Theo quy định hiện nay, Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng phù hợp với tính chất, quy mô và nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình trong quá trình thực hiện đầu tư xây dự
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng cá nhân tôi với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn khoa học Các thông tin tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất
kỳ đề tài nào trước đây
Ninh Thuận, ngày tháng 5 năm 2017
Tác giả
Trần Toàn Quyền
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu và làm luận văn Thạc sĩ, tác giả đã nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình và sự động viên sâu sắc của các cá nhân, cơ quan và nhà trường, qua đó đã tạo điều kiện để tác giả trong quá trình nghiên cứu thực hiện và hoàn thành luận văn này;
Trước hết tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến Thầy giáo: PGS.TS Nguyễn
Bá Uân, người thầy trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn;
Tác giả xin chân thành cảm ơn tới thầy cô giáo trong Bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng, khoa Công trình, và quý thầy cô giáo trong Trường Đại học Thủy lợi đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt kiến thức trong suốt thời gian học tập chương trình cao học cũng như trong quá trình thực hiện luận văn;
Tác giả chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những người đi trước
đã chỉ bảo, khích lệ, động viên, ủng hộ nhiệt tình về mọi mặt trên con đường học hỏi nghiên cứu khoa học;
Do trình độ có hạn và thời gian nghiên cứu ngắn, nên luận văn không thể tránh khỏi những tồn tại, hạn chế, tác giả mong nhận được mọi ý kiến đóng góp và trao đổi chân thành của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
Ninh Thuận, ngày tháng 5 năm 2017
Tác giả
Trần Toàn Quyền
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ix
1 Tính cấp thiết của Đề tài ix
2 Mục tiêu nghiên cứu x
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu x
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài x
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài xi
4 Cách tiếp cận và Phương pháp nghiên cứu xi
4.1 Cách tiếp cận xi
4.2 Phương pháp nghiên cứu xi
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG 1
1.1 Khái niệm 1
1.1.1 Chất lượng công trình xây dựng 1
1.1.2 Chất lượng công trình xây dựng nhà chung cư 2
1.1.2.1 Khái niệm nhà chung cư 2
1.1.2.2 Phân loại nhà chung cư 3
1.1.2.3 Những ưu điểm của nhà chung cư 3
1.1.2.4 Các chỉ tiêu chất lượng thi công nhà chung cư 4
1.2 Thực trạng chất lượng thi công xây dựng các công trình nhà chung cư 6
1.2.1 Tình hình đầu tư xây dựng công trình nhà chung cư ở Việt Nam 6
1.2.2 Những kết quả đạt được trong đầu tư xây dựng chung cư 6
1.2.3 Một số sự cố thường gặp khi xây dựng công trình chung cư do quản lý chất lượng thi công xây dựng 7
1.2.4 Những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng các công trình chung cư 9
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thi công xây dựng công trình 10
1.3.1 Nhân tố chủ quan 10
1.3.2 Nhân tố khách quan 13
1.3.3 Quản lý nhân tố tác động đến chất lượng thi công công trình 13
1.4 Đặc điểm, nguyên tắc, quy trình quản lý chất lượng thi công công trình 14
1.4.1 Đặc điểm quản lý chất lượng thi công công trình 14
1.4.2 Nguyên tắc quản lý chất lượng thi công công trình 15
1.4.3 Quy trình quản lý chất lượng thi công công trình 16
1.5 Tình hình chung về quản lý chất lượng công trình xây dựng 17
1.5.1 Tình hình quản lý chất lượng công trình ở một số quốc gia 17
1.5.1.1 Quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Pháp 17
1.5.1.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Mỹ 18
1.5.1.3 Quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Nga 18
1.5.1.4 Quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Trung Quốc 19
1.5.1.5 Quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Singapore 20
Trang 41.5.2 Tình hình chất lượng công trình xây dựng nói chung hiện nay ở nước ta 21
1.5.2.1 Những mặt đạt được 21
1.5.2.2 Những mặt còn hạn chế 22
1.5.3 Ý nghĩa của việc nâng cao công tác quản lý chấ lượng công trình 22
Kết luận chương 1 23
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH NHÀ CHUNG CƯ 24
2.1 Chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm 24
2.1.1 Chất lượng sản phẩm 28
2.1.2 Quản lý chất lượng sản phẩm 32
2.1.3 Quản lý chất lượng thi công xây dựng nhà chung cư 34
2.2 Trình tự thực hiện thi công xây dựng công trình 35
2.3 Trách nhiệm của các bên tham gia quản lý chất lượng thi công xây dựng 36
2.4 Nội dung quản lý chất lượng thi công xây dựng của Chủ đầu tư 39
2.4.1 Lựa chọn các tổ chức, cá nhân để thực hiện thi công 39
2.4.2 Kiểm tra các điều kiện khởi công công trình xây dựng 39
2.4.3 Kiểm tra sự phù hợp năng lực của nhà thầu thi công xây dựng công trình 39
2.4.4 Kiểm tra việc huy động và bố trí nhân lực của nhà thầu giám sát thi công xây dựng công trình 40
2.4.5 Kiểm tra và giám sát trong quá trình thi công xây dựng công trình 40
2.4.6 Tổ chức kiểm định chất lượng công trình 41
2.4.7 Tổ chức thực hiện các quy định về an toàn và bảo vệ môi trường xây dựng 41
2.4.8 Quản lý sự cố và nghiệm thu 42
2.4.8.1 Quản lý sự cố công trình xây dựng 42
2.4.8.2 Nghiệm thu công trình xây dựng 44
2.5 Các quy định pháp lý và kỹ thuật có liên quan đến quản lý chất lượng 24
2.5.1 Các văn bản quy định Pháp luật của Nhà nước 24
2.5.2 Các quy định của địa phương 26
2.5.3 Các quy chuẩn, tiêu chuẩn 25
Kết luận chương 2 45
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH CỦA TRUNG TÂM QUẢN LÝ NHÀ VÀ CHUNG CƯ - ÁP DỤNG CHO DỰ ÁN NHÀ Ở THU NHẬP THẤP D7, D10 TỈNH NINH THUẬN 46
3.1 Giới thiệu khái quát về Trung tâm Quản lý Nhà và Chung cư tỉnh Ninh Thuận 46
3.1.1 Cơ cấu tổ chức 46
3.1.1.1 Lãnh đạo Trung tâm 46
3.1.1.2 Các Phòng chuyên môn nghiệp vụ của Trung tâm 46
3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ 49
3.1.2.1 Vị trí và Chức năng 49
3.1.2.2 Nhiệm vụ và Quyền hạn 49
Trang 53.2 Tình hình đầu tư xây dựng nhà chung cư trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận 50
3.2.1 Tình hình đầu tư xây dựng 50
3.2.2 Những thành tựu đạt được 52
3.3 Thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình 52
3.3.1 Công tác quản lý cán bộ kỹ thuật và công nhân 52
3.3.1.1 Những mặt đã đạt được trong công tác quản lý cán bộ kỹ thuật 52
3.3.1.2 Những mặt còn hạn chế, tồn tại 54
3.3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế 55
3.3.2 Công tác quản lý chất lượng nguyên vật liệu đầu vào 55
3.3.2.1 Những mặt đã đạt được trong công tác quản lý nguyên vật liệu đầu vào 55
3.3.2.2 Những mặt còn hạn chế, tồn tại 56
3.3.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế 59
3.3.3 Công tác quản lý chất lượng máy thi công 59
3.3.3.1 Những mặt đã đạt được trong công tác quản lý máy thi công 59
3.3.3.2 Những mặt còn hạn chế, tồn tại 60
3.3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 60
3.3.4 Công tác quản lý quy trình giám sát nghiệm thu, kiểm định đánh giá 61
3.3.4.1 Những mặt đã đạt được trong công tác quản lý quy trình giám sát 61
3.3.4.2 Những mặt còn hạn chế, tồn tại 63
3.3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 64
3.3.5 Công tác đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh môi trường trong thi công 64
3.3.6 Công tác quản lý giai đoạn khảo sát, thiết kế ảnh hưởng tới chất lượng 65
3.4 Giới thiệu khái quát về Dự án nhà ở thu nhập thấp D7, D10 66
3.4.1 Giới thiệu khái quát về dự án 66
3.4.2 Đặc điểm của Dự án 67
3.5 Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo đảm chất lượng thi công xây dựng công trình của Trung tâm - áp dụng cho Dự án nhà ở thu nhập thấp D7, D10 69
3.5.1 Hoàn thiện tổ chức bộ phận làm công tác quản lý chất lượng 69
3.5.1.1 Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 69
3.5.1.2 Thành lập Phòng quản lý chất lượng thi công cho toàn bộ các công trình 72
3.5.2 Hoàn thiện quy trình công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng 73
3.5.3 Nâng cao năng lực, phẩm chất đội ngũ chuyên môn cho cán bộ 75
3.5.4 Tăng cường trang bị máy móc thiết bị thi công hiện đại, thiết bị 76
3.5.5 Tăng cường công tác kiểm soát chất lượng đầu vào 77
3.5.6 Nâng cao chất lượng công tác nghiệm thu 80
Kết luận chương 3 86
KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 87
1 Kết luận 87
2 Kiến nghị 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Sơ đồ 1.1 Quản lý nhân tố tác động đến chất lƣợng thi công công trình 14
Sơ đồ 1.2 Quá trình quản lý chất lƣợng thi công xây dựng công trình theo các giai đoạn hình thành công trình xây dựng 16
Sơ đồ 1.3 Quá trình quản lý chất lƣợng thi công xây dựng công trình theo các giai đoạn sản xuất xây dựng xây dựng 17
Hình 2.1 Các yếu tố của chất lƣợng tổng hợp 28
Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức Trung tâm Quản lý Nhà và Chung cƣ 48
