KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG HỢP TÁC CHO TRẺ 5 6 TUỔI 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Kĩ năng hợp tác là một trong những kĩ năng sống quan trọng. Kĩ năng hợp tác giúp cho con người có thể giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề xảy ra trong cuộc sống. Kĩ năng này cần được rèn luyện ngay từ tuổi Mầm non. Chính vì thế, việc hình thành kĩ năng hợp tác của con người đã được rất nhiều nhà Tâm lí Giáo dục nghiên cứu và quan tâm. Trải qua quá trình phát triển của lịch sử giáo dục trên thế giới cũng như ở trong nước đã xuất hiện nhiều tư tưởng nghiên cứu về vấn đề này. 1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Kĩ năng hợp tác không phải là một vấn đề mới, mà là một vấn đề đã có từ rất lâu trong lịch sử nhân loại. Trên thế giới đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tâm lí, nhà nghiên cứu giáo dục đã lựa chọn đề tài rèn luyện kĩ năng hợp tác để nghiên cứu và đã rút ra được những kết luận có ý nghĩa lí luận cũng như thực tiễn. Ngay từ đầu thế kỉ thứ nhất, nhà nghiên cứu giáo dục Marco Fabio Quintilian cho rằng người học sẽ rất có lợi nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu. Đến cuối thế kỷ thứ XVII đầu thế kỉ XVIII, hai nhà nghiên cứu giáo dục người Anh có tên: Reverend Bebel và Joseph Lancaster đã thực hiện việc dạy học dựa vào khả năng hợp tác, sau công trình nghiên cứu đó hai nhà khoa học đã khám phá được vấn đề, rút ra được những cơ sở lí luận khả quan về kĩ năng hợp tác. Ý tưởng hợp tác của hai nhà nghiên cứu người Anh bắt đầu được nhanh chóng nhân rộng ở châu Âu. Tại Mỹ, các nhà khoa học giáo dục như John Dewey, Roger Parker, Morton Peutch,…đã thực hiện những nghiên cứu cũng như phát triển rộng rãi mô hình và nhận được kết quả kết quả rất tốt, họ đề cao khía cạnh xã hội của việc hợp tác với nhau. Vào thế kỉ XVIII khi vấn nạn phân biệt chủng tộc đang trong thời điểm cao trào, thì ở Mỹ, tại thành phố New York, đã bắt tay vào xây dựng trường Lancaster vận dụng tư tưởng hợp tác nhằm xóa bỏ tư tưởng phân biệt chủng tộc cho sinh viên. Mô hình trường học đã đạt được hiệu quả cao, chính vì vậy mà mô hình trường học này đã được nhân rộng ra nhiều nơi. Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, John Dewey một nhà giáo dục Mĩ cùng các cộng sự đã đề ra và thực thi tư tưởng dân chủ, đề cao khía cạnh xã hội của việc học và vai trò của nhà giáo dục trong việc giáo dục học sinh một cuộc sống dân chủ. Ông cho rằng: nếu con người muốn học cách để sống, hợp tác họ phải trải nghiệm quá trình sống hợp tác trong nhà trường. Cuộc sống trong lớp học cần thể hiện quá trình dân chủ hóa trong một thế giới vi mô và trung tâm của cuộc sống dân chủ ở đây chính là sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm. Cuộc sống trong lớp không phải là một bước chuẩn bị cho cuộc sống trong xã hội mà nó chính là bản thân cuộc sống của học sinh, do vậy ngay tại đây, các em cần được dạy và trải nghiệm sự biết cảm thông với người khác, tôn trọng quyền của người khác và biết làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề theo lẽ phải. Xuất phát từ ý tưởng đó ông đã xây dựng “nhà trường tích cực ”, trong đó ông đã phát triển học hợp tác của học sinh tạo nên một môi trường làm việc chung để học sinh có cơ hội trao đổi kinh nghiệm thực hành, phát triển lí luận và phát triển khả năng trừu tượng hóa. Đầu những năm 40 của thế kỉ XX, nhà giáo dục học Morton Deutsch dựa trên thuyết của Kurt Lewin đã đề ra lí thuyết về các tình huống hợp tác và tranh đua. Lí thuyết này về sau được coi là nền tảng quan trọng đưa đến hàng loạt những nghiên cứu và các cuộc tranh luận sau này 9. Tiến vào thời kì mới của thế kỉ XXI vấn đề rèn luyện kĩ năng hợp tác đã được các nhà giáo dục nghiên cứu. Các nghiên cứu đó, tuy cách thực hiện khác nhau nhưng đều lấy quan hệ hợp tác nhóm giữa học sinh với học sinh làm trung tâm giúp các em mở rộng và phát triển kĩ năng hợp tác để thực hiện công việc đạt hiệu quả cao. Năm 1961, Muzafer Sherif đã tiến hành những nghiên cứu nổi tiếng của ông tại ba trại hè, trong đó ông đã thiết kế sự tranh đua liên nhóm hết sức sôi nổi và nghiên cứu sự nỗ lực của các thành viên mỗi nhóm. Qua hình thức trại hè các em học sinh có nhiều cơ hội để cùng hợp tác, giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm cho nhau trong học tập cũng như trong sinh hoạt. Khởi đầu các công trình nghiên cứu của mình về học hợp tác, từ năm 19751991 hai tác giả D. Johnson và R. Johnson đã cho xuất bản cuốn “Học cùng nhau và học độc lập”. Các tác giả đã chỉ ra và phân tích những yếu tố cơ bản của học hợp tác bao gồm: sự phụ thuộc tích cực, sự tương tác đối mặt, sự có trách nhiệm cá nhân, sự lĩnh hội và sử dụng các kĩ năng nhóm nhỏ và liên cá nhân, sự nhận xét nhóm. Các tác giả cũng phân tích được vai trò và mối quan hệ trong ba mô hình học tập: hợp tác, tranh đua và cá nhân 4. Họ cho rằng: Sự hợp tác của trẻ chỉ được hình thành bằng cách tổ chức nhóm. Sự hợp tác phụ thuộc vào sự tích cực tham gia của các thành viên trong nhóm. Mỗi người chỉ có thể thành công khi mọi người trong nhóm cùng thành công. Những nghiên cứu về phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ Mầm non: Vào những năm 30 của thế kỉ XX, trường phái tâm lí học Xô Viết, đi đầu là các nhà tâm lí học như: L.X. Vưgotxky, D.B. Enconhin, A.N. Leonchep,… các nhà tâm lí học này đã đưa ra một cách nhìn mới về bản chất xã hội về trò chơi trẻ em và bắt đầu đề cập đến tính hợp tác trong trò chơi. L.X. Vưgotxky cho rằng: Mâu thuẫn và sự giải quyết mâu thuẫn là những đặc điểm quan trọng của phát triển. Xuất phát từ quan điểm này ông đã nhấn mạnh sự cần thiết của sự thỏa thuận và hợp tác với bạn bè trong trò chơi. Ông cho rằng chính sự hợp tác này đã “đẩy” sự hiểu biết và nhận biết của trẻ vượt ra ngoài phạm vi chức năng phát triển bình thường 21. Trong quyển “Tâm lí học trẻ em” của tác giả Anna Lyulin Skaja, bà khẳng định trong dạng thức phát triển của nó, chơi là hoạt động tập thể, những trẻ tham gia trò chơi gắn bó với nhau trong quan hệ hợp tác 1. Như vậy, vấn đề nghiên cứu về việc phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ là vấn đề cần thiết trong mọi giai đoạn lịch sử phát triển của sự nghiệp nhà giáo. 1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam Trên cơ sở nghiên cứu phân tích lí luận và thực tiễn Việt Nam, một số nhà Tâm lí Giáo dục đã đề cập đến sự hợp tác của trẻ em qua trò chơi đóng vai theo chủ đề. PGS. TS. Nguyễn Ánh Tuyết đứng trên phương diện là một nhà giáo dục, một nhà tâm lí, tác giả đã nghiên cứu về trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với sự phát triển của trẻ Mầm non. Qua cuốn “Giáo dục Mầm non và những vấn đề lí luận và thực tiễn”, tác giả đưa ra nhận định của mình về hoạt động vui chơi, trò chơi đóng vai theo chủ đề, những đặc điểm, vai trò, tầm quan trọng của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với sự phát triển chung của trẻ, đây là một hoạt động tác động mạnh mẽ đối với trẻ Mầm non. Trong quyển “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi Mầm non”
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA SƯ PHẠM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG HỢP TÁC
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
Sinh viên : Hoàng Thị Yên
Chuyên ngành : Giáo dục Mầm non
Khóa học : 2015 - 2019
Trang 2Đắk Lắk, năm 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA SƯ PHẠM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG HỢP TÁC
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
Sinh viên : Hoàng Thị Yên
Chuyên ngành : Giáo dục Mầm non
Người hướng dẫn:
ThS Nguyễn Thị Ánh Mai
Trang 3Đắk Lắk, năm 2019
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin cảm ơn ban giám hiệu, lãnh đạo khoa Sư phạm, các thầy côthuộc bộ môn Giáo dục Mầm non, các thầy cô giáo trong bộ môn Tâm lí -Giáo dục trường Đại học Tây Nguyên đã tạo điều kiện cho em trong quá trìnhhọc tập và nguyên cứu
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo - ThS Nguyễn ThịÁnh Mai - giảng viên bộ môn Tâm lí - Giáo dục vì trong suốt quá trình nghiêncứu, cô đã hướng dẫn em rất tận tình, đã dành nhiều thời thời gian góp ý cho
em để hoàn thành khóa luận này
Do thời gian có hạn, kiến thức và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế, nêntrong quá trình nghiên cứu, điều tra không thể tránh khỏi những thiếu sót Vìvậy em kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô để đềtài được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đắk Lắk, tháng 05 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Yên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT, KÍ HIỆU iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 3
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 3
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 5
1.2 Một số khái niệm 7
1.2.1 Kĩ năng hợp tác 7
1.2.2 Phát triển kĩ năng hợp tác 13
1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non 14
1.3.1 Đặc điểm tâm lí 14
1.3.2 Đặc điểm sinh lí 16
1.4 Vai trò của giáo viên trong việc phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non 17
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Phạm vi nghiên cứu 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 19
2.4.2 Phương pháp phỏng vấn 19
2.4.3 Phương pháp quan sát 20
2.4.4 Phương pháp điều tra 20
2.4.5 Phương pháp thống kê toán học 21
Trang 6Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 22
3.1.1 Đặc điểm trường Mầm non Hoa Pơ Lang, tỉnh Đắk Lắk 22
3.1.2 Đặc điểm khối lá 25
3.2 Thực trạng phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non 26
3.2.1 Nhận thức của giáo viên về vai trò của việc phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi 26
3.2.2 Thái độ của giáo viên trong việc phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi 27
3.2.3 Hình thức tổ chức hoạt động nhằm phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 -6 tuổi 29
3.2.4 Thực trạng biện pháp giáo viên sử dụng nhằm giúp trẻ 5 - 6 tuổi phát triển kĩ năng hợp tác 31
3.2.5 Biểu hiện kĩ năng hợp tác của trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Hoa Pơ Lang 34
3.2.6 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi 35
3.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm giúp giáo viên phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi 40
3.3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 40
3.3.2 Các biện pháp cụ thể 43
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
1 Kết luận 66
2 Đề nghị 67
TÀI LIỆU LIỆU THAM KHẢO 69 PHỤ LỤC
Trang 7GD – ĐT Giáo dục và Đào tạo
TCĐVTCĐ Trò chơi đóng vai theo chủ đềUBND Ủy ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Nhận thức của GV trong việc phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi 26Bảng 3.2: Thái độ của giáo viên về rèn luyện kĩ năng hợp tác cho học sinh 28Bảng 3.3: Sự quan tâm của nhà trường đến việc phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi 28Bảng 3.4: Những hình thức giáo viên tổ chức hoạt động để phát triển KNHT cho trẻ 29Bảng 3.5: Bảng đánh giá thái độ của giáo viên trong việc thường xuyên chotrẻ cùng nhau hợp tác 30Bảng 3.6: Các biện pháp giáo viên sử dụng để phát triển kĩ năng hợp tác chotrẻ 5 - 6 tuổi 31Bảng 3.7: Hiệu quả của việc sử dụng các biện pháp nhằm phát triển KNHTcho trẻ 5 - 6 tuổi 33Bảng 3.8: Đánh giá của GV về biểu hiện kĩ năng hợp tác của trẻ 5-6 tuổi 34Bảng 3.9: Những khó khăn GV gặp phải trong khi phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi 35Bảng 3.10: Nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng đến sự phát triển KNHT củatrẻ 5 - 6 tuổi 37Bảng 3.11: Nguyên nhân khách quan ảnh hưởng đến việc phát triển KNHTcho trẻ 5 - 6 tuổi 39
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục Mầm non là môi trường giúp trẻ phát triển đầy đủ về thể chất,nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mĩ Những kĩ năng mà trẻ tiếp thu đượcthông qua chương trình chăm sóc giáo dục Mầm non sẽ là nền tảng cho việc họctập và thành công của trẻ sau này Giáo dục Mầm non sẽ chuẩn bị cho trẻ những
kĩ năng như kĩ năng tự lập, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng bảo vệ, kĩ năng hợp tác vàrất nhiều những kĩ năng khác để trẻ sẵn sàng bước vào giai đoạn giáo dục phổthông
Mục tiêu giáo dục Mầm non trong chương trình đổi mới hiện nay là giúptrẻ phát triển toàn diện về mọi mặt: thể chất, trí tuệ, ngôn ngữ, thẩm mĩ, tình cảm
và kĩ năng xã hội Chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 và hướng đến hình thành ở trẻnhững giá trị, kĩ năng sống cần thiết Đó là những kĩ năng cơ bản cần thiết chobản thân, gia đình và cộng đồng như: kĩ năng lắng nghe, kĩ năng chia sẻ, kĩ năngbiết chấp nhận người khác, kĩ năng hợp tác Vì vậy, việc hình thành kĩ nănghợp tác cho trẻ là một trong những nhiệm vụ mà giáo dục Mầm non đã và đanghướng đến
Lịch sử nhân loại cho thấy, hợp tác đã xuất hiện từ rất lâu và đóng vai tròrất quan trọng trong cuộc sống, giúp xã hội loài người tồn tại và phát triển Thực
tế đã cho ta thấy rằng dù trải qua bất cứ giai đoạn lịch sử nào thì đều cần phải có
sự hợp tác Cụ thể trong thời kì đồ đá, thời kì của cuộc sống bầy đàn, để tồn tạitrong thời kì này chắc chắn không thể thiếu kĩ năng hợp tác, bởi để chinh phục tựnhiên và chống lại kẻ thù thì mỗi cá nhân phải tập trung lại thành bầy đàn cùngphối hợp nỗ lực bảo vệ nhau để cùng tồn tại
Kĩ năng hợp tác rất cần thiết với mỗi cá nhân và cộng đồng Cự tuyệt hoặcthiếu khả năng hợp tác đồng nghĩa với trì trệ và kém phát triển Cuộc sống mớiđòi hỏi phải nhận thức lại vai trò của kĩ năng hợp tác như là giải pháp chủ yếu đểnhân loại chung sống và phát triển Chính vì vậy kĩ năng hợp tác cần được rènluyện và trau dồi cho mỗi cá nhân và cho cả cộng đồng Việc phát triển kĩ nănghợp tác là hành trang cần thiết cho mỗi người nhằm đáp ứng được nhu cầu tất
Trang 10yếu của xã hội hiện đại, bởi mỗi một lĩnh vực nào cũng cần có sự hợp tác, giúp
đỡ, hỗ trợ lẫn nhau thì mới đạt kết quả tốt
Lí luận về sự phát triển trẻ em cũng cho thấy sự lớn lên của trẻ em gắn liền
sự hợp tác với người khác: từ những phản xạ mang tính định hướng ở nhữngtháng ngày đầu đời cho đến sự gia nhập thực sự vào “xã hội trẻ em”, “xã hộingười lớn”,… Mẫu giáo là độ tuổi thực sự cần đến kĩ năng hợp tác khi đây cũng
là giai đoạn trẻ bắt đầu tham gia vào các nhóm lớp do chính cuộc sống của trẻtạo ra
Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn, định hướng và điều khiển quá trìnhhọc tập, phát triển nhân cách toàn diện ở trẻ nói chung và phát triển kĩ năng hợptác cho trẻ nói riêng Với trẻ em Mầm non giáo viên là người giáo dục trẻ, hướngtrẻ đến với những kiến thức mới, là người xây dựng nền tảng cơ bản đầu tiên củatrẻ Trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm, những kiến thức mới nhờ vào việc giáo dụccủa nhà trường, mà giáo viên là người thực hiện và hướng dẫn trẻ
Chính vì tầm quan trọng của giáo viên trong việc phát triển kĩ năng hợp tác
nên chúng tôi chọn đề tài “Vai trò của giáo viên trong việc phát triển kĩ năng hợp
tác cho trẻ 5 - 6 tuổi” để nghiên cứu.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vai trò của giáo viên trong việc phát triển kĩ năng hợp táccho trẻ 5 - 6 tuổi
Trang 11Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Kĩ năng hợp tác là một trong những kĩ năng sống quan trọng Kĩ năng hợp tácgiúp cho con người có thể giải quyết một cách hiệu quả những vấn đề xảy ra trongcuộc sống Kĩ năng này cần được rèn luyện ngay từ tuổi Mầm non Chính vì thế,việc hình thành kĩ năng hợp tác của con người đã được rất nhiều nhà Tâm lí - Giáodục nghiên cứu và quan tâm Trải qua quá trình phát triển của lịch sử giáo dục trênthế giới cũng như ở trong nước đã xuất hiện nhiều tư tưởng nghiên cứu về vấn đềnày
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Kĩ năng hợp tác không phải là một vấn đề mới, mà là một vấn đề đã có từrất lâu trong lịch sử nhân loại Trên thế giới đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tâm
lí, nhà nghiên cứu giáo dục đã lựa chọn đề tài rèn luyện kĩ năng hợp tác đểnghiên cứu và đã rút ra được những kết luận có ý nghĩa lí luận cũng như thựctiễn
Ngay từ đầu thế kỉ thứ nhất, nhà nghiên cứu giáo dục Marco Fabio Quintiliancho rằng người học sẽ rất có lợi nếu biết nói những điều mình hiểu cho người kháccùng hiểu Đến cuối thế kỷ thứ XVII đầu thế kỉ XVIII, hai nhà nghiên cứu giáo dụcngười Anh có tên: Reverend Bebel và Joseph Lancaster đã thực hiện việc dạy họcdựa vào khả năng hợp tác, sau công trình nghiên cứu đó hai nhà khoa học đã khámphá được vấn đề, rút ra được những cơ sở lí luận khả quan về kĩ năng hợp tác
Ý tưởng hợp tác của hai nhà nghiên cứu người Anh bắt đầu được nhanhchóng nhân rộng ở châu Âu Tại Mỹ, các nhà khoa học giáo dục như JohnDewey, Roger Parker, Morton Peutch,…đã thực hiện những nghiên cứu cũngnhư phát triển rộng rãi mô hình và nhận được kết quả kết quả rất tốt, họ đề caokhía cạnh xã hội của việc hợp tác với nhau
Vào thế kỉ XVIII khi vấn nạn phân biệt chủng tộc đang trong thời điểm caotrào, thì ở Mỹ, tại thành phố New York, đã bắt tay vào xây dựng trườngLancaster vận dụng tư tưởng hợp tác nhằm xóa bỏ tư tưởng phân biệt chủng tộccho sinh viên Mô hình trường học đã đạt được hiệu quả cao, chính vì vậy mà
mô hình trường học này đã được nhân rộng ra nhiều nơi
Trang 12Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, John Dewey - một nhà giáo dục Mĩ cùngcác cộng sự đã đề ra và thực thi tư tưởng dân chủ, đề cao khía cạnh xã hội của việchọc và vai trò của nhà giáo dục trong việc giáo dục học sinh một cuộc sống dân chủ.Ông cho rằng: nếu con người muốn học cách để sống, hợp tác họ phải trải nghiệmquá trình sống hợp tác trong nhà trường Cuộc sống trong lớp học cần thể hiện quátrình dân chủ hóa trong một thế giới vi mô và trung tâm của cuộc sống dân chủ ởđây chính là sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm Cuộc sống trong lớp khôngphải là một bước chuẩn bị cho cuộc sống trong xã hội mà nó chính là bản thân cuộcsống của học sinh, do vậy ngay tại đây, các em cần được dạy và trải nghiệm sự biếtcảm thông với người khác, tôn trọng quyền của người khác và biết làm việc cùngnhau để giải quyết vấn đề theo lẽ phải Xuất phát từ ý tưởng đó ông đã xây dựng
“nhà trường tích cực ”, trong đó ông đã phát triển học hợp tác của học sinh tạo nênmột môi trường làm việc chung để học sinh có cơ hội trao đổi kinh nghiệm thựchành, phát triển lí luận và phát triển khả năng trừu tượng hóa
Đầu những năm 40 của thế kỉ XX, nhà giáo dục học Morton Deutsch dựatrên thuyết của Kurt Lewin đã đề ra lí thuyết về các tình huống hợp tác và tranhđua Lí thuyết này về sau được coi là nền tảng quan trọng đưa đến hàng loạtnhững nghiên cứu và các cuộc tranh luận sau này [9]
Tiến vào thời kì mới của thế kỉ XXI vấn đề rèn luyện kĩ năng hợp tác đãđược các nhà giáo dục nghiên cứu Các nghiên cứu đó, tuy cách thực hiệnkhác nhau nhưng đều lấy quan hệ hợp tác nhóm giữa học sinh với học sinhlàm trung tâm giúp các em mở rộng và phát triển kĩ năng hợp tác để thựchiện công việc đạt hiệu quả cao
Năm 1961, Muzafer Sherif đã tiến hành những nghiên cứu nổi tiếng củaông tại ba trại hè, trong đó ông đã thiết kế sự tranh đua liên nhóm hết sức sôinổi và nghiên cứu sự nỗ lực của các thành viên mỗi nhóm Qua hình thức trại
hè các em học sinh có nhiều cơ hội để cùng hợp tác, giúp đỡ, chia sẻ kinhnghiệm cho nhau trong học tập cũng như trong sinh hoạt
Khởi đầu các công trình nghiên cứu của mình về học hợp tác, từ năm1975-1991 hai tác giả D Johnson và R Johnson đã cho xuất bản cuốn “Họccùng nhau và học độc lập” Các tác giả đã chỉ ra và phân tích những yếu tố cơ
Trang 13bản của học hợp tác bao gồm: sự phụ thuộc tích cực, sự tương tác đối mặt, sự
có trách nhiệm cá nhân, sự lĩnh hội và sử dụng các kĩ năng nhóm nhỏ và liên cánhân, sự nhận xét nhóm Các tác giả cũng phân tích được vai trò và mối quan
hệ trong ba mô hình học tập: hợp tác, tranh đua và cá nhân [4] Họ cho rằng: Sựhợp tác của trẻ chỉ được hình thành bằng cách tổ chức nhóm Sự hợp tác phụthuộc vào sự tích cực tham gia của các thành viên trong nhóm Mỗi người chỉ
có thể thành công khi mọi người trong nhóm cùng thành công
Những nghiên cứu về phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ Mầm non:
Vào những năm 30 của thế kỉ XX, trường phái tâm lí học Xô Viết, đi đầu làcác nhà tâm lí học như: L.X Vưgotxky, D.B Enconhin, A.N Leonchep,… cácnhà tâm lí học này đã đưa ra một cách nhìn mới về bản chất xã hội về trò chơi trẻ
em và bắt đầu đề cập đến tính hợp tác trong trò chơi
L.X Vưgotxky cho rằng: Mâu thuẫn và sự giải quyết mâu thuẫn là nhữngđặc điểm quan trọng của phát triển Xuất phát từ quan điểm này ông đã nhấnmạnh sự cần thiết của sự thỏa thuận và hợp tác với bạn bè trong trò chơi Ôngcho rằng chính sự hợp tác này đã “đẩy” sự hiểu biết và nhận biết của trẻ vượt rangoài phạm vi chức năng phát triển bình thường [21]
Trong quyển “Tâm lí học trẻ em” của tác giả Anna Lyulin Skaja, bà khẳngđịnh trong dạng thức phát triển của nó, chơi là hoạt động tập thể, những trẻ thamgia trò chơi gắn bó với nhau trong quan hệ hợp tác [1]
Như vậy, vấn đề nghiên cứu về việc phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ làvấn đề cần thiết trong mọi giai đoạn lịch sử phát triển của sự nghiệp nhà giáo
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu phân tích lí luận và thực tiễn Việt Nam, một sốnhà Tâm lí - Giáo dục đã đề cập đến sự hợp tác của trẻ em qua trò chơi đóngvai theo chủ đề
PGS TS Nguyễn Ánh Tuyết đứng trên phương diện là một nhà giáo dục,một nhà tâm lí, tác giả đã nghiên cứu về trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với sựphát triển của trẻ Mầm non Qua cuốn “Giáo dục Mầm non và những vấn đề líluận và thực tiễn”, tác giả đưa ra nhận định của mình về hoạt động vui chơi, tròchơi đóng vai theo chủ đề, những đặc điểm, vai trò, tầm quan trọng của trò chơi
Trang 14đóng vai theo chủ đề đối với sự phát triển chung của trẻ, đây là một hoạt độngtác động mạnh mẽ đối với trẻ Mầm non Trong quyển “Tâm lí học trẻ em lứatuổi Mầm non”, “Tâm lí học trẻ em - tập 2” cũng đã đề cập đến việc hình thành
kĩ năng hợp tác qua trò chơi đóng vai theo chủ đề Tác giả nhấn mạnh đối với tròchơi đóng vai, trẻ không thể chơi một mình mà phải chơi theo nhóm với nhau,tức là chơi với bạn Chính đặc điểm này thúc đẩy, phát triển sự hợp tác của trẻ
[16]
Giáo dục học Mầm non (tập 1) do Đào Thanh Âm (chủ biên) đã nêu: Mỗi đứatrẻ là một cá thể và được lớn lên trong mối quan hệ xã hội Vì thế quá trình giáo dụctrẻ em ở nhà trẻ - mẫu giáo cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa cá nhân vànhóm, giữa giáo dục chung với giáo dục riêng từng trẻ trong nhóm bạn bè
Tác giả Liêm Trinh với tác phẩm “Rèn luyện nhân cách cho trẻ” chorằng: cần rèn luyện tính hợp tác của trẻ qua việc bày tỏ sự quan tâm, chia sẻvới người khác những gì mình có và tôn trọng ý kiến của người khác, hoànthành tốt nhiệm vụ được giao [20]
Trong quyển “Trò chơi phân vai theo chủ đề và việc hình thành nhân cáchcho trẻ mẫu giáo” của Lê Minh Thuận đã đề cập đến tính hợp tác với bạn bè củatrẻ mẫu giáo qua các trò chơi đóng vai theo chủ đề, tác giả đã xây dựng cáchhướng dẫn trò chơi phân vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo theo các giai đoạn, lứatuổi với mục đích phát triển nhân cách trẻ [13]
Tác giả Phạm Thị Thu Hương với đề tài “Một số biện pháp hình thành tínhhợp tác qua trò chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi” đã đưa ramột số biện pháp nhằm hình thành tính hợp tác cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi trongtrò chơi đóng vai theo chủ đề như: tạo tình huống trong quá trình chơi của trẻ,
mở rộng mối quan hệ qua lại giữa các vai chơi [5]
Tác giả Hồ Thị Ngọc Trân cho rằng: sư hợp tác của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổibắt đầu được hình thành thông qua hoạt động vui chơi Tác giả khẳng định: nhờ
sự hợp tác trong hoạt động vui chơi mà dần dần trẻ thiết lập mối quan hệ đúngđắn trong xã hội [19]
Tác giả Vũ Thị Nhâm chỉ ra một số biện pháp phát triển kĩ năng hợp tác
Trang 15cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi: khuyến khích trẻ chia sẻ kinh nghiệm, ý tưởng chơicùng nhau, tạo không gian chơi và bố trí nguyên vật liệu thiên nhiên, nguyên vậtliệu phế thải trong các góc chơi để kích thích trẻ tích cực hợp tác với nhau [10] Trong “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi” thì tích cực hợp tác là một trongnhững nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực tình cảm - quan hệ xã hội cần rèn chotrẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi để chuẩn bị vào lớp 1 “Bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi”cũng đưa ra các chỉ số thể hiện sự hợp tác với bạn bè và mọi người xung quanhnhư: lắng nghe ý kiến của người khác, trao đổi ý kiến với người khác, thể hiện
sự thân thiện, đoàn kết với bạn bè, chấp nhận sự phân công của nhóm bạn vàngười lớn, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đơn giản cùng người khác [2]
Vì vậy tìm hiểu về vai trò của giáo viên trong việc phát triển kĩ năng hợptác cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi có vai trò hết sức quan trọng trong công tác chămsóc - giáo dục trẻ Mầm non
- Tác giả V.A Kruchetxki cho rằng: “Kĩ năng là thực hiện một hành động haymột hoạt động nào đó nhờ sử dụng những kĩ thuật, những phương thức đúng đắn” [6]
- Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm rằng kĩ năng là mặt kĩ thuật của hànhđộng, con người nắm được cách hành động tức là có kĩ thuật hành động, có kĩ năng[14]
- Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên): “Kĩ năng là khả năngvận dụng những kiến thức thu nhận vào thực tế” [11]
- Theo Từ điển Giáo dục: “Kĩ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạtđộng phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể hay một hành động trí tuệ”
- Theo tác giả Vũ Dũng thì: “Kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri
Trang 16thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện nhữngnhiệm vụ tương ứng” [3].
- Tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm “Kĩ năng là khả năng thực hiện có kếtquả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã
có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kĩ năng không chỉ đơnthuần về mặt kĩ thuật của hành động mà còn là biểu hiện năng lực của conngười” [12]
- Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Kĩ năng là sự ứng dụng kiến thức tronghoạt động” [15] Mỗi kĩ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thựchành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt
ra cho hoạt động Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kĩ năng luôn luôn đượckiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kì một kĩ năng nào đều nhằmvào một mục đích nhất định
- Theo L Đ.Lêvitôv nhà tâm lí học Liên Xô cho rằng: “Kĩ năng là sự thựchiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cáchlựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiệnnhất định” Theo ông, người có kĩ năng hành động là người phải nắm được vàvận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kếtquả Ông còn nói thêm, con người có kĩ năng không chỉ nắm lí thuyết về hànhđộng mà phải vận dụng vào thực tế [7]
Từ những khái niệm kĩ năng vừa nêu trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm
kĩ năng: “Kĩ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục mộthay một chuỗi hành động, trên cơ sở vận dụng những tri thức sẵn có, nhằm tạo rakết quả mong đợi”
Trang 17- C Mác định nghĩa: “Hình thức LĐ của nhiều người làm việc bên nhau và
với nhau trong cùng một quá trình sản xuất hay trong các quá trình sản xuất khácnhau, nhưng liền với nhau theo kế hoạch gọi là hợp tác”
- Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, việc tiếp thu khái niệm “Hợp tác”của kinh tế học đã dẫn đến “Tương tác xã hội” trong Tâm lí học Nghĩa là: sự tácđộng qua lại ít nhất là của hai cá nhân trong một hoạt động bất kì nào đó thuộc mộthoạt động trong cuộc sống diễn ra theo một hệ quy chiếu không gian, thời gianchung
Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu rằng rèn luyện kĩ năng hợptác là việc phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau cùng thực hiện một công việc, tất cả đều vìmục đích chung nhằm tối đa tạo ra kết quả tốt cho tất cả mọi người
Khái niệm này đã cho thấy:
- Hợp tác bao giờ cũng có mục đích chung trên cơ sở lợi ích chung, mọingười cùng có lợi
- Công việc được phân công phù hợp với năng lực của từng người
- Bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau, chia sẻ nguồn lực và thông tin, tựnguyện hoạt động
- Các thành viên trong nhóm phụ thuộc lẫn nhau, trên cơ sở trách nhiệm cánhân cao
- Cùng chung sức, giúp đỡ hỗ trợ, khích lệ tinh thần tập thể và bổ sung chonhau
Trong kĩ năng hợp tác phải chứa đựng các yếu tố đảm bảo sự hợp tác cóhiệu quả sau đây:
Quan hệ phụ thuộc tích cực: Kết quả hoạt động của cả nhóm chỉ có được
khi có sự phối hợp làm việc, chia sẻ của tất cả các thành viên trong nhóm
Trách nhiệm cá nhân: Mỗi cá nhân đều được phân công trách nhiệm thực
hiện một phần của công việc và tích cực làm việc để đóng góp vào kết quảchung
Khuyến khích sự tương tác: Trong quá trình hợp tác cần có sự trao đổi,
chia sẻ giữa các thành viên trong nhóm để thống nhất ý kiến chung của nhóm
Rèn luyện các kĩ năng xã hội: Tất cả các thành viên đều có cơ hội để rèn kĩ
Trang 18năng như: lắng nghe tích cực, đặt câu hỏi, đưa thông tin phản hồi tích cực, thuyếtphục, ra quyết định…
Kĩ năng đánh giá: Cả nhóm thường xuyên rà soát công việc đang làm “Chúng
ta đang làm như thế nào?” và kết quả ra sao Có thể đưa ra ý kiến nhận định đúnghoặc sai, tốt hoặc chưa tốt để góp phần hoàn thiện các hoạt động và kết quả củanhóm
Có thể kể đến một số KNHT ở trẻ như sau:
- Kĩ năng lắng nghe
- Kĩ năng giúp đỡ, hỗ trợ người khác
- Kĩ năng giải quyết tình huống nảy sinh trong hoạt động
- Cùng nhau thu dọn đồ dùng học tập, vui chơi, lao động
- Trẻ thỏa thuận cùng nhau khi tham gia làm việc nhóm
- Trẻ cùng nhau đưa ra phương án để thực hiện nhiệm vụ trong học tập, vuichơi, lao động
1.2.1.3 Mục tiêu phát triển kĩ năng hợp tác
Hợp tác là một giá trị sống cần thiết cần được GD và hình thành cho trẻ từbậc Mầm non Năm 1995, theo các tổ chức GD về giá trị sống, thì có 12 giá trịsống có tính chất phổ quát trên toàn thế giới, trong đó có KNHT xếp vị trí thứ 7.Hợp tác đóng vai trò rất quan trọng và cần thiết trong cuộc sống Về mặt XH,hợp tác là một hành trang cần thiết đối với mỗi con người, bởi trong các mốiquan hệ từ gia đình, bạn bè, thầy cô đến các mối quan hệ trong cộng đồng đềucần có sự hợp tác
- Phát triển KNHT thực hiện được việc phát triển người học những kĩ nănglàm việc nhóm, cách thức làm, tinh thần, thái độ ứng xử trong học tập, hướngvào việc chuẩn bị cho trẻ sớm thích ứng với đời sống xã hội, hoà nhập, phát triểncộng đồng làm hành trang tương lai Hợp tác mang lại sự ấm áp, thân thiện, hỗtrợ lẫn nhau trong sự tương tác giữa giáo viên - trẻ; giữa trẻ - trẻ Từ đó giúp trẻhình thành được những kiến thức, kĩ năng, thái độ một cách dễ dàng và sâu sắchơn
- Mục tiêu của phát triển KNHT là một cải tiến mang tính đột phá, nó tiếpnối các định hướng truyền thống của đất nước ta trước đây, thể hiện tính toàn
Trang 19diện hơn, cân bằng hơn trong GD Đó là không chỉ thiên về phát triển tính họcthuật mà còn chú ý tới chất lượng cuộc sống của người học (nhu cầu về tinhthần, nhu cầu với môi trường hợp tác, thân thiện) và phát triển kĩ năng sốngtrong tương lai.
- Đối trẻ em nói chung và trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng thì việc hình thành vàphát triển KNHT có ý nghĩa rất lớn, giúp các em hình thành các phẩm chấtmới của con người Việt Nam, hiểu được ý nghĩa của việc hợp tác trong bốicảnh của sự hội nhập quốc tế
Nội dung của trò chơi cũng được phát triển Trong trò chơi của trẻ 5 - 6tuổi, cùng với những hành động, các mối quan hệ, những hành vi xã hội cũngđược phản ánh ví dụ: “bác sĩ” không chỉ khám bệnh (nghe, cặp, nhiệt độ ) màcòn quan tâm, trò chuyện, an ủi, động viện “bệnh nhân”, “mẹ” không chỉ cho
“con” ăn, tắm, mặc quần áo cho “con” mà còn dạy “con” học, đọc sách, kểchuyện cho “con” nghe, đưa “con” đến “bác sĩ” chăm sóc “con” ốm, đi về quêthăm “ông, bà”
Trang 20Sự phát triển chủ đề, nội dung chơi theo các nhà Tâm lí học, Giáo dục học,
có liên quan đến nguồn gốc kiến thức của trẻ, ở trẻ 5 - 6 tuổi đa số trò chơi đượcxác định bởi những ấn tượng nhận được từ sách chuyện kể của người lớn hoặcqua phim ảnh, truyền hình Trong trò chơi, trẻ 5 - 6 tuổi không chỉ phản ánhnhững sự kiện trẻ trực tiếp tham gia mà trẻ phản ánh lại cả những gì chúng quansát được khi tham quan, dạo chơi và trong sinh hoạt hàng ngày Sự mở rộng chủ
đề chơi và sâu sắc nội dung chơi dẫn đến sự thay đổi hình thức và cấu trúc củatrò chơi Trẻ 5 - 6 tuổi, bao giờ cũng xác định chủ đề chơi trước sau đó mới đếnvai chơi Trong cấu trúc của trò chơi ở trẻ 5 - 6 tuổi có thấy bước chuẩn bị - bướcthỏa thuận chơi Lúc đầu trẻ chỉ thỏa thuận về chủ đề chơi: “chúng mình sẽ chơitrò gì?”, thỉnh thoảng, trẻ phân chia vai chơi Dần dần, trong quá trình thỏathuận, trẻ bắt đầu bàn luận hướng phát triển nội dung chơi: “đầu tiên chúng mình
sẽ cho con ăn, đi dạo, sau đó sẽ về chuẩn bị đón khách” (trò chơi gia đình) Nhucầu thỏa thuận, trước khi chơi xuất hiện trong mối liên hệ với sự phát triển củatrò chơi Ở trẻ nhỏ, nhu cầu này chưa có Sự giàu có về ấn tượng, về kiến thứccủa trẻ 5 - 6 tuổi, sự đa dạng, phong phú những sự kiện được phản ánh trong tròchơi đòi hỏi cần phải có sự thỏa thuận trước Trẻ bắt đầu có kĩ năng lập kế hoạchchơi Trẻ 5 - 6 tuổi có khả năng xác định sẽ chơi trò chơi gì? Chơi như thế nào?
Và biết phân vai chơi, thỏa thuận với nhau về kế hoạch chơi trong các trò chơitập thể
Trẻ 5 - 6 tuổi đòi hỏi chất lượng thực hiện kế hoạch chơi, được thỏathuận: trẻ biết bàn luận về việc phân vai chơi xuất phát từ hứng thú của các trẻtham gia chơi cũng như xuất phát từ sự cần thiết trong nội dung chơi Biểuhiện của trẻ là trẻ thích chọn những vai chơi chính, thực hiện nhiều hànhđộng, nhưng trẻ cũng không thờ ơ với những vai phụ, cần thiết cho hoạt độngchung Trẻ có thể đóng những vai mà trẻ không thích nhưng cần thiết cho tròchơi Sự thỏa thuận chơi đòi hỏi phải biết cách tổ chức, hiểu biết về khả năng,
ý thích, nguyện vọng của nhau, nhường nhịn bạn Cho nên, theo nhiều nhàquan sát, những trẻ thường chơi với nhau bắt đầu biết thỏa thuận sớm hơn.Trong nhiều trường hợp, trẻ 5 - 6 tuổi, trong bước thỏa thuận còn chuẩn bịmôi trường chơi: lựa chọn đồ chơi, làm những cái còn thiếu, xây dựng công trình
Trang 21cần thiết (vườn thú, công viên, bến xe, tàu ) Tất cả những kĩ năng này đượchình thành dưới sự hướng dẫn của giáo viên Sự phát triển của trò chơi dẫn đến
sự thay đổi đòi hỏi đối với đồ chơi Đối với trẻ lứa tuổi này, đồ chơi có thể hoàntoàn khái quát và chỉ mang một số đặc điểm rõ nét xác định ý nghĩa của nó và cóthể hành động được Càng lớn, trẻ càng đòi hỏi sự phù hợp tương ứng của đồchơi với ý tưởng chơi Trẻ 5 - 6 tuổi thích chơi với những đồ chơi phức tạp, gầnvới vật thật hơn Trẻ đặc biệt thích sử dụng những đồ dùng của người lớn(quần, áo, giày dép, túi, làn, điện thoại ) trong trò chơi của mình So với trẻ 3 -
4 tuổi, trẻ 5 - 6 tuổi sử dụng vật thay thế linh hoạt hơn và có ý thức hơn Trẻchọn vật thay thế cũng xuất phát từ ý tưởng chơi Ví dụ: Khi chơi trò chơi “Xâydựng bệnh viện”, trẻ - “Kĩ sư trưởng” cần một điện thoại để liên lạc, trẻ lấy mẩu
gỗ làm điện thoại và hành động với vật thay thế đó phù hợp với ý của trò chơi.Theo L.X Vưgotxky nói “Hành vi con người - là sản phẩm của một hệ thốngcác mối liên hệ, quan hệ xã hội, các hình thức, hành vi có tính chất tập thể và hợptác xã hội”… các chức năng tâm lí cấp cao có nguồn gốc xã hội có tính lịch sử vàđược hình thành trong quá trình tương tác xã hội giữa các các cá nhân Khi thamgia vào hoạt động mang tập thể, thì ta dễ dàng thấy được những biểu hiện kĩ nănghợp tác, để có thể đánh giá được mức độ hợp tác của từng thành viên trong nhóm,
đó là:
- Kĩ năng - thái độ hứng thú tình nguyện vào nhóm bạn biểu hiện là trẻphấn khởi, cười, dễ dàng tham gia vào nhóm
- Kĩ năng phân công, hợp tác, chấp nhận phân công, thực hiện vai biểu hiện
là trẻ biết nhường nhịn, tuân thủ luật chơi; biết lắng nghe bạn với thái độ vui vẻ,không cáu gắt ; biết cùng bạn thống nhất cách chơi giữa các thành viên
- Kĩ năng thủ lĩnh, khởi xướng, lôi cuốn bạn vào trò chơi được biểu hiện
là trẻ biết khởi xướng tên trò chơi, nội dung chơi; trẻ biết chọn vai phù hợpvới mình; tin tưởng vào bạn làm thủ lĩnh của trò chơi; hợp tác với bạn chơi tròchơi trong thời gian lâu
- Kĩ năng giải quyết vấn đề biểu hiện trẻ biết cách giải quyết, mâu thuẫn,xung đột khi chơi, theo hướng tích cực
1.2.2 Phát triển kĩ năng hợp tác
Phát triển là một phạm trù của triết học, là quá trình vận động tiến lên từ
Trang 22thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơncủa một sự vật Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưatới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Sự phát triển là kết quả của quá trìnhthay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đườngxoắn ốc và hết mỗi chu kì sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức(cấp độ) cao hơn.Ví dụ, quá trình biến đổi của các giống loài từ bậc thấp lên bậccao; quá trình thay thế lẫn nhau của các hình thức thức tổ chức xã hội loài người:
từ hình thức tổ chức xã hội thị tộc, bộ lạc còn sơ khai thời nguyên thuỷ lên cáchình thức tổ chức xã hội cao hơn là hình thức tổ chức bộ tộc, dân tộc ; quá trìnhthay thế lẫn nhau của các thế hệ kĩ thuật theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn Phát triển kĩ năng hợp tác là nhằm phát triển và ngày càng hoàn thiện hơncác kĩ năng hợp tác đã vốn có ở trẻ Hình thành những kĩ năng hợp tác chưa từng
có ở trẻ trước đó Phát triển kĩ năng hợp tác cũng là quá trình chuyển hóa kĩ nănghợp tác của xã hội thành kĩ năng hợp tác của cá nhân
1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non
1.3.1 Đặc điểm tâm lí
Trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ham học hỏi, thích tìm tòi, khám phá và tìm hiểu vềthế giới xung quanh Chúng thực là những chủ thể với những năng lực riêng, có khảnăng tư duy, sáng tạo và giao tiếp với mọi người Chúng có kĩ năng nghe, hiểu lờinói của người khác và nói cho người khác hiểu Trẻ 5 - 6 tuổi chủ động, độc lập, cósáng kiến, biết tự tìm kiếm các phương thức giải quyết các nhiệm vụ đặc ra, tự kiểmtra… kết quả trong hoạt động học và chơi Trẻ 5 - 6 tuổi tập trung chú ý nỗ lực, cốgắng giải quyết và hoàn thành nhiễm vụ trong các hoạt động của chúng Cụ thể:
* Tri giác
Do được tiếp xúc, hướng dẫn của cô giáo, trẻ đã tiếp xúc với nhiều đồ vật, conngười, sự kiện,… khác nhau cùng với các thuộc tính bên ngoài như đại lượng, kíchthước, biết đếm, biết phân biệt màu sắc ngày càng chính xác và toàn diện
Năng lực quan sát của trẻ được phát triển không chỉ số lượng sự vật, hiện tượng,
… mà còn phát hiện được cả không gian, thời gian phức tạp của mối quan hệ
Các loại tri giác như nhìn, nghe, xúc giác, phát triển mạnh về độ nhạycảm, biết phối hợp nhiều loại tri giác tham gia vào nhận thức đối tượng
Các thuộc tính như tính trọn vẹn, lựa chọn, ý nghĩa, không đổi, tiếp tục
Trang 23được phát triển theo hướng phản ánh vừa chi tiết vừa khái quát các thuộc tính,các mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng và con người.
* Trí nhớ
Trẻ 5 - 6 tuổi đã biết sử dụng cơ chế liên tưởng trong quá trình trí nhớ, đểnhận lại nhớ lại các sự vật, hiện tượng, con người đã tri giác trước đây
Các loại trí nhớ máy móc, có ý nghĩa tiếp tục phát triển, đặc biệt trí nhớ có
ý nghĩa qua ngôn ngữ nói, góp phần kích thích sự phát triển tư duy, loại trí nhớcảm xúc, vận động, hình ảnh, nhớ lâu phát triển mạnh
Sự tiến hành các khâu trong quá trình như ghi nhớ, gìn giữ thông tin, nhậnlại và nhớ lại phối hợp hài hòa, linh hoạt hơn so với trẻ 5 - 6 tuổi
Trẻ đã biết phân tích tổng hợp không chỉ dừng ở những đồ vật trước mắt trẻ
mà còn biết phân tích tổng hợp những hình ảnh lời nói
Tư duy của trẻ mất dần tính duy kỉ, tiến dần đến thực hiện khách quan hơn.Nhận xét, suy luận, đánh giá của trẻ vẫn còn mang tính chất cảm tính, hiện thực,nhưng hiện thực không theo ý chí chủ quan của trẻ
Dần dần trẻ phân biệt được thực hư Từng bước, trẻ lĩnh hội được các con
số, quan hệ thời gian, Nhiều khái niệm trừu tượng như ngoan, hư, xấu tốt, tưduy trừu tượng ra, học tập được các tiết học: “Làm quen với toán”, “Làm quenvới tác phẩm văn học”,
Các kiểu loại tư duy của trẻ đã được hình thành và phát triển ở độ tuổi nàynhư: Tư duy bằng hành động cụ thể, tư duy bằng hình ảnh trực quan, tư duy
Trang 24logic Nhưng tư duy bằng hành động chiếm ưu thế Vì vậy, trẻ hứng thú hơn, tiếpthu bài dễ dàng hơn tuy nhiên cần thúc đẩy sự phát triển tư duy trừu tượng chotrẻ qua các hoạt động phát triển ngôn ngữ nói.
bè, anh em tăng lên đáng kể
Các loại tình cảm bậc cao tiếp tục phát triển theo chiều rộng và chiều sâu:
- Tình cảm đạo đức: Do lĩnh hội và đã biết sử dụng nhiều chuẩn mực hành
vi xã hội trong quan hệ người trẻ đã nhận biết, đánh giá, nhận xét những hành vigiao tiếp của những người xung quanh đối với trẻ Đồng thời trẻ biết sử dụngnhững hành vi được xem là tốt đối với những người xung quanh ở những hoàncảnh và quan hệ cụ thể, hợp lí
- Tình cảm trí tuệ: Trẻ làm được nhiều việc, mỗi công việc, cuộc vui chơi,buổi học đã đem lại kết quả nhất định kích thích niềm say mê, hứng thú đem lạinhững rung cảm mới, kích thích tính tò mò, ham hiểu biết ở trẻ
- Tình cảm thẩm mĩ: Được hình thành rất mạnh qua tiết học âm nhạc, múa, hát,hoạt động tạo hình, ở lớp như cảnh trí gia đình, trang thiết bị nội thất, một lời nóihay, một câu thơ đầy cảm xúc, làm nảy sinh ở trẻ những cảm xúc, rung cảm thẩm
mĩ đích thực Trẻ nhận thức rõ cái đẹp tự nhiên, cái đẹp tự tạo, cái đẹp hình thức, cáiđẹp nội dung, theo chuẩn mực xã hội được gia đình và cô giáo hướng dẫn giáo dụctrẻ
1.3.2 Đặc điểm sinh lí
Cơ thể non nớt của trẻ đang dần lớn lên từng ngày Trẻ lớp lá là lứa tuổi cócác yếu tố sinh lí với tốc độ phát triển nhanh trong giai đoạn trẻ Mầm non Cụthể:
* Hệ cơ - xương:
Quá trình phát triển hệ xương diễn ra nhanh, các xương dài ra nhưng trongcấu trúc xương vẫn có nhiều xương sụn, khi trẻ 5 tuổi thì đầu trên cẩu xương
Trang 25chày mới được cốt hóa, các xương vẫn có tính đàn hồi cao, xương sống và cácxương khác còn yếu mềm, vì trong đó còn nhiều tổ chức sụn, các khớp xươngcủa trẻ rất linh hoạt, dây chằng yếu, dễ bị giãn, các gân còn yếu, cấu tạo xươngchưa kết thúc ở nhiều xương, mặc dù cung cấp máu ở trẻ tốt hơn người lớn Tất
cả những điều đó tạo điều kiện để sự vận động của trẻ phát triển
Bộ xương của trẻ dần dần cốt hóa, cơ to ra, làm cho trẻ lớn nhanh
cả những điều đó cho thấy năng lực làm việc của trẻ đã phát triển hơn trước.Song sự điều hòa thần kinh tim còn chưa hoàn thiện, cho nên nhịp co bóp dễ mất
ổn định và cơ tim rất nhanh mệt mỏi khi hoạt động thể lực Tuy nhiên khi thayđổi hoạt động theo xu hướng giảm dần thì tim của trẻ lại hồi phục rất nhanh
* Hệ tiêu hóa:
Bộ máy tiêu hóa vẫn còn yếu, trẻ dễ bị bệnh khó tiêu nếu ăn quá nhiều, dễ
bị tiêu chảy nếu ăn đồ lạ, thức ăn lâu ngày Thức ăn nóng quá hay lạnh quá cũng
có thể khiến bé sinh bệnh
* Hệ thần kinh:
Chức năng của tất cả các cơ quan trong vỏ não, hoạt động của thần kinh caocấp phát triển nhanh Các phản xạ có điều kiện hình thành nhanh chóng trongsuốt giai đoạn ở lứa tuổi này theo xu hướng tăng dần Chức năng điều khiển của
võ bán cầu đại não tăng hơn so với trung khu dưới vỏ, do đó ta thấy hành vi củatrẻ có tính tổ chức hơn Trong mối quan hệ chức năng thì hệ thần kinh mang tínhkhông ổn định, nên các quá trình tâm lí diễn ra chưa đầy đủ Do vậy cần phải tạocho trẻ những điều kiện thuận lợi nhất để dễ dàng hoàn thiện chúng
Trẻ 5 - 6 tuổi có sự trưởng thành nhanh chóng về hình thái cũng như não
bộ, trọng lượng của não tăng nhanh chóng (từ 1.100 gram lên 1.300 gram), vaitrò điều chỉnh và kiểm tra bán cầu đại não được tăng cường đối với các trungtâm dưới vỏ
Trang 261.4 Vai trò của giáo viên trong việc phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non
Trong sự phát triển toàn diện cho trẻ Mầm non, môi trường thuận lợi nhấtcho trẻ là trường Mầm non, các hoạt động được diễn ra nhiều nhất nhằm pháttriển toàn diện cho trẻ Khoảng thời gian trẻ hoạt động chiếm phần lớn thời gian
là ở trường Mầm non Vì vậy, giáo dục nhà trường trong mọi thời đại có chứcnăng cơ bản là truyền thụ tri thức văn hóa, mở mang trí tuệ cho học sinh
Giáo viên tìm hiểu, nắm bắt được nhu cầu, hứng thú, khả năng của từng trẻ
để có cách dạy phù hợp Giáo viên lựa chọn môi trường cho trẻ hoạt động, môitrường ở đây không chỉ dừng lại trong lớp học, mà phải tận dụng tất cả khônggian trong, ngoài lớp để trẻ được trải nghiệm, khám phá Giáo viên khéo léotrang trí, bày biện những góc chơi để lôi cuốn trẻ Đồng thời, tận dụng các thiết
bị, đồ dùng sẵn có, đồ chơi tự làm từ các vật liệu thân thiện để kích thích trẻ hoạtđộng sáng tạo Qua đó giúp trẻ phát huy năng khiếu cá nhân, mở rộng các mốiquan hệ qua lại giữa các nhóm, tăng cường kĩ năng hoạt động nhóm trong trẻ,…Không chỉ vậy, giáo viên đầu tư việc lập kế hoạch, thiết kế hoạt động saocho phù hợp với khả năng, nhu cầu thực tiễn, kinh nghiệm sống của trẻ Khi tổchức các hoạt động giáo viên tạo điều kiện cho trẻ phát triển được kĩ năng hợptác từ đó trẻ được tự do trải nghiệm, chia sẻ với bạn bè và học hỏi, suy nghĩ, vậndụng những điều đã học vào giải quyết các tình huống sẽ xảy ra trong cuộc sống.Bên cạnh đó, giáo viên tăng cường các hoạt động tập thể thông qua hoạtđộng trong ngày Ví dụ như tận dụng thời gian chơi trò chơi, kể chuyện, tham gia
Trang 27hoạt động ngoài trời, giao nhiệm vụ nhóm cho trẻ thực hiện
Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kĩ năng hợp tác chotrẻ 5 - 6 tuổi, vừa tổ chức, hướng dẫn, tạo môi trường vừa quan sát và địnhhướng cho trẻ những hành vi đúng đắn Từ đó giúp trẻ phát triển kĩ năng hợp táccủa bản thân trong hoạt động nhóm, trong giờ học và cả trong sinh hoạt hằngngày của trẻ
Ngoài ra việc kết nối giữa nhà trường và gia đình để phối hợp phát triểnKNHT cho trẻ không thể bỏ qua vai trò của giáo viên Cô giáo là người trực tiếptrao đổi với phụ huynh về tình hình trong ngày của trẻ, cũng như đề xuất các biệnpháp với nhà trường, báo cáo tình hình của trẻ để nhà trường kịp thời xem xét, canthiệp
Trang 28Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu vai trò của giáo viên trong việc phát triển kĩ năng hợp táccho trẻ 5 - 6 tuổi
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu vai trò của giáo viên trong việc phát triển kĩ năng hợp tác chotrẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Hoa Pơ Lang, năm học 2018 - 2019
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về vai trò của giáo viên trong việc phát triển kĩnăng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi
- Tìm hiểu thực trạng việc phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi ởtrường mầm non Hoa Pơ Lang, thành phố Buôn Mê Thuột, Đắk Lắk
- Đề xuất một số biện pháp nhằm giúp giáo viên phát triển kĩ năng hợp táccho trẻ 5 - 6 tuổi
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Trang 29* Nội dung:
- Trao đổi, phỏng vấn các một số giáo viên về nhận, thái độ của các giáoviên trong việc phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ
- Tìm hiểu các khó khăn gặp phải khi tiến hành hoạt động
- Tìm kiếm các giải pháp giúp trẻ phát triển kĩ năng hợp tác
* Nội dung quan sát:
- Quan sát tiến trình lên lớp của giáo viên
- Quan sát các biện pháp mà giáo viên sử dụng khi tổ chức các hoạt độngphát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi
- Quan sát sự tập trung và hứng thú của trẻ khi tham gia hoạt động nhóm
* Cách tiến hành:
Trực tiếp quan sát tiến trình giáo viên thực hiện vai trò của mình trong việc pháttriển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi và ghi chép trong điều kiện tự nhiên của lớphọc Tiến hành dự giờ các hoạt động của giáo viên, quan sát cách tổ chức hoạt độngđặc biệt là các biện pháp phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ của giáo viên
2.4.4 Phương pháp điều tra
* Mục đích điều tra:
Tìm hiểu thực trạng phát triển kĩ năng hợp tác của trẻ 5 - 6 tuổi Trên cơ sở
đó đề xuất các biện pháp phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi có hiệu quả
* Nội dung điều tra:
- Tìm hiểu nhận thức, thái độ, kinh nghiệm và những khó khăn của giáoviên đối với việc phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi
- Tìm hiểu thực trạng về quá trình giáo viên tổ chức các hoạt động pháttriển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi nhằm làm rõ cách tổ chức hoạt động củagiáo viên và đặc biệt là biện pháp phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi
Trang 30* Cách tiến hành điều tra:
Việc khảo sát thực trạng phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi đượctiến hành khảo sát trên 36 giáo viên tại trường Mầm non Hoa Pơ Lang Các giáoviên đều có kinh nghiệm giảng dạy Chúng tôi phát cho giáo viên bảng hỏi sau
đó giáo viên tích dấu x vào ô ( ), ghi câu trả lời của mình vào bảng hỏi
2.4.5 Phương pháp thống kê toán học
- Phương pháp này được sử dụng để phân tích, xử lí các dữ liệu thu thập được
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm tính toán khách quan,chính xác, khoa học của thông tin từ các nguồn tài liệu thu thập được để rút rakết luận chính xác nhất cho đề tài nghiên cứu
- Công thức:
Số phần trăm: % = M 100/nTrong đó:
M: Tổng số lượng khách thể trả lờin: Số lượng khách thể nghiên cứu
Trang 31Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm trường Mầm non Hoa Pơ Lang, tỉnh Đắk Lắk
Trường MN Hoa Pơ Lang được thành lập vào tháng 9 năm 1982 Tiền thân
là nhà trẻ Hoa Pơ Lang Đến năm 1995, trường được đổi tên thành trường MNHoa Pơ Lang có nhiệm vụ chăm sóc - giáo dục trẻ từ 24 - 72 tháng tuổi
Khó khăn:
- Trường không tập trung tại một điểm mà có nhiều điểm trường nên khókhăn cho công tác chỉ đạo kiểm tra cũng như quản lí các hoạt động của giáoviên
- Đội ngũ giáo viên không đồng đều về trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Đa số chị em đã lớn tuổi, sự nhanh chóng và sáng tạo việc thực hiện chươngtrình giáo dục Mầm non mới còn hạn chế
- Số phụ huynh có con em gửi trong nhà trường đa phần là buôn bán nhỏ
lẻ, kinh tế khó khăn nên hạn chế việc quan tâm chăm sóc cho con em mình
a Về cơ sở vật chất
Trường Mầm non Hoa Pơ Lang có một điểm chính và bốn điểm trường:
- Điểm chính đóng tại 564 Lê Duẩn, có 10 lớp gồm: 1 nhóm trẻ, 9 lớp mẫugiáo Các lớp được phân chia theo độ tuổi, được xây dựng khang trang, có sânchơi rộng, cảnh quan sư phạm đẹp, thoáng mát, môi trường sạch sẽ đảm bảo yêu
Trang 32cầu cho trẻ dạo chơi và khám phá môi trường xung quanh.
- Phân hiệu đóng tại số 03 Phùng Hưng, có 5 lớp: 1 nhóm trẻ và 4 lớp mẫugiáo Các lớp được phân chia theo độ tuổi, được xây dưng khang trang, có sânchơi rộng, cảnh quan sư phạm đẹp, thoáng mát, môi trường sạch sẽ đảm bảo yêucầu cho trẻ dạo chơi và khám phá môi trường xung quanh
- Ba điểm lẻ đóng tại buôn Mduk, buôn Alêa, tổ dân phố 7 Các lớp đều có cơ
sở vật chất đầy đủ, có hàng rào, có vườn rau, cây cảnh, cây bóng mát, có công trình
vệ sinh khép kín, có đầy đủ đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho sinh hoạt, vui chơi của trẻ
- Bếp ăn được thiết kế một chiều đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
- Cơ sở vật chất khang trang, cảnh quan sư phạm xanh, sạch, đẹp, đảm bảomôi trường thân thiện, gần gũi với trẻ, khuôn viên rộng, tổng diện tích toàntrường là 7.900m2
- Giáo viên: 36 người chia làm 5 tổ chuyên môn
+ Tổ khối mầm - nhóm trẻ: 06 người
+ Tổ khối chồi: 06 người (trong đó trường hợp đồng: 02)
+ Tổ khối lá: 8 người (trong đó trường hợp đồng: 02)
+ Tổ phân hiệu: 10 người
+ Tổ khối lẻ: 6 người
- Nhân viên: 12 người gồm: Kế toán: 1 người; Bảo vệ: 3 người; Lao công: 1người; Cấp dưỡng: 5 người
- Giáo viên năng khiếu: 1 người
Hội đồng trường: gồm có 9 thành viên
Công đoàn trường: có 52 Đoàn viên
Chi bộ nhà trường: có 10 Đảng viên
Trang 33- Có 14 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp trường, trong đó có 11giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp thành phố, 5 giáo viên dạy giỏi cấptỉnh.
c Về thực hiện chuyên môn
-Trường Mầm non Hoa Pơ Lang có 6 tổ chuyên môn: 1 tổ khối mầm vànhóm trẻ, 1 tổ khối chồi, 1 tổ khối lá, 1 tổ hành chính, 1 tổ phân hiệu và 1 tổ khốilẻ
- 100% các khối lớp thực hiện chương trình Mầm non mới, 65% cán bộgiáo viên biết ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
- Có phòng năng khiếu cho trẻ tập luyện
- Các lớp đều có ti vi, đầu đĩa và được trang bị máy vi tính để trẻ làm quenvới chương trình Kitmar
- Giáo viên thực hiện nghiêm túc các hoạt động trong ngày, trẻ có nề nếp,ngoan, lễ phép, tích cực tham gia các hoạt động
- Trẻ được đánh giá theo các chủ đề Được khảo sát chất lượng theo cáctiêu chí quy định của Vụ giáo dục Mầm non
- Giáo viên biết xây dựng mục tiêu các chủ đề, mạng nội dung, mạng hoạtđộng, biết thiết kế các hoạt động trong ngày và xây dựng kế hoạch tuần, thángtheo chủ đề phù hợp với tình hình của lớp và đặc điểm tâm sinh lí của trẻ
d Về chất lượng nuôi dưỡng
- 100% các cháu được ăn ngủ tại trường, chế độ ăn 3 bữa trên ngày: sáng,trưa và xế với thực đơn phù hợp được thay đổi theo tuần và cân đối điều chỉnhphù hợp, đảm bảo lượng cân đối các chất theo đúng tỉ lệ
- Các cháu được theo dõi biểu đồ về chiều cao và cân nặng tỉ lệ suy dinhdưỡng thể nhẹ cân 2,7%; suy dinh dưỡng thể thấp còi 6,5% Các cháu đượckhám sức khỏe định kì 2 lần một năm
- 100% các cháu được đi dép trong nhà, có thói quen vệ sinh cá nhânnhư rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, cháu khối lá, khối chồi biết chảirăng sau khi ăn
- Các cháu được giáo dục vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường như vứt rácđúng nơi quy định
e Về thực hiện phong trào
Trang 34Trường Mầm non Hoa Pơ Lang tham gia tốt các phong trào văn hóa vănnghệ do các cập tổ chức, thi viết sáng kiến kinh nghiệm, thi đồ dùng dạy học, thigiáo viên giỏi, thao giảng chọn tiết tốt, đặc biệt là phong trào thi đua “Xây dựngtrường học thân thiện, học sinh tích cực”.
g Kết quả thi đua
Trường Mầm non Hoa Pơ Lang nhiều năm liên tục đạt danh hiệu trườngtiên tiến và tiên tiến xuất sắc, được tặng nhiều bằng khen của Tỉnh và của Bộ 4lần được tặng cờ thi đua UBND Tỉnh Năm 2011 - 2012 được tặng bằng khencủa Thủ tướng Chính phủ; được tặng huân chương Lao động hạng 3 Năm học
2017 - 2018 đạt thành tích tập thể lao động xuất sắc, được UBND Thành phốtặng giấy khen
3.1.2 Đặc điểm khối lá
Khối lá có 9 lớp lá 246 cháu, trong đó có một phần trẻ là người dân tộcthiểu số chủ yếu các cháu học ở phân hiệu và khối lẻ Mỗi lớp được 2 giáo viênphụ trách chăm sóc trẻ: Tổng khối lá có 18 GV trong đó 9 giáo viên chủ nhiệm,
9 phó chủ nhiệm Độ tuổi đồng đều cũng là một điều kiện thuận lợi cho việctruyền thụ kiến thức, 100% trẻ sống trong địa bàn thành phố nên các cháu rấtngoan và đi học khá đầy đủ Bên cạnh đó cũng có một số khó khăn vì hầu hết100% trẻ là con của những gia đình phụ huynh bận rộn công việc hằng ngày, ítđược quan tâm, chăm sóc của cha mẹ Trong lớp không có trẻ thuộc đối tượngkém phát triển trí tuệ Vì thế khả năng nhận thức của trẻ còn hạn chế, năng lựchoạt động của trẻ trong lớp chưa đồng đều Nhưng nhìn chung trong công tácgiảng dạy giáo viên thực hiện đầy đủ các bước tự chuẩn bị đồ dùng đến việc đếnlớp, truyền thụ kiến thức cho trẻ đủ và phù hợp với chương trình đổi mới hiện
Trang 35Khối lá có không gian hợp lí cho trẻ học tập, cơ sở vật chất được trang bịđầy đủ và thuận lợi cho việc dạy học cho trẻ Lớp học có các góc chơi được giáoviên bố trí và cung cấp tương đối nhiều đồ dùng, đồ chơi, giúp trẻ khám phá vàtrải nghiệm Bên cạnh đó nề nếp lớp đã có nên các hoạt động vui chơi học tậpcủa trẻ trong ngày diễn ra tốt hơn, phần lớn tận dụng cho trẻ học ở mọi lúc mọinơi theo chương trình giáo dục trẻ hiện nay
3.2 Thực trạng phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi
Để nắm bắt chính xác và khách quan về nhận thức của GV trong việc pháttriển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi chúng tôi đã tiến hành điều tra 36 GV tạitrường Mầm non Hoa Pơ Lang
Sau khi điều tra và nắm bắt được những thông tin từ GV cung cấp về nhậnthức của GV về phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi Chúng tôi đã tiếnhành sử dụng các phương pháp để thống kê số liệu, kết quả về nhận thức của GVtrong việc phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi được trình bày cụ thể ở bảng biểu:
Bảng 3.1: Nhận thức của GV trong việc phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi
Trang 36nào cho rằng việc phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi là ít quan trọng, khôngquan trọng Xét từng nhóm nhận thức ta có thể nhận thấy:
- Nhóm giáo viên cho rằng việc phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi
là rất quan trọng chiếm 63,9% Nhóm này có vai trò quan trọng đối với việc pháttriển KNHT Đây là nhóm GV có khả năng tổ chức các hoạt động phát triểnKNHT cho trẻ, luôn sáng tạo, biết cách tìm tòi các phương pháp phù hợp, để tổchức các hoạt động phát triển KNHT đạt hiệu quả cao, làm chủ được hoạt động
tổ chức cho trẻ Nhóm này được đánh giá là nhóm đóng vai trò quan trọng trongviệc tổ chức các hoạt động để phát triển KNHT cho trẻ
- Nhóm thứ hai là nhóm GV cho rằng việc phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6tuổi là quan trọng Nhóm này là nhóm chiếm vị trí thứ 2, chiếm 33,4% trongtổng số 100%, có 12 GV nhận thức vấn đề phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi làquan trọng Nhóm này có quan tâm đến việc phát triển KNHT tuy nhiên chưanhiệt tình, và chưa tâm huyết bằng nhóm rất quan trọng
- Nhóm cuối cùng là nhóm cho rằng việc phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi
là bình thường Nhóm này chiếm 2,7% trong tổng số GV Nhóm này xem nhẹviệc phát triển KNHT và không thấy được sự quan trọng của phát triển KNHTcho trẻ Kết quả này cho thấy một số ít GV vẫn còn chưa nhận thấy tầm quantrọng của viêc phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi hoặc nhận thấy nhưng chưathật sự quan tâm về việc phát triển kiến thức cũng như kĩ năng cho trẻ Đây cũng
là kết quả cho thấy được trong quá trình tổ chức hoạt động có thể gặp một vàikhó khăn vì không có được nhiều sự hợp tác
Sau khi điều tra và xử lí số liệu xong chúng tôi nhận thấy rằng đa số GV ởtrường Mầm non Hoa Pơ Lang đã có nhận thức được tầm quan trọng của việcphát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi
3.2.2 Thái độ của giáo viên trong việc phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi
Thái độ có liên quan chặt chẽ đến nhận thức, sau khi nhận thức được sựviệc con người sẽ thể hiện sự đồng tình hay phản đối của bản thân Thái độ đóngvai trò rất quan trọng Thể hiện thái độ đúng, giúp thúc đẩy sự việc được diễn ratích cực, còn thể hiện thái độ sai lệch sẽ khiến hoạt động không phát triển được.Trong việc phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi, thì GV phải thể hiện được thái độtích cực, mới có thể là động lực tích cực giúp trẻ hăng say tham gia các hoạt
Trang 37động, từ đó hình thành năng lực của bản thân và tự giác trong việc phát triểnKNHT.
Để tìm hiểu về thái độ của GV đối với việc phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6tuổi sát với thực tế chúng tôi đã tiến hành khảo sát 36 GV và kết quả khảo sátđược thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.2: Thái độ của giáo viên về rèn luyện kĩ năng hợp tác cho học sinh
MN Hoa Pơ Lang không những nhận thức được vai trò quan trọng của KNHT đốivới trẻ 5 - 6 tuổi mà còn có thái độ rất tích cực Điều này xuất phát từ kinh nghiệmdày dặn và tinh thần không ngừng học hỏi, đổi mới của đội ngũ giáo viên
Có thể thấy quá trình phát triển KNHT ở trường Mầm non Hoa Pơ Lang chotrẻ 5 - 6 tuổi đang rất được quan tâm Hầu hết các giáo viên đều rất thường xuyênphát triển KNHT cho trẻ Kết quả này thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động,biện pháp phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi
Tuy nhiên, ngoài thái độ tích cực từ giáo viên thì sự quan tâm từ nhà trườngtrong việc phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi cũng góp một phần quan trọng Chính
vì thế chúng tôi tiến hành khảo sát thái độ của nhà trường qua bảng khảo sát sau:
Bảng 3.3: Sự quan tâm của nhà trường đến việc phát triển
Trang 38Qua bảng thống kê ý kiến của giáo viên về mức độ quan tâm của nhàtrường tới việc phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi, chúng tôi thấy rằng nhàtrường quan tâm ở mức độ thường xuyên chiếm tỉ lệ cao nhất 44,44%, rất thườngxuyên chiếm 38,9% trong tổng số các mức độ Có 6 giáo viên cho rằng nhàtrường ít khi hoặc thỉnh thoảng quan tâm Không có giáo viên nào cho rằng nhàtrường không bao giờ quan tâm đến việc phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi.
Có thể thấy rằng nhà trường có thái độ tích cực và quan tâm đối với việcphát triển KNHT cho trẻ, đây là điều kiện rất thuận lợi giúp giáo viên phát huyvai trò của mình trong phát triển KNHT cho trẻ 5 - 6 tuổi
3.2.3 Hình thức tổ chức hoạt động nhằm phát triển kĩ năng hợp tác cho trẻ 5 - 6 tuổi
Các hình thức phát triển KNHT rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên, trongđiều kiện cho phép của đề tài, chúng tôi chỉ đề cập đến những hoạt động mangtính phổ biến và đã được áp dụng tại môi trường khảo sát
Chúng tôi đã tiến hành điều tra 36 giáo viên về việc những hình thức GV sửdụng để tổ chức các hoạt động nhằm phát triển KNHT
Qua điều tra, xử lí số liệu, mặc dù điều kiện còn khó khăn nhưng nhàtrường và các GV đã nỗ lực thực hiện, tổ chức các hoạt động rất phong phú và
đa dạng, thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.4: Những hình thức giáo viên tổ chức hoạt động để
phát triển KNHT cho trẻ STT Hoạt động Số lượng Tỉ lệ (%)
Dựa vào số liệu được hiển thị ở bảng trên, chúng tôi nhận thấy rằng các
GV thường lựa chọn tất cả các hoạt động Trong đó trong vui chơi được tổ chứcnhiều nhất chiếm 86,1%, sau đó là trong giờ học chiếm 69,5%, trong hoạt động gócchiếm 47,2%, trong hoạt động ngoài trời chiếm 47,2%, trong hoạt động khác chiếm16,6%
Trang 39Như vậy, từ số liệu trên cho thấy GV ở trường Mầm non Hoa Pơ Lang đãlựa chọn các hoạt động trong vui chơi là nhiều nhất, hoạt động vui chơi kíchthích sự hứng thú ở trẻ, tạo điều kiện cho các trẻ phát triển kĩ năng hợp tác Điềunày phù hợp với thực tiễn bởi các hoạt động vui chơi là một hoạt động chủ đạo,rất hữu ích và có môi trường thuận lợi để trẻ phát triển KNHT
Trong các hoạt động đó thì có hoạt động trong giờ học cũng được GV lựachọn nhiều, bởi các hoạt động trong giờ học rất phù hợp đặc điểm tâm lí của trẻ.Khi sử dụng hoạt động trong giờ học để rèn luyện KNHT cho trẻ sẽ đạt hiệu quảcao, bởi trong giờ học trẻ có sự tập trung và hứng thú cao Đây là hoạt động cầnthiết không thể thiếu trong phát triển KNHT ở trẻ
Trong hoạt động góc và hoạt động ngoài trời, theo điều tra cho thấy có47,2% GV đã lựa chọn 2 hoạt động này để phát triển KNHT cho trẻ Các hoạtđộng này phù hợp với đặc điểm tâm lí của trẻ, hấp dẫn, lôi cuốn nên các em rấthứng thú tham gia Tuy nhiên vì sự chuẩn bị cho các hoạt động này khá lâu vàtốn kém nên hoạt động này còn chưa đa dạng và phong phú
Các hoạt động khác (tham quan, giã ngoại, trong ăn, ngủ, vệ sinh, hoạtđộng ngoài giờ ) theo điều tra có 16,6% GV đã lựa chọn hình thức này Từ kếtquả có thể thấy vì đặc thù của trẻ Mầm non và việc tổ chức các hoạt động kháccòn khá khó khăn nên giáo viên khó có thể tổ chức để phát triển KNHT cho trẻthông qua các hoạt động khác được
Qua điều tra và nghiên cứu, có thể thấy rằng mặc dù điều kiện, cơ sở vậtchất của nhà trường còn nhiều khó khăn trong việc phát triển KNHT cho trẻ,nhưng các GV trường Mầm non Hoa Pơ Lang vẫn cố gắng để khắc phục khókhăn, tạo ra những hoạt động bổ ích, thu hút trẻ có thể tham gia tích cực nhằmgiúp trẻ phát triển KNHT Được thể hiện rõ qua việc giáo viên yêu cầu trẻ cùnghợp tác trong các hoạt động của trẻ, thể hiện rõ qua bảng khảo sát sau:
Bảng 3.5: Bảng đánh giá thái độ của giáo viên trong việc thường xuyên cho
trẻ cùng nhau hợp tác Mức độ Số lượng Tỉ lệ (%)
Rất thường xuyên 20 55,5
Trang 40Không bao giờ 0 0