1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG sức KHỎE tâm THẦN của học SINH TRƯỜNG TRUNG học cơ sở tại THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN năm 2016

129 159 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những thập kỷ cuối củathế kỷ 20, đặc biệt ở các nước đang phát triển sự chăm sóc về mặt tinh thần chotrẻ mới manh nha trong vòng 20 năm trở lại đây, trong đó có Việt Nam vàtrong 10 nă

Trang 1

-NGUYỄN VIỆT QUANG

THùC TR¹NG SøC KHáE T¢M THÇN CñA HäC SINH TR¦êNG TRUNG HäC C¥ Së T¹I THµNH PHè TH¸I NGUY£N

TØNH TH¸I NGUY£N N¡M 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Hà Nội - 2016

Trang 2

-NGUYỄN VIỆT QUANG

THùC TR¹NG SøC KHáE T¢M THÇN CñA HäC SINH TR¦êNG TRUNG HäC C¥ Së T¹I THµNH PHè TH¸I NGUY£N

TØNH TH¸I NGUY£N N¡M 2016

Chuyên ngành : Y học dự phòng

Mã số : 60720163LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Chu Văn Thăng

2 TS Nguyễn Thị Quỳnh Hoa

Hà Nội - 2016

Trang 3

Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại Học Y Hà Nội,Ban lãnh đạo viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng , phòng quản lýđào tạo sau đại học Trường Đại Học Y Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong

Bộ môn Sức khỏe môi trường đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên giúp đỡ để

em có thể hoàn thành khóa luận này

Em vô cùng biết ơn sâu sắc Ban giám hiệu trường Đại học Y DượcThái Nguyên đã tạo điều kiện cho em được học tập nâng cao trình độ chuyênmôn, rèn luyện đức luyện tài chuẩn bị cho hành tranh trong tương lai

Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Chu VănThăng và TS Nguyễn Thị Quỳnh Hoa, người thầy kính mến đã dạy dỗ và trựctiếp hướng dẫn em hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn với các thầy/cô trong Viện Đào tạo Y học

dự phòng và Y tế công cộng Em xin cảm ơn Ban giám hiệu cùng các thầy/côtrường THCS Quang Trung, trường THCS Lương Ngọc Quyến, THCS TânCương và phòng Giáo dục – Đào tạo thành phố Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thu thập số liệu và thực hiện khóa luận này.

Hà Nội, ngày… tháng 12 năm 2016

Học viên

Nguyễn Việt Quang

Trang 4

Kính gửi:

- Ban giám hiệu Trường Đại Học Y Hà Nội.

- Phòng đào tạo sau đại học trường Đại học Y Hà Nội.

- Viện đào tạo y học dự phòng và y tế công cộng

- Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp.

Em là học viên Nguyễn Việt Quang, lớp cao học 24 chuyên nghành Y học dự phòng – Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng – Trường Đại học Y Hà Nội Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu mà em đã tham gia Các số liệu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa từng được đăng tải trên bất cứ tài liệu khoa học nào.

Hà Nội, ngày… tháng 12 năm 2016

Học viên

Nguyễn Việt Quang

Trang 5

ADHD Tăng động giảm chú ý (Attention Deficit Hyperactivity Disorder)DTTS Dân tộc thiểu số

RLTT Rối loạn tâm thần

SDQ Bộ câu hỏi tự điền về những điểm mạnh và điểm yếu (Self-Report

Strengths and Difficulties Questionnaire)

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

“Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”, để có một xã hội phát triển, vănminh hiện tại cần quan tâm chăm sóc phát triển toàn diện cho trẻ em và thanhthiếu niên Theo Tổ chức Y tế Thế giới, bên cạnh các vấn đề sức khoẻ thể chất

đã và đang được chú trọng, sức khoẻ tâm thần trẻ em và thanh thiếu niên ởnhiều quốc gia còn chưa được quan tâm đúng mức Từ những thập kỷ cuối củathế kỷ 20, đặc biệt ở các nước đang phát triển sự chăm sóc về mặt tinh thần chotrẻ mới manh nha trong vòng 20 năm trở lại đây, trong đó có Việt Nam vàtrong 10 năm gần đây với sự nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề sứckhỏe tâm thần của trẻ em và nhận thức được hậu quả nặng nề hay gánh nặngcho xã hội rất lớn nếu sức khỏe tâm thần của trẻ em không được quan tâmchăm sóc Theo kết quả điều tra của CDC từ năm 2005 đến 2011 cho thấy cókhoảng 13-20% trẻ gặp phải các vấn đề về sức khỏe tâm thần, trong đó có6,8% trẻ từ 3-17 tuổi bị tăng động giảm chú ý (ADHD), 3,5% rối loạn hành vi;

ở trẻ vị thành niên từ 12-17 tuổi có 4,2% gặp phải các rối loạn do sử dụng rượutrong 12 tháng trước đó… Các rối loạn tâm thần - hành vi ảnh hưởng đếnkhoảng 20% trẻ em và thanh thiếu niên ở mọi quốc gia trên thế giới

Hiện nay ở Việt Nam đã có những công trình nghiên cứu về rối nhiễutâm thần ở tuổi vị thành niên Kết quả cho thấy tình trạng đã ở mức đáng longại Các rối loạn tâm thần thường được biểu hiện dưới dạng: trầm cảm, lo

âu, hoảng loạn, rối loạn hành vi…Các nghiên cứu học đường cho thấy khoảng

10 – 25% học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần Đặc biệt ở lứa tuổi họcđường từ 11-15 tuổi, đây là giai đoạn có nhiều thay đổi cả về tâm sinh lý và

xã hội dẫn đến những biến đổi sâu sắc về mặt tâm lý, nhân cách Giai đoạntuổi thiếu niên thường được gắn với những cách gọi như "tuổi bất trị", "khủnghoảng tuổi thiếu niên" Trong số trẻ vị thành niên có trên 90% trẻ em ở lứatuổi đi học được đến trường , trẻ em từ 11 đến 15 tuổi là giai đoạn học sinhTHCS Vì vậy công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em và thanh thiếu niên, đặc

Trang 7

biệt là ở lứa tuổi 11 đến 15 tuổi với những thay đổi sâu sắc về tâm sinh lý, cầnphải tiến hành song hành trong cả môi trường gia đình, xã hội và trường học.Các vấn đề sức khoẻ tâm thần ở tuổi trẻ nếu không được quan tâm phòngngừa và can thiệp phù hợp sẽ để lại nhiều hậu quả cho cá nhân, gia đình và xãhội Một trong những hậu quả nghiêm trọng của vấn đề này là trẻ có thể có ýđịnh tự tử và thực hiện hành vi tự tử Vấn đề sức khỏe tâm thần cũng có ảnhhưởng lớn tới mối quan hệ của cá nhân với các thành viên trong gia đình, vớibạn bè, ảnh hưởng đến kết quả học tập tại trường, năng suất lao động cũngnhư sự phát triển cá nhân nói chung Vì vậy việc nhận thức đúng đắn, xácđịnh rõ ràng vấn đề sức khoẻ tâm thần và phòng ngừa, chăm sóc, điều trị sứckhoẻ tâm thần cho lứa tuổi học sinh có tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn Trong nhiều trường học đã triển khai chương trình chăm sóc sức khỏe tâmthần cho học sinh nhưng vẫn còn nhiều bất cập

Thành phố Thái Nguyên là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên,trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật, y tế, dulịch, dịch vụ của tỉnh Thái Nguyên và vùng Trung du miền núi phía Bắc Tuynhiên Thái Nguyên cũng phải đối mặt với rất nhiều vấn đề khó khăn của trẻ

em và thanh thiếu niên, trong đó thì công tác chăm sóc sức khỏe tâm thần cònđang bị bỏ ngỏ, các đề tài nghiên cứu về vấn đề này còn chưa nhiều Để tìmhiểu thực trạng sức khỏe tâm thần của trẻ em lứa tuổi từ 11 đến 15 tuổi ởthành phố hiện nay và những yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần học sinh

độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi tại thành phố Thái Nguyên, nghiên cứu ”Thực trạng sức khỏe tâm thần học sinh trường trung học cơ sở tại thành phố Thái Nguyên- tỉnh Thái Nguyên năm 2016” đã được tiến hành với 2 mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng sức khỏe tâm thần của học sinh trường trung học cơ sở tại thành phố Thái Nguyên- tỉnh Thái Nguyên năm 2016.

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần của học sinh trường trung học cơ sở tại thành phố Thái Nguyên- tỉnh Thái Nguyên năm 2016.

