1.4 Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng trạm bơm Trong thời gian qua, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng được các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ đ
Trang 1Học viên xin cám ơn chân thành đến Lãnh đạo Ban quản lý dự án xây dựng trạm bơm tưới Phụng Châu, thầy cô và cán bộ ở các cơ quan khác đã hết lòng giúp đỡ cho học viên hoàn thành Luận văn
Đặc biệt, học viên xin cám ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Quang Cường đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tận tình cho học viên trong quá trình thực hiện Luận văn này
Với thời gian và trình độ còn hạn chế, tác giả không thể tránh khỏi những thiếu sót và
rất mong nhận được hướng dẫn và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, của đồng nghiệp
Hà Nội, ngày tháng 01 năm 2017
TÁC GIẢ
Trịnh Thị Hồng Nga
Trang 2ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu và kết quả trong luận văn là hoàn toàn trung thực chưa được ai cống bố trong các công trình nghiên cứu nào trước đây và các thông tin trích trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng 01 năm 2017
TÁC GIẢ
Trịnh Thị Hồng Nga
Trang 3iii
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ - BẢNG BIỂU vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TRẠM BƠM 3
1.1 Chất lượng xây dựng công trình 3
1.1.1 Khái niệm về chất lượng 3
1.1.2 Yêu cầu về chất lượng 4
1.2 Quản lý chất lượng xây dựng công trình 4
1.2.1 Khái niệm về quản lý chất lượng 4
1.2.2 Vai trò của quản lý chất lượng 5
1.2.3 Sự cần thiết phải quản lý chất lượng sản phẩm 6
1.2.4 Các chức năng cơ bản của quản lý chất lượng 7
1.3 Đặc điểm công trình xây dựng trạm bơm 9
1.4 Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng trạm bơm 10
1.4.1 Đối với chủ đầu tư: 11
1.4.2 Đối với các tổ chức tư vấn xây dựng: 11
1.4.3 Đối với nhà thầu thi công xây dựng: 14
1.5 Những sự cố công trình xảy ra liên quan đến quản lý chất lượng 14
1.5.1 Một số khái niệm liên quan đến sự cố công trình 14
1.5.2 Một số nguyên nhân sự cố thường gặp 15
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TRONG QUÁ TRÌNH THI CÔNG 25
2.1 Cơ sở pháp lý trong quản lý chất lượng xây dựng công trình 25
2.2 Nguyên tắc quản lý chất lượng 29
2.2.1 Quản lý chất lượng phải được định hướng bởi khách hàng 30
2.2.2 Coi trọng con người trong quản lý 30
2.2.3 Quản lý chất lượng phải thực hiện toàn diện và đồng bộ 30
2.2.4 Quản lý chất lượng phải thực hiện theo yêu cầu về đảm bảo và cải tiến chất lượng 31
2.2.5 Quản lý chất lượng theo quá trình 31
2.3 Các bước phát triển của quản lý chất lượng 31
2.3.1 Kiểm tra chất lượng – I (Inspection) 32
Trang 4iv
2.3.2 Kiểm soát chất lượng – QC (Quality Control) 32
2.3.3 Đảm bảo chất lượng – QA (Quality Assurance) 33
2.3.4 Quản lý chất lượng toàn diện – TQM (Total Quality Management) 34
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất lượng công trình 35
2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình 35
2.3.2 Các công tác ảnh hưởng công tác quản lý chất lượng 37
2.4 Các Phương pháp kiểm soát chất lượng trong quá trình xây dựng 41
2.4.1 Kiểm soát con người 41
2.4.2 Kiểm soát cung ứng vật tư 42
2.4.3 Kiểm soát trang thiết bị dùng trong sản xuất và thử nghiệm 43
2.4.4 Kiểm soát phương pháp và quá trình 43
2.4.5 Kiểm soát môi trường 44
2.4.6 Kiểm soát thông tin 44
2.5 Yêu cầu quản lý chất lượng xây dựng trạm bơm 44
2.5.2 Cơ cấu tổ chức quản lý chất lượng 44
2.5.2 Yêu cầu đối với vật tư, vật liệu 45
2.5.4 Yêu cầu máy móc, thiết bị thi công 47
2.5.5 Yêu cầu chất lượng trong các công tác thi công chính 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2: 53
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG TRẠM BƠM, ÁP DỤNG CHO TRẠM BƠM TƯỚI PHỤNG CHÂU 54
3.1 Giới thiệu về trạm bơm tưới Phụng Châu 54
3.1.1 Địa điểm xây dựng: 54
3.1.2 Điều kiện tự nhiên: 54
3.1.3 Điều kiện địa hình, địa chất 54
3.1.4 Quy mô công trình: 57
3.2 Thực trạng quản lý chất lượng dự án trạm bơm tưới Phụng Châu 57
3.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý chất lượng 57
3.2.3 Công tác kiểm soát vật tư, vật liêu của nhà thầu 60
3.2.4 Công tác kiểm soát máy móc, thiết bị thi công 60
3.2.5 Công tác kiểm soát thi công một số hạng mục chính 60
3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng trạm bơm tưới Phụng Châu 62
3.3.1 Giải pháp về cơ cấu tổ chức quản lý chất lượng 62
Trang 5v
3.3.2 Bộ máy quản lý của nhà thầu thi công 65
3.3.3 Giải pháp kiểm soát vật tư, vật liệu đầu vào 67
3.3.4 Giải pháp kiểm soát các máy móc, thiết bị thi công 71
3.3.5 Giải pháp kiểm soát chất lượng thi công từng hạng mục 72
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78
KẾT LUẬN 79
Trang 6vi
DANH MỤC HÌNH VẼ - BẢNG BIỂU
Hình 1.1: Sự cố vỡ đập ở Gia Lai 21
Hình 1.2: Sập dàn giáo công trình đường sát trên cao Cát Linh – Hà Đông 21
Hình 1.3: Sập cầu máng 3 – Công trình thủy lợi Sông Dinh 3 22
Hình 1.4: Sập nhịp cầu Chợ Đệm 22
Hình 1.5: Võ đường ống dẫn dòng thủy điện Sông Bung 2 23
Hình 1.6: Cần cẩu công trình nhà 19 tầng sập vào tường bệnh viện 23
Bảng 2.1: Yêu cầu về các loại đất đắp 49
Hình 3.1 Quan hệ giữa các bên trong quá trình thi công xây dựng công trình 65
Hình 3.2 Sơ đồ tổ chức quản lý thi công công của nhà thầu 66
Trang 7vii
DAN H MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Bê tông cốt thép CNSPH
HCTH
Chứng nhận sự phù hợp Hành chính tổng hợp
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Xây dựng là một ngành sản xuất vật chất quan trọng, đóng vai trò quyết định đối với quá trình phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với Việt Nam một đất nước đứng lên từ nghèo nàn lạc hậu và bị chiến tranh tàn phá Trong những năm vừa qua chúng ta thu được nhiều thành công trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của đất nước Trong Xây dựng chất lượng công trình xây dựng không những có liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an toàn cộng đồng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình mà còn là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước Luật Xây dựng 2014 được Quốc Hội Khóa XIII thông qua năm 2014, trong đó chất lượng công trình xây dựng cũng là nội dung trọng tâm, xuyên suốt Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn Luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng đã được hoàn thiện theo hướng hội nhập quốc tế; những mô hình quản lý chất lượng công trình tiên tiến cùng hệ thống tiêu chí kỹ thuật cũng được
áp dụng một cách hiệu quả
Đó cũng chính là l ý do tác giả chọn đề tài “Nâng cao chất lượng xây dựng trạm bơm,
áp dụng cho trạm bơm tưới Phụng Châu Hà Nội”
2 Mục tiêu:
Phân tích thực trạng quản lý chất lượng xây dựng công trình trạm bơm tưới Phụng Châu thành phố Hà Nội Từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng trạm bơm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: công tác quản lý chất lượng của Chủ đầu tư các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Phạm vi nghiên cứu: trong giai đoạn thi công xây dựng công trình trạm bơm tưới Phụng Châu thành phố Hà Nội
4 Nội dung của luận văn:
Trang 9- Thực trạng quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Việt Nam hiện nay Nêu ra các vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong quản lý chất lượng công trình xây dựng, đặc biệt là các công trình trạm bơm
- Phân tích nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại
- Nghiên cứu cơ sở khoa học trong quản lý chất lượng
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các công trình xây dựng
