61 Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NỮ SINH VIÊN TRONG PHÒNG NGỪA QUẤY RỐI TÌNH DỤC .... Hiệu quả của các hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh v
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS PHAN MAI HƯƠNG
2 PGS.TS ĐỖ THỊ VÂN ANH
HÀ NỘI, 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi Nội dung cũng như các số liệu trình bày trong luận án hoàn toàn trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Thị Lâm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết 1
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3
4.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3
5.Đóng góp mới về khoa học của luận án 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 5
7 Kết cấu của luận án 6
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.1 Các nghiên cứu về quấy rối tình dục 7
1.2 Các nghiên cứu về công tác xã hội nhóm trong phòng ngừa và can thiệp quấy rối tình dục 27
1.2.1 Các nghiên cứu về CTXH nhóm trong phòng ngừa quấy rối tình dục
27 1.2.2 Các nghiên cứu về công tác xã hội nhóm trong can thiệp, trị liệu quấy rối tình dục 33
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu 34
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NỮ SINH VIÊN TRONG PHÒNG NGỪA QUẤY RỐI TÌNH DỤC
37 2.1 Phòng ngừa quấy rối tình dục 37
2.1.1 Quấy rối tình dục 37
2.1.2 Phòng ngừa 42
2.1.3 Phòng ngừa quấy rối tình dục 43
2.2 Công tác xã hội nhóm 44
2.2.1 Định nghĩa 44
2.2.2 Đặc trưng của công tác xã hội nhóm 45
2.2.3 Các loại hình công tác xã hội nhóm 45
2.3 Nữ sinh viên 47
2.4 Công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục 49
2.4.1 Khái niệm công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục 49
Trang 52.4.2 Nội dung công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa
quấy rối tình dục 50
2.4.3 Tiến trình công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục 51
2.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục
55 2.5 Những luận điểm lý thuyết hỗ trợ công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục 57
2.5.1 Thuyết nhu cầu của Maslow 57
2.5.2 Lý thuyết tương tác biểu trưng 59
2.5.3 Lý thuyết hệ thống 60
2.5.4 Thuyết vai trò 60
2.5.5 Lý thuyết nữ quyền 61
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NỮ SINH VIÊN TRONG PHÒNG NGỪA QUẤY RỐI TÌNH DỤC 64
3.1 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 64
3.2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 65
3.2.1 Tổ chức nghiên cứu 65
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 66
Chương 4: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM TRONG PHÒNG NGỪA QUẤY RỐI TÌNH DỤC CHO NỮ SINH VIÊN ĐÀ NẴNG HIỆN NAY
75 4.1 Nhu cầu của nữ sinh viên với các hoạt động công tác xã hội trong phòng ngừa quấy rối tình dục 75
4.1.1 Nhu cầu về loại hình công tác xã hội trong hỗ trợ phòng ngừa quấy rối tình dục 75
4.1.2 Nhu cầu về kiến thức, kỹ năng được cung cấp nhằm phòng ngừa bị quấy rối tình dục 79
4.1.3 Nhu cầu về địa điểm, thời gian, hình thức tổ chức hoạt động CTXH trong phòng ngừa QRTD cho nữ sinh viên 80
Trang 64.2 Các hoạt động công tác xã hội nhóm trong phòng ngừa quấy rối tình dục cho nữ sinh viên hiện nay 80
Trang 74.2.1 Các loại hình hoạt động công tác xã hội nhóm trong phòng ngừa quấy rốitình dục 804.2.2 Hiệu quả của các hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục 91
Chương 5: THỬ NGHIỆM HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NỮ SINH VIÊN TRONG PHÒNG NGỪA QUẤY RỐI TÌNH DỤC
116
5.1 Cơ sở đề xuất hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục 116 5.2 Đề xuất hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục 117
5.2.1 Mục tiêu hoạt động 1175.2.2 Nội dung hoạt động 1175.2.3 Tiến trình thực hiện hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa QRTD 1195.2.4 Điều kiện thực hiện hoạt động 1265.2.5 Đánh giá hoạt động 127
5.3 Kết quả thử nghiệm hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục
127
5.3.1 Đánh giá kết quả thử nghiệm hoạt động CTXH nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa QRTD 1275.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động công tác xã hội với nhóm trong phòng ngừa quấy rối tình dục 143
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 150 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CÓ LIÊN QUAN 155 TÀI LIỆU THAM KHẢO 156 PHỤ LỤC 165
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Viết đầy đủ
SV : Sinh viên
UN Women : United Nations Entity for Gender Equality and
the Empowerment of Women
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Nhu cầu của nữ sinh viên với các loại hình CTXH trong hỗ trợ phòng ngừa QRTD (N = 618) 75Bảng 4.2: Nhu cầu về kiến thức và kỹ năng được cung cấp nhằm phòng ngừa bịquấy rối tình dục (N=618) 79Bảng 4.3: Nhu cầu về địa điểm, thời gian, hình thức tổ chức hoạt động CTXH trong phòng ngừa QRTD cho nữ sinh viên (N=618) 80
Bảng 4.4: Mức độ đáp ứng của các loại hình công tác xã hội trong phòng ngừa quấyrối tình dục so với nhu cầu của nữ SV (N=170) 90Bảng 4.5: So sánh khả năng nhận diện biểu hiện quấy rối tình dục giữa nhóm có tham gia và không tham gia các loại hình CTXH nhóm 92
Bảng 4.6: So sánh hiểu biết về hậu quả của QRTD giữa nhóm nữ SV có tham gia và không tham gia các loại hình CTXH nhóm trong phòng ngừa QRTD 96
Bảng 4.7: Khả năng nhận diện các tình huống có nguy cơ bị QRTD giữa nhóm có tham gia và không tham gia các loại hình CTXH nhóm 97
Bảng 4.8: So sánh khả năng nhận diện khu vực, địa điểm có nguy cơ QRTD giữa nhóm có tham gia và không tham gia các loại hình CTXH nhóm 99
Bảng 4.9: So sánh khả năng nhận diện đối tượng có nguy cơ gây ra QRTD giữa nhóm có tham gia và không tham gia các loại hình CTXH nhóm 100
Bảng 4.10: So sánh ứng phó với QRTD của nhóm nữ sinh viên có sử dụng và nhóm không sử dụng các loại hình CTXH nhóm 101
Bảng 4.11: So sánh số lượng cách ứng phó được sử dụng với quấy rối tình dục của nữsinh viên nhóm có tham gia và nhóm không tham gia các loại hình công tác xãhội nhóm 103
Trang 10Bảng 5.1: Kế hoạch hoạt động theo tiến trình 4 giai đoạn 121
Bảng 5.2: Điểm kiểm tra kiến thức những vấn đề chung về quấy rối tình dục củasinh viên trước và sau tác động 129Bảng 5.3: Tự đánh giá mức độ hiểu biết về kỹ năng nhận diện nguy cơ bị quấyrối tình dục 130Bảng 5.4: Điểm kiểm tra kiến thức những vấn đề chung về kỹ năng nhận diện nguy
cơ bị QRTD của sinh viên trước và sau tác động 130
Trang 11Bảng 5.5: Đánh giá về mức độ thực hiện kỹ năng giáo dục kỹ năng nhận diện nguy
cơ bị quấy rối tình dục 131Bảng 5.6: Tự đánh giá mức độ hiểu biết về kỹ năng kiểm soát cảm xúc của bản thân 132
Bảng 5.7: Đánh giá mức độ thực hiện giáo dục kỹ năng kiểm soát cảm xúc 133
Bảng 5.8: Tự đánh giá về mức độ hiểu biết về kỹ năng tự vệ 134
Bảng 5.9: Đánh giá mức độ thực hiện các hoạt động giáo dục kỹ năng tự vệ 135
Bảng 5.10: Điểm kiểm tra kiến thức về kỹ năng tự vệ trước và sau tác động 136
Bảng 5.11: Tự đánh giá về kỹ năng tìm kiếm sự trợ giúp của bản thân 136
Bảng 5.12: Điểm kiểm tra kiến thức về kỹ năng tìm kiếm sự trợ giúp trước và sautác động 137Bảng 5.13: Đánh giá mức độ thực hiện giáo dục kỹ năng tìm kiếm sự trợ giúp 137
Bảng 5.14: Tự đánh giá về mức độ hiểu biết về kỹ năng tuyên truyền và hỗ trợphòng ngừa QRTD của nhóm viên trước và sau tập huấn 138
Trang 12DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 1: Các trải nghiệm bị/ chứng kiến quấy rối tình
dục 77Hộp 2: Kỹ năng ứng phó với tình huống quấy rối tình dục của nữ sinh viên
106Hộp 3: Các giai đoạn thử nghiệm hoạt động công tác xã hội nhóm
125
Trang 13Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và là nước tham gia ký đầu tiên ở Châu
Á về Công ước quốc tế về quyền tr em từ năm 1990, ban hành luật bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục tr em từ năm 2004, Quyết định phê duyệt chương trình quốc gia bảo vệ
tr em giai đoạn 2011 – 2015 của Thủ tướng Chính phủ và ban hành nhiều văn bản,quy định hướng dẫn và thực hiện các hoạt động chăm sóc và giáo dục tr em.Tuyvậy, Phụ nữ và tr em gái Việt nam vẫn rất dễ bị tổn thương trước những thành thứchàng ngày do bạo lực, sự phân biệt đối xử và tình trạng thiếu các cơ hội kinh tế gây
ra Trong đó đặc biệt lo ngại việc phụ nữ và tr em gái phải chịu mức độ bạo lực vàquấy rối tình dục cao ở nơi công cộng và nơi làm việc Theo số liệu thống kê củaUNIFEM (nay là UN Women) trong khảo sát tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh: 87%phụ nữ và tr gái đã từng bị quấy rối tình dục nơi cộng cộng và nơi làm việc Có tới89% nam giới và những người chứng kiến đã thấy các hành vi này Đáng lưu ý làphần lớn người bị hại khi phải đối mặt với tình huống bị quấy rối tình dục hoàn toàn
bị động và những người chứng kiến hoàn toàn thờ ơ - 66% phụ nữ và tr em gái đượcphỏng vấn không có bất kỳ hành động phản ứng nào và 65% nam giới và ngườichứng kiến không hề có các hành động can thiệp Điều này không chỉ đồng nghĩa vớiviệc những k thủ phạm vẫn đang tự do ngoài vòng công lý mà nghiêm trọng hơn,bạo lực đối với phụ nữ và tr em gái đã trở thành một vấn đề bình thường và được
“chấp nhận” bởi đại bộ phận xã hội.[35].