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Thực trạng sức khỏe tâm thần của trẻ em từ 11 đến 15 tuổi

1.1.1 Các khái niệm về sức khỏe tâm thần

1.1.1.1 Sức khỏe tâm thần

Sức khoẻ toàn diện là mục tiêu chiến lược của Tổ chức Y tế Thế giới(WHO), của nhiều quốc gia nói chung và của ngành Y tế Việt Nam nói riêng.Chăm sóc sức khỏe (CSSK) đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của xã hội, tất

cả các tầng lớp từ người giàu, người nghèo, từ trí thức đến người lao động, từthành thị đến nông thôn, mọi người đều rất chú ý đến việc chăm sóc sức khỏe

Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): "Sức khoẻ là trạng thái thoải mái cả

về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnhhay tật" Như vậy, sức khoẻ là sự phối hợp hài hoà cả ba thành phần: thể lực,tâm thần và xã hội Ba thành phần này có quan hệ mật thiết với nhau, tácđộng qua lại với nhau, hợp thành sức khoẻ con người Trong khi sức khoẻ vềthể chất đã được dần từng bước xã hội đặt đúng vào vị trí của nó, thì sức khoẻtâm thần còn phải bền bỉ phấn đấu để thay đổi dần nhận thức vẫn còn nhiềulệch lạc, nhiều mặc cảm Vậy sức khoẻ tâm thần là gì? Có thể thấy đượcthành phần tâm thần hay nói cách khác sức khỏe tâm thần là một phần khôngthể tách rời của sức khỏe nói chung; sức khỏe tâm thần là một khái niệm rộngchứ không phải chỉ là không có bệnh tâm thần; và sức khỏe tâm thần có mốiliên quan mật thiết với sức khỏe thể chất và hành vi

Đưa ra định nghĩa về sức khỏe tâm thần là rất quan trọng mặc dù không

dễ dàng để có được sự thống nhất do những khác biệt về giá trị và văn hóagiữa các quốc gia Năm 2003, Tổ chức y tế Thế giới đã đưa ra khái niệm sức

Trang 9

khỏe tâm thần: “Sức khỏe tâm thần là trạng thái khỏe mạnh của mỗi cá nhân để họ nhận biết được các khả năng của bản thân, có thể đương đầu với những căng thẳng thông thường trong cuộc sống, có thể học tập và làm việc một cách hiệu quả và có thể tham gia, góp phần vào các hoạt động của cộng đồng” Như vậy, sức khỏe tâm thần tốt không đơn giản là không có

bệnh tâm thần mà còn tập hợp các kỹ năng cần thiết để đối phó với nhữngthách thức của cuộc sống Sức khỏe tâm thần bao gồm cảm xúc, tâm lý, xãhội và hạnh phúc của chúng ta Nó ảnh hưởng đến cách chúng ta suy nghĩ,cảm nhận và hành động Nó cũng giúp xác định cách chúng ta xử lý căngthẳng, liên quan đến những người khác và sự lựa chọn Sức khỏe tâm thần làquan trọng ở mọi giai đoạn của cuộc sống, từ thời thơ ấu và niên thiếu quatuổi trưởng thành…

1.1.1.2 Rối loạn tâm thần

Thuật ngữ “vấn đề sức khỏe tâm thần”, “rối loạn tâm thần và hành vi”,

“bệnh tâm thần” đều được dùng để chỉ các rối loạn về nhận thức, hành vi vàcảm xúc mà gây trở ngại đến cuộc sống và công việc của con người

 Rối loạn tâm thần và hành vi (Mental and Behaviour Disorder) lànhững bệnh lý tâm thần đủ tiêu chuẩn chẩn đoán Rối loạn tâm thần và hành

vi gây ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng nhận thức, cảm xúc hoặc xã hội Rốiloạn tâm thần bao gồm các loại và mức độ khác nhau của một số rối loạn tâmthần chủ yếu được xem là các vấn đề sức khỏe cộng đồng như trầm cảm, lo

âu, nghiện chất, rối loạn loạn thần và sa sút trí tuệ Rối loạn tâm thần cũngđồng nghĩa với bệnh tâm thần (Mental illness)

 Vấn đề sức khỏe tâm thần (Mental Health Problem) cũng gây trởngại đến nhận thức, cảm xúc và chức năng xã hội nhưng nhẹ hơn rối loạn tâmthần Vấn đề SKTT là những phàn nàn khó chịu thường xuyên hơn mứcbình thường và nó bao gồm các rối loạn nhất thời như phản ứng của cơ thể

Trang 10

đối với các sang chấn tâm lý Vấn đề SKTT thường nhẹ hơn và ít kéo dài nhưcác RLTT nhưng nó có thể dễ dàng phát triển thành các RLTT Việc phân biệtnhiều khi không rõ và chủ yếu dựa vào mức độ và thời gian kéo dài của cáctriệu chứng

1.1.1.3 Khái niệm tuổi vị thành niên

Vị thành niên: từ này xuất phát từ tiếng Latinh - adolescere có nghĩa là

"lớn lên" hay "phát triển đến sự chín muồi" VTN là những người trong độtuổi 10-19 tuổi nghĩa là trong độ tuổi thiếu nhi và trước tuổi trưởng thành(Quy định của tổ chức y tế thế giới) hay nói theo tâm lý học thì VTN là giaiđoạn kết nối chuyển tiếp đòi hỏi mỗi cá nhân phải có những thay đổi mới đểthích nghi Tuổi vị thành niên là giai đoạn phát triển sinh lý gắn liền với sựtrưởng thành về sinh dục, nó bao hàm cả nghĩa phát triển về vị thế, địa vị xãhội, hành vi, tình cảm…

Khi trẻ bước vào tuổi VTN thì luôn có xu hướng tách dần ra khỏi vòngtay của cha mẹ, không muốn phụ thuộc vào bố mẹ Ở tuổi này sự biến đổi vềtâm lý rất phức tạp, mỗi một giai đoạn lại biểu hiện một tích cách khác nhau:

có lúc thì kiềm chế nhẫn nhịn có khi lại chủ quan chống đối Hơn nữa, đâycòn là giai đoạn có những mối quan hệ khác giới, nhu cầu giao tiếp với xã hộibạn bè nhiều hơn, các em có xu hướng theo bạn bè hơn là cha mẹ

1.1.1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ từ 11 đến 15 tuổi

Việc phân đoạn quá trình phát triển tâm lý người phác họa cho chúng tathấy rõ những nét tâm lý đặc trưng cho từng lứa tuổi Trong mỗi giai đoạnphát triển các nét tâm lý đặc trưng nảy sinh trên cơ sở kết hợp các điều kiện

khách quan và chủ quan Tuổi thiếu niên được xác định trong khoảng từ 11

-15 tuổi Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi cả về tâm sinh lý và xã hội dẫnđến những biến đổi sâu sắc về mặt tâm lý, nhân cách.Việc nắm được những

Trang 11

đặc điểm tâm lý của lứa tuổi này là rất cần thiết để các bậc cha mẹ có cách đối

xử tác động tới con phù hợp

a, Sự phát triển về mặt sinh lý

Giai đoạn này cơ thể đang diễn ra quá trình cải tổ hình thái sinh lý mộtcách mạnh mẽ và mang tính chất không cân đối

Về chiều cao: đây là thời kỳ nhẩy vọt về tầm vóc, xương tay chân dài

ra nhưng xương ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm Điều này làm chohoạt động của trẻ trở nên lóng ngóng vụng về

Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều về mặt cơthể Tầm vóc của các em lớn lên trông thấy

Về hệ cơ: chứa nhiều nước, chưa phát triển hết nên các em chóng mệt

và không có khả năng làm việc cao Ở cuối giai đoạn này, khối lượng cơ vàlực cơ phát triển mạnh đặc biệt là ở các em trai

Về hệ xương: xương sống và xương tứ chi phát triển mạnh nhưng

xương lồng ngực phát triển chậm vì thế làm cho các em có vẻ gầy còm,không cân đối

Sự phát triển hệ xương như các xương tay, xương chân rất nhanh,nhưng xương ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm Vì vậy ở lứa tuổi nàycác em không mập béo, mà cao, gây thiếu cân đối, các em có lóng ngóngvụng về, không khéo léo khi làm việc, thiếu thận trọng hay làm đổ vỡ … Điều

đó gây cho các em một biểu hiện tâm lý khó chịu

Về hoạt động tim mạch: sự phát triển của hệ thống tim mạch cũng

không cân đối Thể tích của tim tăng rất nhanh, hoạt động của tim mạnh mẽhơn, nhưng kích thước của mạch máu lại phát triển chậm Do đó có một số rốiloạn tạm thời của hệ tuần hoàn, tăng huyết áp, tim đập nhanh, gây nhức đầuchóng mặt mệt mỏi khi làm việc

Trang 12

Sự trưởng thành về mặt sinh dục: đây là yếu tố quan trọng của sự phát

triển thể chất, trong giai đoạn này gây nhiều ảnh hưởng đến tâm lý các em.Đặc điểm giới tính bộc lộ rõ nét và tuyến sinh dục bắt đầu hoạt động (ở các

em nữ xuất hiện hiện tượng kinh nguyệt, ở các em nam xuất hiện hiện tượngxuất tinh lần đầu) Sự dậy thì đã kích thích ở lứa tuổi này mối quan tâm đếnngười khác giới làm nẩy sinh những rung cảm, xúc cảm giới tính mới lạ

b, Sự phát triển về mặt xã hội

Địa vị của các em trong gia đình đã thay đổi, được gia đình thừa nhận

là một thành viên tích cực, được giao nhiệm vụ cụ thể, được tham gia bàn bạcmột số công việc của gia đình

Ở nhà trường, hoạt động học tập có nhiều thay đổi tác động mạnh đếnđời sống tâm lý của các em

Ngoài xã hội lứa tuổi này được thừa nhận như một thành viên tích cực,tham gia hoạt động công tác xã hội Vì thế mối quan hệ của các em được mởrộng, tầm hiểu biết, kinh nghiệm sống, nhân cách của các em được phát triểnphong phú hơn so với các giai đoạn trước

c, Sự phát triển của các quá trình nhận thức

- Tri giác: khối lượng tri giác tăng lên, có trình tự, có kế hoạch và hoànthiện hơn, có khả năng phân tích và tổng hợp phức tạp khi tri giác sự vật vàhiện tượng