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế
- Phương pháp thu thập phân tích tài liệu
- Phương pháp thống kê, so sánh
- Phương pháp kế thừa những kết quả đã tổng kết, nghiên cứu
6 Các kết quả dự kiến đạt được
- Phân tích thực trạng quản lý chất lượng xây dựng trạm bơm hiện nay, qua đó đánh giá những kết quả đạt được, những mặt còn tồn tại
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tiễn nhằm nâng cao quản lý chất lượng xây dựng công trình trạm bơm, cụ thể áp dụng cho trạm bơm tưới Phụng Châu thành phố Hà Nội
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TRẠM BƠM
1.1 Chất lượng xây dựng công trình
Tổ chức Châu Âu về kiểm soát chất lượng định nghĩa: “ Chất lượng là sự phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu cả người tiêu dùng”
Chuyên gia người Mỹ Philip B.Crosby định nghĩa: “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”
ISO 9000:2000 định nghĩa về chất lượng như sau: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo ra cho thực thể đó khả năng thảo mãn những nhu caàu đã được công bố hoặc còn tiềm ẩn”
Quan điểm của người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm phải được thực hiện phù hợp các yêu cầu sau:
- Chất lượng sản phẩm là tập hợp các chỉ tiêu, các thông số, các đặc trưng thể hiện tính năng kỹ thuật hay tính năng sử dụng của nó
- Chất lượng sản phẩm được thể hiện cùng với giá thành để có thể lựa chọn
- Chất lượng sản phẩm phải được gắn liền với điều kiện tiêu dùng cụ thể của từng người, từng địa phương, phù hợp với phong tục tập quán của cộng đồng
Như vậy các nhu cầu của khách hàng không chỉ bao gồm các chỉ tiêu đơn thuần về chất lượng như các thông số kỹ thuật, tính dễ sử dụng, độ tin cậy trong sử dụng, dễ dàng trong sử chữa thay thế, mà còn nhiều chỉ tiêu về kỹ thuật, về an toàn, về văn hóa,
về tác động đến môi trường và nhiều chỉ tiêu khác Vì vậy chất lượng sản phẩm không chỉ là các tập hợp, các thuộc tính bản chất của sự vật mà còn là mức độ thỏa mãn các thuộc tính ấy với những yêu cầu, những mục tiêu đã xác định và hơn thế là các yêu cầu
sử dụng trong những điều kiện cụ thể
Trích tài liệu QLCL xây dựng của PGS.TS Trịnh Quốc Thắng
Trang 111.1.2 Yêu cầu về chất lượng
Yêu cầu về chất lượng là tập hợp các nhu cầu đối với sản phẩm, có thể định lượng hay định tính được như: các thông số kỹ thuật, các chuẩn mực xác định, đối với các đặc tính của thực thể, để có thể tiến hành việc tạo ra nó và đánh giá được thực thể đó Các yêu cầu về chất lượng không nhưng bao gồm các yêu cầu của khách hàng được ký qua hợp đồng kinh tế, mà còn bao gồm cả các yêu cầu của xã hội, của thị trường và của nội bộ doanh nghiệp
Yêu cầu của xã hội: Bao gồm những điều bắt buộc tuân thủ, được quy định trong Luật
xây dựng, trong các Nghị đinh, trong Quy chuẩn xây dựng, Tiêu chuẩn xây dựng, các quy định về an toàn, an ninh xã hội, về bảo vệ môi trường, bảo tồn các nguồn năng lượng và tài nguyên
Yêu cầu của thị trường: Đời sống ngày một nâng cao, chất lượng cũng cần được nâng
cao để phù hợp với thị trường và các nhà sản xuất còn phải đi trước để kích thích thị trường và hướng dẫn người tiêu dùng sử dụng các sản phẩm có chất lượng cao
Yêu cầu của nội bộ doanh nghiệp: Doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển chỉ bằng
con đường cạnh tranh, sự cạnh tranh lành mạnh và bền vững nhất là hướng vào chất lượng Chất lượng không những đáp ứng các nhu cầu của khác hàng mà còn phải vượt trước thời đại để khẳng định uy tín và thương hiệu của minh cho quá trình hội nhập và toàn cầu hóa
1 2 Quản lý chất lượng xây dựng công trình
Quản lý chất lượng là toàn bộ các hoạt động của một tổ chức nhằm duy trì chất lượng
và giảm bớt chi phí sản phẩm
Quản lý chất lượng hiện đã được áp dụng trong mọi ngành công nghiệp, không chỉ trong sản xuất mà trong mọi lĩnh vực, trong mọi loại hình tổ chức, từ quy mô lớn đến quy mô nhỏ, cho dù có tham gia vào thị trường quốc tế hay không Quản lý chất lượng đảm bảo cho tổ chức làm đúng những việc phải làm và những việc quan trọng, theo
Trang 12triết lý “làm việc đúng” và “làm đúng việc”, “làm đúng ngay từ đầu” và làm đúng tại mọi thời điểm”
Quản lý chất lượng dự án bao gồm tất cả các hoạt động có định hướng và liên tục mà một tổ chức thực hiện để xác định đường lối, mục tiêu và trách nhiệm để dự án thỏa mãn được mục tiêu đã đề ra, nó thiết lập hệ thống quản lý chất lượng thông qua đường lối, các quy trình và các quá trình lập kế hoạch chất lượng, đảm bảo chất lượng, kiểm soát chất lượng
Khi nói đến tầm quan trọng của quản lý chất lượng trong nền kinh tế ta không thể không nghĩ đến hiệu quả kinh tế mà nó mang lại cho nền kinh tế Quản lý chất lượng giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý và quản trị kinh doanh Theo quan điểm hiện đại thì quản lý chất lượng chính là quản lý mà có chất lượng, là quản lý toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh Quản lý chất lượng giữ một vị trí then chốt đối với sự phát triển kinh tế, đời sống của người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Đối với nền kinh tế quốc dân: Hoạt động quản lý chất lượng đem lại hiệu quả cao cho nền kinh tế tiết kiệm được lao động cho xã hội do sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên, sức lao động, công cụ lao động, tiền vốn… Nâng cao chất lượng có ý nghĩa tương tự như tăng sản lượng mà lại tiết kiệm được lao động Nâng cao chất lượng sản phẩm cũng làm cho nền kinh tế được phát triển cả về chất và lượng Từ đó tạo đòn bẩy cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển một cách bền vững
- Đối với khách hàng: khi có hoạt động quản lý chất lượng, khách hàng sẽ được thụ hưởng những sản phẩm hàng hóa dịch vụ có chất lượng tốt hơn với chi phí thấp hơn
- Đối với doanh nghiệp: Quản lý chất lượng là cơ sở để tạo niềm tin cho khách hàng; giúp doanh nghiệp có khả năng duy trì và mở rộng thị trường làm tăng năng suất, giảm chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh Từ đó, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
Trang 13Trong cơ chế thị trường, cơ cấu sản phẩm, chất lượng sản phẩm hay giá cả và thời gian giao hàng là yếu tố quyết định rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp
mà các yếu tố này phụ thuộc rất lớn vào hoạt động quản lý chất lượng
Chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay Tầm quan trọng của quản lý chất lượng ngày càng được nâng cao, do đó chúng ta phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý chất lượng, đặc biệt là trong các tổ chức
Quản lý chất lượng sản phẩm là yêu cầu của xã hội Nhu cầu con người ngày một cao nên những đòi hỏi của họ về sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú Trong khi hàng hoá không chỉ sản xuất ra ở một quốc gia mà nó có sự giao thoa nhau mà sản phẩm nào có chất lượng cao sẽ thắng thế Đáp ứng yêu cầu đó, các nhà sản xuất kinh doanh phải có các biện pháp quản lý chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ một cách hợp lý để sản phẩm có uy tín với người tiêu dùng, phù hợp quy định quốc gia và quốc
tế
Bên cạnh đó, yêu cầu về tiết kiệm đòi hỏi ta phải quản lý chất lượng sản phẩm Các nguồn lực cho sản xuất sản phẩm đều có giới hạn nếu như chúng ta không khai thác hợp lý thì sẽ gây lãng phí và những hậu qủa xấu về kinh tế- xã hội, môi trường Tiết kiệm trong sản xuất là một giải pháp đạt hiệu quả kinh tế cao vừa giảm tối đa chi phí sản xuất mà chất lượng vẫn đảm bảo, nhờ đó mà người sản xuất tìm ra các phương pháp tối ưu trong quản lý