Ngành và nghề công tác xã hội (CTXH) tuy mới ra đời nhưng đã chứng tỏđược tầm quan trọng, ảnh hưởng và đóng góp của mình với xã hội thông qua nhữngphương pháp tác nghiệp đặc thù Sau khi Đề án 32 về phát triển nghề công tác xã hộicủa Chính phủ ra đời năm 2010 ngành công tác xã hội đã được triển khai rộng rãitrong giáo dục và thực tiễn Mới đây nhất, ngày 25/01/2017 Bộ Giáo dục và Đào tạoban hành quyết định số 327 về Kế hoạch phát triển nghề Công tác xã hội trong ngànhGiáo dục giai đoạn 2017 – 2020 càng khẳng định ưu thế của nghề Công tác xã hộitrong việc giải quyết các vấn đề của trường học nói chung, vấn đề phòng ngừa quấyrối tình dục nói riêng Nếu ứng dụng CTXH trong đó có CTXH nhóm theo hướngchuyên nghiệp vào việc phòng ngừa QRTD cho học sinh, sinh viên là hướng tiếp cận
Trang 14mới ở Việt Nam hiện nay CTXH nhóm sẽ giúp các em nâng cao kiến thức và kỹ năng
từ đó phòng ngừa có hiệu quả hành vi QRTD [98]
Sinh viên (SV) là một trong những đối tượng có nguy cơ bị quấy rối tình dụccao, bởi đa phần các em là những người tr sống xa gia đình, nhà trọ không đủ antoàn, thường đi làm thêm và tham gia các phương tiện công cộng Sinh viên có trảinghiệm thực tế về vấn đề này cũng không nhỏ, khảo sát 66 sinh viên tại Đà Nẵng chothấy có 39,3% sinh viên nói rằng mình đã từng chứng kiến, nhìn thấy người khác bịquấy rối tình dục nơi công cộng, 21,3% những bạn khác cho biết đã từng bị quấy rốitình dục Các hình thức, hành vi quấy rối tình dục thường thấy bao gồm: liếc mắt đưatình, bị huýt sáo, trêu ghẹo, bình phẩm thô tục về hình thức bề ngoài, nhìn chằm chằmvào một bộ phận cơ thể, tán tỉnh, quấy rối bằng email, tin nhắn, gợi ý ép quan hệ tìnhdục để được thăng chức, giữ công việc, bị người khác phô bày bộ phận sinh dục, bị
cưỡng hiếp,… Đặc biệt có tới 88,5% số khách thể khảo sát chọn phương án “bị sờ
mó, đụng chạm một cách cố ý vào các bộ phận trên cơ thể ” (Nguồn: Số liệu khảo sát
tháng 4/2016).[14] Nếu được trang bị những kiến thức, kỹ năng về phòng ngừa vàcan thiệp quấy rối tình dục, không những giúp chính sinh viên tự bảo vệ bản thânmình mà còn phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp sau này của các em Thông qua việctích hợp trong giảng dạy, lồng ghép và vận dụng trong công tác chủ nhiệm lớp hoặc tổchức hoạt động ngoại khóa cho học sinh từ mầm non đến trung học phổ thông, cácthầy cô giáo, các nhân viên công tác xã hội, các chuyên gia tâm lý tương lai sẽ lànhững cá nhân/ nhóm nòng cốt trợ giúp cho học sinh, tr em và cộng đồng phòngngừa và ứng phó với vấn nạn quấy rối tình dục
Dựa vào dữ liệu của các khảo sát trong thời gian vừa qua cũng như thực tiễn xãhội hiện nay với hàng loạt sự việc quấy rối, xâm hại, bạo lực nghiêm trọng xảy ra trên
cả nước; Căn cứ vào vai trò và sứ mệnh của nghề, ngành công tác xã hội và đặc điểmtâm – sinh – xã của sinh viên khiến cho sinh viên trở thành một trong những đối
tượng có nguy cơ bị quấy rối tình dục cao; Cho thấy việc lựa chọn đề tài “Công tác xã
hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục” là việc làm cần
thiết, có ý nghĩa cả về lí luận, thực tiễn và là cách tiếp cận mới hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng CTXH nhóm đối với nữ sinh viêntrong phòng ngừa QRTD, luận án đề xuất và thử nghiệm hoạt động công tác xã hộinhóm nhằm hình thành và củng cố năng lực phòng ngừa quấy rối tình dục cho nữ sinhviên
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án tập trung làm sáng tỏ các nhiệm vụ cơ bản sau:
Trang 15- Tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan vấn đề phòng
ngừaQRTD;
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về CTXH nhóm đối với nữ sinh viên trong phòngngừa QRTD;
- Đánh giá nhu cầu tham gia hoạt động CTXH nhằm nâng cao kiến thức và kỹnăng phòng ngừa QRTD của sinh viên;
- Đánh giá thực trạng hoạt động công tác xã hội với nhóm trong phòng ngừaQRTD cho sinh viên hiện nay từ đó làm rõ vai trò của công tác xã hội nhóm tronghình thành kiến thức và kỹ năng phòng ngừa QRTD cho nữ sinh viên;
- Đề xuất và thử nghiệm hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viêntrong phòng ngừa QRTD
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấyrối tình dục
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu được giới hạn trong việc xây dựng và thử nghiệm hoạtđộng CTXH nhóm dành cho nữ sinh viên trong phòng ngừa QRTD Nội dung hoạtđộng được xây dựng dựa trên những thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng phòng ngừaQRTD hiện tại của nhóm mẫu nữ sinh viên cũng như nhu cầu của họ (tức là một số cácyếu tố thuộc cá nhân con người) mà không tính đến các yếu tố môi trường xã hội bênngoài
3.2.2 Khách thể nghiên cứu
- Nữ sinh viên đang học tập tại các trường đại học tại Thành phố Đà Nẵng;
- Cán bộ quản lý và nhân viên xã hội tại các trung tâm, cơ sở tại Thành phố ĐàNẵng có cung cấp các loại hình hoạt động CTXH trong phòng ngừa QRTD cho nữsinh viên hiện nay;
- Cán bộ quản lý, giảng viên tại các trường đại học tại Thành phố Đà Nẵng
3.2.3 Thời gian nghiên cứu
Luận án được tiến hành từ tháng 4/2016 đến tháng 7/2019
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc các lý thuyết hỗ trợ lýgiải hành vi con người trong môi trường xã hội; Xem xét vấn đề quấy rối tình dục vàphòng ngừa quấy rối tình dục đặt trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, tâm lý của người
Trang 16Việt Nam trong ứng xử với các vấn đề liên quan đến tình dục, giới và giới tính Đặcbiệt tiếp cận dựa trên một trong ba phương pháp can thiệp chính của công tác xã hội
Trang 17là phương pháp CTXH nhóm, thông qua tương tác nhóm nhằm nâng cao năng lực phòng ngừa QRTD của nữ sinh viên.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu
Trên cơ sở phân tích, tổng hợp, khái quát hoá các tài liệu, nghiên cứu đã có vềvấn đề công tác xã hội đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục làm cơ
sở xây dựng khung lí thuyết của đề tài, định hướng cho triển khai nghiên cứu thực tiễn
4.2.2 Phương pháp chuyên gia
Được sử dụng trong đề tài này như là một trong những phương pháp chủ yếunhằm thu thập các ý kiến của những người có kinh nghiệm, có kiến thức chuyên sâutrong lĩnh vực nghiên cứu phòng ngừa quấy rối tình dục và về các nội dung nghiêncứu của đề tài bởi đây là một đề tài mang tính liên ngành
4.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trong điều tra/ đánh giá định lượng, phiếu trưng cầu ý kiến sẽ được thiết kếnhằm tìm hiểu (i) Thực trạng kiến thức và kỹ năng của nữ sinh viên trong phòngngừa quấy rối tình dục; (ii) Thực trạng nhu cầu của nữ sinh viên trong phòng ngừaQRTD; ii) Thực trạng các hoạt động công tác xã hội với nhóm trong phòng ngừaQRTD nữ sinh viên hiện nay Từ đó tạo cơ sở để đề xuất hoạt động CTXH nhóm đốivới nữ sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục
4.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Nhằm tìm hiểu, thu thập những thông tin bổ sung để làm rõ hơn các nội dung,các vấn đề được phát hiện qua các phương pháp khác, tìm hiểu giải pháp nâng caohiệu quả hoạt động phòng ngừa QRTD nữ sinh viên Nội dung phỏng vấn góp phầnlàm rõ thực trạng các hoạt động nào giúp nữ sinh phòng ngừa với QRTD tại đơn vịhiện nay; Biện pháp đề xuất giúp hoạt động phòng ngừa QRTD cho nữ sinh hiệu quả
4.2.5 Phương pháp quan sát
Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu, thông quaviệc quan sát những hành động, hành vi ứng xử và thái độ khi tham gia sinh hoạtnhóm của nhóm viên giúp người tổ chức có thể đánh giá được kỹ năng của nhóm viên
và đặc điểm tương tác nhóm, bầu không khí nhóm từ đó có những biện pháp hỗ trợthích hợp, cung cấp dữ liệu để xây dựng kế hoạch sinh hoạt nhóm phù hợp hơn Đâycũng là phương pháp giúp nhà nghiên cứu lượng giá lại mục tiêu hoạt động đã đề ra,cũng như sự tiến bộ của các nhóm viên
4.2.6 Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm được tiến hành nhằm xem xét tính khả thi của hoạt động CTXHnhóm trong hình thành kiến thức và kỹ năng phòng ngừa QRTD cho nữ sinh viên
Trang 18được đề xuất Đánh giá hiệu quả và xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả khi triển khai hoạt động trong thực tiễn.