Hình 3.2 Phối cảnh Nhà ở xã hội tại khu dân cƣ D7 – D10 67
Hình 3.3 Quy trình quản lý chất lƣợng thi công công trình 75
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ quy trình nghiệm thu công việc xây dựng 79
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ quy trình nghiệm thu hoàn thành giai đoạn xây lắp 82
Sơ đồ 3.3 Sơ đồ quy trình nghiệm thu hoàn thành công trình đƣa vào sử dụng 83
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số bảng Tên hình Trang
Bảng 3.1 Năng lực nhân sự của Trung tâm 53 Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra chất lƣợng vật tƣ 57
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Ninh Thuận nằm ở cực Nam Trung Bộ, trong vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung với tổng diện tích tự nhiên 3.358 km2 Phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận, phía Đông giáp biển Đông với đường bờ biển dài 105 km Về hành chính, tỉnh có 07 đơn vị hành chính, dưới cấp tỉnh
là thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, huyện Bác Ái, Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước, Thuận Bắc và Thuận Nam (thành lập năm 2009) Tính đến năm 2012, dân số toàn tỉnh Ninh Thuận đạt gần 576.688 người (trong đó nam 290.725 người và nữ 285.963 người), mật độ dân số đạt 172 người/km²;
Ninh Thuận nằm trên giao điểm của 3 trục giao thông chiến lược là đường sắt Bắc Nam, quốc lộ 1A và quốc lộ 27 lên nam Tây Nguyên Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh Ninh Thuận; cách Thành phố
Hồ Chí Minh 350 km về phía Nam; cách Thành phố Nha Trang 105 km về phía Bắc và cách Thành phố Đà Lạt 110 km về phía Tây; cách sân bay quốc tế Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa) 60 km, cách cảng biển Cam Ranh 40 km, thuận tiện cho việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội;
Ninh Thuận được đánh giá là địa phương giàu tiềm năng phát triển kinh tế trên nhiều lĩnh vực như: năng lượng, xây dựng, du lịch, công nghiệp chế biến, thủy sản, nông nghiệp,… Trong những năm qua, hòa vào xu thế đổi mới và phát triển của đất nước, lĩnh vực xây dựng của tỉnh Ninh thuận có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng Nhiều dự án lớn, khu công nghiệp trọng điểm, khu dân cư mới được đầu tư và xây dựng góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư và sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương, thay đổi diện mạo của Tỉnh;
Tuy địa phương đã có nhiều cố gắng trong đầu tư và quản lý đầu tư xây dựng, chất lượng công trình xây dựng hiện nay vẫn đang là vấn đề bức xúc, quản lý chất lượng thi công ở nhiều dự án còn chưa đáp ứng được yêu cầu, chất lượng thi công xây dựng công trình không đảm bảo, gây ra những sự cố đáng tiếc ngay trong và sau quá trình thi công xây dựng Trong khi đó, chất lượng công trình xây dựng không những có liên
Trang 10quan trực tiếp đến sự bền vững của công trình, an toàn sinh mạng con người, an toàn cộng đồng Trước tình hình đó, địa phương đã có nhiều biện pháp và giải pháp để bảo đảm công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình, nhưng những kết quả đạt được còn rất khiêm tốn, vẫn tồn tại nhiều mặt yếu kém trong khâu quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình;
Quản lý chất lượng công trình là một trong những nội dung quan trọng nhất của công tác quản lý dự án xây dựng nói riêng, quản lý nhà nước về xây dựng nói chung Việc quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình có liên quan đến nhiều bên tham gia quản lý thực hiện dự án, nhưng trước hết phải kể đến trách nhiệm của Chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng, trong đó Chủ đầu tư là bên phải chịu trách nhiệm toàn diện Theo quy định hiện nay, Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng phù hợp với tính chất, quy mô và nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình;
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: “Giải pháp quản lý bảo đảm chất lượng thi công xây dựng công trình của Trung tâm Quản lý nhà và Chung cư - áp dụng cho Dự án nhà ở thu nhập thấp D7, D10 tỉnh Ninh Thuận” nhằm tìm kiếm giải pháp quản lý bảo đảm chất lượng thi công xây dựng
nhà ở thu nhập thấp trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận của đơn vị Chủ đầu tư Trung tâm Quản lý nhà và Chung cư tỉnh Ninh Thuận
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm bảo đảm hơn nữa công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng nhà ở thu nhập thấp trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận của Trung tâm Quản lý nhà và Chung cư tỉnh Ninh Thuận
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình nhà chung cư và những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thi công xây dựng nhà chung cư của Trung tâm Quản lý nhà và Chung cư tỉnh Ninh Thuận
Trang 113.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung chủ yếu vào công tác quản lý chất lượng thi công
và những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất lượng thi công các công trình nhà ở cho người có thu nhập thấp trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận của Trung tâm Quản lý nhà và Chung cư tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn 2015 - 2020
4 Cách tiếp cận và Phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận
Luận văn tiếp cận các vấn đề nghiên cứu từ các góc độ sau:
Tiếp cận từ các cơ sở lý luận, tổng quan công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng tại Việt Nam nói chung và công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận nói riêng;
Tiếp cận từ thực tiễn, các cơ sở pháp lý về quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình của Chủ đầu tư;
Tiếp cận từ việc phân tích thực trạng công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng nhà ở thu nhập thấp trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận trong những năm vừa qua và nghiên cứu đề xuất những giải pháp trên cơ sở khoa học và thực tiễn, có tính khả thi nhằm bảo đảm hơn nữa công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng nhà ở thu nhập thấp trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận từ năm 2015 đến năm 2020
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện những nội dung nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp điều tra khảo sát nhằm thu thập số liệu, tài liệu từ thực tế ở đơn
vị nghiên cứu, từ internet về vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam và một số nước trên thế giới; Phương pháp hệ thống hóa những cơ sở lý luận và thực tiễn; Phương pháp phân tích tổng hợp, phân tích so sánh; Phương pháp đối chiếu với hệ thống văn bản pháp quy, các tiêu chuẩn, quy chuẩn; Phương pháp kế thừa những nghiên cứu công trình nghiên cứu đã được công bố; Phương pháp chuyên gia; và một số phương pháp kết hợp khác,…
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH NHÀ CHUNG CƯ
1.1 Khái niệm
1.1.1 Chất lượng công trình xây dựng
Quản lý chất lượng (Quality Management) là toàn bộ hoạt động của chức năng quản lý
để lập và thực thi phương châm chất lượng, bao gồm việc xác định chính sách chất lượng, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng, bảo đảm chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống chất lượng [14];
Phạm trù chất lượng tập hợp rất nhiều yếu tố thành phần, có thể kể ra các yếu tố như sau:
- Yếu tố kỹ thuật: yếu tố kỹ thuật phản ánh công dụng chức năng của sản phẩm hàng hóa dịch vụ Các thuộc tính này xác định chức năng tác dụng chủ yếu và nó được quy định bởi các chỉ tiêu như kết cấu vật chất, thành phần cấu tạo, các đặc tính về cơ lý hóa;…
- Yếu tố về tuổi thọ: yếu tố tuổi thọ là yếu tố đặc trưng cho tính chất của sản phẩm có giữ được khả năng làm việc bình thường hay không trong một điều kiện thực hiện nghiêm túc chế độ bảo hành, bảo dưỡng theo qui định thiết kế Tuổi thọ của sản phẩm
là cơ sở quan trọng giúp cho khách hàng quyết định lựa chọn mua hàng, làm tăng uy tín của sản phẩm và làm cho sản phẩm đó có khả năng cạnh tranh cao hơn
- Độ tin cậy: độ tin cậy được coi là một yếu tố quan trọng nhất phản ánh chất lượng của sản phẩm hàng hóa dịch vụ Đây là nền tảng quyết định khả năng của các doanh nghiệp trong việc duy trì và phát triển sản phẩm của mình
- Độ an toàn: độ an toàn là những chỉ tiêu an toàn trong khai thác vận hành sản phẩm hàng hóa Đây là những chỉ tiêu rất quan trọng, đặc biệt là chỉ tiêu an toàn đối với sức khỏe của khách hàng mà hiện nay trở thành yếu tố bắt buộc phải có trong mỗi sản phẩm
Trang 13- Mức độ gây ô nhiễm: Cũng giống như độ an toàn, nó được coi như là một yêu cầu bắt buộc mà các nhà sản xuất phải tuân thủ khi đưa sản phẩm của mình ra thị trường
- Tính tiện dụng: tính tiện dụng phản ánh những đòi hỏi về tính sẵn có, dễ vận chuyển, bảo quản và sử dụng, đồng thời có khả năng thay thế khi những bộ phận bị hỏng hóc