Quản lý chất lượng đúng ngay từ đầu (do right the first time) đang được các nhà quản trị doanh nghiệp hết sức quan tâm Đây là con đường tiết kiệm nhất trong kinh doanh
và nó cũng là mục tiêu của quản lý chất lượng sản phẩm trong doanh nghiệp nói riêng
và quản lý của các đơn vị tổ chức nói chung
Cần nói thêm rằng quản lý chất lượng sản phẩm là phải bảo vệ môi trường, đây không chỉ là vấn đề mang tính pháp lý mà còn chứa đựng đạo đức kinh doanh trong tinh thần
Trang 14nghiệp chủ Quản lý chất lượng phải được xây dựng trên cơ sở phát triển bền vững cân bằng trong mối quan hệ hữu cơ con người- sản xuất-môi trường
Như bất kỳ loại quản lý khác, quản lý chất lượng phải được xem xét trên chu trình chất lượng: Hoạch định, tổ chức, kiểm tra, kích thích và điều hoà phối hợp Tuy nhiên, do mục tiêu và đối lượng quản lý của quản lý chất lượng có những đặc thù riêng nên các chức năng của quản lý chất lượng cũng có những đặc điểm riêng Cụ thể như sau:
1 Chức năng hoạch định
Hoạch định là chức năng quan trọng hàng đầu và đi trước các chức năng khác Hoạch định chất lượng là một hoạt động xác định mục tiêu và các phương tiện, nguồn lực và biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu chất lượng sản phẩm
Nhiệm vụ chính của hoạch định chất lượng là nghiên cứu thị trường nhằm xác định các yêu cầu của khách hàng về chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, sau đó chuyển giao kết quả này tới bộ phận tác nghiệp Hoạt động này còn có tác dụng định hướng phát triển chất lượng cho toàn doanh nghiệp, tạo điều kiện nâng cào khả năng cạnh tranh trên thị trường và khai thác sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực nhằm góp phần giảm chi phí
2 Chức năng tổ chức
Tổ chức là quá trình thực hiện các hoạt động tác nghiệp sau khi đã có kế hoạch cụ thể
Để làm tốt chức năng tổ chức cần thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổ chức hệ thống chất lượng Mỗi doanh nghiệp phải tự lựa chọn cho mình hệ thống chất lượng phù hợp như TQM (Total Quanlity Management), ISO 9000 (International Standards Organization), HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Point System), GMP (Good Manufacturing Practive), Q-Base (tập hợp các kinh nghiệm quản lý chất lượng đã được thực thi tại New Zealand), giải thưởng chất lượng Việt Nam,…
Trang 15- Tổ chức thực hiện là hoạt động tiến hành các biện pháp kinh tế, hành chính, kỹ thuật, chính trị tư tưởng để thực hiện kế hoạch đã đặt ra Nhiệm vụ này bao gồm việc làm cho mọi người thực hiện kế hoạch hiểu rõ mục tiêu, sự cần thiết và nội dung công việc mình phải làm Bên cạnh đó, tổ chức chương trình đào tạo và giáo dục cần thiết đối với những người thực hiện kế hoạch; và cung cấp nguồn lực cần thiết ở mọi nơi mọi lúc
3 Chức năng kiểm tra, kiểm soát
Kiểm tra, kiểm soát chất lượng là quá trình điều khiển đánh giá các hoạt động tác nghiệp thông qua kỹ thuật, phương tiện, phương pháp và các hoạt động nhằm đảm bảo chất lượng theo đúng yêu cầu
Nhiệm vụ chính của kiểm tra, kiểm soát chất lượng là tổ chức các hoạt động đánh giá các sản phẩm có đạt yêu cầu hoặc đánh giá việc thực hiện chất lượng trong thực tế của doanh nghiệp; so sánh giữa chất lượng thực tế và chất lượng kế hoạch để phát hiện những sai lệch và đưa ra những biện pháp khắc phục
Khi thực hiện kiểm tra, kiểm soát các kết quả thực hiện kế hoạch cần đánh xem liệu bản thân kế hoạch đã đủ chưa và liệu kế hoạch có được tuân theo một cách trung thành không, nếu mục tiêu không đạt được có nghĩa là một trong hai hoặc cả hai điều trên đều không được thoả mãn
4 Chức năng kích thích
Kích thích việc đảm bảo và nâng cao chất lượng được thực hiện thong qua áp dụng chế
độ thưởng phạt về chất lượng đối với người lao động và áp dụng giải thưởng quốc gia
về đảm bảo và nâng cao chất lượng
5 Chức năng điều chỉnh, điều hoà, phối hợp
Đây là toàn bộ những hoạt động nhằm tạo ra sự phối hợp thống nhất, đồng bộ, khắc phục những sai sót cò tồn tại và đưa chất lượng sản phẩm lên mức cao hơn nhằm làm giảm dần khoảng cách giữa mong muốn của khách hàng và chất lượng thực tế đạt được Hoạt động điều hoà, điều chỉnh, phối hợp có nhiệm vụ cải tiến, hoàn thiện chất
Trang 16lượng sản phẩm theo các hướng khác nhau như phát triển sản phẩm mới, đa dạng hoá sản phẩm, đối mới công nghệ và hoàn thiện quá trình sản xuất Tuy nhiên, khi tiến hành các hoạt động điều chỉnh cần phân biệt rõ ràng giữa việc loại trừ hậu quả và loại trừ nguyên nhân của hậu quả
1.3 Đặc điểm công trình xây dựng trạm bơm
Công trình trạm bơm là một dạng công trình thủy lợi nên đặc điểm của công trình trạm bơm cũng giống như đặc điểm của công trình thủy lợi như sau:
Theo giáo trình kinh tế xây dựng 2010 - Bộ môn kinh tế thì sản phẩm của công trình xây dựng thủy lợi có 5 đặc điểm sau:
- Sản phẩm xây dựng là những công trình như cầu, cống, đập, nhà máy thủy điện, kênh mương… được xây dựng và sử dụng tại chỗ, đứng cố định tại địa điểm xây dựng và phân bố tản mạn các nơi trong lãnh thổ khác nhau Sản phẩm xây dựng thủy lợi phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phương, có tính đa dạng và cá biệt cao về công dụng,
về cách cấu tạo và về phương pháp chế tạo Phần lớn các công trình thủy lợi đều nằm trên sông, suối có điều kiện địa hình, địa chất rất phức tạp, điều kiện giao thông khó khăn, hiểm trở Chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên tại nơi xây dựng công trình
- Sản phẩm xây dựng thủy lợi thường có kích thước rất lớn, có tính đơn chiếc riêng lẻ, nhiều chi tiết phức tạp
- Sản phẩm xây dựng thủy lợi có thời gian xây dựng và sử dụng lâu dài Sản phẩm xây dựng với tư cách là công trình xây dựng đã hoàn thành mang tính chất tài sản cố định nên nó có thời gian sử dụng lâu dài và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, sử dụng nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu
- Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành, nhiều đơn vị cung cấp vật tư, máy móc, thiết bị cho các công tác như khảo sát, thiết kế, thi công…và đều có ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng công trình
Trang 17- Sản phẩm xây dựng thủy lợi mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, văn hóa,
xã hội, nghệ thuật và quốc phòng
Công trình trạm bơm yêu cầu phải ổn định, bền lâu, an toàn tuyệt đối trong quá trình khai thác vì vậy mang 04 tính chất sau:
- Tính phức tạp: Thi công trong điều kiện rất khó khăn, Liên quan nhiều bộ môn khoa học kỹ thuật, nhiều ngành kinh tế quốc dân, nhiều địa phương, nhiều người Phải đảm bảo lợi dụng tổng hợp và tiến hành thi công trên khô
- Tính khẩn trương: Do chất lượng đòi hỏi cao, khối lượng lớn, thi công điều kiện khó khăn, thời gian thi công ngắn, trong tình trạng thiếu vật tư trang thiết bị và đưa công trình vào sử dụng sớm do tính khẩn trương
- Tính khoa học: Trong thiết kế đảm bảo vững chắc, thỏa mãn các điều kiện của nhiệm
vụ thiết kế, tiện lợi cho khai thác sử dụng Trong thi công sử dụng các loại vật tư máy móc nhân lực và phải sử lý giải quyết các vấn đề kỹ thuật Vì vậy nhiệm vụ của người thi công là phải tổ chức quản lý thi công tốt, giải quyết các vấn đề kỹ thuật tốt, kịp
thời Bởi thế thi công còn mang tính chất khoa học
- Tính quần chúng: Công tác thi công thủy lợi đòi hỏi khối lượng lớn phạm vi xây dựng rộng nên phải sử dụng lực lượng lao động rất lớn vì vậy Đảng đưa ra chủ trương:
“Phải kết hợp chặt chẽ giữa công trình hạng nhỏ do nhân dân làm với công trình hạng vừa, lớn do nhà nước và nhân dân cùng làm” Do vậy công tác thi công mang tính quần chúng