4.2.7 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Mục đích sử dụng để xử lí, phân tích, đánh giá định lượng và định tính các kếtquả nghiên cứu, đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan trong sai số cho phép, phầnmềm được dùng là SPSS 22.0
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, trong bối cảnh phòng ngừa quấy rối tình dục và CTXH trong phòng
ngừa quấy rối tình dục là vấn đề nghiên cứu còn nhiều mới m ở Việt Nam, luận án
đã thực hiện tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tình hìnhnghiên cứu, phân tích, hệ thống những đóng góp của các nghiên cứu đã có và chỉ rakhoảng trống cần tăng cường
Thứ hai, luận án làm sáng tỏ được lý luận về công tác xã hội nhóm đối với nữ
sinh viên trong phòng ngừa quấy rối tình dục như các khái niệm, nội dung, tiến trìnhcông tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa QRTD cũng như cácyếu tố ảnh hưởng đến CTXH nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa QRTD.Thứ ba, kết quả luận án góp phần phản ánh thực trạng và hiệu quả hoạt độngCTXH trong phòng ngừa QRTD cho nữ SV hiện nay Phát hiện rằng năng lực phòngngừa QRTD của nữ sinh viên còn nhiều hạn chế, chỉ ra những khác biệt trong nănglực phòng ngừa của nữ sinh viên có và không có trải nghiệm với quấy rối tình dục;mặc dù đã có những hoạt động CTXH nhóm trong phòng ngừa QRTD nhất địnhnhưng nhìn chung chưa mang đầy đủ đặc điểm và bản chất của phương pháp công tác
xã hội nhóm
Thứ tư, hoạt động CTXH nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa QRTD
được đề xuất có nội dung và hình thức thực hiện phù hợp với trình độ hiểu biết củasinh viên, thể hiện sự vận dụng phương pháp, tiến trình CTXH nhóm trong nâng caonăng lực tự bảo vệ bản thân với QRTD Thử nghiệm và đánh giá hiệu quả của hoạtđộng cũng như làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thực hiện hoạtđộng trong thực tiễn đã cho thấy nếu hoạt động công tác xã hội nhóm được tổ chứcđúng qui trình thì có thể góp phần hình thành và củng cố kiến thức, kỹ năng phòngngừa QRTD cho nữ sinh viên Cách làm này không chỉ giúp nữ SV bảo vệ bản thân
mà còn góp phần phát huy chuyên môn được đào tạo của họ
Thứ năm, luận án góp phần cung cấp tài liệu tham khảo về CTXH trong bối
cảnh đây là một ngành, nghề còn non tr ở Việt Nam; Đồng thời đó cũng là sự chungtay hướng đến xây dựng cộng đồng an toàn, không bạo lực với phụ nữ và tr em gái
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Trang 196.1 Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần hệ thống hoá, khái quát hoá một cách
khoa học, tường minh lý luận về phòng ngừa quấy rối tình dục, CTXH với nhómtrong
Trang 20phòng ngừa QRTD, những biểu hiện của quấy rối tình dục nữ sinh viên; Nội dung,hình thức cũng như cách tiếp cận trong công tác xã hội với nhóm nhằm phòng ngừaQRTD nữ sinh viên Đề xuất hoạt động CTXH với nhóm trong giáo dục phòng ngừaQRTD nữ sinh viên có tính đồng bộ, hệ thống, khoa học, phù hợp với mức độ nhậnthức của nữ sinh viên.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn: Luận án phản ánh thực trạng các hoạt động CTXH
với nhóm trong phòng ngừa QRTD nữ SV hiện nay Qua đó cho thấy các hoạtđộng CTXH trong phòng ngừa QRTD nữ sinh hiện thiên về can thiệp, khắc phụchậu quả hơn là phòng ngừa để không xảy ra hoặc lặp lại, hình thức chủ yếu làlàm việc cá nhân, các hoạt động CTXH nhóm được tổ chức nhưng chưa đúng vớibản chất và qui trình của phương pháp CTXH với nhóm Thực trạng hiểu biếtcủa nữ SV về QRTD vẫn còn chưa đầy đủ, chính xác và kỹ năng phòng ngừaquấy rối tình dục thì còn nhiều hạn chế, sinh viên có trải nghiệm hoặc không cótrải nghiệm với QRTD, có tham gia hoặc không có tham gia các loại hình CTXHtrong phòng ngừa QRTD thì đều có những ứng phó chưa thật sự hiệu quả với cáctình huống bị QRTD Thực tế đó cho thấy hoạt động phòng ngừa QRTD mà luận
án đang tiếp cận (gồm 3 cấp độ) là hợp lý; việc xây dựng hoạt động CTXH nhómđối với nữ SV trong phòng ngừa QRTD là cấp thiết
Luận án góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu và tài liệu tham khảo cho cáclĩnh vực chính sách công, công tác xã hội, tâm lý và giáo dục học, phục vụ trongnghiên cứu và đào tạo liên quan đến công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ nữ sinhviên; Là tài liệu hữu ích trong giảng dạy các học phần liên quan đến giới, bình đẳnggiới, công tác xã hội với phụ nữ yếu thế
Những kết quả của luận án hướng đến góp phần xây dựng cộng đồng an toàn,thân thiện và văn minh
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết cấugồm 5 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 Những vấn đề lý luận về công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viêntrong phòng ngừa quấy rối tình dục
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu về công tác xã hội nhóm đối với nữ sinhviên trong phòng ngừa quấy rối tình dục
Chương 4: Thực trạng công tác xã hội nhóm trong phòng ngừa quấy rối tìnhdục cho nữ sinh viên Đà Nẵng hiện nay
Chương 5: Thử nghiệm hoạt động công tác xã hội nhóm đối với nữ sinh viêntrong phòng ngừa quấy rối tình dục
Trang 21Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Để góp phần tổng quan các nghiên cứu liên quan đến vấn đề quấy rối tình dục(QRTD) và CTXH nhóm đối với nữ sinh viên trong phòng ngừa QRTD một cách hệthống và toàn diện, sâu sắc, luận án đã tiến hành tổng hợp phân tích các nghiên cứu đã
có, chọn lọc và kế thừa những kết quả của nhiều công trình trong và nước ngoài, đồngthời tiếp tục làm rõ những nhiệm vụ đặt ra về lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu.Tổng quan tài liệu cung cấp một cái nhìn phổ quát vấn đề nghiên cứu, từ khái niệmquấy rối tình dục, nguyên nhân, thủ phạm, CTXH nhóm trong phòng ngừa QRTD
1.1 Các nghiên cứu về quấy rối tình dục
Trên thế giới: Các nghiên cứu về quấy rối tình dục cho thấy những góc nhìn khác nhau trong định nghĩa về quấy rối tình dục và dù được tiếp cận từ rất sớm đặc biệt là Mỹ và Tây Âu nhưng trong định nghĩa về quấy rối tình dục vẫn còn nhiều tranh cãi, khó thống nhất.
Thuật ngữ "quấy rối tình dục" xuất hiện từ Bắc Mỹ vào giữa những năm 1970
trong công trình của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau [58], [63] Việc xác địnhnguyên nhân của quấy rối tình dục là vấn đề mà những nghiên cứu ban đầu này hướngđến Như với nhiều thuật ngữ, việc đưa ra một định nghĩa có tính phổ quát duy nhất làđiều rất khó khăn, khó có thế phân định ranh giới giữa quấy rối tình dục và các biểuhiện tình dục khác Các mối quan hệ tình dục tại nơi làm việc không phải lúc nàocũng phù hợp, nhưng cũng không phải lúc nào cũng là quấy rối tình dục và gây hại.[89] Thực tế, một số người cho rằng tán tỉnh, đùa giỡn, và thậm chí là khiêu dâmtrong công việc có thể là thú vị, vì nó có thể giúp làm cho không khí tại nơi làm việcbớt căng thẳng [63], [81], [92]
Một vấn đề khác cũng được đề cập trong định nghĩa về quấy rối tình dục gâynhiều tranh cãi đó là phạm vi ảnh hưởng của quấy rối tình dục chỉ tác động tiêu cựcđến những nạn nhân hay cả những người xung quanh và những đồng nghiệp Trongmột số nghiên cứu ở Mỹ cho rằng quấy rối tình dục không chỉ ảnh hưởng đến nhữngngười mà nó hướng tới (người gây ra và người bị) mà còn tạo ra một môi trường làmviệc thù địch ảnh hưởng đến nhiều người khác [41], [53], [84]
Quấy rối tình dục đã trở thành một trong những lĩnh vực thu hút nhiều quantâm của xã hội nhưng cũng dễ bị hiểu nhầm nhất trong luật Trong một nghiên cứu,Schultz (1998) cho rằng Luật pháp và dư luận xã hội đang có một quan niệm quá hẹp
về môi trường làm việc thù địch và quấy rối hoặc lạm dụng tình dục tại nơi làm việc;sách nhiễu tình dục tại nơi làm việc đang được tiếp cận ở góc độ các vấn đề về giớinhưng lại không có nội dung đề cập đến tình dục
Trang 22Nhìn chung dường như có những tranh cãi khi đưa ra định nghĩa về quấy rốitình dục, trong bài viết tổng quan về quấy rối tình dục của Afroditi Pina và cộng sự(2009), nhận định rằng dường như chưa có sự thống nhất khi đưa ra định nghĩa vềquấy rối tình dục, và các nội dung then chốt đang xoay quanh ba vấn đề chính (i) dấuhiệu cụ thể của quấy rối tình dục (ví dụ: những hành vi phi ngôn ngữ có phải là quấyrối tình dục) (ii) liệu chỉ có những nạn nhân mới bị những ảnh hưởng tiêu cực từ quấyrối tình dục, (iii) liệu rằng phân biệt đối xử nam nữ hiện hữu như là một cách thức củahành vi quấy rối tình dục [39].