- Tính kinh tế: tính kinh tế là yếu tố rất quan trọng đối với những sản phẩm mà khi sử dụng có tiêu hao nhiên liệu và năng lượng Tiết kiệm nhiên liệu và năng lượng ngày nay đã trở thành một trong những yếu tố phản ánh chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường
- Tính thẩm mỹ: tính thẩm mỹ là đặc trưng cho sự truyền cảm, sự hợp lý về hình thức, kiểu dáng Hay nói cách khác những sản phẩm ngày nay phải đảm bảo sự hoàn thiện
về kích thước, kiểu dáng và tính cân đối
- Các yếu tố vô hình: ngoài những yếu tố hữu hình như trên chất lượng còn có những thuộc tính vô hình khác và những thuộc tính này lại có ý nghĩa quan trọng đối với khách hàng khi đánh giá chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ Đây là căn cứ tạo ra
sự khác biệt, thể hiện tính chuyên nghiệp của chủ thể tạo ra sản phẩm
1.1.2 Chất lượng công trình xây dựng nhà chung cư
1.1.2.1 Khái niệm nhà chung cư
Nhà chung cư là một trong những sản phẩm chủ yếu của hoạt động xây dựng, là không gian cư trú, là nơi đảm bảo môi trường sống và tái tạo sức lao động con người, là môi trường văn hóa, giáo dục, tổ ấm hạnh phúc của mọi gia đình và là thước đo cho sự phồn vinh và tiến bộ của xã hội Đối với mỗi quốc gia, mỗi Tỉnh không chỉ là nguồn tài sản có giá trị mà còn thể hiện trình độ phát triển tiềm năng kinh tế và góp phần làm thay đổi diện mạo đô thị Có nơi ở thích hợp và an toàn là nhu cầu thiết yếu, là nguyện vọng chính đáng của mỗi công dân;
Nhà chung cư có phần sở hữu riêng của từng hộ gia đình, cá nhân và phần sở hữu chung của tất cả các hộ gia đình, cá nhân sử dụng nhà chung cư
Trang 141.1.2.2 Phân loại nhà chung cư [10]
Theo Thông tư 14/2008/TT-BXD ngày 02 tháng 6 năm 2008 của Bộ xây dựng, hướng dẫn tiêu chí đánh giá, phân hạng nhà chung cư như sau:
- Đánh giá phân hạng theo các nhóm tiêu chí
Nhóm tiêu chí về quy hoạch, kiến trúc;
Nhóm tiêu chí về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội;
Nhóm tiêu chí về chất lượng hoàn thiện và trang thiết bị gắn liền với nhà chung cư; Nhóm tiêu chí về chất lượng dịch vụ quản lý sử dụng nhà chung cư
- Yêu cầu đối với từng hạng nhà chung cư
Nhà chung cư hạng 1 (cao cấp) là hạng có chất lượng sử dụng cao nhất; đảm bảo yêu cầu về quy hoạch, kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, chất lượng hoàn thiện, trang thiết bị và điều kiện cung cấp dịch vụ quản lý sử dụng đạt mức độ hoàn hảo; Nhà chung cư hạng 2 là hạng có chất lượng sử dụng cao; đảm bảo yêu cầu về quy hoạch, kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, chất lượng hoàn thiện, trang thiết bị
và điều kiện cung cấp dịch vụ quản lý sử dụng đạt mức độ tương đối hoàn hảo;
Nhà chung cư hạng 3 là hạng có chất lượng sử dụng khá cao; đảm bảo yêu cầu về quy hoạch, kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, chất lượng hoàn thiện, trang thiết bị
và điều kiện cung cấp dịch vụ quản lý sử dụng đạt mức độ khá;
Nhà chung cư hạng 4 là hạng có chất lượng sử dụng trung bình; đảm bảo yêu cầu về quy hoạch, kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, chất lượng hoàn thiện, trang thiết bị và điều kiện cung cấp dịch vụ quản lý sử dụng đạt tiêu chuẩn, đủ điều kiện để đưa vào khai thác sử dụng
1.1.2.3 Những ưu điểm của nhà chung cư
Để giải quyết tình trạng đất chật người đông, việc quyết định dọn vào sinh sống tại các tòa nhà chung cư đang được xem là phương án khả thi nhất, thậm chí đây còn đang là
xu hướng đã dần trở nên phổ biến trong tầng lớp cư dân đô thị Ngoài giá mềm thì vị
Trang 15trí của những tòa nhà chung cư này còn là điều kiện tiên quyết để nhiều người quyết định chọn mua căn hộ chung cư thay vì mua hẳn một ngôi nhà riêng với mức giá đắt
đỏ hơn Đa phần các dự án chung cư đều được xây trên những địa điểm thuận lợi, không quá xa trung tâm thành phố lại nằm gần khu đô thị đông dân cư sinh sống và tất nhiên bao quanh luôn là những hàng quán, cửa hàng và các điểm vui chơi, giải trí kề cận sẽ giúp bạn thỏa mãn mọi nhu cầu mà chẳng cần phải tốn công đi đâu xa Sự tiện lợi, an toàn và những tiện ích hiện đại, tiện nghi ngay trong các dự án chung cư như hồ bơi, nhà hàng, phòng gym, trung tâm thương mại,… cũng là một trong những ưu điểm; Môi trường sống lí tưởng: hạ tầng kỹ thuật đồng bộ tiện ích đầy đủ: khuôn viên, cây xanh, bể bơi, phòng tập, sân tennis,…;
Sự gắn bó trong gia đình: tất cả trên một mặt phẳng, gia đình sẽ quan tâm nhau được nhiều hơn, theo dõi con cái dễ hơn;
Đời sống văn minh: hàng xóm thì tri thức, dân trí cao, an ninh tốt, bảo vệ 24/24;
Tầm nhìn: ở chung cư còn thích là có cảnh đẹp, không gian thoáng mát, lộng gió, công viên, hồ, có sức sống và thoải mái sau một ngày làm việc;
Sạch sẽ: ở chung cư chúng ta thấy luôn khô trong mùa mưa, sạch sẽ không phải lo tới chuột, mối và các côn trùng khác
1.1.2.4 Các chỉ tiêu chất lượng thi công nhà chung cư [2]
Công trình xây dựng phải được đăng ký tham gia cuộc vận động đảm bảo và nâng cao chất lượng ngay từ khi khởi công và được đánh giá sau khi đó đưa vào khai thác sử dụng từ 6 tháng trở lớn;
Quy trình xây dựng phải tuân thủ trình tự quản lý đầu tư và xây dựng, Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng Nội dung các tiêu chí, tiêu chuẩn đăng ký phải được cụ thể hóa và phổ biến cho những người trực tiếp làm ra sản phẩm;
Trang 16Đơn vị xây lắp phải nghiên cứu kỹ thiết kế, nếu phát hiện được các thiếu sót, những chi tiết không hợp lý trong thiết kế thì kịp thời đề nghị bằng văn bản cho Chủ đầu tư
để thiết kế bổ sung sửa đổi nhằm đảm bảo chất lượng và tuổi thọ công trình;
Đối với từng bộ phận, hạng mục công trình phải có biện pháp, thiết kế tổ chức thi công đảm bảo chất lượng, an toàn lao động, an toàn chất lượng môi trường, phổ biến cho công nhân để chấp hành và kiểm tra trong quá trình thi công nhằm đảm bảo thi công đúng quy trình kỹ thuật, an toàn, vệ sinh môi trường và phòng ngừa sự cố;
Thực hiện tốt kiểm tra các vật liệu xây dựng, cấu kiện xây dựng, thiết bị công trình và các đầu vào khác để khẳng định đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của thiết kế;
Chế độ thí nghiệm xác nhận chất lượng công trình theo đúng quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật;
Có hệ thống quản lý chất lượng, lập kế hoạch chất lượng cụ thể cho công trình xây dựng;
Năng lực của cán bộ và công nhân phù hợp với yêu cầu kỹ thuật của công trình, có chứng chỉ đủ điều kiện làm việc của các loại thợ chủ yếu;
Năng lực nhà thầu phụ phù hợp yêu cầu và chế độ quản lý đối với thầu phụ đáp ứng yêu cầu của công trình;
Trang thiết bị thi công, đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ thi công phù hợp tiêu chuẩn kỹ thuật của công trình và hồ sơ dự thầu;
Có ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xây dựng và sáng kiến cải tiến;
Không có sự cố, tai nạn nghiêm trọng gây chết người trong quá trình thi công xây dựng;
Bảo hành đúng quy định, tạo thuận lợi cho sử dụng, xử lý kịp thời những sai sót;
Thực hiện tốt việc nghiệm thu công việc xây dựng, nghiệm thu giai đoạn xây dựng, nghiệm thu thiết bị chạy thử không tải, nghiệm thu thiết bị chạy thử tổng hợp, nghiệm thu hoàn thành công trình để đưa vào khai thác sử dụng, có văn bản hướng dẫn sử
Trang 17dụng ở những bộ phận công trình cần thiết Hồ sơ pháp lý và tài liệu quản lý chất lượng đầy đủ theo đúng quy định hiện hành để phục vụ cho nghiệm thu và lưu trữ
1.2 Thực trạng chất lượng thi công xây dựng các công trình nhà chung cư ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình đầu tư xây dựng công trình nhà chung cư ở Việt Nam
Chiến lược phát triển nhà ở xã hội Quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Chiến lược này đã khẳng định phát triển nhà ở là một trong những nội dung quan trọng của chính sách phát triển kinh tế xã hội đồng thời là trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội và của người dân;
Bộ Xây dựng đã chỉ đạo, hướng dẫn và hỗ trợ các địa phương xây dựng chương trình phát triển nhà ở của địa phương Đến nay, có 34 tỉnh đã phê duyệt chương trình; 06 tỉnh đã hoàn thành xây dựng chương trình, đang trình Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh xem xét, thông qua; 23 địa phương đang xây dựng chương trình, dự kiến hoàn thành trong năm 2015 nhằm đáp ứng nhu cầu có chỗ ở để phục vụ cho các đối tượng chính là cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang nhân dân hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, đối tượng có thu nhập thấp Từng bước tạo thêm quỹ nhà nâng cao chất lượng nhà ở, tạo động lực phát triển đô thị bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thực hiện có kết quả các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội giai đoạn 2011 - 2020
1.2.2 Những kết quả đạt được trong đầu tư xây dựng chung cư [16]
Các dự án phát triển nhà ở xã hội khu vực đô thị đến nay, cả nước đã hoàn thành đầu
