu

- Những kết quả nghiên cứu, ý kiến đề xuất được sử dụng vào mục đíchnâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe trẻ em

- Nghiên cứu được tiến hành sau khi thông qua Hội đồng đạo đức củatrường Đại học Y Hà Nội và được sự cho phép của Ban Giám Đốc bệnh việnNhi Trung ương

Trang 26

SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU

Đánh giá điểm CLCS sau phẫu thuật

Nhóm trẻ từ 6 đến 10 tuổiThu thập thông tin lâm sàng, cận lâm sàng

Bệnh nhi đủ tiêu chuẩn nghiên cứu

Trang 27

Chương 3

DỰ KIẾN KẾT QUẢ

3.1 Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu

3.1.1 Đặc điểm xã hội học của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi của nhóm trẻ mắc nghe kém được cấy ốc tai

Trang 28

Đang tiếp tục đi học

3.1.2 Đặc điểm xã hội học của gia đình trẻ được cấy ốc tai điện tử

Bảng 3.3: Đặc điểm gia đình của nhóm trẻ cấy ốc tai điện tử Đặc điểm gia đình (n =…) SL %

Số anh chị em

01

Trang 29

Bảng 3.4 Đặc điểm nhóm bố me trẻ nghe kém được cấy ốc tai điện tử

Trang 30

3.1.3 Đặc điểm bệnh lý của nhóm đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.5 Đặc điểm bệnh lý của đối tượng nghiên cứu

Tuổi chẩn đoán bệnh (năm) < 2 tuổi

2-5tuổi5-7 tuổi

nghe kém

Có Không

3.2 Chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém trước khi cấy ốc tai điện tử

3.2.1 Chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém từ 2 đến 5 tuổi do bố/mẹ báo cáo

Bảng 3.6: Chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém từ 2 đến 5 tuổi do

Trang 31

3.2.2 CLCS của nhóm trẻ 6-10 tuổi trước khi cấy ốc tai điện tử

Bảng 3.7 Tương quan về điểm CLCS giữa trẻ và bố/mẹ báo cáo ở

nhóm tuổi từ 6-10 tuổi Chất lượng

cuộc sống

Trẻ tự báo cáo (n= …)

Trang 32

3.3 Chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém sau khi cấy điện cực ốc tai

3.3.1 Chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém từ 2 đến 5 tuổi do bố/mẹ báo cáo

Bảng 3.8: Chất lượng cuộc sống của trẻ nghe kém từ 2 đến 5 tuổi do

Trang 33

3.3.2 CLCS của nhóm trẻ 6-10 tuổi sau khi cấy ốc tai điện tử

Bảng 3.9 Tương quan ghép cặp về CLCS giữa trẻ và bố/mẹ đánh giá ở

nhóm tuổi 6-10

Chất lượng

cuộc sống

Trẻ tự báo cáo (n= …)

Trang 34

3.4 Tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố với CLCS ở trẻ nghe kém được cấy ốc tai điện tử

3.4.1 Một số yếu tố liên quan đến CLCS trước và sau khi cấy ốc tai điện tử

3 tháng:

Bảng 3.10 Đối chiếu điểm CLCS (các khía cạnh) do bố/mẹ trẻ nghe kém

được cấy ốc tai điện tử báo cáo sau 3 tháng

CLCS

Trước phẫu thuật

Sau phẫu thuật 3 tháng OR

Bảng 3.11 Đối chiếu điểm CLCS (các khía cạnh) do bố/mẹ trẻ nghe kém

được cấy ốc tai điện tử báo cáo sau 6 tháng CLCS Trước phẫu Sau phẫu OR

Trang 36

Chương 4

DỰ KIẾN BÀN LUẬN

1 Bàn luận về chất lượng sống của trẻ nghe kém trước khi cấy điện cực ốc tai

2 Bàn luận về chất lượng sống của trẻ nghe kém sau khi cấy điện cực ốc tai

3 Bàn luận một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống của trẻ nghe kém

từ 2 đến 10 tuổi sau cấy điện cực ốc tai để nâng cao hiệu quả chăm sóc

và phục hồi cho trẻ

DỰ KIẾN KẾT LUẬN

1 Chất lượng sống của trẻ nghe kém trước khi cấy điện cực ốc tai

2 Chất lượng sống của trẻ nghe kém sau khi cấy điện cực ốc tai

3 Thông tin cần thiết về chất lượng sống của trẻ trước và sau khi cấy điệncực ốc tai để tư vấn cho gia đình của trẻ

DỰ KIẾN KHUYẾN NGHỊ

Theo kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra các khuyến nghị

Trang 37

1 WHO (2019), Deafness and Hearing Loss, WHO Media centre, Geneva,

loss

https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/deafness-and-hearing-2 Mohr PE, Feldman JJ, Dunbar JL (2000), The societal costs of severe toprofound hearing loss in the United States Policy Anal Brief H Ser,2(1): 1-4

3 Theunissen SC, Rieffe C, Netten AP, Briaire JJ, Soede W, Schoones JW,Frijns JH Psychopathology and its risk and protective factors in hearing-impaired children and adolescents: a systematic review JAMAPediatrics 2014; 168(2): 170-177

4 Fellinger J, Holzinger D, Pollard R Mental health of deaf people.Lancet 2012; 379(9820): 1037-1044

5 Stevenson J, McCann D, Watkin P, Worsfold S, Kennedy C Therelationship between language development and behaviour problems inchildren with hearing loss Journal of Child Psychology and Psychiatryand Allied Disciplines 2010; 51(1): 77-83

6 Barton GR, Stacey PC, Fortnum HM, Summerfield AQ impaired children inthe United Kingdom, IV: cost-effectiveness ofpediatric cochlear implantation Ear Hear 2006; 27(5): 575-88

Hearing-7 ASHA (2019), Cochlear Implant, America, truy cập ngày 01tháng 10năm 2019, tại trang web https://www.asha.org/public/hearing/Cochlear-Implant/

Ngày đăng: 05/07/2020, 16:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w