Ở Mỹ, trong quy định của pháp luật, quấy rối tình dục là một hình thức phânbiệt đối xử về giới tính bao gồm: "Những theo đuổi tình dục không mong muốn, yêucầu quan hệ tình dục, và những hành vi thể chất và phi ngôn ngữ khác mang tính chấttình dục " Hơn nữa, hành vi đó "rõ ràng hoặc ngầm tác động tới việc làm của một cánhân, gây trở ngại bất hợp lý đến việc thực hiện công việc của một cá nhân, hoặc tạo ramột môi trường làm việc hăm dọa, thù địch hoặc xúc phạm "(EEOC, tháng 3, 2008).[54]
Theo Ủy ban Cơ hội Việc làm ình đẳng của Hoa Kỳ (Tháng 3 năm 2008),quấy rối tình dục là hành vi vi phạm Điều VII của Đạo luật Quyền Công dân năm
1964 và Đạo luật về Quyền Công dân năm 1991 sửa đổi một số điều của Đạo luật
1964, mục VII "cấm phân biệt nghề nghiệp dựa trên chủng tộc, màu da, tôn giáo, giớitính và nguồn gốc quốc gia" (EEOC, tháng 3, 2008) Quấy rối tình dục có thể xảy ratrong nhiều trường hợp khác nhau và có thể bao gồm nhưng không giới hạn ở cáchành vi sau đây: a) nạn nhân cũng như thủ phạm quấy rối có thể là phụ nữ hoặc đànông Nạn nhân không phải là người khác giới, b) người quấy rối có thể là người giámsát của nạn nhân, người sử dụng lao động, người giám sát ở một khu vực khác, đồngnghiệp, hoặc không phải là nhân viên, c) quấy rối tình dục (bất hợp pháp) có thể xảy
ra mà không gây ra thiệt hại về kinh tế của nạn nhân, e) hành vi quấy rối của người
đó không được hoan nghênh (EEOC, tháng 3, 2008) Nếu bất kỳ hành vi nói trên xảy
ra, thì có trường hợp quấy rối tình dục theo luật pháp Hoa Kỳ (EEOC, 2008) [54].Tòa án tối cao Hoa Kỳ về bản chất đưa ra các quyết định về việc quấy rối tình dụcsau đó được giải thích và áp dụng khi cần thiết bởi các bang riêng l của Hoa Kỳ.[75]
Ở Anh, cho đến tháng 10 năm 2005, luật pháp Anh vẫn chưa đưa ra một quiđịnh cụ thể nào về quấy rối tình dục, mặc dù quấy rối tình dục đã được đề cập trongmột số đoạn của Đạo luật Phân biệt Giới tính (SDA, 1975) dưới sự phân biệt bất hợppháp trên cơ sở tình dục Sự thay đổi trong Chỉ thị Điều trị công bằng, 2002/73/EEC(luật Lao động Châu Âu), được đưa ra vào ngày 23 tháng 9 năm 2002, đã yêu cầu các
Trang 23Quốc gia thành viên quy định cụ thể vấn đề quấy rối tình dục Do đó, việc đưa ra Đạoluật Phân biệt Kỳ thị năm 1975 phần 4A được thiết kế để thực hiện chỉ thị, trong đó
Trang 24đưa ra một định nghĩa cụ thể về quấy rối tình dục trong Chỉ thị 76/207/ EEC (LuậtViệc làm Anh, 2007) Đạo Luật phân biệt kỳ thị năm 1975 (Sửa đổi) (2008) có hiệulực vào ngày 6 tháng 4 năm 2008, đề cập: 1) một người được xem là đối tượng quấyrối tình dục phụ nữ nếu:
(a) Người đó liên quan đến hành vi tình dục không mong muốn, dẫn đến (i) viphạm phẩm giá của phụ nữ hoặc (ii) tạo ra một môi trường đe doạ, thù địch, hạ thấp,làm nhục hoặc gây khó chịu cho người phụ nữ
(b) Người đó tham gia vào bất kỳ dạng hành vi có tính chất tình dục khôngmong muốn, bằng miệng, phi ngôn ngữ hoặc thể chất nào một cách có mục đích (i) viphạm phẩm giá của người phụ nữ hoặc (ii) tạo ra sự hăm dọa, thù địch, hạ nhục, hoặctạo môi trường gây khó chịu, hoặc (c) trên cơ sở từ chối hoặc không tuân theo nhữnghành vi không mong muốn được đề cập ở các điểm (a) hoặc (b), anh ta đối xử với cô
ấy kém thiện chí hơn nếu cô ấy từ chối 2) Hành vi sẽ được coi là có hiệu lực được đềcập trong tiểu đoạn (i) hoặc (ii) của tiểu mục (1) (a) hoặc (b) chỉ khi, có tính đến tất
cả các hoàn cảnh, bao gồm đặc biệt là nhận thức về Người phụ nữ, cần được coi là cóhiệu quả "(Ủy ban ình đẳng và Nhân quyền, tháng 10, 2008) Phần 4A (5) cũng làm
rõ rằng định nghĩa cũng được áp dụng, "với những sửa đổi như được yêu cầu, để quấyrối người đàn ông" (Ủy ban ình đẳng và Nhân quyền, Tháng Mười, 2008) hoặc (ii)tạo ra sự hăm dọa, thù địch, hạ nhục, Hoặc môi trường gây khó chịu cho cô ấy, hoặc(c) trên cơ sở từ chối hoặc không tuân theo những hành vi không mong muốn được đềcập ở các điểm (a) hoặc (b), anh ta đối xử với cô ấy kém thuận lợi hơn anh ta nếu cô
ấy không từ chối , Hoặc trình bày, hành vi 2) Hành vi sẽ được coi là có hiệu lực được
đề cập trong tiểu đoạn (i) hoặc (ii) của tiểu mục (1) (a) hoặc (b) chỉ khi, có tính đếntất cả các hoàn cảnh, bao gồm đặc biệt là nhận thức về Người phụ nữ, cần được coi là
có hiệu quả "(Ủy ban Bình đẳng và Nhân quyền (EEOC), tháng 10, 2008) [54]
Quấy rối tình dục ảnh hưởng đến nhiều người, chiếm tỷ lệ phần trăm lớn nhất
so với các hình thức kỳ thị khác (Bargh, Raymond, Pryor, & Strack, 1995),Spitzberg, .H (1999) đã xem xét 120 nghiên cứu liên quan đến hơn 100.000 ngườitham gia, kết quả tỷ lệ thống kê và thấy rằng, trên thực tế, hành vi quấy rối tình dục
và cưỡng ép thường phổ biến hơn so với các hình thức xâm phạm tình dục mạnh mẽnhất [42], [94] Mặc dù không phải lúc nào quấy rối tình dục cũng là một hành độngthường xuyên gây ra bởi nam giới với phụ nữ (Bargh, 1995).[42] Tại Hoa Kỳ, cuộcđiều tra thống kê gần đây nhất được tiến hành bởi Ủy ban Bảo vệ Hệ thống Merit Hoa
Kỳ (USMSPB, 1995) khảo sát nhân viên trong chính phủ liên bang Cuộc khảo sátnày là sự tiếp nối của hai cuộc điều tra trước của USMSPB (1981, 1988) [91], [92].Những phát hiện của họ cho thấy hầu hết tất cả (93%) trong số 44% phụ nữ cho biếtthủ phạm quấy rối tình dục là nam giới Tuy nhiên, 65% trong số 19% nam giới cho
Trang 25biết thủ phạm của những hành vi quấy rối tình dục là phụ nữ Thêm vào đó, nhận thức
về các hành vi gây quấy rối tình dục dường như đã tăng lên trong khoảng thời giangiữa năm 1980 và năm 1994, đặc biệt là tỷ lệ hình thức nam giới thực hiện trêu đùa
có yếu tố tình dục không mong muốn và nhận xét gợi dục tăng từ 42% lên 64% Như
đã lưu ý trong cả hai cuộc điều tra trước đó, các hành vi quấy rối tình dục ít nghiêmtrọng hơn, như nhận xét tình dục/ trêu đùa (37%) và cử chỉ, cách nhìn gợi dục (29%)
là những hành vi phổ biến nhất, trong khi các hành vi nghiêm trọng nhất như tấn công
và cố gắng hãm hiếp ở mức 4% đối với nữ và 2% đối với nam giới Điều thú vị là thủphạm quấy rối tình dục chủ yếu là đồng nghiệp và các nhân viên khác (77%), hơn lànhững người có vị trí cao hơn hoặc giám sát cấp cao (28%) (USMSPB, 1995) [92]
Trong Liên minh châu Âu (EU), cuộc điều tra thống kê lớn nhất được tiếnhành vào năm 1998 bởi Ủy ban châu Âu, trong đó bao gồm hai bản tóm tắt chính củanghiên cứu được tiến hành từ năm 1987 đến năm 1997, một bản tập trung vào mườimột nước Bắc Âu (Timmerman & Bajema, 1998) và bản thứ hai tập trung năm nướcmiền nam Châu Âu (Alemany, 1998) (dẫn theo Afroditi,2009).[39] Bản tóm tắt củanghiên cứu tại 11 nước Bắc Âu cho thấy rằng "khoảng 2-3 phụ nữ thì có một phụ nữ
có trải nghiệm với vấn đề này, và một trong mười người đàn ông đã trải qua một sốhình thức quấy rối tình dục hoặc hành vi tình dục không mong muốn"(EuropeanCommission, tr.14).[56] Tuy nhiên, có sự khác nhau về mức độ tỷ lệ quấy rối tìnhdục được báo cáo trong các nghiên cứu, sự khác nhau này xuất phát từ cơ sở địnhnghĩa được sử dụng trong nghiên cứu, các loại câu hỏi cụ thể, kiểu mẫu và kíchthước, và nghiên cứu đó được tiến hành trên toàn quốc hoặc trong ngành đặc thù.[67]
Các nghiên cứu cũng tập trung làm rõ thực trạng trải nghiệm của nạn nhân với các hình thức quấy rối tình dục Thống kê cho thấy rằng các hình thức quấy rối tình
dục bằng lời nói và đặc biệt là "trêu ghẹo có yếu tố tình dục" là những biểu hiện quấy
rối tình dục thường xuyên nhất Sáu trong số các nghiên cứu quốc gia bao gồm báocáo Ủy ban châu Âu, cho thấy tỷ lệ là trung bình khoảng 60% các loại QRTD bằng lời
nói, tiếp theo là "nhận xét về cơ thể và hành vi mang tính gợi dục" Hình thức quấy rối tình dục không lời như "nhìn chằm chằm và huýt sáo trêu ghẹo" là một trong những
hình thức thường gặp nhất của quấy rối tình dục (khoảng 50-85%) Liên quan đến các
hình thức đụng chạm cơ thể, phổ biến nhất là những trải nghiệm "có những tiếp xúc
cơ thể không mong muốn" Tuy nhiên mức độ của biểu hiện này có sự khác nhau giữa
các quốc gia, trong khi phần lớn các quốc gia có mức độ tỷ lệ vào khoảng giữa 60%và
90%, tại Vương quốc Anh và Phần Lan tỷ lệ lại thấp ở mức 20% và 7% (Timmerman
& Bajema, 1998) Với các hành vi quấy rối tình dục nghiêm trọng là "tấn công/hãm
Trang 26hiếp tình dục" chỉ có 1% đến 6% số nhân viên nữ có trải nghiệm Các hành vi quấy
rối tình
Trang 27dục nghiêm trọng nhất là "hãm hiếp/ hãm hiếp tình dục" chỉ được báo cáo bởi 1-6%
số nhân viên nữ [89] Như vậy rõ ràng là các hình thức quấy rối tình dục thườngxuyên nhất là các hình thức nói và phi ngôn ngữ, còn các hình thức nặng hơn và dễnhận biết xuất hiện với tần suất thấp hơn đáng kể