1.4 Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng trạm bơm
Trong thời gian qua, công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng được các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ đầu tư và các đơn vị liên quan quan tâm chỉ đạo thực hiện Nhiều công trình xây dựng hoàn thành, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng đã phát huy hiệu quả đầu tư, tạo động lực cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, vẫn còn nhiều công trình xây dựng chất lượng thấp, cá biệt có công trình vừa xây dựng xong đã xuống cấp, hư hỏng gây bức xúc trong xã hội, làm lãng phí tiền của, không phát huy được hiệu quả vốn đầu tư Nguyên nhân chủ yếu do các chủ đầu tư,
Trang 18các tổ chức tư vấn, các nhà thầu tham gia quản lý về xây dựng công trình không tuân thủ nghiêm túc các quy định quản lý từ khâu khảo sát, lập dự án đầu tư đến thi công xây dựng và kiểm tra chứng nhận sự phù hợp chất lượng, nghiệm thu, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng Hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng từ tỉnh đến cơ
sở còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành Điều kiện năng lực của các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động xây dựng chưa đáp ứng yêu cầu
Thực tế hoạt động và những vấn đề còn tồn tại của các chủ thể trực tiếp tham gia hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng trong các bước chuẩn bị đầu tư dự án (lập dự án, lập nhiệm vụ, đề cương ), thiết kế công trình, thi công và nghiệm thu đưa công trình vào sử dụng
Chưa chấp hành đúng trình tự thủ tục xây dựng, phó mặc cho tư vấn, nhà thầu thi công; Với việc thực thi pháp luật trong thực tế còn hạn chế, đặc biệt đối với dự án sử dụng vốn ngân sách, chủ đầu tư vẫn còn dễ bị hiểu là “Ông chủ hờ” Họ chưa bị ràng buộc thật sự chặt chẽ về pháp luật và chưa thực hiện nghiêm túc chế độ quản lý chất lượng, biết nhưng vẫn làm (cố tình lựa một số đơn vị tư vấn không đủ điều kiện năng lực hành nghề hoạt động xây dựng để ký kết hợp đồng; tìm những nhà thầu thi công không đảm bảo điều kiện năng lực tài chính, chuyên môn vì lợi ích cá nhân nào đó)
Hiện nay thiếu các tư vấn chất lượng cao ở tầm vĩ mô trong việc đề xuất các chủ trương đầu tư xây dựng, quy hoạch, lập dự án, đề xuất các giải pháp kỹ thuật công nghệ chính xác, hợp lý, khả thi; Trong nhiều trường hợp đã để xảy ra các sai sót, phải điều chỉnh cho quá trình xây dựng gây tốn kém, lãng phí, ảnh hưởng lớn đến chất lượng công trình
Nhiều tổ chức tư vấn do đòi hỏi bức bách của công việc mà hình thành, chưa có những định hướng, chiến lược phát triển rõ rệt Các Công ty tư vấn xuất hiện tràn lan, đã bắt đầu có hiện tượng một số doanh nghiệp tư vấn về việc thực hiện dịch vụ theo kiểu môi
Trang 19giới hoặc thuê mượn, thiếu thực lực gây hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động tư vấn
Trong những năm gần đây số lượng các công ty tư vấn phát triển tràn lan nhưng năng lực thì lại yếu kém, còn nhiều hạn chế và chưa làm tròn trách nhiệm, còn vi phạm nguyên tắc quản lý đầu tư xây dựng Tất cả các đơn vị tư vấn trên địa bàn đều không
có hệ thống quản lý chất lượng; Trên thực tế cho thấy hầu hết các sai sót, khiếm khuyết trong xây dựng đều có liên quan đến tư vấn xây dựng, nhất là trong thiết kế Sai sót của tư vấn thiết kế có trường hợp dẫn đến hậu quả lâu dài khó khắc phục Tuy rằng kinh phí cho công tác tư vấn xây dựng không nhiều nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn Những thiếu sót, sai lầm của công tác tư vấn xây dựng thuộc phạm trù chất xám nên khó phát hiện nhưng điểm lại các nguyên nhân dễ nhận thấy nhất đó là:
- Với tư vấn thiết kế: Phần lớn các đơn vị tư vấn thiếu các cá nhân chủ trì thiết kế theo đúng các chuyên ngành phù hợp, điều kiện năng lực hành nghề hoạt động xây dựng còn hạn chế (vẫn còn tình trạng mượn chứng chỉ: 01 ông kiến trúc sư có chứng chỉ thiết kế có trong hồ sơ năng lực của nhiều công ty tư vấn); do thiếu về năng lực hành nghề chuyên môn vì vậy thiết kế không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, dẫn đến chất lượng sản phẩm hồ sơ rất kém (vì không có sự đầu tư nghiên cứu, chủ yếu là coppy từ các công trình tưng tự, điển hình; tác giả chủ yếu là những kỹ sư mới ra trường, chưa có kinh nghiệm ); đa số các đơn vị tư vấn thiết kế không có bộ phận kiểm tra KCS; các đơn vị tư vấn thiết kế thường không có sự giám sát tác giả và từ trước tới nay chưa có công trình nào được thiết kế lập quy trình bảo trì hoặc biệm pháp thi công chỉ đạo + Trong bước thiết kế kỹ thuật (Thiết kế bản vẽ thi công): Công tác khảo sát điều tra địa chất, thủy văn không chính xác (Trong công tác này hầu hết lại không được Ban QLDA nghiệm thu tại hiện trường mà chỉ nghiệm thu trên hồ sơ) Các giải pháp thiết
kế đưa ra ở một số dự án không phù hợp, các công trình đang thi công dở dang phải thay đổi giải pháp kỹ thuật, phải tạm dừng để điều chỉnh thiết kế hoặc thiết kế bổ sung…
Trang 20+ Các biểu hiện về chất lượng khi công trình thi công xong đưa vào sử dụng đã xảy ra hiện tượng nứt, lún, sụt trượt, xử lý nước ngầm… như các dự án nêu trên Không thể nói chỉ do sai sót của đơn vị thi công mà còn là do sai sót của thiết kế gây ra
- Giám sát tác giả của tư vấn thiết kế:
Mới chỉ thực hiện ở dự án do Tư vấn trong nước thiết kế, nhưng nhìn chung việc giám sát tác giả của Tư vấn thiết kế cũng chưa nghiêm túc, trách nhiệm về sản phẩm thiết kế chưa cao, chưa chịu trách nhiệm đến cùng đối với sản phẩm thiết kế của mình
- Với tư vấn khảo sát: còn nhiều bất cập vẫn mang tính hình thức; có nhiều Kết quả khảo sát không phản ánh đúng thực tế; phương án khảo sát hầu như không có nhiệm
vụ khảo sát được phê duyệt; quá trình khảo sát không được nghiệm thu; có đơn vị khảo sát lợi dụng báo cáo khảo sát của công trình lân cận để đưa ra kết quả khảo sát hoặc chỉ khảo sát một hai vị trí sau đó nội suy cho các vị trí còn lại,
- Với tư vấn giám sát: Đây là khâu quan trọng trong hoạt động quản lý chất lượng, chất lượng công trình có được bảo đảm phụ thuộc nhiều vào đội ngũ TVGS Tư vấn giám sát thay mặt Chủ đầu tư (Ban QLDA) để giám sát thi công; chấp nhận khối lượng, chất lượng của nhà thầu thi công; chấp thuận biện pháp thi công để nhà thầu thực hiện; thay mặt chủ đầu tư đề xuất quyết định việc xử lý kỹ thuật ở hiện trường Do vậy, ở những
dự án có chất lượng cao, thi công an toàn là những dự án Tư vấn giám sát đã làm đúng chức trách của mình và ngược lại
+ Đánh giá về lực lượng TVGS: Lực lượng TVGS tuy đông về số lượng nhưng còn thiếu nhiều chuyên gia giỏi Nguyên nhân chủ yếu do năng lực của các kỹ sư tư vấn giám sát và chế độ chính sách của Nhà nước đối với công tác TVGS chưa được coi trọng, chưa có cơ chế thu hút và chế độ đãi ngộ phù hợp với trách nhiệm và quyền hạn của TVGS; Chưa có biện pháp quản lý chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát, kiểm soát năng lực hành nghề và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ tư vấn giám sát
+ Hoạt động giám sát chất lượng của Tư vấn được thực hiện chưa đầy đủ, TVGS chưa thực hiện nghiêm túc chức trách, nhiệm vụ của mình, không kiểm soát được chất lượng công trình trong quá trình thi công của nhà thầu; không bám sát hiện trường để
Trang 21kịp thời xử lý các phát sinh bất hợp lý, chưa kiên quyết xử ký các vi phạm về chất lượng trong quá trình thực hiện dự án