- Trí nhớ: trí nhớ dần dần mang tích chất có điều khiển, điều chỉnh và có

tổ chức

- Tư duy: đặc điểm nổi bật của hoạt động tư duy là sự thay đổi mối quan

hệ giữa tư duy hình tượng sang tư duy trừu tượng, khái quát mà sự chiếm ưuthế của tư duy trừu tượng là đặc điểm cơ bản về hoạt động tư duy ở lứa tuổinày.Tính phê phán của tư duy cũng được phát triển

Trang 13

Đời sống tình cảm: Tình cảm của các em sâu sắc, phong phú, đa dạng và

phức tạp hơn ở giai đoạn trước Tuy nhiên rất dễ xúc động, mang tính bồngbột, dễ bị kích động, vui buồn chuyển hoá nhanh chóng Trong mối quan hệvới bạn bè xuất hiện tình cảm khác giới, có nguyện vọng được bạn khác giớiquan tâm, yêu thích

Tình cảm bắt đầu phục tùng ý chí, tình cảm đạo đức phát triển mạnh, tìnhcảm bạn bè, tình tập thể, tình đồng chí cũng được phát triển Xuất phát từ việccoi trọng tình bạn, muốn giao tiếp với bạn cùng tuổi mà ở các em có nguyệnvọng được khẳng định vị trí của mình trong tập thể Các em có khát vọng mạnh

mẽ đó là muốn chiếm vị trí được tôn trọng trong nhóm bạn bè cùng tuổi.Nguyện vọng này thể hiện nhu cầu tự khẳng định và có ý nghĩa quan trọngtrong sự phát triển tâm lý, nhân cách của thiếu niên Các em có cảm xúc nặng

nề nếu quan hệ với bạn bị tổn thương, mất bạn, sự tẩy chay của bạn bè

Khuynh hướng muốn làm người lớn:

Khuynh hướng muốn làm người lớn thể hiện về nội dung và hình thứcnhư trong học tập các em muốn độc lập lĩnh hội tri thức, có quan điểm và lậpluận riêng Trong phạm vi ý thức xã hội, các em đòi hỏi mong muốn ngườilớn quan hệ, đối xử với mình bình đẳng như đối xử với người lớn Tuy nhiên

sự không thay đổi và cách ứng xử giữa người lớn với các em gây ra không ítnhững xung đột ở lứa tuổi này

d, Sự phát triển nhân cách

Các em thường cố gắng bắt chước những mẫu người lý tưởng mà các em

tự lựa chọn làm thần tượng của mình Sự phấn đấu vươn lên theo hình mẫu lýtưởng đó giúp thiếu niên hình thành những phẩm chất ý chí như: sức mạnh,lòng dũng cảm, tinh thần vượt khó khăn để đạt mục đích Tuy nhiên sựngưỡng mộ, sùng bái các giá trị này không phải lúc nào cũng phát triển theochiều hướng phù hợp với những giá trị đạo đức xã hội tích cực

Trang 14

e, Sự phát triển của tự ý thức

Sự hình thành tự ý thức ở các em là quá trình diễn ra dần dần Cơ sở đầutiên của sự tự ý thức là sự tự đánh giá của người khác, nhất là người lớn Dầndần các em bắt đầu có khuynh hướng độc lập phân tích và đánh giá nhân cáchcủa mình hơn

f, Sự hứng thú

Hứng thú của thiếu niên phát triển khá mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫnchiều sâu, thể hiện ở sự quan tâm đến kết quả hoạt động, đến bản chất, ýnghĩa của hoạt động, thể hiện ở thái độ tích cực với hiện tượng khách quan

1.1.2 Một số rối loạn sức khỏe tâm thần tuổi từ 11 đến 15 tuổi

a, Vệ sinh tâm lý lứa tuổi

Ở lứa tuổi này nhân cách của các em được phát triển một cách mạnh

mẽ, tự ý thức đã bắt đầu hình thành các quan niệm về cuộc sống rõ ràng hơn

và các quan hệ xã hội bước đầu được mở rộng Hoạt động chủ đạo của trẻ lúcnày là học tập Các biện pháp vệ sinh tâm lý được đan xen với hoạt động họctập cho trẻ Cần tránh tạo gánh nặng trí tuệ và tránh thúc ép các em học quásức, cả về văn hóa, thể thao, âm nhạc, hội họa …

Ở cuối lứa tuổi này, trẻ dễ có những khủng hoảng tâm lý đi kèm vớinhững biến đổi mạnh mẽ về sinh lý Đối với trẻ em gái, nếu không đượcchuẩn bị chu đáo về tâm lý cho lần thấy kinh nguyệt đầu tiên các em dễ bịnhững mặc cảm nặng nề, ở trẻ em trai sự phát triển tâm lý giới tính cũngchuyển sang thời kỳ mới Nếu các em bị những tác động xấu của video đen,phim ảnh đồi trụy thì rất dễ có những hành vi chống đối xã hội, phi đạo đức

Các biện pháp vệ sinh tâm lý đối với lứa tuổi này gắn liền với công tácgiáo dục của nhà trường, sự quan tâm của gia đình và xã hội

Đối với nhiều người, các vấn đề về sức khỏe tâm thần lần đầu tiên xuấthiện từ giai đoạn vị thành niên Ở nhiều quốc gia đang có sự gia tăng các

Trang 15

trường hợp trầm cảm, rối loạn hành vi ăn uống (đặc biệt là ở các em gái) vàcác hành vi tự hủy hoại bản thân Mặc dù các vấn đề này thường bắt nguồn từ

sự tự ti và áp lực phải thỏa mãn những kỳ vọng thiếu thực tế, nhưng bên cạnh

đó còn có các yếu tố khác được cho là gây nên tình trạng này, như bạo lực,đối xử tồi tệ, lạm dụng, sao nhãng, và bắt nạt

Thời thơ ấu và tuổi vị thành niên kéo dài gần 20 năm Đây là lứa tuổiphát triển mạnh mẽ nhất về mọi mặt và được đánh dấu bởi những thay đổiđáng kể về mặt cơ thể, nhận thức, tình cảm, kỹ năng xã hội và các năng lựckhác SKTT ở trẻ em và vị thành niên được xác định bởi các kết quả quá trìnhphát triển nhận thức, xã hội, nền móng xúc cảm, khả năng đáp ứng các mốiquan hệ xã hội, và các kỹ năng đối phó, thích nghi có hiệu quả

Như vậy, trẻ em và thanh thiếu niên có SKTT tốt là những người cókhả năng đạt được và duy trì các chức năng tâm lý, xã hội thích hợp và luônthoải mái Trẻ tự nhận thức được giá trị của bản thân, gia đình và các mốiquan hệ bạn bè, có khả năng học tập và sáng tạo, có khả năng giải quyếtnhững thách thức trong quá trình phát triển, sử dụng hiệu quả các tiềm năng

để phát triển toàn diện, có chất lượng cuộc sống tốt, hoàn thành tốt các côngviệc ở nhà, ở trường và trong cộng đồng của chúng, đồng thời phải không cócác triệu chứng rối loạn tâm lý

Giống như người lớn, trẻ em cũng có thể có các rối loạn SKTT mà ảnhhưởng đến cách chúng nghĩ, cảm nhận và ứng xử Khoảng 50% các rối loạnSKTT thường bắt đầu trước tuổi 14 và nếu không được điều trị bệnh có thểkéo dài, để lại hậu quả nặng nề, dẫn đến thất học, các xung đột gia đình,nghiện ma tuý, bạo lực và thậm chí là tự sát Các rối loạn SKTT cũng tiêu tốnrất nhiều tiền của của gia đình, cộng đồng và hệ thống chăm sóc sức khoẻ

b, Một số các rối loạn sức khỏe tâm thần trẻ em và thanh thiếu niên

Hội đồng Y khoa Hoa Kỳ (The U.S Surgeon General’s) năm 2000, trong

“báo cáo về sức khoẻ tâm thần trẻ em”, đã ước tính rằng 1/5 trẻ em và thanhthiếu niên sẽ mắc một vấn đề sức khoẻ tâm thần rõ rệt trong quá trình đi học

Trang 16

Các vấn đề ở trẻ khác nhau về mức độ nặng nhẹ nhưng khoảng 70% trong sốcác trẻ đó cần được điều trị mà không nhận được các dịch vụ chăm sóc sứckhỏe tâm thần (CSSKTT) phù hợp Những vấn đề SKTT có thể xuất hiệnsớm ngay từ khi trẻ rất nhỏ, và tương tự như tất cả các mặt phát triển của trẻ,chúng ta càng quan tâm sớm đến SKTT thì càng tốt.