Con số từ nghiên cứu cho thấy quấy rối tình dục rất phổ biến ở thế giớiphương Tây, rất nhiều phụ nữ bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc (EuropeanCommission, 1998, USMSPB, 1981, 1988, 1995) Kết quả thu được bắt đầu pháthiện những động cơ đằng sau các hành vi và thủ phạm quấy rối tình dục [56], [103],[104], [105]
Đối tượng quấy rối tình dục thường là ai, có đặc điểm gì cũng là một khía cạnh được các nhà nghiên cứu quan tâm Khi xem xét nguyên nhân QRTD, các
nghiên cứu không phủ nhận tác động của yếu tố môi trường [64], [61] Tuy nhiên, tạisao cũng một môi trường lại có một số người, khác với những người khác đã có hànhđộng quấy rối tình dục Trong một số nghiên cứu, đặc điểm của những đối tượng quấyrối tình dục được xem xét trên các yếu tố như đặc điểm nhân khẩu, nhân cách và có
mô tả các loại thủ phạm điển hình
Đặc điểm nhân khẩu học: Một số đặc điểm nhân khẩu học của thủ phạm đãđược xác định [71] Tuy nhiên hạn chế trong các nghiên cứu này là mẫu tương đốinhỏ, chủ yếu dựa trên dữ liệu từ các vụ quấy rối tình dục tại tòa án Phần lớn cácnghiên cứu chỉ ra rằng k quấy rối tình dục có thể là nam giới [56], [75], [80], [90],[91], [92] Tuy nhiên, các nghiên cứu này ít đề cập đến những vấn đề liên quan đếntình trạng hôn nhân, tuổi tác và trình độ học vấn Một số nghiên cứu cho thấy những
k gây bạo lực, quấy rối tình dục có thể đã kết hôn, lớn tuổi và có học vấn hơn nạnnhân, cũng như nhiều yếu tố vượt trội hơn so với các nạn nhân của họ [63], [67]
Tuy nhiên một số tác giả khác khi phân cấp k quấy rối, cho rằng thủ phạmquấy rối tình dục cũng có thể là những người cấp dưới, ít quyền lực, bạn bè cùng vớicác đồng nghiệp lại là những k quấy rối thường xuyên nhất [48], [51], [69], [92]
Những phát hiện này cho thấy mục tiêu của những k quấy rối có thể là nhữngngười có vị thế cao hơn (hoặc thậm chí là cấp trên) và cũng có thể là người có trình
độ học vấn tương tự hoặc thấp hơn (De Souza & Fansler, 2003).[51] Những nạnnhân bị ảnh hưởng bởi quấy rối tình dục rất đa dạng, bao gồm cả công nhân phổthông, lao động chân tay (blue collar workers) và người lao động có trình độ (whitecollar workers) (ví dụ như cảnh sát, bác sĩ, người lái xe buýt và xe taxi và nữ phụcvụ) Những k quấy rối tình dục dường như xâm nhập vào tất cả tầng lớp xã hội, trình
độ nghề nghiệp và các nhóm tuổi [47], [56], [62], [69]
Khuynh hướng quấy rối tình dục: Có nhiều nghiên cứu được thực hiệnnhằm thiết kế và phát triển công cụ để đo lường những trải nghiệm quấy rối tình dục
Trang 28(ví dụ thang Đánh giá quấy rối tình dục, Gruber, 1992, Bảng câu hỏi về trải nghiệmtình dục, Fitzgerald, Magley, Drasgow, Waldo, 1999; Fitzgerald, Shullman et al.,
1988, Fitzgerald, Weitzman, Gold, & Ormerod, 1988; Fitzgerald, Gelfand, &Drasgow, 1995 và bảng câu hỏi về Quấy rối tình dục, Barling, Dekker, Loughlin,Fullagar, Kelloway & Johnson, 1996) [44], [59], [62], [93], [83]
Trong số đó, thang đo sự thường xuyên và ảnh hưởng của quấy rối tình dụccủa John B Pryor (1987) tên tiếng anh là Sexually Harass Scale (LSH), là công cụ cótính ảnh hưởng và thường xuyên được sử dụng nhất để đo lường khuynh hướng quấyrối tình dục của đàn ông Trong thang đo này, mười kịch bản giả định đã được thiết
kế Mỗi người tham gia trong vai trò như một người đàn ông với nhưng hoàn cảnh vàvai trò xã hội cụ thể, họ có quyền lực nhất định trong việc kiểm soát phụ nữ Cácnhân vật trong từng tình huống được mô tả với những vai trò xã hội khác nhau (ví dụ:giáo sư/ sinh viên, ứng viên hành chính/ thư ký, v.v.) Những người tham gia tưởngtượng mình trong vai trò của nam giới và xem xét những gì họ sẽ làm trong từng tìnhhuống Theo từng kịch bản, một số hoạt động thay thế đã được liệt kê Bao gồmnhững lựa chọn nhằm đạt được mục tiêu về tình dục Mục quan trọng này liên quanđến việc sử dụng sức mạnh xã hội của nam giới để gợi ý người nữ (trong tình huống)quan hệ tình dục Những người tham gia đã được yêu cầu cho biết khả năng họ thực
hiện các hành vi này ở thang điểm 1 đến 5, trong đó mức 1 "không có khả năng" đến mức 5 "rất có khả năng" Hai nghiên cứu ban đầu đã được tiến hành để kiểm tra độ
tin cậy của thang LSH Một nghiên cứu thứ ba là được tiến hành để kiểm tra tính hiệulực hành vi của thang LSH [79]
Một nghiên cứu khác khá thú vị, được phát triển trên cơ sở thang đo LSH(Anne Maass, Mara Cadinu, Gaia Guarnieri, and Annalisa Grasselli, 2003), nghiêncứu sử dụng hai thử nghiệm trong phòng thí nghiệm để xem xét giả thuyết rằng mối
đe dọa đối với "căn cước giới tính" (gender identification) của người đàn ông sẽ làmtăng khả năng quấy rối giới tính Trong cả hai thí nghiệm, sử dụng mô hình quấy rốitrên máy tính, nam giới là sinh viên đại học (N = 80 trong thí nghiệm 1 và N = 90trong thí nghiệm 2) bị phơi nhiễm với các loại mối đe dọa “căn cước giới tính” khácnhau (mối đe dọa về tính hợp pháp và mối đe dọa đối với giá trị nhóm trong thínghiệm 1) mối đe dọa biệt lập và mối đe dọa về nguyên mẫu trong thí nghiệm 2) hoặckhông có mối đe dọa; và sau đó được trao cơ hội để gửi tài liệu khiêu dâm đến mộtđối tác nữ ảo tương tác trên máy tính Kết quả cho thấy (a) người tham gia quấy rốitình dục phụ nữ nhiều hơn khi họ đã bị đe dọa về tính hợp pháp, bản sắc cá nhân,hoặc là không có mối đe dọa; (b) điều này chủ yếu đúng đối với những người có căncước giới tính cao; và c) việc quấy rối giúp củng cố căn cước giới tính của nam giới(điều này có thể hiểu là đàn ông cảm thấy họ nam tính hơn khi thực hiện hành vi quấy
Trang 29rối tình dục ) Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp dữ liệu về nhận dạng xã hội củanhững k quấy rối giới tính [74].
Cũng sử dụng mô hình quấy rối trên máy tính, một thử nghiệm khác được thựchiện trong phòng thí nghiệm (Dall'Ara & Maass, 1999); trong đó nam giới ở miềnBắc Ý (N = 120 sinh viên đại học) được trao cơ hội để gửi tài liệu khiêu dâm đến mộtđối tác phụ nữ Định hướng giới tính của phụ nữ (theo truyền thống so với người bìnhthường) và cấu trúc của sự tương tác giữa các nhóm hoặc giữa các cá nhân đã đượcthay đổi một cách có hệ thống Kết quả thu được củng cố nhận định nam giới cókhuynh hướng quấy rối cao (điểm số cao về khả năng quấy rối tình dục, Pryor, 1987),khi họ có thái độ giới tính, và "căn cước giới tính" mạnh mẽ Ngoài ra, nam giới cókhuynh hướng quấy rối đối tác tương tác với họ nhiều hơn khi họ nhìn nhận tìnhhuống như là một nhóm giữa nam và nữ (chứ không phải là giữa các cá nhân) [33].Nghiên cứu mô hình quấy rối trên máy tính cũng chỉ ra rằng những người đàn ông cóLSH cao họ có nhiều khả năng gửi các tài liệu khiêu dâm (Maass et al., 2003) hoặctrêu đùa tình dục (Siebler và cộng sự, 2008) thông qua internet Những nghiên cứu nàycho thấy một sự tương tác khá rõ ràng giữa con người và hoàn cảnh, trong đó mộtngười đàn ông có LSH cao sẽ tham gia vào hành vi quấy rối khi các nhân tố theongữ cảnh thuận lợi (xem Pryor và cộng sự,
1995) Nhìn chung, dù có những thay đổi gần đây đối với thang LSH (Dall'Ara &Maass,
1999, Maass, Cadinu, Guarnieri, & Grasselli, 2003) và Siebler, Sabelus, & Bohner,2008), cũng như nỗ lực để phát triển thang đo mức độ Quấy rối Tình dục bởiBingham và Burleson (1996), thì LSH vẫn được xem là thang đo đáng tin cậy và được
sử dụng rộng rãi nhất trong các công cụ đo lường để đánh giá khuynh hướng quấy rốitình dục (male proclivity) của nam giới [Dt Afroditi Pina, 2009) [39]
Mức độ quấy rối tình dục cũng là vấn đề các nghiên cứu thế giới trong nước
và nước ngoài hướng đến Tính phổ biến rộng rãi của tình trạng quấy rối tình dục
được phản ánh trong các nghiên cứu, cho thấy bị QRTD không chỉ là trải nghiệm của1-2 cá nhân đơn l mà là hiện tượng xảy ra ở nhiều quốc gia, tại nhiều môi trườngkhác nhau
Trong nghiên cứu của Gruber (1992) cung cấp bản tóm tắt hữu ích về kết quảcủa các nghiên cứu gần đây Ông tính rằng tỷ lệ trung bình của phụ nữ báo cáo vềtình trạng bị quấy rối tình dục ở 44% Hơn nữa, ông chia nhỏ kết quả thành 5 dạngquấy rối tình dục Dạng quấy rối “tạo áp lực cho mối quan hệ” là 9-22% (trung bình5,13%); Đối với “nhận xét về tình dục” khoảng 27-35% (trung bình 5,28%); “tư thế,điệu bộ gợi dục” là 8-26% (trung bình 5,24%); “đụng chạm tình dục” rơi vào 12-27%(trung bình 5,17%); Và “tấn công tình dục”, từ 1-2% (trung bình 5,1%) [62]
O'Hare và O'Donohue (1998) trong cuộc khảo sát kinh nghiệm làm việc của
Trang 30266 phụ nữ đã phát hiện ra rằng 69% phụ nữ cho biết đã trải qua ít nhất một vụ quấy
Trang 31rối về giới; 53,4% cho biết đã gặp phải sự chú ý không mong muốn (ví dụ như cuộcthảo luận không mong muốn về đời sống tình dục, những nỗ lực không mong muốn