tư xây dựng 102 dự án nhà ở xã hội, trong đó có 38 dự án nhà ở cho người thu nhập thấp, quy mô xây dựng 19.686 căn hộ; 64 dự án nhà ở cho công nhân, với quy mô xây dựng 20.277 căn hộ Hiện đang tiếp tục triển khai 150 dự án, trong đó có 91 dự án nhà
ở cho người thu nhập thấp, quy mô xây dựng khoảng 55.830 căn hộ; 59 dự án nhà ở cho công nhân, quy mô xây dựng khoảng 66.753 căn hộ Chương trình phát triển nhà ở sinh viên đã có 75 dự án hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng, giải quyết chỗ ở cho khoảng 145.000 sinh viên;
Trang 18Năm 2014, tổng diện tích sàn nhà ở toàn quốc tăng thêm 92 triệu m2 so với năm 2013, diện tích bình quân nhà ở toàn quốc đạt khoảng 20,6 m2 sàn/người, tăng 1 m2sàn/người so với năm 2013 (trong đó diện tích bình quân nhà ở tại đô thị khoảng 23 m2sàn/người, tại nông thôn khoảng 19,5 m2
sàn/người); cả nước đã phát triển thêm khoảng 0,8 triệu m2 nhà ở xã hội (tương đương khoảng 12.000 căn hộ), đưa tổng diện tích nhà ở xã hội toàn quốc đạt khoảng 1,8 triệu m2
Theo định nghĩa này, sự cố cố thể được phân chi tiết hơn thành các loại sau:
Sự cố sập đổ: bộ phận công trình hoặc toàn bộ công trình bị sập đổ phải dỡ bỏ để làm lại;
Sự cố về biến dạng: Nền, móng bị lún; kết cấu bị nghiêng, vặn, võng,… làm cho công trình có nguy cơ sập đổ hoặc không thể sử dụng được bình thường phải sửa chữa mới dùng được;
Sự cố sai lệch vị trí: Móng, cọc móng sai lệch vị trí, hướng, sai lệch vị trí quá lớn của kết cấu hoặc chi tiết đặt sẵn,… có thể dẫn tới nguy cơ sập đổ hoặc không sử dụng được bình thường phải sửa chữa hoặc thay thế;
Sự cố về công năng: công năng không phù hợp theo yêu cầu, chức năng chống thấm, cách âm, cách nhiệt không đạt yêu cầu, thẩm mỹ phản cảm,… phải sửa chữa, thay thế
để đáp ứng công năng của công trình
Trong thi công, nhà thầu không thực hiện đúng các quy trình quy phạm kỹ thuật đã dẫn đến sự cố công trình xây dựng:
- Không kiểm tra chất lượng, quy cách vật liệu trước khi thi công;
Trang 19- Không thực hiện đúng trình tự các bước thi công;
- Vi phạm các quy định về điều kiện năng lực, quản lý kỹ thuật thi công
Sự cố công trình xây dựng gây chết người: sự tùy tiện trong việc lập biện pháp và quy trình thi công Những sai phạm này phần lớn gây đổ vỡ ngay trong quá trình thi công
và nhiều sự cố gây thương vong cho con người cũng như sự thiệt hại lớn về vật chất
Cụ thể:
- Khối lượng và chất lượng vật liệu: Vi phạm phổ biến của các nhà thầu là hạ cấp chất lượng vật liệu Đặc biệt, việc hạ cấp chất lượng vật liệu thực sự là khó kiểm soát khi không có các mô hình giám sát quản lý chất lượng hiệu quả Trong các cuộc đấu thầu gần đây, nhiều công trình có giá trúng thầu rất thấp so với giá dự toán được duyệt Thậm chí có những nhà thầu bỏ thầu thấp hơn rất nhiều so với chi phí cần thiết Vì vậy, khi thực hiện thi công xây lắp các nhà thầu đã giảm mức chất lượng, chủng loại, xuất xứ, đưa các thiết bị, vật liệu chất lượng kém vào trong công trình và tìm cách bớt xén các nguyên vật liệu để bù chi phí và có một phần lợi nhuận;
- Về chất lượng biện pháp thi công: hầu hết các nhà thầu đều đưa ra được phần thuyết minh biện pháp thi công hoàn hảo với một lực lượng lao động hùng hậu, thực tế lại không như vậy Lực lượng công nhân phổ biến ở các công trường hiện nay hầu hết là thợ “nông nhàn” Việc sử dụng lực lượng lao động này là một điều rất đáng lo ngại, không những ảnh hưởng tới chất lượng công trình mà còn có nguy cơ để xảy ra tai nạn lao động nhiều nhất Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý kỹ thuật cũng được sử dụng không đúng với chuyên môn Nhiều kỹ sư vật liệu trẻ mới ra trường không có việc làm lại được thuê làm giám sát kiểm tra thi công chính vì sử dụng những lực lượng lao động như vậy đã làm cho công trình không đảm bảo chất lượng Biện pháp thi công không phù hợp luôn chứa đựng yếu tố rủi ro về chất lượng; có khi còn gây ra những sự
cố lớn không lường;
Vi phạm khá phổ biến trong giai đoạn thi công là sự tùy tiện trong việc lập biện pháp
và quy trình thi công Những sai phạm này phần lớn gây đổ vỡ ngay trong quá trình thi
Trang 20công và nhiều sự cố gây thương vong cho con người cũng như sự thiệt hại lớn về vật chất;
Thông tin về các sự cố công trình là hết sức bổ ích đối với thực tiễn nhưng tiếc thay chúng ta chưa có thói quen là cần phổ biến Cách nhìn nhận của chúng ta về sự cố công trình vẫn còn nặng về trách nhiệm của tổ chức và cá nhân liên quan tới sự cố đó Như đã phân tích ở trên, giá trị của việc phổ biến sự cố sẽ mang lại giá trị thực sự lớn
đó là bài học giúp chúng ta phòng ngừa để không tái lặp những sự cố tương tự
1.2.4 Những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng các công trình chung cư
Vấn đề cần quan tâm và phổ biến nhất của các chung cư hiện nay là chất lượng Do vậy, công tác quản lý chất lượng thi công xây dựng của các chung cư cần phải được đặt lên hàng đầu từ giai đoạn đầu tư xây dựng cho đến khi đưa dự án, công trình vào vận hành sử dụng Công tác này đòi hỏi phải được làm đúng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn và quy định Pháp luật của Nhà nước như:
Việc lựa chọn nhà thầu có đủ trình độ chuyên môn kỹ thuật và kinh nghiệm phù hợp với độ phức tạp khác nhau của từng công trình, dự án cụ thể Chủ đầu tư cần nghiên cứu kĩ lưỡng hồ sơ năng lực của đơn vị đấu thầu, những công trình/dự án mà họ đã làm trong quá khứ cùng với biện pháp kỹ thuật thi công công trình mà họ đã sử dụng, chất lượng nhân lực mà nhà thầu sử dụng,…tất cả những yếu tố đó sẽ giúp Chủ đầu tư
có cái nhìn cụ thể hơn về nhà thầu để đánh giá được mức độ phù hợp với yêu cầu kĩ thuật của công trình, dự án đang đấu thầu;
Lập và phê duyệt biện pháp thi công, Chủ đầu tư cần phải cân nhắc kỹ vì mỗi giải pháp thi công khác nhau cùng với năng lực khác nhau của các nhà thầu sẽ dẫn đến tiến
độ thi công công trình của các đơn vị tham gia đấu thầu sẽ không giống nhau Do đó, Chủ đầu tư ngoài căn cứ vào trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm của nhà thầu thì cần phải cân nhắc thêm cả tiến độ thi công phù hợp để đảm bảo chất lượng công trình và mang lại hiệu quả kinh tế khi đưa dự án/công trình vào khai thác sử dụng Bên cạnh đó, tiến
độ thi công công trình cũng đồng nghĩa với tiến độ rót vốn vào công trình của Chủ đầu tư;
Trang 21Trước khi khởi công xây dựng công trình phải kiểm tra đầy đủ thủ tục theo quy định
và phải báo cáo cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền theo quy định trước khi khởi công;
Chủ đầu tư phải thường xuyên giám sát, nghiệm thu trong quá trình thi công xây dựng
và công trình hoàn thành để đưa vào sử dụng;
Kiểm định chất lượng công trình, hạng mục công trình trong các trường hợp quy định Kiểm tra công tác nghiệm thu hạng mục công trình hoặc công trình xây dựng hoàn thành trước khi đưa vào sử dụng theo quy định tại Điều 31 của Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2015 Phải lập hồ sơ hoàn thành công trình xây dựng, lưu trữ hồ sơ của công trình theo quy định
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thi công xây dựng công trình
Về trình độ trang thiết bị máy móc thi công và thiết bị phụ trợ phục vụ thi công: Được đánh giá bằng mức độ hiện đại, tính đồng bộ của trang thiết bị sử dụng và năng lực quản lý của nhà thầu, nó quyết định khối lượng sản phẩm được sản xuất ra ở từng khoảng thời gian, tức là nó quyết định năng suất lao động của doanh nghiệp Khi một công nghệ có trình độ kỹ thuật tinh xảo, hiện đại thì chắc chắn năng suất lao động ở đó
sẽ rất cao và để nó phát huy được hiệu quả đầu tư thì tất yếu phải ứng dụng nó ở quy
mô lớn Khi kỹ thuật tinh xảo thì yêu cầu nguyên vật liệu đầu vào của nó phải có chất lượng cao, như thế chắc chắn chất lượng sản phẩm do nó tạo ra cũng rất cao Đồng
Trang 22thời, do chuyên môn hóa sâu cũng đảm bảo chất lượng sản phẩm cao, chi phí sản xuất thấp dẫn đến giá cả hàng hóa thấp Như vậy khi thi công xây lắp, hai phương pháp thi công thủ công và phương pháp thi công cơ giới sẽ đem lại hai kết quả rất khác biệt nhau về chất lượng sản phẩm và chi phí sản xuất
Nhóm nhân tố về nguyên vật liệu, bán thành phẩm đầu vào: Trong phạm vi này, cần chú ý rằng khi đã có công nghệ hiện đại hay đã lựa chọn được phương pháp thi công tiên tiến đòi hỏi chất lượng của nguyên vật liệu, thì bán thành phẩm (cấu kiện tiền chế) đầu vào phải phù hợp với yêu cầu kỹ thuật công nghệ và phương pháp thi công Ở đây, chất lượng công trình hay sản phẩm được tạo ra phụ thuộc hoàn toàn vào chất lượng nguyên vật liệu và cấu kiện tiền chế đầu vào Trong chừng mực nào đó, chất lượng của nguyên vật liệu cũng phản ánh trình độ tiến bộ của lực lượng sản xuất xã hội, vì sản phẩm của ngành này sẽ là nguyên liệu cho ngành khác Công nghệ sản xuất ra nguyên liệu đã phản ánh trình độ tiến bộ của lực lượng sản xuất xã hội; công nghệ đó có trình
