1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tìm hiểu mối liên quan giữa độ dày nội trung mạc động mạch đùi chung với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở phụ nữ mãn kinh bằng siêu âm doppler

6 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 375,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này tìm hiểu mối liên quan giữa độ dày nội - trung mạc (NTM) động mạch đùi chung với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở phụ nữ mãn kinh (PNMK) bằng siêu âm Doppler.

Trang 1

I đẶT VẤN đỀ

Phụ nữ mãn kinh thường ở lứa tuổi 50,sau

mãn kinh có nhiều thay đổi như rối loạn vận mạch,

teo cơ quan sinh dục, loãng xương, và tăng cân

Đặc biệt, sự thiếu hụt estrogen trong thời kỳ mãn

kinh có thể liên quan đến sự rối loạn chuyển hóa

lipid, rối loạn sự phân bố mỡ của cơ thể, tăng

huyết áp, đái tháo đường… Các rối loạn chuyển

hóa này góp phần làm tăng quá trình vữa xơ động

mạch (VXĐM) Tổn thương VXĐM xuất hiện từ rất

sớm khi còn ở tuổi thanh niên bằng các vạch lipid,

mảng vữa xơ thường xuất hiện từ lứa tuổi 20-30

tuổi ở động mạch chủ, động mạch vành, 30-40

tuổi ở động mạch não, chậu, đùi Mảng vữa xơ tiến triển chậm kéo dài hàng chục năm, có thể bị loét, hoại tử, chảy máu và nhiễm canxi trở nên cứng Phụ nữ ở tuổi mãn kinh, do sự suy giảm của các hóc môn sinh dục nữ nên xuất hiện các tổn thương VXĐM nhanh hơn, rõ rệt hơn

Siêu âm với đầu dò ≥ 7.5 MHz có thể phát hiện sớm và đánh giá tổn thương thành mạch

Đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến độ dày nội trung mạc động mạch cảnh ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2, tăng huyết áp… nhưng còn ít tác giả nghiên cứu tổn thương NTM động mạch đùi ở phụ nữ mãn kinh.Vì vậy chúng tôi tiến hành tìm

TÌM HIỂU MỐI LIÊN QUAN GIỮA đỘ DàY NỘI TRUNG MẠC

đỘNG MẠCH đùI CHUNG VỚI MỘT sỐ YẾU TỐ NGUY CƠ TIM MẠCH

Ở PHỤ NỮ MÃN KINH BẰNG sIÊU ÂM DOPPLeR

lương thị Hương loan * , nguyễn Văn quýnh **

*Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên; ** Bệnh viện TƯQĐ 108

TÓM TẮT

Mục tiêu: Tìm hiểu mối liên quan giữa độ dày nội - trung mạc (NTM) động mạch đùi chung với

một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở phụ nữ mãn kinh (PNMK) bằng siêu âm Doppler

đối tượng, phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang ở PNMK, tuổi từ 42

đến 69, từ tháng 04/2014 - 03/2015, tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên và Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên Tất cả phụ nữ tham gia nghiên cứu được khám lâm sàng, xét nghiệm máu và siêu âm động mạch đùi trên máy PHILIPS HD 11XE với đầu dò tần số 7,5MHz Các thông số siêu âm được đo theo tiêu chuẩn của Hội tăng huyết áp và tim mạch Châu Âu: chiều dày lớp nội - trung mạc ĐM bình thường <0,9mm, từ 0,9mm đến ≤ 1,3 mm là dày lớp NTM, >1,3mm là mảng VXĐM

Kết quả: Tổng số 428 PNMK có tuổi trung bình là 60,4 ± 5,8 Độ dày NTM động mạch đùi chung,

đường kính ngoài và đường kính trong tăng dần theo tuổi PNMK có BMI ≥ 23 kg/m2 có nguy cơ dày NTM động mạch đùi chung cao hơn so với nhóm PNMK có BMI < 23 kg/m2 (OR= 2,06,95%CI: 1,36