để thiết lập mối quan hệ lãng mạn, khiến người phụ nữ cảm thấy không thoải mái);Gần 12% cho biết họ cảm thấy cần phải trao đổi, hợp tác quan hệ tình dục với mộtđồng nghiệp nam hay người giám sát để được đối xử tốt trong công việc; và trên 6%báo cáo thực sự bị đối xử thô bạo vì đã từ chối hợp tác tình dục Ngoài ra, 10,8% và9,2% báo cáo họ bị đe doạ vì từ chối hợp tác quan hệ tình dục Các tác giả này nhậnđịnh rằng các yếu tố nguy cơ gây quấy rối tình dục một phần do thiếu sự chuyênnghiệp trong môi trường làm việc, mặt khác những đe dọa từ việc từ chối hợp tác tìnhdục, hoặc thiếu kiến thức về các thủ tục khiếu nại chính thức của tổ chức cũng là mộttrong những nguyên nhân Những con số này cho thấy một tỷ lệ rất lớn phụ nữ gặpphải một số hình thức quấy rối tình dục ở một số điểm trong cuộc đời của họ, và do
đó đây là một vấn đề xã hội quan trọng.[78]
Trong thập kỷ qua, tỷ lệ quấy rối tình dục cũng được phản ánh trong một sốnghiên cứu được tiến hành nhằm khám phá bản chất và các dạng thức của vấn đề bạolực giới ở các thành phố, đô thị Nghiên cứu của Hollaback và Cornell (2014) đãphỏng vấn 16,000 phụ nữ, chỉ ra rằng có tới hơn 50% phụ nữ ở Châu Âu và 75% phụ
nữ ở Mỹ đã đối mặt với sự cố quấy rối tình dục lần đầu trước năm 17 tuổi Trên 70%
đã bày tỏ sự tức giận và lo lắng về việc đối mặt với quấy rối tình dục trên đường phố.Hơn 81% phụ nữ được phỏng vấn đã trải qua một hình thức quấy rối tình dục nào đó.Một số nghiên cứu quy mô lớn ở thành phố cũng chỉ ra kết quả tương tự (Dẫn theo
UN Women, 2016) [35]
Nghiên cứu đa quốc gia "Dự án bao trùm giới tại các thành phố" nhấn mạnh
rằng, hơn 70% phụ nữ được phỏng vấn ở Delhi, Dar es Salaam và Rosario đã trải quamột hình thức bạo lực tình dục nào đó ở thành phố (WICI, 2010) Một khảo sát năm
2008 ở Cairo cho thấy 83% phụ nữ đã thông báo ít nhất một sự cố quấy rối tình dục(WICI, 2012) Tương tự như vậy, nghiên cứu năm 2014 ở Mỹ cùng chỉ ra rằng hơn60% phụ nữ đã đối mặt với quấy rối tình dục (Kearl, 2014) Tại Vương quốc Anh,khảo sát của YoyGov với 1,047 người dân Luân Đôn do Liên minh chấm dứt bạo lựcđối với phụ nữ ủy nhiệm tiến hành cũng đã phát hiện 43% phụ nữ độ tuổi từ 18 đến
34 đã gặp phải quấy rối tình dục ở nơi công cộng trong năm qua (Dẫn theo UN
Women, 2016) [35]
Trong nghiên cứu khác ở một số quốc gia Châu Á, tình trạng quấy rối tình dụccũng không phải là ngoại lệ, đặc biệt là quấy rối tình dục tại nơi làm việc Trong khảosát của Hiệp hội phụ nữ hành động và nghiên cứu “Các vấn đề quấy rối tình dục tạinơi làm việc tại Singapore” (Aware, 2008) thực hiện trên 500 người và 92 công ty.Các phát hiện chính trong nghiên cứu: 1) Quấy rối tình dục nơi công sở là rất phổ
Trang 32biến Có 54% người trong tổng số 272 người trả lời cho rằng họ từng đã trải qua một
số hình thức quấy rối tình dục tại nơi làm việc; 27% của 272 người trả lời báo cáomình đã từng bị quấy rối bởi đồng nghiệp, trong đó 17% đã bị quấy rối bởi cấp trêncủa họ Trong số đó 79% nạn nhân là phụ nữ; 21% là nam giới; có 12% đã nhận đượcmối đe dọa nếu họ không tuân thủ các yêu cầu của k quấy rối 2) Quấy rối tình dục
xảy ra trên diện rộng Cả phụ nữ và nam giới có nhiều khả năng đã bị quấy rối bởi
người khác giới, bên cạnh đó một số người cũng bị quấy rối đồng giới Trong cuộckhảo sát của AWARE, 79% số người được hỏi cho biết đã từng trải qua quấy rối tìnhdục tại nơi làm việc là nữ; 21% là nam giới Hầu hết việc quấy rối xảy ra ở những cấp
độ khác nhau Nghiên cứu cũng cho phân loại một số ngành nghề có mức QRTD caonhư: Kinh doanh, thương mại, tài chính ngân hàng, bán hàng và tiếp thị, làm viêc tạibệnh viện, dịch vụ dân sự, giáo dục và giảng dạy Điều đáng lo ngại ở đây là nhậnthức về cơ chế ứng phó với quấy rối tình dục của các đối tượng trong khảo sát chothấy còn nhiều hạn chế, với 66,6% không biết về bất kỳ chính sách gì liên quan đếnquấy rối tình dục, chỉ 50,4% cho biết họ biết về một bộ phận hay cơ quan nhân sựgiải quyết về quấy rối tình dục (Dẫn theo UN Women) [35]
Tại Thái Lan (ILRF, 2002) quĩ Quốc tế về quyền Lao động và các đối tác tiếnhành khảo sát trên 100 công nhân nhà máy từ 10 ngành xuất khẩu Nghiên cứu pháthiện rằng lao động nữ trong các ngành công nghiệp xuất khẩu ở Thái Lan bị QRTD,bao gồm lạm dụng bạo lực và phân biệt đối xử bởi người chủ và người quản lý của
họ Những người phụ nữ không được bảo vệ khỏi lạm dụng và các hoạt động có sựphân biệt đối xử theo quy định của pháp luật hoặc bởi quy tắc ứng xử nơi làm việc.Kết quả cho thấy có 90% số người được hỏi thừa nhận rằng điều kiện làm việc của họkhông bảo vệ lao động nữ khỏi quấy rối tình dục; và 75% số người được hỏi cho biết
họ không có kiến thức về pháp luật để chống lại việc quấy rối tình dục; hơn 90% sốngười được hỏi không biết đến các khái niệm về quy tắc ứng xử nơi làm việc Ít hơnmột nửa (47,6%) số người được hỏi sẽ có hành động chống lại k quấy rối họ chỉtrong trường hợp xảy ra nặng nhất, ví dụ như hiếp dâm Một thực tế được phản ánh lànhững phụ nữ báo cáo về việc bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc thường bị sa thảihoặc giáng chức Hầu hết phụ nữ không có một sự hiểu biết chung về quấy rối tìnhdục, và do đó bỏ qua một số hành vi gây tổn hại cho họ Trong khi 70% công nhânlàm việc cho nhà máy là phụ nữ, nhưng có đến 63% nam giới là người giữ vị trí quản
lý tại nơi làm việc và ở đây đàn ông thường được thăng chức nhiều hơn so với phụ
nữ [66]
Trên nền tảng thúc đẩy bình đẳng giới, chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ, cácnghiên cứu trong chương trình toàn cầu Thành phố an toàn không có bạo lực đối vớiphụ nữ và tr em (UN Women, 2018) đã chỉ ra mức độ nghiêm trọng của bạo lực tình
Trang 33dục ( LTD) ở nơi công cộng tại các thành phố Ở New Delhi, một nghiên cứu cơ sởđược tiến hành năm 2012 phát hiện ra rằng có tới 92% phụ nữ đã từng gặp phải hìnhthức LTD nào đó ở nơi công cộng trong cuộc đời họ, và 88% phụ nữ đã trải quaLTD về ngôn từ và thị giác Ở Thành phố Quito, Ấn Độ, một nghiên cứu phạm vithực hiện năm 2011 đã chỉ ra rằng có tới 68% phụ nữ đã gặp phải một hình thức quấyrối tình dục, LTD ở nơi công cộng, và ít nhất một lần trong năm trước đó Ở Kigali,một nghiên cứu phạm vi thực hiện năm 2012 cũng phát hiện ra rằng nỗi sợ hãi củaphụ nữ về quấy rối tình dục và hình thức khác của LTD đã hạn chế sự tham gia của
họ vào các hoạt động bên ngoài gia đình vào ban ngày lẫn ban đêm 42% phụ nữ nóirằng họ lo lắng về việc đến các cơ sở giáo dục vào ban ngày và 55% lo lắng cho việc
đi học vào buổi tối Hơn một nửa phụ nữ nói rằng họ lo lắng khi tham gia các hoạtđộng ban ngày và sau khi trời tối
Khi chương trình này thực hiện nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh(HCM), số liệu thu thập được đã chỉ ra rằng QRTD và một số hình thức LTD khác
là một trong những vấn đề cần quan tâm của thành phố HCM Số liệu cũng cho thấymột số nhóm phụ nữ có thể có nguy cơ bị QRTD tình dục cao hơn các đối tượng khác
ở nơi công cộng Nguyên nhân sâu xa của QRTD là xuất phát từ những yếu tố vănhóa và chuẩn mực xã hội như quan niệm trọng nam khinh nữ, tư tưởng gia trưởng tồntại trong xã hội ên cạnh đó, phụ nữ vẫn im lặng và không muốn trình báo sự việc
do cảm thấy e ngại và xấu hổ, và do xã hội vẫn coi việc đó là bình thường [35]
Nhìn chung, việc xác định thực trạng, mức độ quấy rối tình dục phụ thuộc vàoviệc quấy rối tình dục được định nghĩa như thế nào Tần số quấy rối trong các nghiêncứu cũng phụ thuộc vào một số vấn đề về phương pháp: (a) sử dụng chiến lược lấymẫu và tính đại diện của mẫu; (b) tính chất của các đặc trưng mẫu (ví dụ: độ tuổi,chủng tộc); (c) tỷ lệ đáp ứng/ tử vong của đối tượng; (d) phương pháp thu thập dữliệu (ví dụ như phỏng vấn trực tiếp so với bảng câu hỏi tự quản); (e) khung thời gian(ví dụ: tỷ lệ sống so với mức phổ biến 6 tháng) Nói chung, các nghiên cứu cho đếnnay vẫn chưa sử dụng kỹ thuật lấy mẫu đầy đủ, không xác định được đặc điểm mẫu,
tỷ lệ đáp ứng thấp, sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu không nêu rõ khungthời gian cho các đối tượng Những thiếu sót về mặt phương pháp này làm suy yếuđáng kể tính hợp lệ và độ tin cậy của những kết luận có thể đạt được từ những nghiêncứu này Đồng thời, kết quả được phản ánh thu được từ những con số tự báo cáo, từ
tỷ lệ phần trăm phụ nữ báo cáo là nạn nhân của quấy rối tình dục Mối quan hệ giữacon số này với số phụ nữ thực sự bị quấy rối tình dục có thể gây tranh cãi
Các ảnh hưởng, tác động gây ra bởi hành vi quấy rối tình dục đối với nạn nhân và các tổ chức cũng là nội dung mà các nghiên cứu ban đầu hướng đến làm rõ.
Trang 34Việc xem xét hậu quả của QRTD với cá nhân và tổ chức cũng góp phần phản ánh tínhnghiêm trọng của quấy rối tình dục.