Lứa tuổi trẻ có thể bị các vấn đề về sức khoẻ tâm thần, cảm xúc vàhành vi Đây là vấn đề thực tế đang gặp phải và gây ra khó khăn, lo lắng chonhiều gia đình

Các rối loạn SKTT ở trẻ em và thanh thiếu niên gồm có:

• Các rối loạn phát triển (chậm phát triển tâm thần, tự kỷ, rối loạn học )

• Rối loạn cảm xúc (trầm cảm, lo âu, rối loạn cảm xúc lưỡng cực )

- Các rối loạn hành vi: Rối loạn tăng động – giảm chú ý; Rối loạn bướngbỉnh, chống đối; Rối loạn ứng xử

• Nghiện ma túy

• Rối loạn loạn thần

Bảng 1.1 Mức độ phổ biến của một số rối loạn theo lứa

Trang 17

niên Các loại rối loạn phổ biến nhất là rối loạn lo âu, rối loạn hành vi nhưtăng động giảm chú ý (ADHD), rối loạn trầm cảm và các rối loạn sử dụng cácchất gây nghiện như sử dụng rượu… Thống kê cho thấy ADHD có thể xảy ra

ở 8-10% trẻ em trong độ tuổi đi học, trầm cảm xảy ra ở khoảng hơn 2% trongthời gian thơ ấu và lên tới 4-7% thời thanh thiếu niên và lên đến 20% thanhthiếu niên bắt đầu vào tuổi trưởng thành

Một số rối loạn cảm xúc và hành vi lứa tuổi thanh thiếu niên

- Các rối loạn lo âu: Sợ hãi quá mức, buồn rầu hoặc trạng thái lo lắng, bực

bội… đều có thể là rối loạn lo âu Rối loạn lo âu là biểu hiện phổ biến nhất ở lứatuổi trẻ Theo một nghiên cứu trẻ từ 9 đến 17 tuổi, ước chừng 13/100 trẻ bị cácrối loạn lo âu

- Trầm cảm nặng: Trước kia người ta cho rằng trầm cảm nặng không xảy ra

ở trẻ em Ngày nay các chuyên gia đều đồng ý rằng trầm cảm nặng có thể xảy

ra ở mọi lứa tuổi Các nghiên cứu cho thấy 2/100 trẻ có thể bị trầm cảm chủyếu Khoảng 8/100 thanh thiếu niên có thể bị trầm cảm nặng

- Rối loạn cảm xúc lưỡng cực: Rối loạn cảm xúc lưỡng cực hay tái phát và

tái diễn trong cuộc đời trẻ Khoảng 1/100 người bị rối loạn cảm xúc lưỡngcực có dấu hiệu bệnh lần đầu trong những năm tuổi thanh thiếu niên

- Rối loạn tăng động giảm tập trung chú ý: Thường bắt đầu ở lứa tuổi mẫu

giáo lớn và diễn biến kéo dài Tỷ lệ mắc 5/100 cháu

- Các rối loạn về học: Khó khăn trong việc tiếp thu và diễn đạt thông tin, có

thể có khó khăn về nói và viết chính tả, khó khăn về tính toán hoặc khó khăntrong việc phối hợp, các vận động chủ ý và tự kiểm soát bản thân

- Các rối loạn về ứng xử: Ít quan tâm đến người khác, xâm phạm thô bạo

với bạn bè người thân hoặc súc vật Không tuân thủ các qui tắc xã hội, hay cócác hành động quá đáng và quá mức, vi phạm trật tự Sự chống đối có thể

Trang 18

tăng đến độ nguy hiểm Các biểu hiện vi phạm bao gồm nói dối, ăn cắp, gâyhấn, trốn học hoặc dã man tàn bạo…

Tỉ lệ rối loạn ứng xử khoảng 3/100 trẻ tuổi từ 9 đến 17 tuổi

- Rối loạn ăn uống: Có hai loại: chán ăn và ăn vô độ

Trẻ chán ăn có tỷ lệ gặp 1/100 trẻ

Tỉ lệ chứng ăn vô độ khoảng 1-3/100 trẻ

- Tự kỷ: Trẻ được gọi là tự kỷ là những trẻ có vấn đề về giao tiếp, ứng xử

với những người khác Khoảng 70% trẻ tự kỷ có chậm phát triển tâm thần và

có nguy cơ cao bị các rối loạn tâm thần Tỷ lệ trẻ tự kỷ từ 2 đến 8 phần vạn

Tỷ lệ bé trai/ bé gái là 3/1

- Tâm thần phân liệt: Tỷ lệ 5/1000 trẻ

1.1.3 Một số công cụ sàng lọc, phát hiện các vấn đề sức khỏe tâm thần đối

với trẻ em tại cộng đồng

Việc phát hiện và sàng lọc sớm các vấn đề sức khỏe tâm thần cho trẻ

em và trẻ vị thành niên hiện nay tại cộng đồng có vai trò vô cùng quan trọngtrong việc chăm sóc và nâng cao sức khỏe của trẻ, giúp trẻ phát triển toàndiện Trong thăm khám, chữa trị, chẩn đoán các vấn đề sức khỏe tâm thần làxác định thể loại, mức độ và phương pháp can thiệp Thông thường, các nhàtâm lý lâm sàng, trị liệu, tham vấn, nghiên cứu sẽ tham chiếu những điềuquan sát thấy ở trẻ vào các bảng tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh: ICD – 10 hoặcDSM – IV – TR (2000) để đưa ra những kết luận chẩn đoán

Với sự phát triển của khoa học nói chung và y học nói riêng, các công

cụ đánh giá, phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ ngày càngphát triển với các nội dung, hình thức phong phú và càng ngày càng đi gầnvới lâm sàng Điều này rất có ý nghĩa bởi trẻ em, trẻ vị thành niên hiện nay làlứa tuổi dễ bị các tác động của các yếu tố xung quanh như gia đình, xã hội,trường học… hay từ chính bản thân các em, để cha mẹ đưa trẻ đi khám tại các

Trang 19

cơ sở y tế nhằm phát hiện các vấn đề sức khỏe tâm thần của con cái còn hạnchế do các điều kiện về nhận thức, khả năng nhận biết các dấu hiệu, điều kiện

về kinh tế, về sự tiếp cận dịch vụ y tế đầy đủ… Ở các nước phát triển, bêncạnh hệ thống giáo dục, mạng lưới tư vấn học đường nói chung, tham vấnSKTT học đường nói riêng hoạt động hiệu quả đã phát hiện và can thiệp cácvấn đề khó khăn của trẻ kịp thời, ngăn ngừa được các hành vi tiêu cực gây rốinhiễu xã hội Ở nuớc ta, hệ thống đào tạo cán bộ làm công tác tư vấn tâm lýhọc đường, tâm lý lâm sàng chưa có Do đó, mạng lưới của công tác này còn

bỏ trống Vì vậy sự phát triển các công cụ sàng lọc giúp các nhà dịch tễ họcthực hiện được việc đo lường gánh nặng bệnh tâm thần ở cộng đồng

Thấu hiểu được điều đó Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học

về giới – gia đình – phụ nữ và vị thành niên đã biên dịch cuốn tài liệu “Khungđánh giá nhu cầu của trẻ em và gia đình của trẻ”

Cuốn tài liệu gồm các bộ câu hỏi:

1 Bộ câu hỏi Điểm mạnh và khó khăn (SDQ)

2 Thang đo về những điều phiền muộn, rắc rối trong việc nuôi dạy trẻ

3 Thang đo Điều kiện nhà ở

4 Thang đo Hạnh phúc của người trưởng thành

5 Thang đo Hạnh phúc của trẻ vị thành niên

6 Bộ câu hỏi về các sự kiện xảy ra trong thời gian gần đây

7 Bộ Thang đo Hoạt động gia đình

8 Thang đo việc sử dụng rượu

* Thang đánh giá SDQ ( đánh giá điểm mạnh và khó khăn)

Thang đánh giá điểm mạnh và yếu học sinh của Tổ chức y tế thế giới,được các Giáo sư Trung tâm Sức khoẻ tâm thần quốc tế Australia và các nhàchuyêm môn Bệnh viện Tâm thần ban ngày Mai Hương chuẩn hoá sang tiếngViệt Gồm 3 thang: Thang SDQ dành cho học sinh tự đánh giá; Thang SDQ

Trang 20

dành cho giáo viên đánh giá; Thang SDQ dành cho cha mẹ đánh giá Mỗi thang

có 25 câu hỏi, cho điểm 1, 2, 3 theo mức độ nặng, nhẹ các dấu hiệu của trẻ.Các điểm yếu sức khoẻ tâm thần trong thang SDQ bao gồm:

- Các vấn đề cảm xúc: Buồn rầu, thất vọng, suy nhược, sợ hãi lo lắng,mất quan tâm thích thú, ngại giao tiếp bạn bè

- Các vấn đề ứng xử: Tức giận, mất tự chủ, thích bạo lực, thích gây hấn

- Các vấn đề về tăng động giảm tập chung chú ý: Căng thẳng, bồn chồn,luôn ngọ ngoạy, hấp tấp, bốc đồng, không thể tập trung chú ý để làm một việc

tự điền phiếu SDQ25

Kỹ thuật phân tích Receiving Operating Characteristics (ROC) chạytrên Stata 8 được dùng để tính khả năng chẩn đoán, ngưỡng chẩn đoán, độnhậy, độ đặc hiệu của công cụ Nghiên cứu rút ra các kết luận sau:

Trang 21

- Khả năng chẩn đoán của bộ câu hỏi SDQ25 phiên bản tiếng Việt từ0,70 đến 0,79 tuỳ theo đối tượng và phương thức lấy tin

- Khả năng chẩn đoán của bộ câu hỏi SDQ25 không khác nhau giữaphương thức tự điền và phỏng vấn Cho phương thức tự điền, SDQ25 phiênbản tiếng Việt có ngưỡng chẩn đoán trẻ bị nghi ngờ rối nhiễu tâm thần khiđiểm số SDQ25 ở mức ≥13 khi thầy cô giáo thực hiện việc đánh giá, và mức

≥14 khi bố mẹ hoặc trẻ thực hiện tự đánh giá

- Sử dụng bộ câu hỏi SDQ25, thầy cô giáo là nguồn cung cấp thông tinđánh giá về rối nhiễu tâm thần của trẻ có độ tin cậy ổn định hơn so với bố mẹhoặc chính bản thân trẻ

Ngoài ra còn có thể thang đo về hành vi của trẻ em của Achenbach đãthích nghi ở Việt nam (Achenbach, 1991), bao gồm :