- 3,11) PNMK có huyết áp tâm thu ≥ 140mm Hg và glucose máu ≥ 5,6 mmol/l có nguy cơ dày NTM động mạch đùi chung cao hơn nhóm phụ nữ còn lại với OR = 3,33 (95%CI: 2,23 - 4,95) và OR= 2,12 (95%CI: 1,42 - 3,17) Không có mối liên quan giữa thành phần lipid máu, estradiol và testosterol với NTM động mạch đùi chung ở PNMK

Kết luận: BMI, huyết áp tâm thu và glucose máu ở PNMK liên quan có ý nghĩa thống kê với IMT

động mạch đùi chung

Từ khóa: phụ nữ mãn kinh, nội trung mạc động mạch đùi, các yếu tố nguy cơ tim mạch.

Trang 2

hiểu mối liên quan giữa độ dày nội trung mạc động

mạch đùi, với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở

phụ nữ mãn kinh bằng siêu âm Doppler

II đỐI TƯỢNG Và PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 đối tượng

428 phụ nữ mãn kinh tự nhiên sau 12 tháng,

khám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa trung ương Thái

Nguyên và Bệnh viện trường Đại học Y Dược Thái

Nguyên, từ tháng 04/2014 đến tháng 03 năm 2015

Loại trừ: Các bệnh nhân đang mắc các bệnh

lý cấp tính, bị gù, vẹo hay cong cột sống; các bệnh

nhân mà hình ảnh siêu âm không cho phép phân

tích đánh giá hoặc không đồng ý tham gia nghiên

cứu

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang Các bệnh nhân được thăm khám lâm sàng, xét nghiệm cận lâm sàng đầy đủ Siêu âm Doppler động mạch đùi được thực hiện trên máy siêu âm Doppler màu hãng PHILIPS HD 11XE, đầu dò tần số 7,5MHz

Đo độ dày lớp nội trung mạc (NTM) động mạch đùi chung là khoảng cách giữa rìa trên đường ranh giới lòng mạch - lớp nội mạc thành xa ĐM cho đến rìa trên đường ranh giới trung mạc - ngoại mạc Các thông số siêu âm được đo theo tiêu chuẩn của Hội tăng huyết áp và tim mạch Châu Âu: chiều dày lớp NTM bình thường <0,9mm; ≥ 0,9mm đến

≤1,3mm là dày NTM; >1,3mm là mảng VXĐM

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1 Phân bố theo nhóm tuổi, tuổi mãn kinh của đối tượng nghiên cứu

Trung bình 60,4 ± 5,8 (thấp nhất 42; cao nhất 69)

Trung bình 50,1 ± 3,7 (thấp nhất 42; cao nhất 56) Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 60,4 ± 5,8

Tuổi xuất hiện mãn kinh trung bình: 50,1 ± 3,7 trong đó tuổi mãn kinh từ 50 - 54 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 50,7%

Bảng 2 Chỉ số nhân trắc và HA của đối tượng nghiên cứu

BMI

Trung bình 24 ± 2,3 (thấp nhất 18,7; cao nhất 33,3)

Vòng bụng

Trung bình 85,16 ± 6,58 (thấp nhất 74; cao nhất 110)

Trang 3

Thông số n %

Tỷ lệ có BMI từ 23 - 29,9 là cao nhất 67,3%

Tỷ lệ có vòng bụng từ 80-89 là 56,3%

Bảng 3 Kết quả xét nghiệm sinh hóa máu

Nồng độ Glucose trung bình 6,97 ± 3,03 mmol/l

Nồng độ insulin trung bình 14,44 ± 14,49 μUI/ml

Bảng 4 Kết quả siêu âm động mạch đùi ở nhóm phụ nữ mãn kinh theo tuổi

Vị trí Nhóm tuổi

Thông số

42 – 54 (n = 80) (n = 269) 55– 65 (n = 79) > 65

ĐM đùi chung

NTM (mm)

D (mm)

d (mm)