Những hậu quả do quấy rối tình dục gây ra cho cá nhân và tổ chức bao gồmgiảm doanh thu công việc, giảm năng suất, nghỉ làm không lí do và các yêu cầu bồithường về y tế Cuộc điều tra của Ủy ban Bảo vệ Hệ thống của Hoa Kỳ (U.S MeritSystems Protection Board, 1981) cho thấy sau khi bị quấy rối tình dục, 16% nhânviên bị mất việc đã báo cáo điều kiện làm việc tồi tệ hơn và giảm cơ hội thăng tiến,
và 9% cho biết thay đổi việc làm Giảm tinh thần, nghỉ việc không lí do và mất tậptrung trong công việc được cho là gây thiệt hại cho chính phủ 90 triệu USD mỗi năm.Trong các môi trường làm việc ít tính đa dạng và ít được bảo vệ hơn hệ thống liênbang, những ảnh hưởng này thậm chí còn lớn hơn Trong 88 trường hợp được nộpcho Bộ Việc làm và Nhà ở California vào giữa năm 1979 và năm 1983, gần một nửa
số người khiếu nại bị đuổi việc và 25% bỏ việc vì sợ hãi hoặc thất vọng sau khi đãkhiếu nại [90]
Trong một nghiên cứu khác, Loy và Stewart (1984) đã tiến hành một cuộckhảo sát điện thoại ngẫu nhiên về người lớn ở Connecticut Bao gồm 304 nữ giới và
205 nam giới đã được phỏng vấn trong 15 phút về quan điểm của họ về những vấn đề
xã hội quan trọng mà tất cả chúng ta phải đối mặt ngày hôm nay Mẫu này không đạidiện cho quần chúng Mỹ theo hai cách: Người da trắng (93% người da trắng so với83% người da trắng ở Hoa Kỳ) và các cá nhân lớn tuổi (trung bình 44 tuổi, so vớitrung vị của Mỹ là 35 tuổi) đã có số lượng quá mức Điều này có thể dẫn đến một ướctính quá thận trọng về mức độ trải nghiệm với quấy rối tình dục Khoảng một nửa sốphụ nữ trong mẫu cho biết họ đã trải qua ít nhất một hình thức quấy rối tình dục Có75% phụ nữ này có các triệu chứng đau khổ về thể xác và tinh thần do bị quấy rối.Các triệu chứng được đề cập nhiều nhất là lo lắng, dễ cáu giận, và giận dữ khôngkiểm soát, không ngủ, giảm cân, khóc không kiểm soát, và các vấn đề về dạ dày.Theo các tác giả, các loại quấy rối nghiêm trọng hơn có thể gây ra những nguy cơ caohơn cho các nạn nhân [73]
Trong một nghiên cứu lưu trữ (Archival survey) (Crull, 1982) sử dụng các dữliệu thu được từ 262 phụ nữ, những người đã tìm kiếm sự trợ giúp từ Viện nghiên cứuViệc làm Phụ nữ (the Working Women’s Institute) khi họ gặp phải tình huống quấyrối tình dục Kết quả phỏng vấn từ 92 phụ nữ thông qua bảng câu hỏi (gửi bằng thư)
và từ hồ sơ khách hàng của 170 phụ nữ đã được tư vấn Các bảng hỏi yêu cầu cungcấp thông tin về độ tuổi và nghề nghiệp của phụ nữ tại thời điểm quấy rối Họ cũngyêu cầu các đối tượng mô tả trải nghiệm quấy rối của họ và những ảnh hưởng của nóđối với công việc, tâm lý, sức kho thể chất Thông tin từ bản ghi khách hàng khôngđược tiết lộ ngoại trừ nghề nghiệp và các thông tin mô tả tình trạng quấy rối tình
Trang 35dục.[49] Phụ nữ trong mẫu của Crull dao động từ 16 đến 65 tuổi, tương đối đại diệncho lực lượng lao động nữ, và trong đó có 20% phụ nữ thiểu số Hình thức bị quấy rốibằng lời nói dưới dạng gợi ý tình dục lặp đi lặp lại và bình luận về cơ thể người phụ
nữ là loại quấy rối thông thường nhất, và hơn nửa số trường hợp bao gồm các hìnhthức quấy rối thể chất ở mức cao hơn như hôn và đụng Các cưỡng bức về cơ thể đãđược báo cáo với gần 20% trường hợp Đa số thủ phạm quấy rối là những người cóquyền ảnh hưởng đến tình trạng việc làm của người phụ nữ (80% trường hợp) Trongkhoảng 1/5 các trường hợp, những đề nghị, yêu cầu tình dục có đi kèm với các mối đedọa đã nêu rõ đối với công việc của người phụ nữ Khi từ chối tham gia vào nhữngyêu cầu tình dục của k quấy rối, 2/3 mẫu của Crull đã bị trả thù Những phụ nữ nàybáo cáo công việc của họ bị chỉ trích và chế giễu trước cấp dưới hoặc khách hàng, bị
từ chối quảng cáo, không được tốt nghiệp hoặc bị từ chối thư giới thiệu Có 42% mẫukhảo sát bằng bảng hỏi và 25% mẫu từ hồ sơ khách hàng đã nghỉ việc do bị quấy rối;25% còn lại của mẫu đã tiếp tục bị quấy rối Nhiều phụ nữ cũng nói rằng, họ trở nênkhông chắc chắn về kỹ năng ứng phó của họ khi phải đối mặt với sự trả đũa và nhữnglời chỉ trích vì đã từ chối quan hệ tình dục Căng thẳng, tức giận và sợ hãi, chịu đựngtình trạng không công bằng trong cơ hội phát triển là những triệu chứng tâm lý được
đề cập nhiều nhất Sáu mươi ba phần trăm phụ nữ trả lời bảng câu hỏi và 20% kháchhàng tư vấn xác định các triệu chứng thể chất do quấy rối, thường là mệt mỏi, nhứcđầu, và buồn nôn [49]
Trong một nghiên cứu bổ sung về tác động của quấy rối tình dục, Schneider(1991) đã gửi phiếu điều tra tới 386 phụ nữ giả định là dị tính (heterosexual) và 294phụ nữ giả định là đồng tính nữ (lesbian) Bản câu hỏi với 20 trang được sử dụng, baogồm 316 item đã được mã hoá trước yêu cầu các câu hỏi chi tiết về cách làm việc củacác đối tượng, trải nghiệm xã hội và tình dục của họ tại nơi làm việc và bất kỳ trảinghiệm nào về bạo lực tình dục Tỷ lệ trả lời của bảng câu hỏi từ nhóm tình dục dịtính là 36%, so với 81% của nhóm đồng tính nữ Sự khác biệt này có thể do thực tế làhầu hết phụ nữ đồng tính nữ đã nhận được một bản ghi viết tay với các bảng câu hỏicủa họ để giải thích tên của họ đã được thu thập từ các địa chỉ liên lạc đồng tính nữ vàkhuyến khích họ tham gia như thế nào Tỷ lệ hoàn lại thấp của nhóm dị tính cho thấykhả năng của một quá trình tự lựa chọn mà chỉ có nhiều cá nhân tiết lộ tham gia.Trong mẫu kết quả của 144 người tự nhận là tình dục khác giới và 228 người đồngtính nữ, có 10% là phụ nữ da màu, 66% được tuyển chọn trong các nghề nghiệpchuyên nghiệp, và khoảng một nửa làm việc trong các cơ sở có lao động nữ chiếm ưuthế Vì phụ nữ có tình trạng việc làm thấp kém hơn đã phải đối mặt với quấy rối tìnhdục cao hơn và nghiêm trọng hơn (Fain & Anderton, 1987) Tình trạng bị quấy rốitình dục có thể thấp hơn nếu nghiên cứu thực hiện trên mẫu có tính đại diện hơn Trả
Trang 36lời câu hỏi: “Bạn đã bao giờ trải qua một cuộc tấn công tình dục hay bất kỳ hoạt
động tình dục (miệng hoặc hậu môn) nào của một người mà bạn biết trong công việc?” Kết quả cho thấy 64 phụ nữ (17%) báo cáo đã trải qua ít nhất một vụ tấn công
tình dục tại nơi làm việc Nhóm phụ nữ bị tấn công này gồm 14% phụ nữ dị tính (tựxác định) và 20% phụ nữ đồng tính (tự xác định) Mặc dù thủ phạm tấn công từ môitrường làm việc, hoạt động này không nhất thiết phải xảy ra tại nơi làm việc Dữ liệucho thấy trong những trường hợp sách nhiễu nghiêm trọng, việc cưỡng bức về thể xác
và tinh thần thường được sử dụng nhiều hơn là việc cưỡng bức kinh tế Các dạng bạolực thể xác đã được sử dụng trong hơn một nửa số vụ tấn công đã cố gắng đạt được
và hoàn thành Nhiều mối đe dọa hơn nhưng ít sử dụng vũ lực hơn đã được sử dụngchống lại những người đồng tính nữ so với những người dị tính Phần lớn phụ nữ chobiết đã kháng cự (86% bằng lời nói, 74% về phản ứng thể chất) Một phát hiện thú vịtrong nghiên cứu này là người phụ nữ tr tuổi hơn, có nhiều khả năng đe dọa nói vớingười khác về tình trạng bị quấy rối trong công việc Các tác giả cho rằng điều này cónghĩa là những phụ nữ có ít công ăn việc làm, ít quyền lợi hơn, và ít việc làm hơn cóthể cảm thấy tự do hơn khi có nguy cơ ảnh hưởng vị trí của họ nếu họ phàn nàn Hầuhết phụ nữ trong mẫu (81%) vẫn tiếp tục làm việc sau vụ tấn công; 67% số người báocáo rằng duy trì quan hệ làm việc chính thức với k tấn công, đặc biệt khi k tấn công
là một giám sát Trong khi 60% nói về vụ việc với bạn bè và thành viên trong giađình, chỉ 1/3 nói chuyện với đồng nghiệp Mặc dù mức độ nghiêm trọng của hành viquấy rối, chỉ có 21% phàn nàn thông qua kênh của tổ chức, và chỉ có 19% thôi việc
Sự khác biệt đáng kể giữa những người từ chối hoặc không là việc trực tiếp sử dụng
áp bức kinh tế bởi k tấn công Những phụ nữ đe dọa một k tấn công rằng họ sẽ nóivới những người khác về vụ tấn công có xu hướng là những người sau đó đã đệ đơnkhiếu nại Các đặc điểm khác, chẳng hạn như sử dụng cưỡng bức thể xác hoặc cưỡngbức kinh tế dường như không tương quan với khả năng nộp đơn khiếu nại Những gìnổi bật trong bức tranh được vẽ bởi những phụ nữ này là mặc dù họ bị quấy rốinghiêm trọng khi tham gia các công việc, tâm lý và sức kho bị ảnh hưởng, nhưng họcảm thấy có ít lựa chọn hợp pháp để chống lại và điều tốt nhất họ có thể làm là tự cảithiện tình hình của mình.[84]
Một trong những vấn đề được đề cập trong các nghiên cứu về tác động củaquấy rối tình dục đối với phụ nữ là nhiều phụ nữ miễn cưỡng khi tự nhận mình là nạnnhân (Koss, 1990) [68] Phụ nữ thường không thích chia s điều này bởi vì nó liênquan đến những tổn thất nếu tiết lộ trải nghiệm của mình về quấy rối tình dục (lòng tựtrọng, sự kỳ thị, bị đổ lỗi thay vì sự cảm thông,…) Khi phụ nữ xác nhận rằng họ lànạn nhân của quấy rối tình dục, họ thường không nhận được sự giúp đỡ hoặc vấn đề
đó bị xem nhẹ, phụ nữ thường bị coi là phải chịu trách nhiệm về số phận của họ, họ bị
Trang 37coi là k thua cuộc Khi những khiếu nại chính thức của họ được xem xét, các đồngnghiệp thường cũng không sẵn lòng hoặc từ chối việc làm chứng hoặc tham gia cungcấp thêm minh chứng cho vụ việc, điều này tạo cho họ cảm giác như một sự phản bộihoặc thông đồng Do đó, phụ nữ muốn khiếu nại chính thức hoặc nhận được trợ giúppháp lý sẽ chịu thêm các triệu chứng về thể chất và tâm lý khác (Livingston, 1982).[72].