- Bảng dùng cho trẻ tự ghi dành cho trẻ từ 11 đến 18 tuổi (Youth Report for children 11-18 year old – YSR) YSR được thiết kế để trẻ có khảnăng đọc hiểu từ lớp 5 trở lên tự báo cáo về khả năng cũng như các vấn đềcủa bản thân Phần đầu của YSR ghi lại những thông tin về khả năng thíchứng của trẻ trong các mặt khác nhau: thể thao, sở thích, bạn bè, công việc nhà,học tập Trẻ cũng tự đánh giá các năng lực và kết quả học tập cũng như quan

Self-hệ gia đình, bạn bè của trẻ Phần thứ hai của YSR bao gồm 112 vấn đề xuấthiện trong vòng 6 tháng đến thời điểm hiện tại Các vấn đề này được phânthành 8 trục hội chứng chính của các hành vi và cảm xúc thường gặp ở trẻ em

và vị thành niên (theo Bảng phân loại bệnh lần thứ 4 của Hoa kỳ- DSM-IV) làthu mình, rối loạn dạng cơ thể, lo âu/trầm cảm, các vấn đề xã hội, vấn đề vềsuy nghĩ/tư duy, các vấn đề về chú ý, hành xi hung baọ, hành vi sai phamh.Mỗi biểu hiện này được đánh giá ở 3 mức độ (0= hoàn toàn không có, 1=phần nào hoặc thỉnh thoảng có, 2= hoàn toàn hoặc thường xuyên có) Trên cơ

sở tự đánh giá của trẻ, sẽ tính tổng điểm chung, điểm từng hội chứng, tổng

Trang 22

điểm của nhóm hướng nội (các triệu chứng thu mình-né tránh; Lo âu- trầmcảm; rối loạn dạng cơ thể), nhóm hướng ngoại (các triệu chứng của hành vihung bạo, các hành vi sai phạm, tăng động giảm chú ý) Sau đó, so sánh vớithang điểm chuẩn quốc tế mà tác giả thang đo đã xây dựng để xác định từngtrẻ có vấn đề gì và ở mức độ nào: bình thường, ở mức ranh giới, mức bệnh lý(có dấu hiệu lâm sàng).

- Bảng dùng cho giáo viên (Teacher’s Report Form-TRF): được thiết kế

để ghi lại những báo cáo của giáo viên về việc học tập, khả năng thích ứng vàcác vấn đề hành vi/cảm xúc của một học sinh TRF cũng gồm 2 phần Ở phần

1, giáo viên đưa ra nhận xét của mình về học tập của trẻ Giáo viên đánh giáhọc tập của trẻ ở từng môn theo 5 mức độ 1 (kém xa so với mức độ yêu cầucủa lớp) đến 5 (tốt hơn mức yêu cầu) Về khả năng thích ứng, giáo viên dùng

7 mức độ để đánh giá trẻ so với một đứa trẻ phát triển bình thường ở độ tuổiđó: trẻ chăm chỉ, chú tâm như thế nào, hành xử như thế nào, học tập như thếnào, cảm xúc như thế nào Phần 2 có 112 item vấn đề trong đó có 93 itemgiống như ở bảng YSR

1.2 Thực trạng sức khỏe tâm thần của trẻ em và thanh thiếu niên

1.2.1 Thực trạng sức khỏe tâm thần của trẻ em và thanh thiếu niên trên

thế giới

Sức khỏe tâm thần của trẻ em và thanh thiếu niên hiện đã và đang đượcquan tâm rất lớn, do nhận thức về các hậu quả đáng tiếc về sức khỏe tâm thầnkém trong thời kỳ trẻ em và thanh thiếu niên đã được nâng cao và có nhữngtiến bộ trong chẩn đoán và điều trị những vấn đề về sức khỏe tâm thần Theocác điều tra dịch tễ học thì có tới trên 20% trẻ em và thanh thiếu niên gặp phảicác vấn đề về sức khỏe tâm thần rối loạn tâm thần Và có tới 7% đến 10% trẻ

em và thanh thiếu niên mắc phải các rối loạn tâm thần cần điều trị Tỉ lệ nàycao hơn ở các vùng đô thị đông dân có nhiều yếu tố xã hội không thuận lợi,

Trang 23

đặc biệt ở tuổi dậy thì Các rối loạn về cảm xúc và hành vi rất phổ biến trongthời thơ ấu và niên thiếu Trong một báo cáo của Bộ y tế Hoa Kỳ (DHHS2001) đã nói rằng Hoa Kỳ đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng vềsức khỏe tâm thần của trẻ em và thanh thiếu niên, đặc biệt chưa đến 1/5 đượcđiều trị

Bảng 1.2 Tỷ lệ trẻ em và trẻ vị thành niên bị rối loạn tâm thần trong nhóm

nghiên cứu của WHO năm 2005

có một hoặc nhiều vấn đề về tâm thần hoặc hành vi Thời thơ ấu và niênthiếu là giai đoạn phát triển mà rất khó xác định ranh giới một cách rõ ràngxem hiện tượng đó của trẻ là một phần của sự phát triển bình thường hay làbất thường Các số liệu nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ vị thành niên cóbiểu hiện rối loạn tâm thần tại một số nước phát triển khá cao nguyên nhân cóthể do chính áp lực học tập, sự phát triển kinh tế- xã hội khiến cho trẻ emkhông kịp thời thích ứng Tuy nhiên mặc dù ở các nước phát triển có hệ thống

Trang 24

cơ sở hỗ trợ tâm lý và chăm sóc sức khoẻ thể chất và tâm thần lâu đời vàphong phú, nhưng hầu hết các trẻ em có nhu cầu hỗ trợ sức khỏe tâm thần đềukhông được đáp ứng thoả đáng Ở các nước đang phát triển tỷ lệ trẻ em vàthanh thiếu niên gặp phải các vấn đề về sức khỏe tâm thần cao hơn ở các nướcphát triển bởi các điều kiện kinh tế, xã hội có sự khác biệt rõ ràng ảnh hưởngrất lớn đến quá trình phát triển của trẻ trong suốt thời kỳ thơ ấu và trước khitrưởng thành

Những trạng thái tâm lý bệnh học trẻ em thường gặp là:

- Hành vi gây rối và chống đối xã hội (những rối loạn bên ngoài) có tỷ

lệ mắc là 3-5%

- Rối loạn cảm xúc (những rối loạn bên trong) có tỷ lệ gặp là 2-5%

- Những trở ngại tâm lý và rối loạn dạng cơ thể chiếm 1-3%

Hiếm gặp hơn là các rối loạn tâm thần trẻ em và rối loạn sự phát triểnnói chung (bệnh tự kỷ) gặp 0,1% Những rối loạn hành vi gây rối và chốngđối xã hội thường gặp ở trẻ trai nhiều gấp 2 đến 3 lần trẻ gái Tỉ lệ giữa nam

và nữ tương đồng hơn với các rối loạn cảm xúc, trẻ gái lại hay gặp trầm cảm

và chứng biếng ăn nhiều hơn so với trẻ trai Những rối loạn cảm xúc (lo âu,trầm cảm) làm giảm sút đáng kể sự phát triển và khả năng học của trẻ Các rốiloạn hành vi gây phá vỡ nghiêm trọng sự phát triển về mặt xã hội và có thểdẫn tới mắc các chứng bệnh tinh thần về lâu dài Theo một nghiên cứu củaWHO (2005) ở Châu Âu cho thấy có hơn 4% trẻ từ 12 đến 17 tuổi và trên 9%

bị trầm cảm, đây là một rối loạn phổ biến nhất và hậu quả để lại rất lớn Trong

đó các trẻ nữ bị nhiều hơn so với trước đây với các biểu hiện trầm cảm và nóliên quan đến việc tự sát của thanh thiếu niên; là nguyên nhân thứ 3 gây tửvong hành đầu ở người trẻ tuổi Cùng với đó là các rối loạn tâm thần do việc

sử dụng rượu và ma túy ngày càng tăng gây ra những hậu quả nặng nề, thanhthiếu niên có những hành vi bạo lực, đe dọa tính mạng bản thân và những

Trang 25

người xung quanh Tuy nhiên nếu được điều trị sớm và kịp thời thì sẽ có tiênlượng tốt, giảm thiểu được những gánh nặng cho xã hội trong tương lai

Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ trầm cảm trong vòng 12 tháng trên 5600 trẻ ở lứa tuổi từ

4 đến 17 tuổi ở Australian

Tỷ lệ trẻ từ 4 đến 17 tuổi ở Australian khá cao khoảng 13,9%, trong đó

ở trẻ nam cao hơn trẻ gái

Bảng 1.3 Đặc điểm các rối loạn tâm thần và hành vi trẻ em và thanh thiếu

niên độ tuổi từ 9 đến 17 tuổi tại Mỹ

Trang 26

Theo báo cáo Y học (Phòng chống rối loạn tâm thần, cảm xúc và hành

vi ở những người trẻ tuổi, 2009) tập hợp các kết quả từ các nghiên cứu trướcđây, người ta ước tính rằng 13 -20 % trẻ em sống ở Mỹ (1 trong 5 trẻ em) gặpmột rối loạn tâm thần trong một năm và ước tính khoảng 247 tỷ USD mỗinăm là dành cho vấn đề rối loạn tâm thần của trẻ em

Một số rối loạn của trẻ từ 3-17 tuổi:

ADHD (6,8%)Rối loạn hành vi (3,5%)

Lo âu (3,0%)Khủng hoảng (2.1%)

Tự kỷ (1.1%)