độ cao thì chất lượng sản phẩm của nó (nguyên liệu mà nó tạo ra cho ngành sản xuất khác) sẽ có chất lượng cao
Nhóm nhân tố về quy phạm kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng dùng để quản lý chất lượng sản phẩm: Nhóm nhân tố này xác định nội dung của quy trình công nghệ, quy phạm kỹ thuật của từng công việc mà quá trình sản xuất, quá trình thi công xây lắp phải tuân thủ Việc tuân thủ các tính chất bắt buộc các quy định trong nội dung của quy trình, quy phạm khi sản xuất sẽ là cơ sở, là điều kiện để sản phẩm đạt được những tiêu chuẩn chất lượng được quy định ở quy chuẩn quốc gia và quốc tế Như vậy, nhóm nhân tố về quy trình, quy phạm kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng sẽ là thước đo đánh giá chất lượng sản phẩm được tạo ra của mỗi doanh nghiệp Cùng với sự tiến bộ của kỹ thuật công nghệ, những nhân tố này cũng thường xuyên được hoàn thiện bổ sung để phù hợp với sự tiến bộ của lực lượng sản xuất nói chung
Nhóm nhân tố về tổ chức cơ cấu bộ máy quản lý chất lượng sản phẩm: Cũng giống như việc tổ chức cơ cấu sản xuất trong doanh nghiệp, tính chất sản xuất của mỗi dây chuyền công nghệ phụ thuộc vào trình tự công nghệ Nếu kết cấu sản phẩm phức tạp thì yêu cầu công nghệ phức tạp và việc tổ chức sản xuất phải phức tạp theo để thỏa mãn yêu cầu chất lượng sản phẩm Vì vậy, tổ chức hệ thống quản lý chất lượng sản
Trang 23phẩm trong sản xuất phải bám sát dây chuyền công nghệ hay trình tự các khâu thi công Ở mỗi bước công việc của sản xuất đều phải có bộ phận hoặc nhân viên kỹ thuật phải thường xuyên kiểm tra chất lượng sản phẩm ở bước công việc đó, nghĩa là hệ thống tổ chức quản lý chất lượng sản phẩm phải bám theo tuyến, theo các nhánh của dây chuyền công nghệ Trong sản xuất công nghiệp cũng như trong thi công xây lắp, ở mỗi giai đoạn công nghệ (giai đoạn thi công), ở mỗi bước công việc đều có một yêu cầu kỹ thuật riêng của nó Vì vậy, việc kiểm tra kỹ thuật của mỗi bước công việc không hoàn toàn giống nhau, thậm chí còn rất khác nhau nên việc tổ chức kiểm tra chất lượng sản phẩm ở tất cả các khâu công tác là cần thiết khách quan Khi kỹ thuật công nghệ, trình tự và phương pháp thi công ngày càng hiện đại thì việc kiểm tra kỹ thuật ở từng nơi làm việc càng phức tạp và cần thiết Đến đây ta có thể nói rằng, tổ chức hệ thống bộ máy quản lý chất lượng sản phẩm phải xuất phát từ yêu cầu quy trình công nghệ hay phương pháp và trình tự thi công tạo ra sản phẩm Mỗi bộ phận, mỗi khâu phải có nhiệm vụ cụ thể dựa vào yêu cầu chất lượng sản phẩm của mỗi bước công việc mà tổ chức Khi kỹ thuật công nghệ, trình tự và phương pháp thi công ngày càng hiện đại thì chức năng nhiệm vụ của quản lý kỹ thuật sẽ thay đổi và hệ thống tổ chức quản lý chất lượng sản phẩm này cũng thay đổi theo hướng thỏa mãn yêu cầu phát triển hiện đại của kỹ thuật công nghệ;
Nhóm nhân tố về trình độ cán bộ quản lý kỹ thuật và trình độ lành nghề của công nhân sản xuất: Đây là nhóm nhân tố cơ bản nhất, quyết định nhất, phản ánh những tố chất trí tuệ của lực lượng sản xuất Tố chất này phản ánh chất lượng của lao động sống trong
xã hội nói chung, của nền kinh tế nói riêng Trình độ của nhân tố thuộc về con người tùy thuộc trình độ chuyên môn hóa trong phân công lao động xã hội, suy cho cùng nó cũng tùy thuộc vào trình độ tiến bộ, trình độ hiện đại của kỹ thuật công nghệ sản xuất của từng ngành kinh tế cụ thể và đương nhiên phụ thuộc vào chất lượng công tác đào tạo của từng chuyên ngành cụ thể Nếu như trong công nghệ hiện đại, quá trình sản xuất được cung cấp các vật tư đầu vào có chất lượng cao, quá trình sản xuất được tổ chức hợp lý và có hệ thống tổ chức công tác kiểm tra chất lượng chặt chẽ; nhưng trình
độ lành nghề của đội ngũ công nhân lại không có, trình độ của cán bộ quản lý kỹ thuật, quản lý chất lượng sản phẩm không cao thì chắc chắn chất lượng sản phẩm do họ tạo
Trang 24ra sẽ không cao Chính vì vậy, nhóm nhân tố này giữ vai trò quyết định trong cả quá trình quản lý chất lượng sản phẩm ở mỗi doanh nghiệp
Tóm lại, nhóm nhân tố trên đây tác động toàn diện đến chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp xây dựng, đòi hỏi phải được tổ chức quản lý, thực hiện thường xuyên liên tục và được tập trung thực hiện một cách đồng bộ, không thể xem nhẹ bất cứ nhân
tố nào Năm nhóm nhân tố cơ bản này có quan hệ hữu cơ với nhau; nhân tố này có thể
là nguyên nhân, đồng thời cũng là hệ quả tất yếu của nhân tố kia Vì vậy, khi tổ chức quản lý chất lượng sản phẩm trong mỗi đơn vị xây dựng, nhất thiết phải quan tâm phát triển tính đồng bộ của các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
1.3.2 Nhân tố khách quan
Địa hình, địa chất công trình: Địa hình, địa chất phức tạp gây ảnh hưởng đến công tác khảo sát buộc Chủ đầu tư và các đơn vị liên quan phải bàn bạc tìm hướng giải quyết hoặc thay đổi các phương án đã đưa ra trước đó gây chậm tiến độ thi công
Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên có tác động mạnh mẽ đến việc bảo quản và nâng cao chất lượng công trình xây dựng, đặc biệt là đối với nước ta nơi có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều Khí hậu, thời tiết xấu như: mưa, gió, bão,… cũng ảnh hưởng trực tiếp tới các nguyên vật liệu đồng thời cũng tác động đến hiệu quả vận hành của các thiết bị, máy móc hoạt động ngoài trời Nhân công phải làm việc đốt cháy giai đoạn hoặc tăng ca đôi khi phải dừng không theo ý muốn
1.3.3 Quản lý nhân tố tác động đến chất lượng thi công công trình
Nhân tố tác động đến chất lượng thi công công trình chủ yếu có 5 nhân tố chính, đó là: Con người, nguyên vật liệu, máy móc, phương pháp và đo lường đánh giá Tăng cường quản lý 5 nhân tố này trước khi sự việc xảy ra là việc làm quan trọng để đảm bảo chất lượng thi công công trình
Trang 25Sơ đồ 1.1 Quản lý nhân tố tác động đến chất lượng thi công công trình
1.4 Đặc điểm, nguyên tắc, quy trình quản lý chất lượng thi công công trình
1.4.1 Đặc điểm quản lý chất lượng thi công công trình
Thi công CTXD liên quan đến phạm vi rộng là quá trình tổng hợp cực kỳ phức tạp, lại thêm nhiều đặc điểm như vị trí CTXD cố định, sản xuất lưu động, loại hình kết cấu không đồng nhất, phương pháp thi công không đồng nhất, kích thước lớn, tính hoàn chỉnh cao, chu kỳ xây dựng dài, chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên Do đó, chất lượng thi công công trình sẽ khó kiểm soát hơn so với chất lượng quá trình sản xuất sản phẩm công nghiệp, biểu hiện chính như sau:
- Nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng: khảo sát, thiết kế, nguyên vật liệu, máy móc, địa hình, địa chất, thủy văn, khí tượng, công nghệ thi công, biện pháp thao tác, biện pháp kỹ thuật, tổ chức quản lý sản xuất, đều ảnh hưởng đến chất lượng thi công;
- Dễ xảy ra thay đổi chất lượng do thi công công trình không giống như sản xuất sản phẩm công nghiệp (có tính tự động, cố định và có dây chuyền sản xuất, có công nghệ sản xuất quy phạm hóa và kỹ thuật kiểm tra hoàn thiện, có thiết bị sản xuất đồng bộ và môi trường sản xuất ổn định, có một loạt những sản phẩm cùng chức năng) Hơn nữa,
do có nhiều nhân tố mang tính ngẫu nhiên và nhân tố mang tính hệ thống ảnh hưởng
Quản lý nhân tố tác động đến chất lượng thi
công xây dựng công trình
bị công nghệ lắp đặt
Quản lý chất lượng máy móc dùng trong thi công
Quản lý chất lượng biện pháp thi công và kiểm tra việc áp dụng
Quản lý
đo lường đánh giá chất lượng
Trang 26đến chất lượng thi công công trình nên dễ nảy sinh thay đổi về chất lượng Vì vậy, trong quá trình thi công cần nghiêm chỉnh thực hiện quy trình chất lượng của các nhân
tố mang tính hệ thống, đồng thời cần phải khống chế sự thay đổi của các nhân tố mang tính ngẫu nhiên;
- Nhiều quá trình xây lắp được tác nghiệp theo phương pháp thủ công nên chịu ảnh hưởng đáng kể vào sức khỏe và tay nghề của từng thợ, thậm chí với cùng một người thợ thì sức khỏe, tâm lý làm việc và ý thức trách nhiệm của người đó trong công việc cũng có thể thay đổi từng lúc, từng nơi, dẫn đến tính trạng cùng một công việc nhưng
có khi lại thực thi không đảm bảo chất lượng;
- Kiểm tra chất lượng sau khi hoàn thành công trình xây dựng: không thể tháo dỡ, loại
bỏ từng bộ phận sản phẩm, cũng không thể thay đổi cấu kiện như sản phẩm công nghiệp thông thường khác để kiểm tra chất lượng Sau khi phát hiện chất lượng công trình có vấn đề, cũng không thể đổi hàng hay trả lại như những sản phẩm khác;
- Chất lượng phải chịu sự ràng buộc của tiến độ và chi phí đầu tư: chất lượng công trình thi công chịu sự ràng buộc khá lớn của tiến độ và chi phí đầu tư Trong trường hợp thông thường, nếu chi phí đầu tư lớn, tiến độ được lập tuân thủ theo đúng yêu cầu thì chất lượng sẽ là tốt nhất, ngược lại chất lượng sẽ kém Do đó, trong thi công công trình, cần phải xử lý chính xác mối quan hệ giữa chất lượng và chí phí đầu tư, tiến độ thi công để chúng có được sự thống nhất của các mặt đối lập