Vì nghiên cứu tác động của quấy rối tình dục vẫn còn thô sơ và mô tả, Koss, M.P (1990) đã chuyển hướng nghiên cứu nạn nhân (về hành hung tình dục người lớn, lạm dụng tình dục tr em, v.v.) để hiểu rõ hơn về trình tự các triệu chứng mà bác sĩ lâm sàng có thể mong muốn hiểu được Các triệu chứng này được mô tả trong hai giaiđoạn: (a) có thể thấy ngay phản ứng tức thì - sự tê liệt tình cảm, lặp lại trải nghiệm chấn thương do những hình ảnh đánh thức xâm nhập hoặc những giấc mơ, lo lắng và trầm cảm; (b) và các phản ứng sau đó: các triệu chứng của phản ứng sợ hãi/ tránh né,
sự ức chế tình cảm, lòng tự trọng và sự tự tin, và rối loạn chức năng tình dục có thể gia tăng [68] Những biểu hiện này của nạn nhân phù hợp với các biểu hiện trong sách hướng dẫn chẩn đoán và thống kê rối loạn tâm thần, tiêu chuẩn lần thứ tư (DSM-
IV, Hội Tâm thần học Hoa Kỳ (APA,1994) về rối loạn căng thẳng sau chấn thương Các chẩn đoán đã được ghi nhận ở nạn nhân của hiếp dâm và loạn luân là: trầm cảm, uống rượu và sử dụng ma túy, tâm thần phân liệt, lo lắng tổng quát, hoảng loạn và cáctriệu chứng ám ảnh cưỡng chế, xuất hiện ý định tự tử Mặc dù những chẩn đoán này dựa trên nghiên cứu đã đánh giá các mối tương quan lâu dài về lạm dụng tình dục tr
em và hành hung tình dục, nhưng trải nghiệm quấy rối tình dục cũng tương tự như các sự kiện này để đưa ra một giả định hợp lý rằng một số tác động dài hạn có thể xảy
ra tương tự [39]
Trong một nghiên cứu bổ sung đánh giá tác động của quấy rối tình dục,Salisbury, Ginorio, Remick và Stringer (1986) liệt kê một chuỗi các phản ứng đượcquan sát mà 17 khách hàng dường như đã trải qua Nạn nhân đầu tiên thường cảmthấy bối rối và tự đổ lỗi, tin rằng tình trạng quấy rối sẽ dừng lại Khi nó thay đổi xấu
đi, họ cảm thấy không thể kiểm soát và bất lực Các phản ứng tiếp theo xoay quanhnỗi sợ hãi và lo lắng: phụ nữ cảm thấy bị mắc kẹt và hoang tưởng, lo sợ về sự nghiệp
và sự tự cung tự cấp về kinh tế của họ, sợ bị theo dõi hoặc theo đuổi công việc bênngoài và nói chung là công việc của họ cũng như lòng tự trọng bị ảnh hưởng bất lợi.Một khi phụ nữ thừa nhận tình trạng bị quấy rối, lo lắng chuyển thành tức giận và thấtvọng về sự bất công của tình hình Điều này thường thúc đẩy việc nộp đơn tố cáo, cóthể xem như là một bước đi tích cực trong việc kiểm soát, nhưng cũng có xu hướngdẫn đến tình trạng xấu đi trong công việc Cuối cùng, phản ứng có thể được gắn nhãn
Trang 38với sự vỡ mộng Nạn nhân phải đối mặt với sự thất vọng về sự công bằng và lòngtrung thành của họ từ các đồng nghiệp, tổ chức, tòa án, và các cơ quan của liên bang
Trang 39và tiểu bang [73] Nghiên cứu này dựa trên bài báo Koss (1990) bằng cách sử dụng
sự ủng hộ thực tế của nạn nhân quấy rối tình dục và bằng cách mô tả cách mà phụ nữthường hành xử để phản ứng lại khi bị quấy rối Ngoài ra, nghiên cứu này còn hỗ trợbài báo của Koss (1990) bằng cách chứng minh giả thuyết rằng những phụ nữ bị quấyrối tình dục thường bị các chứng loạn nhịp, tức giận, trầm cảm và lo lắng.[68]
Ở Việt Nam:
Mặc dù trong các nghiên cứu của thế giới đã đề cập đến vấn đề quấy rối tìnhdục từ rất sớm, nhưng tại Việt Nam, vấn đề này chỉ mới được quan tâm trong khoảngthập niên trở lại đây Các nghiên cứu chủ yếu tiếp cận từ góc độ luật học hoặc chínhsách công, bước đầu quan tâm đến quấy rối tình dục tại nơi làm việc Một số khảo sát
xã hội học cũng được thực hiện nhằm làm rõ thực trạng, biểu hiện, nguyên nhân củaquấy rối tình dục, những trải nghiệm của người dân với vấn đề liên quan đến quấy rốitình dục, những thách thức trong việc phòng ngừa và ứng phó với QRTD và các hìnhthức bạo lực tình dục khác
Theo Lê Nam (2013) quấy rối tình dục tại nơi làm việc được xem xét là vấn đề
về giới, là một trong những rủi ro mà lao động nữ đang phải đối mặt, gây ra nhữngảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống, công việc và cản trợ sự tiến bộ của phụ nữ [20].Việc đưa quấy rối tình dục vào Luật Lao động sửa đổi (có hiệu lực từ tháng 5-2013)được xem là một bước tiến quan trọng, hướng đến xây dựng môi trường làm việc antoàn, lành mạnh, hiệu quả Tuy nhiên báo cáo của ILO –MOLISA (2012) cũng đặt ravấn đề cần kịp thời xem xét việc đưa hành vi quấy rối tình dục vào luật như thế nào
để áp dụng pháp luật được hiệu quả [9]
Trong tài liệu chuyên đề “Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ở Việt Nam: Bức
tranh khái quát và khung pháp lý để giải quyết” (2014), thực hiện các rà soát đánh giá
tài liệu về quấy rối tình dục tại nơi làm việc và các công ước, pháp luật, chính sáchcủa quốc tế, của Việt Nam liên quan đến quấy rối tình dục tại nơi làm việc; tiến hànhthu thập dữ liệu sơ cấp thông qua phương pháp định tính bao gồm thảo luận nhómtrọng tâm, tổng cộng khách thể tham gia là 102 người (72 nữ và 30 nam) Kết quảthống nhất rằng: (1) Quấy rối tình dục tại nơi làm việc là một vấn đề giới; (2) Quấyrối tình dục tại nơi làm việc xảy ra không hạn chế đối với nhóm độ tuổi nào, nhưng
có nguy cơ cao hơn đối với những người trong độ tuổi từ 18 đến 30; (3) Các hìnhthức thể hiện quấy rối tình dục bao gồm những lời lẽ tán tỉnh, trăng hoa, những lời lẽthô tục, phản văn hóa, những lời lẽ kích dục (hoặc trực tiếp, hoặc qua điện thoại, thư
từ, tin nhắn, facebook, vv), đụng chạm thể xác, đề nghị quan hệ tình dục và cưỡng épquan hệ tình dục Vì không có định nghĩa thế nào là quấy rối tình dụcở Việt Namnên có xu hướng nhẫm lẫn giữa quấy rối tình dục và những lời đùa, nhận xét tục tĩu.Việc nhầm lẫn này ảnh hưởng đến việc xác định hành vi được coi là quấy rối tình dục
Trang 40tại nơi làm việc và cách giải quyết vấn đề này; (4) Quấy rối tình dục tại nơi làm việc
có thể gắn với hoặc không gắn với một lợi ích nghề nghiệp liên quan đến người bịquấy rối Thiếu một hành lang pháp lý thực thi trên thực tế, bao gồm các định nghĩa,trách nhiệm pháplý và tài chính của doanh nghiệp và người sử dụng lao động, thủtục xử lý giải quyết và các biện pháp khắc phục và xử phạt đã khiến các nạn nhânkhông dám công khai lên tiếng tố cáo hoặc phản kháng (6) Quấy rối tình dục tại nơilàm việc có các ảnh hưởng tiêu cực khác nhau lên nạn nhân và tổ chức của họ (8).Các quy định nghiêm cấm hành vi quấy rối tình dục trong ộ luật Lao đông sửa đổinăm 2012 là một bước tiến quan trọng đúng hướng Tuy nhiên, nghiên cứu này kếtluận rằng cách tốt nhất để ngăn cấm hành vi này và bảo vệ nạn nhân là cung cấp mộtđịnh nghĩa rõ ràng và buộc doanh nghiệp và người sử dụng lao động có biện phápngăn chặn quấy rối tình dục và thiết lập các thủ tục khiếu nại tại nơi làm việc.[11].Trong nỗ lực nhằm hạn chế và ngăn ngừa QRTD tại nơi làm việc, Bộ qui tắcứng xử về quấy rối tình dục tại nơi làm việc đã được xây dựng bởi Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam và Phòng thương mạicông nghiệp Việt Nam với sự giúp đỡ của tổ chức ILO, tháng 5/2015 Mục đích của
bộ qui tắc ứng xử nhằm giúp người sử dụng lao động, người lao động xây dựng, lồngghép vào nội qui, qui chế của đơn vị làm cơ sở cho việc phòng, chống quấy rối tìnhdục tại nơi làm việc, giúp phát triển quan hệ lao động hài hòa, tạo môi trường làmviệc lành mạnh, an toàn, năng suất chất lượng cao, được đánh giá là một bước tiếncủa Việt Nam trong công cuộc đấu tranh chống lại bạo lực trên cơ sở giới tại nơi làmviệc.[9]
Bộ qui tắc ứng xử về quấy rối tình dục tại nơi làm việc đã đưa ra khái niệm về
các hình thức của quấy rối tình dục Theo đó, “quấy rối tình dục là hành vi có tính
chất tình dục gây ảnh hưởng tới nhân phẩm của nữ giới và nam giới, đây là hành vi không được chấp nhận, không mong muốn và không hợp lý làm xúc phạm đối với người bị quấy rối, tạo ra môi trường làm việc bất ổn, đáng sợ thù địch và khó chịu”.
Bộ qui tắc cũng đưa ra khái niệm nơi làm việc không chỉ bao gồm những địa điểm cụthể, thực hiện công việc như văn phòng nhà máy, mà còn những địa điểm khác cóliên quan đến công việc Nơi làm việc có thể hiểu theo nghĩa rộng Bộ qui tắc liệt kêkhá đầy đủ, bao gồm các hình thức chủ yếu sau: (i) quấy rối tình dục bằng hành vimang tính thể chất; (ii) Quấy rối tình dục bằng lời nói; (iii) Quấy rối tình dục bằnghành vi phi lời nói.[9]
Báo cáo nghiên cứu về quấy rối tình dục tại nơi làm việc năm 2012 do Bộ Laođộng- Thương binh và Xã hội thực hiện với sự giúp đỡ của ILO cho thấy hiện nay dù
đã đưa vào Luật Lao động sửa đổi nhưng nhận thức như thế nào về quấy rối tình dục
là vấn đề còn nhiều mơ hồ Phần lớn các nạn nhân bị quấy rối tình dục ở Việt Nam là