Thanh thiếu niên từ 12-17 tuổi :

Rối loạn sử dụng ma túy bất hợp pháp trong năm qua (4,7%)Rối loạn sử dụng rượu trong năm qua (4,2%)

Lệ thuộc thuốc lá trong tháng vừa qua (2,8%)

1.2.2 Thực trạng sức khỏe tâm thần của trẻ em và

thanh thiếu niên tại Việt Nam

Ở Việt Nam, từ hai thập kỷ trước đã bắt đầu có một số tác giả nghiên cứu

đề cập đến vấn đề sức khỏe tâm thần trẻ em và thanh thiếu niên Tuy nhiên,việc nghiên cứu về sức khỏe tâm thần trẻ em mới chỉ được quan tâm nhiềuhơn trong khoảng 10 năm trở lại đây

Năm 2012 theo ước tính của cuộc điều tra cả nước có trên 18,3 triệu trẻ

em từ 5 - 17 tuổi (dân số trẻ em), trong đó 52,3% là trẻ em trai và 47,7% là trẻ

em gái, chiếm 20,7% tổng dân số Theo kết quả tổng điều tra dân số năm

2012 ở Việt Nam trẻ VTN có khoảng 23.165.631 trẻ, chiếm khoảng 26,2%dân số cả nước

Trang 27

Hiện nay ở nước ta đã bắt đầu có những công trình nghiên cứu về rốinhiễu tâm thần ở tuổi vị thành niên Kết quả cho thấy tình trạng đã ở mứcđáng lo ngại Các rối loạn tâm thần thường được biểu hiện dưới dạng: trầmcảm, lo âu, hoảng loạn, rối loạn hành vi… Các nghiên cứu học đường chothấy khoảng 10 – 25% học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thần Các rối loạnthường gặp như: trầm cảm, lo âu, rối loạn tăng động, rối loạn liên quan đếnhọc tập, rối loạn ứng xử, gây gổ đánh nhau, nghiện chất, nghiện điện tử vàgame online… Theo một khảo sát cắt ngang tại Việt Nam tỷ lệ trẻ em có cácvấn đề về sức khỏe tâm thần chung là 15,9%, khảo sát dọc thời gian trong 1năm học có tới 1,6% các em có RLTT trong tổng số học sinh ở các cấp học Nghiên cứu của bệnh viện tâm thần Mai Hương năm 2005 cho thấy tỉ lệ mắccác vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh trong các quận nội thành là 19,46

%

Thực tế những năm gần đây, rất nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏe tâmthần đang nổi lên như stress, lo âu, ám ảnh, trầm cảm, tự sát trong học sinhtrường học, vấn đề “hysterya tập thể”, các biểu hiện suy nhược và rối loạndạng cơ thể Trẻ em vô tình bị đẩy vào những tình huống buộc phải tự lậpcũng như phải đối mặt với quá nhiều tác động có hại do mặt trái của nền kinh

tế thị trường, trong khi các em không có cơ hội trang bị đủ kiến thức cần thiết

về tâm lý Trong nhà trường luôn luôn có một tỉ lệ học sinh có vấn đề về sứckhỏe tâm lý tâm thần Theo đó 15,94% em có rối nhiễu về tâm lý trong tổng

số học sinh các cấp học, lạm dụng chất gây nghiện đang tăng nhanh chóng,với số thanh thiếu niên Trong số các ca tự sát, 10% ở độ tuổi 10 - 17

Nghiên cứu 21.960 thanh thiếu niên Hà Nội phát hiện 3,7% em có rốiloạn hành vi Khảo sát sức khỏe tâm thần học sinh trường học thành phố HàNội bằng công cụ SDQ của Tổ chức Y tế Thế giới chuẩn hóa Việt Nam chothấy trên mẫu nghiên cứu gồm 1.202 học sinh tiểu học và trung học cơ sở

Trang 28

trong độ tuổi 10 - 16 tuổi, tỷ lệ học sinh có vấn đề về sức khỏe tâm thầnchung là 19,46 % Tỷ lệ này đối với nam, nữ, tiểu học, trung học cơ sở, nộithành, ngoại thành không có gì khác biệt Những khó khăn về ứng xử của họcsinh trong nghiên cứu của Bệnh viện Mai Hương chiếm 9,23% Lứa tuổi 10 -

11 có tỷ lệ 42 - 46% gặp khó khăn về ứng xử Đặc biệt có sự chênh lệch rấtlớn về khó khăn trong ứng xử giữa học sinh nam (84.60%) và học sinh nữ(15,40%) TS Hồi cũng lưu ý, trong lĩnh vực tâm lý trẻ em, những phân biệtđối xử của ông bà, cha mẹ thậm chí định kiến bất bình đẳng về giới cũng cótác động đến ứng xử của trẻ Nguyễn Thanh Hương và cs (2006) nghiên cứutrên 2591 học sinh 12 – 18 tuổi ở Hà Nội và Hải Dương nhận thấy các rốiloạn hành vi, cảm xúc ở trẻ vị thành niên cao và có liên quan đến việc trẻ bịđối xử không đúng ở nhà cũng như ở trường Theo kết quả nghiên cứu củatác giả Nguyễn Thị Mai Lan tại tỉnh Hòa Bình cho thấy tình trạng sức khỏetâm thần chung của học sinh: bình thường (50,15%), nghi ngờ (28,06%), cóvấn đề sức khỏe tâm thần (21,79%) Nghiên cứu của tác giả Đặng HoàngMinh và cộng sự cho thấy 25,76% số học sinh THCS Hà Nội có vấn đề vềhành vi và cảm xúc

Các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước đã cho thấy các rốiloạn tâm thần và hành vi trẻ em và thanh thiếu niên Việt Nam cũng chiếmmột tỷ lệ đáng kể và cần được tiếp tục đánh giá một cách toàn diện hơn

1.2.3 Thực trạng sức khỏe tâm thần của trẻ em và thanh thiếu niên ở Thái

Nguyên

Tỉnh Thái Nguyên, là trung tâm chính trị, kinh tế của khu Việt Bắc nóiriêng, của vùng trung du miền núi đông bắc nói chung, là cửa ngõ giao lưukinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ;phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía Tây giáp với các tỉnh VĩnhPhúc, Tuyên Quang, phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và

Trang 29

phía Nam tiếp giáp với thủ đô Hà Nội (cách 80 km); diện tích tự nhiên3.562,82 km² Dân số Thái Nguyên khoảng 1,2 triệu người, trong đó có 8 dântộc chủ yếu sinh sống đó là Kinh, Tày, Nùng, Sán dìu, H’mông, Sánchay, Hoa và Dao Ngoài ra, Thái Nguyên được cả nước biết đến là một trungtâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minhvới 6 Trường Đại học, 11 trường Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, 9trung tâm dạy nghề, mỗi năm đào tạo được khoảng gần 100.000 lao động.Nhưng Thái Nguyên cũng là tỉnh có nhiều vấn đề xã hội phức tạp trong

đó có vấn đề rối loạn tâm thần và hành vi ở trẻ em và thanh thiếu niên BùiĐức Trình và cộng sự thực hiện một nghiên cứu điều tra các rối loạn tâmtthần và hành vi tại phường Đồng Quang – thành phố Thái Nguyên (1989)trên 1610 trẻ độ tuổi từ 10 – 17 ghi nhận có 146 trẻ có các rối loạn tâm thần

và hành vi rõ chiếm 9% Các rối loạn tập trung chủ yếu từ 12 – 14 tuổi chiếm

tỷ lệ 44%; nhóm tuổi từ 15 -17 chiếm 42% Trần Văn Cường và cộng sự(2002) điều tra dịch tễ học lâm sàng mười nhóm bệnh tâm thần thường gặp ởcác vùng kinh tế – xã hội khác nhau của nước ta, cho thấy tỷ lệ rối loạn hành

vi tại phường Gia Sàng Thành phố Thái Nguyên ở lứa tuổi 10-17 tuổi là 1% Bùi Đức Trình và cộng sự (2009) nghiên cứu các vấn đề SKTT ở trẻ 11 – 15tuổi bằng thang điểm SDQ 25 cũng nhận thấy tỷ lệ chung các vấn đề SKTT là15,6% Tác giả Đàm Bảo Hoa tiến hành nghiên cứu nhóm học sinh tiểu họctrường tiểu học Hoàng Văn Thụ thành phố Thái Nguyên cho kết quả tổng sốtrẻ có rối loạn 5,24%, trong đó trầm cảm là 4,7%, rối loạn lo âu 2,28% Trong

số trẻ có rối loạn trầm cảm: trầm cảm đơn thuần chỉ chiếm 28,57%, trầm cảmphối hợp với các rối loạn khác chiếm 71,43% Trong số trẻ có rối loạn lo âu:

lo âu ám ảnh sợ đơn thuần là 5,88%, lo âu kết hợp xấp xỉ 94% Trong 39 trẻ

có rối loạn trầm cảm, lo âu thì chỉ có10 trẻ có rối loạn trầm cảm đơn thuần(25,64%), 1 trẻ có rối loạn lo âu ám ảnh sợ (2,56%) còn lại chủ yếu là các rối

Trang 30

loạn kết hợp (71,77%) trong đó trầm cảm kết hợp với lo âu chiếm tỷ lệ caonhất (25,64%)

Tuy số lượng nghiên cứu chưa nhiều, nhưng những kết quả nghiên cứu trêncũng đã chỉ ra một vấn đề sức khỏe đáng quan tâm đó là các rối loạn sức khỏetâm thần trẻ em và thanh thiếu niên tại Thái Nguyên