1.4.2 Nguyên tắc quản lý chất lượng thi công công trình
Do đặc điểm riêng của CTXD, trong quản lý chất lượng CTXD cần thực hiện các yêu cầu sau đây:
Phải thực hiện toàn diện, đồng bộ ở các giai đoạn, các nội dung và trong từng quá trình;
Vừa phải tuân theo các quy định chung, vừa phải đáp ứng được các yêu cầu riêng của Chủ đầu tư có CTXD;
Trong quá trình hình thành, chất lượng công trình vừa phải được quản lý nội bộ, vừa chịu sự quản lý từ bên ngoài;
Trang 27Tính kịp thời về thời gian, không gian, tính cụ thể của từng vấn đề phải đƣợc tôn trọng
1.4.3 Quy trình quản lý chất lượng thi công công trình
Bất cứ một công trình nào đều đƣợc hình thành bởi các quá trình công việc, chi tiết kết cấu, công trình bộ phận và công trình đơn vị mà việc xây dựng công trình lại hoàn thành thông qua các giai đoạn thi công Vì vậy, quản lý chất lƣợng thi công công trình
là quá trình quản lý hệ thống của chất lƣợng công trình đơn vị, bộ phận công trình, công việc và bộ phận kết cấu (Sơ đồ 1.2); nó cũng là quá trình quản lý hệ thống bắt đầu từ quản lý chất lƣợng nguyên vật liệu đầu vào cho đến kiểm nghiệm chất lƣợng công trình hoàn thành (Sơ đồ 1.3)
Sơ đồ 1.2 Quá trình quản lý chất lƣợng thi công xây dựng công trình theo các
giai đoạn hình thành công trình xây dựng
Quản lý chất lƣợng trình tự
công việc
Chất lƣợng vật liệu, thiết bị, công nghệ
Quản lý chất lƣợng bộ phận giai đoạn thi công
Quản lý chất lƣợng chất lƣợng hạng mục công trình
Chất lƣợng thi công xây dựng
Chất lƣợng thi công
lắp đặt
Trang 28Sơ đồ 1.3 Quá trình quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình theo các
giai đoạn sản xuất xây dựng xây dựng
1.5 Tình hình chung về quản lý chất lượng công trình xây dựng trong và ngoài nước
1.5.1 Tình hình quản lý chất lượng công trình ở một số quốc gia [15]
Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và
mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm Pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế Chất lượng công trình xây dựng không những liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an ninh công cộng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình mà còn là yếu tố quan trọng bảo đảm sự phát triển của mỗi quốc gia Do vậy, quản lý chất lượng công trình xây dựng là vấn đề được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm
1.5.1.1 Quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Pháp
Nước Pháp đã hình thành một hệ thống Pháp luật tương đối nghiêm ngặt và hoàn chỉnh về quản lý giám sát và kiểm tra chất lượng công trình xây dựng Ngày nay, nước Pháp có hàng chục công ty kiểm tra chất lượng công trình rất mạnh, đứng độc lập ngoài các tổ chức thi công xây dựng Pháp luật của Cộng hòa Pháp quy định các công trình có trên 300 người hoạt động, độ cao hơn 28 m, nhịp rộng hơn 40 m, kết cấu cổng sân vườn ra trên 200 m và độ sâu của móng trên 30 m đều phải tiếp nhận việc kiểm tra
Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình
Quản lý chất lượng quá trình công nghệ
và thi công
Quản lý chất lượng
yếu tố đầu vào
Quản lý chất lượng sản phẩm đầu ra
Trang 29giám sát chất lượng có tính bắt buộc và phải thuê một công ty kiểm tra chất lượng được Chính phủ công nhận để đảm đương phụ trách và kiểm tra chất lượng công trình; Ngoài ra, tư tưởng quản lý chất lượng của nước Pháp là “ngăn ngừa là chính” Do đó,
để quản lý chất lượng các công trình xây dựng, Pháp yêu cầu bảo hiểm bắt buộc đối với các công trình này Các hãng bảo hiểm sẽ từ chối bảo hiểm khi công trình xây dựng không có đánh giá về chất lượng của các công ty kiểm tra được công nhận Họ đưa ra các công việc và các giai đoạn bắt buộc phải kiểm tra để ngăn ngừa các nguy cơ
có thể xảy ra chất lượng kém Kinh phí chi cho kiểm tra chất lượng là 2% tổng giá thành Tất cả các chủ thể tham gia xây dựng công trình bao gồm Chủ đầu tư, thiết kế, thi công, kiểm tra chất lượng, sản xuất bán thành phẩm, tư vấn giám sát đều phải mua bảo hiểm nếu không mua sẽ bị cưỡng chế Chế độ bảo hiểm bắt buộc đã buộc các bên tham gia phải nghiêm túc thực hiện quản lý, giám sát chất lượng vì lợi ích của chính mình, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của khách hàng
1.5.1.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Mỹ
Quản lý chất lượng công trình xây dựng theo quy định của Pháp luật Mỹ rất đơn giản
vì Mỹ dùng mô hình 3 bên để quản lý chất lượng công trình xây dựng Bên thứ nhất là các nhà thầu (thiết kế, thi công,…) tự chứng nhận chất lượng sản phẩm của mình Bên thứ hai là khách hàng giám sát và chấp nhận về chất lượng sản phẩm có phù hợp với tiêu chuẩn các yêu cầu đặt hàng hay không Bên thứ ba là một tổ chức tiến hành đánh giá độc lập nhằm định lượng các tiêu chuẩn về chất lượng phục vụ cho việc bảo hiểm hoặc giải quyết tranh chấp Giám sát viên phải đáp ứng tiêu chuẩn về mặt trình độ chuyên môn, có bằng cấp chuyên ngành; chứng chỉ do Chính phủ cấp; kinh nghiệm làm việc thực tế 03 năm trở lên; phải trong sạch về mặt đạo đức và không đồng thời là công chức Chính phủ
1.5.1.3 Quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Nga
Luật xây dựng đô thị của Liên bang Nga [7] quy định khá cụ thể về quản lý chất lượng công trình xây dựng Theo đó, tại Điều 53 của Luật này, giám sát xây dựng được tiến hành trong quá trình xây dựng, cải tạo, sửa chữa các công trình xây dựng cơ bản nhằm kiểm tra sự phù hợp của các công việc được hoàn thành với hồ sơ thiết kế, với các quy
Trang 30định trong nguyên tắc kỹ thuật, các kết quả khảo sát công trình và các quy định về sơ
đồ mặt bằng xây dựng của khu đất;
Giám sát xây dựng được tiến hành đối với đối tượng xây dựng Chủ xây dựng hay bên đặt hàng có thể thuê người thực hiện việc chuẩn bị hồ sơ thiết kế để kiểm tra sự phù hợp các công việc đã hoàn thành với hồ sơ thiết kế Bên thực hiện xây dựng có trách nhiệm thông báo cho các cơ quan giám sát xây dựng Nhà nước về từng trường hợp xuất hiện các sự cố trên công trình xây dựng;
Việc giám sát phải được tiến hành ngay trong quá trình xây dựng công trình, căn cứ vào công nghệ kỹ thuật xây dựng và trên cơ sở đánh giá xem công trình đó có bảo đảm
an toàn hay không Việc giám sát không thể diễn ra sau khi hoàn thành công trình Khi phát hiện thấy những sai phạm về công việc, kết cấu, các khu vực kỹ thuật công trình, chủ xây dựng hay bên đặt hàng có thể yêu cầu giám sát lại sự an toàn các kết cấu và các khu vực mạng lưới bảo đảm kỹ thuật công trình sau khi loại bỏ những sai phạm đã
có Các biên bản kiểm tra các công việc, kết cấu và các khu vực mạng lưới bảo đảm kỹ thuật công trình được lập chỉ sau khi đã khắc phục được các sai phạm;
Việc giám sát xây dựng của cơ quan Nhà nước được thực hiện khi xây dựng các công trình xây dựng cơ bản mà hồ sơ thiết kế của các công trình đó sẽ được các cơ quan Nhà nước thẩm định hoặc là hồ sơ thiết kế kiểu mẫu; cải tạo, sửa chữa các công trình xây dựng nếu hồ sơ thiết kế của công trình đó được cơ quan Nhà nước thẩm định; xây dựng các công trình quốc phòng theo sắc lệnh của Tổng thống Liên bang Nga Những người có chức trách thực hiện giám sát xây dựng Nhà nước có quyền tự do ra vào đi lại tại các công trình xây dựng cơ bản trong thời gian hiệu lực giám sát xây dựng Nhà nước
1.5.1.4 Quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Trung Quốc
Ngày 01 tháng 11 năm 1997 “Luật Xây dựng Trung Quốc” đã được Quốc vụ viện Nhân dân Trung Hoa thông qua và Chủ tịch nước đã ký lệnh ban hành ngày 03 tháng
11 năm 1997 Ở Trung Quốc, ngành xây dựng phát triển rất nhanh, vì vậy một mặt nó
đã tạo ra rất nhiều công trình xây dựng (CTXD) làm thay đổi bộ mặt của đất nước, nhưng nó cũng bộc lộ những mặt trái của nền kinh tế thị trường Các doanh nghiệp xây
Trang 31dựng có tư tưởng coi thường quản lý, chỉ nặng chạy theo khối lượng để lấy thành tích,
ép tiến độ, chia nhỏ công trình để giao thầu, chỉ định thầu, những hành vi này đã làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng công trình, thậm chí nhiều công trình còn gây sự cố hư hỏng, gây thiệt hại về mặt kinh tế Vì vậy, Luật Xây dựng đã soạn thảo rất chặt chẽ các điều khoản, các mục để quản lý các hoạt động xây dựng bằng Pháp luật, trong đó đặc biệt nhấn mạnh các điều đảm bảo chất lượng, an toàn cho các CTXD;
Vấn đề quản lý chất lượng công trình được quy định trong Luật xây dựng Trung Quốc Phạm vi giám sát xây dựng các hạng mục công trình của Trung Quốc rất rộng, thực hiện ở các giai đoạn như: giai đoạn nghiên cứu tính khả thi thời kỳ trước khi xây dựng, giai đoạn thiết kế công trình, thi công công trình và bảo hành công trình - giám sát các công trình xây dựng, kiến trúc Người phụ trách đơn vị giám sát và kỹ sư giám sát đều không được kiêm nhiệm làm việc ở cơ quan Nhà nước Các đơn vị thiết kế và thi công, đơn vị chế tạo thiết bị và cung cấp vật tư của công trình đều chịu sự giám sát;