Vẫn còn có nhà thầu không có cán bộ kỹ thuật, không có chỉ huy trưởng công trình theo quy định, hoặc bố trí cán bộ chỉ huy trưởng công trường không đúng với hồ sơ dự thầu đa số các nhà thầu chưa quan tâm đến biện pháp thi công, hệ thống quản lý chất lượng nội bộ, không bố trí đủ cán bộ giám sát nội bộ, thậm chí khoán trắng cho đội thi công và tư vấn giám sát; Biện pháp thi công trong hồ sơ dự thầu chỉ là hình thức, chưa đưa ra được các biện pháp sát thực để phục vụ thi công, chỉ đạo thi công một cách khoa học
Nhà thầu không thực hiện nghiêm những quy định hiện hành của Nhà nước là phải có
hệ thống quản lý chất lượng theo yêu cầu, tính chất quy mô công trình xây dựng, trong
đó quy định rõ trách nhiệm của từng cá nhân đồng thời mọi công việc phải được nghiệm thu nội bộ trước khi mời giám sát nghiệm thu ký biên bản Trong quá trình thi công khoán cho đội thi công thiếu lực lượng cũng như tổ chức thực hiện tại hiện trường xây dựng
Đội ngũ cán bộ, công nhân của các nhà thầu tăng nhanh về số lượng nhưng chất lượng còn chưa đáp ứng, thiếu cán bộ giỏi có kinh nghiệm quản lý, đặc biệt thiếu các đốc công giỏi, thợ đầu đàn Sử dụng công nhân không qua đào tạo, công nhân tự do, công nhân thời vụ, việc tổ chức hướng dẫn huấn luyện công nhân tại chỗ rất sơ sài Việc tổ chức đào tạo nâng cao tay nghề cho cán bộ và công nhân rất nhiều hạn chế
Đây là những nguyên nhân tiềm ẩn làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng công trình xây dựng, gây thất thoát, lãng phí, giảm hiệu quả vốn đầu tư
1.5 Những sự cố công trình xảy ra liên quan đến quản lý chất lượng
Định nghĩa sự cố: Sự cố công trình là những hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn cho phép làm cho công trình có nguy cơ sập đổ, đã sập đổ một phần, toàn bộ công trình hoặc công trình không sử dụng được theo thiết kế
Trang 22Theo định nghĩa này, sự cố cố thể được phân chi tiết hơn thành các loại sau:
Sự cố sập đổ: bộ phận công trình hoặc toàn bộ công trình bị sập đổ phải dỡ bỏ để làm lại
Sự cố về biến dạng: Nền, móng bị lún; kết cấu bị nghiêng, vặn, võng…làm cho công trình có nguy cơ sập đổ hoặc không thể sử dụng được bình thường phải sửa chữa mới dùng được
Sự cố sai lệch vị trí: Móng, cọc móng sai lệch vị trí, hướng; sai lệch vị trí quá lớn của kết cấu hoặc chi tiết đặt sẵn… có thể dẫn tới nguy cơ sập đổ hoặc không sử dụng được bình thường phải sửa chữa hoặc thay thế
Sự cố về công năng: công năng không phù hợp theo yêu cầu; chức năng chống thấm, cách âm, cách nhiệt không đạt yêu cầu; thẩm mỹ phản cảm…phải sửa chữa, thay thế
để đáp ứng công năng của công trình
1.5.2.1 Do khảo sát xây dựng
Các sai sót trong hoạt động khảo sát xây dựng thường biểu hiện ở các khía cạnh sau: Không phát hiện được hoặc phát hiện không đầy đủ quy luật phân bố không gian (theo chiều rộng và theo chiều sâu) các phân vị địa tầng, đặc biệt các đất yếu hoặc các đới yếu trong khu vực xây dựng và khu vực liên quan khác;
Đánh giá không chính xác các đặc trưng tính chất xây dựng của các phân vị địa tầng
có mặt trong khu vực xây dựng; thiếu sự hiểu biết về nền đất hay do công tác khảo sát địa kỹ thuật sơ sài Đánh giá sai về các chỉ tiêu cơ lý của nền đất
Không phát hiện được sự phát sinh và chiều hướng phát triển của các quá trình địa kỹ thuật có thể dẫn tới sự mất ổn định của công trình xây dựng
Không điều tra, khảo sát công trình lân cận và các tác động ăn mòn của môi trường… Những sai sót trên thường dẫn đến những tốn kém khi phải khảo sát lại (nếu phát hiện trước thiết kế), thay đổi thiết kế (phát hiện khi chuẩn bị thi công) Còn nếu không phát hiện được thì thiệt hại là không thể kể được khi đã đưa công trình vào sử dụng
Trang 23Quá tải đối với đất nền
Quá tải đối với đất nền là trường hợp đối với tiêu chuẩn giới hạn thứ nhất (về độ bền)
đã không đạt Thường xảy ra đối với các lớp đất yếu hoặc thấu kính bùn xen kẹp, và một số trường hợp đất đắp tôn nền không được xem là một loại tải trọng, cùng với tải trọng của công trình truyền lên đất nền bên dưới và gây cho công trình những độ lún đáng kể
Độ lún của các móng khác nhau dẫn đến công trình bị lún lệch
Móng đặt trên nền không đồng nhất
Móng công trình xây dựng trên sườn dốc
b Thiết kế kết cấu công trình
- Sai sót về kích thước
Nguyên nhân của sai sót này là do sự phối hợp giữa các nhóm thiết kế không chặt chẽ, khâu kiểm bản vẽ không được gây nên nhầm lẫn đáng tiếc xẩy ra trong việc tính toán thiết kế kết cấu công trình Cùng với sai sót đó là thiếu sự quan sát tổng thể của người thiết kế trong việc kiểm soát chất lượng công trình
- Sai sót sơ đồ tính toán
Trong tính toán kết cấu, do khả năng ứng dụng mạnh mẽ của các phần mềm phân tích kết cấu, về cơ bản, sơ đồ tính toán kết cấu thường được người thiết kế lập giống công trình thực cả về hình dáng, kích thước và vật liệu sử dụng cho kết cấu Tuy nhiên, việc
Trang 24quá phụ thuộc vào phần mềm kết cấu cũng có thể gây ra những sai lầm đáng tiếc trong tính toán thiết kế
- Bỏ qua kiểm tra điều kiện ổn định của kết cấu
Khi tính toán thiết kế, đối với những thiết kế thông thường, các kỹ sư thiết kế thường tính toán kiểm tra kết cấu theo trạng thái giới hạn thứ nhất Tuy nhiên, trong trạng thái giới hạn thứ nhất, chỉ tính toán kiểm tra đối với điều kiện đảm bảo khả năng chịu lực,
bỏ qua kiểm tra điều kiện ổn định của kết cấu Đối với những công trình có quy mô nhỏ, kích thước cấu kiện kết cấu không lớn, thì việc kiểm tra theo điều kiện ổn định có thể bỏ qua Tuy nhiên, đối với các các công trình có quy mô không nhỏ, kích thước cấu kiện lớn thì việc kiểm tra theo điều kiện ổn định là rất cần thiết
- Sai sót về tải trọng
Việc tính toán tải trọng tác dụng lên kết cấu cũng thường gây ra những sai sót, trong
đó sai sót tập trung chủ yếu ở việc lựa chọn giá trị tải trọng, lấy hệ số tổ hợp của tải trọng
- Bố trí cốt thép không hợp lý
Trong kết cấu BTCT, cốt thép được bố trí để khắc phục nhược điểm của bê tông là chịu kéo kém Việc bố trí cốt thép không đúng sẽ dẫn đến bê tông không chịu được ứng suất và kết cấu bị nứt
- Giảm kích thước của cấu kiện BTCT
Trong cấu kiện BTCT, bê tông chịu lực cắt là chủ yếu, vì lý do nào đó tiết diện bê tông tại những vùng có lực cắt lớn phải giảm bớt tiết diện, sẽ làm giảm khả năng chịu lực cắt của cấu kiện Khi giảm bớt tiết diện của bê tông, nhà thiết kế không kiểm tra đã dẫn đến cấu kiện bị nứt và xẩy ra sự cố công trình
- Thiết kế sửa chữa và cải tạo công trình cũ
Các công trình xây dựng thường có tuổi thọ từ hàng chục năm đến trăm năm Trong quá trình sử dụng và khai thác công trình, thì mục đích sử dụng nhiều khi có những thay đổi
so với thiết kế ban đầu, để đáp ứng nhu cầu sử dụng, phải sửa chữa, cải tạo, nâng cấp
Trang 25công trình hiện có để thay đổi tính năng, quy mô đáp ứng được chức năng mới mà sử dụng yêu cầu Trong quá trình thiết kế, nhiều khi các nhà thiết kế đã không xác định tuổi thọ còn lại của công trình cần cải tạo, tuổi thọ của phần công trình được để lại của công trình cải tạo, xem tuổi thọ của chúng còn tương đương với tuổi của phần công trình được nâng cấp cải tạo hay không dẫn đến tình trạng tuổi thọ của từng phần của công trình được cải tạo không đồng đều và tuổi thọ của toàn bộ công trình bị giảm
Đồng thời nhà thiết kế chưa quan tâm đến sơ đồ chịu lực của công trình cũ và sơ đồ chịu lực của công trình sau khi cải tạo Sự khác biệt quá xa của sơ đồ kết cấu mới sau
khi cải tạo và sơ đồ kết cấu của công trình cũ, đã dẫn đến sự can thiệp quá sâu vào kết cấu của công trình cũ và dẫn đến sự cố của công trình xây dựng
- Những nguyên nhân về thiết kế liên quan đến môi trường