1.3 Một số yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần trẻ em và thanh thiếu niên

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến SKTT của trẻ em và thanh thiếu niên.Theo WHO, sự tương tác giữa các yếu tố sinh học với yếu tố tâm lý và xã hội

Bảng 1.4 Nhóm các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến SKTT của trẻ

(WHO,2005)

Trang 31

Nhóm yếu tố Nguy cơ

Yếu tố bản

thân trẻ

-Các biến chứng lúc trong khi sinh và thời thơ ấu-Vấn đề nhân cách: tính cách của trẻ quá nhút nhát hoặc hunghãn

-Lòng tự trọng thấp-Kém thông minh-Kết nối với cha mẹ kém-Bệnh tật, suy dinh dưỡng

Gia đình -Gia đình không hòa thuận, bố mẹ ly thân/ly hôn

-Người lớn quá nghiêm khắc, đề ra các qui tắc không phù hợp-Cha mẹ bị tâm thần hoặc lạm dụng chất gây nghiện

-Anh chị em có bệnh hiểm nghèo, tàn tật

Trường học -Bị bắt nạt

-Học kém-Kém tập trung-Kết nối giữa gia đình và nhà trường kém

-Đã từng bị lạm dụng

Xã hội -Bị phân biệt đối xử

-Cô lập-Điều kiện kinh tế kém-Thiếu tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Như vậy, trong quá trình phát triển, trẻ em có thể phải đối mặt với rấtnhiều yếu tố bất lợi Sự kết hợp của các yếu tố bất lợi có thể làm xuất hiện cácrối loạn tâm thần và hành vi ở trẻ em và trẻ vị thành niên Các yếu tố bất lợi

Trang 32

có thể bao gồm các yếu tố thuộc về cá nhân như yếu tố bẩm sinh, di truyền,bệnh cơ thể, các yếu tố tâm lý cá nhân , hay các yếu tố bất lợi của môitrường sống, môi trường giáo dục

1.3.1 Yếu tố bản thân trẻ

Nhân tố di truyền: Vấn đề di truyền tất nhiên có ảnh hưởng xấu đến

một số rối nhiễu tâm thần nhưng không phải là tuyệt đối Có khi các rối nhiễutâm thần phát sinh trong một thành viên của gia đình mà không thấy trong cácthành viên khác, có trường hợp cha mẹ đều có bệnh mà con cháu vẫn khỏemạnh bình thường Cũng có trường hợp nhân tố di truyền không tác động vàothế hệ tiếp theo mà vào thế hệ sau nữa

Những nguyên nhân do sinh nở: trường hợp sinh khó để lại di chứngtrong sự phát triển của bộ não

Những nguyên nhân do nuôi dưỡng: chế độ ăn uống không hợp lý đẫnđến suy dinh dưỡng, ảnh đến sức khỏe thể lực cũng như sức khỏe tâm thần

Nhân cách bao gồm: thích thú, khuynh hướng, năng lực, tính cách, khí

chất…Nhân cách mạnh, bền vững là một nhân tố chống lại sự phát sinh cácvấn đề về SKTT, nhất là các bệnh do căn nguyên tâm lý Khi mắc các vấn đề

về SKTT thì người có nhân cách vững bị nhẹ hơn và hồi phục nhanh hơn.Nhân cách yếu, không bền vững là một yếu tố thuận lợi cho rối nhiễu tâmthần phát sinh, khi mắc thì sẽ hồi phục khó khăn và chậm

Ngoài ra cùng với các yếu tố như tình trạng bệnh tật, dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của trẻ

1.3.2 Yếu tố gia đình

Gia đình là nền tảng của xã hội, gia đình hạnh phúc, con cái trưởngthành, sẽ đóng góp một phần cho sự phát triển một xã hội tốt đẹp, một đấtnước văn minh và giàu mạnh Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực là sựtốt đẹp của mỗi gia đình, sự hạnh phúc của cha mẹ, sự trưởng thành của con

Trang 33

cái, thì vẫn có những vấn đề mà mỗi chúng ta đều phải nhìn nhận một cáchxác đáng

Trẻ VTN sống trong gia đình có những hoàn cảnh không may như giađình ly tán, không đồng cảm hòa hợp trong quan hệ cha mẹ con cái thườnggặp vấn đề về học vấn và có những hành vi như đánh nhau, phạm pháp, lo âu,trầm uất hơn, ít trách nhiệm với xã hội hơn, có ít những mối quan hệ thântình là những yếu tố không tốt ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ

Khi bước sang tuổi VTN, hầu hết anh chị em ruột đã học được cáchgiao tiếp với nhau bình đẳng hơn, và như vậy sẽ tháo gỡ được những sự khácbiệt, sự ganh tỵ, bất đồng Tuy nhiên sự xung đột anh chị em ruột tuổi VTNvẫn còn khá cao

Thực tế cho thấy, ở các thành phố lớn hay những vùng có điều kiện, bố

mẹ thường mải mê đi làm, kiếm tiền và bỏ mặc con cái làm bạn cả ngày vớicác sản phẩm công nghệ mới như Ipad, Iphone… Có những đứa trẻ mới 5tuổi, 6 tuổi nhưng đã biết sử dụng thành thạo các công nghệ mới và chỉ sửdụng để chơi game Chắc hẳn chúng ta đều đã từng chứng kiến một số em họcsinh lớp Một mắc phải chứng “nghiện game” rồi dẫn đến căn bệnh trầm cảm,

tự kỉ ám thị…

1.3.3 Yếu tố trường học

Giáo dục nhà trường cũng có thể gây nên những tổn thương tâm thầncho trẻ em Đó là cách giáo dục áp đặt làm cho trẻ em thiếu tự tin Nội dungchương trình quá tải, áp lực thi cử nặng nề làm cho trẻ em lúc nào cũng căngthẳng, lo sợ, dẫn đến những rối loạn về cả thế xác lẫn tâm thần Vấn đề họcthêm với chính thầy cô ở trường, trẻ phải học ngày học đêm nên không cóthời gian nghỉ ngơi, giải trí, luyện tập thân thể Điều này dẫn đến những hành

vi bất thường, tác hại lâu dài đến tư duy sáng tạo học hỏi của trẻ Áp lực tạitrường học liên quan đến việc học tập, thi cử, liên quan đến cả thầy cô và bạn

bè Rất nhiều học sinh cảm thấy căng thẳng, lo lắng trong học tập, thi cử bởi

cả thầy cô và bố mẹ luôn thúc giục, kì vọng vào em quá nhiều Nhiều học sinh

Trang 34

phải đối mặt với một lượng bài tập lớn cả ở trường và ở lớp học thêm Emkhông có thời gian chơi mà chỉ biết học làm sao cho thật giỏi để làm hài lòng

bố mẹ, thầy cô Vì thế, nhiều học sinh luôn căng thẳng, lo lắng mỗi khi kì thiđến Ngoài ra, yếu tố quan tâm của giáo viên cũng ảnh hưởng không nhỏ đếntâm lý của các em Nếu thầy cô là người tâm lý, luôn quan tâm, động viên họcsinh thì các em sẽ cảm thấy hứng thú hơn trong việc học Ngược lại, thầy côchỉ trích học sinh khi em mắc lỗi hoặc chỉ quan tâm đến những bạn học giỏitrong lớp sẽ dẫn đến những phản ứng tiêu cực từ phía học sinh Bên cạnh đó,yếu tố bạn bè cũng tác động không nhỏ đến sức khỏe tâm thần của các em.Học sinh cần có bạn thân để chia sẻ, cùng học tập và vui chơi Nếu em khônghòa đồng, không chơi với bạn nào thì rất dễ dẫn đến việc học sinh bị cô lập, bịbắt nạt Nhiều học sinh thường xuyên bị bắt nạt tại trường học nhưng lạikhông dám nói với ai vì sợ bạn cũng là một nguyên nhân gây ra tâm lý lolắng, căng thẳng mỗi khi đến trường Trong trường học thường hình thànhnhững nhóm trẻ chơi với nhau do hợp tính cách nhưng cũng có những nhómtrẻ con nhà giàu có điều kiện thì chơi với nhau, đua nhau những vật dụng cácnhân, ăn mặc, tiêu xài… Sự phân nhóm này dẫn đến tình trạng phân biệt giàunghèo khiến các bạn con nhà nghèo thường mặc cảm tự ti, không dám tiếpxúc hoặc có xu hướng đua đòi dẫn đến những hành vi xấu, lệch lạc Mối quan

hệ giữa học sinh và thầy cô có sự cách biệt, thầy giảng, trò nghe, chép không

có sự khuyến khích sáng tạo, trao đổi thảo luận để trẻ có thể bộc lộ các cảmxúc của mình, điều này dẫn đến tình trạng học sinh chây ì, không phát huyđược khả năng mà luôn thụ động dựa vào bài giảng của giáo viên

1.3.4 Yếu tố liên quan đến các sự kiện trong cuộc sống và xã hội

Các vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ còn bị ảnh hưởng rất lớn bởi các sựkiện xảy ra trong cuộc sống cũng như các yếu tố xã hội Đối với những trẻ saumỗi lần chuyển trường, chuyển lớp thì thường có cảm giác phải bắt đầu lại từđầu với những người mới, người lạ chính điều này cũng ảnh hưởng đến tâm

lý của trẻ Cùng với những tổn thương về tâm lý, sự mất mát người thân trong

Trang 35

gia đình cũng có tác động to lớn đến tâm lý của trẻ Ở một số trường hợp trẻ

bị lạm dụng từ khi còn nhỏ, còn đang trong lứa tuổi vị thành niên đã để lạicho trẻ những ấn tượng, ám ảnh, thậm chí là tổn thương tâm lý sâu sắc Chưa

kể đến việc sử dụng các chất gây nghiện như ma túy, đồ uống có cồn khôngnhững làm tổn thương tâm lý trẻ mà còn gây ra những hậu quả nặng nề chotrẻ mà còn cho cả gia đình, xã hội