0,96 ± 0,32 8,94 ± 0,83 7,17 ± 0,75

1,14 ± 0,52 9,30 ± 0,95 7,54 ± 0,82

1,31 ± 0,64 9,71 ± 1,08 7,86 ± 0,98

Độ dày NTM động mạch đùi chung, đường kính ngoài (D)và đường kính trong (d) tăng dần theo tuổi

Bảng 5 Mối liên quan độ dầy NTM động mạch đùi chung với vòng bụng, BMI và huyết áp tâm thu

NTM

VB,BMI, HA

NTM

≥ 0,9mm < 0,9mm NTM OR (95%CI)

Tỷ lệ tăng IMT động mạch đùi chung ở phụ nữ mãn kinh có liên quan đến tăng BMI và HATT

Trang 4

BàN LUẬN

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi có tuổi

trung bình là 60,4 ± 5,8 tuổi, tuổi mãn kinh trung

bình là 50,1 ± 3,8 tuổi, trong đó thấp nhất là 42

cao nhất là 58 tuổi Tỷ lệ thừa cân, béo phì khá

cao chiếm tới 68,5%, trong đó mức BMI từ 23

- 29,9 là cao nhất 67,3% Vòng bụng từ 80 trở

lên cũng chiếm tới 71,5%, trong đó vòng bụng

từ 80-89 chiếm tỷ lệ cao nhất là 56,3% Kết quả

nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đương với

Trần Đình Đạt và Lê Văn Chi Do hậu quả của

sự thiếu hụt estradiol trong thời kỳ mãn kinh gây

lên hàng loạt các rối loạn chuyển hóa làm lắng

đọng mỡ nhiều nơi, tập trung mỡ ở vùng thân

đặc biệt là tăng lượng mỡ ở bụng, tăng chỉ số

khối cơ thể

Trong nghiên cứu của chúng tôi, giá trị trung

bình của huyết áp tâm thu, tâm trương, nồng độ

glucose, insulin và các thành phần lipid đều cao

hơn giới hạn bình thường, tỷ lệ THA, ĐTĐ type 2

và rối loạn lipid máu khá cao Kết quả này cũng

phù hợp với các tác giả Trần Hùng Lực, Trần

Thừa Nguyên Tăng huyết áp liên quan tuổi, giới,

béo phì rối loạn lipid máu và kháng insulin Bình

thường insulin có tác dụng giãn mạch, khi có đề

kháng sẽ dẫn đến mất khả năng giãn mạch của insulin Mặt khác insulin máu làm gia tăng hoạt tính giao cảm kích thích sự tái hấp thu muối tại thận, làm gia tăng thể tích Tất cả các yếu tố trên dẫn đến THA

Theo nghiên cứu của M.C Carr sự tích tụ

mỡ ở vùng bụng khi mãn kinh gây tăng acid béo tự

do trong máu và giảm adiponectin Những thay đổi này làm tăng Apo-B dẫn đến tăng triglyceride máu, thay đổi thành phần của LDL, LDL nhỏ, đậm đặc tăng từ 10-13% trong giai đoạn tiền mãn kinh lên 30-49% khi mãn kinh Đây là yếu tố nguy cơ tim mạch làm tăng quá trình VXĐM và gây ra nhiều biến chứng nư đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, đột quỵ não

Trong bệnh lý VXĐM biểu hiện tổn thương xuất hiện từ rất sớm, khi còn ở tuổi thanh niên bằng các vạch lipid, mảng vữa xơ thường xuất hiện từ lứa tuổi 20-30 tuổi ở động mạch chủ, động mạch vành, 30-40 tuổi ở động mạch não, chậu, đùi Mảng vữa xơ tiến triển chậm kéo dài hàng chục năm, có thể bị loét, hoại tử, chảy máu

và nhiễm canxi trở nên cứng Phụ nữ mãn kinh,

do sự suy giảm của các hóc môn sinh dục nữ nên xuất hiện các tổn thương VXĐM nhanh hơn,

Bảng 6 Mối liên quan giữa độ dầy NTM động mạch đùi chung với các thành phần lipid và glucose máu

NTM

Lipid, Glucose ≥ 0,9mm NTM < 0,9mm NTM OR (95%CI)