Một trong những vấn đề nóng cần bàn tới trong mối quan hệ giữa chất lượng công trình và an toàn môi trường là những can thiệp “thô bạo” của các đồ án thiết kế gây ra những bất ổn cho sự làm việc an toàn của công trình trong suốt tuổi thọ của nó Vốn dĩ
vỏ trái đất này đã tồn tại ổn định hàng triệu triệu năm Người thiết kế đã vô tình và phần lớn là cố ý vì những mục đích hẹp hòi đã tạo cho một phần của vỏ trái đất bị biến dạng gây mất ổn định cục bộ Sự mất ổn định này sẽ làm xuất hiện một xu thế đi tìm
sự cân bằng mới Quá trình này đôi khi thực sự “khốc liệt” và sẽ không có điểm dừng một khi trạng thái cân bằng mới không được tái lập Vì vậy, trong các dự án xây dựng
có ảnh hưởng tới môi trường thường được xem xét rất chi tiết vấn đề an toàn môi trường Song, do những nhận thức còn hạn hẹp về vai trò của an toàn môi trường trong
sự bền vững của công trình xây dựng và thực trạng chỉ coi trọng lợi ích trước mắt, công trình xây dựng đã, đang và sẽ bị thiên nhiên tác động phá hoại và làm hao tổn tuổi thọ
- Những nguyên nhân về thiết kế liên quan đến môi trường ăn mòn
Những sai sót của người thiết kế dẫn đến công trình xây dựng bị sự cố do tác động ăn mòn của môi trường như:
Quy định sai về chiều dày lớp bảo vệ
Trang 26Sử dụng mác bê tông thấp không đảm bảo hàm lượng xi măng tối thiểu
Không sử dụng các biện pháp cần thiết để tăng khả năng chống ăn mòn cho kết cấu
- Các trường hợp khác
Khi tính toán tác giả có một số quan niệm không thích hợp với điều kiện thực tế thi công, nhưng không chú thích rõ ràng đầy đủ trong bản vẽ chi tiết, để người thi công thực hiện
Không có biện pháp cấu tạo, để công trình chịu sự thay đổi của nhiệt độ, khi nhiệt độ thay đổi làm kết cấu bị co giãn, công trình bị nứt ở kết cấu chịu tác động của nhiệt, tạo điều kiện cho các tác nhân khác ăn mòn kết cấu dẫn đến kết cấu bị hư hỏng
1.5.2.3 Do thi công xây dựng
Trong thi công, nhà thầu không thực hiện đúng các quy trình quy phạm kỹ thuật đã dẫn đến sự cố công trình xây dựng:
Không kiểm tra chất lượng, quy cách vật liệu trước khi thi công
Không thực hiện đúng trình tự các bước thi công
Vi phạm các quy định về tổ chức, quản lý, kỹ thuật thi công
Cụ thể:
- Khối lượng và chất lượng vật liệu:
Vi phạm phổ biến của các nhà thầu là hạ cấp chất lượng vật liệu Đặc biệt, việc hạ cấp chất lượng vật liệu thực sự là khó kiểm soát khi không có các mô hình giám sát quản
lý chất lượng hiệu quả
Trong cuộc đấu thầu gần đây có nhiều công trình có giá trúng thầu rất thấp so với giá
dự toán được duyệt Thậm chí có những nhà thầu bỏ thầu thấp hơn rất nhiều so với chi phí cần thiết Do không có giám định về giá cả vật liệu nên các nhà thầu có thể đưa ra các chỉ tiêu chất lượng cao và giá thấp để trúng thầu Song khi thực hiện thi công xây lắp các nhà thầu đã giảm mức chất lượng, chủng loại, xuất xứ, đưa các thiết bị, vật
Trang 27liệu chất lượng kém vào trong công trình và tìm cách bớt xén các nguyên vật liệu để
bù chi phí và có một phần lợi nhuận
- Chất lượng biện pháp thi công:
Trong hồ sơ đấu thầu xây lắp, hầu hết các nhà thầu đều đưa ra được phần thuyết minh biện pháp thi công hoàn hảo với một lực lượng lao động hùng hậu, thực tế lại không như vậy Lực lượng công nhân phổ biến ở các công trường hiện nay hầu hết là thợ
“nông nhàn” Việc sử dụng lực lượng lao động này là một điều rất đáng lo ngại, không những ảnh hưởng tới chất lượng công trình mà còn có nguy cơ để xảy ra tai nạn lao động nhiều Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý kỹ thuật cũng được sử dụng không đúng với chuyên môn Nhiều các kỹ sư vật liệu trẻ mới ra trường không có việc làm lại được thuê làm kỹ thuật giám sát kiểm tra thi công cọc khoan nhồi mà khi hỏi các kỹ sư này không hiểu cọc khoan nhồi là gì? Chính vì sử dụng những lực lượng lao động như vậy đã làm cho công trình không đảm bảo chất lượng
Biện pháp thi công không phù hợp luôn chứa đựng yếu tố rủi ro về chất lượng; có khi còn gây ra những sự cố lớn không lường
Vi phạm khá phổ biến trong giai đoạn thi công là sự tùy tiện trong việc lập biện pháp
và qui trình thi công Những sai phạm này phần lớn gây đổ vỡ ngay trong quá trình thi công và nhiều sự cố gây thương vong cho con người cũng như sự thiệt hại lớn về vật chất
Trang 28Hình 1.1: Sự cố vỡ đập ở Gia Lai
Hình 1.2: Sập dàn giáo công trình đường sát trên cao Cát Linh – Hà Đông
Trang 29Hình 1.3: Sập cầu máng 3 – Công trình thủy lợi Sông Dinh 3
Hình 1.4: Sập nhịp cầu Chợ Đệm
Trang 30Hình 1.5: Võ đường ống dẫn dòng thủy điện Sông Bung 2
Hình 1.6: Cần cẩu công trình nhà 19 tầng sập vào tường bệnh viện
Trang 31KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1 tác giả đã đề cập đến những nội dung sau đây:
Tác giả muốn đề cập đến một số khái niệm về chất lượng, quản lý chất lượng nói chung Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình nói chung cũng như công trình trạm bơm ở Việt Nam hiện nay và Những sự cố công trình xảy ra liên quan đến chất lượng công trình
Qua nội dung chương 1, tác giả muốn nêu ra những thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng cũng như công trình trạm bơm của Việt Nam hiện nay, từ
đó làm tiền đề nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng xây dựng công
trình đặc biệt là công trình trạm bơm Và làm tiền đề xây dựng cơ sở lý luận quản lý chất lượng xây dựng và các yêu cầu trong quá trình thi công công trình trạm bơm
Trang 32CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG TRONG QUÁ TRÌNH THI CÔNG
2.1 Cơ sở pháp lý trong quản lý chất lượng xây dựng công trình
Qua các thời kỳ phát triển, các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ đầu tư ở nước ta đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến quản lý đầu tư xây dựng công trình, vì nó quyết định đến tiến độ, chi phí, chất lượng dự án đầu tư xây dựng công trình góp phần quan trọng đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân
Cơ sở để quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng là những văn bản của Nhà nước, tiêu chuẩn của ngành, quy chuẩn Quốc gia và tiêu chuẩn cho công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt Hồ sơ lập thiết kế công trình với quyết định phê duyệt là những căn cứ để thực hiện quản lý chất lượng dự án công trình xây dựng Các văn bản đó luôn luôn được bổ sung, cập nhật các tiến bộ xã hội và phát triển của khoa học để làm công cụ cho pháp luật về hợp đồng xây dựng Nhà nước đã hoàn thiện các Luật, các Nghị định, Thông tư, các văn bản về quản lý đầu tư xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng từ Trung ương đến địa phương theo một số mô hình quản lý đầu
tư khác nhau Hệ thống các văn bản luật, nghị định, thông tư:
Hệ thống các văn bản luật, nghị định, thông tư mới nhất đang áp dụng hiện nay:
- Luật xây dựng số 50/2013/QH13 ngày 18/6/2014, Quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây dựng;
- Luật đấu thầu số 43/2016/QH13 ngày 26/11/2013; Quy định về việc Lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa, xây lắp đối với:
a) Dự án đầu tư phát triển sử dụng vốn nhà nước của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập;
b) Dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước;
Trang 33c) Dự án đầu tư phát triển không thuộc quy định tại điểm a và điểm b khoản này có sử dụng vốn nhà nước, vốn của doanh nghiệp nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30%
nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án;
d) Mua sắm sử dụng vốn nhà nước nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập;
đ) Mua sắm sử dụng vốn nhà nước nhằm cung cấp sản phẩm, dịch vụ công;
e) Mua hàng dự trữ quốc gia sử dụng vốn nhà nước;