Ngoài các yếu tố nêu trên, hiện nay như chúng ta đã biết inernet đã ảnhhưởng tới toàn thế giới và cung cấp nhiều lợi ích cho người sử dụng Một sốngười đang lạm dụng quá nhiều vào Internet, họ không thể kiểm soát việc sửdụng và đã làm ảnh hưởng tới công việc cũng như các mối quan hệ Và đãnảy sinh nhiều vấn đề phức tạp Như hiện tượng nghiện internet, đó là cănbệnh mới của xã hội hiện đại Hội chứng nghiện Internet được đề xuất lần đầutiên năm 1995 bởi Ivan Goldber khi ông mô tả chứng nghiện đánh bạc theocác tiêu chuẩn của Sổ tay thống kê và chẩn đoán các bệnh tâm thần Theo mộtnghiên cứu của Bộ GD-ĐT cho thấy 93,57% học sinh, sinh viên gặp phải khókhăn trong học tập và cuộc sống Các em thường tìm đến diễn đàn mạng, bèbạn tâm sự chứ không thổ lộ với gia đình hoặc thầy cô Theo “Nghiên cứuThực trạng nghiện Internet ở học sinh THCS tại thành phố Biên Hoà, ĐồngNai” năm 2011 của Lê Minh Công cho thấy có tỷ lệ khoảng 12,3% học sinhTHCS nghiện internet ở các cấp độ Và nghiên cứu cũng cho thấy sử dụng trịliệu nhận thức hành vi có tác dụng rõ rệt với các em nghiện internet ở mức độvừa và nhẹ; các em học sinh có các biểu hiện liên quan đến mất khả năngkiểm soát thời gian khi sử dụng internet và biểu hiện liên quan đến khó khăn

về cảm xúc, hành vi chiếm ưu thế trong nghiên cứu

Trang 36

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Học sinh 3 trường THCS

- Giáo viên chủ nhiệm các lớp được chọn nghiên cứu

- Cán bộ y tế học đường

- Phụ huynh học sinh

- Ban giám hiệu nhà trường, phòng giáo dục thành phố Thái Nguyên

- Cán bộ y tế tuyến cơ sở phụ trách vấn đề y tế trường học: cấp huyện, cấp tỉnh

 Tiêu chuẩn loại trừ:

- Những học sinh đã được xác định có mắc bệnh thần kinh hoặc thiểunăng trí tuệ

- Những đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc vắng mặttrong thời gian nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 04 năm 2016 đến tháng 11 năm 2016tại thành phố Thái Nguyên

Thành phố Thái Nguyên là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Thái Nguyên,trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật, y tế, dulịch, dịch vụ của tỉnh Thái Nguyên và vùng Trung du miền núi phía Bắc.Theo các đặc điểm về địa lý, kinh tế và xã hội có thể chia thành phố TháiNguyên thành 03 khu vực đại diện, đó là: Khu vực trung tâm, gần trung tâm

và xa trung tâm thành phố Thái Nguyên Trong đó có 03 trường THCS đạidiện cho 03 khu vực của thành phố

Trang 37

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp phương phápđịnh tính

2.3.2 Mẫu nghiên cứu

2.3.2.1 Cỡ mẫu

* Cỡ mẫu định lượng

Cỡ mẫu điều tra học sinh

Cỡ mẫu cho nghiên cứu điều tra học sinh từng trường được tính theocông thức tính cỡ mẫu cho một nghiên cứu tỷ lệ trong quần thể:

Trong đó:

n: Cỡ mẫu nghiên cứu

α : Mức ý nghĩa thống kê

Z1-/2 : Giá trị Z được tra từ bảng ứng với giá trị α được chọn

p: Tỷ lệ mắc các vấn đề về SKTT của học sinh ở một nghiên cứu trước

: Mức sai lệch tương đối mong muốn

Chọn  = 0,3 và  = 0,05; Z 1-/2 = 1,96; p = 0,2 (theo nghiên cứu của

Bệnh viện tâm thần ban ngày Mai Hương ) Từ đó tính được n = 170, là cỡ

mẫu tối thiểu cho một trường nghiên cứu Để dự phòng tỷ lệ bỏ cuộc, đảm

bảo tính đại diện và chính xác, số học sinh điều tra thực tế là 1194 học sinh/ 3trường, cụ thể:

Trường THCS Quang Trung : 519 học sinh

Trường THCS Lương Ngọc Quyến :300 học sinh

Trường THCS Tân Cương : 375 học sinh

Trang 38

Giáo viên: Tất cả giáo viên chủ nhiệm các lớp tiến hành nghiên cứu tại 03

trường THCS Quang Trung, THCS Lương Ngọc Quyến và THCS Tân Cương

* Cỡ mẫu định tính

Thảo luận nhóm có trọng tâm (Focus Group Discussion)

Tổ chức 8 cuộc thảo luận nhóm có trọng tâm (FGD) về vấn đề sức khỏetâm thần học sinh

Số lượng người/cuộc thảo luận

Số lượng cuộc thảo luận

2

- Nhóm 2: Các học sinh có hạnhkiểm khá, học lực trung bình trởxuống

- Nội dung thảo luận nhóm: (phụ lục 7, 8)

Phương pháp thảo luận nhóm có trọng tâm được sử dụng nhằm thu thậpnhững kết quả nghiên cứu định tính về sức khỏe tâm thần ở học sinh THCS,đặc biệt những thông tin này được đưa ra không chỉ là ý kiến của một cá nhân

mà là của chính bản thân các nhóm học sinh, nhóm phụ huynh, nhóm thầy côgiáo chủ nhiệm luôn quan tâm trực tiếp đến các em, sát sao với các em, nhóm

Trang 39

các cán bộ y tế và lãnh đạo nhà trường giúp dễ dàng hơn trong việc phân tích

và khái quát vấn đề nghiên cứu

Phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn sâu cán bộ y tế, lãnh đạo trường

học, cán bộ trung tâm tâm y tế và cán bộ phòng giáo dục quản lý chương trình

y tế trường họcnhằm thu thập những dữ liệu định tính bổ sung cho những dữliệu định lượng thu được bằng các công cụ nghiên cứu

- Tiến hành 04 cuộc phỏng vấn sâu cho 04 đối tượng học sinh, phụhuynh, cán bộ y tế và lãnh đạo trường học

- Nội dung phỏng vấn sâu: Phụ lục 5,6

2.3.2.2 Chọn mẫu

Cách chọn trường:

Chọn chủ đích 3 trường đại diện cho 03 khu vực ( trung tâm, gần trungtâm, xa trung tâm) của thành phố Thái Nguyên sau khi thảo luận với lãnh đạocác trường THCS và phòng GD-ĐT thành phố Thái Nguyên để phù hợp vớithực tế Cụ thể:

- Trường THCS Quang trung đại diện cho khu vực trung tâm thànhphố

- Trường THCS Lương Ngọc Quyến đại diện cho khu vực gần trungtâm thành phố

- Trường THCS Tân Cương đại diện cho khu vực xa trung tâm thànhphố

Cách chọn mẫu đối tượng học sinh: Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên

phân tầng: Mỗi trường gồm 4 khối được coi là 4 tầng: khối 6, khối 7, khối 8

và khối 9 Sau đó liệt kê các lớp thuộc từng khối, rồi chọn ngẫu nhiên mỗikhối 2 lớp để tham gia vào nghiên cứu

Cách chọn mẫu đối tượng giáo viên: Chọn tất cả giáo viên chủ nhiệm

các lớp được lựa chọn vào nghiên cứu

Trang 40

2.3.3 Các chỉ số nghiên cứu

2.3.3.1 Thực trạng sức khỏe tâm thần của học sinh

- Thông tin chung của học sinh:

+ Giới : Nam, nữ+ Dân tộc : Kinh, DTTS+ Học lực : Yếu, trung bình, khá giỏi+ Hạnh kiểm: Yếu, trung bình, khá giỏi+ Khối lớp : 6,7,8,9

- Thực trạng sức khỏe tâm thần chung của học sinh:

o Tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT ở mức bình thường/ranh giới/nghi ngờ và có vấn đề SKTT

o Tình trạng SKTT chung của học sinh theo các trường

- Tỷ lệ các vấn đề SKTT của học sinh theo thang SDQ:

o Tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT về quan hệ xã hội

o Tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT về quan hệ đồng đẳng

o Tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT về sự hiếu động

o Tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT về hành vi

o Tỷ lệ học sinh có vấn đề SKTT về cảm xúc

- Nhu cầu chăm sóc SKTT của học sinh tự đánh giá:

o Tỷ lệ nhu cầu chăm sóc SKTT chung của học sinh

o Tỷ lệ học sinh có nhu cầu chăm sóc về đạo đức

o Tỷ lệ học sinh có nhu cầu chăm sóc về hiếu động

o Tỷ lệ học sinh có nhu cầu chăm sóc về cảm xúc

o Tỷ lệ học sinh có nhu cầu chăm sóc về bình đẳng

o Tỷ lệ học sinh có nhu cầu chăm sóc về hành vi có lợi cho xãhội

Ngày đăng: 03/07/2020, 21:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w