Quy định chất lượng khảo sát, thiết kế, thi công công trình phải phù hợp với yêu cầu của tiêu chuẩn Nhà nước Nhà nước chứng nhận hệ thống chất lượng đối với đơn vị hoạt động xây dựng Tổng thầu phải chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng trước Chủ đầu tư Đơn vị khảo sát, thiết kế, thi công chịu trách nhiệm về sản phẩm do mình thực hiện; chỉ được bàn giao công trình đưa vào sử dụng sau khi đã nghiệm thu Quy định về bảo hành, duy tu công trình, thời gian bảo hành do Chính phủ quy định;
Đối với hai chủ thể quan trọng nhất là Chính quyền và các tổ chức cá nhân làm ra sản phẩm xây dựng, quan điểm của Trung Quốc thể hiện rất rõ trong các quy định của Luật xây dựng là “Chính quyền không phải là cầu thủ và cũng không là chỉ đạo viên của cuộc chơi Chính quyền viết Luật chơi, tạo sân chơi và giám sát cuộc chơi”
1.5.1.5 Quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Singapore
Chính quyền Singapore quản lý rất chặt chẽ việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng Ngay từ giai đoạn lập dự án, Chủ đầu tư phải thỏa mãn các yêu cầu về quy hoạch xây dựng, an toàn, phòng, chống cháy nổ, giao thông, môi trường thì mới được cơ quan quản lý về xây dựng phê duyệt Trước khi triển khai thi công, các bản vẽ thi công phải
Trang 32được kỹ sư tư vấn giám sát kiểm tra và xác nhận là thiết kế đúng, đảm bảo chất lượng thiết kế;
Ở Singapore không có đơn vị giám sát xây dựng hành nghề chuyên nghiệp Giám sát xây dựng công trình là do một kiến trúc sư, kỹ sư chuyên ngành thực hiện Họ nhận sự
ủy quyền của Chủ đầu tư, thực hiện việc quản lý giám sát trong suốt quá trình thi công xây dựng công trình Theo quy định của Chính phủ thì đối với cả 02 trường hợp Nhà nước đầu tư hoặc cá nhân đầu tư đều bắt buộc phải thực hiện việc giám sát Do vậy, các Chủ đầu tư phải mời kỹ sư tư vấn giám sát để giám sát công trình xây dựng;
Đặc biệt, Singapore yêu cầu rất nghiêm khắc về tư cách của kỹ sư giám sát Họ nhất thiết phải là các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên ngành đã đăng ký hành nghề ở các cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước xác định Chính phủ không cho phép các kiến trúc
sư và kỹ sư chuyên nghiệp được đăng báo quảng cáo có tính thương mại, cũng không cho phép dùng bất cứ một phương thức mua chuộc nào để môi giới mời chào giao việc Do đó, kỹ sư tư vấn giám sát thực tế chỉ nhờ vào danh dự uy tín và kinh nghiệm của các cá nhân để được các Chủ đầu tư giao việc
1.5.2 Tình hình chất lượng công trình xây dựng nói chung hiện nay ở nước ta
1.5.2.1 Những mặt đạt được
Công tác quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng đã tiếp cận và hội nhập được với các nước có nền khoa học công nghệ xây dựng và quản lý xây dựng phát triển cao trong khu vực và trên thế giới Chúng ta đã chủ động áp dụng nhiều công nghệ xây dựng tiên tiến của thế giới, đã đủ khả năng quản lý, xây dựng các công trình hiện đại, có yêu cầu kỹ thuật phức tạp và yêu cầu về chất lượng bằng nội lực của chính mình;
Sự tiến bộ trong việc xây dựng và hoàn thiện thể chế về quản lý đầu tư xây dựng đặc biệt trong đó có việc xây dựng và hoàn thiện nhiều văn bản quy phạm Pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng (CTXD) Năm 2004, lần đầu tiên Chính phủ
đã ban hành một Nghị định riêng về quản lý chất lượng công trình xây dựng và sau đó đến Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015, Thông tư 26/2016/TT-BXD ngày 26 tháng 10 năm 2016 Có thể nói là một bước tiến dài và quan trọng trong việc hoàn
Trang 33thiện thể chế về quản lý chất lượng CTXD Với Nghị định 46/2015/NĐ-CP mới được ban hành, đã tăng cường hơn về quản lý Nhà nước và đề cao vai trò của quản lý Nhà nước là có chế tài trong kiểm soát chất lượng công trình kể từ khâu khảo sát thiết kế, thi công xây dựng và nghiệm thu đưa vào sử dụng;
Sự tiến bộ trong áp dụng khoa học, công nghệ vào thi công như công nghệ mới về xử
lý nền đất yếu bằng phương pháp cố kết chân không, công nghệ thi công cọc ống thép bằng búa rung, bê tông đầm lăn), công nghệ thi công sàn ứng lực trước,… đến nay chúng ta đã xây dựng được nhưng công trình có tầm cỡ lớn như Keangnam Hanoi, Bitexco Financial Tower, VietinBank Tower,
1.5.2.2 Những mặt còn hạn chế
Bên cạnh các ưu điểm kể trên phải thừa nhận một thực tế là vẫn còn một số tồn tại về chất lượng công trình Các bất cập về chất lượng công trình cần được nghiên cứu khắc phục thể hiện thông qua các sự cố, hư hỏng công trình cũng như những khoảng trống
về pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, Trong giai đoạn tới việc triển khai thực hiện tốt Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Xây dựng trong việc đảm bảo và nâng cao hơn nữa về chất lượng CTXD và quản lý chất lượng CTXD
1.5.3 Ý nghĩa của việc tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình
Chất lượng công trình (CLCTXD) xây dựng là một vấn đề sống còn được Nhà nước và cộng đồng hết sức quan tâm Nếu ta quản lý CLCTXD tốt thì sẽ không có chuyện công trình chưa xây xong đã đổ do các bên đã tham ô rút ruột nguyên vật liệu hoặc nếu không đổ ngay thì tuổi thọ công trình cũng không được đảm bảo như yêu cầu Vì vậy việc nâng cao công tác quản lý CLCTXD không chỉ là nâng cao chất lượng công trình
mà còn góp phần chủ động chống tham nhũng chủ động ngăn ngừa tham nhũng, ngăn ngừa thất thoát trong xây dựng Theo kết quả thực tế cho thấy, ở đâu tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của Nhà nước về quản lý chất lượng công trình thì ở đó chất lượng công trình tốt;
Công trình xây dựng khác với sản phẩm hàng hoá thông thường khác vì công trình xây dựng được thực hiện trong một thời gian dài do nhiều người làm, do nhiều vật liệu tạo
Trang 34nên chịu tác động của tự nhiên rất phức tạp Vì vậy, việc nâng cao công tác quản lý CLCTXD là rất cần thiết, bởi nếu xảy ra sự cố thì sẽ gây ra tổn thất rất lớn về người và của, đồng thời cũng rất khó khắc phục hậu quả;
Nâng cao công tác quản lý CLCTXD là góp phần nâng cao chất lượng sống cho con người Vì một khi CLCTXD được đảm bảo, không xảy ra những sự cố đáng tiếc thì sẽ tích kiệm được rất nhiều cho ngân sách Quốc gia Số tiền đó sẽ được dùng vào công tác đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân, hoặc dùng cho công tác xóa đói giảm nghèo
Kết luận chương 1
Công tác quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng đang ngày càng được quan tâm bởi lẽ chất lượng công trình xây dựng không những có liên quan trực tiếp đến sự bền vững của công trình, an toàn sinh mạng con người, an toàn cộng đồng Chính vì vậy việc hệ thống các cơ sở lý luận cơ bản về công tác quản lý chất lượng thi công công trình là điều hết sức cần thiết Nó giúp ích cho các chủ thể tham gia xây dựng hiểu được rõ ràng các quyền và trách nhiệm của mình từ đó đảm bảo cho công trình được xây dựng theo một trình tự hợp lý nhất, sử dụng thời gian, nguyên vật liệu và nhân công hợp lý, phát huy được năng suất của máy thi công Từ đó sẽ thực hiện tốt công việc quản lý chất lượng thi công xây dựng;
Trên cơ sở lý thuyết về quản lý chất lượng thi công công trình xây dựng, tác giả đã nêu
và phân tích khái quát nội dung của toàn bộ quá trình về quản lý chất lượng thi công Những công việc của Chủ đầu tư cũng như nhà thầu phải lên kế hoạch và quản lý thực hiện trong quá trình thi công;
Đồng thời tác giả cũng đã khái quát những mặt đạt được và những tồn tại, hạn chế trong quản lý thi công công trình xây dựng ở trong nước và kinh nghiệm quản lý thi công công trình xây dựng của một số nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 35CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH NHÀ CHUNG CƯ
2.1 Các quy định pháp lý và kỹ thuật có liên quan đến quản lý chất lượng thi công xây dựng nhà chung cư
2.1.1 Các văn bản quy định Pháp luật của Nhà nước
Căn cứ Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2014;
Căn cứ Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2014;
Căn cứ Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về việc quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng;
Căn cứ Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về việc quản lý
dự án đầu tư xây dựng công trình ;
Căn cứ Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở;
Thông tư số 11/2005/TT-BXD ngày 14/07/2005 của Bộ Xây dựng về Hướng dẫn kiểm tra và chứng nhận phù hợp về chất lượng công trình xây dựng;
Thông tư số 27/2009/TT-BXD ngày 31/07/2009 của Bộ Xây dựng hướng dẫn một số nội dung về Quản lý chất lượng công trình xây dựng;
Thông tư số 18/2010/TT-BXD ngày 15/10/2010 của Bộ xây dựng về quy định việc áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn trong hoạt động xây dựng;
Thông tư số 03/2011/TT-BXD ngày 6/4/2011 của Bộ xây dựng về việc hướng dẫn hoạt động kiểm định, giám định và chứng nhận đủ điều kiện đảm bảo an toàn chịu lực, chứng nhận sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng;