g) Mua thuốc, vật tư y tế sử dụng vốn nhà nước; nguồn quỹ bảo hiểm y tế, nguồn thu
từ dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và nguồn thu hợp pháp khác của cơ sở y tế công lập; + Lựa chọn nhà thầu thực hiện cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, hàng hóa trên lãnh thổ Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam mà dự án đó sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án;
+ Lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP), dự
án đầu tư có sử dụng đất;
+ Lựa chọn nhà thầu trong lĩnh vực dầu khí, trừ việc lựa chọn nhà thầu cung cấp dịch
vụ dầu khí liên quan trực tiếp đến hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí theo quy định của pháp luật về dầu khí
- Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/06/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một
số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu; Nghị định này quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu thực hiện các gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 1 của Luật Đấu thầu + Việc lựa chọn nhà thầu trong lĩnh vực dầu khí quy định tại Khoản 4 Điều 1 của Luật Đấu thầu áp dụng đối với dự án đầu tư phát triển quy định tại các Điểm a, b và c Khoản 1 Điều 1 của Luật Đấu thầu, trừ việc lựa chọn nhà thầu liên quan trực tiếp đến hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí
+ Trường hợp điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế có quy định việc áp dụng thủ tục lựa chọn nhà thầu thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 3 của Luật
Trang 34Đấu thầu Thủ tục trình, thẩm định và phê duyệt thực hiện theo quy định của Nghị định này
+ Trường hợp điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế không có quy định về việc áp dụng thủ tục lựa chọn nhà thầu, việc lựa chọn nhà thầu thực hiện theo quy định của Luật Đấu thầu và Nghị định này
- Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng Nghị định này quy định chi tiết một số nội dung thi hành Luật Xây dựng năm 2014 về quản lý dự án đầu tư xây dựng, gồm: Lập, thẩm định, phê duyệt dự án; thực hiện dự án; kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng; hình thức và nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng
+ Đối với dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài được thực hiện theo quy định của Nghị định này và pháp luật về quản lý sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài
- Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính phủ về quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản, khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liêu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở
- Nghị định số 44/2015/NĐ-CP ngày 06/5/2015 của Chính phủ về Quy hoạch xây dựng Nghị định quy định chi tiết một số nội dung của Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, gồm: Lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch xây dựng; quản lý thực hiện quy hoạch xây dựng; giấy phép quy hoạch Nghị định áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến công tác quy hoạch xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam
- Nghị định số 26/2013/NĐ-CP ngày 29/03/2013 của Chính phủ về Tổ chức và hoạt động của thanh tra xây dựng Nghị định quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước ngành Xây dựng, thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra ngành Xây dựng; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thanh tra ngành Xây dựng
- Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 của Chính phủ : Về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng Nghị định hướng dẫn Luật Xây dựng về quản lý
Trang 35chất lượng công trình xây dựng trong công tác khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng; về bảo trì công trình xây dựng và giải quyết sự cố công trình xây dựng
- Thông tư số 03/2011/TT-BXD ngày 06/04/2011 của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn hoạt động kiểm định, giám định và chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực, chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng Thông tư hướng dẫn
về hoạt động kiểm định, giám định và chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực, chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng
- Thông tư 16/2016/TT-BXD hướng dẫn Nghị định 59/2015/NĐ-CP về hình thức tổ chức quản lý dự án (QLDA) đầu tư xây dựng:
+ Việc sắp xếp, tổ chức lại hoạt động, thành lập các Ban QLDA chuyên ngành, khu vực phải được hoàn thành trước ngày 31/10/2016 Ban QLDA đầu tư xây dựng một dự
án sử dụng vốn nhà nước được thành lập trước ngày 01/01/2015 tiếp tục hoạt động cho đến khi hoàn thành dự án, đưa công trình vào khai thác sử dụng
+ Đối với dự án được thực hiện theo hình thức thuê tư vấn QLDA trước ngày 01/01/2015, đã lựa chọn được nhà thầu tư vấn QLDA được tiếp tục ký kết, thực hiện hợp đồng tư vấn QLDA cho đến khi dự án hoàn thành, đưa công trình vào khai thác sử dụng
+ Ban QLDA đầu tư xây dựng một dự án sử dụng vốn nhà nước được thành lập từ ngày 01/01/2015 đến 05/8/2015 không đáp ứng điều kiện tại Khoản 2 Điều 62 Luật Xây dựng 2014 phải chuyển đổi hình thức QLDA được áp dụng
- Thông tư số 17/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn về năng lực tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xây dựng Quy định chung năng lực hoạt động xây dựng:
+ Cá nhân khi tham gia hoạt động xây dựng thuộc các lĩnh vực sau thì phải có chứng chỉ hành nghề: Khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; kiểm định xây dựng và định giá xây dựng
+ Đối với tổ chức khi tham gia hoạt động xây dựng ở các lĩnh vực sau phải có chứng chỉ năng lực: Khảo sát xây dựng; lập quy hoạch xây dựng; lập, thẩm tra dự án đầu tư
Trang 36xây dựng; quản lý dự án; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; kiểm định và quản lý, thẩm tra chi phí đầu tư xây dựng
+ Cấp chứng chỉ hành nghề và chứng chỉ năng lực hoạt động xây dựng
- Thông tư số 18/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng về quy định chi tiết và hướng dẫn một số nội dung về thẩm định, phê duyệt dự án và thiết kế, dự toán xây dựng công trình
+ Thông tư quy định chi Tiết về thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng và thiết
kế, dự toán xây dựng công trình theo quy định tại Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng
b) Việc thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, đề xuất chủ trương đầu tư và quyết định chủ trương đầu tư được thực hiện theo pháp luật về đầu tư và pháp luật về đầu tư công
- Thông tư số 05/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính về Quản lý, sử dụng các khoản thu
từ hoạt động quản lý dự án của các chủ đầu tư, ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ
- Thông tư 26/2016/TT-BXD ngày 26/10/2016 của Bộ Xây dựng về việc quy định một số nội dung về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng
Các văn bản trên quy định: Chính phủ thống nhất Quản lý nhà nước về xây dựng công trình trên phạm vi cả nước; Bộ Xây dựng thống nhất Quản lý nhà nước về Chất lượng công trình xây dựng trong phạm vi cả nước; các Bộ có quản lý Công trình xây dựng chuyên ngành phối hợp với Bộ Xây dựng trong việc Quản lý chất lượng; UBND cấp tỉnh theo phân cấp có trách nhiệm Quản lý nhà nước về xây dựng trên địa bàn theo phân cấp của Chính phủ
2.2 Nguyên tắc quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng là một hoạt động quản lý riêng biệt nó có những đòi hỏi, những nguyên tắc riêng