Độ dầy NTM động mạch đùi chung ở phụ nữ mãn kinh có liên quan đến tăng glucose máu (OR:2,12 (1,42-3,17)

Trang 5

rõ rệt hơn Nghiên cứu của chúng tôi thấy tuổi

càng lớn độ dày lớp NTM và MVX càng tăng Ở

lứa tuổi từ 65 trở nên độ dày NTM cao hơn hẳn

so với các nhóm tuổi 55-65 và 42-54 tuổi Có mối

liên quan giữa độ dày NTM động mạch đùi chung

với chỉ số khối cơ thể BMI và THA Phụ nữ mãn

kinh thừa cân, béo phì có BMI ≥ 23cm và huyết

áp tâm thu ≥ 140mmHg thì có nguy cơ dày NTM

động mạch đùi chung cao hơn những phụ nữ mãn

kinh có BMI <23cm và huyết áp <140mmHg với

OR 2,02 (95%CI; 1,4 – 3,1) và OR :3,33 (95%CI;

2,2 – 4,9) Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi

giống như kết quả nghiên cứu của Markku J và

cộng sự

Khảo sát các thành phần lipid và Glucose

máu cho thấy các thành phần lipid bình thường

và cao không có liên quan đến độ dày NTM, chỉ

có nồng độ glucose máu với mức độ bình thường

và cao có liên quan đến độ dày NTM Nghiên cứu

của chúng tôi đã cho thấy ở phụ nữ mãn kinh có glucose máu ≥ 5.6mmol/l có nguy cơ bị dày nội trung mặc động mạch đùi chung gấp 2.1 lần (OR: 2,1) so với những phụ nữ mãn kinh có glucose máu mức < 5.6mmol/l Kết quả của chúng tôi tương tự như kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hải Thủy và Lê Thị Bích Thuận, nhưng động mạch mà chúng tôi tiến hành khảo sát là động mạch đùi, còn động mạch mà tác giả nghiên cứu là động mạch cảnh

IV KẾT LUẬN

Phụ nữ mãn kinh có thừa cân béo phì, tăng huyết áp và rối loạn glucose máu lúc đói có mối liên quan đến độ dày nội trung mạch động mạch đùi chung có ý nghĩa thông kê với OR : 2,06 (95%CI: 1,36 – 3,11); OR: 3,33 (95%CI: 2,23 - 4,95) và

OR= 2,12 (95%CI: 1,42-3,17) Không có mối liên quan giữa các thành phần lipid máu, estradiol và testosterol với NTM động mạch đùi chung

TàI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Văn Chi (2010), “Nghiên cứu hội chứng

chuyển hóa và vai trò của kháng insulin, estradiol

và testosterol ở phụ nữ mãn kinh”, Luận án tiến sĩ

Y học, Đại học Y Dược Huế

2 Trần Đình Đạt (2011), “Nghiên cứu tổn

thương động mạch cảnh qua siêu âm Doppler ở

phụ nữ mãn kinh có hội chứng chuyển hóa”, Luận

án tiến sĩ Y học

3 Trần Hữu Dàng, Trần Thừa Nguyên (2008),

“Nghiên cứu kháng insulin ở phụ nữ mãn kinh”,

Đại học Y Dược Huế, Bệnh viện Trung ương Huế

4 Carr M.C, et al., “Changes in LDL density

across the menopausal transition” Joural Invest

Med, 2000 Vol 48: p 245-250

5 Markku J and e al, “Effects of hypertension

and risk factors on diameters of abdominal

aorta and common iliac and femoral arteries in

middle-aged hypertensive and control subjects:

A cross-sectional study with duplex ultrasound”

Atherosclerosis, 2000 Vol 153(1): p 99-106

6 Stefano De Gennaro, et al., “Menopause

Increases the Risk of Carotid Atherosclerosis in

Essential Hypertension” High Blood Pressure & Cardiovascular Prevention, 2010 Vol 17(1): p 31-36

8 Palacios S, et al., “Age of menopause and impact of climacteric symptoms by geographical region” Climacteric, 2010 Vol 13: p 419-428

9 Kim Anh Do, et al., “Predictive factors

of age at menopause in a large Australian twin study” 1998 Vol 70(6)

10 Bulun S.E and Adashi E.Y, “The physiology and pathology of the female reproductive axis” Williams Textbook of Endocrinology, 2003: p pp 587- 665

11 Gorodeski, “Impact of the menopause on the epidemiology and risk factor of coronary artery heart disease in women” Eperiental Gerontol,

1994 Vol 29: p 75

12 Nguyễn Văn Quýnh “Góp phần nghiên cứu giá trị của phương pháp siêu âm Doppler liên tục có định hướng trong chẩn đoán và đánh giá kết quả điều trị tắc nghẽn động mạch chi dưới”

1993, Học viện Quân Y

Trang 6

THe ReLATIONsHIP BeTWeeN INTIMA-MeDIA THICKNess OF THe FeMORAL ARTeRY AND CARDIOVAsCULAR RIsKs IN POsMeNOPAUsAL WOMeN BY DUPLeX ULTRAsOUND Objective: To investigate the relationship between the intima - media thicknees (IMT) of the

common femoral artery and cardiovascular risk in the posmenopausal women

Patients and methods: This was a cross-sectional study on postmenopausal women from 42

– 69 years old, admitted to Thai Nguyen Central Hospital and the Hospital of Thai Nguyen University

of Medicine and Pharmacy from April to March 2015 Clinical examination, laboratory tests and femoral artery Duplex ultrasound by PHILIPS HD11XE with sector 7.5 MHz were conducted for all participants The ultrasonic parameters were measured and calculated according to the standard of the European Society of Hypertention and of the European Society of Cardiology IMT< 0.9mm was considered normal, ≥ 0.9 mm and ≤ 1.3 indicated thickening, and > 1.3mm was considered plaque

Results: Of total 428 postmenopausal women, the mean age was 60.39 ± 5.77 years old

IMT, external and internal diameter of the common femoral artery were increased with age in the posmenopause women The postmenopausal women with body mass index (BMI) ≥ 23 kg/m2 had 2.06 times the odds of developing common femoral IMT than postmenopausal women with BMI < 23 kg/m2 Postmenopausal women with systolic blood pressure ≥ 140 mmHg and fasting blood glucose

≥ 5.6 mmol/l were associated with the developing of common femoral IMT than other groups, with odd ratios OR= 3.33 (95%CI: 2.23 – 4.95) và OR= 2.12 (95%CI: 1.42 – 3.17), respectively There was no association between lipid, estradiol and testosterol levels with common femoral IMT

Conclusion: BMI, systolic blood pressure, fasting blood glucose were significantly associated

with common femoral IMT in postmenopausal women

Keywords: postmenopausal women, intima-media thickness, cardiovascular risks.

Ngày đăng: 03/07/2020, 05:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Phân bố theo nhóm tuổi, tuổi mãn kinh của đối tượng nghiên cứu - Tìm hiểu mối liên quan giữa độ dày nội trung mạc động mạch đùi chung với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở phụ nữ mãn kinh bằng siêu âm doppler
Bảng 1. Phân bố theo nhóm tuổi, tuổi mãn kinh của đối tượng nghiên cứu (Trang 2)
Bảng 2. Chỉ số nhân trắc và HA của đối tượng nghiên cứu - Tìm hiểu mối liên quan giữa độ dày nội trung mạc động mạch đùi chung với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở phụ nữ mãn kinh bằng siêu âm doppler
Bảng 2. Chỉ số nhân trắc và HA của đối tượng nghiên cứu (Trang 2)
Bảng 6. Mối liên quan giữa độ dầy NTM động mạch đùi chung với các thành phần lipid và glucose máu - Tìm hiểu mối liên quan giữa độ dày nội trung mạc động mạch đùi chung với một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở phụ nữ mãn kinh bằng siêu âm doppler
Bảng 6. Mối liên quan giữa độ dầy NTM động mạch đùi chung với các thành phần lipid và glucose máu (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w