Căn cứ Quyết định số 957/QĐ-BXD ngày 29/09/2009 của Bộ trưởng Bộ xây dựng về việc công bố định mức chi phí Quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng công trình; Các văn bản trên quy định: Chính phủ thống nhất Quản lý nhà nước về xây dựng công trình trên phạm vi cả nước; Bộ Xây dựng thống nhất Quản lý nhà nước về Chất lượng
Trang 36công trình xây dựng trong phạm vi cả nước; các Bộ có quản lý Công trình xây dựng chuyên ngành phối hợp với Bộ Xây dựng trong việc Quản lý chất lượng; UBND cấp tỉnh theo phân cấp có trách nhiệm Quản lý nhà nước về xây dựng trên địa bàn theo phân cấp của Chính phủ
2.1.2 Các quy chuẩn, tiêu chuẩn
Quy chuẩn xây dựng Việt nam do Bộ Xây dựng ký ban hành bao gồm:
Tiêu chuẩn xây dựng Việt nam TCXDVN 264-2002 Nguyên tắc cơ bản xây dựng công trình để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng;
TCVN 9362:2012: Tiêu chuẩn thiết kế nền nhà và công trình;
TCXDVN 371:2006: Nghiệm thu chất lượng thi công công trình xây dựng;
TCVN 5575:2012: Kết cấu thép – Tiêu chuẩn thiết kế;
TCVN 5574:2012: Kết cấu bê tông và bê tông cốt thép – Tiêu chuẩn thiết kế;
TCVN 9343:2012: Kết cấu bê tông và bê tông cốt thép – Hướng dẫn công tác bảo trì; TCVN 9254-1:2012: (ISO 6707-1:2003): Nhà và công trình dân dụng – Từ vựng - Phần 1: Thuật ngữ chung;
Trang 37TCVN 9310-4:2012 (ISO 8421-4:1990): Phòng cháy chữa cháy-Từ vựng-Thiết bị chữa cháy;
TCVN 3890:2009: Phương tiện phòng cháy và chữa cháy cho nhà và công trình-trang
bị, bố trí, kiểm tra, bảo dưỡng;
QCVN 06:2010/BXD: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn cháy cho nhà và công trình;
TCVN 4513:1988 : Cấp nước bên trong Tiêu chuẩn thiết kế;
TCVN 4474:1987 : Thoát nước bên trong Tiêu chuẩn thiết kế;
TCXDVN 33:2006 : Cấp nước Mạng lưới bên ngoài và công trình Tiêu chuẩn thiết kế;
Và các Tiêu chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn ngành khác có liên quan
2.1.3 Các quy định của địa phương
Căn cứ Quyết định số 223/2007/QĐ-UBND ngày 04/9/2007 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận Phê duyệt Đề án nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận;
Căn cứ Quyết định số 152/2009/QĐ-UBND ngày 29/05/2009 của UBND tỉnh Ninh Thuận về việc Ban hành Quy định một số nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận;
Căn cứ Công văn số 1289/SXD-QLXD ngày 04/08/2010 của Sở xây dựng tỉnh Ninh Thuận về việc triển khai áp dụng Thông tư số 04/2010/TT-BXD hướng dẫn lập và quản lý chi phí và đầu tư xây dựng công trình;
Căn cứ Quyết định số 01/2013/QĐ-UBND ngày 18/01/2013 của UBND tỉnh Ninh Thuận về việc điều chỉnh dự toán xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận; Căn cứ Công văn số 704/SXD-QLN ngày 07/3/2013 của Sở xây dựng tỉnh Ninh Thuận
về việc chấp thuận chủ trương về địa điểm, quy mô lập dự án xây dựng nhà ở xã hội tại khu dân cư D7 - D10 phía bắc đường 16 tháng 4;
Trang 38Căn cứ Công văn số 2155/UBND-QHXD ngày 15/5/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận về việc đồng ý chủ trương lập dự án đầu tư xây dựng công trình Nhà ở xã hội tại khu dân cư D7 - D10 phía bắc đường 16 tháng 4;
Căn cứ Công văn số 837/SXD-QLN ngày 27/5/2013 của Sở xây dựng tỉnh Ninh Thuận
về việc xác định Chủ đầu tư dự án xây dựng công trình Nhà ở xã hội tại khu dân cư D7
- D10 phía bắc đường 16 tháng 4, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm;
Căn cứ Nghị Quyết số 12-NQ/TU ngày 31/5/2013 của Tỉnh ủy Ninh Thuận về việc tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng về phát triển nhà ở đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020;
Căn cứ Công văn số 2624 /UBND-QHXD ngày 12/6/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận về việc giao nhiệm vụ thực hiện làm Chủ đầu tư Dự án đầu tư xây dựng Nhà ở xã hội tại khu dân cư D7 - D10 phía bắc đường 16 tháng 4;
Căn cứ Quyết định số 141/QĐ-TT ngày 19/6/2013 của Trung tâm quản lý nhà và chung cư về việc thành lập BQL Dự án Nhà ở tại khu dân cư D7 - D10 phía bắc đường
Căn cứ Quyết định số 151A/QĐ-TT ngày 28/6/2013 của Giám đốc Trung tâm quản lý nhà và Chung cư về việc phê duyệt kết quả chỉ định thầu lập Dự án đầu tư xây dựng công trình Nhà ở xã hội tại khu dân cư D7 - D10, phía bắc đường 16 tháng 4, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận;
Trang 39Căn cứ Công văn số 3007/UBND-QHXD ngày 02/7/2013 của UBND tỉnh Ninh Thuận
về việc sử dụng vật liệu xây không nung cho các công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận;
Căn cứ Nghị Quyết số 05/2013/NQ-HĐND ngày 16/7/2013 của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Thuận về việc phê duyệt Chương trình phát triển nhà ở đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận;
Căn cứ Quyết định số 1475/QĐ-UBND ngày 19/7/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận Về việc bố trí vốn chuẩn bị đầu tư kế hoạch năm 2013 Dự án Nhà ở xã hội tại khu dân cư D7 - D10 phía Bắc đường 16 tháng 4;
Căn cứ Quyết định số 54/2013/QĐ-UBND ngày 22/8/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh
về việc phê duyệt Chương trình phát triển nhà ở đến năm 2015 và định hướng đến năm
2020 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận;
Căn cứ Quyết định số 478/QĐ-UBND ngày 31/12/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Kế hoạch phát triển nhà ở đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận
2.2 Chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm
2.2.1 Chất lượng sản phẩm [8]
Trên thế giới, khái niệm về chất lượng sản phẩm đã từ lâu luôn gây ra những tranh cãi phức tạp Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là các khái niệm về chất lượng nói chung và chất lượng sản phẩm nói riêng được nêu ra dưới các góc độ khác nhau của mỗi cách tiếp cận, mỗi cách nhìn nhận riêng biệt;
Theo quan điểm triết học, chất lượng là tính xác định bản chất nào đó của sự vật, hiện tượng, tính chất mà nó khẳng định nó chính là cái đó chứ không phải là cái khác hoặc cũng nhờ nó mà nó tạo ra một sự khác biệt với một khách thể khác Chất lượng của khách thể không quy về những tính chất riêng biệt của nó mà gắn chặt với khách thể như một khối thống nhất bao chùm toàn bộ khách thể Theo quan điểm này, thì chất lượng đã mang trong nó một ý nghĩa hết sức trừu tượng, nó không phù hợp với thực tế đang đòi hỏi;
Trang 40Một quan điểm khác về chất lượng cũng mang một tính chất trừu tượng là chất lượng theo quan điểm này được định nghĩa như là sự đạt một mức độ hoàn hảo mang tính chất tuyệt đối Chất lượng là một cái gì đó mà làm cho mọi người mỗi khi nghe thấy đều nghĩ ngay đến một sự hoàn mỹ tốt nhất, cao nhất Như vậy, theo nghĩa này thì chất lượng vẫn chưa thoát khỏi sự trừu tượng của nó Đây là một khái niệm còn mang nặng tính chất chủ quan, cục bộ và quan trọng hơn, khái niệm này về chất lượng vẫn chưa cho phép ta có thể định lượng được chất lượng Vì vậy, nó chỉ mang một ý nghĩa nghiên cứu lý thuyết mà không có khả năng áp dụng trong kinh doanh;
Một quan điểm thứ 3, về chất lượng theo định nghĩa của W A Shemart, một nhà quản
lý người Mỹ, là người khởi xướng và đạo diễn cho quan điểm này đối với vấn đề về chất lượng và quản lý chất lượng Shemart cho rằng “chất lượng sản phẩm trong sản xuất kinh doanh công nghiệp là một tập hợp những đặc tính của sản phẩm phản ánh giá trị sử dụng của nó” So với những khái niệm trước đó về chất lượng thì ở khái niệm này, Shemart đã coi chất lượng như là một vấn đề cụ thể và có thể định lượng được Theo quan điểm này thì chất lượng sản phẩm sẽ là một yếu tố nào đó tồn tại trong các đặc tính của sản phẩm và vì tồn tại trong các đặc tính của sản phẩm cho nên chất lượng sản phẩm cao cũng đồng nghĩa với việc phải xác lập cho các sản phẩm những đặc tính tốt hơn phản ánh một giá trị cao hơn cho sản phẩm và như vậy chi phí sản xuất sản phẩm cũng cao hơn làm cho giá bán của sản phẩm ở một chừng mực nào đó khó được người tiêu dùng và xã hội chấp nhận Do vậy, quan điểm về chất lượng này của Shemart ở một mặt nào đó có một ý nghĩa nhất định nhưng nhìn chung đây là một quan điểm đã tách rời chất lượng với người tiêu dùng và các nhu cầu của họ Nó không thể thoả mãn được các điều kiện về kinh doanh và cạnh tranh trong bối cảnh hiện nay; Quan điểm thứ 4, về chất lượng xuất phát từ phía người sản xuất Theo họ quan điểm này, chất lượng sản phẩm là sự đạt được và tuân thủ đúng những tiêu chuẩn, những yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật đã được đặt ra từ trước trong khâu thiết kế sản phẩm Theo quan điểm này, chất lượng gắn liền với vấn đề công nghệ và đề cao vai trò của công nghệ trong việc tạo ra sản phẩm với chất lượng cao Quan điểm này cho rằng
“chất lượng là một trình độ cao nhất mà một sản phẩm có được khi sản xuất” Do xuất phát từ phía người sản xuất nên khái niệm về chất lượng theo quan điểm này còn có