Trang 372.2.1 Quản lý chất lượng phải được định hướng bởi khách hàng
Sự phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình Doanh nghiệp cần hiểu biết các nhu cầu hiện tại cũng như tiềm ẩn của khách hàng để không chỉ đáp ứng mà còn phấn đấu vượt xa hơn sự mong đợi của khách hàng Nguyên tắc đầu tiên của quản lý chất lượng là phải hướng tới khách hàng và nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng Tăng cường các hoạt động trước sản xuất và sau bán hàng đều lấy việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng làm trọng, là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp
Trong một tổ chức con người luôn đóng vai trò hàng đầu trong việc quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, trong công tác quản lý chất lượng cần áp dụng biện pháp thích hợp để có thể phát huy hết tài năng của mọi người, mọi cấp của công việc Lãnh đạo doanh nghiệp phải là người xây dựng chính sách và chiến lược phát triển doanh nghiệp đồng thời thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích và chính sách của doanh nghiệp của người lao động, của xã hội Lãnh đạo cần tạo
ra và duy trì môi trường nội bộ trong doanh nghiệp để hoàn toàn lôi cuốn mọi người tham gia vào các hoạt động của doanh nghiệp
Quản lý chất lượng tức là quản lý tổng thể các hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, tổ chức, xã hội…liên quan đến các hoạt động như nghiên cứu thi trường, xây dựng chính sách chất lượng, thiết kế chế tạo, kiểm tra, dịch vụ sau khi bán Nó cũng chính là những kết quả, những cố gắng, nỗ lực chung của các ngành, các cấp các địa phương và từng con người Quản lý chất lượng toàn diện và đồng bộ sẽ giúp cho các hoạt động của doanh nghiệp được khớp với nhau từ đó tạo ra sự thống nhất cao trong các hoạt động Từ việc quản lý chất lượng toàn diện giúp cho doanh nghiệp phát hiện ra vấn đề một cách nhanh chóng từ đó có những biện pháp điều chỉnh
Trang 382.2 4 Quản lý chất lượng phải thực hiện theo yêu cầu về đảm bảo và cải tiến chất lượng
Đảm bảo và cải tiến chất lượng là hai vấn đề có liên quan mật thiết với nhau Đảm bảo
nó bao hàm việc duy trì mức chất lượng nhằm thỏa mãn khách hàng, còn cải tiến giúp cho sản phẩm hàng hóa dịch vụ có chất lượng vượt trội mong đợi của khách hàng Đảm bảo cải tiến chất lượng là sự phát triển liên tục không ngừng trong công tác quản
lý chất lượng
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn và các hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình Quản lý phải theo một quá trình tức là phải tiến hành hoạt động quản lý ở mọi khâu quản lý liên quan đến việc hình thành chất lượng đó là khâu nghiên cứu nhu cầu khách hàng cho đến dịch vụ sau bán hàng Làm tốt việc này sẽ giúp doanh nghiệp ngăn chặn được sản phẩm kém đến tay khách hàng Đây chính là chính sách nâng cao khả năng cạnh tranh và giảm chi phí cho doanh nghiệp
2.3 Các bước phát triển của quản lý chất lượng
Cùng với sự phát triển rất mạnh mẽ của tất cả các ngành sản xuất, công nghệ quản lý chất lượng cũng như từng bước phát triển cho phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường Tùy theo đặc điểm về kinh tế của từng quốc gia, cũng như các chính sách xã hội, luật pháp, mà mỗi nước có công nghệ quản lý chất lượng của mình
Quản lý chất lượng có các tầm mức độ cao thấp khác nhau, tùy thuộc vào trình độ của từng nước Có thể chia mức độ quản lý chất lượng thành bốn mức từ thấp đến cao: Mức 1: Kiểm tra chất lượng
Mức 2: Kiểm soát chất lượng
Mức 3: Đảm bảo chất lượng
Mức 4: Quản lý chất lượng toàn diện
Trang 392.3.1 K iểm tra chất lượng – I (Inspection)
Phương pháp này được hình thành từ lâu và chủ yếu là tập trung vào khâu cuối cùng (sản phẩm sau khi sản xuất), thực chất phương pháp này không tạo dụng nên chất lượng mà chỉ nhằm hạn chế những sai lệch trong hoạt động tác nghiệp Với cách kiểm tra này không khai thác được tiềm năng sáng tạo của từng cá nhân trong đơn vị để cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm Hơn nữa việc kiểm tra gây nhiều tốn kém và mất thời gian, không phải thực hiện dễ dàng ngay cả đối với công nghiệp hiện đại, trong khi đó loại bỏ được phế phẩm ít Ở Việt Nam, chúng ta đã thực hiện quản lý chất lượng ở tầm mức này trong thời kỳ trước đổi mới
Theo ISO 8402 định nghĩa: “Kiểm tra chất lượng là các hoạt động như đo, xem xét thử nghiệm hoặc định chuẩn một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu quy định nhằm xác định sự không phù hợp của mỗi đặc tính” Để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp quy định một cách có hiệu quả bằng 100% sản phẩm, cần phải thoả mãn những điều kiện sau:
- Công việc kiểm tra cần được tiến hành một cách đáng tin cậy và không có sai sót;
- Chi phí cho việc kiểm tra phải ít hơn chi phí tổn thất do sản phẩm khuyết tật và những thiệt hại do ảnh hưởng đến lòng tin của khách hàng;
- Quá trình kiểm tra không được ảnh hưởng đến chất lượng
Đầu thế kỷ 20, việc sản xuất với khối lượng lớn đã trở nên phát triển rộng rãi, khách hàng bắt đầu yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và sự cạnh tranh giữa các cơ sở sản xuất về chất lượng càng ngày càng mãnh liệt Các nhà công nghiệp dần dần nhận ra rằng kiểm tra không phải là cách đảm bảo chất lượng tốt nhất và bắt đầu chú trọng đến những quá trình trước đó, hơn là đợi đến khâu cuối cùng mới tiến hành sàng lọc sản phẩm Vì vậy, khái niệm kiểm soát chất lượng (Quality Control - QC) ra đời
Kiểm soát chất lượng là các hoạt động và các biện pháp kỹ thuật có tính tác nghiệp nhằm theo dõi quá trình, đồng thời loại trừ những nguyên nhân làm hoạt động không
Trang 40thỏa mãn ở mọi giai đoạn của sản xuất để đạt hiệu quả kinh tế Để kiểm soát chất lượng, cần phải kiểm soát được mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng Nội dung kiểm soát của yếu tố này là 5M:
5M= (Man – Machines – Material – Method – Milieu)
(Con người – thiết bị - vật liệu – phương pháp – Môi trường làm việc)
Để duy trì chất lượng phải kiểm soát thường xuyên và đồng bộ tất cả các yếu tố này và duy trì chúng ở cùng một mức độ chất lượng Vì chỉ cân một yếu tố kém sẽ ảnh hưởng tới chất lượng của sản phẩm
Cũng cần lưu ý rằng, kiểm soát chất lượng phải tiến hành song song với kiểm tra chất lượng bởi nó buộc sản phẩm làm ra phải được một mức chất lượng nhất định và ngăn ngừa bớt những lỗi sai có thể xảy ra Kiểm soát là hoạt động bao quát hơn, toàn diện hơn
Đa số công ty Việt Nam hiện nay đạt ở mức kiểm soát chất lượng
Sau khi kiểm soát được chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp cần phải duy trì mức chất lượng đã đạt được thông qua việc đảm bảo chất lượng sản phẩm Để có thể tiến hành hoạt động nhằm đảm bảo chất lượng có hiệu quả thì các doanh nghiệp phải xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng và chứng minh cho khách hàng thấy được điều
đó
Theo ISO 9000 định nghĩa về đảm bảo chất lượng: “ Đảm bảo chất lượng là tạo sự tin tưởng cho khách hàng, rằng một tổ chức sẽ luôn luôn thỏa mãn được mọi yêu cầu của chất lượng, thông qua việc tiến hành các hoạt động trọng hệ chất lượng theo kế hoạch,
có hệ thống, khi được yêu cầu, những hoạt động này hoàn toàn có thể được trình bày, chứng minh bằng các văn bản và hồ sơ ghi chép các hoạt động của quá trình”
Cơ sở lý luận của đảm bảo chất lượng sản phẩm là ở chỗ, khách hàng không thể giám sát tờn bộ quá trình sản xuất, cũng như kiểm tra tất cả trước khi nghiệm thu Giải pháp hiệu quả và ít tốn kém là để nhà sản xuất chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình